Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Quang Hợp Là Gì? Ứng Dụng Của Quang Hợp Trong Đời Sống
  • Nghị Luận Xã Hội Về Cơ Hội Trong Cuộc Sống
  • Nghị Luận Hãy Nắm Bắt Cơ Hội Để Thành Công
  • Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Vai Trò Của Gia Đình Và Văn Hóa Gia Đình
  • 1.Triếthọclà gì?

    Triếthọcra đời gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN) tại một số trung tâm văn minhcổđại như Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp.

    Theo người Ấn Độ,triếthọcđọc là darshana, có nghĩa là sự chiêm ngưỡng, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. Còn ở Trung Quốc, thuật ngữtriếthọccó gốc ngôn ngữ là chữ “triết“. Đó không phải là sự miêu tả, mà là quá trình tranh luận để tìm bản chất của đối tượng.

    Ở phương Tây, thuật ngữ “Triếthọc” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Philôsôphia”, nghĩa là “yêu mến sự thông thái”.Triếthọcđược xem là hình thái cao nhất của tri thức, có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật.

    Khái quát lại,triếthọclà một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    b.Với quan niệm đó,triếthọccổđại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà được xem là “khoahọccủa mọi khoahọc“.

    2. Vấn đề cơ bản củatriếthọc. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    2.1. Vấn đề cơ bản củatriếthọc2.2. Các trường pháitriếthọc

    2.2.1. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản củatriếthọcgắn liền với việc phân chia cáchọcthuyếttriếthọcthành hai trường pháitriếthọccơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

    a. Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con ng¬ười; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất.

    Chủ nghĩa duy vật đã xuất hiện ngay từ thờicổđại và cho đến nay, lịch sử phát triển của nó luôn gắn liền với sự phát triển của khoahọcvà thực tiễn, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.

    + Chủ nghĩa duy vậtcổđại mang tính chất phác, ngây thơ, xuất phát từ giới tự nhiên để giải thích thế giới. Hạn chế của nó là còn mang tính trựcquan, trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể. Ví dụ như quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit…

    + Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII: Do ảnh hưởng của Cơhọccổđiểnnên chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc – phương pháp nhìn nhận thế giới trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại. Tuy không phản ánh đúng hiện thực, nhưng CNDV siêu hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo. Ví dụ như quan niệm của Niutơn, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được V.I. Lênin tiếp tục phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của cáchọcthuyếttriếthọctrước đó và vận dụng các thành tựu của khoahọcđương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó, thể hiện là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Nó không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy.

    b. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức.

    Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thờicổđại với hai hình thức chủ yếu là:

    + Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con ng¬ời, khẳng định mọi sự vật, hiện t¬ợng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể. Ví dụquan niệm của Beccơly.

    + Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó thường được mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới.Ví dụquan niệm của Platon, Hêghen.

    Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoahọc. Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất.

    Trong lịch sửtriếthọcluôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duytriếthọc. Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội.

    c. Bên cạnh các nhàtriếthọcnhất nguyên luận(duy vật hoặc duy tâm) giải thích thế giới từ một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có các nhàtriếthọcnhị nguyên luận. Họ xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất và tinh thần để giải thích mọi hiện tượng của thế giới. Theo họ, thế giới vật chất sinh ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinh thần. Họ muốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, nh¬ng cuối cùng họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự nó, không phụ thuộc vào vật chất.

    2.2.2. Thuyết không thể biết

    Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản củatriếthọc, đại đa số các nhàtriếthọc( cả duy vật và duy tâm) đều thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, nhưng với những cách lý giải trái ngược nhau. Chủ nghĩa duy vật xuất phát từ chỗ coi vật chất có trước, ý thức có sau và là sự phản ánh thế giới vật chất đã thừa nhận con người có thể nhận thức đươc thế giới khách quan và các quy luật của nó. Còn chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước và quyết định vật chất nên nhận thức không phải là sự phản ánh thế giới, mà chỉ là sự tự nhận thức, tự ý thức về bản thân ý thức. Họ phủ nhận thế giới khách quan là nguồn gốc của nhận thức.

    Họcthuyếttriếthọcphủ nhận khả năng nhận thức của con người được gọi là thuyết không thể biết. Họ cho rằng, con người không thể hiểu được đối tượng hoặc nếu có hiểu thì chỉ là hình thức bên ngoài; bởi vì tính xác thực của các hình ảnh về đối tượng mà các giác quan của con người cung cấp trong quá trình nhận thức không đảm bảo tính chân thực. Tiêu biểu là quan niệm của Beccơly, Hium.

    Ngay từ thờicổđại đã nảy sinh vấn đề quan hệ giữa linh hồn con ng¬ời với thế giới bên ngoài.Triếthọcra đời cũng giải quyết vấn đề đó, nh¬ng ở tầm khái quát cao hơn là mốiquan hệ giữa tw duy và tồn tại. Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọitriếthọc, đặc biệt làtriếthọchiện đại, là vấn đề quan hệ giữa t¬ duy với tồn tại”( C. Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, t.21, tr.403); bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất phát điểm để giải quyết các vấn đề khác củatriếthọc. Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác định lập tr¬ờng thế giớiquan của cáctriếtgia và cáchọcthuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản củatriếthọccó hai mặt:

    Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan hay không? Nghĩa là con người có khả năng nhận thức hay không?

    Việc trả lời hai câu hỏi trên đã dẫn đến sự hình thành các trường phái và cáchọcthuyếttriếthọckhác nhau.

    Từ thế kỷ XV – XVI đến thế kỷ XVIII, các bộ môn khoahọcchuyên ngành, nhất là khoahọcthực nghiệm phát triển mạnh mẽ, dần dần tách ra khỏitriếthọc, từng bước làm phá sản tham vọng muốn đóng vai trò “khoahọccủa mọi khoahọc” của một sốhọcthuyếttriếthọclúc bấy giờ, đặc biệt làtriếthọcHêghen.

    Đầu thế kỷ XIX,triếthọcMác ra đời đã đoạn tuyệt hoàn toàn với quan niệm trên và xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trư¬ờng duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Quan niệm macxit cho rằng:”Triếthọclà một trong những hình thái ý thức xã hội, làhọcthuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con ng¬ời đối với thế giới; là khoahọcvề những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và t¬ư duy”.

    Khác với các khoahọccụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới,triếthọcxem xét thế giới như một chỉnh thể và đem lại một hệ thống cácquan niệm về chỉnh thể đó.Triếthọclà sựdiễn tảthế giới quan bằng lý luận. Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thốngtriếthọc, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy nói riêng với thế giới.

    Như vậy, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, khái quát nhất,triếthọckhông thể ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người.Triếthọcchỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau:

    Thứ nhất, lao động đã phát triển đến mức có sự phân chia lao động xã hội thành lao động trí óc và lao động chân tay, tạo điều kiện và khả năng nghiên cứu, hệ thống hóa cácquan điểm, quan niệm rời rạc lại thànhhọcthuyết, thành lý luận và trên cơ sở đótriếthọcđã ra đời. Đó là khi chế độ Công xã nguyên thuỷ đã bị thay thế bằng chế độ Chiếm hữu nô lệ – chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khimớira đời,triếthọctự nó đã mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp xã hội nhất định.

    Thứ hai, con người đã có sự phát triển cả về thể lực và trí lực, có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa để có thể rút ra được cái chung từ vô số các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, xây dựng nên cáchọcthuyết, lý luận.

    Điều đó khẳng định rằng, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,triếthọcđã ra đời từ thực tiễn và do nhu cầu của thực tiễn quy định.

    1.2.Triếthọclà hạt nhân lý luận của thế giới quan

    Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con ngư¬ời về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó.

    Đặc tính của tư duy con người là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ; song tri thức mà con người đạt được luôn luôn là có hạn. Quá trình tìm hiểu về quan hệ giữa con người với thế giới đã hình thành nên những quan niệm nhất định, trong đó có sự hoà quyện thống nhất giữa cảm xúc và trí tuệ, tri thức và niềm tin. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giớiquan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hướng cho hoạt động của con người.

    Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quantriếthọcdựa vào tri thức, là sự diễn tả quan niệm của con nưười dưới dạng hệ thống các quy luật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới. Với ý nghĩa đó,triếthọcđược xem là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó.

    3. Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Một vấn đề rất quan trọng màtriếthọcphải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh ta tồn tại như thế nào?

    Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, nhưng suy đến cùng đều quy về hai quan điểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình.

    3.1. Phương pháp siêu hình

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời đối tượng khỏi các chỉnh thể khác; giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối.

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật.

    Như vậy, phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại với một tư duy cứng nhắc, “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh.. mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng”.(Sđd, t.20, tr.37).

    3.2. Phương pháp biện chứng

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái liên hệ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và ràng buộc lẫn nhau.

    – Nhận thức đối tượng trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển; đó là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn bên trong của chúng.

    Như vậy, phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt, “không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh..mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng”.

    Phương pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và được thể hiện qua ba hình thức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật.

    – Trong phép biện chứng tự phát thờicổđại, các nhà biện chứng cả phương Đông và phương Tây đã thấy các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợi dây liên hệ vô cùng tận. Nhưng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoahọc.

    – Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao làtriếthọccổđiểnĐức(người khởi xướng là Cantơ và người hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử tư duy nhân loại, các nhàtriếthọcĐứcđã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng. Nhưng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối.

    – Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách làhọcthuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển d¬ới hình thức hoàn bị nhất.

    4. Vai trò củatriếthọctrong đời sống xã hội

    Vai trò củatriếthọctrong đời sống xã hội được thể hiện qua chức năng củatriếthọcnhư chức năng nhận thức, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục, nhưng quan trọng nhất là chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận.

    Trong cuộc sống của con người và xã hội loài người, thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Bằng một hệ thống quan niệm về thế giới, con người tìm cách khám phá những bí mật của giới tự nhiên. Có thể ví thế giới quan như một thấu kính, qua đó con người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh và tự xem xét chính mình. Từ đó, xác định thái độ, cách thức hoạt động, sinh sống của chính mình. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực.

    Triếthọcra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoahọcđem lại. Đó là chức năng thế giới quan củatriếthọc.

    Sự phát triển của thực tiễn và khoahọcđã dẫn đến sự ra đời của một lĩnh vực đặc thù của khoahọclý thuyết vàtriếthọc– Đó là phương pháp luận. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống những quan điểm chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    Xét theo phạm vi tác dụng, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ:

    + Phương pháp luận ngành (hay phương pháp luận bộ môn) là phương pháp luận của một ngành khoahọccụ thể nào đó.

    + Phương pháp luận chung là phương pháp luận được sử dụng cho một số ngành khoahọc.

    + Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận được dùng làm điểm xuất phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người.

    Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy,triếthọcthực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Mỗi quan điểm lý luận củatriếthọcđồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là một lý luận về phương pháp.

