Phép Biện Chứng Duy Vật

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Bộ Công An Trả Lời Về Làn Đường, Phần Đường
  • Nêu Khái Niệm Và Cho Ví Dụ Về Phản Xạ
  • a) Khái niệm phép biện chứng duy vật

    Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

    Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin còn có một số định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật. Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”; còn khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển (trong đó có bao hàm học thuyết về sự phát triển của nhận thức) trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từ triết học của Hêghen, V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”‘,V.V..

    b) Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật

    Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau đây:

    Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học. Với đặc trưng này, phép biện chứng duy vật không chỉ có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, đặc biệt là với phép biện chứng của Hêghen (là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng thế giới quan duy tâm), mà còn có sự khác biệt về trình độ phát triển so với nhiều tư tưởng biện chứng đã từng có trong lịch sử triết học từ thời cổ đại (là phép biện chứng về căn bản được xây dựng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật nhưng đó là chủ nghĩa duy vật còn ở trình độ trực quan, ngây thơ vàchất phác).

    Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận hiện chứng duy vật, do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới. Trên cơ sở khái quát mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, những quy luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin cung cấp những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho quá trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, đó không chỉ là nguyên tắc phương pháp luận khách quan mà còn là phương pháp luận toàn diện, phát triển, lịch sử – cụ thể, phưong pháp luận phân tích mâu thuẫn nhằm tìm ra nguồn gốc, động lực cơ bản của các quá trình vận động, phát triển, V.V.. Với tư cách đó, phép biện chứng duy vật chính là công cụ khoa học vĩ đại để giai cấp cách mạng nhận thức và cải tạo thế giới.

    Với những đặc trưng cơ bản trên, phép biện chứng duy vật giữ vai trò là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chú nghĩa Mác – Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan vả phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững
  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Câu 5: Khái Niệm Phép Biện Chứng, Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Trong Lịch Sử Triết Học; Phân Tích Phép Biện Chứng Duy Tâm Và Phép Biện Chứng Duy Vật.

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Biện Chứng Và Các Hình Thức Cơ Bản Của Phép Biện Chứng
  • Khái Niệm Phẩm Chất Nghề Nghiệp Của Giáo Viên Mầm Non
  • Đề Cương Ôn Tập: Khái Niệm, Phẩm Chất, Truyền Thống Của Sống Giản Dị, Đạo Đức Và Kỉ Luật, Yêu Thương Con Người, Tự Trọng, Trung Thực? Em Hiểu Thế Nào?
  • Phẩm Chất Là Gì? 20 Phẩm Chất Của Người Có Hậu Phúc
  • Phẩm Chất Đạo Đức Là Gì? Phân Tích Những Phẩm Chất Đạo Đức Cơ Bản Của Người Việt Nam
  • Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệthống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.

    Phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan.

    Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình – phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập tĩnh tại và tách rời.

    B. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

    Trong lịch sử triết học, phép biện chứng phát triển qua ba hình thức cơ bản: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin.

    Phép biện chứng chất phác thời cổ đại

    Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu như. Tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (học thuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ); “ngũ hành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tố chất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia.

    Trong triết học Ấn Độ biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng là triết học Phật giáo với các phạm trù như: “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên”

    Thời cổ đại Hy Lạp, một số nhà triết học duy tâm (Platon) coi phép biện chứng là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý. Arixtôt đồng nhất phép biện chứng với lôgíc học. Một số nhà triết học duy vật có tư tưởng biện chứng về sự vật (biện chứng khách quan). Hêraclit coi sự biến đổi của thế giới như một dòng chảy. Ông nói: “Mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều biến đổi”. “Người ta không thể tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”.

    Phép biện chứng chất phác thời cổ đại có đặc điểm là: Nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng không phải dựa trên thành tựu của khoa học mà bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, là kết quả của sự quan sát trực tiếp. Do đó, chưa đạt tới trình độ phân tích giới tự nhiên, chưa chứng minh được mối liên hệ phổ biến nội tại của giới tự nhiên.

    Từ nửa cuối thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đi vào nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của giới tự nhiên dẫn đến sự ra đời của phương pháp siêu hình và phương pháp này trở thành thống trị trong tư duy triết học và nghiên cứu khoa học vào thế kỷ XVIII.

    Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện ở hệ tthống triết học của G.Hêghen.

    Triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm. Tính duy tâm trong triết học của G.Hêghen được biểu hiện ở chỗ, ông coi phép biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan.

    Ông cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần. Tinh thần, tư tưởng, ý niệm tuyệt đối là cái có trước, thế giới hiện thực chỉ là bản sao chép của ý niệm.

    Như vậy, Hêghen, là người xây dựng phép biện chứng tương đối hoàn chỉnh với một hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật. Tuy nhiên, phép biện chứng Hêghen là phép biện chứng duy tâm, là phép biện chứng ngược đầu; ông coi biện chứng của ý niệm sinh ra biện chứng của sự vật, chứ không phải ngược lại. Ph.Ăngghen nhận xét rằng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng. Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”

    C. Phép biện chứng duy tâm khách quan

    Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học cổ điển Đức cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Thời kì này, khoa học đã đạt được những thành tựu xuất sắc trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Những thành tựu khoa học đó là cơ sở để đi tới những khái quát mới về nội dung phép biện chứng.

    Đại diện tiêu biểu cho phép biện chứng duy tâm là Hêghen. Ông là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ bản. Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hêghen thể hiện ở chỗ : Ông coi “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước, và trong quá trình vận động phát triển, “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội; cuối cùng lại trở về với chính mình trong tinh thần tuyệt đối. Sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen là ở chỗ ông cho rằng biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật. Đó là phép biện chứng duy tâm khách quan, thiếu triệt để, thiếu khoa học.

    D. Phép biện chứng duy vật

    Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà khoa học trước đó, dựa trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học thời ấy và thực tiễn lịch sử loài cũng như thực tiễn xã hội, vào giữa thế kỉ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật, về sau được V.I.Lênin phát triển vào đầu thế kỉ XX, đem lại cho phép biện chứng một hình thức mới về chất. Đó là phép biện chứng duy vật.

    Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Chính vì vậy, nó đã khắc phục được những hạn chế của phép biện chứng chất phác thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại. Nó đã khái quát đúng đắn những quy luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới. Phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học.

    Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực. Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất. Vì thế Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước Là Gì? Nguyên Nhân Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Wacap: Chất Gây Ô Nhiễm Không Khí Phía Tây Đánh Giá Dự Án
  • Lipid Va Bien Doi Sinh Hoa
  • Làm Thế Nào Để Kiểm Soát Quá Trình Oxy Hóa Trong Thức Ăn Thành Phẩm?
  • Giáo Án Hóa 8 Hkii Chuẩn Ktkn
  • Chương 2 Phép Duy Vật Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Về Các Khái Niệm Và Quy Tắc Giao Thông Đường Bộ (Phần 5)
  • Nêu Các Hệ Cơ Quan Cấu Tạo Nên Cơ Thể Người1.cơ Thể Người Được Cấu Tạo Bởi Những Hệ Cơ Quan Nào?chức Năng Của Các Hệ Cơ Quan Đó? 2.thành Phần Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tế Bào? 3.khái Niệm Về Phản Xạ, Cung Phản Xạ? 4.khớp Xương Là Gì?phân Loại Và Nêu Ví Dụ Cho Mỗi Loại Khớp Xương?
  • Bài 52. Phản Xạ Không Điều Kiện Và Phản Xạ Có Điều Kiện
  • Lý Thuyết Phản Xạ Sinh 8
  • Nêu Khái Niệm Và Thành Phần Của Cung Phản Xạ
  • , Working at THPT Chuẩn Quốc Gia Võ Trường Toản – P. Hiệp Thành, Q12, TP. HCM

    Published on

    1. 1. Chương 2: PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG NHÓM 10
    2. 2. IV. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT Quy luật phủ định của phủ định
    3. 3. Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
    4. 4. Phân loại: Lĩnh vực tác động Quy luật tự nhiên Quy luật xã hội Quy luật tư duy
    5. 5. Phạm vi tác động Quy luật riêng Quy luật chung Quy luật phổ biến
    6. 6. Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy của con người.
    7. 7. 1. Quy luật chuyển hóa tự những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại  Chỉ cách thức của sự vận động, phát triển, theo đó sự phát triển được tiến hành theo cách thức thay đổi lượng trong mỗi sự vật dẫn đến chuyển hóa về chất của sự vật và đưa sự vật sang một trạng thái phát triển tiếp theo. “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”(Ăng.ghen)
    8. 8.  Chất: dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác.
    9. 9. Chất và sự vật có mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau  Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật.  Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó.  Nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật.  Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản.
    10. 10. Lượng: dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó.
    11. 11.  Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó.  Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người.  Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…
    12. 13. Lượng Lượng phá vỡ chất cũ Mâu thuẫn giải quyết Chất mới lượng mới Lượng mới biến đổi phá vỡ chất kìm hãm
    13. 14. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức phổ biến
    14. 15. Độ, điểm nút, bước nhảy  Độ: chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật, sự vật chưa biến thành cái khác  Điểm nút: chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi chất của sự vật.
    15. 16. Bước nhảy: chỉ sự chuyển hoá về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây nên  Là sự kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, là sự đứt đoạn trong liên tục, nó không chấm dứt sự vận động nói chung mà chỉ chấm dứt một dạng vận động cụ thể, tạo ra một bước ngoặt mới cho sự thống nhất biện chứng giữa chất và lượng trong một độ mới.
    16. 17. Ý nghĩa phương pháp luận  Coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về chất và lượng  Tích lũy về lượng để làm thay đổi về chất; phát huy tác động của chất mới làm thay đổi về lượng  Khắc phúc tư tưởng nôn nóng tả khuynh, bảo thủ hữu khuynh  Vận dụng linh hoạt hình thức của bước nhảy
    17. 18. 2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập  Là quy luật ở vị trí ” hạt nhân” của phép BCDV  Là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển
    18. 19. Khái niệm và các tính chất chung của mâu thuẫn Mâu thuẫn là dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất và đấu tranh, chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mỗi svht, hoặc giữa các svht với nhau Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là các mặt đối lập
    19. 20.  Mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền tồn tại của nhau  Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong thế giới
    20. 21. Quá trình vận động của mâu thuẫn  Là quá trình thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá giữa các mặt đối lập  Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.  Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau.
    21. 22.  Engels đã đưa ra ví dụ: “Giai cấp vô sản và sự giàu có là hai mặt đối lập, với tính cách như vậy chúng hợp thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất, chế độ tư hữu với tư cách là sự giàu có buộc phải duy trì vĩnh viễn ngay cả sự tồn tại của mặt đối lập của nó là giai cấp vô sản”
    22. 23. Sự đấu tranh  Là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng.
    23. 24. Sự chuyển hóa  Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập  Sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối  Sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện tạm thời; trong sự thống nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất của chúng
    24. 25. Ý nghĩa phương pháp luận  Tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sư vận động và phát triển  Nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể
    25. 26. 3. Quy luật phủ định của phủ định  Chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển, theo đó sự phát triển của sự vật, hiện tượng có xu hướng, khuynh hướng lặp lại giai đoạn đầu nhưng ở trình độ cao hơn, phát triển theo hình xoắn trôn ốc
    26. 27. Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng  Phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển.  Phủ định biện chứng: là sự phủ định tự thân, sự phát triển tự thân là mắc khâu dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ.
    27. 28. Đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng Tính khách quan: vì nguyên nhân của sự phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật. Đó chính là giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật. Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn mà sự vật luôn luôn phát triển. Mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng tuỳ thuộc vào sự giải quyết mâu thuẫn của bản thân chúng. Điều đó cũng có nghĩa, phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn, ý chí của con người. Con người chỉ có thể tác động làm cho quá trình phủ định ấy diễn ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật.
    28. 29.  Kế thừa: vì phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật, nên nó không thể là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái cũ. Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ. Cái mới ra đời không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ mà có chọn lọc, giữ lại và cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, nó chỉ gạt bỏ ở cái cũ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển. Do vậy, phủ định biện chứng đồng thời cũng là khẳng định
    29. 30. Hình thức phủ định biện chứng  Phủ định diễn ra không phải theo đường thẳng hay đường tròn mà theo đường xoáy ốc, thể hiện tính kế thừa, tính lặp lại, nhưng không quay trở lại, tính chất tiến lên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Theo Phép Biện Chứng Duy Vật, Các Mối Liên Hệ Có Những Tính Chất Chung Nào? Cho Ví Dụ.
  • Sud: Phát Triển Đô Thị Bền Vững
  • Khái Niệm Đô Thị Bền Vững (Scs )
  • Phát Triển Đô Thị Bền Vững
  • Luận Văn: Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Ở Hà Nội, Hay
  • Theo Phép Biện Chứng Duy Vật, Các Mối Liên Hệ Có Những Tính Chất Chung Nào? Cho Ví Dụ.

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương 2 Phép Duy Vật Biện Chứng
  • Câu Hỏi Về Các Khái Niệm Và Quy Tắc Giao Thông Đường Bộ (Phần 5)
  • Nêu Các Hệ Cơ Quan Cấu Tạo Nên Cơ Thể Người1.cơ Thể Người Được Cấu Tạo Bởi Những Hệ Cơ Quan Nào?chức Năng Của Các Hệ Cơ Quan Đó? 2.thành Phần Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tế Bào? 3.khái Niệm Về Phản Xạ, Cung Phản Xạ? 4.khớp Xương Là Gì?phân Loại Và Nêu Ví Dụ Cho Mỗi Loại Khớp Xương?
  • Bài 52. Phản Xạ Không Điều Kiện Và Phản Xạ Có Điều Kiện
  • Lý Thuyết Phản Xạ Sinh 8
  • Theo phép biện chứng duy vật, các mối liên hệ đều có ba tính chất chung nhất, đó là: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.

    – Thứ nhất, tính khách quan của các mối liên hệ

    Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan. Theo quan điểm đó, sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyên hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.

    Ví dụ, mối liên hệ ràng buộc và tương tác (theo lực hút – đẩy) giữa các vật thể; mối liên hệ giữa trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường (đồng hoá – dị hoá); mối liên hệ ràng buộc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa cung và cầu hàng hoá trên thị trường; mối liên hệ tất yếu giữa các khái niệm trong quá trình tư duy của con người,… đều là những mối liên hệ khách quan, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người.

    – Thứ hai, tính phổ biến của các mối liên hệ

    Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau.

