Vai Trò Của Ý Thức Pháp Luật Với Việc Thực Hiện Pháp Luật

Cập nhật thông tin chi tiết về Vai Trò Của Ý Thức Pháp Luật Với Việc Thực Hiện Pháp Luật mới nhất ngày 27/10/2020 trên website Doisonggiaitri.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 5,544 lượt xem.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HỒNG HUỆ

VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT

VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TSKH. Đào Trí Úc

HÀ NỘI – 2014

M,

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của

riêng tôi. Các số liệu, trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính

xác, tin cậy và trung thực. Các khuyến nghị khoa học được rút ra từ

quá trình nghiên cứu đề tài, không có sự sao chép từ các công trình

nghiên cứu khác.

NGƢỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hồng Huệ

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu

MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT

ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ……………………………………………..13

1.1.

KHÁI NIỆM Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ CẤU TRÚC CỦA Ý

THỨC PHÁP LUẬT ………………………………………………………………………..13

1.1.1.

Khái niệm và đặc điểm của ý thức pháp luật ……………………………………….13

1.1.2.

Cấu trúc và hình thức của ý thức pháp luật ………………………………………….18

1.2.

KHÁI NIỆM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC HÌNH THỨC

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT ………………………………………………………………21

1.2.1.

Khái niệm thực hiện pháp luật …………………………………………………………..21

1.2.2.

Các hình thức thực hiện pháp luật ………………………………………………………22

1.3.

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI Ý THỨC PHÁP LUẬT Ở

NƢỚC TA ………………………………………………………………………………………23

1.3.1.

Ảnh hƣởng của lệ làng truyền thống …………………………………………………..24

1.3.2.

Ảnh hƣởng của những yếu tố lịch sử ………………………………………………….30

1.3.3.

Ảnh hƣởng của chiến tranh ……………………………………………………………….38

1.3.4.

Ảnh hƣởng của cơ chế hành chính tập trung, quan liêu, bao cấp ……………41

1.3.5.

Công cuộc đổi mới và sự thay đổi của ý thức pháp luật ………………………..44

1.4.

TÁC ĐỘNG CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC THỰC

HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƢỚC TA ……………………………………………………..47

Kết luận Chƣơng 1 ……………………………………………………………………………………….58

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA SỰ TÁC ĐỘNG Ý

THỨC PHÁP LUẬT LÊN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT……………………59

2.1.

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG PHÁP LUẬT ………………………..59

2.2.

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TUÂN THEO PHÁP LUẬT …………………………64

2.3.

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THI HÀNH PHÁP LUẬT …………………………….68

2.4.

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ……………………………..75

Kết luận Chƣơng 2 ……………………………………………………………………………………….83

Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIÚP NÂNG CAO Ý

THỨC PHÁP LUẬT, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN PHÁP

LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP

QUYỀN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ………………………………………………….84

3.1.

PHƢƠNG HƢỚNG NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT, ĐÁP ỨNG

YÊU CẦU THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH XÂY

DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY …………….84

3.2.

GIẢI PHÁP GIÚP NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT, ĐÁP ỨNG

YÊU CẦU THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH XÂY

DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ………….87

3.2.1.

Giải pháp chung ………………………………………………………………………………87

3.2.2.

Các giải pháp cụ thể …………………………………………………………………………88

Kết luận Chƣơng 3 ……………………………………………………………………………………..101

KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………………103

TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………………105

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH:

Bảo hiểm xã hội

CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

HĐND:

Hội đồng nhân dân

STT:

Số thứ tự

TBCN:

Tƣ bản chủ nghĩa

UBND:

Ủy ban nhân dân

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tên bảng

Trang

Khảo sát tình hình vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm

của công dân

2

Bảng 2.2:

Khảo sát tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực bảo vệ tài sản của nhà nƣớc, của cộng cộng

3

76

Khảo sát kiến thức pháp luật của đối tƣợng cán

bộ, công chức

5

74

Khảo sát vai trò của kiến thức pháp luật của đối

tƣợng cán bộ, công chức

4

73

77

Khảo sát trình độ pháp luật của đối tƣợng cán bộ,

công chức

79

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền XHCN

ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều các yếu tố ảnh hƣởng tới quá trình thực

hiện pháp luật, trong đó ý thức pháp luật là yếu tố rất quan trọng.

