Triết Học Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Triết Học

--- Bài mới hơn ---

  • Người Ta Cần Triết Học Để Làm Gì?
  • Interferon Là Gì? Phân Loại, Tác Dụng Của Interferon?
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Tuyến Tụy
  • Nguồn Gốc Ung Thư Và Vai Trò Của Hệ Miễn Dịch
  • Cytokin Và Điều Hòa Miễn Dịch
  • Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Triết học là gì

    Định nghĩa Triết học là gì?

    • Triết học là một bộ môn chính thực hiện việc nghiên cứu về các vấn đề chung, cơ bản về con người – thế giới quan cũng như vị trí của con người ở trong thế giới quan – những vấn đề đó có kết nối lại với chân lý – sự tồn tại – kiến thức – giá trị – quy luật – ngôn ngữ. Dựa vào cách mà triết học giải quyết các vấn đề này, người ta sẽ phân biệt được nó với lại những môn khoa học khách. Trong đó, nó nổi bật nhất khi thể hiện rõ tính phê phán, các phương pháp tiếp cận vào hệ thống chung nhất, sự phụ thuộc của nó sẽ dựa vào tính duy lý ở việc lập luận.
    • Triết học có tên gọi tiếng Anh là Philosophy, từ này được xuất phát trong tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa dịch ra “tình yêu đối với sự thông thái”. Các thuật ngữ như là “triết học” hay “ triết gia” ra đời là gắn cùng với nhà tư tưởng người Hy Lạp Pythagoras.
    • Hiện nay, triết học cũng là một ngành khoa học được đào tạo riêng biệt dành cho sinh viên và triết học là môn học bắt buộc đối với tất cả các sinh viên trong trường Đại học – Cao đẳng. Để học ngành triết học, sinh viên sẽ phải thi khối C, học trong thời gian 4 năm. Hiện nay có một số trường đào tạo chuyên ngành triết học như: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc gia Hà Nội),…

    Nguồn gốc của triết học

    Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định.

    Nguồn gốc nhận thức:

    • + Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? … trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học.
    • + Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận.

    – Nguồn gốc xã hội:

    Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.

    Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia chúng chỉ có tính chất tương đối.

    Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử

    * Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên – bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học.

    * Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học. Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh. Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện.

    * Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập. Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học – Khoa học hậu vật lý. Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được.

    + Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph. Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    + Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen.

    + Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học.

    * Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học”. Triết học Mác – Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó. Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    * Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học. Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

    * Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới.

    *Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức.

    * Các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):

    +Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới.

    + Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người.

    + Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức. Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

    VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRIẾT HỌC.

    Vấn đề cơ bản của triết học

    Ăngghen định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học như sau: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học, đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    * Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

    • + Mặt thứ nhất: Giữa tư duy và tồn tại thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    • + Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thể giới hay không?

    * Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:

    + Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ý thức của chúng ta, không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy.

    + Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.

    + Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên.

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả tri hay bất khả tri.

    + Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người.

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn:

    • + Chủ nghĩa duy vật: Là những người cho rằng vật chất giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.
    • + Chủ nghĩa duy tâm: là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

    * Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của nó

    Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện triết học thì đã phân chia ra chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật từ đó đến nay luôn gắn với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có quan điểm thống nhất coi vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, đều xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới. Cụ thể:

    + Chủ nghĩa duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại:

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại mang tính trực quan nên ngây thơ và chất phác, tuy còn nhiều hạn chế nhưng với nguyên tắc cơ bản là đúng. Trường phái này giải thích giới tự nhiên từ chính bản thân tự nhiên, không viện dẫn thần linh hay thượng đế.

    + Chủ nghĩa duy vật máy móc siêu hình thế kỷ thứ XVII – XVIII.

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ sự phát triển rực rỡ của cơ học khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu máy móc chiếm vị trí thống trị và tác động mạnh mẽ đến các nhà duy vật.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Là kết quả nhận thức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa những tinh hoa của các học thuyết trước đó, đồng thời khắc phục những hạn chế, sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin mang tính chất cách mạng triệt để và biện chứng khoa học, không chỉ phản ánh hiện thực đúng như bản thân nó mà còn là công cụ hữu ích giúp con người cải tạo hiện thực đó.

    * Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của nó:

    + Duy tâm chủ quan thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực. Mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp cảm giác của cá nhân, của chủ thể.

    + Duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang tên gọi khác nhau như: ý niệm; tinh thần tuyệt đối; lý tính thế giới…

    Một hình thức biến tướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, với sự thừa nhận thượng đế; chúa trời sáng tạo thế giới. Tuy nhiên có sự khác nhau đó là, chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thì lòng tin là cơ sở chủ yếu, đóng vai trò chủ đạo; còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.

    Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm:

    +Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.

    * Triết học nhị nguyên: vật chất và ý thức song song tồn tại, không có cái nào có trước, cả hai đều là nguồn gốc tạo nên thế giới, triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Xét về thực chất, Triết học nhị nguyên thể hiện sự dao động ngả nghiêng, cuối cùng cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

    Thuyết khả tri; bất khả tri và hoài nghi luận

    – Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản “con người có nhận thức được thế giới không?”:

    + Thuyết khả tri( Thuyết có thể biết) là những nhà Triết học cả duy vật và duy tâm trả lời một cách khẳng định: Con người có khả năng nhận thức được thế giới

    +Hoài nghi luận xuất hiện từ thời Cổ đại (từ chữ Hy Lạp skeptikos và skiptomai có nghĩa là tôi thẩm tra) mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ đại). Họ là những người đã luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.

    Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấy tranh chống hệ tư tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.

    +Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): là sự phát triển mặt tiêu cực của trào lưu hoài nghi luận. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không bảo đảm tính chân thực, từ đó họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó.

    Đại biểu nổi tiếng nhất của “thuyết không thể biết” là Hium (nhà triết học Anh) và Cantơ (nhà triết học Đức). Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không. Còn Cantơ thì thừa kế nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “vật tự nó”; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là nhận thức những hiện tượng của nó mà thôi.

    Thuyết không thể biết đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph. Ăngghen đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết không thể biết một cách triệt để nhất. “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp. Nếu chúng ta có thể chứng minh được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”.

    SIÊU HÌNH VÀ BIỆN CHỨNG

    Trong lịch sử triết học không những có sự đối lập giữa CNDV và CNDT khi tìm hiểu bản chất của thế giới, mà đồng thời còn phải trả lời các câu hỏi: thế giới là bất động, đứng im hay là không ngừng vận động và phát triển? Các sự vật, hiện tượng của thế giới ở trạng thái cô lập, tách rời nhau hay có liên hệ với nhau, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau.

    Lịch sử đã biết đến hai quan điểm, hai cách xem xét nhìn nhận trái ngược nhau trong khi giải đáp những câu hỏi trên. Đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    Phương pháp siêu hình

    Phương pháp biện chứng

    +Thừa nhận đối tượng ở trạng thái cô lập,tách rời với các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối

    +Thừa nhận đối tượng qua các mối liên hệ của nó với các đối tượng khác và sự ảnh hưởng ràng buộc lẫn nhau giữa chúng

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đấy chỉ là biến đổi về mặt số lượng, nguyên nhân của mọi sự biến đổi nằm ngoài đối tượng.

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi có khuynh hướng chung là phát triển, có sự thay đổi về chất, mà nguyên nhân của mọi sự biến đổi ấy là do nguồn gốc bên trong đối tượng. Đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập.

    – Phương pháp siêu hình chỉ nhìn thấysự vật riêng biệt mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa chúng; chỉ thấy sự tồn tại mà không thấy quá trình sự phát sinh và tiêu vong .(Về bản chất là không hiểu được mối quan hệ giữa vận động và đứng im, hay đứng im chỉ là một hình thức vận động đặc biệt).– Tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung nhau được, họ nói có là có, không là không. Đối với họ, một sự vật hoặc tồn tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, v.v…Nguồn gốc của phương pháp siêu hình: Là bắt nguồn từ việc muốn nhận thức đối tượng, trước hết con người phải tách đối tượng ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Tuy phương pháp đó là cần thiết và có tác dụng trong một phạm vi nhất định, nhưng thực tế thì hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    – Phương pháp biện chứng không chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối quan hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong của sự vật.– Phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt trong sự phản ánh hiện thực,– Phương pháp biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “ hoặc là.. hoặc là” còn có cái “vừa là… vừa là”; đối tượng hay chỉnh thể trong lúc tồn tại là nó thì cũng đồng thời bao hàm sự tồn tại không là nó; cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa gắn bó nhau. Do đó, nó phản ánh hiện thực ngày càng chân thực chính xác, và nó trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem sét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương pháp biện chứng là phương pháp xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với tư duy mềm dẻo, linh hoạt.

    Các giai đoạn phát triển cơ bản của phương pháp biện chứng

    * Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời Cổ đại. thể hiện rõ nét trong “thuyết Âm – Dương” của triết học Trung Quốc, đặc biệt là trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học đều thấy các sự vật hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hoá trong những mối liên hệ vô cùng tận. Cách nhận xét thế giới như vậy, theo Ăngghen, là một cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng và là kết quả của một trực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả cuả những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. Chính vì hạn chế này mà phép biện chứng Cổ đại phải nhường bước cho phép siêu hình, phương pháp thống trị trong tư duy triết học ở thế kỷ XVIII là điều không thể tránh khỏi. Đây là giai đoạn khám phá kết cấu, thuộc tính của đối tượng.

    * Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, bắt đầu từ Cantơ và hoàn chỉnh ở Hêghen. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển tư duy nhân loại, các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung của phép biện chứng. Tuy nhiên, đây mới chỉ dừng lại ở biện chứng của khái niệm, của tinh thần, và tai hại hơn là họ cho rằng giới hiện thực chỉ là sự sao chép của tinh thần, bởi vậy phép biện chứng cổ điển Đức là có tính chất duy tâm.

    * Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng duy tâm, sau khi gạt bỏ tính chất duy tâm thần bí của nó, Mác – Ăng ghen xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

    Vai trò thế giới quan và phương pháp luận

    Vai trò thế giới quan của triết học

    * Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.

    * Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.

    * Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.

    * Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

    + Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập.

    Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.

    Do vậy:

    + Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.

    + Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động. + Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.

    Vai trò phương pháp luận của triết học

    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    * Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất

    + Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.

    Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.

    Vai trò của triết học Mác – Lê nin

    Triết học Mác – Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.

    * Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.

    + Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.

    + Nắm vững triết học triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.

    * Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.

    Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.

    Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.

    Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.

    Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:

    + Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;

    + Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị vấp váp, thất bại.

    Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vài Trò Và Ý Nghĩa Giao Tiếp Mà Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Đời Sống Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Tìm Hiểu Về Giới Tính Và Giới
  • Liên Minh Châu Âu Và Tầm Quan Trọng Trên Toàn Thế Giới
  • Trí Tuệ Cảm Xúc: Tầm Quan Trọng Của Eq Đối Với Thành Công
  • Câu 35: Ý Thức Và Nguồn Gốc Ý Thức Theo Triết Học Mac

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Chân Lý Khách Quan Không?
  • Một Biểu Tượng Là Gì? ·
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Khái Niệm Công Bằng Trong Triết Học Pháp Quyền Arthur Kaufmann
  • Luận Án: Công Bằng Xã Hội Với Việc Phát Triển Con Người Việt Nam
  • Quan điểm của triết học Mác-Lênin về ý thức, nguồn gốc ý thức và tính năng động của nó trong tác động qua lại các quá trình vật chất khách quan. Ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận của quan điểm đó.

    Trả lời

    1. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về ý thức, nguồn gốc ý thức và tính năng động của nó trong tác động qua lại các quá trình vật chất khách quan:

    – Ý thức là sự phản ánh mang tính năng động và sáng tạo của hiện thực khách quan vào óc người. Ý thức tuỳ phục thuộc vào năng lực phản ánh của chủ thể, tâm trạng của chủ thể phản ánh và mục đích phản ánh.

    – Ý thức có nguồn gốc tự nhiên và xã hội:

    + Nguồn gốc tự nhiên:

    • Ý thức là đỉnh cao trong sự tiến hoá một loại thuộc tính chung mà mọi dạng vật chất đều có là thuộc tính phản ánh.
    • Phản ánh là khái niệm dùng để chỉ khả năng và năng lực thực tế của hệ thống vật chất này có thể tái tạo được một số đặc điểm, thuộc tính của hệ thống vật chất khác khi chúng tác động qua lại với nhau.

    + Nguồn gốc xã hội:

    • Trong lao động và thông qua lao động mà các giác quan phản ánh của con người ngày càng hoàn thiện hơn. Bằng lao động con người tác động vào sự vật làm bộc lộ ra thuộc tính ẩn dấu bên trong nhờ vậy con người phản ánh được cái thuộc tính ấy. Chính hiểu biết đó tạo nên nội dung căn bản của hiểu biết của con người về sự vật.
    • Ngôn ngữ giúp con người phản ánh gián tiếp sự vật, truyền đạt hiểu biết cho nhau, cho các thế hệ sau, nhờ vậy nhận thức của con người về sự vật ngày càng phong phú sâu sắc hơn.

    Xem lại bài trước: Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.

    – Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức – vấn đề cơ bản của triết học

    +Vật chất quyết định ý thức: quyết định sự ra đời của ý thức, quyết định nội dung của ý thức bởi ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất vào não người, quyết định sự vận động và phát triển của ý thức.

    + Ý thức tác động trở lại các quá trình vật chất khách quan:

    • Ý thức góp phần thúc đẩy cũng như kìm hãm sự vận động và phát triển của vật chất.
    • Mức độ tác động của ý thức đến vật chất phục thuộc: mức độ tính đúng đắn hay sai lầm của ý thức, khả năng thâm nhập cuả nó vào quần chúng, năng lực tổ chức thực tiễn trên cơ sở ý thức đó.

    2. Ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận

    – Để nhận thức đúng sự vật, chúng ta phải quán triệt quan điểm về tính khách quan của sự xem xét. Khi xem xét một sự vật phải tôn trọng khách quan, nó như thế nào phải phản ánh nó đúng như thế, không thêm bớt gì sự vật.

    – Trong thực tiễn, nhằm cải tiến sự vật, một mặt chúng ta phải xuất phát từ kháhc quan, tôn trọng khách quan, lấy đó làm cơ sở cho hoạt động có ý thức của con người đồng thời ra sức phát huy nội lực của nhân tố chủ quan của tri thức.

    Bạn có thể xem lại toàn bộ câu hỏi và đáp án chi tiết của môn Chủ nghĩa Mac – Lênin tại: Ngân hàng đề thi môn chủ nghĩa Mac – Lenin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phản Ánh Của Hoạt Động, Phản Ánh Tâm Lý Và Triết Học
  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác
  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Tình Yêu Là Vật Chất Hay Ý Thức Trong Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ví Dụ Về Sự Thay Đổi Về Lượng Dẫn Đến Sự Thay Đổi Về Chất Và Ngược Lại
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?
  • Nội Dung Cơ Bản Nhất Của Nho Giáo Qua Lịch Sử Của Nó
  • Biện Pháp Khai Thác Truyện Kể Trong Dạy Học Các Bài Triết Học
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Là Gì? Nó Có Những Hình Thức
  • ỦNG HỘ WEBSITE BẰNG CÁCH BẤM “ĐĂNG KÝ” OR “SUBSCIREBE” KÊNH YOUTUBE ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ KINH PHÍ DUY TRÌ WEBSITE VÀ ĐĂNG TẢI NHIỀU TÀI LIỆU MỚI CHO BẠN.

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Có ngồn tin nói rằng:

    “Tình yêu không phải là do ý thức quyết định mà là vật chất. Người ta vẫn thường lầm tưởng rằng tình yêu là đến từ con tim, từ ý thức con ng, nhưng thực tế khoa học cũng chứng minh rằng trái tim là vô tội. Mọi cảm xúc, tình cảm của con người đều bị chi phối, điều khiển từ não bộ của con người. Mà bạn biết đấy, não bộ của con ng cũng chính là 1 dạng vật chất còn gì. Kỳ thực ý thức của con ng cũng do vật chất, tức bộ não quyết định. Cho nên nói tình y là vật chất không sai.

    Tuy nhiên cũng ko thể phủ nhận sự tác động của ý thức đối với ty.Bởi vì mọi sự vật tồn tại trong thế giới điều chịu sự quy định của vật chất và sự tác động của vật chất, vật chất và ý thức không tách rời.”

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Và cũng nguồn tin bảo rằng:

    “Tình yêu là ý thức chứ kô phải vật chất

    Tình yêu là một từ có rất nhiều ý nghĩa khác nhau trong tiếng Việt.

    Nó có thể một thứ gì đó gây thích thú (tôi yêu bữa ăn này), tới điều gì mà một người sẵn sàng chết vì nó (lòng yêu tổ quốc). Nó có thể miêu tả một cảm giác mãnh liệt, một sự xúc động. Trong cách sử dụng thông thường thì đó là tình yêu giữa cá nhân với nhau. Tình yêu là đề tài phổ biến nhất trong nghệ thuật.

    Có nhiều kiểu tình yêu. Tình yêu là vấn đề vốn có, cố hữu trong mọi nền văn hóa con người. Thực sự nhiều nền văn hóa khác nhau đã làm cho định nghĩa nói chung về tình yêu rất khó thiết lập.

    Sự biểu lộ của tình yêu có thể bao gồm tình yêu dành cho linh hồn, cho thiên nhiên, cho tiền bạc, cho học tập, cho sức mạnh, cho nữ giới, cho thức ăn, cho sự tôn trọng người khác… Nhiều người khác nhau đặt những tầm quan trọng khác nhau cho những loại tình yêu mà họ nhận được. Tình yêu về cơ bản khá trừu tượng, khó hiểu, hiểu theo kinh nghiệm dễ hơn là giải thích.

    Tình yêu không dành cho con người

    Một người có thể coi là yêu tổ quốc, một địa danh, hay một bàn thắng nếu họ coi trọng và tận tâm một cách sâu sắc với nó.

    Tình yêu trong văn hóa thế giới

    Hình thiên thần nhỏ, có cánh cũng là một biểu tượng cho tình yêu

    Trung Quốc

    Trong ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, nhiều thuật ngữ thể hiện khái niệm “tình yêu”:

    愛 ái được dùng như một động từ (ví dụ trong 我愛你 ngã ái nễ “anh/em yêu em/anh”) hay một danh từ, đặc biệt ái tình(愛情).

    La tinh

    Ngôn ngữ La tinh có nhiều động từ ứng với “tình yêu”.

    Amare là gốc của động từ “yêu”, mà ngày nay vẫn còn sử dụng trong tiếng Ý.

    Bản chất tình yêu

    (theliquidimage)

    Các nhà khoa học vừa khám phá ra một hỗn hợp hoá chất trong não đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên sự lãng mạn của những đôi uyên ương và sự hấp dẫn mãnh liệt ở giới nam – nữ. Đó thực sự là điều mà mọi người gọi là tình yêu.

    Yêu là chết, vẫn yêu

    Tại sao một đối tượng nào đó dù chỉ là lần gặp gỡ đầu tiên đã hớp hồn ta? Tại sao người ta luôn tìm kiếm sự lãng mãn của nhau? Tại sao có người chỉ yêu duy nhất một người đến trọn đời?