    Ví dụ: mỗi cơ thể sống là một hệ thống cấu trúc tạo nên khả năng tự trao đổi chất với môi trường, nhờ đó mà nó tồn tại, phát triển; đồng thời bản thân môi trường sống cũng là một hệ thống được tạo thành từ nhiều yếu tố lớp, phân hệ trực tiếp và gián tiếp…

    – Thứ ba, tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ

    Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng đều có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong và bên ngoài, trực tiếp và crián tiếp, cơ bản và không cơ bản… chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật đó; đồng thời, mỗi mối liên hệ đó lại có những biểu hiện phong phú khác nhau trong những điều kiện cụ thể khác nhau…

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sud: Phát Triển Đô Thị Bền Vững
  • Khái Niệm Đô Thị Bền Vững (Scs )
  • Phát Triển Đô Thị Bền Vững
  • Luận Văn: Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Ở Hà Nội, Hay
  • Isrd: Tích Hợp Phát Triển Nông Thôn Bền Vững
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển Của Phép Biện Chứng Duy Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Quy Luật Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Của Ý Thức Theo Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Về Bản Chất Hiện Tượng Tâm Lý Con Người
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Nội dung ý nghĩa phương pháp luận nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật

    a. Nội dung nguyên lý về sự phát triển

    – Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển. Bởi vì, họ tuyệt đối hóa sự ổn định tương đối của sự vật và hiện tượng, chứ không thấy được vận động, sự thay đổi chuyển hóa cũng như sự phát triển của sự vật và hiện tượng. Nếu có thừa nhận sự phát triển thì theo họ chẳng qua chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng, chứ không phải về mặt chất lượng hoặc không có sự ra đời của cái mới cao và hoàn thiện hơn cái cũ. Ngược lại, phép biện chứng duy vật cho rằng Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp từ cái chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn và phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật và hiện tượng..

    – Cần phân biệt giữa khái niệm vận động và khái niệm phát triển. Khái niệm vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là sự biến đổi nói chung và là phương thức tồn tại của vật chất. Điều đó, có nghĩa là có những hình thức vận động bao hàm sự phát triển và có hữnng hình thức vận động không bao hàm sự phát triển. Ngược lại, khái niệm phát triển thì không khái quát mọi sự vận động nói chung, nó chỉ khái quát những vận động đi lên, sự xuất hiện cái mới theo một chiều hướng chung là từ đơn giản đến phức tạp, từ cái chưa hoàn thiện đến hoàn thiện so với cái cũ hoặc quá trình trước đó.

    sự phát triển bao hàm sự vận động, sự xuất hiện cái mới theo chiều hướng đi lên. Nhưng không phải bất kỳ sự vận động nào cũng bao hàm sự phát triển. Không nên hiểu phát triển không phải bao giờ cũng diễn ra một cách đơn giản, thẳng tắp; mà là con đường quanh co, phức tạp.Xét từng trường hợp cá biệt thì có những vận động đi lên tuần tự và đồng thời có những vận động đi xuống, hoặc thụt lùi.Nhưng về quá trình và trong phạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướng tất yếu. Chính vì vậy, phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật và hiện tượng.

    – Tính chất của sự phát triển: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.

    Tính khách quan của sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, dù thể hiện dưới hình thức nào cũng cũng là quá trình giải quyết mâu thuẫn vốn có của các sự vật, hiện tượng độc lập và không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng khuynh hướng chung của sự phát triển trên cơ sở phân tích, giải quyết các mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong hoạt động thực tiễn xã hội.

    Tính phổ biến của sự phát triển là không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là không vận động mà phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật, hiện tượng. Vì vậy, phát triển là một quá trình vận động đi lên diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Trong đó, sự xuất hiện con người cũng chỉ là một quá trình lịch sử tự nhiên.

    Tính đa dạng phong phú của sự phát triển được thể hiện trong các sự vật, hiện tượng đều gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định. Căn cứ tính đa dạng phong phú của sự phát triển có thể phân chia sự phát triển như một quá trình xuất hiện cái mới có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể của nó. Sự xuất hiện cái mới luôn gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định. Trong đó, cái mới phù hợp với qui luật vận động phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy là tiêu chuẩn của sự phát triển. Bởi, có những cái mới là cái khác với cái cũ hoặc quá trình trước đó, nhưng không là tiêu chuẩn của sự phát triển vì nó không phù hợp với qui luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

    b. Ý nghĩa phương pháp luận

    Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, giúp cho chúng ta nhận thức được rằng, muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng, nắm được khuynh hướng vận động tất yếu của chúng, phải có quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể.

    – Nguyên tắc (Quan điểm) phát triển với yêu cầu khi phân tích một sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động để phát hiện được xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng. Điều đó, có nghĩa là khi nghiên cứu sự tồn tại, vận động của sự vật, hiện tượng phải thấy được phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của sự vật, hiện tượng; đồng thời cũng phải nhận thức đúng tính khách quan, phổ biến, tính đa dạng phong phú của sự phát triển vận dụng trong hoạt động thực tiễn xã hội.

    Quan điểm phát triển còn đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm đúng về cái mới, cái mới là tiêu chuẩn của sự phát triển. Sự xuất hiện cái mới là một quá trình, nhưng là cái tất yếu thay thế cái cũ, nhưng sự kế thừa những mặt tích cực của cái cũ là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của cái mới.

    – Nguyên tắc (Quan điểm) lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận động và phát triển của bản thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể. Khi phân tích quá trình vận động của các sự vật, hiện tượng phải xem xét nó trong mối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử cụ thể của các mối quan hệ đó.

    – Phê phán quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển. Bởi vì, họ tuyệt đối hóa sự ổn định tương đối của sự vật và hiện tượng, chứ không thấy được vận động, sự thay đổi chuyển hóa cũng như sự phát triển của sự vật và hiện tượng. Nếu có thừa nhận sự phát triển thì theo họ chẳng qua chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng, chứ không phải về mặt chất lượng hoặc không có sự ra đời của cái mới là cái cao hơn và hoàn thiện hơn cái cũ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pbcdv Về Mối Liên Hệ Phổ Biến Và Về Sự Phát Triển
  • Phát Triển Chính Sách Xúc Tiến Thương Mại Sản Phẩm Thép Inox Trên Thị Trường Miền Bắc Của Công Ty Tnhh Thương Mại Xnk Tiền Phong
  • Sự Sinh Trưởng Và Phát Triển Của Vi Sinh Vật
  • Thế Nào Được Gọi Là Sản Xuất Nông Nghiệp Sạch?
  • Đặc Điểm Của Sản Xuất Nông Nghiệp Và Vai Trò Của Nông Nghiệp
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Công An Trả Lời Về Làn Đường, Phần Đường
  • Nêu Khái Niệm Và Cho Ví Dụ Về Phản Xạ
  • Khái Niệm Quang Hợp Nào Dưới Đây Là Đúng
  • Trắc Nghiệm Sinh Học 11: Quang Hợp Ở Thực Vật
  • Khái Niệm Quốc Phòng An Ninh
  • Trong bài viết này cùng với tiểu luận triết học của chúng tôi sẽ là bài nghiên cứu sau đây

    A1. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

    Khái niệm liên hệ:

    A2. Nguyên lí về sự phát triển

    “Phát triển” là quá trình vận động từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn.

    Phát triển là vận động nhưng chỉ vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là phát triển. Vận động diễn ra trong không gian và thời gian, nếu thoát ly chúng thì không thể có phát triển. Do vậy, ở phương Tây trước Kant chưa có quan niệm về phát triển, vì trước đó người ta mới chỉ suy tư về không gian mà chưa suy tư gì về thời gian. Còn ở phương Đông với văn hóa coi trọng truyền thống, mà Nho giáo là điển hình, thì quan niệm phát triển không hẳn hướng về tương lai mà thường hướng về quá khứ. Một xã hội lí tưởng không phải là xã hội sẽ có mà là đã có. Như vậy, nếu người phương Tây xem vật chất vận động trong thời gian tuần hoàn. Xét từ cách tiếp cận phương Tây thì phương Đông không có khái niệm “phát triển”, mà chỉ có khái niệm “tăng trưởng”. Bởi lẽ, tăng trưởng là sự mở rộng ngưỡng về số lượng, quy mô theo hướng tích cực, nhưng không đi kèm biến đổi về chất, về cấu trúc.

    Như đã biết, vận động tuyệt đối và đứng yên tương đối là những thuộc tính cố hữu của các đối tượng vật chất. Vốn là sự thống nhất của bền vững và biến đổi, đối tượng không tồn tại vĩnh hằng. Những biến đổi diễn ra trong nó ở phạm vi một độ bền vững xác định có xu hướng phá vỡ sự bền vững đó và biến nó thành đối tượng khác, rồi đến lượt mình, do những biến đổi diễn ra ở mức độ tích lũy cao hơn, nó lại biến thành đối tượng thứ ba, và cứ thế mãi khiến cho vật chất, trong khi vận động, biến đổi thường xuyên, lại chuyển hóa không ngừng từ trạng thái bền này sang trạng thái bền khác. Nhưng xu hướng của những biến đổi đó là gì, cái gì nảy sinh thay thế các đối tượng đã bị hủy hoại?

    Một số nhà triết học cho là, vận động diễn ra theo vòng tròn, đời đời lặp lại vẫn những chu kì như cũ; một số khác lại khẳng định rằng, trong tiến trình những biến đổi thường xuyên lại diễn ra sự vận động từ cao xuống thấp, tức là thoái bộ; số thứ ba, ngược lại, giải thích toàn bộ những thay đổi diễn ra trong thế giới bằng sự vận động từ thấp đến cao. Thực tế thì có cả vận động từ thấp đến cao và từ cao xuống thấp, và vận động từ thấp tới cao, đi lên, là xu hướng hàng đầu trong số chúng; chính nó là thuộc tính căn bản cố hữu nội tại của vật chất. Tóm lại, sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản tới phức tạp, được gọi là phát triển. Ăngghen cho rằng phát triển là “mối liên hệ nhân quả của sự vận động tiến lên từ thấp đến cao thông qua tất cả những sự vận động chữ chi và những bước thụt lùi tạm thời…”

    Tính khách quan của sự phát triển

    Trước khi phép biện chứng duy vật ra đời, Hegel (Hêghen) đã không chỉ nêu ra khái niệm phát triển mà còn xây dựng phép biện chứng khá hoàn chỉnh bao gồm các nguyên lí, phạm trù, quy luật về sự phát triển. Sau này, chính Mác, Ăngghen và Lênin đều coi phép biện chứng của Hegel (Hêghen) là học thuyết toàn diện, sâu sắc, phong phú nhất về sự phát triển. Nhưng, vì Hegel (Hêghen) đã xây dựng phép biện chứng trên cơ sở duy tâm nên Mác, Ăngghen đã đặt ra nhiệm vụ đưa phép biện chứng thoát khỏi cái vỏ thần bí duy tâm, biến nó thành phép biện chứng duy vật, xây dựng khoa học chung nhất về sự phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy con người. Phát triển là công việc ở “dưới đất” chứ không phải là của “ý niệm tuyệt đối”, càng không phải là công việc của Thượng đế.

    Những tài liệu khoa học xưa nay đều chứng tỏ đầy thuyết phục về xu hướng vận động phức tạp khách quan (được gọi là phát triển) đó trong hiện thực. Chẳng hạn, ánh sáng phát ra từ các thiên thể biến thành các hạt chất, mà khi tích lũy ở số lượng lớn, đã tạo thành nguyên tử, sau đó thành phân tử của các chất xác định. Do tương tác mà các hạt vật chất này nóng lên, đậm đặc lại và ở thời điểm xác định đã tạo ra các hành tinh. Trong số đó, có những hạt do nảy sinh các điều kiện thuận lợi phù hợp (ví dụ trên Trái đất), mà các hợp chất hữu cơ phức tạp dần được tạo thành, và trong tiến trình tiếp theo (với những điều kiện đặc biệt) có khả năng biến chuyển thành các cơ thể sống. Sau khi xuất hiện, các sinh thể tiếp tục vận động và tương tác với môi trường rồi dần trở nên hoàn thiện, biến chuyển từ những “thể” chất sống giản đơn dưới mức tế bào, đến các cơ thể đơn bào, rồi từ thể đơn bào đơn giản nhất đến các thể đa bào, từ các sinh thể chỉ có thuộc tính phản xạ đến những sinh thể có thần kinh – tâm lí.

    Sự vận động từ thấp đến cao còn biểu hiện rõ trong lịch sử xã hội. Nhân loại đã bắt đầu tồn tại từ hình thái đơn giản như xã hội nguyên thủy, sau đó chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và cuối cùng là xã hội chủ nghĩa, mỗi lần đều chuyển sang kiểu đời sống xã hội mới cao hơn, hoàn thiện hơn. Trong xã hội con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của phát triển chủ yếu bằng thực tiễn sản xuất. Cho nên kinh tế luôn là cơ sở của phát triển xã hội. Học thuyết duy vật biện chứng về phát triển xã hội có nội dung chủ yếu là sự chuyển hóa từ hình thái kinh tế – xã hội thấp lên cao hơn, tiến bộ hơn; từ nền văn minh trình độ thấp lên nền văn minh trình độ cao hơn.

    Điều nói trên cũng đồng thời khẳng định phát triển là xu hướng phổ biến trong thế giới, cố hữu của vật chất. Song điều đó không có nghĩa là từng hình thức tồn tại cụ thể của vật chất, mỗi đối tượng riêng rẽ đều luôn phát triển. Bên cạnh những đối tượng phát triển, biến đổi từ thấp đến cao, thì vẫn có những đối tượng vận động vòng tròn, chuyển từ một trạng thái này sang trạng thái khác trong phạm vi của một giai đoạn phát triển, hoặc lại biến đổi từ cao xuống thấp. Vai trò hàng đầu của phát triển, tính phổ biến của nó biểu hiện không phải ở chỗ, tất cả các đối tượng nhất định phải phát triển, mà ở chỗ, chúng có khả năng phức tạp hóa, chuyển từ thấp lên cao khi có điều kiện tương ứng. Nơi nào đã có những điều kiện như thế nhất định sẽ có vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp; nơi nào còn thiếu những điều kiện đó thì sẽ chỉ có hoặc là sự vận động theo vòng tròn (sự thay đổi ở cùng cấp độ), hoặc là những biến đổi thụt lùi. Vả lại, những đối tượng đang vận động theo vòng tròn hay thụt lùi, cũng không mất khả năng chuyển từ thấp đến cao ngay khi điều kiện thuận lợi cho điều đó.

    Phát triển là quá trình đa dạngxzr

    Chỉ có thông qua một quá trình nhất định thì tất cả các đối tượng mới có thể thực hiện được sự phát triển. Mọi đối tượng tự nhiên, xã hội và tư duy đều trải qua quá trình phát triển, mà nếu xét từ hình thức thì đó là quá trình thay thế liên tục của đối tượng theo thời gian và tính chất không ngừng mở rộng về không gian; còn xét từ nội dung thì đó là sự đổi mới hình thức vận động, hình thái, kết cấu, chức năng và mối quan hệ của đối tượng. Sự phát triển của xã hội loài người thể hiện rõ nhất tính quá trình đó. Từ xã hội nguyên thủy đến xã hội chiếm hữu nô lệ, đến xã hội phong kiến, và xã hội tư sản rồi tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa. Điều đó biểu hiện xu thế phát triển chung của xã hội loài người. Như Việt Nam đang ở vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là quá trình xây dựng lâu dài để hướng tới chủ nghĩa cộng sản. Đây là một xu thế lịch sử không thể thay đổi bằng ý chí.