    Phiêu Diêu @ 16:35 01/12/2010

    Số lượt xem: 23066

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Quan Điểm Giới Trong Phân Chia Lao Động Gia Đình Ở Việt Nam
  • Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Đoạn Văn Nghị Luận Về Vai Trò Của Gia Đình Đối Với Chúng Ta
  • Bài Văn Mẫu Bàn Về Vai Trò Của Gia Đình Trong Đời Sống Mỗi Con Người
  • Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Quang Hợp Là Gì? Ứng Dụng Của Quang Hợp Trong Đời Sống
  • Nghị Luận Xã Hội Về Cơ Hội Trong Cuộc Sống
  • Nghị Luận Hãy Nắm Bắt Cơ Hội Để Thành Công
  • Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Kinh Tế
  • IV. VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

    1. Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của Triết học

    a. Thế giới quan

    • Thế giới quan là toàn bộ các quan điểm, quan niệm về thế giới và về vai trò của con người trong thế giới. Thế giới quan giúp con người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như tự xem xét chính mình và từ đó con người xác định thái độ và cách thức hoạt động sinh sống của mình. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan đúng đắn. Cho nên trình độ phát triển của thế giới quan là một tiêu chí quan trọng nói lên sự trưởng thành của cá nhân cũng như của một cộng đồng xã hội nhất định. Thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn giúp con người định hướng đúng đắn mọi hoạt động của mình.
    • Triết học có vai trò là hạt nhân của thế giới quan nghĩa là Triết học làm cho thế giới quan phát triển ngày càng mang tính tự giác trên cơ sở của một quan điểm nhất định. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của các thế giới quan đối lập nhau. Cho nên cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong Triết học biểu hiện sự đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau. Lịch sử chứng minh rằng chủ nghĩa duy vật là thế giới quan của giai cấp và tầng lớp tiến bộ trong xã hội, góp phần đấu tranh chống áp bức và tôn giáo. Ngược lại chủ nghĩa duy tâm thường được các giai cấp thống trị sử dụng để biện hộ cho đường lối thống trị của mình.

    b. Phương pháp luận

    • Phương pháp luận: là hệ thống những nguyên tắc, những cách thức chung nhất giúp con người xác lập các phương pháp cụ thể trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn.
    • Triết học có vai trò phương pháp luận nghĩa là một học thuyết triết học khi lý giải về các sự vật hiện tượng theo một quan điểm nhất định thì cũng có nghĩa là đồng thời đã xem xét sự vật hiện tượng bằng một phương pháp chung nhất.

    Trong lịch sử có hai phương pháp luận đối lập là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình. Phương pháp biện chứng đem lại cho con người những nguyên tắc đúng đắn trong nhận thức và hành động.

    2. Vai trò của triết học Mác-Lênin

    Triết học Mác Lênin là thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho nhận thức và hành động

    • Triết học Mác Lênin vừa có chức năng thế giới quan vừa có chức năng phương pháp luận bởi vì mỗi quan điểm của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp. Hệ thống các quan điểm triết học Mác Lênin đem lại cho con người hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận như nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử – cụ thể, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc thực tiễn… Triết học Mác Lênin là thế giới quan và phương pháp luận khoa học bởi vì thực chất của nó là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng. Đặc điểm này làm cho chủ nghĩa duy vật mang tính triệt để và phương pháp biện chứng trở thành lý luận khoa học. Nhờ đó triết học Mác Lênin phản ánh đúng đắn về thế giới, nó trở thành “công cụ nhận thức vĩ đại” cho con người.
    • Nắm vững triết học Mác- Lênin giúp chúng ta tự giác trong quá trình trau dồi các quan điểm, các phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực tư duy sáng tạo của mình, phòng tránh những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm và của phương pháp tư duy siêu hình. Tuy nhiên không có nghĩa là chỉ nắm vững lý luận Mác – Lênin là sẽ giải quyết được các vấn đề của cuộc sống đặt ra. Muốn tránh được chủ nghĩa giáo điều, con người cần phải có nhiều tri thức của các khoa học cụ thể và các tri thức từ chính hoạt động thực tiễn đem lại để con người có thể vận dụng một cách đúng đắn thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
    • Đối với các khoa học khác, Triết học Mác Lênin đem lại thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn cho sự phát triển các khoa học. Nó định hướng cho các khoa học khác trong việc xác định cơ sở lý thuyết của bộ môn, giúp cho các khoa học khác khái quát những thành tựu của mình. Ngược lại các khoa học khác cung cấp tài liệu cho triết học. Do vậy cần phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức thế giới của con người

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Giáo trình Triết học Mác Lênin
    • Đại học An Giang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Điểm Giới Trong Phân Chia Lao Động Gia Đình Ở Việt Nam
  • Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Đoạn Văn Nghị Luận Về Vai Trò Của Gia Đình Đối Với Chúng Ta
  • Bài Văn Mẫu Bàn Về Vai Trò Của Gia Đình Trong Đời Sống Mỗi Con Người
  • Vai Trò Của Gia Đình Trong Giáo Dục Trẻ
  • Chương I Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Vui Về Các Môn Học
  • Giáo Án Triết Học Nhập Môn. Bài I: Khái Niệm Triết Học
  • Soạn Bài Từ Láy Lớp 7 Trang 41 Sgk
  • Soạn Bài : Từ Láy (Lớp 7)
  • Bài Tập Về Từ Ghép Và Từ Láy
  • *Thời kỳ hình thành tư tưởng Triết học với bước quá độ từ CNDT và DCCM sang CNDV và chủ nghĩa cộng sản (1841 – 1844)

    *Thời kì đề xuất những nguyên lí triết học DVBC và DVLS (1844 – 1848)

    *Thời kì C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển toàn diện lý luận triết học (1848 – 1895)

    b. Những thời kì chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của triết học Mác

    *Thời kỳ hình thành tư tưởng Triết học với bước quá độ từ CNDT và DCCM sang CNDV và chủ nghĩa cộng sản (1841 – 1844)

    Cơ sở hình thành tư tưởng Triết học thời kỳ này:

    Ảnh hưởng PBC của Hêghen và CNDV của Phoi ơ Bắc

    Tình hình kinh tế – xã hội ở nước Đức và đặc biệt là tình hình kinh tế – xã hội ở các nước tư bản Tây Âu khi Mác sang Pháp và Ăngghen sang Anh

    Thực tiễn hoạt động của Mác khi làm bên tập báo sông Ranh

    Các tác phẩm chủ yếu trong giai đoạn này:

    “Bàn về vấn đề Do Thái”

    “Góp Phần phê phán triết học pháp quyền của Heghen” lời nói đầu (1843)

    *Thời kì đề xuất những nguyên lí triết học DVBC và DVLS (1844 – 1848)

    Cơ sở hình thành tư tưởng Triết học của Mác và Ăngghen thời kỳ này:

    Tình hình kinh tế – xã hội các nước Tây Âu thời kì này

    Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản các nước Tây Âu

    Hoạt động của Mác và Ăngghen trong phong trào công nhân

    Thực chất tư tưởng của Mác và Ăngghen trong giai đoạn này: hai ông đề xuất các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử.

    Các tác phẩm tiêu biểu:

    “Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844”

    “Gia đình thần thánh” (1845)

    “Hệ tư tưởng Đức” (1845)

    “Luận cương về Phoi ơ Bắc” (1845)

    “Sự khốn cùng của triết học” (1847)

    “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” (1848)

    *Thời kì C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển toàn diện lý luận triết học (1848 – 1895)

    Cơ sở hình thành phát triển tư tưởng thời kỳ này:

    Mác và Ăngghen đưa lý luận vào lãnh đạo và tổng kết kinh nghiệm cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản

    Thực chất giai đoạn này: hai ông tiếp tục bổ sung và phát triển nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

    Các tác phẩm: “đấu tranh giai cấp ở Pháp”, “tư sản”, “chống Đuy – sinh”,….

    c. Thực chất và ý nghĩa của cách mạng trong triết học do mác và Ăngghen thực hiện

    Khắc phục tính chất trực quan, siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ và khắc phục tính chất duy tâm thần bí của phép biện chứng duy tâm, sáng tạo ra một chủ nghĩa duy vật biện chứng

    Vận dụng và mở rộng quan điểm duy vật biện chứng vào nghiên cứu lịch sử xã hội, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử – nội dung chủ yếu của bước ngoặt cách mạng trong triết học

    Bổ sung vào những đặc tính mới trong triết học, sáng tạo ra một triết học chính khoa học – triết học duy vật biện chứng

    d. Giai đoạn Lênin trong sự phát triển Triết học Mác

    Hoàn cảnh lịch sử V.I Lênin phát triển triết học Mác

    Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển một giai đoạn mới là giai đoạn Chủ nghĩa đế quốc.

    Một số nhà khoa học tự nhiên, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý học, do bấp bênh về phương pháp triết học duy vật nên rơi vào tình trạng khủng hoảng về thế giới quan

    Đây cũng là thời kỳ chủ nghĩa Mác được truyền bá rộng rãi vào nước Nga. Để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản một số trào lưu đã phủ nhận chủ nghĩa Mác.

    V.I Lênin trở thành người kế tục trung thành và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác và triết học Mác trong thời đại mới

    Đây là giai đoạn CNTB chuyển sang giai đoạn ĐQCN, giai đoạn Khoa học Tự nhiên có những phát minh mang tính thời đại, giai đoạn cách mạng tháng 10 Nga thành công và đi vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội

    Lênin đã bảo vệ và phát triển các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhất là lý luận về cách mạng vô sản và xây dựng Chủ nghĩa xã hội

    Các tác phẩm chủ yếu: “Bút ký triết học”, “nhà nước và cách mạng”,…

    Đối với những cống hiến to lớn ở cả ba bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác, tên tuổi của Lenin đã gắn liền với chủ nghĩa này. Đánh dấu bước phát triển toàn diện của chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác-Lênin

    2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác – Lênin

    Khái niệm triết học Mác – Lênin

    Triết học Mác – Lênin là hệ thống quan điểm DVBC về tự nhiên, xã hội và tư duy – thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới.

    2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác – Lênin

    Đối tượng nghiên cứu của triết học Mác – Lênin

    Đối tượng nghiên cứu là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường suy nghĩ biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động phát triển chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy

    2. Đối tượng và chức năng của triết học Mác – Lênin

    Chức năng của triết học Mác – Lênin

    Chức năng thế giới quan;

    Chức năng phương pháp luận.

    3. Vai trò của tiết học Mác – lê nin trong đời sống xã hội và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

    Triết học MLN là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách cạng cho con người:

    + Trong nhận thức và thực tiễn

    + Để phân tích xu hướng phát triển của xã hội, trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ.