    Muôn vàn câu hỏi tại sao vẫn chưa có lời đáp, vì nếu đã có đáp số thì người ta đã biết tình yêu là gì và sẽ chẳng còn ai lao vào tìm tình yêu nữa.

    Nhà nhân chủng học thuộc Đại học Rutgers ở Mỹ – Helen Fisher đã dành hàng chục năm trời để nghiên cứu về những con đường hoá học của tình yêu ở mọi hình thức biểu lộ của nó: thèm khát lẫn nhau, lãng mạn, ôm ấp, giận hờn và ghen tuông. Bà cho biết: “Người phụ nữ thường sử dụng những cảm giác vô thức của mình để quyết định xem liệu anh chàng nào đó có phù hợp với mình hay không. Nếu anh ta thiếu can đảm và cứng nhắc thì cô ta sẽ không thấy hứng thú vì cho rằng anh chàng này không thể nào là ông chồng tốt trong tương lai. Các nhà khoa học tin rằng chính điều này đã giúp phái nữ biết phân biệt đâu là người tốt và đâu là Sở Khanh”.

    Khi hai người khác giới nhìn thẳng vào người mình yêu, những phần não bộ liên kết với nhau tạo ra cảm giác hứng thú và thu hút lẫn nhau, hay còn gọi là chất dopamine – được thấy với nồng độ cao trong tuỷ thượng thận và trong não có thể hoạt động như chất dẫn truyền thần kinh. Ở phần não phải, chất dopamine tạo ra năng lượng mạnh, niềm phấn chấn, tập trung và động cơ thúc đẩy.

    Điều đó giải thích vì sao khi mới bước vào tình trường, bạn có thể thức suốt đêm, ngắm mặt trời mọc, chạy đường trường không biết mệt, dám làm những điều bình thường không dám làm… Chính tình yêu tạo thêm hưng phấn, làm bạn sáng suốt hơn, giúp bạn vượt qua những trở ngại để đạt được điều mơ ước.

    Tình yêu bắt đầu từ lỗ… mũi

    Các chuyên gia phân tâm học hiện đại cho rằng, chúng ta thường mong muốn gặp gỡ những người thật hấp dẫn và do đó khi chọn bạn đời, ta luôn chọn những người trông khoẻ khoắn.

    Khoẻ mạnh ở người phụ nữ có nghĩa là phải đạt 70% tỷ lệ eo và mông, còn ở nam giới phải có mức testosterone trong máu cao. Tỷ lệ vòng eo và mông đóng vai trò quan trọng trong việc sinh sản của phụ nữ và một hệ miễn dịch khoẻ ở nam giới để cho ra đời con cái khoẻ mạnh.

    Có lẽ sự lựa chọn bạn đời phụ thuộc vào chiếc… mũi! Claus Wedekind ở Đại học Lausanne đã làm một thí nghiệm hấp dẫn với… áo pull.

    Ông yêu cầu 49 phụ nữ thử ngửi những chiếc áo được những người đàn ông bí mật mặc trước đó, theo kiểu di truyền khác nhau nhằm tác động đến mùi cơ thể và hệ miễn nhiễm. Sau đó ông yêu cầu họ phân loại áo mùi tốt nhất và có mùi ghê nhất. Kết quả phụ nữ thích hương thơm từ chiếc áo được mặc bởi anh chàng có kiểu gene khác với mình.

    Khi nghiên cứu khía cạnh sinh học của tình dục, ông đã phát hiện những cơ thể gắn bó khiến con người là một sinh vật mang tính xã hội cao và không thể sống đơn lẻ. Chính phân tử ocytocine tạo ra cảm giác sung sướng khi đạt cực khoái trong giao hợp cũng giúp gắn kết tình cảm mẹ con khi người mẹ cho con bú, và là phân tử tạo ra sự chung thuỷ. Khi tiêm ocytocine vào chuột thích “đa thê” thì chúng trở nên chung thuỷ thấy rõ.

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học? Tình yêu triết học Thầy giáo Vũ Đình Bảy, khoa GDCT – ĐHSP Huế Em đến với anh bằng tình yêu triết học Tình ta chứa chan đầy mâu thuẫn Mâu thuẫn ấy không thể tách rời tranh đấu Mà làm cho tình yêu phát triển đi lên Anh khuyên em đừng phủ định vùng lên Đừng vội cho anh là duy tâm hạng nhất Và ” Đa nguyên” là không thể biết Anh ghét nhị nguyên dao động lưng chừng Và lên án cả siêu hình máy móc Ta vận động đâu chỉ bằng cơ học Mình đến với nhau bằng khối óc tư duy Anh phán đoán xem em đang nghĩ gì ? Có phải vì em mà anh đang “duy lý” Sẽ theo anh đến tận ngàn thu Hai đứa chúng ta là một cặp phạm trù Và hai mặt “đối lập” của tình yêu bất diệt Và hai trái tim cùng nhịp đập Đang chuyển hoá giữa không gian hừng hực Lửa tình yêu vũ trụ quay cuồng Đánh thức dậy những tâm hồn đã tắt Giọt nắng “hư vô” ý niệm bay về Và cả thánh Valentin đáng kính Tình đôi ta như chân lý phân minh Mối liên hệ vững bền em hãy ghi nhớ Em ơi ! Xin đừng vì nguyên cớ Vì nguyên nhân mà phụ tình anh Em giữ gìn ngôn hạnh công dung Những khái niệm thân thương dệt thành tri thức Vì yêu em nên anh thú thực Con người anh cũng có lúc riêng chung Cũng có lúc nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả Em hãy nhẹ nhàng thư thả nhắc anh nghe Ta phải làm gì tránh những nguy cơ Kẻo chệch hướng tình yêu về hiện tượng Để tình ta mãi mãi xanh thực tiễn Anh báo thế gian này không hề chuyển biến Không ai tắm hai lần trên dòng sông Sau mỗi Satna em ơi mình đã khác Dù anh xin em đừng có khóc Đừng cho đi phủ định sạch trơn Đừng dấu diếm bờ môi thất vọng Đừng bỏ qua một cách vội vàng Ở phía trước vận động không phải là vô tận Tồn tại hay không là cả một vấn đề Em đừng mải mê trực quan sinh động Muốn hiểu rõ về nhau hay tư duy trừu tượng Tránh chủ quan trong đánh giá con người Ta sẽ biến khả năng thành hiện thực sáng ngời Và mãi đây dù vật đổi sao dời Người yêu hỡi Thời gian em ơi hãy đợi Anh cùng em bước qua thời quá độ Hướng đến ngày “hất đổi” ánh bình minh Hướng đến tình yêu cộng sản văn minh Giữa hiện thực khách quan hai đứa chúng mình Vận động mãi trong tình yêu hạnh phúc Để tình yêu đang chờ phía trước Kết độ rồi nhảy vọt tới hôn nhân Và bước tới hình thái gia đình riêng cụ thể Ta ngày càng biện chứng trong nhau Anh khái quát mấy lời gửi em yêu mến Ta hãy mong chờ thực tiễn của ngày mai Khúc khải hoàn biện chứng của tương lai Như quy luật muôn đời tất yếu Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Về Chính Trị: 6
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ Và Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Mác
  • Phẩm Giá Con Người Trong Triết Học Kant
  • Khoa Học Về Vi Sinh Vật Đang Định Nghĩa Lại Triết Học: Con Người Là Gì?
  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • Phản Ánh Của Hoạt Động, Phản Ánh Tâm Lý Và Triết Học
  • Câu 35: Ý Thức Và Nguồn Gốc Ý Thức Theo Triết Học Mac
  • Có Chân Lý Khách Quan Không?
  • Một Biểu Tượng Là Gì? ·
  • Vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm .

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và xã hội . Cần phải xem xét cả hai mặt tự nhiên và xã hội để hiểu nguồn gốc, bản chất của này.

    Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, các nhà duy vật biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức có hai yếu tố không thể tách rời nhau là bộ óc con người thế giới bên ngoài tác động lên óc người.

    – Đây là một dạng vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua quá trình tiến hóa lâu dài về mặt sinh vật – xã hội. Ý thức là thuộc tính của riêng dạng vật chất này.

    Tức là, chỉ con người mới có ý thức. Không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật thông minh nhất có năng lực này.

    – Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có thế giới bên ngoài tác động vào bộ óc, thì cũng không có ý thức. Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai là thế giới bên ngoài.

    – Trong tự nhiên, mọi đối tượng vật chất (con khỉ, con voi, cái bàn, mặt nước, cái gương…) đều có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh. Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng.

    Nói một cách dễ hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một cái gì đó. Chép lại lời nói ra giấy là sự phản ánh. Chụp một bức ảnh cũng là sự phản ánh.

    Để có quá trình phản ánh xảy ra, cần có vật tác động và vật nhận tác động.

    – Đương nhiên, bộ óc người cũng có thuộc tính phản ánh. Nhưng phản ánh của bộ óc con người có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác.

    Sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thì thuộc tính phản ánh của óc người cũng hoàn mỹ nhất so với mọi đối tượng khác trong tự nhiên.

    Do hoàn mỹ nhất như vậy, nên thuộc tính phản ánh của óc người được gọi riêng bằng phạm trù ” ý thức “. Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc con người.

    Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ. Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc . Đó là lao động, tức là và ngôn ngữ.

    – Trong tự nhiên, con vật tồn tại nhờ những vật phẩm có sẵn như trái cây, côn trùng hoặc loài vật yếu hơn nó… Nhưng đối với con người thì khác.

    Con người có khả năng và bắt buộc phải ra những sản phẩm mới (bàn, ghế, quần áo, ti vi, tủ lạnh…), khác với những sản phẩm có sẵn. Tức là, con người phải lao động mới đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của mình.