Ý thức pháp luật đƣợc xem là yếu tố quan trọng, là tiền đề tƣ tƣởng trực

tiếp cho việc thực hiện pháp luật, xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống

pháp luật; là cơ sở hình thành văn hoá pháp lý của các chủ thể pháp luật, tạo

cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng có hiệu quả cơ chế điều chỉnh

pháp luật để bảo vệ lợi ích chính đáng cho bản thân mình, cho nhà nƣớc và cho

xã hội, đồng thời có những xử sự đúng đắn, phù hợp với pháp luật. Ý thức pháp

luật có ảnh hƣởng rất lớn tới việc thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp của chủ

thể và góp phần nâng cao phẩm chất, nhân cách con ngƣời, từ đó hình thành

trách nhiệm của mỗi ngƣời với bản thân, với gia đình và với xã hội.

Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy: trong xã hội ta nhà nƣớc là của

nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân còn “pháp luật là thể chế hoá đƣờng lối,

chủ trƣơng của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân…” nên cả nhà nƣớc và nhân

dân cùng quan tâm tới việc thực hiện pháp luật nghiêm minh. Mặc dù vậy,

thái độ bất tuân pháp luật đã trở thành thói quen, đã ăn sâu trong ý thức của

một bộ phận ngƣời dân, do vậy trong họ luôn tiềm ẩn khuynh hƣớng tìm mọi

cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách luật”, tìm ra những kẽ hở, những

hạn chế của pháp luật để hễ có cơ hội thì vụ lợi.

Trong nhiều hoạt động nhà nƣớc ở nƣớc ta vẫn còn biểu hiện của tâm

lý cửa quyền, quan liêu, hách dịch, sách nhiễu nhân dân. Tình trạng nhân

nhƣợng, nể nang của một số cơ quan chức năng và cán bộ, công chức nhà

nƣớc trong việc bảo vệ pháp luật, duy trì trật tự pháp luật chính là những yếu

1

tố góp phần tạo ra tâm lý chây ỳ, thách thức chính quyền, coi thƣờng pháp

luật của một số kẻ bất tuân pháp luật.

Đồng thời ngƣời dân do không hiểu biết đầy đủ về pháp luật đã dẫn đến

tâm lý thiếu tự tin trong các hoạt động. Điều này, một mặt làm giảm khả năng

của ngƣời dân trong việc tự bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm hại, mặt khác

có thể góp phần làm tăng khả năng khiếu kiện bừa bãi, không đủ căn cứ, không

đúng thủ tục… dẫn tới bất ổn định xã hội. Tình trạng kém hiểu biết về pháp luật

cũng dễ tạo nên tâm lý thờ ơ, lãnh đạm, thậm chí coi thƣờng pháp luật, dẫn đến

ngƣời dân có những hành vi xử sự không đúng với quy định của pháp luật.

Tình trạng này có nguyên nhân từ ý thức pháp luật thấp kém, pháp luật

chƣa thực sự đi vào cuộc sống, chƣa trở thành cái không thể thiếu khi điều

chỉnh các quan hệ xã hội. Ý thức pháp luật của ngƣời dân còn nhiều hạn chế

và bản thân hệ thống pháp luật chƣa theo kịp sự phát triển của xã hội, mặt

bằng dân trí thấp, trình độ văn hóa pháp lý còn thấp kém.