    Cần phân biệt hai khái niệm gắn với phát triển là tiến hóa và tiến bộ. Tiến hóa là một dạng của phát triển, diễn ra theo cách từ từ, và thường là sự biến đổi hình thức của tồn tại xã hội từ đơn giản đến phức tạp. Thuyết tiến hóa tập trung giải thích khả năng sống sót và thích ứng của cơ thể xã hội trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Trong khi đó, khái niệm tiến bộ đề cập đến sự phát triển có giá trị tích cực. Tiến bộ là một quá trình biến đổi hướng tới cải thiện thực trạng xã hội từ chỗ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn so với thời điểm ban đầu. Trong tiến bộ, khái niệm phát triển đã được lượng hóa thành tiêu chí cụ thể đánh giá mức độ trưởng thành của các dân tộc, các lĩnh vực của đời sống con người…

    Từ quan niệm, phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch rõ, thực chất của phát triển là sự phát sinh đối tượng mới phù hợp với quy luật tiến hóa và sự diệt vong của đối tượng cũ đã trở nên lỗi thời. Đối tượng mới chỉ là cái phù hợp với khuynh hướng tiến bộ của lịch sử, có tiền đồ rộng lớn; đối tượng cũ là cái đã mất vai trò tất yếu lịch sử, ngày càng đi vào xu hướng diệt vong. Không gì có thể chiến thắng được đối tượng mới, bởi vì:

    Một là, xét từ mối quan hệ giữa đối tượng mới và hoàn cảnh thì, nó sở dĩ là mới vì kết cấu và chức năng của nó thích ứng với điều kiện mới đã biến đổi; đối tượng cũ lại chỉ gồm các loại yếu tố và chức năng không còn phù hợp với hoàn cảnh đã biến đổi, xu thế diệt vong của nó là không thể cứu vãn được. Hai là, xét mối quan hệ giữa đối tượng cũ và đối tượng mới thì đối tượng mới là cái đã manh nha nảy mầm từ trong lòng đối tượng cũ, nó là cái phủ định những tiêu cực mục nát trong đối tượng cũ đồng thời lại bảo lưu được những cái hợp lí, thích hợp với điều kiện mới và bổ sung nội dung mới vốn chưa có ở đối tượng cũ. Hai phương diện đó là nguyên nhân có sức mạnh to lớn làm cho đối tượng mới về bản chất có thể vượt qua đối tượng cũ. Trong lĩnh vực lịch sử xã hội, đối tượng mới là kết quả của hoạt động sáng tạo theo hướng tiên tiến của xã hội; về cơ bản nó phù hợp với lợi ích và nhu cầu của đông đảo nhân dân, có khả năng bảo vệ được họ, do vậy nó tất yếu chiến thắng đối tượng cũ. Đặc biệt là trong thời kì diễn ra những biến động xã hội lớn, sự chiến thắng của đối tượng mới trước đối tượng cũ biểu hiện rất rõ. Nắm vững quy luật này là điều có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sáng tạo và phát triển của nước ta trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

    2. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

    2.1. Quan niệm biện chứng duy vật về phạm trù và sự hình thành phạm trù

    2.2. Cái chung và cái riêng

    2.4. Tất nhiên và ngẫu nhiên

    Quan niệm về tất nhiên được hình thành trên cơ sở làm rõ liên hệ nhân quả. Đầu tiên tất nhiên được xem như một đặc trưng của liên hệ nhân quả. Dần dần con người đã nhận ra, tất nhiên vốn có không chỉ ở liên hệ nhân quả, mà còn ở các mối liên hệ khác (như chức năng, cấu trúc…), và cũng không chỉ ở các mối liên hệ, mà còn ở sự tồn tại của các đối tượng và thuộc tính. Khái niệm tất nhiên tách ra khỏi khái niệm nhân quả, có tính độc lập và được xét không cùng cặp với nhân quả, mà với ngẫu nhiên.

    Sự xuất hiện và tồn tại của đối tượng cùng với các bộ phận, thuộc tính và những mối liên hệ có nguyên nhân trong chính mình và do bản chất nội tại của chúng quy định, được gọi là tất nhiên. Còn sự xuất hiện và tồn tại có nguyên nhân bên ngoài, ở cái khác, tức do ngoại cảnh quy định,được gọi là ngẫu nhiên. Những thuộc tính và liên hệ tất nhiên ở những điều kiện tương ứng tất yếu phải nảy sinh, còn sự xuất hiện của các thuộc tính và liên hệ ngẫu nhiêu không nhất thiết, chúng có thể có mà cũng có thể không. Trong hiện thực khách quan, không có tất nhiên thuần túy, tồn tại cô lập, mà nó liên hệ hữu cơ với ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên cũng tồn tại khách quan, bên ngoài và không phụ thuộc ý thức cũng như hoạt động nhận thức của con người.

    Sự tồn tại khách quan của cả tất nhiên lẫn ngẫu nhiên đều có nguồn gốc từ tính nhân quả. Nếu cơ sở của tất nhiên là một mối liên hệ nhân quả tuyến tính duy nhất, thì cơ sở của ngẫu nhiên là sự giao thoa của hai (hay một số) liên hệ nhân quả. Các mắt xích của từng dãy gắn với nhau một cách tất yếu, nhưng sự giao thoa của chúng lại tạo ra những nguyên nhân mới, làm xuất hiện những tương tác không bắt nguồn từ bản chất nội tại của các đối tượng tham gia tương tác khiến sinh ra các đối tượng ngẫu nhiên. Tuy là ngẫu nhiên nhưng những tương tác này cũng tất yếu gây ra những biến đổi. Như vậy, tất nhiên và ngẫu nhiên gắn bó hữu cơ, tương tác với nhau, rồi chuyển hóa vào nhau, quy định sự xuất hiện những đối tượng và trạng thái chất mới.

    Tính quy luật của mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên

    Từng đối tượng trong cùng thời gian vừa là tất nhiên, vừa là ngẫu nhiên. Một số thuộc tính và mối liên hệ của nó do những nguyên nhân bên trong quy định, thể hiện bản chất, một số thuộc tính và mối liên hệ khác của do các nguyên nhân bên ngoài, do sự tương tác của nó với môi trường xung quanh. Các số khác này ngẫu nhiên có mặt, do vậy chỉ là hình thức thể hiện của các thuộc tính và mối liên hệ tất nhiên. Tất nhiên mở đường đi cho mình thông qua vô vàn những ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên thường biểu hiện như là các xu hướng của tất nhiên, chúng mang vào quá trình cụ thể những phương án mới không là tất nhiên, mà do những hoàn cảnh bên ngoài quy định.

    Do vậy, hoạt động thực tiễn không thể hướng vào ngẫu nhiên, mà phải dựa vào cái tất nhiên. Còn trong nhận thức, việc nắm bắt cái tất nhiên là nhiệm vụ cơ bản của khoa học, nhưng vì cái tất nhiên thường biểu hiện thông qua nhiều cái ngẫu nhiên, khiến cho ngẫu nhiên trở thành hình thức của tất nhiên, nên nhận thức nó cần thông qua nghiên cứu cái ngẫu nhiên, vạch ra trong ngẫu nhiên những xu hướng tất nhiên.

    Là hình thức biểu hiện của tất nhiên, ngẫu nhiên còn là sự bổ sung cho cái tất nhiên, bởi lẽ nội dung của cái tất nhiên không chỉ gồm bản chất đặc thù của đối tượng, mà còn có những điểm đặc thù của đối tượng khác tương tác với nó. Không chỉ lệ thuộc và liên hệ với nhau, trong tiến trình vận động của đối tượng, mà chúng luôn chuyển hóa, thay đổi vị trí cho nhau, ngẫu nhiên trở thành tất nhiên, và ngược lại. Sự chuyển hóa này thể hiện rõ qua ví dụ về sự phát triển các loài sinh vật, và phần nào trong xã hội loài người.

    Việc nhận thức những mối liên hệ nhân quả tất nhiên mới buộc phải làm sáng tỏ tổ chức của những mối liên hệ đó. Cùng với việc tích lũy tri thức về đối tượng như là chỉnh thể các bộ phận tương tác liên hệ với nhau, con người cần xây dựng các phạm trù tương ứng là nội dung và hình thức.

    Nội dung của đối tượng là tổng thể các bộ phận, yếu tố hợp thành nó, những tương tác và biến đổi trong nó. Nội dung không chỉ bao gồm các bộ phận và sự tương tác của chúng với nhau, tức là những tương tác bên trong, mà còn quy định cả những tương tác với những đối tượng bên ngoài khác. Chẳng hạn, nội dung của phương thức sản xuất gồm hai bộ phận là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất mà trong sự thống nhất với nhau chúng cùng quy định đời sống xã hội, chính trị và tinh thần của con người – là những yếu tố nằm ngoài phương thức sản xuất.

    Hình thức của đối tượng là cách thức tổ chức, sắp xếp, liên hệ các bộ phận của nó. Hình thức của phương thức sản xuất là mối liên hệ được thể hiện trong quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất. Hình thức của tác phẩm nghệ thuật – trước hết là sự phối cảnh, tình tiết và ngôn ngữ…

    Mọi đối tượng đều luôn có cả nội dung lẫn hình thức. Không ở đâu và không khí nào lại có nội dung thiếu hình thức và hình thức phi nội dung. Trong khi liên hệ hữu cơ với nhau nội dung và hình thức là những mặt đối lập của đối tượng. Biến đổi là xu hướng chủ đạo của nội dung. Còn bền vững lại là xu hướng chủ đạo của hình thức.

    Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức

    Vì mỗi bộ phận, thuộc tính của đối tượng tất yếu phải có những mối liên hệ với nhau, cho nên, nội dung đã bao chứa cả hình thức. Mặt khác, sự tổ chức các mối liên hệ bền vững đồng thời là sự tổ chức các bộ phận. Do vậy, có thể nói, cả hình thức cũng chứa nội dung, và ngay cả trong tư duy, trong sự trừu tượng cũng không thể tách biệt hoàn toàn hình thức khỏi nội dung và ngược lại. Nội dung và hình thức thống nhất với nhau, nhưng chúng có ý nghĩa không như nhau. Nội dung giữ vai trò quyết định, còn hình thức – bị quyết định. Bản thân sự xuất hiện của hình thức và nhiều đặc điểm của nó bị quy định bởi nội dung. Nhưng hình thức có tính tự trị nhất định, tính độc lập tương đối so với nội dung, và cũng tác động lên nó. Sự tác động thường theo hai kiểu. Thứ nhất, hình thức có thể đẩy nội dung phát triển nhanh, khi nó về cơ bản phù hợp với nội dung. Thứ hai, hình thức có thể làm chậm tốc độ phát triển của nội dung, nếu không còn phù hợp với nó.

    Ở thời kì đầu tồn tại, hình thức của đối tượng phù hợp với nội dung và do vậy giữ vai trò tích cực trong sự phát triển của nó. Với sự hỗ trợ tích cực của hình thức, nội dung phát triển càng ngày càng xa, còn hình thức về cơ bản vẫn giữ nguyên không đổi. Thời gian qua đi và khuôn khổ chật hẹp của hình thức cũ bắt đầu cản trở nội dung đang biến đổi. Hình thức không còn phù hợp với nội dung nữa, trở nên kìm hãm sự phát triển của nội dung. Sự không tương thích ngày càng lớn dần, giữa chúng xảy ra xung đột. Và cuối cùng nội dung đã đi xa về phía trước vứt bỏ hình thức quá cũ kĩ, thủ tiêu nó. Nhưng thời điểm thủ tiêu hình thức đồng thời cũng là thời điểm biến đổi của nội dung. Sự thủ tiêu những mối liên hệ bền vững đòi hỏi sự biến đổi mạnh các bộ phận của nó và chấm dứt những tương tác lẫn nhau đã tồn tại trước đó. Như vậy, sự phù hợp hình thức và nội dung, sự thống nhất của chúng, cũng như thống nhất chất và lượng, là ranh giới tồn tại của đối tượng.

    Từ mối quan hệ giữa nội dung và hình thức có thể rút ra kết luận cho thực tiễn. Vì nội dung quyết định hình thức, nên để làm đối tượng biến đổi theo mục đích thì cần gây ra những biến đổi chủ yếu trong nội dung của nó. Vì hình thức chỉ thúc đẩy sự phát triển của nội dung khi phù hợp với nó nên nếu muốn tác động đẩy nhanh sự phát triển của đối tượng, tất yếu phải thường xuyên theo dõi nội dung đang phát triển trong một hình thức tụt hậu, thấy được mức độ xuất hiện sự không tương thích giữa chúng để can thiệp vào tiến trình khách quan, tạo ra những thay đổi tất yếu trong hình thức, làm cho nó trở lại tương thích với nội dung đang phát triển và đảm bảo không cản trở sự phát triển tiếp theo.

    Việc bỏ qua quy luật đó dẫn đến những hậu quả xấu trong thực tiễn. Thói trì trệ, chậm đổi mới các hình thức và phương pháp quản lí, sự gia tăng tệ quan liệu, tuyệt đối hóa những hình thức tổ chức xã hội được hình thành trước đây trong thực tiễn là một trong những nguyên nhân chính của tình trạng khủng hoảng xã hội và của những xu hướng bất lợi đã bộc lộ ở nước ta những năm gần đây. Xã hội có đạt tới sự phát triển mới về chất hay không phần nhiều phụ thuộc vào việc đổi mới đến đâu những hình thức xã hội già cõi, phong cách và phương pháp làm việc cũ, đưa chúng vào phù hợp đến mức độ nào với những điều kiện đang thay đổi.

    2.7. Bản chất và hiện tượng

    Khi đã tích lũy các tri thức về thuộc tính và liên hệ tất nhiên riêng rẽ của đối tượng, khám phá những quy luật vận hành và phát triển của nó, thì cũng sẽ xuất hiện nhu cầu kết hợp các tri thức, đưa chúng về một mối. Giai đoạn phát triển này của nhận thức ứng với sự tái tạo lại bản chất như là tổng thể các thuộc tính và các mối liên hệ (quy luật) tất nhiên của đối tượng. Vì bản chất là chỉnh thể được phân tách ra thành tập hợp các mặt liên hệ lẫn nhau, các quan hệ phản ánh cái tất nhiên ở dạng thuần túy, nên nhận thức chỉ có thể tái tạo lại nó thông qua các mô hình tư tưởng, các khái niệm, qua việc xây dựng lí luận.

    Như vậy, phạm trù bản chất phản ánh cái bên trong, cái tất nhiên của đối tượng. Bản chất là tổng thể tất cả các thuộc tính và mối liên hệ tất nhiên được xét trong sự phụ thuộc lẫn nhau tự nhiên của chúng, các quy luật vận hành và phát triển của đối tượng. Bản chất xuất hiện, định hình và phát triển cùng với hiện tượng là phạm trù chỉ sự bộc lộ cái bên trong của đối tượng ra mặt ngoài, thông qua vô vàn các thuộc tính và mối liên hệ ngẫu nhiêu được vạch ra do kết quả tương tác của nó với các đối tượng khác. Hiện tượng là những biểu hiện bề ngoài của các mặt và mối liên hệ.

    Mối liên hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng.

    Bản chất của đối tượng mang tính khách quan, tồn tại không phụ thuộc vào ý thức con người. Trong khi tồn tại thực, nó gắn bó hữu cơ với hiện tượng, chỉ lộ rõ mình trong và thông qua hiện tượng. Hiện tượng cũng gắn liền với bản chất, không thể tồn tại thiếu nó. Lênin nhấn mạnh mối liên hệ đó như sau: “Bản chất hiện ra. Hiện tượng là có tính bản chất”.

