Tìm Hiểu Về Triết Học Kinh Viện

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Thuyết Bất Khả Tri
  • Thuyết Bất Khả Tri Là Gì?
  • Triết Học Mac Lê Nin _ Www.bantinsom.com
  • Nghệ Thuật Sống Thế Kỷ 21: Lời Khuyên Từ Triết Học Khắc Kỷ
  • Chủ Nghĩa Khắc Kỷ (Stoicism) Là Gì?
  • Triết học kinh viện là một thuật ngữ dịch từ chữ Scolasticus trong tiếng latinh nghĩa là triết học nhà trưởng, vì đó là môn học rất được chú trọng trong các trường đại học lúc bấy giờ.

    Vào thế kỉ XII, tại các đình vương quốc Noócmăngđi trên đảo Xixilia và ở Trường đại học Tôlêdô ở Tây Ban Nha, các học giả đã tiến hành phiên dịch những tác phẩm của Hy Lạp cổ đại đã được dịch ra tiếng A Rập, đồng thời còn dịch các tác phẩm bằng tiếng Hy Lạp được bảo tồn ở Bidantium.

    Việc dó đã làm cho sự hiểu biết của ngưởi Tây Âu càng được mở rộng. Nhưngcác nhà triết học kinh viện muốn khai thác các kiến thức ấy để phục vụ cho thần học, do đó đã vận dụng một cách xuyên tạc học thuyết của các triết gia Hy Lạp và Rôma cổ đại, nhất của Arixtôt. Người có thành tích lớn nhất về mặt này là Anbe (1 193-1280), một giáo sĩ người Đức. Ông đã chú thích loàn bộ các tác phẩm của Arixtôt thuộc các lĩnh vực lôgich học, siêu hình học, luân lí học, vật lí học, thiên văn học, địa lí học, động vật học, thực vật học ; qua đó chứng minh rằng giáo lí của đạo Kitô không hề trái ngược với triết học và khoa học tự nhiên. Chính vì sự hiểu biết uyên bác như vậy, nên ông dược gọi là Anbe “vĩ đại”.

    Triết học kinh viện có một đặc điểm là áp dụng phương pháp biện luận cực kì rắc rối, rất chú trọng lôgich hình thức. Nói chung, các nhà triết học kinh viện cho ràng, đối với các hiện tượng tự nhiên người ta không cần phái quan sát, thí nghiệm mà chỉ cần dùng phương pháp tư duy trừu tượng cũns có thể đạt đến chân lí.

    Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu về vấn đề khái niệm chung, các nhà triết học kinh viện đã chia làm hai phái là phái duy danh(nominalisme) và phái du thực(réalisme). Phái duy danh cho rằng khái niệm chung do tư duy củacon người sáng tạo ra là tên gọi của các vật thể riêng lẻ và các vật thể riêng lẻ có trước khái niệm chung. Còn phái duy thực thì cho rằng trước khi có một vật thể nào đó thì khái niệm về vật thể ấy đã tồn tại, đã có thực rồi. Như vậy, duy thực là chủ nghĩa duy tâm hoàn toàn, còn duy danh là trường phái có nhân tố của chủ nghĩa duy vật. Chính vì thế, tuy vẫn tin Chúa, nhưng các nhà duy danh thường bị giáo hội ngược đãi và rút phép thông công, trái lại những ngưởi duy thực rất được đề cao, trong đó người tiêu biếu nhất là Ackinat (Thomas Acquittas), quen gọi là Tômát Đacanh (Thomas d’Aquin).

    Tômát Đacanh (1225-1274) là một giáo sĩ người Italia, là học trò của Anbe vĩ đại. Ông đã biên soạn nhiều tác phẩm trong đó quan trọng nhất là Thần học toàn thư(Somme Théologique). Tác phẩm này rất đồ sộ, được chia làm bốn phần, gồm 100 chương trong đó dùng quan điểm của giáo hội để giải quyết 1.000 vấn đề thần học và bác lại 10.000 thuyết. Ông cho rằng vũ trụ chia làm nhiều đẳng cấp, bắt đầu là phi sinh vật, dần dần lên đến người, tín đồ, thiên sứ, rồi cao nhất là Chúa trời. Mỗi một đẳng cấp thấp đều muốn vươn lên đẳng cấp cao, vì vậy cả hệ thống ấy đều hướng về Chúa Trời, Chúa là mục đích cuối cùng của vũ trụ.

