Từ Hán Việt Là Gì? Những Từ Hán Việt Hay Và Ý Nghĩa

--- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài : Từ Hán Việt
  • Hướng Dẫn Cách Dùng Hàm Iferror Trong Excel Qua Ví Dụ Cụ Thể
  • Hàm Iferror Trong Excel Là Gì Và Cách Sử Dụng Như Thế Nào?
  • Hàm If, Lồng Ghép Hàm If Với Nhiều Điều Kiện, Iferror, Ifna Và Nhiều Hơn Nữa
  • Hàm Sumproduct Trong Excel: Nâng Cao & Nhiều Điều Kiện (Pro Excel)
  • Từ Hán Việt là gì?

    Từ Hán Việt là từ ngữ trong tiếng Việt vay mượn, có nghĩa gốc từ tiếng Hán (Trung Quốc). Các từ Hán Việt được ghi bằng chữ cái La tinh, phát âm phù hợp với mặt ngữ âm tiếng Việt. Tuy nhiên, khi phát âm từ Hán Việt, có thể thấy âm thanh gần giống với tiếng Trung Quốc.

    Sự vay mượn của tiếng Việt giúp ngôn ngữ Việt Nam thêm phần phong phú, đồng thời vẫn giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt.

    Trong kho tằng từ Hán Việt, người ta đã nghiên cứu và phân loại thành 3 nhóm đó là từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt và từ Hán Việt Việt Hoá.

    Từ Hán Việt cổ

    Từ Hán Việt cổ là những từ có nguồn gốc khá lâu đời. Những từ này bắt nguồn từ tiếng Hán trước thời Nhà Đường. Những từ này có phát âm gần như giống hoàn toàn với tiếng Trung.

    Từ Hán Việt

    Những từ Hán Việt này ra đời sau giai đoạn mà từ Hán Việt cổ xuất hiện và được dùng. Những từ này có nguồn gốc từ giai đoạn thời nhà Đường cho tới đầu thế kỷ 10.

    Từ Hán Việt Việt hoá

    Các từ Hán Việt không nằm trong 2 trường hợp trên được xem là từ Hán Việt Việt Hoá. Những từ này có quy luật biến đổi ngữ âm rất khác, nhưng vẫn dựa trên cơ sở âm điệu và ý nghĩa chữ Hán.

    THIÊN: Trời; ĐỊA: Đất; CỬ: Cất; TỒN: Còn; TỬ: Con; TÔN: Cháu; LỤC: Sáu; TAM: Ba; GIA: Nhà; QUỐC: Nước; TIỀN: Trước; HẬU: Sau; NGƯU: Trâu; MÃ: Ngựa; CỰ: Cựa; NHA: Răng; VÔ: Chăng; HỮU: Có; KHUYỂN: Chó; DƯƠNG: Dê; QUY: Về; TẨU: Chạy; BÁI: Lạy; QUỴ: Quỳ; KHỨ: Đi; LAI: Lại; NỮ: Gái; NAM: Trai; QUAN: Mũ; TÚC: Đủ; ĐA: Nhiều; ÁI: Yêu; TĂNG: Ghét; THỨC: Biết; TRI: Hay; MỘC: Cây; CĂN: Rễ; DỊ: Dễ; NAN: Khôn (khó); CHỈ: Ngon; CAM: Ngọt; TRỤ: Cột; LƯƠNG: Rường; SÀNG: Giường; TỊCH: Chiếu; KHIẾM: Thiếu; DƯ: Thừa; CÚC: Cuốc; CHÚC: Đuốc; ĐĂNG: Đèn; THĂNG: Lên; GIÁNG: Xuống; ĐIỀN: Ruộng; TRẠCH: Nhà; LÃO: Già; ĐỒNG: Trẻ; TƯỚC: Sẻ (chim Sẻ) ; KÊ: Gà

    Outsource là gì? Ưu nhược điểm của Outsource ? Có nên… Tôn trọng (respect) là gì? Ý nghĩa và vai trò của… Chân lý (Truth) là gì? Ý nghĩa của chân lý trong…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Homestay Là Gì? 8 Lý Do Nên Chọn Homestay Thay Cho Khách Sạn
  • Homestay Là Gì? Xu Hướng Du Lịch Mới Cho Giới Trẻ
  • Homestay Là Gì? Hiểu Để Kinh Doanh Thành Công Dịch Vụ Này
  • Kinh Doanh Homestay Cần Bao Nhiêu Tiền, Thủ Tục Giấy Phép Đăng Ký?
  • Homestay Là Gì? Hiểu Thế Nào Cho Đúng Và Đầy Đủ Về Homestay?
  • Từ Hán Việt Là Gì? Các Từ Hán Việt Thường Gặp & Giải Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Cuv Là Gì? Suv Là Gì?
  • Ý Nghĩa Tên Quân Là Gì?
  • Biểu Tượng V Có Nghĩa Là Gì? Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Team Mặn Là Gì? Hội Chế Ảnh Hài Hước Team Mặn Trên Facebook
  • Tml Nghĩa Là Gì Trên Facebook?
  • Bài học hôm này các em sẽ làm quen với khái niệm từ Hán Việt là gì? các từ Hán Việt thường gặp và một số thông tin quan trọng về vai trò, cách nhận viết và ví dụ của từ Hán Việt. Kiến thức này nằm trong chương trinh ngữ văn lớp 7 trung học cơ sở. Hãy đọc kiến thức bên dưới để hiểu hơn về bài học ngày hôm nay.

    Khái niệm từ Hán Việt

    Từ Hán Việt là gì?

    Từ Hán Việt là các từ ngữ trong tiếng Việt vay mượn, có nghĩa gốc từ tiếng Hán (Trung Quốc) nhưng được ghi bằng chữ cái La tinh. Về mặt âm thanh từ Hán Việt khi phát âm gần giống với tiếng Trung Quốc.Trong từ vựng tiếng Việt từ Hán Việt chiếm tỷ lệ cao.

    Do lịch sử và văn hóa lâu đời mà tiếng Việt sử dụng rất nhiều từ Hán Việt cổ. Đồng thời, khi vay mượn còn giúp cho từ vựng tiếng Việt trở nên phong phú hơn rất nhiều.

    Các nhà khoa học nghiên cứu đã chia từ, âm Hán Việt thành 3 loại như sau đó là: từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt và từ Hán Việt Việt hoá.

    – Từ Hán Việt cổ: các từ tiếng Hán được sử dụng trong tiếng Việt trước thời Nhà Đường.

    Ví dụ như Tươi: âm Hán Việt là “tiên”. Bố với âm Hán Việt là “phụ”. Xưa: âm Hán Việt cổ là “sơ”. Búa với âm Hán Việt là “phủ”. Buồn với âm Hán Việt là “phiền”. Kén trong âm Hán Việt là “giản”. Chè trong âm Hán Việt là “trà”.

    – Từ Hán Việt: các từ tiếng Hán được sử dụng trong tiếng Việt giai đoạn thời nhà Đường cho đến đất nước Việt Nam trong thời gian đầu thế kỷ 10.

    + Từ Hán Việt cổ bắt nguồn tiếng Hán trước Nhà Đường.

    + Từ Hán Việt nguồn gốc từ tiếng Hán thời Nhà Đường.

    Ví dụ như gia đình, lịch sử, tự nhiên.

    – Từ Hán Việt Việt hoá: các từ Hán Việt không nằm trong 2 trường hợp trên khi có quy luật biến đổi ngữ âm rất khác và các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu sâu hơn về trường hợp này.

    Ví dụ như Gương âm Hán Việt là “kính”. Goá âm Hán Việt là “quả”. Cầu trong “cầu đường” với âm Hán Việt là “kiều”. Vợ với âm Hán Việt là “phụ”. Cướp với âm Hán Việt là “kiếp”. Trồng, giồng: âm Hán Việt của “chúng”. Thuê với âm Hán Việt là “thuế”.

    Phân biệt từ Hán Việt với từ mượn khác

    Từ mượn phần lớn được lấy từ tiếng nước ngoài như Nga, Anh, Pháp có thể nhận ra dễ dàng qua cách đọc, nói và theo thời gian đã thích nghi với chuẩn mực của tiếng Việt. Khi sử dụng các từ mượn trong cuộc sống hàng ngày người dùng không cảm thấy quá xa lạ hay khác biệt quá nhiều.

    Ví dụ:

    Góa phụ (từ Hán Việt)

    Rocket (từ mượn có nghĩa tên lửa).

    Đặc điểm từ Hán Việt

    Ngôn ngữ tiếng Việt có nhiều từ Hán Việt và mang nhiều sắc thái khác nhau như sắc thái ý nghĩa, sắc thái biểu cảm, sắc thái phong cách.

    – Sắc thái ý nghĩa: từ Hán Việt sắc thái ý nghĩa trừu tượng, khái quát;

    Ví dụ: thảo mộc = cây cỏ, viêm = loét, thổ huyết = hộc máu…

    – Sắc thái biểu cảm: từ Hán Việt thể hiện cảm xúc.

    Ví dụ: phu nhân = vợ, chết = băng hà…

    – Sắc thái phong cách: từ Hán Việt riêng biệt được dùng trong các lĩnh vực khoa học, chính luận, hành chính. Còn từ tiếng Việt có sắc thái đơn giản và đời thường hơn.

    Ví dụ: bằng hữu = bạn bè, huynh đệ = anh em, thiên thu = ngàn năm,..

    Chú ý khi dùng từ Hán Việt

    Từ Hán Việt có một số quy tắc riêng mà người sử dụng cần nắm để tránh bị sai nghĩa hoặc không phù hợp với hoàn cảnh. Đồng thời người dùng không nên lạm dụng nhiều từ Hán Việt trong khi nói hoặc viết.

    Nói hoặc viết đúng các từ giữa Hán Việt và thuần Việt nhằm tránh sai nghĩa. Ví dụ: “tham quan” thành “thăm quan” có 2 nghĩa hoàn toàn khác nhau.

    Hiểu bản chất nghĩa của từ Hán Việt. Ví dụ “yếu điểm” khác với “điểm yếu”.

    Dùng đúng sắc thái biểu cảm , tình huốn giao tiếp. Ví dụ: “chết” và “hi sinh”, “ăn” và “xơi”.

    Tránh lạm dụng từ Hán Việt trong văn chương và đời sống hàng ngày.

    Tại sao dùng sai từ Hán Việt?

    Có nhiều trường hợp dùng sai từ Hán Việt nên nghĩa bị thay đổi hoặc dùng không đúng với sắc thái biểu cảm, tình huống giao tiếp. Dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản:

    – Dùng sai do không hiểu nghĩa gốc của từ Hán Việt. Ví dụ như Hôn lễ (lễ cưới), hôn phối (lấy nhau). Còn hôn phu, hôn quân lại mang nghĩa hoàn toàn khác đó là chỉ người chồng, vua tệ bạc.

    – Không phân biệt tiếng Hán Việt và tiếng thuần Việt.

    – Lạm dụng từ Hán Việt. Ví dụ “tặc” chỉ ăn cướp nhưng nếu dùng “cát tặc”, “vàng tặc” về mặt ngữ pháp là SAI.

    Các từ Hán Việt thường gặp và giải nghĩa

    Một số từ Hán Việt thường gặp nhất và giải nghĩa các từ trên.

    1. GIA ĐÌNH

    GIA ĐÌNH : nơi mà những người thân thiết, ruột thịt trong nhà đoàn tụ với nhau.

    PHỤ MẪU: Cha mẹ.

    NGHIÊM QUÂN: Cha.

    TỪ MẪU: Mẹ.

    KẾ MẪU: mẹ kế.

    TRƯỞNG NAM: Con trai đầu lòng.

    TRUNG NAM: Con trai giữa.

    QUÝ NAM: Con trai út.

    THIẾU NỮ: Con gái nhỏ

    GIAI NHI GIAI PHỤ: Con tốt

    3.TỔ – TÔN

    TIÊN TỔ: Ông tổ trước (lâu đời).

    VIỄN TỔ: Ông tổ xa (lâu đời).

    GIA CÔNG: Ông nội.

    ĐÍCH TÔN: Cháu đầu.

    HUYỀN TÔN: Chít, cháu của cháu.

    3. PHU PHỤ (VỢ CHỒNG)

    NỘI TỬ: Chồng kêu vợ là Nội tử.

    PHU QUÂN: Vợ kêu chồng.

    QUẢ PHỤ: Đàn bà goá (chồng chết)

    NỘI TRỢ: giúp việc trong nhà.

    BẠCH NIÊN GIA LÃO: vợ chồng bên nhau đến già.

    PHU PHỤ HOÀ: Vợ chồng hoà thuận.

    4.HUYNH ĐỆ (Anh em).

    TRƯỞNG HUYNH: Anh cả.

    CHƯ HUYNH: Các anh.

    QUÝ ĐỆ: Em út.

    TRƯỞNG TỸ: Chị gái.

    TIỂU MUỘI: Em gái.

    HUYNH HỮU ĐỆ CUNG: Anh thuận em kính.