Do vậy, trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền ở nƣớc ta hiện

nay vai trò của ý thức pháp luật có sự tác động vô cùng quan trọng đến việc

thực hiện pháp luật. Bởi nếu ý thức pháp luật thấp thì khó có thể xây dựng

và hoàn thiện đƣợc một hệ thống pháp luật khoa học, phù hợp, đồng thời với

ý thức pháp luật thấp thì các chủ thể cũng khó có thể nhận thức, thực hiện và

áp dụng pháp luật chính xác, có hiệu quả cao đƣợc. Để xây dựng Nhà nƣớc

pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Vấn đề thực hiện pháp luật

nghiêm minh là trách nhiệm không những chỉ ở phía Nhà nƣớc, mà còn ở cả

phía nhân dân, trong đó ý thức pháp luật đóng vai trò quan trọng hàng đầu

không thể thiếu.

Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Vai trò của ý thức pháp luật

với việc thực hiện pháp luật” làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học, chuyên

ngành Lý luận lịch sử nhà nƣớc và pháp luật.

2

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu. Trong những năm gần đây ở những

góc độ khác nhau, các tác giả đã cho ra mắt bạn đọc các công trình nghiên

cứu của mình, dƣới các hình thức nhƣ đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, luận

văn thạc sĩ, sách, các bài viết trên các tạp chí, các báo… Chẳng hạn, một số

công trình sau đây:

2.1.1. Đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước

– Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật,

chƣơng trình khoa học công nghệ cấp Nhà nƣớc KX-07, đề tài KX-07-17

(1995), do Doisonggiaitri.com Đào Trí Úc làm chủ nhiệm.

– Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công

cuộc đổi mới, Đề tài khoa học cấp bộ năm 1995 của Bộ Tƣ pháp.

2.1.2. Luận án Tiến sĩ

– Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ hành chính Nhà nƣớc ở

nƣớc ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, tác giả Lê Đình Khiên, năm 1996.

– Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt

Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Đào Duy Tấn, năm 2000.

– Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng

sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ

luật học, tác giả Hồ Việt Hiệp, năm 2000.

– Logic khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật

ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân, năm 2001.

2.1.3. Sách, báo, tạp chí

– Chính sách pháp luật và ý thức pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nƣớc

và pháp luật, số 4/1993, của tác giả Nguyễn Nhƣ Phát.

3

– Bàn về ý thức pháp luật. Tạp chí Luật học, số 1/2003, của TS. Hoàng

Thị Kim Quế.

– Vai trò của Ý thức pháp luật đối với việc thực hiện pháp luật. Tạp chí

Luật học, số 3/2011, của Ths. Nguyễn Văn Năm.

– Vai trò của ý thức pháp luật đối với hoạt động xây dựng và thực hiện

pháp luật. Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 8/ 2005, của Ths. Trần Thị Nguyệt.

Công trình nghiên cứu này đã có những đóng góp nhất định, chủ yếu

tập trung luận giải về bản chất và vai trò của ý thức pháp luật ở hai phƣơng

diện: xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật.

– Bài viết: Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt

Nam. Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp Luật, của Doisonggiaitri.com Đào Trí Úc…

Bài viết này đã có những đóng góp đáng kể, chủ yếu bàn về các vấn đề

sau: Bản chất, vị trí và vai trò của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp

luật; các hình thức thực hiện pháp luật; cơ chế thực hiện pháp luật và những

điều kiện bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật.

Theo Ths.Trần Thị Nguyệt, ý thức pháp luật dù đƣợc thể hiện ở dạng

thức nào, thang bậc nào,ở hệ tƣ tƣởng pháp luật hay tâm lý pháp luật thì

cũng đều giữ vai trò là tiền đề trực tiếp cho hoạt động xây dựng và ban hành

pháp luật. Ý thức pháp luật cao cho phép đánh giá đúng đắn tầm quan trọng

pháp lý của các quan hệ xã hội cần điều chỉnh, bảo đảm cho hoạt động soạn

hƣớng vận động và sự thể hiện vai trò của ý thức pháp luật ngày càng đa

dạng, càng có thêm nhiều yếu tố mới cả trên hai phƣơng diện hệ tƣ tƣởng

pháp luật và tâm lý pháp luật, nó có ý nghĩa quyết định đến chất lƣợng và

nội dung của văn bản pháp luật và đó cũng chính là một trong những biểu

hiện của xã hội công dân trong điều kiện nhà nƣớc pháp quyền, tôn trọng, đề

cao giá trị của dân chủ thực sự.