    – Là cơ sở lí luận khoa học của công cuộc xây dựng CNXH trên thế giới và sự nghiệp đổi mới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Âm Dương Ngũ Hành (Phần 2)
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển: Tính Chất, Ý Nghĩa Và Vận Dụng Thực Tiễn
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng, Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Đại Cương Lịch Sử Triết Học Lichsutriethoc Ppt
  • ? Khái Niệm Về Nhân Cách Trong Tâm Lý Học, Trong Triết Học, Trong Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Xuất Khẩu Tư Bản
  • Xuất Khẩu Tư Bản Là Gì
  • Tiểu Luận Khái Niệm Xuất Khẩu Tư Bản
  • Xung Đột Pháp Luật Là Hiện Tượng Đặc Thù Của Tư Pháp Quốc Tế
  • Thế Nào Là Xung Đột Pháp Luật?
  • Khái niệm về tính cách tìm thấy định nghĩa của nó trong nhiều lĩnh vực của đời sống và khoa học, thậm chí mỗi người đàn ông không có kiến ​​thức học thuật, có thể xây dựng chỉ định riêng của họ về khái niệm này. Nhưng tất cả như nhau, để sử dụng bất kỳ thuật ngữ một cách khôn ngoan, bạn cần phải hiểu ý nghĩa của nó. Định nghĩa khoa học trông như thế này: một cá tính là một bản đồ của bản chất mạnh mẽ của một người, vai trò xã hội và cá nhân của nó, một hệ thống ổn định của một số đặc điểm của một người, được thể hiện chủ yếu trong lĩnh vực xã hội của cuộc sống. Để đưa bài diễn văn nổi tiếng, người ta có thể xây dựng một định nghĩa như thế này: một người – một người có một tập hợp các phẩm chất mạnh mẽ và khả năng chịu được khả năng sử dụng chúng để đạt được mục tiêu, tự tin, có khả năng sử dụng các kinh nghiệm, có khả năng kiểm soát cuộc sống và chịu trách nhiệm cho hành động của họ đối với công chúng và luôn luôn hành động của mình tương ứng với lời nói của ông.

    Thường thì bạn có thể nghe thấy rằng trong một bối cảnh, sử dụng các khái niệm về cá tính bản sắc cá nhân, như nhiều người coi họ là giống hệt nhau. Trong thực tế nó không phải là, và bạn cần phải hiểu, sự khác biệt là gì.

    Cá nhân là đại diện của loài người, một đơn vị nhân loại. Nghĩa là, một người chưa trưởng thành và không có đầu đến xã hội và thử trên bất kỳ vai trò xã hội và mặt nạ.

    Khái niệm về cá nhân và cá tính, khác với mức độ mà một cá nhân không bao giờ có thể trở thành một người.

    Cá tính – một hệ thống độc đáo của đặc điểm tính cách tâm lý người (tính khí, phong cách giao tiếp, các đặc điểm nhân vật hàng đầu, khả năng, đặc trưng của quá trình thần kinh), xác định nó như là một người độc đáo với phong cách độc đáo của hành vi. Đó là, những phẩm chất phân biệt một người với người khác.

    Khái niệm về tính cách và cá tính một chút chặt chẽ, bởi vì cả hai đại diện cho những phẩm chất của hệ thống, nhưng chỉ trong con người những phẩm chất này có khả năng kháng nhiều hơn và nói chuyện không quá nhiều về tính độc đáo của nó, như bản chất của cuộc kháng chiến.

    Khái niệm về cá tính cá nhân có ý nghĩa khác nhau, nhưng, trên thực tế, tất cả chúng đều cấu thành nên cấu trúc của một người.

    Trong tất cả mọi người, sự hình thành nhân cách xảy ra ở các nhóm tuổi khác nhau. Một số người trong 45 tuổi không thể chịu trách nhiệm cho hành động của họ, hành động có ý thức và độc lập, đặc biệt là khi họ có một người nào đó trên được bảo vệ. Họ sợ rời khỏi khu vực thoải mái của họ. Nó không phải là cần thiết để hy vọng cho một người như vậy trong một vấn đề nghiêm trọng. Từ họ bạn thường có thể nghe thấy “có, tôi sẽ làm điều đó, ngay cả hôm nay tôi sẽ bắt đầu.” Nhưng, không phải ngày mai hay thậm chí trong một tháng, họ sẽ không làm những gì họ hứa. Rất thường những người này là lười biếng, hèn nhát, họ có thể là một lòng tự trọng thấp và lòng tự trọng cao.

    Nó xảy ra rằng một người trở thành một người, chưa rời khỏi thời thơ ấu. Về cơ bản trong thời gian sớm cá tính là trẻ em bị tước đoạt chăm sóc, được phải tự lo cho bản thân và họ có để tồn tại, nhưng nó cần phải có một cá tính mạnh mẽ và một ý chí sắt đá.

    Ở đây, khái niệm về tính cách và cá tính được vượt qua, bởi vì mọi người, có tính độc đáo nhân vật rất khác biệt,có được trong quá trình của vấn đề thời thơ ấu không hạnh phúc – nhanh chóng trở thành một người, sau đó sửa những đặc điểm này. Nó cũng xảy ra khi có nhiều trẻ em trong gia đình, sau đó đứa trẻ lớn tuổi nhất cũng sẽ có phẩm chất mạnh mẽ, bền bỉ của nhân vật.

    Khái niệm về tính cách trong tâm lý học

    Trong tâm lý học, nhân cách được xem như là phẩm chất của cá nhân, mà nó có được trong hoạt động mục tiêu của nó và mô tả các khía cạnh xã hội của cuộc sống của nó.

    Cá nhân, như một người, tự do thể hiện thái độ của mình với toàn bộ thế giới bên ngoài, và do đó tính năng đặc trưng của anh ta được xác định. Quan trọng nhất trong tất cả các mối quan hệ của con người là mối quan hệ, đó là, cách con người xây dựng mối quan hệ với những người khác.

    Khái niệm về cá tính trong xã hội học

    Khái niệm về tính cách trong xã hội học có thể được tóm tắt trong một số loại.Đầu tiên là một địa vị xã hội, đó là, một người chiếm một vị trí trong xã hội, và trong mối liên kết này, một số nghĩa vụ và quyền hạn nhất định. Có một số trạng thái như vậy cho một người. Nó phụ thuộc vào việc anh ta có một gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, công việc, thông qua đó một người xã hội hóa. Vì vậy, ví dụ, một người có thể là một đứa con trai, một người chồng, một người cha, một người anh em, một đồng nghiệp, một nhân viên, một thành viên trong nhóm, và như vậy.

    Đôi khi rất nhiều trạng thái xã hội thể hiện hoạt động xã hội của một người. Ngoài ra, tất cả các trạng thái được chia sẻ, tùy thuộc vào ý nghĩa của chúng đối với từng cá nhân. Ví dụ, đối với một trong những điều quan trọng nhất là tình trạng của một nhân viên công ty, cho một người khác – tình trạng của một người chồng. Trong trường hợp đầu tiên, một người có thể không có một gia đình, vì vậy đối với anh ta là quan trọng nhất là công việc và anh ta tự xác định mình với vai trò của một người nghiện làm việc. Trong trường hợp khác, người nhận ra mình trước hết như một người chồng, những lĩnh vực khác của cuộc sống, anh ta bỏ qua một bên. Ngoài ra còn có các trạng thái chung, chúng mang tầm quan trọng xã hội lớn và xác định các hoạt động chính (chủ tịch, giám đốc, bác sĩ) và các trạng thái chung có thể không có mặt cùng với tổng quát.

    Khi một người ở trong tình trạng xã hội, theo đó, cô ấy thực hiện một số hành động nhất định, được quy định theo mô hình hành vi, đó là vai trò xã hội. Chủ tịch nên lãnh đạo đất nước, đầu bếp nên chuẩn bị món ăn, công chứng viên nên chứng nhận giấy tờ, các em nên nghe cha mẹ và vân vân. Khi một người bằng cách nào đó không đúng theo tất cả các quy tắc quy định, nó gây nguy hiểm cho tình trạng của nó. Nếu có quá nhiều vai trò xã hội trên một người, anh ta phơi bày mình với những xung đột về vai trò. Ví dụ, một người đàn ông trẻ tuổi, một người cha độc thân, làm việc muộn để nuôi sống bản thân và đứa trẻ rất sớm có thể đốt cháy cảm xúc từ sự bão hòa quá mức với những hành động được chỉ định bởi vai trò xã hội.

    Tính cách, như một hệ thống các đặc điểm tâm lý xã hội, có một cấu trúc độc đáo.

    Theo lý thuyết của nhà tâm lý học Z. Freud, các thành phần của cấu trúc nhân cách là ba thành phần. Cơ sở là trường hợp vô thức của Id (It), kết hợp các kích thích tự nhiên, bản năng và nguyện vọng hedonistic. Id được lấp đầy với năng lượng và sự phấn khích mạnh mẽ, do đó nó được tổ chức kém, vô trật tự và yếu ý chí.Mở Eid có cấu trúc sau – Ego (I), nó là hợp lý, và so với Eid được kiểm soát, nó là ý thức riêng của mình. xây dựng cao nhất mà một superego (superego), nó là chịu trách nhiệm về ý thức trách nhiệm, hành động, lương tâm, thực thi đạo đức kiểm soát hành vi.

    Nếu người đó hài hòa tương tác với cả ba của các cấu trúc, nghĩa là Eid không nằm ngoài sự cho phép, bản ngã được kiểm soát, mà hiểu rằng sự hài lòng của bản năng có thể hành động về mặt xã hội không được chấp nhận, và khi con người phát triển các siêu ngã, nhờ đó ông được hướng dẫn bởi các nguyên tắc đạo đức trong hành động của họ, thì một người như vậy xứng đáng được tôn trọng và công nhận trong con mắt của xã hội.

    Nhận thấy rằng đây là một khái niệm trong xã hội học tự nhiên và cấu trúc của nó, có thể kết luận rằng nó không thể được thực hiện, như vậy, nếu nó không được xã hội hóa.

    Khái niệm về tính cách trong xã hội học có thể được mô tả ngắn gọn như một tập hợp các đặc tính xã hội quan trọng của cá nhân đảm bảo mối liên hệ của anh với thế giới xung quanh.

    Khái niệm về nhân cách trong triết học

    Khái niệm về nhân cách trong triết học có thể được chỉ định là bản chất của nó trong thế giới, mục đích và ý nghĩa của cuộc sống. Triết học chú trọng đến khía cạnh tâm linh của con người, với đạo đức của mình, đối với nhân loại.

    Tính cách trong việc tìm hiểu triết lý của người đàn ông trở thành khi biết lý do tại sao anh bước vào cuộc đời này, những gì mục tiêu cuối cùng của mình và những gì ông dành cuộc đời mình. nhà triết học người đánh giá là một cá nhân, nếu anh có thể tự do ngôn luận, nếu có vẻ kiên định, và ông là tốt bụng, người sáng tạo những người trong hành động của họ được hướng dẫn bởi các nguyên tắc đạo đức và đạo đức.

    Khái niệm về nhân cách trong triết học có thể được mô tả ngắn gọn, trải qua các khoảng thời gian chính. Trong thời cổ đại, một người hiểu biết về các đặc biệt, trong đó thực hiện một số công việc cụ thể, một người được gọi là diễn viên mặt nạ. Như thể họ biết điều gì đó về sự tồn tại của cá nhân, nhưng khái niệm như vậy là không sử dụng, cho đến khi sau này trong kỷ nguyên Kitô hữu tiên khởi đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ này. Các nhà triết học thời trung cổ đã xác định cá nhân với Thiên Chúa. Triết lý châu Âu mới đã hạ cánh nhiệm kỳ này trước khi chỉ định một công dân. Triết lý của chủ nghĩa lãng mạn đã xem người đó như một anh hùng.