    Là hình thức biểu hiện của bản chất, hiện tượng khác với nó: nhiều khi bản chất hiện ra dưới dạng xuyên tạc như trường hợp giá trị của hàng hóa chẳng hạn. Hiện tượng luôn phong phú hơn bản chất. Điều này thể hiện rõ qua ví dụ về tương quan giữa giá trị và giá cả của hàng hóa. Giá cả của hàng hóa luôn đa dạng (phong phú) hơn giá trị của nó, bởi lẽ trong chúng không chỉ biểu hiện sự phụ thuộc vào lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất một đơn vị hàng hóa, mà còn vào nhiều yếu tố bên ngoài, như tương quan cung cầu, yếu tố đầu cơ hàng hóa đó trên thị trường.

    Ngược với hiện tượng thường đa dạng và hay biến đổi, thì bản chất lại là cái bền vững, tự bảo toàn trong phần lớn các biến đổi đó. Chẳng hạn, giá cả hàng hóa thường xuyên biến động, nhưng giá trị của nó ở khoảng thời gian nhất định thường không đổi. Thể hiện tính quy luật đó của mối tương quan bản chất và hiện tượng, Lênin viết: “… cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt, thường biến mất, không bám “chắc”, không “ngồi vững” bằng “bản chất”.

    Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bản chất hoàn toàn không đổi. Sự thay đổi của nó chậm hơn ở hiện tượng. Nó biến đổi do, trong quá trình phát triển của đối tượng một số mặt và mối liên hệ tất nhiên bắt đầu tăng cường, giữ vai trò lớn hơn, những số khác lại bị đẩy xuống hàng dưới hoặc biến mất hẳn. Lênin viết: “Không phải chỉ riêng hiện tượng là tạm thời, chuyển động, lưu động, bị tách rời bởi những giới hạn chỉ có tính chất ước lệ, mà bản chất của sự vật cũng như thế.

    Tính quy luật của nhận thức bản chất

    Vì bản chất chỉ thể hiện thông qua hiện tượng và hiện tượng biểu thị nó dưới dạng cải biến, và thường là bị xuyên tạc, cho nên, thứ nhất, trong nhận thức không chỉ tự giới hạn ở việc ghi nhận cái nằm trên bề mặt đối tượng, mà cần phải thâm nhập vào bên trong đối tượng và phải nhìn ra bản chất thực khuất sau hiện tượng; thứ hai, hoạt động thực tiễn cũng không thể xuất phát từ những hiện tượng riêng, mà trước hết cần phải làm theo tri thức về bản chất, các quy luật vận hành và phát triển của đối tượng.

    3. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

    3.1. Quan niệm biện chứng duy vật về quy luật

    3.2. Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại

    3.3. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững
  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Những Quy Luật Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc, Bản Chất Của Ý Thức Theo Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Về Bản Chất Hiện Tượng Tâm Lý Con Người
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Công Tác Phát Triển Vốn Tài Liệu Tại Thư Viện Huyện Lập Thạch
  • CHƯƠNG VIII

    NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

    Mục tiêu:

    Khi học xong chương này anh/chị sẽ:

    – Nắm được nội dung cốt lõi của 3 quy luật của phép biện chứng duy vật (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng- chất và quy luật phủ định của phủ định);

    – Hiểu được nguồn gốc, động lực, cách thức và khuynh hướng phát triển của sự vật cùng ý nghĩa phương pháp luận của 3 quy luật này đối với học tập và giải quyết những vấn đề thực tiễn nảy sinh.

    Nội dung:

    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT

    1. KháI niệm “quy luật”

    Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các sự vật hiện tượng, giữa các thuộc tính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật.

    Các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người đều mang tính khách quan. Con người chỉ có thể nhận thức quy luật để vận dụng chúng chứ không thể tuỳ tiện xoá bỏ quy luật.

    Các quy luật được phản ánh trong các khoa học cũng không phải là sự sáng tạo tuỳ ý của con người mà là sự phản ánh các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy mà thôi.

    2. Phân loại quy luật

    Người ta có thể phân loại quy luật theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ vào mức độ tính phổ biến chia thành :

    Quy luật riêng – tác động trong những phạm vi nhất định, ví dụ, quy luật đấu tranh sinh tồn chỉ tồn tại trong thế giới động vật;

    Qquy luật chung – tác động trong phạm vi rộng hơn các quy luật riêng. Ví dụ, quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng. Quy luật này tác động trong phạm vi rộng hơn, trong một loạt sự vật, hiện tượng (nhiệt năng, cơ năng, điện năng, v.v.);

    Quy luật phổ biến – tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy (các quy luật của phép biện chứng duy vật). Ví dụ, quy luật phủ định của phủ định tồn tại cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chia thành:

    Quy luật tự nhiên – nẩy sinh, tác động trong lĩnh vực tự nhiên. Ví dụ, quy luật đồng hoá và dị hoá;

    Quy luật xã hội – nẩy sinh và tác động trong lĩnh vực xã hội. Ví dụ, quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp;

    Quy luật tư duy – nẩy sinh, tác động trong lĩnh vực tư duy. Ví dụ, quy luật kế thừa, v.v.

    Quy luật của phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Các quy luật này phản ánh sự vận động, phát triển của sự vật dưới những phương diện cơ bản nhất. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật. Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướngvận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

    II. QUY LUẬT CHUYỂN HOÁ TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG THÀNH NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI

    1. Khái niệm chất và khái niệm lượng

    a. Khái niệm chất

    Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà không phải cái khác; ví dụ, cái bàn, cái ghế, v.v.

    Để hiểu chất là gì cần hiểu thuộc tính là gì? Thuộc tính về chất là một khía cạnh nào đó về chất của sự vật được bộc lộ ra khi tác động qua lại với các sự vật khác. Đó có thể là tính chất, trạng thái, yếu tố, v.v của sự vật. Ví dụ, chất của đồng chỉ bộc lộ ra khi đồng tác động qua lại với nhiệt độ, không khí, điện, v.v. Chất của một người được bộc lộ ra qua quan hệ của người đó với những người khác và qua công việc mà người đó làm, v.v.

    Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính. Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơ bản của sự vật. Như vậy, sự vật cũng có nhiều chất.

    Chất của sự vật là khách quan, vì đó là chất của sự vật, không do ai gán cho sự vật. Nó do thuộc tính của sự vật quy định.

    b. Khái niệm lượng

    Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành sự vật.

    Lượng được thể hiện thành số lượng, đại lượng, trình độ, quy mô, nhịp điệu của sự vận động và phát triển. Chẳng hạn chỉ kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, tốc độ nhanh hay chậm v.v. Ví dụ, khi nói sinh viên năm thứ hai, thì sinh viên là chất để phân biệt với công nhân, bộ đội, còn năm thứ hai chính là lượng, chỉ trình độ của sinh viên.

    Lưu ý là sự phân biệt chất và lượng cũng chỉ là tương đối. Cái trong mối quan hệ này được coi là chất thì trong mối quan hệ khác được coi là lượng. Ví dụ, số 4 trong mối quan hệ phân biệt với các số nguyên, dương khác thì nó được coi là chất. Nhưng trong mối quan hệ số 4 có tổng số bằng 4 số 1 cộng lại, hay bằng 2 số 2 cộng lại thì khi ấy nó được coi là lượng.

    2. Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất

    a. Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất

    Mỗi sự vật đều có lượng, chất và chúng thay đổi trong quan hệ chặt chẽ với nhau. Lượng thay đổi nhanh hơn chất, nhưng không phải mọi thay đổi của lượng đều ngay lập tức làm thay đổi căn bản về chất.

    Sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất chỉ trong giới hạn nhất định. Vượt quá giới hạn đó sẽ làm cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời.

    Giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm thay đổi về chất được gọi là độ. Nói cách khác, độ là phạm trù triết học chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho sự thay đổi căn bản về chất của sự vật diễn ra. Ví dụ, độ của chất sinh viên là từ khi nhập học tới trước khi bảo vệ thành công đồ án, luận văn tốt nghiệp.

    Những điểm giới hạn mà khi sự thay đổi về lượng đạt tới đó sẽ làm cho sự thay đổi về chất của vật diễn ra được gọi là điểm nút. Thời điểm bảo vệ thành công đồ án, hoặc luận văn tốt nghiệp của sinh viên là điểm nút để chuyển từ chất sinh viên lên chất cử nhân.

    Sự thay đổi về chất do những thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước nhảy. Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới. Bước nhảy vọt làm cho sự vật phát triển bị gián đoạn.

    b. Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng

    Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng mới (làm thay đổi quy mô, nhịp điệu, tốc độ v.v phát triển của sự vật). Ví dụ, khi trở thành cử nhân thì tốc độ đọc, hiểu vấn đề tốt hơn khi còn là sinh viên, v.v. Như vậy, không chỉ sự thay đổi về lượng gây nên những thay đổi về chất mà cả sự thay đổi về chất cũng gây nên những thay đổi về lượng.

    c. Các hình thức của bước nhảy

    Bước nhảy để chuyển hoá về chất của sự vật hết sức đa dạng, phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy, người ta chia bước nhảy thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần.

    Bước nhảy đột biến, chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản, cấu thành sự vật. Ví dụ, phản ứng hạt nhân (Ur 235 đạt đến khối lượng nhất định sẽ xảy ra vụ nổ hạt nhân) rất nhanh và làm thay đổi chất của sự vật nhanh chóng.

    Bước nhảy dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ. Ví dụ, quá trình chuyển biến vượn người thành người diễn ra hàng vạn năm, hết sức lâu dài. Cần lưu ý, bước nhảy dần dần (là sự chuyển hoá dần dần sang chất mới) khác sự thay đổi dần dần về lượng (tích luỹ liên tục về lượng, ví dụ như sự tích luỹ tiền gửi tiết kiệm) của sự vật.

    Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật, người ta chia thành bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ.

    Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật. Ví dụ, khi thực hiện cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta đã thực hiện bước nhảy toàn bộ trên tất cả các mặt đời sống kinh tế – chính trị – xã hội – văn hoá – đạo đức, v.v.

    Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố, bộ phận của sự vật đó. Ví dụ, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay đang hàng ngày, hàng giờ làm thay đổi từng mặt đời sống kinh tế – xã hội – văn hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa.

    Trong lĩnh vực xã hội, thay đổi về lượng được gọi là “tiến hoá”, thay đổi về chất được gọi là “cách mạng”.

    Tóm lại, sự thống nhất giữa lượng và chất trong sự vật tạo thành độ của sự vật. Những thay đổi về lượng dần dần đến giới hạn nhất định thì xảy ra bước nhảy, chất cũ bị phá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới. Đó chính là cách thức phát triển của sự vật. Quá trình này diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng vận động, biến đổi.

    3. Ý nghĩa phương pháp luận

    Trong hoạt động thực tiễn, muốn có thay đổi về chất của sự vật phải tích luỹ về lượng, không được nóng vội chủ quan.

    Trong hoạt động thực tiễn cần tránh rơi vào “tả khuynh” – nhấn mạnh bước nhảy khi chưa đủ sự tích luỹ về lượng; bởi lẽ, khi ấy rất dễ rơi vào phiêu lưu, mạo hiểm. Đồng thời, phải tránh “hữu khuynh” – tuyệt đối hoá sự tích luỹ về lượng, không dám thực hiện bước nhảy khi đã đủ sự tích luỹ về lượng; khi ấy dễ rơi vào bảo thủ, trì trệ, ngại khó.

    Khi tích luỹ về lượng đã đủ cần thực hiện bước nhảy, tránh bảo thủ, trì trệ, ngại khó.

    Trong hoạt động thực tiễn cần phân biệt đúng các hình thức của bước nhảy và vận dụng sáng tạo bước nhảy.

    Để sự vật còn là nó phải nhận thức được độ của nó và không để cho lượng thay đổi vượt quá giới hạn độ. Ví dụ, khi sử dụng đồ điện phải chú ý tới công xuất, điện áp của nó, nếu không sẽ cháy, v.v.

    III. QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

    1. Khái niệm các mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

    Mặt đối lập biện chứng là phạm trù triết học chỉ những mặt có đặc điểm, thuộc tính, tính quy định có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau tồn tại khách quan trong sự vật. Ví dụ, đồng hoá và dị hoá trong cơ thể động vật, cực bắc và cực nam trong thanh nam châm, điện tích dương và điện tích âm trong dòng điện, v.v.

    Mâu thuẫn biện chứng là sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau của hai mặt đối lập biện chứng. Mâu thuẫn được hình thành từ hai mặt đối lập nhưng không phải bất kỳ hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Chỉ khi hai mặt đối lập cùng tồn tại trong cùng một sự vật, trong cùng một thời gian, về cùng một mối liên hệ và thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau mới tạo thành mâu thuẫn. Ví dụ, đồng hoá và dị hoá trong cùng một cơ thể động vật; cùng về một mối liên hệ ở đây là cùng về năng lượng (đồng hoá là nạp năng lượng, dị hoá là giải phóng năng lượng); đồng hoá và dị hoá thường xuyên tác động theo nghĩa nhờ đồng hoá mà cơ thể mới có nhu cầu dị hoá. Ngược lại nhờ dị hoá thì cơ thể mới đồng hoá được.

    Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo 3 nghĩa:

    Thứ nhất, các mặt đối lập nương tựa vào nhau, làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau. Như ví dụ trên, đồng hoá làm tiền đề cơ sở cho dị hoá và dị hoá làm tiền đề cơ sở cho đồng hoá. Không có đồng hoá thì cũng chẳng có dị hoá và ngược lại.

    Thứ hai, giữa hai mặt đối lập có những yếu tố đồng nhất, giống nhau, tương đồng nhau. Trong ví dụ trên thì đồng hoá cần đến dị hoá và dị hoá cần đến đồng hoá. Điểm giống nhau là cần đến nhau. Tương tự như nhà đầu tư tư bản và nước ta, mặc dù là đối lập nhau nhưng có điểm chung là lợi ích. Lợi ích chính là điểm giống nhau.

    Thứ ba, giữa hai mặt đối lập có trạng thái cân bằng, tác động ngang nhau. Trong ví dụ trên, đó chính là lúc con người không đói và cũng không khát. Đấy là lúc đồng hoá và dị hoá cân bằng nhau, tác động ngang nhau. Trong xã hội, đó là thời kỳ quá độ. Trong thời kỳ quá độ cái cũ và cái mới đan xen nhau, chưa cái nào thắng cái nào; xã hội mới chưa khẳng định được mình, xã hội cũ thì chưa mất hoàn toàn.

    Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập. Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, vì nó diễn ra thường xuyên, liên tục, trong tất cả quá trình vận động, phát triển của sự vật; ngay trong sự thống nhất của các mặt đối lập cũng hàm chứa những nhân tố phá vỡ sự thống nhất đó. Vì vậy, thống nhất của các mặt đối lập là tương đối.

    2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển

    Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật. Bởi lẽ, khi các mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vật còn là nó. Nhưng khi mâu thuẫn từ khác biệt trở nên gay gắt cần giải quyết thì khi ấy sự thống nhất cũ của sự vật mất đi, xuất hiện sự thống nhất mới, chính là sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ. Sự thống nhất mới này lại mâu thuẫn nhau, rồi lại được giải quyết, cứ như vậy sự vật vận động, biến đổi, phát triển. Nói cách khác, khi hai mặt đối lập tác động lẫn nhau, cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn biến đổi và được giải quyết thì mâu thuẫn cũ mất đi làm sự vật không còn là nó. Sự vật mới ra đời, mâu thuẫn mới lại xuất hiện. Cứ như vậy sự vật vận động, phát triển. Lưu ý rằng, cả thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đều có vai trò quan trọng trong sự vận động, phát triển của sự vật.