4

Trong qúa trình thực hiện pháp luật, ý thức pháp luật có một vai trò và

ý nghĩa quan trọng. Nó thuộc nhân tố chủ quan, gắn liền với tƣ duy, tình cảm

và hành vi của cá nhân. Quyết định chất lƣợng và hiệu quả của hoạt động thực

hiện pháp luật trên nhiều góc độ và ở nhiều phƣơng diện. Ý thức pháp luật tốt

sẽ là tiền đề quan trọng bảo đảm thực hiện pháp luật tốt. Trong đó, mối quan

hệ hữu cơ giữa tâm lý pháp luật và hệ tƣ tƣởng pháp luật cũng thể hiện vai trò

thúc đẩy hoặc kìm hãm các hành vi tuân thủ, thi hành, vận dụng và áp dụng

pháp luật. Theo tác giả, chúng ta phải coi giáo dục, hình thành và nâng cao ý

thức pháp luật cho toàn xã hội là một quá trình liên tục, thƣờng xuyên, nhất

quán chứ không phải là hoạt động mang tính phong trào. Bên cạnh đó còn

phải thực hiện đồng bộ các giải pháp nhƣ mở rộng và bảo vệ dân chủ; công

khai hóa các hoạt động lập pháp; chú ý hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát

việc tuân thủ, chấp hành pháp luật ở mọi lúc, mọi nơi, mọi đối tƣợng; tạo điều

kiện cho nhân dân tiếp cận và tiếp cận đƣợc một cách dễ dàng.

Hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

chính là các phƣơng thức chủ yếu nhất của cơ chế điều chỉnh pháp luật, mà ở

đó ý thức pháp luật có vai trò to lớn trong việc hình thành thái độ ứng xử,

hình thành động cơ, mục đích bên trong của các hành vi pháp luật. Nó có khả

năng biến cải và thôi thúc quá trình thực hiện hành vi xử sự của con ngƣời.

Tổng thể những yếu tố đó trở thành cơ sở khoa học cho việc hình thành lối

sống tuân thủ pháp luật ở nƣớc ta trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp

quyền XHCN hiện nay.

Theo Doisonggiaitri.com Đào Trí Úc, bản chất của việc thực hiện pháp luật là sự

chuyển hóa các yêu cầu chung đƣợc xác định trong các nguyên tắc và quy

phạm pháp luật vào trong các hành vi cụ thể của các chủ thể. Nói thực hiện

pháp luật là nói đến một kết quả tích cực của quá trình điều chỉnh pháp luật,

mà điều chỉnh pháp luật thì hƣớng tới hai yêu cầu: thực hiện hành vi hợp pháp

5

hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật. Bên cạnh đó, quá trình và kết quả

của việc thực hiện pháp luật là thƣớc đo hiệu quả điều chỉnh pháp luật. Với

những yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của quá trình thực hiện pháp luật

cũng nhƣ các yếu tố mang tính tác nhân của quá trình đó, có thể thấy rõ vị trí

và tầm quan trọng của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp lý. Bởi lẽ, thứ

nhất, thực hiện pháp luật là một phạm vi độc lập với những hình thức gắn với

hoạt động của các chủ thể tƣơng ứng và theo đó là những nguyên tắc, những

phạm vi thẩm quyền nội dung phƣơng pháp và trình tự, thủ tục thực hiện pháp

luật tƣơng ứng và thích hợp. Thứ hai, thực hiện pháp luật là tổng thể những

hoạt động và hành vi hết sức đa dạng ở những cấp độ khác nhau, từ hành vi

của cá nhân công dân trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể

pháp lý của mình, việc thực hiện các điều kiện tổ chức và hoạt động của một

pháp nhân, thực hiện các thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan công

quyền… cho đến hoạt động lập pháp của Quốc hội. Thực hiện pháp luật dù

hiểu theo nghĩa là một quá trình hay theo nghĩa là kết quả của quá trình đó

đều đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành ý thức pháp luật và văn

hóa pháp luật. Nhƣ vậy, ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật với tính cách là

những tác nhân thúc đẩy hiệu quả thực hiện pháp luật cũng chịu sự tác động

mà chính quá trình và kết quả của việc thực hiện pháp luật tạo ra.