    Như vậy chúng tôi cung cấp nhiều thông tin quan trọng về từ Hán Việt là gì? đặc điểm, phân loại và một số từ Hán Việt thường gặp & giải nghĩa. Kiến thức quan trọng dành cho học sinh lớp 7 tham khảo giá trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tsundere Là Gì? Giải Nghĩa Thuật Ngữ Tsundere Trong Anime & Manga
  • Tsundere Là Gì? Những Yếu Tố Để Là Một Tsundere Chính Hiệu
  • Abs Là Gì ? Tìm Hiểu Về Khái Niệm Abs Trong Gym
  • Tập Abs Là Gì? Abs Trong Gym Có Phải Là Cơ Bụng Không?
  • Crush, Uncrush Tiếng Việt Có Nghĩa Là Gì?
  • Hán Việt Và Việc “Việt Hóa” Từ Gốc Hán Để Tạo Thành Từ Hán Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiết Lộ Ý Nghĩa Thú Vị Câu Chúc Khai Trương Hồng Phát
  • Bàn Về Hai Chữ Giang, Hà Và Bài Thơ Hán Quảng Trong Kinh Thi
  • Tản Mạn Về Chữ Kim – Tống Phước Hiệp Vĩnh Long
  • Nên Dùng Từ “Thập Niên”, Không Dùng “Thập Kỷ”
  • Mạo Trong “đình Chùa Miếu Mạo” Nghĩa Là Gì?
  • HÁN VIỆT VÀ VIỆC “VIỆT HÓA” TỪ GỐC HÁN ĐỂ TẠO THÀNH TỪ HÁN VIỆT

    * Ngô Thị Minh Nguyệt – K7 ĐHTH

    1. Đặt vấn đề

    Từ Hán Việt là một đề tài được bàn luận từ rất lâu nhưng luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng. Bởi lẽ, ngoài tư cách là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học thì đó còn là một hiện tượng liên qua đến việc giao tiếp hàng ngày vì thế được nhiều người quan tâm. Việc dùng từ Hán Việt như thế nào được gọi là đúng, thế nào là sai không phải là vấn đề đơn giản. Trong các nội dung được đem ra tranh luận về từ Hán Việt, không ít người thắc mắc sự sai lệch ngữ nghĩa của từ Hán nguyên gốc và từ Hán Việt. Liệu có phải ai thông thuộc tiếng Hán thì cũng biết cách sử dụng từ Hán Việt một cách chính xác hay không? Đó là vấn đề mà bài viết này muốn đề cập đến.

    2.     Sự sai lệch giữa nghĩa tiếng Hán nguyên gốc và nghĩa từ Hán Việt

    Từ Hán Việt là một hiện tượng phức tạp. Nó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp xúc ngôn ngữ giữa hai dân tộc Hán và Việt trong nhiều thế kỷ. Do những nguyên nhân lịch sử và địa lý đặc biệt, cuộc tiếp xúc ngôn ngữ của hai thứ tiếng này có những đặc trưng riêng khó tìm thấy ở các cuộc tiếp xúc ngôn ngữ khác. Bởi thế, tính chất, đặc điểm và cách sử dụng của từ Hán Việt cũng hoàn toàn khác với các loại từ cũng do tiếp xúc ngôn ngữ mà có, như: Hán – Nhật, Hán – Hàn, Hàn – Triều… Sự khác biệt ấy thể hiện trước hết ở phương diện, khối lượng từ Hán Việt trong kho từ vựng tiếng Việt là rất lớn (Theo các kết quả thống kê từ vựng học, trong một số phong cách chức năng, chẳng hạn, trong phong cách hành chính, số lượng từ Hán Việt lên tới 80 -85%). Thứ hai, quá trình xử lý các yếu tố gốc Hán (các từ gốc Hán) trong tiếng Việt cũng hoàn toàn khác với các ngôn ngữ khác trong vùng cùng có quan hệ tiếp xúc với tiếng Hán. Đây là những lý do khiến cho các nhà nghiên cứu không chỉ của Việt Nam mà ngay cả của Trung Quốc cũng phải thừa nhận: từ Hán Việt là một loại từ đặc biệt trong vốn từ vựng tiếng Việt. Nó là một loại từ ngữ đi vay mượn nhưng vay mượn không hoàn toàn.

    Chẳng hạn, theo nghĩa tiếng Việt: từ “chung cư” là chỉ khu nhà bao gồm nhiều hộ dân sinh sống, bên trong chung cư bố trí các căn hộ khép kín cho các gia đình sinh sống. Theo nghĩa tiếng Hán: “chung cư” là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Giữa nghĩa tiếng Hán nguyên gốc và nghĩa tiếng Việt có sự khác nhau nhưng người Việt Nam vẫn luôn hiểu và dùng từ chung cư là khu nhà cho nhiều hộ dân sinh sống.

    Từ Hán Việt là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Hán nhưng đọc theo âm tiếng Việt. Có nhiều người hiểu rằng từ Hán Việt được sử dụng theo nghĩa tiếng Hán và được người Việt mượn để dùng. Thực tế, đây là một cách hiểu máy móc. Khi xem xét nghĩa của từ Hán Việt, chúng ta không thể rập khuôn theo kiểu đối chiếu với nghĩa của từ Hán nguyên gốc. Đây là việc làm có phần cứng nhắc, dẫn đến việc làm mất đi tính năng động của từ Hán Việt với tư cách là một sự sáng tạo linh hoạt của người Việt Nam. Trên thực tế, các từ gốc Hán khi du nhập vào tiếng Việt hầu hết đã bị biến đổi do áp lực của cấu trúc tiếng Việt. Có nghĩa là, chỉ sau một thời gian, bản chất Hán của các từ này đã bị tiếng Việt đồng hóa để không còn cái vẻ nguyên dạng ban đầu. Hoặc là nó bị biến đổi về ngữ âm, hoặc là nó bị biến đổi về ngữ nghĩa theo cách tri nhận mới của người Việt Nam qua cái vỏ âm thanh ban đầu. Có thể dẫn ra vô số trường hợp để nói về điều này. Chẳng hạn, từ “hy sinh” trong tiếng Hán có nghĩa chỉ con vật dùng tế trời hoặc thần linh. Nhưng khi vào tiếng Việt, nó lại có ý nghĩa là  “chết vì một lý tưởng cao cả” hay “tự nguyện nhận về phần mình những thiệt thòi mất mát vì lợi ích chung của cộng đồng” (ví dụ: Các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc.). Từ “khôi ngô”, từ Hán có nghĩa “to lớn”, còn từ Hán Việt lại có nghĩa “thông minh”. Khi mượn, ngôn ngữ đi vay mượn có thể thay đổi theo quy ước của mình để sử dụng cho phù hợp chứ không nhất thiết phải sử dụng nguyên xi.

    3. Cách Việt hóa các từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt

    Người Việt đã Việt hóa các từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt chủ yếu theo 3 con đường sau đây:

    3.1. Thay đổi kết cấu

    Phổ biến nhất là xu hướng rút gọn hàng loạt từ ghép thành từ đơn: văn (văn chương, văn học), lệnh (mệnh lệnh), đảm (đảm đương),hạn (kỳ hạn), điệu (yểu điệu), nghiệt (khắc nghiệt)… Không chỉ rút gọn, người Việt còn phát triển thành từ ghép Việt Nam theo công thức: từ Việt + từ Hán. Ví dụ: cảm mến, bao gồm, bày biện, bình bầu, biến đổi, bồi đắp, kỳ lạ, sống động…

    Ngay cả những từ ghép mang gốc Hán hoàn toàn, khi trở thành từ Hán Việt thì đã đảo vị trí. Ví dụ: náo nhiệt (Hán: nhiệt náo), di chuyển (Hán: chuyển di), tố cáo (Hán: cáo tố), phóng thích (Hán: thích phóng)…

    Bên cạn đó, còn có những từ ghép hoàn toàn mang gốc Hán, song người Việt thay hẳn một yếu tố nào đấy để dùng riêng: họa sĩ(Việt) – họa sư/họa công (Hán); tường tận – tường tế… Thậm chí, những kết cấu ngôn ngữ Hán rất ổn định, rất bền vững là thành ngữ, thì cũng phải thay đổi lúc trở thành thành ngữ Hán Việt. Những từ nằm trong ngoặc đơn ở các thí dụ sau là gốc Hán: tác oai tác quái (tác uy tác phúc), khẩu Phật tâm xà (Phật khẩu xà tâm), du thủ du thực (du thủ hiếu nhàn), thập tử nhất sinh (cửu tử nhất sinh), an phận thủ thường (an phận thủ kỹ), thượng lộ bình an (nhất lộ bình an)…

    3.2. Thay đổi ngữ nghĩa

    Với những từ ghép đa nghĩa, người Việt chỉ chọn một số ý nghĩa nào đấy mà thôi. Chẳng hạn từphù phiếm, ta chỉ dùng nghĩa bóng là “không thiết thực” mà không dùng nghĩa đen là “ngồi thuyền dạo chơi”. Nhiều trường hợp, khi vay mượn từ gốc Hán, người Việt chủ động phát triển thêm một vài nghĩa không có trong tiếng Hán. Từ Hánđinh ninhvốn có nghĩa “dặn dò”, lúc trở thành từ Hán Việt thì có thêm nghĩa mới là “yên trí”. Hoặc từbồi hồivốn có nghĩa “đi đi lại lại”, người Việt còn hiểu là “bồn chồn, lòng dạ không yên”.

    Ngoài ra, khi mượn từ gố Hán, người Việt còn thay đổi hoàn toàn ý nghĩa: hình thức vay mượn, song ý nghĩa lại khác hoàn toàn. Như từ mê ly, từ Hán có nghĩa “mơ hồ, không rõ”, từ Hán Việt có nghĩa “rất hay, rất hấp dẫn”. Hoặclẫm liệt, từ Hán có nghĩa là “rét mướt”, từ Hán Việt có nghĩa “oai phong”.    

    3.3. Thay đổi màu sắc tu từ

    Thông thường, với hai từ đồng nghĩa (một từ Hán Việt và một từ thuần Việt), thì dùng từ Hán Việt mang tính trịnh trọng hơn, hoặc văn hoa hơn. Chẳng hạn: trường thọ/sống lâu; từ trần/chết; phụ nữ/đàn bà; nhi đồng/trẻ em; phu nhân/vợ; mẫu tử/mẹ con; …

    Tuy nhiên, có những từ Hán Việt lại mang màu sắc tu từ trái ngược so với từ gốc Hán. Ví dụ: Dã tâmtrong tiếng Hán chỉ mang nghĩa “tham vọng”, song biến thành từ Hán – Việt thì có nghĩa “lòng dạ hiểm độc”. Đáo để vốn có nghĩa “đến tận đáy”, “đến cùng”, song trong ngôn ngữ Việt Nam lại là “riết róng, đanh đá”. Thủ đoạntiếng Hán có nghĩa “phương pháp, kỹ pháp”, song đối với chúng ta thì đây là từ chỉ “mưu mẹo, mánh khóe” theo nghĩa xấu.

    4. Kết luận

    Từ Hán Việt là một bộ phận đặc biệt hợp thành nên ngôn ngữ tiếng Việt. Bằng sự vay mượn mang tính sáng tạo Việt hóa gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt đã, đang và sẽ làm giàu thêm ngôn ngữ của dân tộc.

              Ngôn ngữ suy cho cùng là để phục vụ cho quá trình giao tiếp, dù sử dụng với ý nghĩa gì thì mục đích cuối cùng cũng là để cho đối tượng giao tiếp hiểu vấn đề mà người giao tiếp muốn truyền tải. Ngôn ngữ chỉ có ý nghĩa khi được mọi người trong cộng đồng đó sử dụng và chấp nhận. Vậy thiết nghĩ, nếu từ Hán Việt sử dụng theo nghĩa nguyên gốc tiếng Hán nhưng người Việt không hiểu, không sử dụng và không chấp nhận thì ngôn ngữ đó còn có ý nghĩa gì nữa? Cách sử dụng từ Hán Việt của người Việt Nam chính là sự Việt hóa từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt. Đây chính là sự tiếp thu văn hóa nói chung và ngôn ngữ nói riêng một cách có chọn lọc theo cách hòa nhập nhưng không hòa tan để giữ gìn, sáng tạo và phát huy ngôn ngữ của dân tộc mình.

    Tài liệu tham khảo

    1. Nguyễn Tài Cẩn (2001). Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.

    2. Nguyễn Thiện Giáp (1996). Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giaos dục.

    3. Ngôn ngữ Việt Nam (2013). Từ điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức.

    4. Võ Ngân Vương (2012). Từ Hán Việt – Những khía cạnh Việt hóa, Tạp chí tài hoa trẻ.

    5.https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%AB_H%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t

    6.     https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xưng Hô Theo Lối Hán Việt Cổ Ngữ – Phần Mềm Viết Sớ – Phần Mềm Viết Sớ Hán Nôm
  • Cách Xưng Hô Tiếng Hán
  • Bố Chồng, Mẹ Chồng Gọi Là Gì?
  • Bạn Có Phân Biệt Được 3 Từ “sông” – 「川」「河」「江」?|Kênh Du Lịch Locobee
  • Học Hán Tự: Phân Biệt 3 Từ “Sông” – 「川」「河」「江」
  • Thuật Ngữ Từ Hán Việt Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Sử Dụng Microsoft Office Outlook 2007 (Phần 1)
  • Uae Là Nước Nào? Quốc Gia Giàu Thứ 9 Thế Giới Có Gì?
  • Quản Lý Thời Gian Là Gì? Kỹ Năng Quản Lý Thời Gian Hiệu Quả
  • Định Nghĩa Vợ Là Gì? Khiến Ai Cũng Phải Bật Cười
  • Essence Khác Gì Với Serum Và Toner
  • 1. Quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán:

    Các nhà nghiên cứu tiếng Việt ngày nay ai cũng nhắc đến những từ Việt gốc Hán, nhưng những định nghĩa và giới thuyết về lớp từ này vẫn chưa phải đã hoàn toàn được thống nhất. Lúc đầu nhiều người cho rằng từ Việt gốc Hán chỉ bao gồm các từ Hán-Việt.