    Tác phẩm này được giáo hội thừa nhân là một sự tổng kết về giáo lí của đạo Thiên chúa. Do công lao ấy, sau khi ông chết không lâu, đến đầu thê kỉ XIV, ông được giáo hội phong thánh.

    Trong số các nhà triết học kinh viện có một trưởng hợp ngoại lệ đặc biệt, đó là Rôgiơ Bêcơn (Roger Bacon, khoảng 1214-1292), một giáo sĩ ngưởi Anh và là Giáo sư Trường đại học Oxíớt.

    Trái với Tômát Đacanh, Rôgiơ Bêcơn rất chú ý nghiên cứu vật lí học và hoá học, rất coi trọng phương pháp thí nghiệm và đã có nhiều cống hiến về mặt quang học. Chính ông là người đầu tiên giải thích hiện tượng cầu vồng và cũng là người đầu tiên ở châu Âu đem thuốc súng áp dụng vào lĩnh vực quân sự. Ông đã biết chú ý đến từ tính của nam châm, rất đề cao toán học, coi đó là cơ sở không thể thiếu được của tất cả mọi tri thức.

    Đi trước thời đại của mình, ông có nhiều dự kiến thiên tài như người ta có thể chế tạo những loại kính “để ở cự li rất xa mà có thể đọc được những chữ rất nhỏ, phân biệt được những vật hết sức bé, quan sát các vì sao” ; có thể chế tạo được những chiếc thuyền đi biển và đi sông rất lớn mà chỉ cần một người điều khiển chứ không cần mái chèo. Ông cũng đã nghĩ đến chiếc xe bốn bánh chạy rất nhanh mà không cần ngựa kéo, nghĩ đến máy bay “người ngồi trong đó, cánh đập không khí bay như chim”, nghĩ đến cần trục, đến cầu không có cột v.v..

    Do những hiểu biết sâu rộng ấy, ông được gọi là “nhà bác học đáng khâm phục”, nhưng cũng vì những đề xuất mạnh dạn ấy, ông bị giáo hội kết tội là một tên phù thuỷ đề xướng dị đoan và bị bắt bỏ ngục. Mãi 14 năm sau ông mới được tha. Lúc đó, ông đã rất già yếu nên hai năm thì chết.Sang thế ki XIV, triết học kinh viện bắt đầu suy thoái. Từ đấy, các nhàtriết học kinh viện không nghiên cứu khoa học tự nhiên và cáctác phẩm cổ điển nữa mà chỉ làm công viêc biên hô cho giáo lí của đaoThiên chúa, đồng thời họ đấu tranh mạnh mẽ với những nhà khoa học của giai cấp tưsản mới ra đời tức là những ngưởi theo chủ nghĩa nhân văn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Và Thế Giới Quan (World Outlook) Là Gì?
  • Trình Bày Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Khả Năng Và Hiện Thực? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Nào Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Một Sô Ví Dụ Minh Hoạ
  • Khả Năng Và Hiện Thực: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa.
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì?
  • 7 Quy Tắc Kiến Tạo Hạnh Phúc Theo Triết Học Epicurus
  • Triết Học Kinh Viện Trong Tiếng Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Hay Về Chủ Nghĩa Khắc Kỷ Stoicism Của Giáo Sư Michael Sugrue
  • Khai Sáng Và Tiến Bộ
  • Khai Sáng Và Trưởng Thành
  • Thời Khai Sáng Ở Pháp
  • 2 Nguyên Lý, 3 Quy Luật, 6 Cặp Phạm Trù
  • Triết học Kinh viện Trung cổ nhìn chung giữ quan điểm truyền thống về công nghệ như là sự bắt chước tự nhiên.