Theo tác giả Đào Trí Úc, việc sử dụng pháp luật thông qua việc sử

dụng các thẩm quyền luật định cũng không thể là một sự tùy tiện mà ngƣợc

lại cần phải đƣợc cân nhắc kỹ lƣỡng, thận trọng. Hoạt động áp dụng pháp luật

cũng góp phần bổ sung pháp luật, làm phong phú các nguồn sáng kiến pháp

luật, gắn bó chặt chẽ với nhu cầu giải thích pháp luật, có tiềm năng đối với

việc bổ sung sửa đổi pháp luật hoặc ban hành pháp luật mới.

Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra vấn đề cơ chế thực hiện pháp luật và

những điều kiện bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật. Trong đó, thực hiện

6

pháp luật là hành vi và hoạt động của con ngƣời, dù họ là cá nhân công dân

hay là công chức của bộ máy công quyền. Đối tƣợng của việc thực hiện pháp

luật cũng không có gì khác ngoài con ngƣời. Nhận thức về pháp luật, mức độ

chia sẻ những giá trị và đòi hỏi của các quy định pháp luật cần đƣợc thực hiện

cũng là tiền đề quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với thực hiện pháp luật.

Nhƣ vậy, ý thức pháp luật có vai trò quan trọng và có mối liên hệ mật thiết

với thực hiện pháp luật. Do đó, không thể bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp

luật nếu không có những bảo đảm về ý thức và văn hóa pháp luật của cá nhân,

của xã hội. Đồng thời, cơ chế thực hiện pháp luật vận hành thông qua các

hình thức thực hiện pháp luật và đƣợc cụ thể bởi các hình thức đó. Để vận

hành cơ chế thực hiện pháp luật trong các hình thức mà công dân là chủ thể

thì các điều kiện cần thiết là thủ tục thực hiện pháp luật, hoạt động tuyên

truyền, phổ biến pháp luật, tƣ vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý – tức là toàn bộ

những hoạt động hƣớng vào mục đích tiếp cận thông tin, tiếp cận pháp luật.

Trong khi đó, đối với việc thi hành và áp dụng pháp luật của các thiết chế

công quyền thì điều kiện đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật là kiểm tra,

giám sát quá trình thực hiện pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng quyền con

ngƣời, quyền công dân và ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, trình độ

chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức bộ máy công

quyền. Có thể thấy rằng, bài viết đã có những đóng góp đáng kể trong việc

thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam.

2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ý thức pháp luật là vấn đề cơ bản của lý luận pháp luật, đã nhận

đƣợc rất nhiều sự nghiên cứu ở những góc độ, bình diện khác nhau. Ở bình

diện nghiên cứu của tác giả ngoài nƣớc, trong phạm vi khả năng, tác giả

thức pháp luật.

7

– Tƣ tƣởng về ý thức pháp luật của phái Pháp gia (Trung Hoa cổ đại).

Đây có thể coi là tƣ tƣởng sớm nhất đề cập tới nội dung của ý thức pháp luật

trên thế giới nói chung và ở phƣơng Đông nói riêng (trên bình diện thời gian

và sự ảnh hƣởng). Những ngƣời đề xuất và phát triển tƣ tƣởng này không phải

là các nhà nghiên cứu luật học, mà là các tƣớng lĩnh, quan chức của nhà nƣớc

phong kiến ở Trung Quốc, tiêu biểu là Quản Trọng, Thƣơng Ƣởng, Hàn Phi

Tử, Lý Tƣ (thời chiến quốc), với tác phẩm tiêu biểu là Hàn Phi Tử (đã đƣợc

dịch sang tiếng Việt).