    Một thực tế mà ai cũng phải thừa nhận là giữa người Việt và người Hán đã có sự tiếp xúc về văn hóa và ngôn ngữ từ lâu đời, từ khoảng hai ngàn năm trước.Do đó, nhìn chung, từ Việt gốc Hán là một hiện tượng đa dạng và phức tạp. Có thể phân các giai đoạn tiếp nhận ấy ra làm hai thời kì lớn:

    a/- Giai đoạn trước đời Ðường:

    Ngay từ đầu công nguyên, từ khi có sự đô hộ phương bắc, tiếng Hán đã được sử dụng ở Giao Châu với tư cách một sinh ngữ. Người Hán muốn đồng hóa tiếng nói của dân tộc Việt, nhưng tiếng Việt đã có một cơ sở vững vàng từ trước, đến giai đoạn này nó vẫn tiếp tục được kế thừa và tồn tại. Vì vậy, tuy trải qua hàng ngàn năm, người Việt chỉ tiếp nhận lẻ tẻ một số từ Hán thường dùng để lấp đầy vào chỗ thiếu hụt trong tiếng Việt như: buồng, buồn, muộn, mây, muỗi, đục, đuốc…Những từ được tiếp nhận giai đoạn này được gọi là những từ tiền Hán- Việt hay từ Hán cổ.

    b/-Giai đoạn từ đời Ðường trở về sau:

    Vào khoảng đời Ðường, người Hán đã mở nhiều trường học ở Giao Châu, các thư tịch Hán thuộc đủ các loại được truyền bá rộng rãi. Trước đó, một số thiền sư ấn Ðộ và người Hán cũng truyền giáo ở Giao Châu, một số kinh phật đã được dịch sang chữ Hán cũng được truyền sang Giao Châu.Qua thư tịch, lớp từ văn hóa biểu thị những khái niệm trưù tượng của các phái Nho, Phật, Lão trong tiếng Hán đã được được người Việt vay mượn có tính chất đồng loạt, hệ thống kèm theo sự cải biến về mặt ngữ âm và ý nghĩa để lấp đầy vào khoảng thiếu hụt trong ngôn ngữ của mình.Những từ tiếp nhận ở giai đoạn này được gọi là từ Hán-Việt .

    Sau khi âm Hán-Việt đã được hình thành, trong tiếng Việt vẫn diễn ra sự biến đổi ngữ âm. Những biến đổi này có thể tác động vào một bộ phận từ Hán-Việt, nhất là những từ thuộc phạm vi sinh hoạt hằng ngày, làm cho những từ này mang những nét mới về ngữ âm, ngữ nghĩa, phong cách, khác với những từ Hán-Việt trước đây. Những từ này được gọi là từ Hán-Việt Việt hoá.

    Như vậy kết hợp tiêu chí thời gian hình thành với tiêu chí hình thức ngữ âm và phong cách có thể phân những từ gốc Hán ra làm ba loại: Từ tiền Hán-Việt, từ Hán-Việt, từ Hán-Việt Việt hóa.

    3.2.Tình hình vay mượn từ tiền Hán-Việt.

    Từ tiền Hán-Việt là những từ gốc Hán được dân tộc ta tiếp nhận từ trước đời Ðường.

    Từ đời Hán cho đến đời Ðường, tiếng Hán đã trải qua hai giai đoạn lớn (Thời kì âm Hán thượng cổ và thời kì âm Hán trung cổ), do đó ngữ âm của tiếng Hán biến đổi và phát triển khá nhiều. Sự biến đổi này có tác động lớn lao đến hệ thống ngữ âm từ gốc Hán trong tiếng Việt, bởi vì những từ Hán – Việt cổ đọc theo âm Hán Thượng cổ, những từ Hán – Việt lại dựa vào âm Hán trung cổ. Dựa vào thành quả nghiên cứu về âm Hán Thượng cổ, đối chiếu với những từ gốc Hán ở Việt Nam, những người có vốn Hán ngữ có thể xác định được những từ nào thuộc về lớp từ Hán-Việt cổ.

    Về mặt ngữ âm, có thể hình dung lại quá trình biến đổi từ âm Hán Thượng cổ sang âm Hán-Việt cổ như sau: Trước thế kỉ thứ X trong hệ thống âm đầu tiếng Việt còn chưa có âm hữu thanh, vì vậy âm Hán-Việt cổ lúc đầu cũng mang âm đầu vô thanh, về sau chúng mới hữu thanh hóa. Như vậy những từ có âm đầu hữu thanh trong tiếng Việt ở thời kì ban đầu này chính là những từ gốc Hán.

    Xét về mặt nội dung và phong cách, các từ Hán-Việt cổ do du nhập vào tiếng Việt từ rất sớm, tuyệt đại là những từ đơn âm tiết có đầy đủ hai mặt hình ảnh âm thanh và ý nghĩa, nên đã được Việt hoá rất sâu, có khả năng vận hành độc lập trong tiếng Việt và có một vị trí không khác gì những từ gốc Môn-Khme và gốc Tày-Thái trong tiếng Việt, vì vậy cho nên trong thực tế lâu nay nó vẫn được coi là những từ Việt. Theo quan điểm đồng đại, dựa vào chức năng và giá trị sử dụng, nhiều tác giả xem chúng là từ thuần Việt.

    3.3. Từ Hán-Việt.

    Từ Hán-Việt là những từ gốc Hán đời Ðường-Tống được biến đổi theo quy luật ngữ âm tiếng Việt. Do thông qua con đường sách vở là chủ yếu, những từ Hán-Việt được hình thành một cách có hệ thống, biểu đạt những khái niệm cần thiết cho việc giao tế lúc đó, nhất là trong ngôn ngữ viết. Xét về mặt nội dung, có thể thấy từ Hán Việt được sử dụng để biểu đạt những khái niệm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như chính trị, kinh tế, khoa học, tôn giáo, v.v… Ví dụ:

    – Chính trị: hoàng thượng, thượng, thượng đế, chế độ, chiếm đoạt, xung đột, chính thống, triều đình, …

    – Văn hóa: khoa cử, văn chương, giảng giải, hiền triết,…

    – Giáo dục: tú tài, cử nhăn, tiến sĩ, trạng nguyên, thám hoa,…

    – Tôn giáo: Phật, nát bàn, hòa thượng, giáng thế, thiên đường,…

    – Quân sự: chiến trường, giáp trận, xung đột, chỉ huy, ác chiến,.

    – Tư pháp: Nguyên cáo, bị cáo, xử lí, tố cáo, án sát, ân xá,…

    – Y học: thương tích, thương hàn, chướng khí, tiêm nhiễm,…

    – Kinh tế: thương mại, thương khách, công nghiệp, thương nghiệp,…

    Về mặt ngữ âm, có thể miêu tả quá trình hình thành ra âm Hán-Việt thành mấy điểm sau:

    Về phần vần, cũng có những biến đổi đều đặn từ âm Hán Trung cổ sang âm Hán-Việt.

    Chọn hệ thống ngữ âm Hán -Việt làm trung điểm để khảo sát hệ thống ngữ âm của những từ vay mượn gốc Hán ở các thời kì, có thể thấy đặc điểm ngữ âm của những từ vay mượn ở hai thời kì này như sau:

    THV HV THV HV

    Thông qua cứ liệu thống kê trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm ngữ âm của hai thời kì này:

    -Có sự đối lập giữa âm hữu thanh và âm vô thanh giữa hai thời kì. Cụ thể:

    + Sự dối lập giữà / b / và / f /

    Thí dụ: buồng – phòng; buông – phóng; bùa – phù.

    +Sự đối lập giữa / m / và / v /.

    Thí dụ: mùa -vụ; múa- vũ; muộn- vãn.

    +Sự đối lập giữa / d/ và / tr /.

    Thí dụ: đục -trọc , đuổi -truy ; đúng -trúng.

    +Sự đối lập giữa / ia / và / i /.

    Thí dụ: bia- bi ; lìa- li ; bìa- bì.

    + Sự đối lập giữa / ô / và / a / khi không đứng sau / / i / ngắn.

    Thí dụ : nôm, nồm – nam, nộp- nạp, hộp – hạp.

    + Sự đối lập của /ă/ ngắn và /i/ khi đứng trước /ng/ và /k/ .

    Thí dụ: tanh- tinh ; sanh – sinh.

    + Sự đối lập giữa / e / và / a / hay / ie /.

    Thí dụ: kén- kiển ; quen- quán ; khoe- khoa ; phen- phiên; sen -liên.

    + Sự đối lập giữa / o / và / wo /.

    Thí dụ: hòn- hoàn.

    + Sự đối lập giữa / ua / và / u /.

    Thí dụ: chúa – chủ ; múa- vũ .

    + Sự đối lập giữa / ưa / và / ư /.

    Thí dụ: lừa – lư ; chứa – trữ ; tựa – tự.

    + Sự đối lập giữa / ơ / , / ai / , / ơi / , / âi / và / i /.

    Thí dụ: cờ- kì; thơ- thi ; mày- mi ; dời -di; vây – vi.

    Vay mượn là một hiện tượng tất yếu trong quá trình giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các dân tộc. Có một điều đáng nói là thái độ tích cực, chủ động của người Việt trong quá trình tiếp thu những từ ngữ của tiếng nước ngoài. Những từ ngữ gốc Hán khi đi vào tiếng Việt chẳng những biến đổi it nhiều về hình thức ngữ âm như vừa nêu mà còn có những cải biến về mặt ý nghĩa. ý nghĩa có thể được biến đổi theo nhiều hướng.

    – Mở rộng ý nghĩa của từ Hán. Thí dụ:

    Từ khám trong tiếng Hán có một nghĩa xem xét, khi đi vào tiếng Việt nó thêm nhiều nghĩa mới như xét, lục, khám, soát.

    Từ thủ trong tiếng Hán có 2 nghĩa: 1/. Phần trên cơ thể của người (thủ cấp). 2/. Ðứng trước hết (thủ khoa, thủ lĩnh). Sang tiếng Việt, ngoài hai nghĩa trên, phát sinh thêm một nghĩa mới là phần trên của cơ thể gia súc ( thủ lợn, thủ bò).

    – Thu hẹp nghĩa của từ Hán. Việc thu hẹp nghĩa có thể diễn ra dưới nhiều hình thức.

    a). Giảm bớt các nghĩa được sử dụng trong tiếng Hán. Thí dụ:

    Trong tiếng Hán từ nhất có mười hai nghĩa, khi đi vào tiếng Việt nó chỉ được sử dụng có hai nghĩa : số thứ tự và đều hay cùng.

    Từ phong trào trong tiếng Hán có ba nghĩa: 1- Hướng gió và cữ thủy triều. 2- Gió lốc, gió xoáy giữa biển khơi.3- Sự việc diễn ra sôi nổi trong một thời kì nhất định. Khi đi vào tiếng Việt , chỉ có nghĩa 3- được giữ lại.

    b). Chỉ bảo lưu nghĩa của một trong hai thành tố của từ được sử dụng trong tiếng Hán. Thí dụ:

    Ðột ngột trong tiếng Hán có nghĩa là cao chót vót, cao ngất một mình, trong đó đột có nghĩa là bất chợt, ngột có nghĩa là cao mà phẳng. Trong tiếng Việt, chỉ có nghĩa của đột được giữ lại để chỉ sự bất ngờ, không có dấu hiệu gì báo trước.

    c). Chỉ sử dụng nghĩa của tiếng Hán theo nghĩa hẹp. Thí dụ:

    Tiêu hóa trong tiếng Hán có nghĩa là tiêu tan vật chất hóa ra chất khác. Thí dụ như chất đặc nấu chảy ra chất lỏng…Nói chung, có thể dùng cho mọi quá trình biến đổi của vật chất. Trong tiếng Việt, tiêu hóa chỉ được sử dụng để chỉ quá trình biến thức ăn thành chất nuôi dưỡng cơ thể của người và động vật.

    – Chuyển sang nghĩa hoàn toàn mới. Thí dụ:

    Từ ngoại ô trong tiếng Hán có nghĩa là cái bờ thành nhỏ đắp bằng đất để ngăn trộm cướp. Trong tiếng Việt ngoại ô chỉ khu vực bên ngoài thành phố.

    Phương phi trong tiếng Hán có nghĩa là hoa cỏ thơm tho; trong tiếng Việt có nghĩa là béo tốt.

    Khôi ngô trong tiếng Hán có nghĩa là cao to; trong tiếngViệt có nghĩa là mặt mũi sáng sủa, dễ coi.

    Bồi hồi trong tiếng Hán có nghĩa là đi đi lại lại; trong tiếng Việt có nghĩa là trạng thái tâm lí bồn chồn, xúc động.

    Kĩ lưỡng trong tiếng Hán có nghĩa là khéo léo, trong tiếng Việt có nghĩa là cẩn thận.

    Ðáo để trong tiếng Hán có nghĩa là đến đáy, trong tiếng Việt có nghĩa là quá quắt trong đối xử, không chịu ở thế kém đối với bất cứ ai.

    – Thay đổi sắc thái biểu cảm. Thí dụ:

    Trong tiếng Hán , từ thủ đoạn có nghĩa là tài lược, mưu cơ. Trong tiếng Việt thủ đoạn mang nghĩa xấu, tương đương với cách thức lừa bịp. Phụ nữ, nhi đồng trong tiếng Hán mang sắc thái trung tính, sang tiếng Việt nó diễn đạt khái niệm mang sắc thái dương tính .

    Sự thay đổi sắc thái biểu cảm có thể gắn liền với sự thay đổi các nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm. Thí dụ:

    Tiểu tâm trong tiếng Hán có nghĩa là cẩn thận, chú ý ( sắc thái dương tính). Trong tiếng Việt có nghĩa là lòng dạ nhỏ mọn, hẹp hòi (sắc thái âm tính).