    Chính thông qua lao động, hay còn gọi là hoạt động , nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được, biết được nhiều bí mật về thế giới đó, mới có ý thức về thế giới này.

    – Nhưng ở đây, không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức. Ý thức có được chủ yếu là do con người chủ động tác động vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó nhằm tạo ra những sản phẩm mới.

    Nhờ chủ động tác động vào thế giới khách quan, con người bắt những đối tượng trong hiện thực (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng…) phải bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật của mình. Những bộc lộ này tác động vào bộ óc người để hình thành ý thức của con người.

    – Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau. Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là chữ viết.

    Theo C. Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.

    – Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là diễn đạt những khái niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính.

    Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

    Như vậy, bản chất của nó được thể hiện qua 4 khía cạnh sau đây:

    Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, nhưng lại thuộc phạm vi chủ quan, không có tính vật chất. Nó là hình ảnh phi cảm tính của các đối tượng vật chất có tồn tại cảm tính.

    Con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo.

    Trong quá trình lao động để cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình (xây nhà, cày ruộng, đào mương, xây cầu…). Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện thực khách quan.

    Tính năng động, sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.

    Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. Nó có thể tiên đoán, dự báo tương lai một cách tương đối chính xác, hoặc có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại. Thậm chí, một số người còn có khả năng tiên tri, ngoại cảm, thấu thị…

    Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của nó là sáng tạo của sự phản ánh, theo và trong khuôn khổ của sự phản ánh.

    Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản ánh (núi, sông, mưa,…). Sự trao đổi này mang tính hai chiều, có định hướng, chọn lọc các thông tin cần thiết.

    Hai là, con người mô hình hóa (tức là vẽ lại, lắp ghép lại…) đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Thực chất đây là quá trình ý thức sáng tạo lại hiện thực, là sự mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.

    Ba là, chủ thể chuyển mô hình từ trong óc ra hiện thực khách quan. Đây là qúa trình hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn để biến quan niệm của mình thành dạng vật chất trong cuộc sống. Ví dụ như con người sẽ xây cầu qua sông, làm đường xuyên núi… theo mô hình thiết kế đã có ở bước 2 ở trên.

    III. Ý nghĩa rút ra từ nội dung nguồn gốc, bản chất của ý thức

    Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất của ý thức, ta có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

    Xuất phát từ thế giới khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

    Do ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc người, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta phải bắt đầu từ thế giới khách quan. Tức là, trước hết ta phải nghiên cứu, tìm tòi từ các đối tượng vật chất bên ngoài bộ óc để phục vụ nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các đối tượng vật chất đó.

    Ta cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí. Tức là chống lại thói quen dùng quan điểm, suy nghĩ thiếu cơ sở của mình để gán cho các đối tượng vật chất.

    Cần xóa bỏ thói quan liêu, dùng mong muốn chủ quan của cá nhân mình để áp đặt thành chỉ tiêu cho cơ quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng.

    Phát huy tính tự giác, chủ động của con người

    Do ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới khách quan, ta cần phát huy hết sức tính tự giác, chủ động của con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cần kiên quyết chống lại tư duy giáo điều, cứng nhắc, lý thuyết suông… về sự vật, hiện tượng.

    Ta cần phát huy hết sức trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong học tập, lao động. Luôn nỗ lực bài trừ thói quen thụ động, ỷ lại, bình quân chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Quan Niệm Về Vật Chất Trong Lịch Sử Triết Học
  • Thế Nào Là Chất, Lượng, Độ, Điểm Nút, Bước Nhảy? Chất Và Lượng Của Sự Vật Có Mối Quan Hệ Biện Chứng Nào? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Gì Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Triết Học Là Gì? Đối Tượng Của Triết Học Là Gì? Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Hàm Vlookup Trong Excel, Cách Dùng Hàm Vlookup Trong Excel, Hàm Tìm Ki
  • =)), :)), :3, :v, ^^, :, @@, 3:), V/v, Vc, Vs Nghĩa Là Gì?
  • Iphone Bypass Là Gì? Có Nên Mua Iphone Bypass
  • Info Là Gì? Xin Info Là Gì? Ý Nghĩa Của Info Được Dùng Trên Mạng Xã Hội
  • Khi học triết học, chúng ta thường xuyên đặt câu hỏi triết học là gì? Đối tượng của triết học và vấn đề cơ bản khoa học này là gì? Bài viết này sẽ cung cấp giải đáp cho những câu hỏi đó.

    – Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    Ở Trung Quốc, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar’sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    – Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau:

    Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu:

    “Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy”.

    – Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    – Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của ; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

    Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng.

    Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại.

    Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu.

    Ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học.

    Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập.

    Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.

    Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác.

    “Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.”

    Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.

    Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó.

    Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa học”, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.

    Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản…

    Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.

    Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Homestay Là Gì? 6 Đặc Trưng Làm Nên Loại Hình Homestay
  • Homestay Là Gì? Những Điều Cần “nằm Lòng” Nếu Muốn Đầu Tư Homestay
  • Hợp Âm Là Gì? Cách Sử Dụng Hợp Âm Chuẩn
  • Gdp Là Gì, Ý Nghĩa Và 3 Cách Tính Gdp Danh Nghĩa Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Du Lịch La Gi, Bình Thuận (Cập Nhật 12/2020)
  • Vấn Đề Nhận Thức Và Khả Năng Tự Ý Thức Của Con Người Trong Triết Học Đêcáctơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Khách Quan Là Gì? So Sánh Giữa Khách Quan Và Chủ Quan
  • Triết Học Là Gì? Những Vấn Đề Của Triết Học Đối Với Cuộc Sống
  • Tổng Quan Chi Tiết Về Ngành Triết Học
  • Chủ Nghĩa Tư Bản Là Gì?
  • Vấn Đề 4: Khái Niệm Tư Bản, Tư Bản Bất Biến Và Tư Bản Khả Biến
  • Trong số các nhà triết học mà cho đến nay, nhân loại không thể không kể tới, R.Đêcáctơ được thừa nhận là người có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử triết học. Ông là người đã sử dụng phương pháp hoài nghi của mình để đấu tranh chống lại triết học kinh viện giáo điều từng thống trị suất thời Trung cổ đen tối và tạo dựng nền tảng cho việc kiến tạo lâu đài khoa học với những phương pháp mới. Là người tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh của trí tuệ con người, Đêcáctơ đã giữ lập trường duy lý trong nhận thức luận. Việc tìm hiểu vấn đề nhận thức và khả năng tự ý thức của con người trong triết học Đêcáctơ chỉ cho phép chúng ta hiểu rõ hơn lập trường triết học của ông, trước hết là trong lĩnh vực nhận thức luận.

    Việc sử dụng khái niệm “phản tư” cho thấy, Đêcáctơ xem xét các hành vi của ý thức không những từ giác độ đồng đại mà cả từ giác độ lịch đại và có tính tới mối liên hệ phát sinh giữa quá khứ và tương lai với tư cách là mối liên hệ bảo đảm cho sự thống nhất có tính năng động của tự ý thức con người. Trong “Mặc tưởng về triết học đầu tiên”, Đêcáctơ còn đưa ra sự phân định theo “mối liên hệ thời gian” giữa trực giác tiềm năng và trực giác thực tại trong ý thức. Ông cho rằng mặc dù chúng ta luôn thực sự ý thức về các hành vi của trí tuệ chúng ta, song không phải lúc nào chúng ta cũng ý thức được nó. Chúng ta dường như mới chỉ ý thức được năng lực và khả năng của nó mà thôi. Đêcáctơ muốn dựa vào sự phân định đó để khẳng định luận điểm về tính liên tục của tư duy. Và khi gán cho học thuyết về trực giác trí tuệ, bẩm sinh một vai trò quan trọng trong việc luận chứng cho tính liên tục của tư duy, cho tính tự đồng nhất của lý trí, Đêcáctơ cho rằng lý tri con người luôn chứa đựng trong mình các ý niệm về Thượng đế, về bản thân mình và về mọi chân lý được coi là hiển nhiên. Các ý niệm đó không chỉ được con người ý thức một cách hiện thực, chúng còn được con người ý thức một cách tiềm năng, ý thức theo khả năng linh cảm của lý tính. “Không có sự vật xa xôi nào, Đêcáctơ khẳng định, mà người ta không tìm kiếm được, không có sự vật bí hiểm nào mà người không khám phá ra được”. Bởi vậy, theo ông, không nên đặt ra cho trí tuệ con người bất kỳ một giới hạn nào cả. Ông cho rằng khát vọng nhận thức của con người là vô biên, do vậy nó cần đến Thượng đế với tư cách cái tượng trưng cho sự hoàn hảo và tối cao tuyệt đối, có khả năng định hướng và tạo dựng niềm tin cho nhận thức cũng như mọi ước vọng của con người.