    Medieval Scholastic philosophy generally upheld the traditional view of technology as imitation of nature.

    WikiMatrix

    Vua Henry VIII ra lệnh cho viện đại học giải thể Khoa Luật Giáo hội và ngưng giảng dạy “triết học kinh viện“.

    King Henry VIII ordered the university to disband its Faculty of Canon Law and to stop teaching “scholastic philosophy“.

    WikiMatrix

    Người thí nghiệm là một cột mốc trong lịch sử khoa học: Galilei đã mô tả phương pháp khoa học, điều trở thành một cuộc cách mạng vào thời điểm đó khi còn thịnh hành triết học kinh viện.

    The Assayer is a milestone in the history of science: here Galileo describes the scientific method, which was quite a revolution at the time.

    WikiMatrix

    Từ psychology thường được xem là sử dụng lần đầu tiên bởi nhà triết học kinh viện người Đức Rudolf Göckel (1547–1628, thường được biết dưới tên Latin Rodolphus Goclenius) trong tác phẩm Psychologia hoc est: de hominis perfectione, animo et imprimis ortu hujus… xuất bản tại Marburg năm 1590.

    The first use of the term “psychology” is often attributed to the German scholastic philosopher Rudolf Göckel (1547–1628), often known under the Latin form Rodolphus Goclenius), who published the Psychologia hoc est: de hominis perfectione, animo et imprimis ortu hujus… in Marburg in 1590.

    WikiMatrix

    Những phân tích toán học của ông là sự phát triển của một truyền thống đã được các nhà triết học tự nhiên kinh viện sử dụng từ trước, Galileo đã học lý luận đó khi ông nghiên cứu triết học.

    His mathematical analyses are a further development of a tradition employed by late scholastic natural philosophers, which Galileo learned when he studied philosophy.

    WikiMatrix

    Kể từ lúc các nền tảng triết học của chủ nghĩa kinh viện sụp đổ, thuyết duy danh (nominalism) mới xuất hiện là điềm báo bất tường cho giáo hội cho đến lúc ấy vẫn được xem là định chế hợp pháp đóng vai trò trung gian giữa Thiên Chúa và con người.

    Since the breakdown of the philosophical foundations of scholasticism, the new nominalism did not bode well for an institutional church legitimized as an intermediary between man and God.

    WikiMatrix

    “Bách khoa Tự điển Mỹ-quốc” ghi nhận: “Chủ thuyết Chúa Ba Ngôi được phát triển đầy đủ tại Tây phương, trong Kinh viện triết học thời Trung cổ, khi thuyết được giải thích bằng các ngôn từ triết lý và tâm lý học”.

    The Encyclopedia Americana notes: “The full development of Trinitarianism took place in the West, in the Scholasticism of the Middle Ages, when an explanation was undertaken in terms of philosophy and psychology.”

    jw2019

    Một nền tảng của tư tưởng phương Tây, bắt đầu từ Hy Lạp cổ đại và tiếp tục qua thời Trung cổ và Phục hưng, là ý tưởng của chủ nghĩa duy lý trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, đặc biệt là tôn giáo, được phát triển bởi triết học Hy Lạp, chủ nghĩa kinh viện và chủ nghĩa nhân văn.

    A cornerstone of Western thought, beginning in ancient Greece and continuing through the Middle Ages and Renaissance, is the idea of rationalism in various spheres of life, especially religion, developed by Hellenistic philosophy, scholasticism and humanism.

    WikiMatrix

    Ông than cho triết học, theo ông nghĩ, đã bị mang tiếng xấu, và quy lỗi cho nền học kinh viện cằn cỗi.

    He lamented the ill repute into which, he thought, philosophy had fallen, and blamed an arid scholasticism.

    Literature

    Triết học và thần học trộn lẫn nhau trong chủ nghĩa kinh viện, một nỗ lực của các học giả thế kỉ 12-13 nhằm hòa giải các văn bản có thẩm quyền, nhất là giữa Aristoteles và Kinh Thánh.