    Khái niệm về cá tính trong triết lý của âm thanh ngắn – một người có thể được thực hiện khi nó đã phát triển đầy đủ ý chí khoa, có thể vượt qua rào cản xã hội và chịu tất cả các bài kiểm tra của số phận, thậm chí đi xa hơn cuộc sống hữu hạn.

    Khái niệm về tội phạm trong tội phạm học

    Nếu trong tâm lý một người được nói như một đơn vị, đó là đặc điểm của một cá nhân, sau đó trong tội phạm, đây là một khái niệm trừu tượng mà không được đưa ra cho một tội phạm cụ thể, nhưng tạo ra hình ảnh chung của ông bao gồm các tài sản nhất định.

    Một người rơi vào đặc điểm của “danh tính của người phạm tội” từ thời điểm khi ông cam kết hành động xấu số của mình. Mặc dù một số người có khuynh hướng nghĩ rằng thậm chí sớm hơn, rất lâu trước khi bản thân tội phạm được cam kết, đó là, khi một ý tưởng được sinh ra trong con người, và ông bắt đầu chịu đựng nó. Thật khó nói khi một người không còn như vậy nữa. Nếu một người trở nên nhận thức tội lỗi của mình và chân thành hối hận về những gì ông đã làm, và chân thành hối tiếc thành tựu và không thể tránh khỏi của nó, nó dường như vượt ra ngoài khái niệm của một người phạm tội, nhưng thực tế vẫn là một thực tế và người đó sẽ bị trừng phạt. Anh cũng có thể hiểu rằng anh đã mắc sai lầm khi đang thụ án. Có lẽ không hiểu không bao giờ. Có những người sẽ không bao giờ từ bỏ thực tế rằng họ đã phạm một hành động xấu xa, ngay cả sau khi bị một hình phạt đau đớn, họ sẽ không ăn năn. Hoặc cũng có những người tái phạm, sau khi phục vụ một dòng, đi tự do, một lần nữa phạm tội và vì vậy phần còn lại của cuộc đời họ có thể đi qua lại ở đây.Nước tinh khiết này là một bản chất tội phạm, chúng giống nhau và nằm dưới sự mô tả chung về tội phạm.

    Cấu trúc nhân cách của người phạm tội là một hệ thống các đặc điểm quan trọng về mặt xã hội, các đặc tính tiêu cực, cùng với tình hình hiện tại vào thời điểm đó ảnh hưởng đến hoa hồng của hành vi sai trái. Cùng với các đặc tính tiêu cực, tội phạm cũng có những phẩm chất tích cực, nhưng chúng có thể biến dạng trong quá trình hoạt động cuộc sống.

    Khái niệm và cấu trúc của tính cách của thủ phạm nên rõ ràng với các nhà tội phạm để bảo vệ công dân trước tiên khỏi mối đe dọa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xúc Tiến Thương Mại Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Hoạt Động Xúc Tiến Thương Mại Là Gì? Đi Tìm Đáp Án Chính Xác
  • Khái Niệm Về Xúc Tiến Hỗn Hợp
  • Xúc Tiến Bán Hàng Là Gì? 5 Phương Tiện Xúc Tiến Bán Hàng Hiệu Quả!
  • Khái Niệm Xúc Tiến Truyền Thông Marketing Điện Tử
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Biểu hiện đầy đủ nhất, theo quan điểm của chúng tôi, mối liên hệ của xung đột với sự mâu thuẫn là trong công thức nổi tiếng của Hegel – Marx về thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Xung đột ở đây trực tiếp gắn với cuộc “đấu tranh” giữa các lực lượng và của những khuynh hướng phát triển đối lập nhau với mâu thuẫn giữa chúng. Nhưng những đối lập đây không phải là các lực lượng bên ngoài. Chúng thuộc về khối thống nhất, một chính thể nhất định dù đó là gia đình hay đội sản xuất trong cuộc xung đột của cá thể hay của các nhóm nhỏ, hay đó là xã hội (bộ lạc, bộ tộc, hay một dân tộc hiện đại, thông thường được tổ chức và tự đồng nhất thông qua nhà nước) trong cuộc xung đột của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các tập đoàn tộc người hay nhân khẩu học, của những người lao động của các ngành khác nhau của các nền kinh tế… Ở đây không chỉ nói về các mặt đối lập, mà cả về sự thống nhất về lợi ích, là cái tạo ra cơ sở khách quan để giải quyết xung đột.

    Tất nhiên, sự bất đồng của các lợi ích thường nghiêm trọng đến mức sự thống nhất “không chịu đựng nổi” sức ép và bị phá vỡ. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là sự thống nhất mất đi hoàn toàn. Thay thế các gia đình tan vỡ, những gia đình mới được thành lập từ những mảnh vỡ ấy. Sự sụp đổ của nhà nước diễn ra trong khuôn khổ của cộng đồng khu vực rộng lớn hơn và nó được hoàn tất bằng việc xây dựng các quốc gia mới từ những bộ phận hợp thành đó. Kết cục, khi đã chấm dứt một hình thái nhất định thì cuộc đấu tranh của các giai cấp có thể được kết thúc bằng sự diệt vong của các giai cấp (như khi La Mã sụp đổ), nhưng chính từ những con người, trong cuộc cải tổ các quan hệ kinh tế, các giai cấp mới dần dần được hình thành. Theo ý kiến của chúng tôi, việc hình thành các giai cấp mới đang diễn ra ở Nga. Sự hình thành này bắt đầu ngay từ lúc cuộc cải tạo “dân chủ” thành thời kỳ “cải tổ”, nhưng nó thật sự triển khai ngay sau khi Liên bang bị tan rã và đường lối tư bản hóa nhanh chóng đất nước bằng các phương pháp “liệu pháp sốc” được thông qua vào tháng giêng 1992. Xã hội với tư cách là một chỉnh thể vẫn được bảo toàn, và đồng thời một sự thống nhất nào đó về lợi ích vẫn còn, và đó là cơ sở bùng nổ các xung đột.

    Xung đột xã hội. Cho đến nay, chúng ta mới xem xét xung đột “nói chung”.. Xung đột có thể gọi là xung đột “về mặt xã hội” nếu như vẫn giữ được ý nghĩa cơ bản của thuật ngữ này, nó đồng nghĩa với thuật ngữ “xung đột của xã hội”. Trong trường hợp này bất kỳ cuộc xung đột nào giữa con người với nhau đều là xung đột xã hội. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, khái niệm “xã hội” ngay từ thế kỷ thứ XIX có nghĩa khác, hẹp hơn. Công nhân của Paris nổi dậy khởi nghĩa vào năm 1848 họ đã đề ra yêu cầu phải có một cuộc cách mạng xã hội, không chỉ dừng lại ở việc thiết lập sự bình đẳng chính trị, mà còn phải đảm bảo được sự công bằng xã hội, tuy sự công bằng đó được Proudon và Balanc giải thích theo các cách khác nhau. Marx và Engels đã dùng từ này theo nghĩa lúc ấy, “Tuyên ngôn cộng sản” đã xuất hiện ngay trước khi xảy ra cách mạng. Trong tác phẩm “Góp phần phê phán kinh tế học chính trị” (1859) Marx quan niệm cách mạng xã hội là cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc rễ chế độ kinh tế của xã hội, thành phần giai cấp của nó, đánh dấu sự quá độ từ một hình thái xã hội này sang một hình thái xã hội khác. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là dạng của cách mạng xã hội. Trong lời nhuận xét chủ chốt của Marx: “Phương thức sản xuất ra đời sống vật chất quyết định các quá trình xã hội, chính trị và tinh thần của đời sống nói chung” – cái xã hội rõ ràng được tách ra khỏi cái kinh tế, cái chính trị và cái tinh thần.

    Có rất nhiều cách lý giải giáo điều về mối liên hệ các kiểu quan hệ xã hội trên sách báo khoa học Xô viết. Việc phân tích các quan điểm khác nhau đã được trình bày trong một trong những công trình của chúng tôi, ở đây chúng tôi sẽ chỉ nêu lên thực chất. Các quan hệ xã hội theo Marx (và trong sách báo marxist sau này), – là các quan hệ giữa các tập đoàn người, trước hết giữa các giai cấp. Các quan hệ này không được đặt cùng hàng với các quan hệ kinh tế, chính trị, tinh thần, mà là một “lát cắt”, một “khía cạnh”, một “hợp phần” quan trọng nhất của chúng. Chính với nghĩa đó, khái niệm này, khi kết hợp với khái niệm “xung đột”, có nghĩa là xung đột giữa các tập đoàn xã hội các kiểu nói chung.

    Xung đột xã hội là đối tượng nghiên cứu xã hội học lý luận, nó thường được định nghĩa là “khoa học về các cộng đồng xã hội, về các cơ chế hình thành, vận hành và, phát triển chúng”. Các cộng đồng như vậy được hiểu trước hết là các tập đoàn xã hội lớn bên trong một cấu thể tộc người hay một cấu thể nhà nước dân tộc, cũng như chính các cấu thể đó. Vì thế, xung đột giữa các cá thể và các tập đoàn xã hội nhỏ nằm ngoài phạm vi đó, chúng thuộc trước hết về tâm lý học, và ở một mức độ nhất định, thuộc luật học, bởi vì chúng phá vỡ các chuẩn mực của lĩnh vực này.

    Tất nhiên, ở đây không có ranh giới tuyệt đối. Chúng ta hãy xét ba trường hợp có tính giáp ranh. Trường hợp thứ nhất rất rõ: Xung đột giữa các giai cấp biểu hiện qua sự đối lập giữa chủ xí nghiệp với người công nhân bị sa thải. Nếu như anh ta không vi phạm nội quy và thực hiện tốt các nhiệm vụ sản xuất, thì sự đối lập đó được chuyển thành quan hệ giữa nhà kinh doanh và nghiệp đoàn và do đó sự đối lập này có các nét xung đột giai cấp. Tương tự điều này, cuộc chiến đấu giữa hai người lính trên chiến trường là một phần của cuộc xung đột chung hơn giữa các quốc gia đang giao chiến với nhau… Theo quan điểm của chúng tôi, những chỉ dẫn phương pháp hệ mà các nhà tâm lý học đưa ra để phân tích những tình huống xung đột có tính chất giữa các cá nhân với nhau và những tìm tòi để giải quyết các cuộc xung đột này (kể cả mục đích nhằm để giảng dạy cho sinh viên) có giá trị không nhỏ, nhưng rõ ràng chúng chưa bắc được “chiếc cầu nối” từ xung đột giữa các cá thể hay trong một nhóm nhỏ sang xung đột xã hội thực sự.

    Tình huống thứ ba – cuộc xung đột ngay trong tâm hồn con người là dạng xung đột giữ vị trí trung tâm trong các học thuyết tôn giáo và trong nghệ thuật. Tính chất xã hội của nó được các phương hướng khác nhau trong tâm lý học nhấn mạnh. Chẳng hạn theo Freud, giữa các niềm ham muốn say mê của con người và các chuẩn mực xã hội hạn chế chúng, có xung đột và nó chi phối toàn bộ hành vi cá nhân. Do những chuẩn mực đạo đức và quy tắc ứng xử của xã hội ấy trong thời gian ấy là do chế độ xã hội quy định, xung đột này xét về căn bản là xung đột về mặt xã hội: các hình thức của nó được xác định bởi địa vị của tập đoàn trong hệ thống các quan hệ xã hội.