    Lợi dụng trong tiếng Hán có nghĩa là đồ vật tiện dùng hay sử dụng đồ vật sao cho có lợi (trung tính). Trong tiếng Việt có nghĩa là dựa vào điều kiện thuận lợi nào đó để mưu cầu quyền lợi riêng không chính đáng ( sắc thái âm tính)

    Về mặt phong cách, từ tiền Hán-Việt do được du nhập sớm nên hầu hết có nội dung biểu đạt những khái niệm cụ thể và được Việt hoá rất sâu ( như: buồng, bình, đục, đuốc mây, mùa, mù, đúng,…). Từ Hán-Việt do được du nhập muộn hơn, khi tiếng Việt đã có những từ biểu thị các sự vật cụ thể thuộc nền văn minh vật chất, cho nên phần lớn chúng được sử dụng để biểu thị những khái niệm trừu tượng thuộc lớp từ văn hóa và được Việt hóa chưa sâu. Trong tiếng Việt chúng mất khả năng sử dụng độc lập, chỉ được sử dụng với tư cách như những yếu tố cấu tạo từ. So sánh từ cỏ và thảo, miệng và khẩu, mặt và nhan…có thể thấy rõ điều đó. Do đó, để hiểu được từ Hán-Việt , người Việt thường đặt nó vào trong các chùm quan hệ. Thí dụ:

    Về mặt cấu tạo, từ đa tiết Hán-Việt do phần lớn là mượn từ tiếng Hán nên được cấu tạo theo ngữ pháp Hán. Trong các kết cấu chính phụ, yếu tố phụ bao giờ cũng được đặt trước. Thí dụ:

    + Ðịnh tố + danh từ. Thí dụ : chính phủ, thủ pháp, thiên tử. thủy điện, ngoại quốc, độc giả, …

    + Bổ tố + động từ. Thí dụ: cưỡng đoạt, độc lập, độc tấu, bi quan, ngoại lai, lạm dụng, kí sinh,…

    Một số lớn từ Hán-Việt cũng được cấu tạo theo kết cấu đẳng lập.Thí dụ:

    +Danh từ +danh từ. Thí dụ: mô phạm, quy củ, nhân dân, phụ nữ, thư tịch, quốc gia,…

    +Tính từ +tính từ. Thí dụ: hạnh phúc, phú quý, khổ sở, cơ hàn, phong phú, trang nghiêm thích hợp,…

    +Ðộng từ +động từ . Thí dụ: tiếp nhận, tàn sát, chiến đấu, thương vong, đả phá, giáo dưỡng,…

    Có điều cần chú ý là những từ Hán-Việt kiểu này ít có thể đảo vị trí giữa các yếu tố như những từ thuần Việt .

    Ngoài ra trên cơ sở những yếu tố Hán-Việt này, hàng loạt những từ mới sau đó đã được tạo ra. Người Việt có thể kết hợp yếu tố Hán-Việt với yếu tố thuần Việt để tạo ra từ mới. Thí dụ: binh lính, cướp đoạt, đói khổ, súng trường, kẻ địch, tàu hoả,…

    3.4. Từ Hán Việt hóa.

    Từ Hán Việt Việt hóa là những từ được hình thành trên cơ sở sự biến đổi về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và phong cách của những từ Hán-Việt. So với những từ Hán-Việt, những từ Hán Việt Việt hóa mang ý nghĩa cụ thể hơn. So sánh: can và gan, đình và dừng , hoạvà vẽ.

    Có thể nhận thấy sự biến đổi ngữ âm từ âm Hán-Việt sang âm Hán-Việt Việt hoá như sau:

    – Về phần vần.

    Chú ý: Từ Hán-Việt cổ và từ Hán Việt Việt hóa được hình thành từ hai điểm xuất phát khác nhau và ở vào hai thời điểm khác nhau nên không thể có hiện tượng một từ Hán vừa có âm Hán-Việt cổ, lại vừa có âm Hán-Việt Việt hóa. Như vậy là ở Việt Nam, chỉ xảy ra hiện tượng song tồn giữa a/. Từ Hán-Việt cổ và từ Hán-Việt. b/. Từ Hán-Việt và Hán-Việt Việt hóa.

    Các từ Hán-Việt cổ và từ Hán Việt Việt hóa có đặc điểm chung là đã được Việt hóa hoàn toàn về các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và phong cách, giống với từ gốc bản địa, chúng có thể hoạt động độc lập trong việc cấu tạo từ và câu. Chính vì vậy có tác giả xếp chúng vào cùng một loại từ gốc Hán không đọc theo âm Hán-Việt hay từ thuần Việt.

    Tóm lại, những từ gốc Hán trong tiếng Việt chiếm số lượng rất lớn và giữ vai trò quan trọng trong việc biểu đạt tư tưởng, tình cảm của người Việt. Tuy nhiên cần chú ý sử dụng đúng chỗ, đúng lúc mới có thể phát huy được tác dụng to lớn của chúng.

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp 30 Tone Nhạc & Vòng Hợp Âm Trong 14 Giọng Phổ Biến
  • Phương Thức Xác Thực Giao Dịch Techcombank Smart Otp
  • [Taimienphi.vn] Fwb Nghĩa Là Gì?, Fwb Ons Là Gì
  • Sự Khác Biệt Giữa 4G Và Lte Không Phải Là Ở Tốc Độ
  • Thuật Ngữ Cif Và Fob
  • Hán Việt Và Việc “việt Hóa” Từ Gốc Hán Để Tạo Thành Từ Hán Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Tình Hình Sử Dụng Từ Hán
  • Hacker Là Gì? Những Việc Làm Của Hacker Và Cách Phòng Tránh Bị Đánh Cắp
  • Dạy Từ Hán Việt Qua Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Tài Liệu Giang Dạy Từ Hán
  • Đặt Tên Hán Việt Cho Con Trai 2021 Hào Sảng, Mạnh Mẽ Và Thành Công
  • Từ Hán Việt là một đề tài được bàn luận từ rất lâu nhưng luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng. Bởi lẽ, ngoài tư cách là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học thì đó còn là một hiện tượng liên qua đến việc giao tiếp hàng ngày vì thế được nhiều người quan tâm. Việc dùng từ Hán Việt như thế nào được gọi là đúng, thế nào là sai không phải là vấn đề đơn giản. Trong các nội dung được đem ra tranh luận về từ Hán Việt, không ít người thắc mắc sự sai lệch ngữ nghĩa của từ Hán nguyên gốc và từ Hán Việt. Liệu có phải ai thông thuộc tiếng Hán thì cũng biết cách sử dụng từ Hán Việt một cách chính xác hay không? Đó là vấn đề mà bài viết này muốn đề cập đến.

    2. Sự sai lệch giữa nghĩa tiếng Hán nguyên gốc và nghĩa từ Hán Việt

    Từ Hán Việt là một hiện tượng phức tạp. Nó là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp xúc ngôn ngữ giữa hai dân tộc Hán và Việt trong nhiều thế kỷ. Do những nguyên nhân lịch sử và địa lý đặc biệt, cuộc tiếp xúc ngôn ngữ của hai thứ tiếng này có những đặc trưng riêng khó tìm thấy ở các cuộc tiếp xúc ngôn ngữ khác. Bởi thế, tính chất, đặc điểm và cách sử dụng của từ Hán Việt cũng hoàn toàn khác với các loại từ cũng do tiếp xúc ngôn ngữ mà có, như: Hán – Nhật, Hán – Hàn, Hàn – Triều… Sự khác biệt ấy thể hiện trước hết ở phương diện, khối lượng từ Hán Việt trong kho từ vựng tiếng Việt là rất lớn (Theo các kết quả thống kê từ vựng học, trong một số phong cách chức năng, chẳng hạn, trong phong cách hành chính, số lượng từ Hán Việt lên tới 80 -85%). Thứ hai, quá trình xử lý các yếu tố gốc Hán (các từ gốc Hán) trong tiếng Việt cũng hoàn toàn khác với các ngôn ngữ khác trong vùng cùng có quan hệ tiếp xúc với tiếng Hán. Đây là những lý do khiến cho các nhà nghiên cứu không chỉ của Việt Nam mà ngay cả của Trung Quốc cũng phải thừa nhận: từ Hán Việt là một loại từ đặc biệt trong vốn từ vựng tiếng Việt. Nó là một loại từ ngữ đi vay mượn nhưng vay mượn không hoàn toàn.

    Chẳng hạn, theo nghĩa tiếng Việt: từ “chung cư” là chỉ khu nhà bao gồm nhiều hộ dân sinh sống, bên trong chung cư bố trí các căn hộ khép kín cho các gia đình sinh sống. Theo nghĩa tiếng Hán: “chung cư” là nơi ở cuối cùng, tức là mồ chôn hay nghĩa địa. Giữa nghĩa tiếng Hán nguyên gốc và nghĩa tiếng Việt có sự khác nhau nhưng người Việt Nam vẫn luôn hiểu và dùng từ chung cư là khu nhà cho nhiều hộ dân sinh sống.

    Từ Hán Việt là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Hán nhưng đọc theo âm tiếng Việt. Có nhiều người hiểu rằng từ Hán Việt được sử dụng theo nghĩa tiếng Hán và được người Việt mượn để dùng. Thực tế, đây là một cách hiểu máy móc.Khi xem xét nghĩa của từ Hán Việt, chúng ta không thể rập khuôn theo kiểu đối chiếu với nghĩa của từ Hán nguyên gốc. Đây là việc làm có phần cứng nhắc, dẫn đến việc làm mất đi tính năng động của từ Hán Việt với tư cách là một sự sáng tạo linh hoạt của người Việt Nam. Trên thực tế, các từ gốc Hán khi du nhập vào tiếng Việt hầu hết đã bị biến đổi do áp lực của cấu trúc tiếng Việt. Có nghĩa là, chỉ sau một thời gian, bản chất Hán của các từ này đã bị tiếng Việt đồng hóa để không còn cái vẻ nguyên dạng ban đầu. Hoặc là nó bị biến đổi về ngữ âm, hoặc là nó bị biến đổi về ngữ nghĩa theo cách tri nhận mới của người Việt Nam qua cái vỏ âm thanh ban đầu. Có thể dẫn ra vô số trường hợp để nói về điều này. Chẳng hạn, từ “hy sinh” trong tiếng Hán có nghĩa chỉ con vật dùng tế trời hoặc thần linh. Nhưng khi vào tiếng Việt, nó lại có ý nghĩa là “chết vì một lý tưởng cao cả” hay “tự nguyện nhận về phần mình những thiệt thòi mất mát vì lợi ích chung của cộng đồng” (ví dụ: Các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc.). Từ “khôi ngô”, từ Hán có nghĩa “to lớn”, còn từ Hán Việt lại có nghĩa “thông minh”.Khi mượn, ngôn ngữ đi vay mượn có thể thay đổi theo quy ước của mình để sử dụng cho phù hợp chứ không nhất thiết phải sử dụng nguyên xi.

    Người Việt đã Việt hóa các từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt chủ yếu theo 3 con đường sau đây:

    Phổ biến nhất là xu hướng rút gọn hàng loạt từ ghép thành từ đơn: văn(văn chương, văn học), lệnh(mệnh lệnh), đảm(đảm đương), hạn(kỳ hạn), điệu(yểu điệu), nghiệt(khắc nghiệt)… Không chỉ rút gọn, người Việt còn phát triển thành từ ghép Việt Nam theo công thức: từ Việt + từ Hán. Ví dụ: cảm mến, bao gồm, bày biện, bình bầu, biến đổi, bồi đắp, kỳ lạ, sống động…

    Ngay cả những từ ghép mang gốc Hán hoàn toàn, khi trở thành từ Hán Việt thì đã đảo vị trí. Ví dụ: náo nhiệt(Hán: nhiệt náo), di chuyển(Hán: chuyển di), tố cáo(Hán: cáo tố), phóng thích(Hán: thích phóng)…

    Bên cạn đó, còn có những từ ghép hoàn toàn mang gốc Hán, song người Việt thay hẳn một yếu tố nào đấy để dùng riêng: họa sĩ(Việt) – họa sư/họa công(Hán); tường tận – tường tế … Thậm chí, những kết cấu ngôn ngữ Hán rất ổn định, rất bền vững là thành ngữ, thì cũng phải thay đổi lúc trở thành thành ngữ Hán Việt. Những từ nằm trong ngoặc đơn ở các thí dụ sau là gốc Hán: tác oai tác quái (tác uy tác phúc), khẩu Phật tâm xà (Phật khẩu xà tâm), du thủ du thực (du thủ hiếu nhàn), thập tử nhất sinh (cửu tử nhất sinh), an phận thủ thường (an phận thủ kỹ), thượng lộ bình an (nhất lộ bình an)…

    Với những từ ghép đa nghĩa, người Việt chỉ chọn một số ý nghĩa nào đấy mà thôi. Chẳng hạn từ phù phiếm, ta chỉ dùng nghĩa bóng là “không thiết thực” mà không dùng nghĩa đen là “ngồi thuyền dạo chơi”. Nhiều trường hợp, khi vay mượn từ gốc Hán, người Việt chủ động phát triển thêm một vài nghĩa không có trong tiếng Hán. Từ Hán đinh ninhvốn có nghĩa “dặn dò”, lúc trở thành từ Hán Việt thì có thêm nghĩa mới là “yên trí”. Hoặc từ bồi hồi vốn có nghĩa “đi đi lại lại”, người Việt còn hiểu là “bồn chồn, lòng dạ không yên”.

    Ngoài ra, khi mượn từ gố Hán, người Việt còn thay đổi hoàn toàn ý nghĩa: hình thức vay mượn, song ý nghĩa lại khác hoàn toàn. Như từ mê ly, từ Hán có nghĩa “mơ hồ, khôngrõ”, từ Hán Việt có nghĩa “rất hay, rất hấp dẫn”. Hoặc lẫm liệt, từ Hán có nghĩa là “rét mướt”, từ Hán Việt có nghĩa “oai phong”.

    Thông thường, với hai từ đồng nghĩa (một từ Hán Việt và một từ thuần Việt), thì dùng từ Hán Việt mang tính trịnh trọng hơn, hoặc văn hoa hơn. Chẳng hạn: trường thọ/sống lâu; từ trần/chết; phụ nữ/đàn bà; nhi đồng/trẻ em; phu nhân/vợ; mẫu tử/mẹ con; …

    Tuy nhiên, có những từ Hán Việt lại mang màu sắc tu từ trái ngược so với từ gốc Hán. Ví dụ: Dã tâmtrong tiếng Hán chỉ mang nghĩa “tham vọng”, song biến thành từ Hán – Việt thì có nghĩa “lòng dạ hiểm độc”. Đáo đểvốn có nghĩa “đến tận đáy”, “đến cùng”, song trong ngôn ngữ Việt Nam lại là “riết róng, đanh đá”. Thủ đoạn tiếng Hán có nghĩa “phương pháp, kỹ pháp”, song đối với chúng ta thì đây là từ chỉ “mưu mẹo, mánh khóe” theo nghĩa xấu.