    Philosophy and theology fused in scholasticism, an attempt by 12th- and 13th-century scholars to reconcile authoritative texts, most notably Aristotle and the Bible.

    WikiMatrix

    Tôma Aquinô (tiếng Ý: Tommaso d’Aquino, tiếng Latinh và tiếng Anh: Thomas Aquinas) (1225-1274), cũng phiên âm là Tômát Đacanh từ tiếng Pháp Thomas d’Aquin, là một tu sỹ, linh mục dòng Đa Minh người Ý và là một nhà thần họctriết học có nhiều ảnh hưởng trong truyền thống chủ nghĩa kinh viện mà trong lĩnh vực này ông cũng được gọi là “Doctor Angelicus” và “Doctor Communis”.

    Thomas Aquinas – Thomas Aquinas, O.P. (1225 – 7 March 1274), also Thomas of Aquin or Aquino, was an Italian Dominican priest of the Roman Catholic Church, and an immensely influential philosopher and theologian in the tradition of scholasticism, known as Doctor Angelicus ( Angelic Doctor), Doctor Communis, or Doctor Universalis.

    WikiMatrix

    Đảng Cộng hòa nắm quyền kiểm soát Thượng viện lần đầu tiên kể từ năm 1954, và các nguyên tắc bảo thủ thống trị chính sách kinh tế và đối ngoại của Reagan, với Kinh tế học trọng cung và đối lập nghiêm ngặt với cộng sản Liên Xô xác định triết lý của chính quyền.

    Republicans took control of the Senate for the first time since 1954, and conservative principles dominated Reagan’s economic and foreign policies, with supply side economics and strict opposition to Soviet Communism defining the Administration’s philosophy.

    WikiMatrix

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cẩm Nang Hỏi Đáp Triết Học (Câu 138 – 140) Các Triết Gia Kinh Viện
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì & Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì? Phân Loại Và Vai Trò Của Cơ Sở Hạ Tầng
  • Cơ Sở Hạ Tầng & Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì
  • Chủ Nghĩa Hiện Sinh Là Gì?
  • Cẩm Nang Hỏi Đáp Triết Học (Câu 138 – 140) Các Triết Gia Kinh Viện

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Kinh Viện Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Bài Giảng Hay Về Chủ Nghĩa Khắc Kỷ Stoicism Của Giáo Sư Michael Sugrue
  • Khai Sáng Và Tiến Bộ
  • Khai Sáng Và Trưởng Thành
  • Thời Khai Sáng Ở Pháp
    1. Các nhà triết học Kinh viện là ai?

    Các nhà triết học kinh viện là những người có ảnh hưởng quan trọng tới trường phái triết học vào những giai đoạn thuộc Trung cổ. Người sáng lập trường phái này vào thế kỷ XI là thánh Anselm thành Canterbury (1033-1109), Peter Abelard (1079-1142) và Peter Lombard (1100-1160) thuộc thế kỷ XII đã bước theo con đường của thánh Anselm. Cùng thời điểm này, các Triết gia Do thái và Hồi giáo tái giới thiệu tư tưởng Aristotle vào phương Tây. Trường phái này đạt tới đỉnh cao nơi công trình của thánh Thomas Aquinas (1225-1274), và được tiếp tục với John Duns Scotus (1266-1308).

    1. Thánh Anselm thánh Canterbury đã bắt đầu với điểm gì?

    Thánh Anselm (1033-1109) được biết đến như “Anselm thành Canterbury”, là đan sĩ dòng Benedictine và là Tổng giám mục người Norman thứ hai của Canterbury. Ngài nổi tiếng với luận chứng hữu thể luận về sự tồn tại của Thiên Chúa trong tác phẩm Proslogion và mẫu thức về sự chuộc tội trong Atonement (chuộc lỗi) nơi tác phẩm Cur Deus homo của mình.