Nội dung cơ bản của tƣ tƣởng về ý thức pháp luật (nghĩa chung nhất)

trong tƣ tƣởng của phái Pháp gia là quan điểm pháp trị (dùng pháp luật để cai

trị). Theo đó, pháp trị đòi hỏi phải rạch ròi về luật, lệnh, về hình, về chính.

Luật phải minh bạch, phải hợp lý đối với đời sống nhân dân theo nguyên tắc:

thiên thời, địa lợi, nhân hòa; muốn thi hành pháp luật thì phải chuẩn bị cho

dân trƣớc pháp luật rồi mới áp dụng; pháp luật ban ra phải đƣợc cân nhắc kỹ,

không đƣợc nay sửa mai đổi; việc xử án phải chí công vô tƣ, không khoan

dung ngƣời mình yêu, không khắc nghiệt với ngƣời mình ghét.

Quan điểm pháp trị của phái Pháp gia đối lập với quan điểm đức trị của

phái Nho gia. Đây là hai quan điểm đối lập tồn tại dai dẳng trong xã hội

phƣơng Đông. Hiện nay, quan điểm pháp trị vẫn chứa đựng những giá trị hợp

lý cần đƣợc vận dụng, phát triển.

– Nghiên cứu về ý thức pháp luật trong tác phẩm Triết học pháp luật

của tác giả Raymond Wacks (Phạm Kiều Tùng dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội,

2011). Tác phẩm thể hiện kết quả nghiên cứu về ý thức pháp luật ở góc độ

nhận thức khoa học về pháp luật dƣới góc nhìn của triết học. Đây đƣợc xem là

tác phẩm căn bản, nền tảng khi nghiên cứu luật học hiện đại (trên bình diện lý

luận chung). Tác giả đã góp phần trả lời câu hỏi: “luật pháp là gì?” bằng luận

giải về thuyết luật tự nhiên, thuyết thực chứng, thuyết phê phán. Tác phẩm

8

cũng trình bày rõ tƣ tƣởng của nhiều tác giả, cùng với những tác phẩm tiêu

biểu của mình cho mỗi thuyết về pháp luật. Việc nghiên cứu pháp luật nói

chung, nội dung ý thức pháp luật nói riêng không thể ở bên ngoài những lý

thuyết nghiên cứu này.

– Nghiên cứu về ý thức pháp luật của học giả Liên Xô qua tác phẩm Ý

thức pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của tác giả E.A

LuKaSeva (viết năm 1980, bản dịch của Viện thông tin Khoa học xã hội Việt

Nam năm 1997) (trên bình diện một hệ tƣ tƣởng cụ thể: hệ tƣ tƣởng Nga –

Xô). Tác giả nghiên cứu ý thức pháp luật ở mức độ cụ thể, bao gồm các nội

dung: 1, Khái niệm và bản chất ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN); 2,

cơ cấu ý thức pháp luật XHCN; 3, ý thức pháp luật XHCN và việc làm luật; 4,

ý thức pháp luật XHCN và việc thực hiện pháp luật; 5, giáo dục pháp luật và

văn hóa pháp lý.

Tác phẩm ra đời trong bối cảnh Đảng cộng sản Liên Xô đẩy mạnh giáo

dục pháp luật cho nhân dân lao động, nên nó thể hiện rõ nét tƣ tƣởng chính trị pháp lý nổi trội giai đoạn này. Trên thực tế, khoa học pháp lý của Liên Xô đã

có ảnh hƣởng sâu sắc tới khoa học pháp lý ở Việt Nam. Hiện nay, nghiên cứu

cụ thể về ý thức pháp luật ở Việt Nam cũng theo các nội dung cơ bản nêu trên.

và hoàn thành luận văn của mình. Tuy nhiên, cho tới nay chƣa có một công

trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về vấn đề: ” vai trò của ý

thức pháp luật với việc thực hiện pháp luật “. Đó chính là vấn đề tác giả quan

tâm và giải quyết trong đề tài nghiên cứu của mình.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích

– Làm rõ mối liên hệ giữa ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật. Chỉ ra

thực trạng chung của ý thức pháp luật ảnh hƣởng tới việc thực hiện pháp luật;

9

– Từ đó đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp

luật đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà Nƣớc

Pháp Quyền ở nƣớc ta hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những

nhiệm vụ cụ thể sau đây:

– Làm rõ mối liên hệ giữa ý thức pháp luật và thực hiện pháp luật. Từ

đó chỉ ra thực trạng chung của vấn đề ý thức pháp luật ảnh hƣởng tới việc

thực hiện pháp luật;

– Đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp luật cho

công dân, đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng nhà

nƣớc Pháp quyền ở Việt nam hiện nay.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu vai trò của ý thức pháp luật đối với

việc thực hiện pháp luật.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

+ Luận văn tập trung nghiên cứu các mối liên hệ đa chiều giữa ý thức

pháp luật và thực hiện pháp luật;

+ Thực trạng chung của ý thức pháp luật và ảnh hƣởng đối với việc

thực hiện pháp luật;

+ Các giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp luật đáp ứng yêu cầu thực

hiện pháp luật trong quá trình xây dựng nhà nƣớc pháp quyền ở nƣớc ta

hiện nay.

5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu

5.1. Nguồn tài liệu

Để hoàn thành luận văn, tôi đã sử dụng nguồn tài liệu: Giáo trình lý luận

10

chung về Nhà nƣớc và pháp luật, các văn kiện, Nghị quyết của Đảng Cộng sản

hiện pháp luật; Cuốn giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành

chính trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền XHCN. Đây là nguồn tƣ

liệu cơ bản để thực hiện đề tài và những tƣ liệu đó đƣợc khai thác bằng nhiều

nguồn khác nhau nhƣng chủ yếu là tại Thƣ viện Đại học Quốc Gia,…

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các công trình khoa học, các chuyên

luận, chuyên khảo, các luận văn, luận án, các bài nói, bài viết của các

GS,TS Luật học xung quanh vấn đề vai trò của ý thức pháp luật với việc

thực hiện pháp luật.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống của nghiên

cứu luật học bao gồm: Phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp,

phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic; ngoài ra trong một số trƣờng hợp

luận văn còn sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nhƣ thống kê, so sánh, điều

tra xã hội học, mô tả, …

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn

– Việc thực hiện nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những nhân tố ảnh

hƣởng tới ý thức pháp luật, tác động của ý thức pháp luật đối với việc thực

hiện pháp luật ở nƣớc ta.

– Khẳng định sự ảnh hƣởng của ý thức pháp luật đối với việc thực hiện

pháp luật ở các hoạt động thi hành, tuân theo, sử dụng và áp dụng pháp luật.

– Đề tài đƣa ra những phƣơng hƣớng và giải pháp giúp nâng cao ý thức

pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng nhà

nƣớc Pháp quyền ở nƣớc ta hiện nay.

– Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các học viên khác, ngoài ra

còn phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn giáo dục pháp luật tại các

trƣờng Trung cấp, Cao đẳng và Đại học.

11

7. Kết cấu của luận văn

luận văn gồm 3 chƣơng:

– Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của ý thức pháp đối với thực hiện

pháp luật.

– Chương 2: Thực trạng về vai trò của sự tác động ý thức pháp luật lên

thực hiện pháp luật.

– Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp giúp nâng cao ý thức pháp luật

đáp ứng yêu cầu thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng nhà nƣớc Pháp

quyền ở nƣớc ta hiện nay.