    Với học thuyết về trực giác trí tuệ bẩm sinh, khi xem xét những quan niệm truyền thống của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy cảm, Đêcáctơ đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy lý. Ông kêu gọi con người hướng tới việc hoàn thiện và phát triển khả năng trí tuệ của mình, hướng tới lumen naturale (ánh sáng tự nhiên – cái được Đêcáctơ đồng nhất với khả năng trí tuệ cao nhất của con người). Theo ông, con người muốn tìm cách “nhận thức chân lý một cách nghiêm chỉnh thì cần phải quan tâm đến việc tăng cường lumen natu rale”. Ông cho rằng điểm khởi đầu của nhận thức chân lý và cũng là khả năng nhận thức cao nhất của trí tuệ con người là trực giác. Từ lập trường duy lý chủ nghĩa, Đêcáctơ coi trục giác là trực giác trí tuệ hay lý tính, là khả năng linh cảm của lý tính. Tự nó, trực giác có thể xét đoán đúng sai của tri thức, xác định tính chân lý của nhận thức con người mà không cần đến bất cứ một sự nỗ lực nào. Khả năng trí tuệ này, theo Đêcáctơ, hoàn toàn đúng đắn và công minh, là toà án để phân định mọi cái, đánh giá mọi tri thức cung như mọi hành vi hoạt động của con người. Rằng trực giác “là một khái niệm vững chắc của một trí tuệ rõ ràng và chăm chú được ánh sáng tự nhiên của lý tính sản sinh ra và nhờ sự đờn giản của mình, nó còn xác thực hơn cả bản thân diễn dịch”. Như vậy, với ông, trực giác là sự tự ý thức, tự nhận thức về các chân lý “đang hiện lên” trong lý tính. Coi trực giác là sự linh cảm của lý tính, Đêcáctơ đã khẳng định rằng mọi sai lầm của con người đều do người ta hành động không tuân theo lý tính của mình, còn bản thân hoạt động trực giác của lý tính thì bao giở cũng đúng.

    Xuất phát từ quan niệm đó, Đêcáctơ đặc biệt đề cao vai trò của lý tính trong nhận thức và đòi hỏi con người phải đi xa hơn nhận thức cảm tính. Bởi vì, theo ông, nếu “hạn chế lý tính trong khuôn khổ những gì tai nghe mắt thấy tức là đem lại cho nó một tổn thất lớn”. Tuy nhiên, Đêcáetơ cũng đã phần nào nhận thấy tính phiến diện của lý tính trong nhận thức. Và do vậy, ông muốn đem lại cho lý tính một tính linh hoạt hơn và lên tiếng phản đối khuynh hướng thửa nhận một cách vô điều kiện ý thức chỉ hoàn toàn là hoạt động thuần tuý trí tuệ. Câu hỏi “Cảm tính hay ý thức”? mà Đêcáctơ đưa ra trong tác phẩm “Các nguyên lý triết học” của ông đã chứng tỏ ông có tính đến sự khác biệt giữa ý thức tự nó và ý thức về thế giới bên ngoài với ý thức vốn có ở cái Tôi thuần tuý với tư cách là tư duy phản tư.

    Mặc dù đề cao vai trò của lý tính, của trực giác trí tuệ trong nhận thức, Đêcáctơ vẫn nhận thấy tính đặc thù của nhận thức cảm tính mà, theo ông, vốn có tính độc lập tương đối nhờ mối quan hệ trực tiếp với thực tại bên ngoài. Ông coi trực giác cảm tính là một “thuộc tính đặc biệt” của tư duy và từ quan niệm này, ông đã cố gắng phân biệt cái mà ông gọi là thuộc tính “không rõ ràng” đó với hoạt động tư duy thuần tuý. Ông còn gắn các yếu tố của nhận thức cảm tính với “cái tôi kinh nghiệm”, với các hành vi của “ý chí tự do”. Và từ đó, ông cho rằng nguyên nhân của các sai lầm trong nhận thức là do con người có quyền tự do lựa chọn và vì sự tự do đó nên con người muốn nhận thức được nhiều hơn trong khi khả năng nhận thức của nó lại có hạn.

    Giải thích điều đó, Đêcáctơ cho rằng con người là một sinh vật chưa hoàn thiện, con người chỉ là một sinh vật có khả năng đi đến hoàn thiện. Nó “giống như là nấc thang trung gian giữa Thượng đế cao siêu và hư vô”. Với tư cách là kết quả sáng tạo của sự tồn tại cao siêu, con người không có sai lầm, nhận thức của con người hoàn toàn đúng. Nhưng khi thuộc về hư vô, con người có thể có sai lầm, có khả năng nhận thức sai. Bởi linh hồn con người, theo Đêcáctơ, không chỉ bao gồm lý trí, mà còn có cả ý chí. Bản thân lý trí trong linh hồn con người không đưa ra một sự khẳng định hay phủ định nào cả, nó chỉ nắm lấy những tư tưởng về các sự vật có thể khẳng định hay phủ định. Vì vậy, theo ông, trong lý trí không có sai lầm, lý trí không dẫn đến sai lầm. Còn ý chí trong linh hồn con người luôn có khả năng lựa chọn, tự do nhận thức, khẳng định hay phủ định cái gì đó, và do vậy, bản thân ý chí hay khả năng lựa chọn tự do có thể là nguyên nhân dẫn đến sai lầm, nhận thức không đúng. Sai lầm đó, theo Đêcáctơ, còn do “lý chí rộng hơn trí tuệ”, do trí tuệ không biết tự giới hạn trong phạm vi nó có thể nhận thức mà lại mở rộng ra cả những lĩnh vực vượt quá khả năng nhận thức của nó”.

    Thừa nhận sự tồn tại của cả lý trí lẫn ý chí trong linh hồn con người, Đêcáctơ cho rằng, vì trong linh hồn con người có cả hai cái đó, nên khả năng nhận thức của con người là có hạn, nhận thức của con người có thể đúng, có thề ai. Và do vậy, theo ông, trong nhận thức, con người phải xuất phát từ sự nghi ngờ, nghi ngờ tất cả những gì đã được coi là chân lý. Nghi ngờ, trong quan niệm của Đêcáctơ, đó không phải là tin rằng không có cái gì là xác thực cả, là chân lý cả mà chỉ là một phương tiện, một biện pháp có khả năng ngăn ngừa những kết luận vội vàng, không có cơ sở khoa học chứ không phải là thay thế những kết luận ấy. Ở Đêcáctơ nghi ngờ là khả năng của tư duy, của tự ý thức con người, là nguồn gốc chân thực của tri thức và là phương thức để con người phát triển nhận thức. Với ông, nghi ngờ là nhằm học cách không nên giả định một cách dứt khoát một cái gì đó mà chỉ mới có thí dụ và thói quen về nó đã tin nó là chân lý. Nghi ngờ là để nhận thức con người, tự ý thức con người “được giải thoát khỏi những sai lầm” mà con người có thể vì sai lầm đó làm lu mờ cái ánh sáng tự nhiên” của con người và làm cho con người ít có khả năng chú ý đến tiếng nói của trí tuệ. Và như vậy, có thể khẳng định rằng, trong quan niệm của Đêcáctơ “điểm xuất phát của khoa học chân chính phải là sự hoài nghi phổ biến, hoài nghi để không mắc phải sai lầm trong quá trình nhận thức để sau đó có niềm tin chắc chắn hơn, nghĩa là hoài nghi có tính chất phương pháp luận”.

    Với quan niệm như vậy về vai trò của sự nghi ngờ trong quá trình nhận thức, Đêcáctơ cho rằng một chủ thể biết tư duy với sự nghi ngờ luôn chế ngự trí tuệ nó phải biết tin vào sự không hoàn hảo của bản thân mình và đồng thời tin vào sự hoàn hảo tuyệt đối của Thượng đế cao siêu – Đấng sáng thế đã đem lại cho con người sự tồn tại. Rằng trong hoạt động nhận thức, chủ thể biết tư duy với sự nghi ngờ cần phải có phương pháp nhận thức để đạt tới tri thức hiển nhiên và không thể nghi ngờ, để trên cơ sở đó, khắc phục những gì không hoàn bảo mà bản thân mình tự ý thức được. Một chủ thể biết tư duy với sự nghi ngờ, theo Đêcáctơ, hoàn toàn có khả năng làm chủ được những suy nghĩ của mình, có khả năng thể hiện không hẳn đã là sự yếu kém của mình, mà chủ yếu là khả năng tụ do lựa chọn, tính độc lập của mình nhờ có tự ý thức tỉnh táo của mình.

    Luận chứng cho sự hoài nghi phổ biến, hoài nghi mang tính phương pháp luận trong hoạt động nhận thức của con người, Đêcáctơ đã khăng đinh tính độc lập tương đối của lý trí con người, khả năng tự ý thức của con người. Cùng với khẳng định đó, ông còn chứng minh rằng trong lĩnh vực nhận thức lý luận, các luận điểm và giáo lý của thần học đã không còn có hiệu lực. Và do vậy mà nhiều luận điểm của ông trong vấn đề này đã khiến cho các nhà thần học phải “nổi khùng” và bản thận ông bị coi là kẻ tà giáo cho dù ông có cố gắng thể hiện một con chiên ngoan đạo.

    Có thể nói, quan niệm của Đêcáctơ về khả năng tự ý thức của con người, về vai trò của lý tính, của trực giác trí tuệ bẩm sinh trong hoạt động nhận thức, mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song nó đã có những đóng góp không thể bác bỏ trong tiến trình phát triển tư tưởng nhân loại nói chung, trong cuộc đấu tranh giải phóng khoa học và siêu hình học khỏi sự thống trị của nhà thờ và thần học nói riêng. Quan niệm đó đã chứng tỏ ý nghĩa lịch sử, bản chất tiến bộ, tư tưởng nhân đạo trong triết học Đêcáctơ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Tâm Sáng Tạo Khoa Học
  • Bình Luận Về Các Khái Niệm
  • Năng Động, Sáng Tạo Là Gì? Làm Gì Để Năng Động Sáng Tạo
  • Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Tiền Tệ Phải Chăng Là Hàng Hoá?
  • Về Vấn Đề Tính Khoa Học Của Triết Học, Một Hình Thái Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ
  • Nét Đặc Sắc Trong Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh Về Dân Chủ
  • Có Nên Đi Học Các Khóa Học Dạy Chạy Ads Quảng Cáo Facebook Không? Sự Thực Phũ Phàng
  • Các Khái Niệm Về Giá Trị – Phần Iii
  • Không Gian Là Gì? (Phần 1)
  •      HỒ SĨ QUÝ

          GS.TS., Viện Thông tin Khoa học Xã hội, 

    Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

                   [email protected]

        Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 3 (447) 2022

     

    Tóm tắt

    Từ khoảng giữa thế kỷ XX, triết học được tranh cãi liệu nó có phải là một khoa học hay không. Trước đó, vấn đề này gần như không được đặt ra. Bởi lẽ, từ trong lịch sử đến tận ngày nay, triết học luôn được thừa nhận là một hình thái ý thức xã hội và giá trị không thể thay thế của triết học là ở đó. Người ta không coi triết học là một khoa học ngang hàng (cùng loại) với các khoa học khác, điều đó không có nghĩa rằng triết học không luận giải một cách khoa học về thế giới. Triết học nào cũng cố gắng sử dụng những thành tựu khoa học để khái quát luận thuyết của mình thành một mô hình lý tưởng nhằm giải thích mọi hiện tượng trong thế giới và định hướng cho hành vi. Hàm lượng khoa học của một học thuyết triết học, ngoài việc nó sử dụng những thành tựu của các khoa học khác còn biểu hiện ở sức mạnh của thế giới quan và phương pháp luận mà nó sáng tạo ra để giải thích thế giới và định hướng cho hoạt động của con người.