    Từ Hán Việt là một bộ phận đặc biệt hợp thành nên ngôn ngữ tiếng Việt. Bằng sự vay mượn mang tính sáng tạo Việt hóa gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt đã, đang và sẽ làm giàu thêm ngôn ngữ của dân tộc.

    Ngôn ngữ suy cho cùng là để phục vụ cho quá trình giao tiếp, dù sử dụng với ý nghĩa gì thì mục đích cuối cùng cũng là để cho đối tượng giao tiếp hiểu vấn đề mà người giao tiếp muốn truyền tải. Ngôn ngữ chỉ có ý nghĩa khi được mọi người trong cộng đồng đó sử dụng và chấp nhận. Vậy thiết nghĩ, nếu từ Hán Việt sử dụng theo nghĩa nguyên gốc tiếng Hán nhưng người Việt không hiểu, không sử dụng và không chấp nhận thì ngôn ngữ đó còn có ý nghĩa gì nữa? Cách sử dụng từ Hán Việt của người Việt Nam chính là sự Việt hóa từ gốc Hán để tạo thành từ Hán Việt. Đây chính là sự tiếp thu văn hóa nói chung và ngôn ngữ nói riêng một cách có chọn lọc theo cách hòa nhập nhưng không hòa tan để giữ gìn, sáng tạo và phát huy ngôn ngữ của dân tộc mình.

    Tài liệu tham khảo

    5.https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%AB_H%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t

    6. https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4n_ng%E1%BB%AF

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Tên Hán Việt Cho Con Gái 2021 Với Những Gợi Ý Không Thể Bỏ Qua
  • Bài Giảng Môn Học Ngữ Văn Lớp 7
  • Bài Tập Từ Hán Việt (Có Đáp Án).
  • Tại Sao Cờ Tướng Lại Có “sở Hà Hán Giới”?
  • Soạn Bài Từ Hán Việt Trang 69 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Soạn Bài : Từ Hán Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Dùng Hàm Iferror Trong Excel Qua Ví Dụ Cụ Thể
  • Hàm Iferror Trong Excel Là Gì Và Cách Sử Dụng Như Thế Nào?
  • Hàm If, Lồng Ghép Hàm If Với Nhiều Điều Kiện, Iferror, Ifna Và Nhiều Hơn Nữa
  • Hàm Sumproduct Trong Excel: Nâng Cao & Nhiều Điều Kiện (Pro Excel)
  • Hướng Dẫn Cách Dùng Hàm Sumproduct Trong Excel Qua Ví Dụ
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    1. Đơn vị cấu tạo từ Hán Việt

    a) Trong bài thơ Nam quốc sơn hà, các tiếng Nam, quốc, sơn, nghĩa là gì? Trong các tiếng ấy, tiếng nào có thể dùng như một từ đơn để đặt câu? Cho ví dụ.

    : Các tiếng Nam, quốc, sơn, đều có nghĩa ( Nam: phương nam, quốc: nước, sơn: núi, : sông), cấu tạo thành hai từ ghép Nam quốcsơn hà (nước Nam, sông núi). Trong các tiếng trên, chỉ có Nam là có khả năng đứng độc lập như một từ đơn để tạo câu, ví dụ: Anh ấy là người miền Nam. Các tiếng còn lại chỉ làm yếu tố cấu tạo từ ghép, ví dụ: nam quốc, quốc gia, sơn hà, giang sơn, …

    : Thiên trong thiên thư (ở bài Nam quốc sơn hà) nghĩa là trời, thiên trong (1) và (2) nghĩa là nghìn, thiên trong thiên đô nghĩa là dời. Đây là hiện tượng đồng âm của yếu tố Hán Việt.

    a) Các từ sơn hà, xâm phạm (trong bài Nam quốc sơn hà), giang san (trong bài Tụng giá hoàn kinh sư) thuộc loại từ ghép chính phụ hay đẳng lập?

    : Chú ý mối quan hệ giữa các tiếng trong từ. Các từ trên là từ ghép đẳng lập.

    b) Các từ ái quốc, thủ môn, chiến thắng thuộc loại từ ghép gì? Nhận xét về trật tự của các tiếng trong các từ ghép loại này với từ ghép thuần Việt cùng loại.

    : Các từ trên thuộc loại từ ghép chính phụ, yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau giống như từ ghép chính phụ thuần Việt.

    c) Các từ thiên thư(trong bài Nam quốc sơn hà), thạch mã (trong bài Tức sự), tái phạm (trong bài Mẹ tôi) thuộc loại từ ghép gì? Hãy so sánh vị trí của các tiếng trong các từ ghép này với từ ghép thuần Việt cùng loại.

    : Các từ này cũng thuộc loại từ ghép chính phụ nhưng trật tự các tiếng ngược lại với từ ghép chính phụ thuần Việt: tiếng phụ đứng trước, tiếng chính đứng sau.

    1. Hãy phân biệt nghĩa của các yếu tố Hán Việt đồng âm trong các từ sau:

    phi1: phi công, phi đội / phi2:phi pháp, phi nghĩa / phi3: cung phi, vương phi

    tham1: tham vọng, tham lam / tham2: tham gia, tham chiến

    : Tra từ điển để biết nghĩa của các yếu tố đồng âm. Hoacó các nghĩa: bông hoa, người con gái; tốt đẹp. Phi: bay, chẳng phải, sai trái, vợ vua, mở ra. Tham: ham muốn, dự vào. Gia: nhà, thêm vào.

    2. Thêm tiếng để tạo từ ghép theo bảng sau:

    3. Xếp các từ hữu ích, thi nhân, đại thắng, phát thanh, bảo mật, tân binh, hậu đãi, phòng hoả vào bảng phân loại:

    : Tra từ điển để biết nghĩa của mỗi yếu tố trong từ, xét vai trò các yếu tố. Trong các từ trên, các yếu tố đóng vai trò chính là: ích, thi, thắng, phát, mật, binh, đãi, hoả.

    4. Tìm thêm mỗi loại 5 từ theo bảng trên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Hán Việt Là Gì? Những Từ Hán Việt Hay Và Ý Nghĩa
  • Homestay Là Gì? 8 Lý Do Nên Chọn Homestay Thay Cho Khách Sạn
  • Homestay Là Gì? Xu Hướng Du Lịch Mới Cho Giới Trẻ
  • Homestay Là Gì? Hiểu Để Kinh Doanh Thành Công Dịch Vụ Này
  • Kinh Doanh Homestay Cần Bao Nhiêu Tiền, Thủ Tục Giấy Phép Đăng Ký?
  • Bài 5. Từ Hán Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lỗi Sai Phổ Biến Khi Dùng Từ Hán Việt
  • Đặt Tên Cho Con Theo Nghĩa Hán Việt Hay Nhất 2021
  • 214 Bộ Thủ Chữ Hán: Ý Nghĩa, Cách Học, Cách Viết Siêu Nhanh!
  • Từ Điển Hán Việt: Cách Tra Chuẩn Xác Nhất Cho Người Mới Bắt Đầu ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Top Website, Ứng Dụng Từ Điển Hán Việt
  • TỪ HÁN VIỆT

    I/ Đơn vị cấu tạo từ Hán Việt :

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư

    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

    Hán

    Tự

    Từ

    Hán

    Việt

    Ti?t 18 T? HN VI?T

    1/ Các tiếng Nam, quốc, sơn, hà có

    nghĩa là gì ?

    Tiết 18 TỪ HÁN VIỆT

    phương nam, nước Nam

    nước

    núi

    sông

    Nhan đề bài thơ chữ Hán “Nam quốc sơn hà” có mấy từ?

    Có 2 từ: nam quốc, sơn hà.

    . nam quốc (2 tiếng: nam + quốc)

    . sơn hà (2 tiếng: sơn + hà)

    Trong tiếng Việt có khối lượng khá lớn từ Hán Việt. Tiếng để cấu tạo nên từ Hán Việt được gọi là yếu tố Hán Việt.

    1 từ Hán Việt được tạo bởi nhiều tiếng.

    1. Nhà tôi ở hướng nam.

    2. Cụ là nhà thơ yêu nước.

    3. Mới ra tù Bác đã tập leo núi.

    4. Nó thích tắm sông.

    1. Quê tôi ở miền nam.

    2. Cụ là nhà thơ yêu quốc.

    3. Mới ra tù Bác đã tập leo sơn.

    4. Nó thích tắm hà.

    ? T? Nam cĩ th? dng d?c l?p.

    ? Cc t? qu?c, son, h khơng th? dng d?c l?p

    m dng d? t?o t? ghp.

    Tiếng nào được dùng như một từ đơn để đặt câu? tiếng nào không?

    * Xét những câu sau:

    * Một số yếu tố Hán Việt được dùng độc lập như một từ, có lúc dùng để tạo từ ghép như:

    Hoa , quả, bút, bảng, học, tập,… ( vì chúng được Việt hóa hoàn toàn)

    Qua ví dụ trên em rút ra nhận xét gì về các “yếu tố Hán Việt” ? (Chúng có khả năng sử dụng độc lập không?).

    2/ Yếu tố “thiên” trong :

    – thiên thư : trời

    – thiên niên kỷ, thiên lí mã :

    – thiên đô về Thăng Long :

    nghìn

    dời

    Em có nhận xét gì về âm và nghĩa các yếu tố Hán Việt trên ?

    Các yếu tố Hán Việt trên đồng âm nhưng

    nghĩa khác xa nhau.

    *Ví dụ :Từ Hán Việt đồng âm nhưng khác nghĩa

    Hoa1 : hoa quả, hương hoa(cơ quan sinh sản hữu tính )

    Hoa2 : hoa mĩ, hoa lệ (phồn hoa bóng bẩy )

    Tử 1: Chết ( tử trận )

    Tử 2: Con ( phụ tử )

    Tử 3: Người đàn ông ( quân tử )

    2. Ghi nhớ

    Trong tiếng Việt có một khối lượng khá lớn từ Hán Việt. Tiếng để cấu tạo từ Hán Việt gọi là yếu tố Hán Việt.

    Phần lớn các yếu tố Hán Việt không được dùng độc lập như từ mà dùng để tạo từ ghép. Một số yếu tố Hán Việt như hoa, quả, bút, bảng, học, tập,… có lúc dùng để tạo từ ghép, có lúc được dùng độc lập như một từ.

    Có nhiều yếu tố Hán Việt đồng âm nhưng nghĩa khác xa nhau.

    – Em hãy nhắc lại các kiến thức về từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập đã học ở bài trước ?

    + Từ ghép chính phụ: Tiếng chính và tiếng phụ bổ sung ý nghĩa cho tiếng chính. Tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau.

    + Từ ghép đẳng lập: Các tiếng bình đẳng về ngữ pháp.

    Tiết 18 TỪ HÁN VIỆT

    II/ Từ ghép Hán Việt :

    II/ Từ ghép Hán Việt :

    1/ Các từ sơn hà, xâm phạm, giang san thuộc loại từ ghép chính phụ hay đẳng lập ?

     Từ ghép đẳng lập

    2/ a/ Các từ ái quốc, thủ môn, chiến thắng thuộc loại từ ghép gì ?

     Từ ghép chính phụ

    Trật tự của các yếu tố từ ghép Hán Việt này có giống trật tự của các tiếng trong từ ghép thuần việt không ?

     giống trật tự từ ghép thuần việt ở chỗ yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau.( ái quốc, thủ môn, chiến thắng )

    Tiết 18 TỪ HÁN VIỆT

    b/ Các từ thiên thư, thạch mã, tái phạm thuộc loại từ ghép nào ?

     Trật tự của các yếu tố từ ghép Hán Việt này có gì khác với các tiếng trong từ ghép thuần việt ?

     từ ghép chính phụ

     khác ở chỗ yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau.( thiên thư, thạch mã, tái phạm)

    2. Ghi nhớ

    Cũng như từ ghép thuần Việt, từ ghép Hán Việt có hai loại chính: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.

    Trật tự của các yếu tố trong từ ghép chính phụ Hán Việt:

    -Có trường hợp giống với trật tự từ ghép thuần Việt: yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau;

    -Có trường hợp khác với trường hợp từ ghép thuần Việt: yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau.

    III – LUYỆN TẬP

    Bài 1.

    Phân biệt nghĩa của các yếu tố Hán Việt đồng âm.

    +Hoa (1):

    bộ phận của cây

    Hoa (2):

    đẹp

    +Phi (1):

    bay

    Phi (2):

    không

    Phi(3):

    vợ vua

    +Tham (1):

    ham muốn

    Tham (2):

    góp, dự

    +Gia (1):

    nhà

    Gia (2):

    thêm vào

    2/ Tìm những từ ghép Hán Việt có chứa yếu tố

    Hán Việt quốc, sơn, cư, bại :

    VD : quốc : quốc gia, cường quốc, quốc tế…

    Sơn :

    Cư :

    Bại :

    sơn hà, giang sơn, sơn cước ….

    thất bại, đại bại, bại tướng …

    cư trú, an cư, cư dân …..

    3/ Xếp các từ ghép hữu ích, thi nhân, đại thắng, phát thanh, bảo mật, tân binh, hậu đãi, phòng hỏa vào nhóm thích hợp :

    a. Từ có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau:

    b. Từ có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau:

    hữu ích, phát thanh , phòng hỏa, bảo mật.

    thi nhân, đại thắng, tân binh, hậu đãi.