    Luận điểm này được minh chứng rõ nét nhất qua văn học nghệ thuật, trong đó những tính cách và hành vi của các nhân vật là sự tập hợp các nét điển hình của các tầng lớp xã hội nhất định, và các đặc trưng cá tính cụ thể. Số phận của các nhân vật “Sông Đông êm đềm” Grigorij Malekhov, tên sĩ quan – địa chủ Lisnickij và đảng viên Bolsevich Bunchuk thể hiện quan hệ giữa các tập đoàn xã hội khác nhau trong những năm nội chiến, và cả trong những dao động nội tâm và trong những hoài nghi nội tâm của Grigorij cũng thể hiện bản chất xã hội hai mặt của Ca-dắc lao động.

    Người dịch: Triệu Thị Ánh

    TĐB 94 – 24 & 25

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Công Tác Xã Hội Với Người Cao Tuổi
  • Công Tác Xã Hội Với Người Khuyết Tật
  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Xã Hội Monhocqlyxahoi Ppt
  • Khái Niệm: Văn Hóa Cổ Truyền, Văn Hóa Truyền Thống, Và Truyền Thống Văn Hóa
  • Triết Học Và Vai Trò Của Nó Trong Đời Sống Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Đôi Nét Về Chủ Nghĩa Hiện Sinh
  • 7 Quy Tắc Kiến Tạo Hạnh Phúc Theo Triết Học Epicurus
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì?
  • Khả Năng Và Hiện Thực: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa.
  • Trình Bày Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Khả Năng Và Hiện Thực? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Nào Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Một Sô Ví Dụ Minh Hoạ
  • Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn:

    + Chủ nghĩa duy vật: Là những người cho rằng vật chất giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.

    + Chủ nghĩa duy tâm: là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

    * Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của nó

    Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện triết học thì đã phân chia ra chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật từ đó đến nay luôn gắn với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có quan điểm thống nhất coi vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, đều xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới. Cụ thể:

    + Chủ nghĩa duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại:

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại mang tính trực quan nên ngây thơ và chất phác, tuy còn nhiều hạn chế nhưng với nguyên tắc cơ bản là đúng. Trường phái này giải thích giới tự nhiên từ chính bản thân tự nhiên, không viện dẫn thần linh hay thượng đế.

    + Chủ nghĩa duy vật máy móc siêu hình thế kỷ thứ XVII – XVIII.

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ sự phát triển rực rỡ của cơ học khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu máy móc chiếm vị trí thống trị và tác động mạnh mẽ đến các nhà duy vật.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Là kết quả nhận thức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa những tinh hoa của các học thuyết trước đó, đồng thời khắc phục những hạn chế, sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin mang tính chất cách mạng triệt để và biện chứng khoa học, không chỉ phản ánh hiện thực đúng như bản thân nó mà còn là công cụ hữu ích giúp con người cải tạo hiện thực đó.

    * Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của nó:

    + Duy tâm chủ quan thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực. Mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp cảm giác của cá nhân, của chủ thể.

    + Duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang tên gọi khác nhau như: ý niệm; tinh thần tuyệt đối; lý tính thế giới…

    Một hình thức biến tướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, với sự thừa nhận thượng đế; chúa trời sáng tạo thế giới. Tuy nhiên có sự khác nhau đó là, chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thì lòng tin là cơ sở chủ yếu, đóng vai trò chủ đạo; còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.

    Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm:

    +Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.

    Khả năng sáng tạo đặc biệt của tư duy, tính vượt trước của ý thức đối với với hiện thực.

    * Triết học nhị nguyên: vật chất và ý thức song song tồn tại, không có cái nào có trước, cả hai đều là nguồn gốc tạo nên thế giới, triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Xét về thực chất, Triết học nhị nguyên thể hiện sự dao động ngả nghiêng, cuối cùng cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

    Thuyết khả tri; bất khả tri và hoài nghi luận

    – Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản “con người có nhận thức được thế giới không?”:

    + Thuyết khả tri( Thuyết có thể biết) là những nhà Triết học cả duy vật và duy tâm trả lời một cách khẳng định: Con người có khả năng nhận thức được thế giới

    +Hoài nghi luận xuất hiện từ thời Cổ đại (từ chữ Hy Lạp skeptikos và skiptomai có nghĩa là tôi thẩm tra) mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ đại). Họ là những người đã luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.

    Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấy tranh chống hệ tư tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.

    +Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): là sự phát triển mặt tiêu cực của trào lưu hoài nghi luận. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không bảo đảm tính chân thực, từ đó họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó.

    Đại biểu nổi tiếng nhất của “thuyết không thể biết” là Hium (nhà triết học Anh) và Cantơ (nhà triết học Đức). Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không. Còn Cantơ thì thừa kế nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “vật tự nó”; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là nhận thức những hiện tượng của nó mà thôi.

    Thuyết không thể biết đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph. Ăngghen đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết không thể biết một cách triệt để nhất. “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp. Nếu chúng ta có thể chứng minh được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tồn Tại Xã Hội Là Gì? Ý Thức Xã Hội Là Gì?
  • Hạnh Phúc Là Gì Trong Mắt Các Nhà Triết Học Vĩ Đại?
  • Triết Học Phật Giáo (Nền Tảng Của Đạo Phật)
  • Bàn Về Triết Học Giáo Dục
  • Giai Cấp Là Gì? Đặc Trưng Và Kết Cấu Xã Hội Của Giá Cấp
  • Giá Trị Của Triết Học Phật Giáo Trong Xã Hội Hiện Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương 2: Không Gian Và Thời Gian
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Đề Cương Ôn Tập Gdcd Lớp 10
  • Giai Cấp Và Đấu Tranh Giai Cấp
  • Lý Luận Của C. Mác Về Đấu Tranh Giai Cấp Và Ý Nghĩa Của Nó Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Triết học Phật giáo liệu có còn giá trị trong xã hội đương đại, trong tiến trình hiện đại hóa thế giới hay không? Nếu có thì nó có những giá trị hiện đại nào? – Đây là những vấn đề cần giải đáp trong quá trình nghiên cứu triết học Phật giáo nói chung và Phật giáo Trung Quốc nói riêng.Với tư cách là con đường giải thoát mối quan tâm cuối cùng của nhân loại, Phật giáo là một hệ thống tín ngưỡng,

    triết học khổng lồ và phức tạp, cũng là một hệ thống giá trị. Đã 2.500 năm nay Phật giáo trở thành tín ngưỡng tinh thần của hàng trăm triệu dân, quãng thời gian dài đó chứng tỏ sức sống và giá trị vĩnh hằng của Phật giáo. Song cũng cần thấy là việc tái tạo giá trị, phát huy tác dụng của Phật giáo trong xã hội tương lai như thế nào vừa là một vấn đề lí luận khó khăn và lớn lao lại vừa là một vấn đề thực tiễn nghiêm túc và bức thiết.

    Giá trị hiện đại của Phật giáo quyết định bởi tác dụng của nó đối với xã hội loài người trong thế kỉ XXI. Trong khi đạt được những tiến bộ chưa từng có, loài người lại có những biện pháp có thể hủy diệt trái đất. Kẻ đe dọa sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người cũng chính là loài người. Các hiện tượng tiêu cực tồn tại trong xã hội hiện nay như khủng hoảng lòng tin, đạo đức bại hoại, mất lương tâm đang mang lại thời cơ lịch sử chưa từng có để Phật giáo điều chỉnh tâm linh con người, tiến tới điều chỉnh mối quan hệ người-người, người-thiên nhiên, vì triết học Phật giáo vốn có tư tưởng chỉnh thể về vũ trụ, tinh thần nhân văn tôn giáo theo đuổi sự siêu việt sinh mệnh.

    I/ Đặc điểm cơ bản, mâu thuẫn cơ bản của xã hội loài người ong thế kỉ XXI.

    Công cuộc hiện đại hóa với tiêu chí là công nghiệp hóa bắt đầu từ thập niên 60 thế kỉ XVIII phát triển rất không đồng đều tại các nước, có nước đã hoàn thành công nghiệp hóa, một số ít nước vẫn còn ở trong tình trạng xã hội nông nghiệp. Từ thập niên 70 thế kỉ XX trở lại, sự phát triển của thế giới lại có bước ngoặt lớn là kinh tế tri thức trỗi dậy, kinh tế công nghiệp sụt giảm. Trong xã hội tri thức, yếu tố nòng cốt của sản xuất là tri thức. Thời đại tri thức đánh dấu sự hiện đại hóa mới, dùng tri thức hóa thay cho công nghiệp hóa. Vùng ven biển Trung Quốc đã hoàn thành công nghiệp hóa, bắt đầu tiến trình tri thức hóa. Kinh tế tri thức với ba đặc điểm là tin học hóa, mạng hóa và toàn cầu hóa, sẽ có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của loài người.

    Trong xã hội hiện nay, của cải vật chất và ham muốn vật chất cùng tăng trưởng nhanh chóng, có người thường coi nhẹ giá trị nội tại tự thân và đời sống tinh thần, thậm chí đánh mất nhân tính và giá trị con người. Trống rỗng tinh thần, nghèo nàn tâm linh là sự khủng hoảng tinh thần nhân văn, khủng hoảng giá trị. Nó trở thành trở ngại lớn đối với sự tiến bộ của loài người. Lòng ham muốn và nhu cầu của con người chịu sự chi phối của quan niệm giá trị nhất định, nếu nó dừng lại lâu dài trên tầng nấc hưởng thụ vật chất thì sẽ hình thành sự tiêu dùng xấu đồng thời đem lại sự phát triển xấu, do đó ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội, làm cho đời sống tinh thần u mê, hạ thấp tố chất quốc dân.

    Toàn cầu hóa kinh tế đẩy mạnh sự phát triển kinh tế thế giới và dự báo chuyển sang thời đại loài người sống dựa vào nhau nhiều hơn. Sự phát triển của các công ti xuyên quốc gia đã tăng mạnh phân hóa giàu nghèo. Các nước giàu chiếm 86% GDP toàn cầu và 82% giá trị xuất khẩu, các nước đang phát triển đông dân hơn mà tương ứng chỉ chiếm có 14% và 18%. Một thế giới giàu nghèo cách nhau quá xa sẽ không ổn định, không an ninh.

    Kinh tế toàn cầu hóa sẽ làm tăng sự căng thẳng xã hội, như sự cạnh tranh giành việc làm, tranh nhân tài, cạnh tranh giữa các quốc gia. Ngoài ra, xung đột chủng tộc và tranh chấp dân tộc nơi này nơi khác đều xảy ra, có lúc gây ra chiến tranh cục bộ.