    Từ khóa: Hình thái ý thức xã hội; Khoa học; Triết học; Triết học Mác-Lênin,

    1. Đặt vấn đề

    Tại hầu khắp các trường đại học trên thế giới, triết học đều có mặt trong bảng phân loại các bộ môn tri thức cần được giảng dạy, nghiên cứu. Bắt đầu từ Aristotle, truyền thống văn hóa phương Tây đã dần coi triết học là một loại tri thức nền tảng không thể thiếu đối với mọi tư duy duy lý, đặc biệt là tư duy khoa học. Ở trình độ tiến sỹ khoa học (Doctor of Sciences, Doctor Habilitatus), nhà khoa học chuyên ngành còn được xem tương đương là nhà triết học, nhà tư tưởng. Nghĩa là vị thế của triết học trong đời sống trí tuệ nhân loại chưa bao giờ là cái phải nghi ngờ. Mặc dù vậy, cũng theo truyền thống văn hóa phương Tây, tuyệt nhiên không mấy ai coi triết học là khoa học, kiểu như toán học, vật lý học, kinh tế học hay xã hội học… Triết học trong quan niệm phương Tây, không phải là khoa học thực chứng (Positivist Science), mà là một loại hình thế giới quan và phương pháp luận giải thích nguyên nhân và dẫn đường. Sự kiểm chứng đối với triết học giống như sự kiểm chứng đối với các tiên đề (Axioms), nghĩa là gần như buộc phải thừa nhận trong khi rất khó chứng minh.

     

    Những điều vừa nói có nghĩa rằng, ở phương Tây, từ thời cổ đại tới tận ngày nay triết học vẫn luôn được coi là một hình thái ý thức xã hội, tức là một loại hình tri thức đặc thù, dẫn dắt toàn bộ tư duy và hành động, thiết yếu và quan trọng như tôn giáo, chứa đựng vô vàn tri thức đã và chưa được kiểm chứng. Nhưng triết học không phải là khoa học để có thể lặp lại bằng các thí nghiệm.

    Với Marx, Engels và Lênin, triết học cũng đương nhiên là một hình thái ý thức xã hội.

    Ở Việt Nam, trước năm 2008 triết học được xếp vào các khoa học xã hội. Từ năm 2008 đến nay, theo bảng phân loại khoa học mà Bộ KH&CN ban hành năm 2008 và được khẳng định lại từ năm 2012, triết học được xếp vào các khoa học nhân văn (Humanities). Tại bảng phân loại không mấy hợp lý này, khoa học xã hội cũng chỉ là một trong sáu ngành khoa học được công nhận ở Việt Nam, ngang bằng với nông nghiệp hay y dược.

    2. Triết học trong quan niệm của Marx, Engels và Lênin

    Để hiểu thêm về vấn đề, chúng tôi thấy cần thiết phải trở lại với những tư tưởng của chính các tác gia kinh điển, để xem các ông đã phát biểu những gì về triết học.

    Nghĩa là người ta quan tâm nhiều đến tính hữu ích của triết học khi nó đóng vai trò là một hình thái ý thức xã hội, luôn cung cấp kịp thời cho con người những chỉ dẫn thế giới quan và phương pháp luận; không nhất thiết phải biết nó phù hợp đến mức nào với các dữ liệu khoa học (mà khoa học thì thời nào cũng “bất khả tri” trước không ít vấn đề).

    Dù không đưa ra định nghĩa, nhưng quan niệm của các tác gia kinh điển về triết học đã được các tác giả hậu thế giải thích trong các tài liệu giáo khoa. Theo chúng tôi, các giáo trình triết học Mác – Lênin về sau giải thích đều không có gì sai với quan niệm của Marx, Engels và Lênin, với những nội dung chủ yếu thường được trình bày, gồm: i). Triết học là một hình thái ý thức xã hội. ii). Triết học hướng đến một cái nhìn toàn vẹn về thế giới, về con người và vị trí của con người trong thế giới đó. iii). Khách thể khám phá của triết học là thế giới (gồm cả thế giới bên trong và bên ngoài con người). iv). Triết học giải thích tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình và quan hệ của thế giới, với mục đích tìm ra những quy luật phổ biến nhất chi phối, quy định và quyết định sự vận động của thế giới, của con người và của tư duy. v). Với tính cách là loại hình nhận thức đặc thù, độc lập với khoa học và khác biệt với tôn giáo, tri thức triết học mang tính hệ thống, toàn diện, lôgíc và trừu tượng về thế giới, bao gồm những nguyên tắc cơ bản, những đặc trưng bản chất và những quan điểm nền tảng về mọi tồn tại. vi). Triết học là hạt nhân của thế giới quan.

    Không nên quên rằng, Karl Marx được nhắc đến trong lịch sử tư tưởng nhân loại nhiều nhất không phải là một nhà triết học mà là một nhà cách mạng. Được đào tạo bài bản để trở thành một triết gia, nhưng ngay sau khi tốt nghiệp Đại học Bonn, Marx lại hướng sự say mê của mình tới kinh tế và chính trị, trên cơ sở đó mà suy tư triết học. Ngoài những tác phẩm đầu tiên thời trẻ, từ sau những năm 50 thế kỷ XIX các tác phẩm của ông đều không trực tiếp bàn đến triết học. Mặc dù vậy, triết học Marx lại định hình chủ yếu sau thời Marx trẻ (Young Marx), đặc biệt là Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Học thuyết Hình thái kinh tế xã hội. Chúng tôi đã trở lại tương đối kỹ với các tác phẩm kinh điển và có đủ cơ sở để thấy rằng, trực tiếp bàn về triết học các tác gia kinh điển viết không nhiều:

    2.1. Triết học là tinh hoa về mặt tinh thần của mỗi thời đại

    K. Marx viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất; họ là sản phẩm của thời đại của mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học”.

    Chẳng hạn, với triết học Cổ điển Đức, Chủ nghĩa duy vật Pháp, K. Marx và F. Engels xác nhận rằng, “ngay cả chủ nghĩa cộng sản phát triển cũng trực tiếp bắt nguồn từ chủ nghĩa duy vật Pháp” .

     

    2.3. Triết học không treo lơ lửng bên ngoài thế giới

    Marx viết: “Triết học không treo lơ lửng bên ngoài thế giới, cũng như bộ óc không tồn tại bên ngoài con người”.

    Đồng thời, triết học cũng chỉ xuất hiện khi kho tàng thức của loài người đã hình thành được một vốn hiểu biết nhất định mà trên cơ sở đó, tư duy con người đã đạt đến trình độ có khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ. Lao động trí óc đã tách khỏi lao động chân tay. Trí thức xuất hiện với tính cách là một tầng lớp xã hội, có vị thế xã hội xác định.

    2.5. Chủ nghĩa duy vật hiện đại do Marx sáng lập ra, có nội dung vô cùng phong phú, có tính chất vô cùng triệt để, hơn tất cả mọi hình thức trước kia của chủ nghĩa duy vật

    V.I. Lênin đánh giá: “Ngay từ 1843, lúc mà Marx chỉ mới đang trở thành Marx, nghĩa là trở thành người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội, với tính cách là một khoa học, trở thành người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật hiện đại, có nội dung vô cùng phong phú hơn và có tính chất vô cùng triệt để hơn tất cả mọi hình thức trước kia của chủ nghĩa duy vật, thì Marx đã vạch ra một cách hết sức rõ ràng những đường lối căn bản trong triết học… Thiên tài của Mác và Ăng-ghen chính là ở chỗ, trong một thời kỳ rất dài – gần một nửa thế kỷ – hai ông đã phát triển chủ nghĩa duy vật, đã đẩy một khuynh hướng cơ bản của triết học tiến lên phía trước; đã không quanh quẩn ở chỗ chỉ lặp lại những vấn đề nhận thức luận đã được giải quyết, mà đã triệt để áp dụng cũng chủ nghĩa duy vật ấy và chỉ vẽ cách áp dụng chủ nghĩa duy vật ấy vào lĩnh vực khoa học xã hội như thế nào”.

    2.7. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học

    Theo V.I.Lênin, “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và tuỳ tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị; lý luận đó chỉ cho ta thấy rằng, do chỗ lực lượng sản xuất lớn lên, thì từ một hình thức tổ chức đời sống xã hội này, nảy ra và phát tiển lên như thế nào một hình thức tổ chức đời sống xã hội khác, cao hơn” .