    Baøi taäp nhanh

    1-Còn trời còn nước còn non

    Còn người ta còn phải lo.

    a-thất hứa b-thất vọng c-thất học d-thất trận

    2-Gửi miền Bắc lòng miền Nam ,

    Đang xông lên đánh Mĩ tuyến đầu.

    a-chung tình b-chung sức c-chung thủy d-chung kết

    3-Đêm nay pháo nổ giao thừa

    Mà người không nhà còn đi.

    a-chiến sĩ b-chiến mã c-chiến trường d-chiến công

    4-Đố ai đếm hết vì sao

    Đố ai kể hết Bác Hồ

    a-công ơn b-công lao c-công đức d-cù lao

    thất học

    chung thủy

    chiến sĩ

    công lao

    DẶN DÒ

    Tìm hiểu nghĩa của các yếu tố Hán Việt xuất hiện nhiều trong các văn bản đã học.

    Hoàn thành bài tập 4/SGK/71 vào vở

    – Soạn:Tìm hiểu chung về văn biểu cảm

    + Đọc ví dụ SGK/71,72

    + Trả lời câu hỏi mục 1,2 SGK/ 72,73

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Từ Hán Việt
  • Từ Hán Việt Trong Ngôn Ngữ Tiếng Việt
  • Khái Niệm Về Từ Hán
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn Lớp 7 Tập Một
  • Top 10 Phần Mềm Quản Lý Đặt Phòng Homestay, Hostel Tốt Nhất Hiện Nay
  • Soạn Bài: Từ Hán Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Học Kì 1 Lớp 11 Môn Văn
  • 4 Sản Phẩm Lotion Dưỡng Da Của Nhật Dùng 1 Lần Là Thích Mê
  • [Hướng Dẫn] Sử Dụng File .dng Như Thế Nào, Cách Áp Màu Cho Lightroom Mobile Chi Tiết
  • Môi Trường Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Môi Trường Tự Nhiên
  • Bài 9. Tác Động Của Ngoại Lực Đến Địa Hình Bề Mặt Trái Đất
  • Soạn bài: Từ hán việt

    I. Đơn vị cấu tạo từ Hán Việt

    1. Các tiếng:

    – Nam: nước Nam

    – quốc: quốc gia, đất nước

    – sơn: núi

    – hà: sông

    Từ có thể đứng độc lập là từ Nam có thể tạo thành câu.

    Các từ còn lại cần phải kết hợp với các từ khác nữa

    2. Tiếng thiên trong thiên niên kỉ, thiên lí mã: có nghĩa là ngàn/nghìn

    – Tiếng thiên trong thiên đô về Thăng Long: là dời chuyển

    II. Từ ghép Hán Việt

    1. Các từ sơn hà, xâm phạm (trong bài Nam quốc sơn hà), giang san (trong bài Tụng giá hoàn kinh sư) thuộc từ ghép đẳng lập hợp nghĩa.

    2. Các từ ái quốc, thủ môn, chiến thắng thuộc loại từ ghép chính phụ. Yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau

    b, Các từ thiên thư, thạch mã, tái phạm thuộc loại từ ghép chính phụ, có trật tự từ ngược lại với trật tự từ các tiếng trong từ ghép thuần Việt. Tiếng phụ đứng trước, tiếng chính đứng sau.

    III. Luyện tập

    Bài 1 (trang 70 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Hoa ( hoa quả, hương hoa): cơ quan sinh sản của cây, thường có hương thơm, màu sắc

    Hoa (hoa mĩ, hoa lệ): đẹp, tuyệt đẹp

    – Tham: (tham vọng, tham lam): ham thích một cách quá đáng không biết chán

    – Tham (tham gia, tham chiến): dự vào, góp phần vào

    – Gia (gia chủ, gia súc): nhà

    – Gia (gia vị): thêm vào

    – phi ( phi công, phi đội): bay

    – phi (phi pháp, phi pháp): trái, không phải

    – phi (vương phi, cung phi): vợ vua, chúa

    Bài 2 (trang 71 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    – Quốc (nước): quốc gia, quốc thể, quốc ngữ

    – Sơn (núi): sơn thủy, sơn cước, sơn tặc

    – Cư (ở): chung cư, ngụ cư, định cư, di cư

    – Bại (thua): Thất bại, thành bại, đại bại

    Bài 3 (trang 71 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    – Yếu tố đứng trước, yếu tố phụ đứng sau:

    Hữu ích, phát thanh, bảo mật, phòng hỏa

    – Yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau:

    Thi nhân, đại thắng, tân binh, hậu đãi

    Bài 4 (trang 71 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Những từ ghép chính phụ có:

    – Yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau:

    Nhật thực, nhật báo, mĩ nhân, đại dương, phi cơ

    – Yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau:

    Phóng đại, chỉ dẫn, ái quốc, hữu hiệu, vô hình

    Các bài soạn văn lớp 7 hay khác:

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Oppa Là Gì? Và Cách Sử Dụng Oppa Sao Cho Đúng Nhất !!!
  • Tổng Hợp Những Từ Viết Tắt Trên Facebook Thông Dụng Nhất Hiện Nay
  • Deabak, Aegyo, Ot, Maknae Là Gì? Những Thuật Ngữ Mà Fan Kpop Phải Biết
  • Trọn Bộ Sách Intensive Ielts Listening, Reading, Speaking, Writing {Ebook + Audio}
  • Auto Là Gì Trên Facebook, Ý Nghĩa Auto Xinh Trong Giới Trẻ
  • Sắc Thái Tu Từ Từ Hán Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Lớp Từ Ngữ Theo Nguồn Gốc: Các Từ Ngữ Gốc Hán
  • Cách Tra Từ Điển Hán Ngữ
  • Ngôn Ngữ Hán Việt Trong Y Học (Bs. Vũ Thanh Giang)
  • Từ Ngữ Hán Việt Trong Tác Phẩm “lục Vân Tiên” Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Nhiệt Độ Là Gì? Tìm Hiểu Về Nhiệt Độ Là Gì?
  • Sắc thái tu từ từ Hán Việt * Sắc thái trang trọng * Sắc thái tao nhã * Sắc thái khái quát và trừu tượng * Sắc thái cổ Tu từ học nghiên cứu những thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngơn ngữ. Sự vận dụng các kết quả nghiên cứu đĩ sẽ giúp cho lời văn hay hơn, đẹp hơn. Trải qua quá trình lựa chọn, cải biên và vận dụng kéo dài hàng ngàn năm, lớp từ Hán Việt đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong kho tàng di sản văn hố của dân tộc ta và được chúng ta sử dụng để thể hiện sắc thái tu từ trong các phong cách chức năng khác nhau. Từ Hán Việt là nguồn chất liệu đáng kể trong văn học bác học và văn chương bình dân. Các tác phẩm văn học kinh điển của dân tộc ta, như: Chinh phụ ngâm, Cung ốn ngâm khúc, Truyện Kiều, Khĩc Trương Quỳnh Như, Chiều hơm nhớ nhà… đều sử dụng từ Hán Việt. Ngày nay, trong kho từ ngữ tiếng Việt cịn tồn tại hàng loạt cặp từ Hán Việt và thuần Việt cĩ nghĩa tương đương nhau về sắc thái ý nghĩa, về mặt biểu cảm và được dùng song song với nhau. Trong đĩ, từ Hán Việt thường mang sắc thái cổ kính và khơng thơng dụng cịn các từ thuần Việt mang tính hiện đại, thơng dụng. Và các nhà thơ cổ điển đã dịch một khái niệm cổ điển sang hiện đại. Ví dụ: quyền mơn → cửa quyền phù vân → mây nổi thanh sử → sử xanh … Cĩ thể nĩi tới 4 sắc thái tu từ của từ Hán Việt. 1. Sắc thái trang trọng Một số từ Hán Việt thay thế từ thuần Việt vì Hán Việt tạo cảm giác trang trọng, nghiêm trang hơn: phụ nữ – đàn bà nơng dân – dân cày hi sinh – chết … Dùng sinh, phế, phúng, tặng, tẩy… thay cho: đẻ, bỏ, viếng, cho, rửa… Cách đặt tên phố, chợ, bút danh (các nhà thơ trào phúng lại dùng các từ thuần Việt cho cĩ vẻ hài hước). Bác Hồ dùng từ Hán Việt trong trường hợp trang nghiêm: Các em quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. 2. Sắc thái tao nhã Từ Hán Việt thay thế cho từ thuần Việt trong trường hợp từ thuần Việt khi được nĩi ra gây cảm giác thơ tục, khiếm nhã. Các từ chỉ bệnh tật ghê sợ: thổ huyết, xuất huyết, viêm họng… Các từ chỉ tai nạn, chết chĩc: hoả hoạn, thương vong, từ trần… Các từ chỉ hoạt động sinh lí… Từ Hán Việt được dung với tư cách là uyển ngữ: mãn nguyệt khai hoa, động phong hoa trúc, cấp dưỡng… 3. Sắc thái khái quát và trừu tượng Một số từ Hán Việt, đặc biệt là thuật ngữ khoa học cĩ ý nghĩa khái quát hố cao mà từ thuần Việt khơng cĩ hoặc khơng cĩ nghĩa tương đương. Về chính trị: độc lập, tự do, dân chủ, dân quyền… Về ngoại giao: cơng hàm, lãnh sự, sứ quán… Về quân sự: tiến cơng, kháng chiến, du kích… Về tốn học: đồng quy, tiếp quyến, tích phân… Những thuật ngữ này cĩ nội hàm lớn, khái quát cao, nếu dùng từ thuần Việt thì dài dịng. Từ Hán Việt cĩ tính chất trừu tượng, tĩnh gợi cho ta hình ảnh thế giới ý niệm im lìm, tĩnh tại… Từ thuần Việt gợi sắc thái sinh động, cụ thể của thế giới thực tại. Cĩ thể lấy ví dụ so sánh bằng hai bài thơ: Thu điếu (Nguyễn Khuyến) và Chiều hơm nhớ nhà (Bà huyện Thanh Quan). Trong bài Thu điếu, Nguyễn Khuyến dùng tồn từ thuần Việt để gợi về mùa thu cĩ thực, về nơng thơn bình dị, đẹp nên thơ và rất đỗi thân yêu của làng quê Việt Nam. Ơng khơng dùng từ Hán Việt vì nếu dùng thì cảm giác thân quen, gần gũi rất cĩ thể sẽ bị mất đi. Và ở đây, chính các từ thuần Việt đã tạo nên âm hưởng, tạo nên cảm giác thân quen ấy. Trái lại, trong bài thơ của bà huyện Thanh Quan đĩ lại là hình ảnh về buổi chiều của nội tâm. Tác giả đã đẩy lùi bức tranh vào thế giới của tâm tưởng, ý niệm. Trong Mẹo giải thích từ Hán Việt của Phan Ngọc cĩ viết: Các từ Hán Việt mà nữ thi sĩ dùng đẩy ta vào thế giới muơn đời. Trên đời chỉ cĩ những ơng chài, những thơn bản, những trẻ chăn trâu, những người ở đài cao, những người khách trọ cảnh ấm lạnh của cuộc đời. Làm gì cĩ những ngư ơng, những viễn phố, những mục tử, những cơ thơn, làm gì cĩ trang đài, người lữ… Từ Hán Việt đều đặt vào vị trí quyết định – vần cuối câu thơ – dễ gây tiếng vọng trong tâm hồn ta, kéo ta về cõi vĩnh viễn của ý niệm. Và nỗi u hồi của nhà thơ là nỗi u hồi của cái kiếp trước khơng biết đến tháng năm, thời đại. Đây là nghệ thuật lựa chọn từ ngữ rất cơng phu. Những từ đĩ là những tín hiệu thẩm mĩ, những mơ típ nghệ thuật gắn với phong cách Đường thi và trở thành nét đẹp truyền thống của thơ ca Việt Nam. 4. Sắc thái cổ Một số từ Hán cổ quen dùng trong quá khứ đến bây giờ dùng lại gợi sắc thái cổ: tơn ơng, huynh ơng, phụ vương, ái phi, đồng mơn, đồng tuế… Mơ tả những hình ảnh cổ kính của một triều đại đã qua với một tâm trạng nuối tiếc, trong bài thơ Thăng Long thành hồi cổ, bà huyện Thanh Quan đã sử dụng những từ Hán Việt một cách cĩ ý thức. Và việc xếp những từ này vào cuối dịng thơ càng in đậm những hình tượng ngưng đọng trong kí ức. Tất cả đưa đến cho ta cảm giác về một sự đổi thay của tạo hố: Tạo hố gây chi cuộc hí trường Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bĩng tịch dương Đá vẫn trơ hàn cùng tuế nguyệt Nước cịn cau mặt với tang thương Nghìn năm gương cũ soi thành cổ Cảnh đấy người đây chốn đoạn trường Nhà thơ Sĩng Hồng cũng dùng từ Hán Việt để gợi lại khơng khí cổ: Đêm lạnh cành sương đượm Long lanh bĩng nguyệt vờn Tố Hữu khi nĩi về truyền thống cổ xưa của dân tộc cũng sử dụng từ Hán Việt: Cảm ơn Đảng cho ta dịng sữa Bốn nghìn năm chan chứa ân tình Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn bạo chúa Kiếp tì nơ vùng dậy chém nghê kình Từ Hán Việt cĩ sắc thái cổ cịn thường được dùng trong thể loại kịch, tuồng. Khi viết về một sự kiện lịch sử, nhà văn thường dùng ngơn ngữ của thời kì lịch sử đĩ, nếu khơng, người xem cĩ thể thấy lạc điệu. Các sắc thái ngữ nghĩa của từ Hán Việt cĩ sức mạnh tu từ nĩi trên chính là vì nĩ nằm trong thế đối lập với các từ thuần Việt. Hay nĩi một cách khác, chính sự đối lập với tiếng Việt là nguyên nhân làm cho nĩ cĩ sắc thái ngữ nghĩa hay tu từ mà nĩ vốn khơng cĩ khi ở trong tiếng Hán. Và sắc thái mới ấy chính là bằng chứng chắc chắn cho thầy rằng từ Hán Việt đã là một bộ phận hữu cơ của hệ thống từ vựng tiếng Việt GIẢI NGHĨA TỪ HÁN – VIỆT Hịa bình: Hịa vốn cĩ nghĩa là thuật nấu ăn (gồm cĩ chữ hịa là lúa và khẩu là miệng) mà nghệ thuật nấu ăn là một loại triết học, là cách giải quyết mối mâu thuẫn giữa nước và lửa, giữa mặn, nhạt, chua, cay, đắng… sao cho các mặt mâu thuẫn ấy phối hợp với nhau một cách hợp lý nhất mà khơng cĩ mâu thuẫn nào bị loại bỏ. Ví như nấu cơm mà để nước át lửa thì cơm nhão, để lửa át nước thì cơm khê. Nấu thức ăn phải làm sao cho cay khơng loại chua, chát khơng loại đắng, ngọt khơng loại mặn… phải để cho các vị ấy phối hợp với nhau một cách lý tưởng nhất, các mặt mâu thuẫn ấy đều tồn tại mà khơng mất đi một vế nào cả. Cịn bình là giữ cho yên ổn, khơng làm rối loạn. Ví như ta bình giặc Ngơ là ta làm cho mất hẳn âm mưu xâm lược của giặc. Vậy hịa bình là tuỳ thời cơ dẹp đi mối mâu thuẫn sống cịn và đạt được sự hài hịa giữa các mâu thuẫn khác. Cơ độc: Cơ là đứa trẻ khơng cĩ cha hoặc mẹ, cĩ âm Việt hĩa cổ là cơi. Độc là người đàn ơng già khơng cĩ con. Sách Nhĩ nhã và sách Mạnh tử cĩ câu: “Đàn ơng già khơng cĩ vợ gọi là quan, đàn bà già khơng cĩ chồng gọi là quả (âm Việt hĩa là gĩa), trẻ con khơng cĩ cha mẹ gọi là cơ, đàn ơng già khơng con gọi là độc, đấy là bốn loại người khốn cùng trong xã hội.” Tại sao? Vì thời cổ ở Trung Hoa, dân chủ yếu sống bằng nơng nghiệp trong các tỉnh điền. Theo chế độ tỉnh điền thì cứ vài năm nhà nước chia ruộng cho dân một lần, mà chỉ chia cho đàn ơng trưởng thành, do vậy trẻ con và phụ nữ ở gĩa thì khơng cĩ ruộng, đàn ơng già khơng vợ khơng con thì tuy cĩ ruộng nhưng khơng cĩ sức lao động, do đĩ cơ độc đồng nghĩa với khơng cĩ nơi dựa dẫm. Thao lược: Thao là cái túi đựng tên bắn, lược là phương sách dụng binh. Thao lược cịn là cách gọi ghép các chữ lục thao tam lược. Lục thao là tên sách do Lã vọng đời Chu soạn, Trang tử hiệu đính gồm cĩ sáu cách đánh trận là văn thao, võ thao, hổ thao, long thao, báo thao và khuyển thao. Tam lược là sách do Hồng Thạch Cơng soạn cho Trương Lương đời Hán, gồm cĩ ba lược là ba phép dụng binh. Về sau thao lược được dùng để chỉ người cĩ tài dùng quân. Phù phiếm: Phù là nổi trên mặt nước và đứng tại chỗ. Phiếm là nổi trên mặt nước và trơi đi, trơi lại. Cả từ phù phiếm chỉ sự vật hay tính cách nổi và nơng cạn, khơng cĩ căn nguyên gốc rễ vững vàng. Hy sinh: Tên gọi các con vật được chọn để tế thần linh thời cổ ở Trung Hoa, thường là trâu, bị, dê, lợn, gà… được dùng tế sống hay cắt lấy tiết để tế, lúc này con vật tế được gọi là con hy và con sinh. Xã đàn: Đàn đắp cao để tế thổ thần, cầu cho dân được ở yên. Xưa lập quốc trước nhất phải lập đàn thờ thần xã (thổ thần, chữ xã gồm bộ kỳ chỉ sự thờ cúng và chữ thổ chỉ thần đất) và đàn thờ thần tắc (tắc là Hậu Tắc, tên của thần nơng) nhằm cầu cho dân được lạc nghiệp vì thời cổ dân sống chủ yếu nhờ nơng nghiệp. Từ đĩ người ta dùng xã tắc để chỉ quốc gia, đất nước. Tơ hào:Đáng lẽ phải gọi là ti hào, vì tơ là âm cổ của ti, cĩ nghĩa là sợi tơ, một loại sợi rất nhỏ. Cịn hào là sợi lơng nhỏ chạy ngang thành hàng trong cái lơng chim vào mùa thu, mùa chim mới mọc lơng. Tơ hào đều chỉ những vật nhỏ bé nên cĩ nghĩa như chút xíu, mảy may. Tổ chức:Tổ là xếp các đầu dây dọc lại với nhau. Chức là dùng các sợi dây ngang đan kết với các sợi dây dọc lại thành một mạng lưới thống nhất. Tổ chức cĩ nghĩa là sự kết hợp của những tế bào trong một vật thể, cịn được dùng như một động từ. Ảnh hưởng:Ảnh là cái bĩng của một sự vật. Hưởng là tiếng vang của một vật thể khi bị gõ, bị cọ xát trong khơng khí, từ đĩ ảnh hưởng được dùng để chỉ chung tác động của một sự vật hay một sự việc tới một sự vật hay sự việc khác. Táo quân:Táo quân là gọi tắt nhĩm từ đơng trù tư mệnh táo chủ thần quân, tục gọi là vua bếp. Thường đặt ở phía đơng của nhà, là một trong ngữ tự gia đường tơn thần (năm vị thần được thờ trong nhà). Một là ở cổng nhà, hai là ở lối đi từ cổng vào nhà, ba là cửa chính vào nhà, bốn là phịng chính của nhà nơi đặt bàn thờ, năm là bếp (táo). Táo quân cĩ nhiệm vụ hàng năm vào ngày 23 tháng chạp lên thiên đình báo cáo việc trong năm ở dưới trần. Tinh vi:Tinh là gạo được giã kỹ lấy chất lõi ở trong (chữ tinh cĩ bộ mễ chỉ gạo) xưa được quan niệm là cái quý nhất của hạt gạo. Trong sách Luận ngữ cĩ câu nĩi của Khổng tử: “Dư thực bất yếm tinh” (Ta ăn gạo giã kỹ khơng bao giờ chán). Cịn vi là vật hay sợi rất nhỏ nhoi. Tinh thì tốt cịn vi thì quá tủn mủn và thường là xấu. Ví như văn thơ đời Tấn thường bỏ hàng mấy trang sách để mơ tả làn da má của phụ nữ (mỏng và mịn đến mức giĩ thổi mạnh thì rách) hay cặp lơng mi của người đẹp như thể là vi. Cũng vì thế mà ở tiếng Hán cổ vi cịn cĩ nghĩa là vơ hay phi (khơng cĩ gì). Hương cống:Ta gọi là ơng cống, chỉ người học chữ Nho ngày xưa đi thi hương đỗ cả bốn trường (bốn bài thi), đời Nguyễn gọi là cử nhân. Thi hương cĩ bốn kỳ, nếu chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tam trường hay ơng tú, nếu lần thi sau cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú kép, lần sau nữa cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú mền, lần sau nữa cũng chỉ đỗ ba kỳ thì gọi là tú đụp. Tang thương:Tang là cây dâu, thương là màu xanh của biển. Tang thương gọi tắt từ câu “thương hải biến vu tang điền” (biển xanh biến thành ruộng dâu). Ý chỉ cảnh biến đổi của cuộc sống từ đĩ cũng cĩ ý chỉ sự biến đổi của cuộc đời con người. Tiếng Việt chỉ dùng tang thương để chỉ sự thay đổi xấu đi. Tố nữ:Tố là sợi cịn chưa nhuộm, cịn giữ nguyên màu trắng. Nữ là con gái. Tố nữ cĩ nghĩa là người con gái cịn trình bạch, cịn trong trắng, tức là người con gái chưa cĩ chồng. Sách giáo khoa giải thích tố nữ là người con gái đẹp là khơng đúng. Mơn đăng hậu đối:Đây là cách nĩi sai. Đúng ra phải là mơn đang (hoặc đương) hộ đối. Mơn và hộ đều cĩ nghĩa là cái cổng hay cửa nhà. Ở phương Tây cũng như phương Đơng xưa, cổng (và cả xe ngựa) đều cĩ gắn gia huy (dấu hiệu riêng của gia tộc) thể hiện vị trí, địa vị của một dịng họ. Đương và đối là xứng đơi, sánh đơi với nhau trong quan hệ thơng gia. Hàn huyên:Hàn là lạnh, huyên là ấm. Xưa trong gia đình trước khi đi ngủ con cái phải hỏi thăm xem cha mẹ cĩ lạnh khơng. Khi ngủ dậy lại phải hỏi thăm cha mẹ xem đêm ngủ cĩ được ấm khơng. Do đĩ, hàn huyên là lời hỏi thăm nhau giữa những người thân, nghĩa cũng như hàn ơn. Đao phủ:Đao là dao, phủ là búa. Hai dụng cụ dùng để chặt đầu những người cĩ tội xưa. Người cĩ tội phải đặt đầu mình lên một cái thớt bằng gốc cây và bị dao hay búa chặt đầu rời khỏi mình. Người thi hành cơng việc này vì thế cũng được gọi là đao phủ. Bao biện:Bao là ơm lấy một mình. Biện là làm hay giải quyết cơng việc. Bao biện là khơng hỏi ý kiến mọi người hoặc khơng phải cơng việc của mình cứ ơm lấy mà làm. Nhiều người hiện nay hiểu bao biện là bao che, biện hộ cho người khác là sai. Xuân huyên:Xuân là loại cây cao to lá màu hồng, xum xuê cĩ hương thơm, ăn được, xưa thường được dùng để tượng trưng cho người cha trong gia đình. Huyên là loại cây nhỏ giống như cây xương bồ nhưng hẹp và mềm hơn, hoa giống hoa bách hợp, cịn cĩ tên là “vong ưu thảo” (cây cỏ làm quên mọi sự lo buồn), thường trồng ở phía buồng người mẹ, cĩ ý cho mẹ khỏi lo buồn. Vì vậy xuân huyên là chỉ chung cha mẹ. Tần tảo:Tần và tảo đều là hai loại rau nước, kém ngon và rẻ tiền, dễ kiếm. Xưa phụ nữ nhà nghèo, quen kham khổ thường ăn các rau này, vì thế người ta dùng hai chữ tần tảo để chỉ người vợ hiền, chịu thương, chịu khĩ ăn thứ khơng ngon để tằn tiện nuơi chồng, nuơi con. Trừ tịch:Trừ cĩ nhiều nghĩa, trong đĩ cĩ nghĩa là năm cũ chuyển sang năm mới (theo Khang Hy tự điển). Tịch là khoảng thời gian từ giờ tuất (7 đến 9 giờ tối) cho đến sáng hơm sau. Vậy trừ tịch chỉ đêm 30 tháng chạp âm lịch. Giao thừa:Giao là chuyển một vật, một người, một thời gian nào đĩ cho một khách thể. Thừa là nhận một vật, một người, một thời gian nào đĩ của chủ thể chuyển giao. Ở đây giao thừa cĩ nghĩa là lúc năm cũ chuyển giao sang năm mới Gia thất :Gia là nhà, thất là buồng. Kinh Lễ cĩ câu “Nam chi hữu thất, nữ chi hữu gia” nghĩa là: đàn ơng cĩ buồng (để vợ ở), đàn bà cĩ nhà (nơi mình về, chỉ nhà chồng). Vì vậy vợ chồng lấy nhau gọi là yên bề gia thất. Ở nước ta, chữ gia thất cịn dịch là nhà như “nhà ơi!” để vợ chồng gọi nhau hoặc “nhà tơi” để xưng hơ với người khác. Cịn chữ “mình” lại xuất phát từ thần thoại châu Âu: Xưa, một vị thần thấy các cặp vợ chồng khơng được “cơm lành canh ngọt” bèn chặt mọi người ra làm đơi để các nửa người đi tìm nửa kia của mình mà lắp. Nhưng nĩi chung đa số đều lắp nhầm, nên cứ đi lang thang để gọi “mình ơi! mình ơi!” và gọi người mình yêu là một nửa của tơi. Giá thú:Giá là con gái về nhà chồng (gồm chữ nữ là con gái và chữ gia là nhà, chữ này cĩ âm Việt hĩa là gả); thú là đàn ơng lấy vợ (gồm chữ thủ là lấy và chữ nữ là đàn bà). Hơn nhân:Hơn là nhà trai thơng gia với nhà gái; nhân là nhà gái thơng gia với nhà trai. Nam nữ thụ thụ bất thân :Nam nữ là trai và gái; thụ1 là trao một vật gì đĩ, thụ2 là nhận một vật gì đĩ, bất thân là khơng được gần nhau. Cả câu nghĩa là nam nữ khơng được đưa vật trực tiếp cho nhau. Kinh Lễ cĩ câu “Trí chi nhi hậu thủ chi” nghĩa là nam (hay nữ) đặt một vật xuống (rồi bỏ đi), người kia đến mà nhặt lấy. Tang bồng :Tang là cây dâu. Xưa thường dùng gỗ cây dâu để làm cung bắn; Bồng là cỏ bồng, một thứ cỏ thẳng mà cứng, thường dùng làm tên bắn. Xưa người Hán khi sinh con trai thường treo một cái cung ngồi cửa, tỏ ý muốn con sau này tung hồnh trời đất, thỏa chí tang bồng. Gươm đàn :Gươm đàn là từ Việt dịch từ từ Hán Việt: Kiếm cung. Gươm là âm Việt hĩa của từ kiếm (cũng như gương là từ Việt hĩa của kính, gắng và gượng là từ Việt hĩa của cưỡng. Gố là từ Việt hĩa của quả. Gần là từ Việt hĩa của cận. Đàn là từ Hán Việt, là một thứ cung khơng bắn bằng tên mà bắn bằng đá mài trịn hay đất sét viên trịn rồi nung kỹ. Các viên đĩ sau này cĩ âm là đạn. Trong truyện Kiều cĩ câu tả về Từ Hải như sau: “Gươm đàn nửa gánh, non sơng một chèo” là mượn từ câu nĩi của Hồng Sào, lãnh tụ khởi nghĩa nơng dân đời Đường: “Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng / Nhất trạo giang sơn vãn địa duy”. Nghĩa là: nửa vai cung kiếm tung hồnh trời đất, một chèo giang sơn kéo lệch đất trời. Trong các bản dịch sang tiếng Pháp, các dịch giả dịch từ đàn thành guitare là khơng đúng. Điếm nhục (như trong điếm nhục gia phong) :Điếm là vết bẩn, vết xước trên viên ngọc (chữ điếm cĩ bộ ngọc), nhục là dơ bẩn, cĩ âm cổ là nhuốc (như vụ cĩ âm cổ là mùa, vũ cĩ âm cổ là múa, chủ cĩ âm cổ là chúa, chú (chú thích) cĩ âm cổ là chua). Điếm nhục là làm dơ bẩn. Học trị :Vốn cĩ âm Hán Việt là học đồ (người theo thầy học chữ). Trước thế kỷ XVII cĩ một số từ âm đầu đ trong tiếng Hán do ảnh hưởng tiếng Việt cổ mà đọc thành tl (như ghi trong từ điển Việt – Bồ – Latinh của chúng tôi Rodes) nên học đồ đọc thành học tlị. Cuối thế kỷ XVII, âm tl trong tiếng Việt biến đổi thành tr nên học tlị biến thành học trị. Lãnh tụ :Lãnh là cổ áo. Tụ là tay áo. Áo ngày xưa khuơn khổ dài ngắn, rộng hẹp đều phụ thuộc vào cổ và tay, nghĩa là cổ, tay quyết định khuơn khổ của áo. Do đĩ, người ta dùng lãnh tụ để chỉ người quyết định mọi phép tắc, đường lối. Tao khang :Tao là cám. Khang là bã. Tao khang chỉ người cùng mình chịu cảnh khốn khĩ cùng ăn cám bã với nhau, thường chỉ người vợ hiền. Người Hán cĩ câu: “Tao khang chi thê bất khả vong, bần tiện chi giao bất khả phụ”. Nghĩa là: người vợ cùng cảnh ăn cám bã với mình khơng bao giờ được quên, người bạn thuở nghèo hèn với mình khơng bao giờ được phụ bạc họ. Ngậm tăm :Ngậm tăm mượn từ chữ hàm mai trong tiếng Hán. Hàm là ngậm trên miệng. Mai là tre vĩt nhỏ tựa cái tăm to. Người Trung Hoa xưa khi cho quân đội hành quân đêm, để giữ bí mật, bèn phát cho mỗi người lính một cái que tăm bắt ngậm vào miệng để khỏi nĩi, sáng ra hay khi đến nơi, viên quản quân kiểm tra thấy người lính nào khơng cĩ tăm trên miệng thì sẽ đem chém đầu. Do đĩ ngậm tăn cĩ nghĩa là khơng nĩi. Đoạn trường :Đoạn là đứt. Trường là ruột, chỉ sự đau đớn tuyệt độ. Theo Cổ học tinh hoa: Xưa cĩ con chĩ sĩi bị người đi săn bắn chết mất con nên đau đớn gào khĩc thảm thiết, bỏ cả ăn uống, sau một thời gian thì kiệt sức mà chết. Người ta đem nĩ mổ bụng thì thấy ruột gan nĩ đứt thành từng đoạn. Giải quyết :Giải là cởi các nút đang bị thắt (cời là âm cổ của giải). Quyết là vét chỗ nước đọng làm cản bước đi. Vì vậy giải quyết chỉ việc xử lý những gì đang cịn vướng mắc. Sách :Sách vốn là những thanh tre dùng dao khắc hoặc bút sơn viết lên cật rồi đục thủng một đầu, dùng dây xâu lại với nhau. Loại sách này cĩ từ thời Chiến quốc. Đời Tần, vua Tần Thuỷ Hồng mỗi ngày phải đọc hàng tạ sách như vậy. Vở :Là âm Việt hĩa của từ Hán Việt bạ như trong y bạ, địa bạ, trước bạ.v.v… chỉ cuốn sổ ghi chép các sự việc. Tri thức :Từ này xuất hiện đầu tiên ở sách Quản tử thời Xuân Thu chiến quốc với nghĩa: quen biết nhau. (Tri: biết; thức: nhận được nhau). Đến thời Minh, Thanh mới cĩ nghĩa: sự nhận thức của con người đối với sự vật và kinh nghiệm mà con người tích luỹ được qua thực tiễn xã hội. Cơng chứng :Cơng chứng là gọi tắt từ bỉnh cơng chất chứng. Bỉnh cơng là nắm quyền và thay mặt nhà nước. Chất chứng là tra xét và chứng thực sự việc và giấy tờ là đúng. Lưu chiểu: Từ này dùng sai, đúng ra là lưu chiếu nghĩa là lưu giữ để làm bằng khi cần đối chiếu, tra xét. Trọng thị :Trọng thị là coi trọng trong lịng về mặt tâm lý. Nĩi ơng A đã được nước B đĩn tiếp một cách trọng thị là khơng thuận tai. Ta nĩi được đĩn tiếp một cách long trọng hay trọng thể thì đúng hơn, vì sự đĩn tiếp này được thể hiện bằng các hình thức bên ngồi như cờ quạt, quốc ca, hàng rào danh dự, thảm đỏ, quân nhạc v.v… Văn :Văn nghĩa nguyên thuỷ là đường vằn (hoa văn) như các vằn trên mình lồi hổ báo. Vì vằn là cái biểu hiện bên ngồi của con vật hay sự vật nên nĩ lại cĩ nghĩa là hình thức. Cịn nội dung bên trong được gọi là chất. Sách Luận ngữ cĩ câu: “Văn chất bàn bàn nhiên hậu quân tử” nghĩa là cả hình thức bên ngồi và nội dung bên trong đều đẹp rờ rỡ mới là bậc quân tử. Đến đời Lương ở Trung Quốc, thái tử Chiêu Minh là Tiêu Thống mới đem tất cả các sách vở trước đĩ chọn lấy những bài cĩ cảm xúc và hình thức tươi đẹp thành bộ Văn tuyển thì từ đĩ văn chương hay văn học mới được tách ra khỏi giai đoạn văn – sử – triết bất phân mà thành một mơn riêng. Kết hơn :Chỉ tục thơng gia giữa hai họ với nhau. Thời Tây Chu (Trung Quốc) quy định nam 30 tuổi lấy vợ (khí huyết đầy đủ), nữ 20 tuổi lấy chồng (đủ tuổi làm mẹ). Thời Xuân Thu, Tề Hồn Cơng quy định nam 30 tuổi lập gia đình, nữ 15 tuổi xuất giá. Việt Vương Câu Tiễn quy định nam dưới 20 tuổi chưa được kết hơn, nữ dưới 17 tuổi chưa được xuất giá. Đời nhà Đường quy định lệ giống Tề Hồn Cơng. Nhưng giữa đời Đường, do chiến tranh kéo dài, dân số thiếu hụt nên quy định nam 15 tuổi, nữ 13 tuổi phải kết hơn nếu khơng sẽ bị quan phủ xử phạt. Sau giải phĩng, chính phủ Trung Quốc quy định nam trước 22 tuổi, nữ trước 20 tuổi khơng được phép kết hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Từ Hán Việt Trong Bài Sông Núi Nước Nam Và Bài Ca Côn Sơn
  • Tản Mạn Về Từ Hán Việt: Sinh Thì Là Chết? (Phần 11.1)
  • Tên Một Số Con Vật Bằng Tiếng Hán Việt
  • Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Chữ Phúc
  • Thế Nào Là Từ Ghép? Lưu Ý Cách Phân Loại Từ Ghép Chính Phụ, Đẳng Lập
  • Giáo Án Bài Từ Hán Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Từ Mượn (Chi Tiết)
  • Tìm Yếu Tố Hán Việt Có Nghĩa Tương Đương Với Các Từ Sóng, Mưa, Dài…
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 7 Từ Hán Việt
  • Giáo Án Ngữ Văn 7, Tập 1
  • Soạn Văn Bài: Từ Hán Việt
  • 2. Kĩ năng 3. Thái độ 1. Ổn định tổ chức