    3. Phân loại mâu thuẫn

    Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.

    Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập nhau của cùng một sự vật. Ví dụ, mâu thuẫn giữa đột biến và di truyền trong cơ thể động vật.

    Mâu thuẫn bên ngoài là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập nhau của các sự vật khác nhau. Ví dụ, mâu thuẫn giữa con người với môi trường tự nhiên bên ngoài.

    Sự phân chia thành mâu thuẫn bên trong và bên ngoài chỉ có tính tương đối. Trong mối liên hệ này một mâu thuẫn nào đó được coi là mâu thuẫn bên trong, nhưng trong mối liên hệ khác lại được coi là mâu thuẫn bên ngoài. Ví dụ, mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên nếu ta lấy con người và tự nhiên làm sự vật thì đó là mâu thuẫn bên ngoài. Nhưng nếu ta lấy mối liên hệ giữa hệ thiên hà và mặt trời làm sự vật thì đó có thể lại là mâu thuẫn bên trong hệ thiên hà mặt trời của chúng ta, v.v.

    Mâu thuẫn bên trong đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự vận động phát triển của sự vật. Mâu thuẫn bên ngoài đóng vai trò quan trọng nhưng chỉ phát huy tác dụng thông qua mâu thuẫn bên trong. Giải quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài. Giải quyết mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện để giải quyết mâu thuẫn bên trong.

    Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, người ta chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.

    Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật và tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Ví dụ, mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nước ta là mâu thuẫn giữa khuynh hướng tự giác lên chủ nghĩa xã hội với khuynh hướng tự phát lên chủ nghĩa tư bản.

    Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật và quy định sự vận động phát triển của phương diện đó của sự vật. Ví dụ, mâu thuẫn giữa lao động trí óc và lao động chân tay trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển của sự vật trong một giai đoạn phát triển nhất định, người ta chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu.

    Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật.

    Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết định việc giải quyết các mâu thuẫn khác ở giai đoạn đó của sự vật.

    Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.

    Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoàn người, những nhóm xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hoà. Ví dụ, mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa.

    Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích nhưng đó không phải là lợi ích cơ bản, mà chỉ là lợi ích cục bộ, tạm thời. Ví dụ, mâu thuẫn giữa công nhân và nông dân về những lợi ích tạm thời nào đó.

    Từ trên rút ra nội dung quy luật mâu thuẫn: Mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến đổi ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập. Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn. Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hoá lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.

    4. Ý nghĩa phương pháp luận

    Cần phải thấy được động lực phát triển của sự vật không phải ở ngoài sự vật mà là những mâu thuẫn trong bản thân sự vật.

    Mâu thuẫn là khách quan, phổ biến nên nhận thức mâu thuẫn là cần thiết và phải khách quan. Không nên sợ mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn.

    Trong hoạt động thực tiễn phải biết xác định trạng thái chín muồi của mâu thuẫn để giải quyết kịp thời.

    Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi, cho nên không được giải quyết mâu thuẫn nóng vội khi chưa có điều kiện chín muồi, nhưng cũng không được để việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra tự phát. Nếu điều kiện chưa chín muồi có thể thông qua hoạt động thực tiễn để thúc đẩy điều kiện nhanh đến.

    IV. QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH

    1. Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng

    Phủ định là khái niệm chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động và phát triển.

    Phủ định siêu hình là sự phủ định sạch trơn, sự phủ định không tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo, không tạo cho cái mới ra đời, lực lượng phủ định là ở bên ngoài sự vật.

    Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tự phủ định, sự phủ định tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của sự vật, sự phủ định tạo tiền đề cho cái mới ra đời thay thế cái cũ, lực lượng phủ định ở ngay trong bản thân sự vật.

    Phủ định biện chứng có đặc điểm:

    + Khách quan, tự thân sự vật phủ định, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Đó là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật quy định.

    + Có tính kế thừa (có sự liên hệ giữa cái cũ và cái mới), không phủ định sạch trơn hoàn toàn cái cũ, mà kế thừa có lọc bỏ những cái cũ không còn phù hợp.

    2. Nội dung của quy luật phủ định của phủ định

    Phủ định của phủ định là khái niệm nói lên rằng, sự vận động, phát triển của sự vật thông qua hai lần phủ định biện chứng, dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng cao hơn.

    Phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình. Sau những lần phủ định tiếp theo, đến một lúc nào đó sẽ ra đời sự vật mới mang nhiều đặc trưng giống với sự vật ban đầu (xuất phát). Như vậy, về hình thức là trở lại cái ban đầu song không phải giống nguyên như cũ, dường như lặp lại cái cũ nhưng cao hơn. Ví dụ, hạt ngô (cái ban đầu khẳng định) – cây ngô (phủ định lần 1 – đối lập với hạt ngô – cái xuất phát) – bắp ngô (phủ định lần 2 – phủ định của phủ định).

    Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc một chu kỳ phát triển, đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo, tạo ra đường xoáy ốc của sự phát triển. Mỗi đường mới của đường xoáy ốc thể hiện một trình độ cao hơn của sự phát triển. Sự nối tiếp nhau của các vòng xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển.

    Lưu ý, trong hiện thực, một chu kỳ phát triển của sự vật có thể bao gồm nhiều lần phủ định biện chứng. Ví dụ, con tằm thực hiện một chu kỳ phát triển qua 4 lần phủ định biện chứng. Nhưng ít nhất để thực hiện một chu kỳ phải thông qua hai lần phủ định biện chứng.

    3. Ý nghĩa phương pháp luận

    Quy luật phủ định của phủ định cho ta cơ sở để hiểu sự ra đời của cái mới, mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới.

    Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống thái độ phủ định sạch trơn; đồng thời, phải biết sàng lọc những gì tích cực của cái cũ.

    Chống thái độ hư vô chủ nghĩa; đồng thời, chống bảo thủ khư khư ôm lấy những gì đã lạc hậu lỗi thời, không chịu đổi mới.

    Phải hiểu phát triển không phải là đường thẳng mà theo đường xoáy ốc đi lên. Nghĩa là, có nhiều khó khăn, phức tạp trong quá trình vận động, phát triển. Phát triển không phải là đường thẳng.

    TÓM LƯỢC NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GHI NHỚ

    Trong chương này, anh/chị cần ghi nhớ:

    1. Quy luật là gì; căn cứ để phân loại quy luật; sự khác nhau giữa quy luật mà triết học nghiên cứu với các quy luật mà các khoa học chuyên ngành nghiên cứu.

    2. Hiểu được nội dung và ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.

    3. Anh/chị cố gắng vận dụng những hiểu biết khi học quy luật này vào học tập và lý giải một số vấn đề nảy sinh từ cuộc sống. Làm được như vậy, anh/chị sẽ thấy thích thú hơn khi học những quy luật này.

    Chúc anh/chị thành công!

    CÂU HỎI SUY LUẬN

    Câu hỏi 1: Tại sao không gọi là quy luật phủ định mà phải gọi là “quy luật phủ định của phủ định”?

    Gợi ý: Vì phải qua 2 lần phủ định biện chứng, sự vật mới dường như quay trở về điểm ban đầu nhưng cao hơn về chất. Nếu chỉ một lần phủ định thì chưa hoàn thành một chu kỳ phát triển của sự vật.

    Câu hỏi 2: Phải qua ít nhất mấy lần phủ định thì kết thúc một chu kỳ phát triển của sự vật?

    Gợi ý: ít nhất phải qua 2 lần, trong thực tế có sự vật phải qua nhiều lần phủ định biện chứng mới kết thúc một chu kỳ phát triển.

    Câu hỏi 3: Có trên thực tế không, có sự vật phải qua 3, 4, 5 lần mới kết thúc một chu kỳ phủ định của phủ định? (có, tìm ví dụ nuôi tằm).

    Câu hỏi 4: Tập lập luận phân tích nhận định: Nếu ai bắn vào quá khứ bằng súng ngắn (lục), thì tương lai sẽ bắn vào anh ta bằng đại bác.

    Gợi ý: Phủ định quá khứ ít thì bị tương lai (hiện tại đối với tương lai là quá khứ) phủ định hàng nghìn lần; nghĩa là, phải có thái độ đúng đối với quá khứ, không được phủ định sạch trơn.

    Câu hỏi 5: Phá huỷ một cái cây không cho nó phát triển nữa có phải là phủ định biện chứng không?

    Gợi ý: Không phải là phủ định biện chứng vì đó là phá huỷ hoàn toàn, không tạo tiền đề cho sự vật phát triển tiếp theo, lực lượng phủ định lại là con người ở bên ngoài sự vật.

    Câu hỏi 6: Ta cho các tập đoàn kinh tế tư bản vào kinh doanh ở nước ta có đi ngược với quy luật mâu thuẫn không?

    Gợi ý: Ta và chủ nghĩa tư bản nói chung (các tập đoàn kinh tế tư bản nói riêng) là mâu thuẫn, đối lập nhau. Nhưng ta cho phép họ vào kinh doanh lại không mâu thuẫn với quy luật mâu thuẫn, cụ thể là không trái với quan điểm của triết học Mác-Lênin về thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Cụ thể ở đây là giữa ta và các tập đoàn kinh tế tư bản này có điểm chung đó là lợi ích. Theo quy luật mâu thuẫn thì ở đây có sự thống nhất của các mặt đối lập. Hơn nữa, các tập đoàn kinh tế này vào phải được sự cho phép của Nhà nước ta, tuân thủ theo luật pháp của ta. Trong các hiệp định kinh tế phải đảm bảo tuân thủ pháp luật nước ta, v.v.

    Câu hỏi 7: Mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ ở nước ta là gì?

    Gợi ý: Đó là mâu thuẫn giữa khuynh hướng tự phát lên chủ nghĩa tư bản và khuynh hướng tự giác lên chủ nghĩa xã hội. Mâu thuẫn này nảy sinh và tồn tại trong suốt thời kỳ quá độ ở nước ta. Khi mâu thuẫn này được giải quyết thì có nghĩa thời kỳ quá độ ở nước ta kết thúc. Mâu thuẫn này cũng chi phối các mâu thuân khác trong thời kỳ quá độ ở nước ta.

    Câu hỏi 8: Cách thức và khuynh hướng vận động phát triển của sự vật là gì?

    Gợi ý: Theo quy luật lượng – chất thì cách thức phát triển của sự vật: từ từ thay đổi về lượng rồi nhảy vọt về chất, hay nói khác đi sự vật phát triển theo cách thức đứt đoạn (nhảy vọt) trong liên tục (thay đổi về lượng). Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật: qua hai lần phủ định biện chứng, sự vật dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn. Cứ như vậy, sự vật vận động, phát triển theo đường xoáy ốc đi lên.

    Câu hỏi 9: Mâu thuẫn giữa công nhân và nông dân ở nước ta có phải là mâu thuẫn đối kháng không?

    Gợi ý: Không phải, bởi lẽ, mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội có lợi ích căn bản đối lập nhau không thể điều hoà được. Giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân ở nước ta có lợi ích căn bản ( lợi ích kinh tế) không đối lập nhau về bản chất. Do vậy, giữa hai giai cấp này có thể có mâu thuẫn nhưng không phải là mâu thuẫn đối kháng.

    CÂU HỎI ÔN TẬP

    1. Trình bày nội dung quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này? Đọc hướng dẫn quy luật này trong đề cương (khái niệm, nội dung, ý nghĩa).

    2. Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này? Đọc quy luật này trong đề cương hướng dẫn (khái niệm, nội dung, ý nghĩa).

    3. Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định? Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này? Đọc nội dung quy luật này trong đề cương hướng dẫn (khái niệm, nội dung, ý nghĩa).

    Bản quyền thuộc Viện Đại học Mở Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Pbcdv Về Mối Liên Hệ Phổ Biến Và Về Sự Phát Triển
  • Phát Triển Chính Sách Xúc Tiến Thương Mại Sản Phẩm Thép Inox Trên Thị Trường Miền Bắc Của Công Ty Tnhh Thương Mại Xnk Tiền Phong
  • Sự Sinh Trưởng Và Phát Triển Của Vi Sinh Vật
  • Thế Nào Được Gọi Là Sản Xuất Nông Nghiệp Sạch?
  • Các Cặp Phạm Trù Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Cặp Phạm Trù Triết Học Của Triết Học Mác
  • Các Cặp Phạm Trù Cơ Bản Của Pbcdv
  • 6 Chiếc Mũ Tư Duy: Công Cụ Tư Duy Mà Ai Cũng Nên Biết
  • Tài Liệu Tham Khảo Về 6 Chiếc Mũ Tư Duy.
  • Phương Pháp 6 Chiếc Mũ Tư Duy
  • Khái niệm nguyên nhân và kết quả

    Định nghĩa:

    Thông thường, ta hay hiểu có một hiện tượng A mà tác động của nó gây nên, làm biến đổi, hay kéo theo sau nó hiện tượng khác (chẳng hạn hiện tượng B ) thì A được gọi là nguyên nhân, còn B được gọi là kết quả. Song trên thực tế, nguyên nhân thực sự của B không phải bản thân hiện tượng A, mà chính là sự tác động qua lại của A với các hiện tượng C,D,E… nào đó mới chính là cái dẫn đến sự xuất hiện hiện tượng B.

    Bóng đèn phát sáng thì không phải dòng điện là nguyên nhân làm cho bóng đèn sáng mà chính là tương tác của dòng điện với dây dẫn (dây tóc của bóng đèn) mới thực sự là nguyên nhân làm cho bóng đèn phát sáng. Vậy, chính tương tác mới thực sự là nguyên nhân của các sự biến đổi.

    Do vậy:

    Nguyên nhân là sự tương tác giữa các mặt trong sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra những biến đổi nhất định;

    Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau.

    Phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ, nguyên nhân với điều kiện:

    * Nguyên cớ là những sự vật, hiện tượng xuất hiện đồng thời với nguyên nhân, nhưng nó chỉ là quan hệ bên ngoài ngẫu nhiên chứ không sinh ra kết quả.

    * Điều kiện là những sự vật, hiện tượng gắn liền với nguyên nhân, liên hệ với nguyên nhân trong cùng một không gian, thời gian, tác động vào nguyên nhân làm cho nguyên nhân phát sinh tác dụng. Nhưng điều kiện không trực tiếp sinh ra kết quả.

    Để có sự nảy mầm ( kết quả) của một hạt cây nào đó, là do sự khác nhau giữa các yếu tố trong hạt cây đó (nguyên nhân ), nhưng phải có những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, áp xuất thích hợp của môi trường v.v… mới xuất hiện kết quả được.

    Một số tính chất của mối liên hệ nhân quả

    – Tính khách quan: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ nhân -quả là mối liên hệ khách quan của bản thân các sự vật. Nó tồn tại ngoài ý muốn của con người, không phụ thuộc vào việc ta có nhận thức được nó hay không. Nó là mối liên hệ của bản thân sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất không do ai sáng tạo ra, con người chỉ có thể tìm ra mối liên hệ nhân – quả ấy trong giới tự nhiên khách quan, chứ không phải tạo ra nó từ trong đầu óc.