    2.9. Việc phát hiện ra quan niệm duy vật lịch sử đã loại bỏ được hai khuyết điểm căn bản của những lý luận lịch sử trước kia

    “Việc phát hiện ra quan niệm duy vật lịch sử, hay nói cho đúng hơn, việc áp dụng, việc vận dụng triệt để chủ nghĩa duy vật để xem xét lĩnh vực những hiện tượng xã hội, đã loại bỏ được hai khuyết điểm căn bản của những lý luận lịch sử trước kia. Một là, những lý luận này cùng lắm thì cũng chỉ xem xét những động cơ tư tưởng của hoạt động lịch sử của con người, mà không nghiên cứu căn nguyên của những hiện tượng đó, không phát hiện ra tính quy luật khách quan trong sự phát triển của hệ thống quan hệ xã hội và không thấy rằng trình độ phát triển của sản xuất vật chất là nguồn gốc của những quan hệ ấy. Hai là, những lý luận trước kia đã không nói đến chính ngay hành động của quần chúng nhân dân, còn chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì lần đầu tiên, đã giúp ta nghiên cứu một cách chính xác như khoa học tự nhiên, những điều kiện xã hội của đời sống quần chúng và những biến đổi của những điều kiện ấy”.

    Có nhiều học phái triết học tự nhận mình là khoa học và triết học nào cũng có tham vọng đạt tới lý luận khoa học về thế giới. Nhưng thực ra, tất cả các luận thuyết, quan điểm triết học đều là cái được lựa chọn để ứng dụng. Việc kiểm chứng (các luận thuyết, quan điểm triết học đó) thường vô cùng khó và chỉ được thực hiện trong các phạm vi rất hạn chế  nên hầu như không đủ để đánh giá. Đây cũng là một đặc điểm của tư duy triết học. Với sức mạnh của chức năng định hướng và giải thích, các học thuyết triết học (một khi đã được con người thừa nhận là thế giới quan và phương pháp luận của mình) đều có đóng góp nhất định cho sự hình thành tri thức và là những “vòng khâu”, những “mắt khâu” trên “đường xoáy ốc” vô tận của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại. Trình độ khoa học của một triết thuyết phụ thuộc vào lịch sử ứng dụng hiệu quả của nó trong thực tiễn với sự phát triển của hệ thống tri thức và hệ thống phương pháp nghiên cứu khám phá đối tượng nghiên cứu.

    Trong đời sống xã hội, triết học trước hết và bao giờ cũng là một hình thái ý thức xã hội. Nghĩa là, việc sắp xếp triết học trong bảng phân loại khoa học không nhất thiết là thừa nhận tư cách khoa học của triết học. Là loại hình tri thức đặc biệt của con người, triết học nào cũng có tham vọng xây dựng nên bức tranh tổng quát nhất về thế giới và về con người. Nhưng khác với tông giáo, loại hình tri thức xây dựng thế giới quan dựa trên niềm tin và quan niệm tưởng tượng về thế giới, triết học sử dụng các công cụ lý tính, các tiêu chuẩn lôgíc và những kinh nghiệm mà con người đã khám phá thực tại, để diễn tả thế giới và khái quát thế giới quan bằng lý luận. Tính đặc thù của nhận thức triết học thể hiện ở đó. Theo Russell, nghiên cứu những vấn đề này là “công việc của triết học” (The studying of these questions, is the business of philosophy). Quan niệm của B. Russell một lần nữa khẳng định tư cách hình thái ý thức xã hội của triết học, khám phá những vấn đề vĩnh cửu của triết học, cho dù mai sau triết học có phát triển đến trình độ nào. Tại hầu khắp giảng đường các trường đại học Phương Tây, tư tưởng của B. Rusell về triết học được coi là điều không thể không biết.

    Tính chất thế giới quan của ý thức triết học trong nghiên cứu 6 vấn đề mà Rusell phác họa là ở chỗ, trước hết chúng là những vấn đề mà chỉ triết học mới có thẩm quyền giải quyết. Các khoa học khác ở mỗi thời điểm nhiều lắm cũng chỉ giải quyết được một phần vấn đề đặt ra. Còn tôn giáo lại khẳng định hoặc phủ định chúng một cách thiếu căn cứ. Thứ hai, chúng là những vấn đề vĩnh cửu, vì thời nào những vấn đề này cũng đều mang tính thời sự, con người muốn tồn tại và phát triển đều không thể lảng tránh, nhưng tại mỗi thời kỳ, trí tuệ con người chỉ có thể góp thêm luận cứ, bằng chứng và kiến giải bằng trình độ khoa học của thời đại mình. Và cuối cùng, nếu khoa học giải quyết được triệt để một vấn đề nào đó trong số 6 vấn đề trên, thì vấn đề đó không còn là vấn đề triết học nữa.

    Thực ra quan niệm về triết học là khoa học xuất hiện và gây tranh cãi nhiều hơn trong giới triết học Mácxít, khi ai đó đã mở rộng quan niệm về phép biện chứng sang toàn bộ triết học. Trong “Chống Duhrin” F. Engels viết: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

    Kết luận

    Triết học là một hình thái ý thức xã hội và giá trị của triết học là ở đó. Triết học không phải là một khoa học ngang hàng với các khoa học xã hội khác, điều đó không có nghĩa rằng triết học không luận giải một cách khoa học về thế giới. Hàm lượng khoa học của một học thuyết triết học, ngoài việc nó sử dụng những thành tựu của các khoa học cụ thể còn biểu hiện ở sức mạnh của thế giới quan và phương pháp luận mà nó sáng tạo ra để giải thích thế và giới định hướng cho hoạt động của con người.

     

    Tài liệu trích dẫn

     

     Xem: 1). Russell, Bertrand (1945), A History of Western Philosophy and Its Connection with Political and Social Circumstances from the Earliest Times to the Present Day, Pub. Simon & Schuster, Allen & Unwin. 2). Friedland, Julian (2012), Philosophy Is Not a Science, https://www.academia.edu/8218744/Philosophy_is_Not_a_Science 3). Покровская, Т. П. Научно-теоретическая конференция “Философия и наука” Вестник РФО. № 4; (Hội thảo “Triết học và Khoa học”. Bản tin Hội Triết học Nga) 4). Марков, B. C.  (2006), Философия как наука (Triết học với tính cách là Khoa học. Bản tin Hội Triết học Nga), Вестник РФО. № 1. 5). Рута, В. Д. (2003), Наука или ненаука? (Khoa học hay không phải khoa học. Bản tin Hội Triết học Nga) Вестник РФО. № 4. 6). Зорина, Е. В., Рахманкулова, Н. Ф. и др. (2004), Философия в вопросах и ответах: учеб. пособие / под ред. А. П. Алексеева, Л. Е. Яковлевой. М., (Triết học hỏi và đáp. Chủ biên: А. П. Алексеева, Л. Е. Яковлевой) 7). Губанов, Н. И. (2008), Является ли философия наукой?, (Triết học có phải là khoa học) “Философия и общество” №1 (49) https://www.socionauki.ru/journal/articles/130024/.

      K. Marx, F. Engels (1995), Toàn tập, t. 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. tr. 156.

      K. Marx, F. Engels (1995), Toàn tập, t.2. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. tr. 200.

      K. Marx, F. Engels (1995), Toàn tập, tập 1, Sđd. tr. 156.

     Vào thế kỷ VII – V TrCN, giáo dục và nhà trường đã hoạt động khá chuyên nghiệp. Tầng lớp quý tộc, tăng lữ, điền chủ, nhà buôn, binh lính… đã chú ý đến việc học hành. Tri thức toán học, địa lý, thiên văn, cơ học, pháp luật, y học… đã được giảng dạy. Xem: Michael Lahanas. Education in Ancient Greece. http://www.hellenicaworld.com/Greece/Ancient/en/AncientGreeceEducation.html

     V.I. Lênin (1980), Toàn tập, t. 18, Sđd. tr. 417.

     V.I. Lênin (1980), Toàn tập, t. 23, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva. tr. 53.

     V.I. Lênin (1980), Toàn tập, t. 23, Sđd. tr. 68.

     Xem: ИФ, РAH (2001). Новая философская энциклопедия (Bách khoa thư Triết học mới). c. 195.

     K. Marx, F. Engels (1994), Toàn tập, t. 20, Sđd. tr. 201.

    [21]  Xem: Manifesto for a Post-Materialist Science. http://opensciences.org/about/manifesto-for-a-post-materialist-science.

     

    Nguồn: Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 3 (447) 2022

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Quy Luật Thống Nhất Và Đấu Tranh Của Các Mặt Đối Lập
  • Quan Điểm Của V.i Lê
  • Lý Luận Của Triết Học Mác
  • Chân Lý Là Gì? Các Đặc Tính Cơ Bản Và Tiêu Chuẩn Của Chân Lý?
  • Tổng Quan Về Tri Thức – Phần Ii
  • Học Triết Học Ra Trường Làm Gì? Thách Thức Đi Kèm Cơ Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước
  • Khái Niệm Nhà Nước Pháp Quyền Từ Góc Nhìn Triết Học
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển
  • Những Quan Niệm Khác Nhau Trong Lịch Sử Triết Học Về Bản Chất, Con Đường Nhận Thức Và Tiêu Chuẩn Của Chân Lý
  • Quy Luật Là Gì? Định Nghĩa Và Phân Loại Quy Luật Theo Triết Học Mác
  • Việc làm Báo chí – Truyền hình

    1. Học triết học – ngành học đầy thách thức!

    1.1. Học triết học và những điều cơ bản nên biết!

    Nếu ai đã từng tiếp xúc qua với triết học hoặc không có niềm đam mê với triết học thì nhiều người nhận định rằng đây là ngành học giành cho những kẻ mọt sách, hoặc những người có suy nghĩ hơi lập dị, thích nghiên cứu và thậm tệ hơn có những bạn trẻ nói đến ngành học này thường chỉ những kẻ có vấn đề về thần kinh mới học ngành này,… Hơn nữa, triết học là ngành học sẽ chẳng trang bị kiến thức và kỹ năng nào giống như ngành kế toán, lập trình viên hay kỹ sư xây dựng hay các ngành về bác sĩ, giáo viên,..