    Việc đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa kinh tế và hình thành mạng thông tin toàn cầu sẽ tăng tốc quá trình va chạm và giao lưu văn minh Đông-Tây, giao lưu tôn giáo. Mặt khác, một số phái tôn giáo cực đoan duy ngã độc tôn, bài xích tôn giáo khác gây ra sự xung đột tôn giáo, thậm chí xung đột bạo lực. Tôn giáo trở thành một nhân tố quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Làm thế nào để hóa giải sự xung đột tôn giáo đang là một vấn đề lớn mà các tín đồ tôn giáo trên thế giới cần giải quyết.

    Khoa học kĩ thuật (KHKT) thế giới đã có sự phát triển chưa từng có, loài người đã vươn tới các vì sao cách trái đất 18 tỉ năm ánh sáng, đã khám phá bí mật của gien. Song KHKT là con dao hai lưỡi, nó có thể tạo phúc và hủy diệt nhân loại. Môi trường sống của con người đang bị phá hoại nghiêm trọng, trái đất nóng lên, khủng hoảng thiếu năng lượng, thiếu lương thực, bùng nổ dân số, v.v… đang làm loài người ngày càng khó khăn. Đây là một mâu thuẫn lớn của xã hội nhân loại trong thế kỉ XXI.

    II. Tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo

    Triết học Phật giáo có nhiều tư tưởng thích hợp với sự phát triển của xã hội nhân loại, trong đó quan trọng nhất gồm mấy tư tưởng sau đây.

    1. Duyên khởi

    Trên các bức tượng Phật và bên trong các tòa tháp Phật giáo thường khắc “Pháp thân kệ”, với nội dung: “Nhược pháp nhân duyên sinh, pháp dịch nhân duyên diệt; thị sinh diệt nhân duyên, Phật đại sa môn thuyết”. ở đây “Phật đại sa môn” là tôn xưng của Phật Đà. Câu nói trên tuyên truyền ý: vạn pháp vũ trụ đều dựa theo nhân duyên mà sinh diệt, kể cả ngoại cảnh mặt vật chất và tâm thức mặt tinh thần, đều do “duyên” mà sinh ra, tức sự hòa hợp nguyên nhân hoặc điều kiện, duyên đến (“tập”) thì pháp sinh, duyên đi (“khứ”) thì pháp diệt. Đây là tư tưởng cơ bản của thuyết Duyên khởi.

    Duyên khởi là tư tưởng cơ bản nhất, giáo lí cơ bản nhất của Phật giáo; nó thể hiện cách nhìn căn bản của Phật giáo đối với đời người, với tồn tại và sinh mệnh. Tư tưởng Duyên khởi là cơ sở triết học của giáo thuyết cụ thể và tư tưởng quan trọng của Phật giáo, như Nhân quả, không hữu, trung đạo, bình đẳng, từ bi, giải thoát, v.v… Nói cách khác, các giáo thuyết cụ thể và tư tưởng quan trọng của Phật giáo đều là sự triển khai của tư tưởng Duyên khởi. Thuyết Duyên khởi khác với thuyết Vô nhân (không có nguyên nhân), thuyết Ngẫu nhiên, thuyết Thần tạo và thuyết Định mệnh (“Túc mệnh luận”); nó là một luận thuyết tương đối hợp lí về sự sinh thành diễn biến và về bộ mặt vốn có của thế giới. Duyên khởi luận là thế giới quan độc đáo của Phật giáo, là đặc sắc lớn nhất và đặc trưng căn bản để phân biệt Phật giáo với các tôn giáo khác.

    Tư tưởng Duyên khởi của Phật giáo chứa đựng hai tư tưởng quan trọng là “quan hệ” và “quá trình”; tư tưởng Duyên khởi là thế giới quan của thuyết quan hệ, thuyết quá trình.

    Phật giáo Trung Quốc đã phát triển thuyết Duyên khởi, như thuyết “Tính cụ”, thuyết “Thập giới hỗ cụ” của Thiên Đài tông, thuyết “Tính khởi”, thuyết “Sự vật vô ngại” và thuyết “Một tức là tất cả, tất cả tức là một” của Hoa Nghiêm tông, đều nhấn mạnh một sự vật thì có mối quan hệ hàm nhiếp (thay mặt) mà vô ngại với các sự vật khác, giữa các sự vật thì có mối quan hệ Duyên khởi cùng là Duyên của nhau. Xét về tầng nấc tư duy lí luận thì đây là sự suy đoán mộc mạc mà thiên tài về nguyên lí thể cộng đồng vũ trụ.

    Duyên khởi là một mối quan hệ, cũng là một quá trình. Phật giáo cho rằng do vạn vật trong vũ trụ đều là Duyên khởi nên đều có tứ tướng sinh, trú, dị, diệt, là một quá trình không ngừng biến dị. Cũng vậy, con người sống trong quá trình sinh, lão, bệnh, tử và sinh tử lưu chuyển. Cần thừa nhận tư tưởng quá trình đó hàm chứa tư tưởng vận động, biến hóa, phát triển, nên coi đó là biểu hiện của tư duy biện chứng.

    Dựa vào phép Duyên khởi, Phật giáo tiến thêm một bước đưa ra tư tưởng Nhân quả báo ứng nhằm giải thích mối quan hệ giữa hoạt động thân tâm (thể xác và tinh thần) của các chúng sinh với kết quả. Về luân lí, tư tưởng này trình bày thuyết thiện có thiện báo, ác có ác báo, tức thiện nhân lạc quả, ác nhân khổ quả. Học thuyết đó cho ta cơ sở tư tưởng vững chắc và hữu hiệu để quảng đại tín đồ tu trì đạo đức bỏ ác theo thiện.

    Phật giáo cho rằng hoạt động thân tâm của chúng sinh không những đem lại quả báo cho cuộc sống của chính mình mà còn mang lại quả báo cho không gian, môi trường sinh tồn của sinh mệnh; từ đó lại chia quả báo ra làm hai loại “Chính báo” và “Y báo” (“y”: dựa vào, theo). Chính báo là nói thân tâm chúng sinh chiêu cảm được dựa theo nghiệp nhân trong quá khứ, tức sự tồn tại sinh mạng cụ thể là chủ thể, là chính thể của quả báo trực tiếp. Y báo là nói sự tồn tại sinh mệnh chúng sinh chiêu cảm được dựa theo túc nghiệp trong quá khứ; sự tồn tại đó dựa vào ngoại vật, hoàn cảnh, gồm quần áo, nhà ở, đất đai sông núi và toàn bộ thế giới xung quanh. Nói tóm lại, Chính báo chỉ chúng sinh, chúng sinh thế gian; Y báo chỉ nơi chốn chúng sinh dựa vào, tức quốc thổ thế gian. Phật giáo còn cho rằng bối cảnh thời đại, môi trường sống, quốc thổ, núi sông đều là quả báo do đa số chúng sinh cùng chiêu cảm được, gọi là “Cộng Báo”. Các tư tưởng quả báo này của Phật giáo thể hiện sự hiểu rõ mối quan hệ Duyên khởi đối với mối quan hệ tương hỗ giữa thế giới chủ thể và thế giới khách thể, thế giới chủ quan và thế giới khách quan, thể hiện sự quan tâm đối với kết quả hoạt động của các loại chúng sinh, sự quan tâm đối với môi trường tự nhiên, môi trường sống, môi trường sinh thái.

    Những người Thiên Đài Tông còn từ góc độ tu trì thực tiễn đề ra thuyết “Nhân quả bất nhị” , tuyên truyền: con người ở Nhân vị và Phật ở Quả vị, về bản chất không có gì khác biệt, khuyến khích người thường (phàm phu) tu trì thành Phật. Lại đề xuất thuyết “Y chính bất nhị”, cho rằng Phật thân là Chính báo, Phật thổ là Y báo, Phật thân và Phật thổ bất nhị, Chính báo và Y báo bất nhị, hai cái đó cùng nhau thay mặt cho “Nhất niệm tam thiên”, mà quy về nhất tâm.

    3. Trung đạo

    Đó là con đường Trung chính (chính giữa) không lệch về bên nào, vượt trên (“siêu việt”) sự cực đoan, lệch về hai bên hữu vô (“không”), nhất dị, khổ lạc, yêu ghét. Trung đạo là lập trường căn bản và đặc sắc cơ bản của Phật giáo. Thích Ca Mâu Ni phản đối thuyết Thần ngã của đạo Bàlamôn; về lí luận đề xuất phép Duyên khởi “Thử hữu bỉ hữu, thử sinh bỉ sinh”, “Thử vô bỉ vô, thử diệt bỉ diệt”, từ đó nhấn mạnh “Li vu nhị biên, thuyết vu Trung đạo”. Cũng tức là nói dựa theo thuyết Duyên khởi bất hữu bất vô, bất nhất bất dị, bất thường bất đoạn, bất lai bất khứ. Trong thực tiễn, Thích Ca Mâu Ni đề xuất “Bát Chính đạo”, vừa phản đối chủ nghĩa khoái lạc lại phản đối chủ nghĩa khổ hạnh, đề xướng Trung đạo hạnh bất khổ bất lạc, tức tư duy, lời nói, hành vi, ý chí, đời sống, v.v… của con người đều nên hợp lí vừa phải, giữ ở mức ở giữa không lệch bên nào.

    Không và Hữu (có) là hai cách nhìn cơ bản của Phật giáo đối với vũ trụ nhân sinh. Phật giáo dạy Pháp có thể không nói ra Không (“thuyết bất xuất không”), là có hai nghĩa; sau khi có Đức Thích Ca, nội bộ Phật giáo dần dần diễn hóa thành hai tông Không, Hữu. Trong Phật giáo Tiểu thừa, hệ Câu Xá là Hữu tông, hệ Thành Thực là Không Tông. Phật giáo Đại thừa cũng chia làm hai hệ thống lớn. Trung Quan học phái là Không tông, Du Già (Yoga) hành phái là Hữu tông. Hai tông Không, Hữu đều thừa nhận lập trường lí luận cơ bản Duyên khởi tính Không; chỉ là triển khai theo lí luận cơ bản này; nói một cách tương đối thì Không tông tương đối nhấn mạnh mặt tính Không của chư pháp, Hữu tông thì tương đối nhấn mạnh mặt Hữu của chư pháp với tư cách là hiện tượng Duyên khởi.

    Vì vạn pháp là Duyên khởi, được xác định trong mối quan hệ, cho nên có tính “Vô ngã”, tức vừa không có Tự tính, không có tính thực thể, cũng tức là bản tính, bản chất là Không. Đây là bản nghĩa của Không. Vạn pháp nếu đã xác lập trong mối quan hệ cũng tất nhiên là một quá trình biến đổi hỗ động, có tính “Vô thường”, sinh diệt vô thường, cũng là Không. Từ đó có thể nói do Duyên khởi mà tính Không, Duyên khởi tức tính Không, Duyên khởi và tính Không là đồng nghĩa ngữ.

    Không lại chia làm hai loại Nhân không và Pháp không. Nhân không còn gọi là Ngã không, là sự nhân vô tự tính của chủ thể; Pháp không là sự pháp vô tự tính của khách thể. Về vấn đề chư pháp có hay không có thực thể, tức cách nhìn mối liên hệ và khu biệt Duyên khởi với Thực hữu, sự vật với tự tính, hiện tượng với bản chất. Đây là vấn đề vô cùng phức tạp. Tuy rằng nói về tổng thể thì các phái Phật giáo đều thừa nhận thuyết Duyên khởi tính Không..