    Ngược lại, Chủ nghĩa duy tâm khách quan và tôn giáo tìm nguyên nhân của mọi hiện tượng ở một thực thể tinh thần tồn tại bên ngoài ta hoặc ở Thượng đế (ví dụ họ cho Thượng đế là nguyên nhân gây nên mọi biến đổi trên cõi đời này). Chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi khái niệm nguyên nhân và kết quả chỉ là những ký hiệu mà con người dùng để ghi những cảm giác của mình.

    Tính phổ biến: Tất cả mọi hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều được gây ra bởi những nguyên nhân nhất định. Mọi hiện tượng đều có nguyên nhân. Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân cả. Chỉ có điều nguyên nhân ấy đã được phát hiện hay chưa được phát hiện mà thôi.

    Đây chính là nội dung cơ bản của nguyên tắc quyết định luận -một nguyên tắc quan trọng của nhận thức khoa học.

    Chủ nghĩa duy tâm đang ra sức phủ nhận nguyên tắc này, mà thay vào đó nguyên tắc “vô định luận” một học thuyết sai lầm cho rằng không có sự ràng buộc nhân – quả trong tự nhiên, rằng có những hiện tượng không có nguyên nhân. Hiện nay, vấn đề này đang được tranh luận đặc biệt sôi nổi trong vật lý học hiện đại giữa một bên là những người khẳng định “quyết định luận” và một bên là những người khẳng định “vô định luận” trong các hiện tượng vi mô.

    -Tính tất yếu:

    Thực tiễn cho thấy rằng: một nguyên nhân nhất định trong hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định. Điều đó chứng tỏ mối liên hệ nhân – quả trong những điều kiện nhất định có tính tất yếu. Thí dụ, vật trong chân không luôn luôn rơi với gia tốc 9,8 m/s2. Nước ở áp suất 1 átmốtphe luôn luôn sôi ở 1000C, v.v.. Chính nhờ có tính tất yếu này của mối liên hệ nhân -quả mà hoạt động thực tiễn của con người mới có thể tiến hành được.

    Ta biết rằng trong thiên nhiên không thể có những sự vật hoàn toàn giống nhau. Vì vậy, khái niệm nguyên nhân như nhau trong những hoàn cảnh hoàn toàn như nhau bao giờ cũng cho kết quả y hệt nhau ở mọi nơi, mọi lúc là một khái niệm trừu tượng. Tuy nhiên, có những sự vật, những hiện tượng về cơ bản là giống nhau thì trong hoàn cảnh tương đối giống nhau sẽ gây nên những kết quả giống nhau về cơ bản.

    Thóc gieo xuống một mảnh ruộng, hoặc nhiều mảnh ruộng khác nhau, gieo ở những thời vụ khác nhau thì vẫn sẽ cho lúa chứ không cho ngô, khoai v.v…

    Nếu tính đến tình hình này thì tính tất yếu của mối liên hệ nhân – quả phải được hiểu như sau: nếu các nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả do chúng gây nên cũng càng ít khác nhau bấy nhiêu..

    Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

    Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả

    – Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả. Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động.

    Song, phải chú ý rằng giữa nguyên nhân và kết quả không chỉ có mối quan hệ về thời gian.

    Ngày luôn luôn “đến sau” đêm, nhưng đêm không phải là nguyên nhân của ngày, vì nguyên nhân của nó là sự tự quay quanh trục của trái đất, mà luôn luôn có nửa phần trái đất phô ra ánh sáng mặt trời và nửa phần trái đất bị che khuất.

    Hoặc sấm luôn luôn “đến sau” chớp, nhưng chớp không phải là nguyên nhân của sấm, mà là do sự phóng điện rất mạnh của các đám mây tích điện; tốc độ lan truyền của ánh sáng lớn hơn tốc độ lan truyền của âm thanh nên ta thường thấy chớp trước khi nghe tiếng sấm. v.v…

    Những hiện tượng nối tiếp trên không nằm trong mối liên hệ nhân – quả với nhau, mà chỉ đơn thuần là quan hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian.

    Như vậy, khi xem xét mối liên hệ nhân – quả mà chỉ chú ý đến tính liên tục về thời gian thôi thì chưa đủ. Cái quan trọng nhất, cũng đồng thời là cái phân biệt liên hệ nhân – quả với liên hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian chính là ở chỗ: giữa nguyên nhân và kết quả còn có mối quan hệ sản sinh, quan hệ trong đó nguyên nhân sinh ra kết quả.

    – Cần phân biệt liên hệ nhân – quả với tương quan hàm số. Hàm số là một trong những khái niệm cơ bản của toán học. Người ta nói rằng đại lượng Y sẽ là hàm số của đại lượng X nếu như giữa X và Y có một quan hệ phụ thuộc, trong đó ứng với mỗi giá trị của X xẽ có một giá trị tương ứng của Y.

    Quãng đường đi được S là một hàm số của thời gian t, vì khi vật chuyển động với tốc độ cho trước thì quãng đường đi được sẽ tăng lên nếu thời gian tăng (S = v*t).

    – Nguyên nhân sinh ra kết quả như thế nào? Thực tiễn cho thấy:

    Thứ nhất: cùng một nguyên nhân có thể gây nên nhiều kết quả khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, cùng một chủ trương cần kích thích lợi ích cá nhân khi áp dụng vào trường hợp này có thể gây nên sự hăng hái của người lao động, nhưng trong trường hợp khác lại có thể gây nên những hành vi tội lỗi.

    Thứ hai: cùng một kết quả có thể được gây nên bởi những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ,

    Vật thể nóng lên có thể do bị đốt nóng, có thể do cọ sát với vật thể khác, có thể do mặt trời chiếu vào, v.v.;

    Hay tác động cùng một lúc,

    Phẩm chất đạo đức của một học sinh vừa là kết quả phấn đấu của bản thân, vừa là kết quả giáo dục phối hợp của cả gia đình, nhà trường và xã hội .

    Khi các nguyên nhân tác động cùng một lúc lên sự vật thì hiệu quả tác động của từng nguyên nhân tới sự hình thành kết quả sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào hướng tác động của nó. Nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì chúng sẽ gây ra nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả. Ngược lại, nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn thành triệt tiêu các tác dụng của nhau.

    – Phân loại nguyên nhân

    Căn cứ vào tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, có thể phân các nguyên nhân ra thành.

    + Một là: Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu:

    Nguyên nhân chủ yếu là những nguyên nhân mà thiếu chúng thì kết quả sẽ không xảy ra.

    Nguyên nhân thứ yếu là những nguyên nhân mà sự có mặt của chúng chỉ quyết định những đặc điểm nhất thời, không ổn định, cá biệt của hiện tượng.

    +Hai là: Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài:

    Nguyên nhân bên trong là sự tác động lẫn nhau giữa những mặt hay giữa những yếu tố của cùng một kết cấu vật chất nào đó và gây ra những biến đổi nhất định.

    Nguyên nhân bên ngoài: là sự tác động lẫn nhau giữa những kết cấu vật chất khác nhau và gây ra những biến đổi thích hợp trong những kết cấu vật chất ấy.

    Nguyên nhân bên trong bao giờ cũng quyết định sự hình thành, tồn tại và phát triển của các kết cấu vật chất. Còn nguyên nhân bên ngoài chỉ phát huy được tác dụng thông qua những nguyên nhân bên trong.

    Năng suất cây trồng là do nguyên nhân bên trong (giống) là quyết định, còn các điều kiện khác như nước, phân, sự chăm bón là quan trọng không thể thiếu được. Hay sự phát triển của đất nước chủ yếu dựa vào sự phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp trong nước là chủ yếu, nhưng môi trường hợp tác với thế giới bên ngoài cũng hết sức quan trọng.

    + Ba là: Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:

    Nguyên nhân khách quan là nguyên nhân xuất hiện và tác động độc lập đối với ý thức của con người, của các giai cấp, các chính đảng, v.v…

    Nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân xuất hiện và tác động phụ thuộc vào ý thức của con người trong lĩnh vực hoạt động của các cá nhân, các giai cấp, các chính đảng, v.v…, nhằm thúc đẩy hay kìm hãm sự xuất hiện, phát triển… của các quá trình hiện thực

    Cách mạng tháng Tám nổ ra và thành công là kết quả tổng hợp giữa các nguyên nhân khách quan (Pháp bị Nhật đảo chính, Nhật đầu hàng đồng minh…) và nguyên nhân chủ quan là có sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng, có khối đại đoàn kết toàn dân, tinh thần yêu nước và cách mạng của quần chúng nhân dân. Hay sự thành công của doanh nghiệp thường là kết hợp chặt chẽ giữa nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, hạn chế được nguyên nhân ngược chiều, bất lợi.

    Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân

    Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại với nguyên nhân. Sự ảnh hưởng đó có thể diễn ra theo hai hướng: hoặc thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tích cực) hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tiêu cực).

    Trình độ dân trí thấp do kinh tế kém phát triển, ít đầu tư cho giáo dục. Nhưng dân trí thấp lại là nhân tố cản trở việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì vậy lại kìm hãm sản xuất phát triển. Ngược lại, trình độ dân trí cao là kết quả của chính sách phát triển kinh tế và giáo dục đúng đắn. Đến lượt nó, dân trí cao lại tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế và giáo dục.

    Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau

    Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả còn thể hiện ở chỗ: một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại. Một hiện tượng nào đó với tính cách là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt mình lại trở thành nguyên nhân sinh ra hiện tượng thứ ba… và quá trình cứ thế tiếp tục mãi không bao giờ kết thúc, tạo nên một chuỗi nhân quả vô cùng tận. Trong chuỗi đó không có khâu nào có thể trở thành khâu bắt đầu hay khâu cuối cùng. Vì vậy, các chuỗi nhân – quả là “không đầu”, “không đuôi”, và một hiện tượng nào đó được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng phải ở trong một quan hệ xác định, cụ thể.

    Một số kết luận về mặt phương pháp luận

    Mối quan hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân. Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy để giải thich được những hiện tượng đó. Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ đầu óc của con người, tách rời thế giới hiện thực.

    Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện.

    Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan… Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân cùng chiều hoạt động và hạn chế nguyên nhân có tác động tiêu cực.

    Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích.

    Chúng ta cần phải tận dụng những kết quả đã đạt được trong xây dựng kinh tế, phát triển giáo dục v.v.v., của gần 20 năm đổi mới để tiếp tục đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm 6 Cặp Phạm Trù
  • Soạn Bài Thao Tác Lập Luận So Sánh Ngắn Gọn Nhất
  • Chuyên Đề: Các Thao Tác Lập Luận
  • Khái Niệm 6 Thao Tác Lập Luận
  • Các Thao Tác Lập Luận Trong Văn Nghị Luận
  • Khái Niệm Và Ví Dụ Chi Tiết Nhất Về Phép Hoán Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Hoán Dụ Là Gì ? Khái Niệm Hoán Dụ ? Có Mấy Loại Hoán Dụ ?
  • Hoán Dụ Là Gì? Khái Niệm Hoán Dụ?
  • Định Nghĩa Hình Chiếu, Hình Chiếu Vuông Góc Và Cách Xác Định
  • Hình Chiếu Trong Bản Vẽ Kỹ Thuật
  • Hàng Siêu Trường, Siêu Trọng Là Gì?
  • Hoán dụ là gì?

    Hoán dụ là phép tu từ trong câu, gọi tên các sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm này bằng tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác, dựa trên nét tương cận, gần gũi với nhau nhằm mục đích làm tăng sức gợi hình, gợi cảm, giúp cho sự diễn đạt tốt hơn.

    : Hoán dụ trong câu: “Áo chàm đưa buổi phân li”. (Trích Việt Bắc – Tố Hữu)

    : “Cả khán đài hò reo, cổ vũ cho đội tuyển Việt Nam”. (Internet)

    : Đội tuyển có một bàn tay vàng bắt bóng cực giỏi. (Internet)

    Anh ấy là một chân sút siêu đẳng.

    Cô ấy là một tay đua cừ khôi.

    Ở đây có đủ mặt anh hùng hảo hán.

    Gia đình tôi có 5 miệng ăn.

    • Hoán dụ có tác dụng tăng sức gợi hình, gợi cảm giúp cho sự diễn đạt có tính hiệu quả cao. Từ đó, cho thấy sự phổ biến của phép tu từ này trong văn học.
    • Hoán dụ được sử dụng để biểu thị mối quan hệ gần gũi, có tính chất tương đồng của sự vật – hiện tượng này với sự vật – hiện tượng khác để người đọc dễ dàng liên tưởng kề cận của hai đối tượng mà không cần so sánh chúng với nhau.
    • Nội dung cơ sở để hình thành hoán dụ là sự liên tưởng, phát hiện ra mối quan hệ gần gũi giữa các sự vật – hiện tượng. Đây cũng chính là đặc điểm mà nhiều người nhầm lẫn hoán dụ với ẩn dụ bởi cả hai biện pháp này đều sử dụng những mối liên hệ tương đồng giữa các sự vật – hiện tượng với nhau.
    • Khác với ẩn dụ, chức năng chủ yếu của hoán dụ là giúp người đọc có thể hình dung ngay được sự tương đồng của 2 sự vật – hiện tượng với ý nghĩa đầy đủ mà không cần phải suy nghĩ quá nhiều hay quá phức tạp.
    • Đây là biện pháp tu từ được dùng trong nhiều trong văn học bởi nó thể hiện được nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau, sức mạnh của nó vừa thể hiện ở tính cá thể hoá, lại được thể hiện cùng với tính cụ thể cho biểu cảm kín đáo, sâu sắc, nhiều hàm ý.

    Các hình thức hoán dụ

    Hoán dụ được thực hiện bằng các hình thức quan hệ cặp đôi đi liền với nhau. Thông thường, có 4 kiểu hoán dụ thường gặp và phổ biến nhất trong văn học, đó là:

    Anh ấy vừa bước vào, cả phòng đều phải ngạc nhiên.

    “Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân”. (Nguyễn Du)

    “Một cây làm chẳng nên non,

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao “. (Ca dao)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoán Dụ Là Gì, Lấy Ví Dụ Ngữ Văn 6 (Có Giải Bài Tập)
  • Khái Niệm Hàng Hóa Công Là Gì?
  • Hàng Hóa Là Gì? Các Thuộc Tính Cơ Bản Của Hàng Hóa
  • Thế Nào Là Hàng Hóa? Hàng Hóa Có Những Thuộc Tính Gì? Mối Quan Hệ Giữa Hai Thuộc Tính Của Hàng Hóa?
  • Khái Niệm Hàng Hóa, Mối Quan Hệ Giữa Hai Thuộc Tính Hàng Hóa
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng (Tiếp Theo) (Chi Tiết)
  • Công Tác Phát Triển Vốn Tài Liệu Tại Thư Viện Huyện Lập Thạch
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Vốn Tài Liệu Của Thư Viện
  • Tổ Chức Sắp Xếp Vốn Tài Liệu To Chuc Sap Xep Von Tai Lieu Doc
  • Thành Phố Vệ Tinh Là Gì Và Cơ Chế Phát Triển
  • Thường được chấp nhận là chủ nghĩa Marx được cấu thành từ ba nguồn gốc chính. Một trong những nguồn gốc đó được phát triển từ những phân tích của Marx về nền chính trị nước Pháp, cụ thể là cuộc cách mạng tư sản Pháp vào những năm 1790, và những cuộc đấu tranh giai cấp sau đó trong suốt những năm đầu thế kỷ 19. Một nguồn gốc khác của chủ nghĩa Marx là cái được gọi là kinh tế học Anh, những phân tích của Marx về hệ thống tư bản chủ nghĩa như nó đã phát triển ở nước Anh. Nguồn gốc còn lại của chủ nghĩa Marx, về phương diện lịch sử lần đầu tiên được đề ra, và được gọi là “triết học Đức”, và đó là khía cạnh mà tôi muốn nói đến ở đây.