    Với ngành học triết học thì ngành học này sẽ dạy cho bạn những kỹ năng và giá trị sống vô cùng ý nghĩa, có ích và giúp bạn áp dụng cả vào trong thực tế đời sống cá nhân hoặc các các kỹ năng, kiến thức về chuyên môn. Các kiến thức, kỹ năng mà ngành triết học sẽ cung cấp cho bạn đó có thể là các kỹ năng như: kỹ năng phân tích và phán đoán, kỹ năng giao tiếp hiệu quả, khả năng bao quát tất cả các khái cạnh grong một cuộc tranh luận và xây dựng lại một vấn đề để nắm được mấu chốt đồng thời cung cấp cho bạn những kỹ năng về giao tiếp để phục vụ giao tiếp hiệu quả.

    Ngoài ra, sinh viên học ngành triết học có thể được trang bị các kiến thức, chuyên môn về việc trực tiếp đưa ra các giải pháp và cách thức giải quyết các vấn đề một cách chuyên nghiệp đồng thời giúp cho sinh viên sau khi học triết học ra trường có thể tìm ra các các phương pháp hiểu quả và linh hoạt xử lý và sắp xếp các thông tin một cách có tổ chức, xem xét làm thế nào để tìm ra được các giải pháp hợp lý với những kỹ năng vô cùng có giá trị. Thực chất, đây là một môn học khá thú vị giúp cho người học có nhiều kiến thức, kỹ năng vô cùng có giá trị áp dụng vào đường sống hàng ngày.

    Trong tiếng anh, triết học được gọi là cái tên Philosophy được tách ra từ hai ngữ nghĩa của từ “philo” và “sophia”.

    Trong tiếng anh “philo” có nghĩa là yêu còn “sophia” có nghĩa là trí tuệ hoặc có thể hiểu là chân lý, sự đúng đắn.

    Nói theo ngôn ngữ của triết học thì con người sau khi đi tìm chân lý (sophia) sẽ được dẫn đến các trường phái triết học khác nhau như duy tâm hay duy vật, duy lý, hiện sinh,…

    Bạn có thể hiểu đơn giản như sau: ví dụ tri thức luận là lĩnh vực giúp cho sinh viên sau khi học tri thức luận sẽ tự tìm ra câu trả lời cho câu hỏi tri thức luận là gì hay những gì đã cấu thành và tạo nên tri thức luận, liệu con người có thực sự có tri thức. Từ đó các triết gia sẽ tìm ra câu hỏi thực sự cho mọi vấn đề ở thế giới nhân sinh quan này,

    Triết học cũng mang một hàm nghĩa khác đó trí khôn và sự thật, chân lý trong từ triết chỉ và nhắc đến hàm nghĩa trí khôn, lý là chân lý.

    Thực sự, nếu như đã đủ hiểu biết và tìm hiểu sâu về triết học thì có thể thấy đây là ngành học vô cùng có ý nghĩa và những người thật sự có trí khôn, sự hiểu biết sâu rộng cùng với đó là niềm đam mê với việc tìm ra chân lý cuộc đời mưới có thể kiên trì theo đuổi ngành học này, đây là một ngành học vô cùng đáng trân trọng và đáng nể.

    1.2. Tại sao triết học là là môn học thách thức nhưng nhiều cơ hội

    Có rất nhiều người thắc mắc: “học triết học ra trường làm gì” cũng bởi biết được rằng triết học không phải là một ngành học như các ngành học khác, nó không cung cấp kỹ năng, kiến thức để làm nghề cụ thể như các công việc khác đã nói ở trên.

    Nhưng chúng tôi xin chia sẻ với bạn rằng tuy ngành triết học không dạy cho bạn một kiến thức, kỹ năng làm nghề cụ thể nào cả nhưng nếu bạn theo đuổi ngành triết học bạn sẽ được cung cấp các kiến thức, kỹ năng phụ vụ cho mọi ngành nghề, bởi triết học cung cấp cho bạn tư duy đúng đắn từ suy nghĩ cho tới hành động chứ không dạy bạn phải suy nghĩ một vấn đề gì đó.

    Nếu học triết học là một môn hoc thách thức mọi khả năng trí tuệ, sự linh hoạt và cả thách thức việc bạn có đủ mạnh mẽ lựa chọn và theo đuổi ngành này hay không. Nếu như bạn tự tin và mong muốn đồng thời có niềm đam mê với triết học chúng tôi xin khuyên nhủ bạn hãy theo đuổi công việc này đến cùng.

    Sau khi bạn theo đuổi với ngành học triết học bạn sẽ có cho mình những suy nghĩ và tư duy cực kỳ trưởng thành, chin chắn giúp bạn linh hoạt trong việc xử lý và phân tích các thông tin đồng thời cho bạn khả năng lập luận thuyết phục một cách hiệu quả và trình bày một cách logic.

    Và bạn biết không những kỹ năng, kiến thức mà triết học mang tới cho bạn là là những kỹ năng mà nhà tuyển dụng mong muốn tìm kiếm ở các ứng viên hiện nay đặc biệt là trong xu hướng thị trường ngày càng phát triển, các nhà tuyển dụng đều mong muốn có được cho mình một đội ngũ nhân viên dồi dào tri thức, tư duy và sự hiểu biết sâu rộng, linh hoạt trong việc giải quyết mọi tình huống và là những nhân lực cực kỳ tài giỏi. Và các nhà tuyển dụng chỉ có thể tìm ứng viên như vậy nhanh nhất từ những người học triết học mà thôi!

    Vì vậy để trả lời cho câu hỏi: “học triết học ra làm gì?” thật không còn khó để trả lời nữa đúng không nào?

    2. Học triết học ra trường làm gì và có quá khó để xin việc

    Sau khi học triết học ra trường thường sẽ không khó để có thể tìm được việc.

    Sinh viên sau khi học triết học có thể làm các công việc trong ngành xuất bản hoặc trong ngành báo chí. Bởi với việc tốt nghiệp chuyên ngành triết sau khi ra trường, sinh viên có thừa khả năng để ứng tuyển vào các ngành trong ĩnh vực truyền thông hay xuất bản hoặc báo chí.

    Đặc biệt trong thời đại công nghệ số 4.0 như hiện nay mở ra rất nhiều cơ hội việc làm cho ngành báo chí và xuất bản khi có nhiều công cụ hỗ trợ hơn cho các lĩnh vực này. Bạn có thể trở thành thành viên của nhà xuất bản kỹ thuật số trực tuyến hoặc trên các thiết bị điển tự như: e-book,.. Hoặc ngoài ra sinh viên sau khi học triết học ra trường có thể trở thành nhà biên tập, hoặc làm ở các tạp trí, ấn phẩm truyền thông, làm bên mảng marketing hoặc bán hàng. Có vô vàn các công việc trong lĩnh vực báo chí và xuất bản mở ra nhiều cơ hội tìm kiếm viec lam daklak cho sinh viên học triết học ra trường mà không còn phải băn khoăn xem học triết học ra trường làm gì nữa!

    Cụ thể hơn nếu sinh viên học triết học ra trường làm trong lĩnh vực báo chí có thể nhanh chóng, dễ dàng xử lý và đảm nhận trách nhiệm trong việc nghiên cứu hoặc viết bài hay có đủ kỹ năng cần thiết để biên tập văn bản và trình bày, diễn thuyết trước đám đông, Cùng với đó với những gì đã được trang bị sau khi học triết học và ra trường sinh viên dễ dàng tiếp cận với các hình thức truyền thông khác nhau đặc biệt trong thời đại số 4.0 như hiện nay, sinh viên dễ dàng tiếp cận các hình thức truyền thông đa phương tiện một cách dễ dàng cùng với đó học triết học ra trường sinh viên cũng có thể làm viên trong các đài phát thành truyền hình.

    Thay vì làm việc trong lĩnh vực báo chí hoặc xuất bản, sinh viên sau khi học triết học ra trường cũng có thể làm việc trong các lĩnh vực cộng đồng.

    Thực sự, nếu chịu khó tìm hiểu bạn có thể tìm được vô vàn công việc sau khi tốt nghiệp chuyên ngành triết học và không còn phải băn khoăn, lo lắng và đặt ra câu hỏi:” học triết học ra trường làm gì?”

    Ngoài ra, sau khi học triết học ra trường bạn có thể nhanh chóng tìm kiếm các công việc trên thông qua các bản tin viec lam Dong Nai moi nhat và các tỉnh thành khác tại trang chúng tôi Đây là một trang tìm việc vô cùng uy tín và chất lượng có thể giúp các ứng viên tìm kiếm các công việc ở mọi ngành nghề, tỉnh thành. Rất nhiều sinh viên sau khi học triết học ra trường đã nhanh chóng tìm kiếm được việc làm với mức lương cao thông qua chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 1: Triết Học Là Gì? Các Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Hiểu Theo Nghĩa Biện Chứng Duy Vật: Mâu Thuẫn Là Gì? Với Nghĩa Như Vậy, Mâu Thuẫn Đóng Vai Trò Gì Đối Với Quá Trình Vận Động, Phát Triển? Tại Sao? Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Việc Nghiên Cứu Vai Trò
  • Giá Trị Của Triết Học Trong Quan Niệm Của B.rátxen Và M.mítgơlây
  • Đề Cương Triết Học Mác Lê Nin
  • Báo Hiếu Cha Mẹ Theo Phật Dạy