    Từ các điều nói trên có thể hiểu: xét về mặt hiện tượng, Duyên khởi pháp là tồn tại, là Hữu); xét về mặt bản chất của Duyên khởi pháp, là không tồn tại, là Không. Hữu và Không là cách nhìn hai mặt với một sự vật.

    4. Bình đẳng

    Phật giáo tuyên truyền và đề xướng bình đẳng; nói khái quát, hàm nghĩa của bình đẳng có 4 tầng nấc:

    Th hai, thuyết Y chính quả báo của Phật giáo nhấn mạnh môi trường sống của chúng sinh đều là báo ứng do hành vi của chúng sinh đem lại. Phật giáo còn tuyên truyền tư tưởng “Tâm tịnh (sạch) tắc quốc thổ tịnh”, đề xướng báo ơn quốc thổ.

    Thứ ba, dựa thuyết Duyên khởi, Phật giáo đề xướng tôn trọng kẻ khác, loài khác, tôn trọng sinh mệnh, chúng sinh nhất luật bình đẳng, chúng sinh đều có Phật tính, đều có thể thành Phật. Quan niệm này khác với hành vi lạm sát dị loại, chà đạp môi trường, phá hoại cân bằng sinh thái, cũng khác với quan điểm coi sự bảo vệ môi trường là sự thương hại, ban ơn cho kẻ yếu. Quan niệm chúng sinh bình đẳng ấy cũng khác với “chủ nghĩa trung tâm nhân loại” và “chủ nghĩa trung tâm môi trường”, “chủ nghĩa trung tâm sinh vật”. Phật giáo còn đề xuất ăn chay, phóng sinh, vừa có lợi cho sức khỏe con người, vừa giúp cho việc gìn giữ môi trường cân bằng.

    Sau cùng, thuyết lí tưởng của Phật giáo coi thế giới cực lạc là thế giới lí tưởng, là nơi môi trường tuyệt hảo, không khí trong lành, cỏ cây tươi tốt, chim hót vượn kêu. Xưa nay Phật giáo thích xây chùa dựa vào núi, bên dòng suối. Có thể nói Phật giáo gương mẫu coi trọng môi trường gìn giữ sinh thái.

    Phương Lập Thiên – Nguyễn Hải Hoành dịch

    Không nghi ngờ gì nữa, triết học Phật giáo có giá trị hiện đại; và điều quan trọng là mọi người phải cố gắng hơn nữa trong việc quán triệt thực sự và phô bày đầy đủ giá trị của triết học Phật giáo trong xã hội hiện đại. /.

    Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo

    *. Nhà nghiên cứu Trung Quốc. Bài đăng trên Tạp chí Các trào lưu tư tưởng đương đại, số 4/2004, tiếng Trung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa ?
  • Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?
  • Trình Bày Khái Niệm “dân Tộc” Và Hai Xu Hướng Phát Triển Của Dân Tộc Trong Chủ Nghĩa Tư Bản?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “vấn Đề Dân Tộc Và Chính Sách Dân Tộc”
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học – Phần Iii

    --- Bài mới hơn ---

  • Hocthue.net: Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Cục Hải Quan Đồng Nai
  • Tư Vấn Hải Quan Trực Tuyến :: Tuvantructuyen
  • Xuất Nhập Khẩu Tại Chỗ Là Gì, Thủ Tục Hải Quan Với Hàng Hóa Xuất Khẩu, Nhập Khẩu Tại Chỗ
  • Vai Trò, Ưu Nhược Điểm Của Các Hình Thức Xuất Khẩu
  • Biểu hiện đầy đủ nhất, theo quan điểm của chúng tôi, mối liên hệ của xung đột với sự mâu thuẫn là trong công thức nổi tiếng của Hegel – Marx về thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Xung đột ở đây trực tiếp gắn với cuộc “đấu tranh” giữa các lực lượng và của những khuynh hướng phát triển đối lập nhau với mâu thuẫn giữa chúng. Nhưng những đối lập đây không phải là các lực lượng bên ngoài. Chúng thuộc về khối thống nhất, một chính thể nhất định dù đó là gia đình hay đội sản xuất trong cuộc xung đột của cá thể hay của các nhóm nhỏ, hay đó là xã hội (bộ lạc, bộ tộc, hay một dân tộc hiện đại, thông thường được tổ chức và tự đồng nhất thông qua nhà nước) trong cuộc xung đột của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các tập đoàn tộc người hay nhân khẩu học, của những người lao động của các ngành khác nhau của các nền kinh tế… Ở đây không chỉ nói về các mặt đối lập, mà cả về sự thống nhất về lợi ích, là cái tạo ra cơ sở khách quan để giải quyết xung đột.

    Tất nhiên, sự bất đồng của các lợi ích thường nghiêm trọng đến mức sự thống nhất “không chịu đựng nổi” sức ép và bị phá vỡ. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là sự thống nhất mất đi hoàn toàn. Thay thế các gia đình tan vỡ, những gia đình mới được thành lập từ những mảnh vỡ ấy. Sự sụp đổ của nhà nước diễn ra trong khuôn khổ của cộng đồng khu vực rộng lớn hơn và nó được hoàn tất bằng việc xây dựng các quốc gia mới từ những bộ phận hợp thành đó. Kết cục, khi đã chấm dứt một hình thái nhất định thì cuộc đấu tranh của các giai cấp có thể được kết thúc bằng sự diệt vong của các giai cấp (như khi La Mã sụp đổ), nhưng chính từ những con người, trong cuộc cải tổ các quan hệ kinh tế, các giai cấp mới dần dần được hình thành. Theo ý kiến của chúng tôi, việc hình thành các giai cấp mới đang diễn ra ở Nga. Sự hình thành này bắt đầu ngay từ lúc cuộc cải tạo “dân chủ” thành thời kỳ “cải tổ”, nhưng nó thật sự triển khai ngay sau khi Liên bang bị tan rã và đường lối tư bản hóa nhanh chóng đất nước bằng các phương pháp “liệu pháp sốc” được thông qua vào tháng giêng 1992. Xã hội với tư cách là một chỉnh thể vẫn được bảo toàn, và đồng thời một sự thống nhất nào đó về lợi ích vẫn còn, và đó là cơ sở bùng nổ các xung đột.

    Xung đột xã hội. Cho đến nay, chúng ta mới xem xét xung đột “nói chung”.. Xung đột có thể gọi là xung đột “về mặt xã hội” nếu như vẫn giữ được ý nghĩa cơ bản của thuật ngữ này, nó đồng  nghĩa với thuật ngữ “xung đột của xã hội”. Trong trường hợp này bất kỳ cuộc xung đột nào giữa con người với nhau đều là xung đột xã hội. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, khái niệm “xã hội” ngay từ thế kỷ thứ XIX có nghĩa khác, hẹp hơn. Công nhân của Paris nổi dậy khởi nghĩa vào năm 1848 họ đã đề ra yêu cầu phải có một cuộc cách mạng xã hội, không chỉ dừng lại ở việc thiết lập sự bình đẳng chính trị, mà còn phải đảm bảo được sự công bằng xã hội, tuy sự công bằng đó được Proudon và Balanc giải thích theo các cách khác nhau. Marx và Engels đã dùng từ này theo nghĩa lúc ấy, “Tuyên ngôn cộng sản” đã xuất hiện ngay trước khi xảy ra cách mạng. Trong tác phẩm “Góp phần phê phán kinh tế học chính trị” (1859) Marx quan niệm cách mạng xã hội là cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc rễ chế độ kinh tế của xã hội, thành phần giai cấp của nó, đánh dấu sự quá độ từ một hình thái xã hội này sang một hình thái xã hội khác. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là dạng của cách mạng xã hội. Trong lời nhuận xét chủ chốt của Marx: “Phương thức sản xuất ra đời sống vật chất quyết định các quá trình xã hội, chính trị và tinh thần của đời sống nói chung” – cái xã hội rõ ràng được tách ra khỏi cái kinh tế, cái chính trị và cái tinh thần.

    Có rất nhiều cách lý giải giáo điều về mối liên hệ các kiểu quan hệ xã hội trên sách báo khoa học Xô viết. Việc phân tích các quan điểm khác nhau đã được trình bày trong một trong những công trình của chúng tôi, ở đây chúng tôi sẽ chỉ nêu lên thực chất. Các quan hệ xã hội theo Marx (và trong sách báo marxist sau này), – là các quan hệ giữa các tập đoàn người, trước hết giữa các giai cấp. Các quan hệ này không được đặt cùng hàng với các quan hệ kinh tế, chính trị, tinh thần, mà là một “lát cắt”, một “khía cạnh”, một “hợp phần” quan trọng nhất của chúng. Chính với nghĩa đó, khái niệm này, khi kết hợp với khái niệm “xung đột”, có nghĩa là xung đột giữa các tập đoàn xã hội các kiểu nói chung.

    Xung đột xã hội là đối tượng nghiên cứu xã hội học lý luận, nó thường được định nghĩa là “khoa học về các cộng đồng xã hội, về các cơ chế hình thành, vận hành và, phát triển chúng”. Các cộng đồng như vậy được hiểu trước hết là các tập đoàn xã hội lớn bên trong một cấu thể tộc người hay một cấu thể nhà nước dân tộc, cũng như chính các cấu thể đó. Vì thế, xung đột giữa các cá thể và các tập đoàn xã hội nhỏ nằm ngoài phạm vi đó, chúng thuộc trước hết về tâm lý học, và ở một mức độ nhất định, thuộc luật học, bởi vì chúng phá vỡ các chuẩn mực của lĩnh vực này.

    Tất nhiên, ở đây không có ranh giới tuyệt đối. Chúng ta hãy xét ba trường hợp có tính giáp ranh. Trường hợp thứ nhất rất rõ: Xung đột giữa các giai cấp biểu hiện qua sự đối lập giữa chủ xí nghiệp với người công nhân bị sa thải. Nếu như anh ta không vi phạm nội quy và thực hiện tốt các nhiệm vụ sản xuất, thì sự đối lập đó được chuyển thành quan hệ giữa nhà kinh doanh và nghiệp đoàn và do đó sự đối lập này có các nét xung đột giai cấp. Tương tự điều này, cuộc chiến đấu giữa hai người lính trên chiến trường là một phần của cuộc xung đột chung hơn giữa các quốc gia đang giao chiến với nhau… Theo quan điểm của chúng tôi, những chỉ dẫn phương pháp hệ mà các nhà tâm lý học đưa ra để phân tích những tình huống xung đột có tính chất giữa các cá nhân với nhau và những tìm tòi để giải quyết các cuộc xung đột này (kể cả mục đích nhằm để giảng dạy cho sinh viên) có giá trị không nhỏ, nhưng rõ ràng chúng chưa bắc được “chiếc cầu nối” từ xung đột giữa các cá thể hay trong một nhóm nhỏ sang xung đột xã hội thực sự.