    Để bắt đầu, chúng ta cần nói rằng nền tảng của chủ nghĩa Marx là chủ nghĩa duy vật. Tức là, chủ nghĩa Marx bắt đầu từ tư tưởng cho rằng vật chất là bản chất của mọi thực tại, và rằng vật chất tạo ra tư tưởng, chứ không phải ngược lại.

    Nói cách khác, tư tưởng và tất cả mọi thứ xuất phát từ tư tưởng – những tư tưởng nghệ thuật, khoa học, luật pháp, chính trị, đạo đức và tiếp nữa..- những thứ đó thực tế xuất phát từ thế giới vật chất. “Trí tuệ” .., tư tưởng và những quá trình tư tưởng, là sản phẩm của bộ não; và bản thân bộ não, và do đó bản thân tư tưởng, xuất hiện từ một trạng thái nhất định của sự phát triển của vật chất sống. Chúng là sản phẩm của thế giới vật chất.

    Do đó, để hiểu được bản chất đích thực của ý thức con người và xã hội, như bản thân Marx đã làm, là vấn đề “không phải là bắt đầu từ cái mà con người nói, tưởng tượng, quan niệm … để đi đến con người bằng xương bằng thịt; mà là từ thực tại, từ con người hoạt động, và từ những cơ sở của đời sống thực tế của họ giải thích sự phát triển của những phản ánh và những tiếng vang tư tưởng của họ về quá trình đời sống hiện thực này. Những ảo tưởng được tạo thành trong đầu óc của con người cũng vậy, cần được coi là những hình ảnh của những quá trình sống hiện thực của họ, có thể được xác nhận một cách kinh nghiệm chủ nghĩa bằng những tiền đề vật chất và bị giới hạn bởi những tiền đề vật chất này. Đạo đức, tôn giáo, siêu hình học, tất cả những gì còn lại của hệ tư tưởng và những dạng tương ứng của ý thức, do đó không còn giữ cái vẻ độc lập được nữa. Chúng không có lịch sử, không có sự phát triển nào; mà chính là con người, trong quá trình phát triển nền sản xuất vật chất của họ và những mối liên hệ nội tại vật chất giữa họ với nhau, cùng với sự tồn tại thực tế của họ, đã biến đổi suy nghĩ của họ và những sản phẩm của suy nghĩ của họ. Đời sống không phải được quyết định bởi ý thức, mà là ý thức được quyết định bởi đời sống. Trong phương pháp tiếp cận thứ nhất (phi duy vật), điểm bắt đầu là ý thức chế ngự cá nhân sống; phương pháp thứ hai (duy vật), thích hợp với bản thân những cá nhân sống hiện thực, và ý thức chỉ còn được coi là ý thức của họ mà thôi.” (Hệ tư tưởng Đức, chương một).

    Một nhà duy vật chủ nghĩa do đó sẽ tìm lời giải thích không phải từ những tư tưởng, mà là từ bản thân những hiện tượng vật chất, dưới dạng những nguyên nhân vật chất và không phải là những sự can thiệp phi tự nhiên bởi chúa hay cái gì đại loại như thế. Và đây là một khía cạnh đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa Marx, làm tách biệt một cách rõ ràng phương pháp này ra khỏi những phương pháp tư duy và logic được thiết lập trong xã hội tư bản.

    Sự phát triển của tư duy khoa học trong những quốc gia châu Âu vào thế kỷ 17 và 18 đã để lộ ra một số những tính chất mâu thuẫn thực sự, vẫn còn lại trong cách tiếp cận của các lý thuyết gia tư sản ngày nay. Một mặt có một sự phát triển hướng đến phương pháp duy vật. Các nhà khoa học đi tìm kiếm những nguyên nhân. Họ không chỉ chấp nhận những hiện tượng tự nhiên như là những phép màu do chúa sắp đặt, họ đi tìm lời giải thích cho mình. Nhưng cùng lúc những nhà khoa học này chưa nắm được một hiểu biết nhất quán hay duy vật thực tiễn; và thường là, đằng sau những lời giải thích cho những những hiện tượng tự nhiên, họ cũng thấy, ở cuối sợi dây sích, bàn tay của chúa chạm vào.

    Cách tiếp cận như thế chấp nhận, hay chí ít là để ngỏ cho khả năng, rằng thế giới vật chất chúng ta sống trong ở điểm tận cùng được tạo nên bởi những lực lượng ở bên ngoài nó, và rằng ý thức hay tư tưởng có trước tiên, theo cái nghĩa là chúng có thể tồn tại độc lập với thế giới thực tại. Cách tiếp cận này, đối lập lại với chủ nghĩa duy vật, chúng ta gọi là “chủ nghĩa duy tâm”.

    Theo như cách tiếp cận này, sự phát triển của nhân loại và của xã hội – của nghệ thuật, khoa học … – bị bức chế không phải là bởi những quá trình vật chất mà là bởi sự phát triển của các tư tưởng, bởi sự hoàn hảo hay sự suy đồi của tư tưởng con người. Và không phải là ngẫu nhiên mà cái cách tiếp cận phổ biến này, dù được nói ra hay không, tràn ngập trong những triết thuyết của chủ nghĩa tư bản.

    Những nhà triết học và các sử gia tư sản nói chung coi hệ thống hiện thời là tất nhiên. Họ chấp nhận rằng chủ nghĩa tư bản là một dạng hoàn hảo, một hệ thống hoàn bị không thể được thay thế bởi một hệ thống nào mới và cao hơn. Và họ cố gắng trình bày tất cả lịch sử đã qua như là những nỗ lực kém trọng đại hơn nhằm đạt được cái “xã hội hoàn hảo” mà họ tin là chỉ có chủ nghĩa tư bản là đã đạt được hoặc có thể đạt được.

    Vì vậy, khi chúng ta nhìn vào những tác phẩm của một số nhà khoa học và nhà tư tưởng tư sản vĩ đại nhất trong quá khứ hay thậm chí cả trong ngày nay, chúng ta có thể thấy họ có khuynh hướng lẫn lộn trong đầu óc mình những tư tưởng duy vật và duy tâm như thế nào. Lấy ví dụ, Isaac Newton, người nghiên cứu những quy luật cơ học và những quy luật chuyển động của các hành tinh và các vật thể hành tinh, đã không tin rằng những quá trình này bị chế ngự bởi đầu óc hay tư tưởng. Nhưng ông lại tin vào một sự thúc đẩy lúc ban đầu cho vật chất, và cái đẩy ban đầu này được cung cấp bởi một dạng lực lượng siêu tự nhiên, bởi Chúa.

    Theo cách tương tự ngày nay có nhiều nhà sinh vật học chấp nhận tư tưởng cho rằng các loài cây cối và động vật đã tiến hóa từ loại này sang loại kia, và rằng con người bản thân nó cũng là một sự phát triển từ một giống loài trước đó. Và cũng có nhiều người trong bọn họ bám lấy cái khái niệm cho rằng có một sự khác nhau về chất giữa trí tuệ của con người và đầu óc của động vật, kết luận rằng có một linh hồn bất diệt rời bỏ cơ thể con người sau khi chết. Ngay cả một số những nhà khoa học xuất chúng nhất cũng lẫn lộn phương pháp duy vật và những tư tưởng duy tâm theo kiểu này, về phương diện khoa học mà nói điều này thực sự là lạc hậu, và có liên hệ với ma thuật và mê tín nhiều hơn là với khoa học.

    Do đó chủ nghĩa Marx đưa ra một sự đoạn tuyệt một cách hệ thống và căn bản với chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức, và phát triển trong nó một hiểu biết duy vật về những gì đang diễn ra trong thực tế. Chủ nghĩa duy vật là thế giới quan cung cấp một trong những khởi điểm căn bản cho chủ nghĩa Marx. Khởi điểm căn bản còn lại là phép biện chứng.

    PHÉP BIỆN CHỨNG

    Phép biện chứng đơn giản là logic của sự vận động, hay là logic của tri giác thông thường của những nhà hoạt động phong trào. Chúng ta đều biết rằng mọi thứ đều không đứng yên, chúng luôn thay đổi. Nhưng còn có một dạng logic khác đối lập lại với phép biện chứng mà chúng ta gọi là logic hình thức, là thứ đặc biệt tiêu biểu trong xã hội tư bản. Có lẽ cần thiết phải bắt đầu bằng một bức phác thảo sơ lược những gì hàm chứa trong phép này.

    Logic hình thức dựa trên cái được biết là quy luật đồng nhất, nó nói rằng A bằng A.. tức là các vật là cái mà chúng là, và các vật này đứng trong mối quan hệ xác định đối với nhau. Còn có những quy luật phái sinh khác từ quy luật đồng nhất; ví dụ, nếu A bằng A, thì khi đó A không thể bằng B, hay C.

    Thoạt nhìn, phương pháp tư duy này dường như cũng là tri giác thông thường; và thực tế nó là một công cụ tư duy vô cùng quan trọng, một phương pháp rất quan trọng trong sự phát triển của khoa học và trong cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo dựng nên xã hội ngày nay. Sự phát triển của toán học và số học cơ bản, chẳng hạn, là dựa trên logic hình thức. Bạn không thể dạy cho một đứa trẻ bản cửu chương mà lại không dùng đến logic hình thức. Một cộng một bằng hai, và không phải là bằng ba. Và tương tự, phương pháp của logic hình thức cũng là cơ sở cho sự phát triển của cơ học, hóa học, sinh vật học…

    Ví dụ, trong thế kỷ 18 nhà sinh vật học người Scandinavia Linnaeus đã phát triển một hệ thống phân loại cho tất cả những sinh vật đã biết. Linnaeus chia tất cả những vật sống thành những lớp, bộ, họ, trong bộ khỉ, họ người, giống người và giới thiệu loài homo sapiens.

    Hệ thống phân loại này đem lại một bước tiến khổng lồ trong lĩnh vực sinh học. Lần đầu tiên, nó tạo ra khả năng nghiên cứu một cách thực sự có hệ thống về cây cối và động vật, để so sánh và đối chiếu các giống động vật và cây. Nhưng nó dựa trên logic hình thức. Nó dựa trên phát biểu rằng homo sapiens bằng với homo sapiens; một con giun đất bằng với một con giun đất và cứ thế.. Nói cách khác, nó là một hệ thống cố định và cứng nhắc. Theo như hệ thống này thì không thể có chuyện một loài này bằng với một loài khác nào đó, nếu không thì hệ thống phân loại này sẽ hoàn toàn bị sụp đổ.

    Trong lĩnh vực hóa học cũng tương tự, ở đây thuyết nguyên tử của Dalton mang ý nghĩa một bước tiến khổng lồ. Thuyết Dalton dựa trên ý tưởng rằng vật chất được tạo thành từ các nguyên tử, và mỗi một loại nguyên tử hoàn toàn tách biệt và riêng có đối với bản thân nó – tức là hình dáng và cân nặng là của riêng nguyên tử đó và không phải là của nguyên tử nào khác.

    Sau Dalton có xuất hiện một hệ thống phân loại ít nhiều cứng nhắc như thế, một lần nữa lại dựa trên logic hình thức cứng nhắc, nói rằng một nguyên tử hydro là một nguyên tử hydro, một nguyên tử carbon là một nguyên tử carbon… Và nếu một nguyên tử nào đó có thể là một nguyên tử khác, thì toàn bộ hệ thống phân loại này, hệ thống phân loại tạo lên nền tảng của hóa học hiện đại, sẽ sụp đổ.

    Giờ điều quan trọng là thấy được rằng phương pháp logic hình thức có những giới hạn của nó. Đó là một phương pháp rất tốt cho cuộc sống hàng ngày, nó đem lại cho chúng ta một phép gần đúng hữu ích đối với việc nhận thức các vật. Chẳng hạn, hệ thống phân loại của Linnaeus vẫn còn hữu dụng đối với các nhà sinh học; nhưng từ tác phẩm của Charles Darwin chúng ta có thể nhận thấy những yếu kém của nó.

    Darwin đã chỉ ra rằng trong hệ thống của Linnaeus có một số loài cây có tên gọi rất khác nhau, như là những loài khác nhau vậy, nhưng thực sự chúng lại rất giống nhau. Và cũng có những cây với cùng tên gọi, cùng loài, là những biến dị của cùng một loài cây, mà chúng lại rất khác nhau.

    Vì vậy ngay từ thời của Charles Darwin đã có thể nhìn vào trong hệ thống phân loại của Linnaeus và nói “ôh, hẳn là phải có sai sót ở đâu đó”. Và tất nhiên tác phẩm của Charles Darwin đã cung cấp một cơ sở mang tính hệ thống cho học thuyết tiến hóa, học thuyết lần đầu tiên tuyên bố rằng một loài này có thể chuyển hóa thành một loài khác.

    Và điều đó để lại một lỗ hổng lớn trong hệ thống Linnaeus. Trước Charles Darwin, người ta tin rằng số lượng các loài trên hành tinh chính xác bằng số lượng các loài được Chúa tạo ra trong 6 ngày đầu tiên – tất nhiên là ngoại trừ những loài đã bị lụt lội hủy diệt – và rằng những loài còn sống sót đã không hề thay đổi gì trong suốt hàng triệu năm. Nhưng Darwin đã đưa ra tư tưởng về sự biến đổi của các loài, và chắc chắn là phương pháp phân loại cũng phải thay đổi theo.

    Những gì áp dụng vào lĩnh vực sinh học thì cũng áp dụng vào lĩnh vực hóa học. Vào cuối thế kỷ 19, các nhà hóa học nhận ra rằng một nguyên tố nguyên tử này có thể biến đổi thành một nguyên tố nguyên tử khác. Nói cách khác, những nguyên tử không hoàn toàn tách biệt và riêng có đối với bản thân chúng. Giờ chúng ta biết được rằng có nhiều nguyên tử, nhiều nguyên tố hóa học, là không bền vững. Ví dụ, uranium và các nguyên tố phóng xạ khác sẽ phân rã theo thời gian và tạo nên các nguyên tử hoàn toàn khác với các tính chất hóa học và cân nặng cũng hoàn toàn khác.

    Do đó chúng ta có thể thấy được rằng phương pháp của logic hình thức đã bắt đầu bị đổ bể cùng với sự phát triển của bản thân khoa học. Chính là phương pháp biện chứng đã thu hút những kết luận từ những phát hiện thực tiễn đó, và chỉ ra rằng không tồn tại những phạm trù tuyệt đối hay cố định, cả ở trong tự nhiên lẫn trong xã hội.