12

Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT

ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

1.1. KHÁI NIỆM Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ CẤU TRÚC CỦA Ý

THỨC PHÁP LUẬT

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật là một trong những bộ phận tạo thành nên đời sống

pháp luật bên cạnh các lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật. Trong xã

hội hiện nay, ý thức pháp luật giữ vai trò hết sức quan trọng đối với việc hình

thành nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của con ngƣời. Do vậy các hoạt

động của con ngƣời đều phải dựa vào ý thức của mình. Các hành vi pháp luật,

các mối quan hệ pháp luật của con ngƣời đều đƣợc thực hiện dựa trên cơ sở

tâm lý pháp luật, tƣ tƣởng pháp luật và quan điểm, quan niệm về pháp luật

của con ngƣời thông qua các thời kỳ khác nhau. Vì vậy, việc thực hiện pháp

luật và tƣ tƣởng pháp luật.

Ý thức pháp luật là tổng thể những quan điểm, quan niệm về pháp luật,

là tình cảm và tâm trạng của con ngƣời đối với pháp luật. Do vậy, ý thức pháp

luật đƣợc hình thông qua những quan điểm, quan niệm của con ngƣời từ sự

cần thiết phải có các quy tắc xử sự phù hợp.

Ý thức pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển về từ nhu cầu khách quan

của đời sống xã hội, khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định (đó là

giai đoạn bắt đầu có sự phân chia về giai cấp), đó là khi các phƣơng tiện điều

chỉnh xã hội nhƣ: đạo đức, tôn giáo, tập quán, niềm tin… không còn phù hợp

nữa, nó không còn đủ khả năng để quản lý xã hội có hiệu quả. Lúc này cần

phải có một công cụ mới ra đời, đó là pháp luật, để thiết lập ra một trật tự xã

13

hội mới ổn định, kỷ cƣơng. Từ nhu cầu khách quan này của đời sống xã hội,

con ngƣời đã nhận thức đƣợc xã hội (đã phản ánh đƣợc tồn tại xã hội) và đã

tạo nên ở họ những tƣ tƣởng, quan điểm, quan niệm về sự cần thiết phải điều

chỉnh các quan hệ trong xã hội bằng pháp luật, một phƣơng tiện điều chỉnh

hữu hiệu nhất.

Về mặt Triết học, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức

xã hội, nó thuộc thƣợng tầng kiến trúc xã hội, nó chịu sự quy định của cơ sở

kinh tế. Tuy nhiên, ý thức pháp luật còn chịu sự ảnh hƣởng của các hình thái ý

thức xã hội khác ở những mức độ khác nhau. Nhƣ vậy, ý thức pháp luật là sự

phản ánh những điều kiện xã hội (vật chất, chính trị, lịch sử…), đó là những

điều kiện cần phải đƣợc điều chỉnh bằng pháp luật, thông qua những quan

điểm, quan niệm, tƣ tƣởng, học thuyết, tình cảm, tâm trạng và niềm tin pháp lý.

Từ sự phân tích nhƣ trên, thì ý thức pháp luật có thể định nghĩa nhƣ sau:

Ý thức pháp luật là tổng thể những tƣ tƣởng, học thuyết, quan điểm,

thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con ngƣời về pháp luật trên các phƣơng

diện, tiêu chí cơ bản nhƣ: Về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò,

chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn

hay không đúng đắn của các quy định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua

trong quá khứ, pháp luật cần phải có. Về tính hợp pháp hay không hợp pháp

trong hành vi của các cá nhân, nhà nƣớc, các tổ chức xã hội[49, tr.430].

Là một hình thái của ý thức xã hội, ý thức pháp luật cũng có đầy đủ

những đặc điểm của ý thức xã hội sau đây:

*. Ý thức pháp luật chịu sự quyết định của tồn tại xã hội.

Nhƣ vậy ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, nó chịu sự quy

định của tồn tại xã hội. Vào các thời kỳ khác nhau thì thái độ, nhận thức, tình

cảm, quan niệm, quan điểm của con ngƣời về pháp luật là do những điều kiện

khách quan của các thời kỳ đó quy định. Các Mác đã khẳng định: ” Không

14

Bạn đang xem bài viết Vai Trò Của Ý Thức Pháp Luật Với Việc Thực Hiện Pháp Luật trên website Doisonggiaitri.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!