    Tình huống thứ ba – cuộc xung đột ngay trong tâm hồn con người là dạng xung đột giữ vị trí trung tâm trong các học thuyết tôn giáo và trong nghệ thuật. Tính chất xã hội của nó được các phương hướng khác nhau trong tâm lý học nhấn mạnh. Chẳng hạn theo Freud, giữa các niềm ham muốn say mê của con người và các chuẩn mực xã hội hạn chế chúng, có xung đột và nó chi phối toàn bộ hành vi cá nhân. Do những chuẩn mực đạo đức và quy tắc ứng xử của xã hội ấy trong thời gian ấy là do chế độ xã hội quy định, xung đột này xét về căn  bản là xung đột về mặt xã hội: các hình thức của nó được xác định bởi địa vị của tập đoàn trong hệ thống các quan hệ xã hội.

    Luận điểm này được minh chứng rõ nét nhất qua văn học nghệ thuật, trong đó những tính cách và hành vi của các nhân vật là sự tập hợp các nét điển hình của các tầng lớp xã hội nhất định, và các đặc trưng cá tính cụ thể. Số phận của các nhân vật “Sông Đông êm đềm” Grigorij Malekhov, tên sĩ quan – địa chủ Lisnickij và đảng viên Bolsevich Bunchuk thể hiện quan hệ giữa các tập đoàn xã hội khác nhau trong những năm nội chiến, và cả trong những dao động nội tâm và trong những hoài nghi nội tâm của Grigorij cũng thể hiện bản chất xã hội hai mặt của Ca-dắc lao động.

    (còn tiếp) 

    Người dịch: Triệu Thị Ánh

    TĐB 94 – 24 & 25

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Trị: Bài 3 Những Quy Luật Cơ Bản Về Sự Phát Triển Xã Hội
  • Xã Hội Và Đặc Điểm Cơ Bản Của Qui Luật Xã Hội – Kipkis
  • Đánh Giá Hiệu Quả Của Dự Án Đầu Tư, Hiệu Quả Kinh Tế Và Hiệu Quả Xã Hội
  • Hiệu Quả Xã Hội Xét Như Là Mục Tiêu – Kipkis
  • 2. Chế Độ Phong Kiến Là Gì ?
  • Xã Hội Học Là Gì? Học Xã Hội Học Sinh Viên Được Trang Bị Những Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2: Xã Hội Học Pháp Luật
  • Luận Văn: Xã Hội Hóa Y Tế Tại Bệnh Viện Bạch Mai, Hay
  • Xu Hướng Xã Hội Hoá Các Hoạt Động Y Tế Trong Điều Kiện Hiện Nay
  • Nhận Thức Về Xã Hội Hoá Hoạt Động Giáo Dục, Y Tế Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Tệ Nạn Xã Hội Là Gì? Tệ Nạn Xã Hội Gồm Những Gì? Tệ Nạn Nào Phổ Biến?
  • Xã hội học là một ngành khoa học nghiên cứu về những quy luật, tính quy luật trong xã hội chung mà đặc thù là sự phát triển cũng như vận hành hệ thống xã hội xác định ở mặt lịch sử. Xã hội học cũng là khoa học của các cơ chế tác động, các hình thức trong biểu hiện ở quy luật với những hoạt động của một cá nhân, của các nhóm xã hội, các giai cấp, các dân tộc.

    Tại Việt Nam, nếu như các sĩ tử có nguyện vọng học ngành xã hội học thì sẽ thi các khối sau đây: Khối A (toán – lý – hóa), khối C (văn – sử – địa), khối D1 (toán – anh – văn), D12 (văn – lịch sử – anh). Các trường đào tạo ngành học này tiêu biểu như: Đại học Công Đoàn, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (ĐH quốc gia Hà Nội), Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (ĐH quốc gia TP. Hồ Chí Minh), Học viện Báo chí & Tuyên truyền, Đại học Khoa học – ĐH Huế, Học viện Phụ nữ Việt Nam, Đại học Đà Lạt.

    Khi tốt nghiệp ra trường, sinh viên xã hội học học có thể làm những công việc cụ thể như: Trở thành giáo viên (giảng dạy ở các trường Đại học – Cao đẳng – Trung cấp nghề chuyên nghiệp), làm nhà nghiên cứu xã hội (tại các viện hoặc là trung tâm nghiên cứu hoặc hệ thống trường học), làm nhà tư vấn xã hội (tại các tổ chức phi chính phủ trong hoặc ngoài nước, cho các công ty chuyên nghiên cứu về thị trường), làm phóng viên (có thể làm phóng viên đưa tin hoặc biên tập ở toà soạn báo – tạp chí khoa học), nhân viên xã hội ở tổ chức xã hội, nhân viên quản lý nhân sự – tư vấn (tại công ty, xí nghiệp, nhà máy trong và ngoài nước) hoặc là ở hệ thống của cơ quản lý nhà nước.

    Học xã hội học sinh viên được trang bị những gì?

    Tất cả sinh viên xã hội học sẽ được học những kiến thức chung sau đây:

    • Kiến thức về nguyên lý cơ bản trong hệ thống Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam
    • Có kiến thức, kỹ năng cơ bản trong hoạt động giao tiếp bởi 1 trong bốn ngoại ngữ: Tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung, Tiếng Nga
    • Có nhận thức tốt đến tầm quan trọng trong kiến thức quân sự, thể dục cũng như có năng lực cơ bản để theo kịp những yêu cầu trong cách huấn luyện của lĩnh vực này
    • Có thể sử dụng ngoại ngữ tốt với những kỹ năng nghe – nói – đọc – việt.

    Kiến thức theo lĩnh vực

    Kiến thức theo lĩnh vực, sẽ bao gồm có:

    • Những kiến thức sâu rộng về văn hóa đại cương, lịch sử về các nền văn minh thế giới
    • Được trang bị và nắm vững kiến thức Nhà nước – pháp luật đại cương. Theo đó, sẽ có những hiểu biết cơ bản nhất về tổ chức Nhà nước Việt Nam trong xã hội hiện, nắm rõ việc phân chia của ngành luật cũng như một vài vấn đề có tính quan trọng nhất trong pháp luật
    • Nắm vững những phương pháp về thống kê cơ bản, từ đó ứng dụng vào việc tiến hành thu thập và xử lý những thông về khoa học xã hội
    • Có nguồn kiến thức về nhập môn kinh tế học

    Kiến thức theo khối ngành

    Kiến thức theo khối ngành, sinh viên được đào tạo những kiến thức sau:

    • Đầu tiên là nắm những kiến thức cơ bản của liên ngành của một số ngành như: dân số học, nhân học đại cương, tâm lý học xã hội đại cương, lịch sử văn hóa Việt Nam, công tác xã hội
    • Nắm những những phương pháp để tiến hành việc nghiên khoa học cơ bản thuộc vào khối ngành, từ đó ứng dụng vào việc tiến hành thu thập – xử lý thông tin đã thu thập được như là định tính và định lượng từ những phần mềm trong máy tính đang thịnh hành nhất.

    Khối kiến thức theo nhóm ngành

    Kiến thức theo nhóm ngành, sinh viên sẽ được đào tạo những kiến thức cơ bản như sau:

    • Đầu tiên là phải nắm vững những kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu cơ bản trong các ngành khoa học thuộc vào nhóm ngành (công tác xã hội, xã hội học, nhân học và tâm lý học)
    • Sinh viên sẽ có kiến thức cơ bản trong khoa học phân tích về hành vi con người khi được đặt trong một trường xã hội

    Kiến thức ngành

    Kiến thức ngành mà sinh viên xã hội học được đào tạo bao gồm:

    • Những kiến thức đại cương về xã hội học, biết cách phân chia những chuyên ngành cơ bản thuộc nhóm xã hội học, biết về một vài khái niệm cũng như thuật ngữ quan trọng, các phương pháp cơ bản nhất trong xã hội học
    • Nắm vững về kiến thức lịch sử trong sự hình thành, cốt lõi của những chủ thuyết của xã hội học hiện đại như là chủ thuyết cấu trúc – chức năng, chủ thuyết về tương tác xã hội, chủ thuyết về hành động xã hội, chủ thuyết xung đột,…
    • Hiểu một rõ ràng nhất trong việc phân chia cơ bản của những phạm trù ứng dụng, trong kiến thức xã hội học (quản lý tổ chức, kinh tế, văn hóa, giáo dục, giới và gia đình,…)
    • Nắm vững và có thể ứng dụng được những phương pháp định tính, định lượng vào trong hoạt động nghiên cứu xã hội học cơ bản của xã hội học
    • Được đào tạo và có những kiến thức nền tảng về những chuyên ngành quan trọng, phù hợp với lại nhu cầu trong sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam hiện nay như là: xã hội học đô thị, xã hội học nông thôn, xã hội học quản lý, xã hội học giáo dục,…

    Từ thông tin bài viết, các bạn đã nắm rõ kiến thức và hiểu xã hội học là gì rồi chứ ạ. Đây là một ngành nói là mới nhưng mà không mới, trong hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện nay. Các khối thi vào ngành cũng nhiều, vì thế nếu các bạn thực sự yêu thích và mong muốn theo đuổi công việc của một nhà xã hội học thì đừng bỏ qua nội dung bài viết này của chúng tôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Gdcd 8 Bài 13: Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội Hay, Chi Tiết.
  • Bài 13. Phòng, Chống Tệ Nạn Xã Hội
  • Giải Gdcd 8 Bài 13: Phòng, Chống Tệ Nạn Xã Hội
  • Gdcd 8 Bài 13: Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội
  • Lý Thuyết Gdcd Lớp 8 Bài 13: Phòng Chống Tệ Nạn Xã Hội
  • Triết Học Là Gì ? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản Của Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học ? Từ Đó Xác Định Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Thuyết Của Marx: Quan Niệm Duy Vật Lịch Sử
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ

    .Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức và vật chất. Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học, mặt khác nó cũng là là tiêu chuẩn để xác lập trường thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ. Ăngghen cũng đã trả lời cho câu hỏi “Vấn đề cơ bản của triết học là gì?”, theo ông: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”. Vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

    – Mặt thứ nhất, giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào?

    – Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Việc giải hai mặt cơ bản của triết học là xuất phát điểm của các trường phái triết học. Trả lời mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã xuất hiện nhất nguyên luận khi lấy việc thừa nhận chỉ một trong hai thực thể (vật chất hoặc ý thức) là cái có trước và quyết định cái kia, nghĩa là cho rằng thế giới chỉ có một nguồn gốc duy nhất. Nhất nguyên luận bao gồm nhất nguyên luận duy tâm (chủ nghĩa duy tâm, triết học duy tâm) và nhất nguyên luận duy vật (chủ nghĩa duy vật, triết học duy vật)* Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.

    * Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.

    * Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.

    * Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

    + Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập.

    Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.

    Do vậy:

    + Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.

    + Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động. + Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.

    Vai trò phương pháp luận của triết học

    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    * Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất

    + Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.

    Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.

    Vai trò của triết học Mác – Lê nin

    Triết học Mác – Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.

    * Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.

    + Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.

    + Nắm vững triết học triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.

    * Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.

    Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.

    Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.

    Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.

    Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:

    + Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;

    + Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị vấp váp, thất bại.

    Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Trả Lời “vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?”
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chế Độ Dân Chủ Nhân Dân
  • Con Người Và Bản Chất Của Con Người
  • Triết Học Về Vật Chất
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100