    Lập luận hữu thể học của thánh Anselm để chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa nói chung là thế này: hình dung về một hữu thể, mà đây là một hữu thể lớn nhất mà có thể hình dung ra được. Một hữu thể như vậy chỉ tồn tại trong đầu thôi. Nếu hữu thể lớn nhất này chỉ tồn tại trong đầu, thì một hữu thể lớn hơn vốn đã tồn tại nơi thực tế có thể được hình dung ra. Nhưng không thể tồn tại trong thực tế một hữu thể lớn hơn so với thực tại lớn nhất vốn có thể hình dung ra được. Cho nên, hữu thể có thể hình dung ra được là hữu thể lớn nhất.

    Trong dòng tư tưởng ấy, hữu thể lớn nhất này hẳn có nơi mọi sự và có mọi thuộc tính vốn tốt để có hơn là không có: sống động, khôn ngoan, sức mạnh, chân thực, hợp lẽ, hạnh phúc, không thể đổi thay, không thể lý, vĩnh cửu, tốt đẹp, hài hòa, ngọt ngào, vv. Đây là điểm then chốt của lập luận hữu thể học, tức là vì có thì tốt hơn là không có, vậy Thiên Chúa sẽ có hiện hữu, hay có thể nói, Ngài sẽ tồn tại.

    Thánh Anselm tiếp tục tuyên bố rằng, Thiên Chúa, như là hữu thể lớn nhất có thể được hình dung ra, là đơn nhất. Mọi sự mà tồn tại thì tốt hơn trong mức độ nó giống với Đấng tạo hóa của tất cả mọi sự hơn: tức là, Thiên Chúa. Mọi hữu thể được tạo dựng, vốn được tạo dựng bởi Thiên Chúa, có được sự hiện hữu và hạnh phúc là nhờ Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa độc lập và không có những nghĩa vụ đối với những thụ tạo của Ngài.

    1. Thánh Aselm đã phải đối diện với những chống đối về lập luận hữu thể học của ngài phải không?

    Gaunilon nói rằng, thật không thể nào nhận thức hay hình dung được rằng, “một hữu thể lớn hơn không thể nào được nhận thức.” Sự đáp trả của thánh Anselm là khi những lời “một hữu thể lớn hơn không thể nào được nhận thức” được hiểu, thì họ (kẻ khờ dại) đã nhận thức về hay hình dung ra hữu thể ấy rồi. Bởi vì hữu thể này quá vĩ đại và tồn tại hay hiện hữu thì tốt hơn là không hiện hữu hay không tồn tại, nên hữu thể ấy tồn tại.

    Chuyển ngữ: Nhóm Majorica, Học viện Dòng Tên

    Nguồn: Naomi Zack, Ph.D., The Handy Philosophy Answer Book, (Visible Ink Press, 2010), 61-62.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì & Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì? Phân Loại Và Vai Trò Của Cơ Sở Hạ Tầng
  • Cơ Sở Hạ Tầng & Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì
  • Chủ Nghĩa Hiện Sinh Là Gì?
  • Triết Học Hiện Sinh Của Soren Kierkegaard
  • Những Đại Biểu Chính Của Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Thuyết: Triết Học Khai Sáng Pháp Thế Kỷ Xviii
  • Triết Học Kant: Từ Khai Sáng Nhân Loại Đến Đạo Đức Của Người Việt
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Hệ Thống Câu Hỏi Lớp 10 Gdcd Phần Triết Học Câu 1
  • Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Những đại biểu chính của triết học kinh viện thế kỷ XIII

    Những nhà kinh viện lớn nhất của thế kỷ XIII là Tômát Đacanh, ĐơnXcốt.

    a, Tômát Đacanh (1225 – 1274)

    Ông sinh ở Italia, là nhà thần học đạo Thiên chúa, nhà triết học kinh viện nổi tiếng của chế độ phong kiến Tây Âu. Học thuyết của ông được nhà thờ đạo Thiên chúa coi là triết học duy nhất đúng đắn và lấy làm hệ tư tưởng của mình. Mười tám cuốn sách trong tuyển tập của ông hợp lại như một bộ bách khoa toàn thư đặc sắc của hệ tư tưởng chính thống thời trung cổ. Những tác phẩm của ông, ngoài thần học và triết học, còn nghiên cứu cả những vấn đề pháp quyền, đạo đức, chế độ nhà nước và kinh tế.