    – Kiểm tra sĩ số:

    2. Kiểm tra đầu giờ 3. Bài mới

    Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

    HĐ1. HDHS tìm hiểu đơn vị cấu tạo từ Hán Việt:

    I. Đơn vi cấu tạo từ Hán -Việt

    1. Bài tập

    – Giải nghĩa các yếu tố:

    + Nam: phương Nam

    + Quốc: nước

    + Sơn: núi

    + Hà: sông

    – Đọc bài thơ chữ Hán: Nam quốc sơn hà và trả lời câu hỏi.

    H: Các tiếng nam, quốc, sơn, hà có nghĩa là gì?

    – Tiếng nào có thể dùng độc lập? Tiếng nào không thể?

    – Cách dùng các yếu tố:

    + Nam: Có thể dùng độc lập

    VD: Miền Nam, phía Nam (gió) nồm nam

    + Quốc, sơn, hà: không dùng độc lập được

    VD: Không thể nói:

    H: Theo em các tiếng quốc, sơn, hà có thể dùng để làm gì?

    – Chỉ làm yếu tố tạo từ ghép.

    VD: Quốc kì, giang sơn, sơn hà…

    H:Tiếng thiên trong từ “thiên thư” có nghĩa là gì

    H: Tiếng “thiên” trong từ Hán sau có nghĩa là gì?

    + Thiên nhiên kỉ, thiên lí mã

    + Từ bài tập trên hãy cho biết:

    2. Kết luận:

    *Ghi nhớ: SGK T69.

    + Thế nào là từ Hán – Việt?

    + Cách sử dụng yếu tố Hán – Việt?

    + Thiên đô về T. Long

    +Và nghĩa khác nhau của từ Hán Việt?

    HĐ2. HDHS tìm hiểu từ ghép H-V

    II. Từ ghép Hán – Việt

    1. Bài tập

    – Ái quốc, thủ môn, chiến thắng là từ ghép chính phụ. Trong đó yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau:

    – Thiên thư, thạch mã, tái phạm thuộc loại từ ghép chính phụ.

    – Trong Hán Việt vị trí của từ ghép chính phụ:chính – phụ hoặc phụ – chính.

    H:Các từ “sơn hà”, “xâm phạm”(trong bài NQSH) giang san (trong Tụng giá…sư) thuộc loại từ ghép chính phụ hay từ ghép đẳng lập?

    H:Các từ “ái quốc”, “thủ môn”,”chiến thắng” thuộc loại từ ghép gì?

    H: Các từ thiên thư, thạch mã, tái phạm thuộc loại từ ghép gì?

    H: Dựa vào kết quả trên, em hãy so sánh vị trí của 2 yếu tố chính phụ trong từ ghépTiếng Việt và từ ghép Hán – Việt.

    H:Từ kết quả trong bài tập trên hãy cho biết từ ghép Hán – Việt có mấy loại chính: là những loại nào?

    2. Kết luận.

    *Ghi nhớ 2: SGK /T 70

    HĐ3. HDHS luyện tập:

    III. Luyện tập

    1. Bài 1:

    – Hoa1: (hoa qủa, hương hoa): Chỉ sự vật (cơ quan sinh sản hữu tính của cây hạt kín)

    Hoa 2: (Hoa mĩ, hoa lệ): Phồn hoa, bóng bẩy

    +Phi 1: bay

    +Phi 2: trái với lẽ phải, trái pháp luật (phi nghĩa,phi pháp…)

    +Phi 3: vợ thứ của vua, thường xếp dưới hoàng hậu(phi tần, quý phi…)

    +Tham 1: ham muốn(tham quan

    +Tham 2: dự vào, tham dự vào

    VD: tham gia…

    +Gia 1: nhà (gia đình, gia tộc…)

    + Gia 2: thêm vào (gia vị…)

    2. Bài 3:

    a. Tìm các từ ghép có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau: VD: Hữu ích, phát thanh, bảo mật, phóng hoả.

    b. Tìm từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau: Thi nhân, đại thắng, tân binh, hậu đãi

    + Mỗi bàn phân biệt của 1 nhóm từ đồng âm khác nghĩa

    – GV đọc câu hỏi HS thực hiện vào vở BT.

    – 2 HS lên bảng

    4. Củng cố, luyện tập 5. Hướng dẫn về nhà

    300 BÀI GIẢNG GIÚP CON HỌC TỐT LỚP 7 CHỈ 399K

    Phụ huynh đăng ký mua khóa học lớp 7 cho con, được tặng miễn phí khóa ôn thi học kì. Cha mẹ hãy đăng ký học thử cho con và được tư vấn miễn phí. Đăng ký ngay!

    Tổng đài hỗ trợ đăng ký khóa học: 084 283 45 85

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Loạt bài Giáo án Ngữ văn lớp 7 chuẩn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 7 Tập 1 và Tập 2 theo chuẩn Giáo án của Bộ GD & ĐT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Lương Hán Nghĩa Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Bài 5. Từ Hán Việt Tu Han Viet Tiet 1 Chuan Ppt
  • Soạn Bài Từ Hán Việt (Siêu Ngắn)
  • Top 3 Soạn Bài Từ Hán Việt Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài Từ Hán Việt Trang 69 Và 81 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50