    Trong khi mà một người logic hình thức nói rằng A bằng A thì người biện chứng sẽ nói rằng A không nhất thiết phải bằng A.

    Vì vậy chúng ta cần có một hình thái nhận thức, một hình thái logic lý giải cái sự kiện thực tế là mọi thứ, cuộc sống và xã hội ở trong một trạng thái chuyển động và thay đổi liên miên. Và hình thái logic đó không nghi ngờ gì là phép biện chứng.

    Nhưng mặt khác sẽ là sai lầm nếu cho rằng phép biện chứng gán cho vũ trụ một quá trình thay đổi đều và dần dần. Những quy luật của phép biện chứng, và đây là một lời cảnh báo: những khái niệm đó nghe đáng sợ hơn chúng thực sự là – những quy luật của phép biện chứng mô tả cách thức trong đó những quá trình thay đổi diễn ra trong thực tế.

    LƯỢNG BIẾN THÀNH CHẤT

    Chúng ta hãy bắt đầu với quy luật chuyển hóa của lượng thành chất. Quy luật này phát biểu rằng quá trình biến đổi – vận động trong vũ trụ – không phải là dần dần, chúng không phải là đều. Những khoảng thay đổi tương đối dần dần và từng chút một xen kẽ với những khoảng thay đổi hết sức đột ngột – sự thay đổi không thể đo bằng lượng được mà phải đo bằng chất.

    Sử dụng thêm một ví dụ lấy từ khoa học tự nhiên, chúng ta hãy nghĩ đến nhiệt của nước. Bạn có thể đo được trên thực tế (lượng hóa) dưới dạng độ của nhiệt sự thay đổi diễn ra trong nước khi bạn làm nóng nó lên. Cho là từ 10 độ bách phân (nhiệt độ này tương ứng với nhiệt của nước máy) lên đến khoảng 98 độ bách phân, sự thay đổi vẫn còn là thay đổi về lượng.., nước vẫn là nước, mặc dù nó đã trở nên nóng hơn.

    Nhưng khi đến một điểm mà tại đó sự thay đổi trong nước trở thành sự thay đổi về chất, và nước trở thành hơi. Bạn sẽ không còn có thể mô tả sự thay đổi trong nước khi nó được làm nóng từ 98 độ lên đến 102 độ dưới dạng thuần túy về lượng được nữa. Chúng ta phải nói rằng một sự thay đổi về chất (nước thành hơi) là kết quả của một sự tích tụ của sự thay đổi về lượng (tức là thêm vào ngày càng nhiều nhiệt).

    Và đó là những gì mà Marx và Engels muốn nói khi họ nhắc đến sự chuyển hóa từ lượng thành chất. Trong sự phát triển của các loài cũng có thể thấy hiện tượng tương tự. Trong mỗi loài đều có sự biến dị rất lớn. Nếu chúng ta nhìn quanh quất trong phòng chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều những sự khác biệt giữa những người trong phòng. Những khác biệt đó có thể được đo về mặt lượng, chẳng hạn, về cân nặng, chiều cao, màu da, độ dài mũi.

    Nhưng nếu như những biến đổi tiến hóa tiến tới một điểm nhất định dưới ảnh hưởng của những biến đổi môi trường, khi đó những biến đổi về lượng này có thể tích lũy tạo thành một sự biến đổi về chất. Nói cách khác, bạn sẽ không thể nào còn có thể nói rằng sự biến đổi ở động vật và cây cối chỉ đơn thuần là biến đổi về lượng. Những giống loài sẽ trở nên khác biệt về chất.

    Ví dụ, chúng là một loài khác biệt về chất với tinh tinh hay gorilla, và đến lượt chúng lại khác biệt về chất với những loài động vật có vú khác. Và những khác biệt về chất này, những bước nhảy tiến hóa, là kết quả của những biến đổi về lượng ở trong quá khứ.

    Ý tưởng của chủ nghĩa Marx là luôn có những thời kỳ biến đổi dần dần xen lẫn với những thời kỳ biến đổi đột ngột. Trong thời kỳ thai nghén, là thời kỳ biến đổi dần dần, và sau đó là một thời kỳ biến đổi đột ngột tại điểm kết. Sự phát triển của xã hội cũng vậy. Các nhà Marxist rất thường hay sử dụng sự tương tự của thời kỳ thai nghén để mô tả sự phát triển của chiến tranh và cách mạng. Những bước tiến về chất này là tiêu biểu trong sự phát triển của xã hội; nhưng chúng là kết quả của một sự tích tụ những mâu thuẫn về lượng trong xã hội.

    PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH

    Quy luật thứ hai của phép biện chứng là quy luật “phủ định của phủ định”, và một lần nữa, tên gọi của nó lại rối rắm hơn nội dung của nó. “Phủ định” theo nghĩa này chỉ đơn giản là vượt qua một điều gì đó, cái kết của một vật nào đó khi nó chuyển hóa thành một vật khác.

    Ví dụ, sự phát triển của xã hội có giai cấp trong lịch sử nguyên thủy của loài người đại biểu cho sự phủ định xã hội phi giai cấp trước đó. Và trong tương lai, với sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, chúng ta sẽ thấy xã hội phi giai cấp khác, mang ý nghĩa là sự phủ định tất cả những xã hội có giai cấp trước đây.

    Do vậy quy luật phủ định của phủ định phát biểu một cách đơn giản là khi một hệ thống ra đời, nó làm cho hệ thống khác bị biến mất. Nhưng như vậy không có nghĩa là hệ thống thứ hai là cố định hay không thể thay đổi. Bản thân hệ thống thứ hai trở nên mất hiệu lực khi mà xã hội phát triển xa hơn và do bởi quá trình biến đổi của xã hội. Vì xã hội có giai cấp là sự phủ định của xã hội phi giai cấp, nên xã hội cộng sản sẽ là sự phủ định của xã hội có giai cấp – phủ định của phủ định.

    Một khái niệm khác của phép biện chứng là quy luật thâm nhập của các mặt đối lập. Quy luật này tuyền bố một cách hoàn toàn đơn giản rằng những quý trình biến đổi diễn ra là do bởi những sự mâu thuẫn – bởi những đối lập giữa các yếu tố khác nhau ẩn chứa trong tất các quá trình tự nhiên và xã hội.

    Có lẽ ví dụ tốt nhất cho sự thâm nhập của những mặt đối lập trong khoa học tự nhiên là thuyết lượng tử. Thuyết này dựa trên khái niệm cho rằng năng lượng có tính chất đối ngẫu – theo như một số thí nghiệm, với một số mục đích thì năng lượng tồn tại dưới dạng sóng, như năng lượng điện từ. Nhưng cho một số mục đích thì năng lượng lại thể hiện bản thân nó như là các hạt. Nói cách khác, các nhà khoa học hoàn toàn chấp nhận rằng vật chất và năng lượng có thể thực sự tồn tại ở hai trạng thái khác nhau cùng một lúc – một mặt là một loại sóng phi quảng tính, mặt khác là một hạt với môt gói năng lượng xác định ẩn chứa trong nó.

    Do đó nền tảng của thuyết lượng tử trong vật lý học hiện đại là một sự mâu thuẫn. Nhưng ngày nay đã có nhiều mâu thuẫn khác trong khoa học được biết đến. Ví dụ, năng lượng điện từ là một tập hợp chuyển động qua sự tác động của các lực âm và lực dương lên nhau. Hiện tượng từ tính phụ thuộc vào sự tồn tại của cực bắc và cực nam. Những thứ này không thể tồn tại độc lập đối với nhau. Chúng tồn tại và vận hành chính bởi những lực đối lập ẩn chứa trong cùng một hệ thống.

    Tương tự, mọi xã hội ngày nay chứa đựng những nhân tố đối lập khác biệt nhau cùng chung trong một hệ thống, làm cho tất cả mọi xã hội, mọi quốc gia không thể nào cứ mãi duy trì được sự ổn định hay bất biến. Phương pháp biện chứng, đối lập lại với logic hình thức, huấn luyện cho chúng ta để chúng ta nhận ra được những mâu thuẫn này, và từ đó chạm được đến đáy của những biến đổi đang diễn ra.

    Những nhà Marxist nói một cách không e dè đến những yếu tố đối lập nội tại trong mọi quá trình xã hội. Trái lại, Rõ ràng là nhờ nhận ra và hiểu được những lợi ích đối lập ẩn chứa nội trong cùng một quá trình xã hội mà chúng ta có thể chỉ ra được chiều hướng thay đổi thích hợp, và sau cùng nhận ra mục đích và mục tiêu cần thiết và có thể đạt được trong trường hợp đó phải đấu tranh cho từ quan điểm của giai cấp công nhân.

    Đồng thời, chủ nghĩa Marx cũng không gạt bỏ logic hình thức. Nhưng từ quan điểm hiểu được những sự phát triển của xã hội, điều quan trọng cần phải thấy được rằng logic hình thức chỉ đứng hàng thứ hai.

    Tất cả chúng ta sử dụng logic hình thức cho những mục đích thường ngày. Nó đem lại cho chúng ta những sự xấp xỉ cần thiết để giao tiếp và điều khiển những hoạt động thường ngày của chúng ta. Chúng ta sẽ không thể bình thường được cuộc sống của chúng ta mà không có sự phục vụ của logic hình thức, mà không sử dụng sự xấp xỉ một bằng với một.

    Nhưng, mặt khác chúng ta cũng thấy những mặt hạn chế của logic hình thức – những giới hạn trở nên rõ ràng trong khoa học khi chúng ta nghiên cứu những quá trình sâu và chi tiết hơn, và cũng thế khi chúng ta khám phá các quá trình xã hội và chính trị một cách tỉ mỉ hơn.

    Các nhà khoa học rất hiếm khi chấp nhận phép biện chứng. Một số nhà khoa học là những người biện chứng, nhưng phần lớn ngay cả là ngày nay cũng đều lẫn lộn phương pháp duy vật với cái mới bòng bong đủ mọi loại tư tưởng hình thức và duy tâm.

    Và nếu đó là trường hợp trong khoa học tự nhiên, thì nó lại càng là trường hợp trong khoa học xã hội. Những nguyên nhân cho điều này khá là rõ ràng. Nếu bạn cố gắng khảo sát xã hội và những quá trình xã hội từ quan điểm khoa học, thì bạn sẽ không thể nào tránh được việc phải đi đến chỗ chống lại những mâu thuẫn của hệ thống tư bản và cần phải chuyển biến xã hội lên xã hội chủ nghĩa.

    Nhưng những trường đại học, nơi thường được coi là những trung tâm học tập và nghiên cứu, dưới chủ nghĩa tư bản còn xa mới độc lập được với sự thống trị giai cấp và nhà nước. Đó là lý do tại sao khoa học tự nhiên có thể vẫn còn có một phương pháp khoa học thiên về chủ nghĩa duy vật biện chứng; nhưng khi bước sang khoa học xã hội bạn sẽ bắt gặp trong các trường cao đẳng và đại học những loại duy tâm chủ nghĩa và hình thức chủ nghĩa tồi tệ nhất.

    Cụ thể, những sử gia tư sản nằm trong số những khoa học gia xã hội thiển cận vào bậc nhất. Đã bao nhiêu lần chúng ta bắt gặp cái mẫu tưởng tượng của các sử gia này nói rằng lịch sử đã kết thúc hôm qua rồi! Ở đây tại nước Anh tất cả bọn họ dường như đều thú nhận nỗi ghê sợ chủ nghĩa đế quốc Anh trong thế kỷ 17,18và 19; rằng chủ nghĩa đế quốc Anh đã tham gia buôn bán nô lệ; rằng nó phải chịu trách nhiệm về một số cuộc chinh phục đẫm máu nhất đối với những người dân thuộc địa; rằng nó cũng phải chịu trách nhiệm cho một số công cuộc bóc lột tồi tệ nhất những người công nhân Anh, cả phụ nữ và trẻ em, trong các hầm mỏ than đá, các nhà máy cotton..

    Họ sẽ chấp nhận tất cả những điều tội lỗi đó – cho đến tận ngày hôm qua. Nhưng đến hôm nay, tất nhiên khi này thì chủ nghĩa đế quốc Anh đã đột nhiên trở thành dân chủ và tiến bộ rồi.

    Và đó là một quan niệm hoàn toàn một chiều, hoàn toàn phiến diện về lịch sử, đối lập tuyệt đối lại với phương pháp của chủ nghĩa Marx. Quan điểm của Marx và Engels là nhìn những tiến trình xã hội từ lập trường giống với lập trường họ nhìn tự nhiên – từ lập trường của các quá trình đúng như nó diễn ra.

    Cánh hữu trong phong trào lao động, và một số người thuộc phe tả, tin rằng học thuyết Marxist là một giáo điều, rằng “lý thuyết” như một vật nặng 600 pao đè nặng lên lưng của các nhà hoạt động, và bạn càng chóng thoát khỏi cái khối đó, bạn càng năng động và có hiệu quả.

    Nhưng đó là một sự lầm lẫn hoàn toàn về bản chất chung của học thuyết Marxist. Thực tế, chủ nghĩa Marx đối lập lại với sự giáo điều. Nó là một phương pháp chính xác để hiểu được những quá trình biến đổi diễn ra chung quanh chúng ta.

    Không có gì là cố định và bất biến. Chính những người hình thức mới là những người xem xét xã hội như một chiếc máy ảnh, những người khúm núm trước hoàn cảnh mà họ đối đầu do bởi họ không thấy được tại sao sự vật thay đổi và thay đổi như thế nào. Chính phương pháp như vậy mới dễ dẫn đến sự chấp thuận một cách giáo điều sự vật như cái nó là hay như cái nó đã là, mà không hiểu được tính không thể tránh được của sự biến đổi.

    Do đó học thuyết Marxist là một công cụ hoàn toàn bản chất cho mọi hoạt động trong phong trào lao động. Chúng ta cần hòa hợp một cách có ý thức vào lực lượng đối lập đang làm việc trong cuộc đấu tranh giai cấp, để hướng bản thân mình đến con đường mà những sự biến đang phát triển.

    Tất nhiên không phải lúc nào cũng dễ dàng giải phóng mình khỏi những khuôn khổ tư duy đang chiếm ưu thế trong xã hội tư bản và hấp thụ chủ nghĩa Marx. Như Karl Marx nói, không có con đường cái quan nào trong khoa học. Đôi khi, bạn phải vượt qua con đường gian nan để lĩnh hội được những tư tưởng chính trị mới.

    Và nếu bạn cố gắng thử khám phá mà thiếu đi những sự trợ giúp khoa học, bạn có thể nhiệt tình thoải mái nhưng sớm hay muộn sẽ rơi vào hẻm núi hay đầm lầy và biến mất, như nhiều nhà hoạt động không may mắn đã làm theo năm tháng.

    “The idea of having a compass and a map is that you can take your bearings. You can judge where you are at any particular time, where you are going and where you will be. And that is the fundamental reason why we need to get to grips with Marxist theory. It provides us with an absolutely invaluable guide to action as far as our activities in the labour movement are concerned.”

    Biên dịch: Ngô Minh Tuấn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Về Bản Chất Hiện Tượng Tâm Lý Con Người
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Của Ý Thức Theo Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng
  • Những Quy Luật Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Pbcdv Về Mối Liên Hệ Phổ Biến Và Về Sự Phát Triển
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100