    Tuy là con của một bá tước, nhưng Tômát Đacanh đã làm trái với những người trong dòng họ mình, trở thành tu sĩ của dòng đạo Đôminích. Ông đã học ở Côlônhơ, Pari, và sau đó trở thành người nổi tiếng trong việc dạy thần học và triết học ở Pari, Côlônhơ và hàng loạt thành phố của Italia.

    Trong lĩnh vực triết học, Tômát Đacanh có mưu đồ làm cho học thuyết của Arixtốt thích hợp với học thuyết đạo Thiên chúa, biến triết học của mình thành cơ sở lý luận cho các tín điều nhà thờ. Đứng trên lập trường của Arixtốt, ông chống lại triết học kinh viện cũ của Ôguýtxtanh và cả khuynh hướng duy vật cấp tiến của những người theo quan điểm Avơrôvét trong đạo Thiên chúa.

    Tômát Đacanh là người có quan điểm trong việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa triết học và thần học, giữa lý trí và lòng tin. Ông phân định rõ ranh giới nhưng không đối lập giữa triết học và thần học. Đối tượng của triết học là nghiên cứu “chân lý của lý trí”. Đối tượng của thần học là “chân lý của lòng tin tôn giáo”. Còn Thượng đế là Khách thể cuối cùng của cả triết học và thần học, là nguồn gốc của mọi chân lý. Cho nên theo Tômát không thể không có mâu thuẫn về nguyên tắc giữa chân lý đúng đắn và lòng tin tôn giáo. Nhưng vì là nhà thần học, Tômát đã hạ thấp vai trò của triết học, bắt triết học phải phụ thuộc vào thần học. Ông cho rằng, không phải mọi “chân lý của lòng tin tôn giáo” đều có thể đạt được bằng sự chứng minh hợp lý. Những chân lý thần học tuy không “chống đối lý trí”, nhưng là “siêu lý trí”. Triết học phải dựa vào sự giúp đỡ của thần học và thấp hơn thần học, cho nên ở một chừng mực nào đó trí tuệ có hạn của con người thấp hơn sự anh minh của Thượng đế. Tômát nói: “chân lý tôn giáo không phải là điểm yếu mà triết học có thể xâm nhập vào được”.

    Quan điểm duy tâm thần học của Tômát cũng thể hiện rõ trong việc nghiên cứu giới tự nhiên. Ông cho rằng giới tự nhiên và trật tự của nó chỉ là sự chuẩn bị của cái “vương quốc giàu có ở trên trời”. Theo học thuyết của Tômát, mọi cái hoàn thiện nhất trong thế giới có khả năng (thế giới của những sự vật cảm biết) đều được quyết định bởi sự thông minh của Thượng đế, đều trải qua sự hợp lý hóa của Thượng đế. Thượng đế là mục đích tối cao, là “quy luật” vĩnh cửu “đứng trên mọi cái, thống trị mọi cái. Thượng đế là hình thức thuần túy tước bỏ vật chất, là nguyên nhân sự tác động cuối cùng của thế giới, và thế giới tự nhiên không phải là vĩnh cửu, mà được Thượng đế sáng tạo từ hư vô”.

    Khi giải quyết vấn đề bản chất của cái chung, Tômát đứng trên lập trường của nhà duy thực ôn hòa (phần nào dung hòa với chủ nghĩa duy danh có lợi cho tôn giáo). Theo ông cái chung tồn tại trên 3 mặt: một là, nó tồn tại trước sự vật trong trí tuệ của Thượng đế như là mẫu mực lý tưởng của các sự vật riêng lẻ; hai là. cái chung được tìm thấy

    trong các sự vật, cái chung chỉ tồn tại khách quan khi nó chứa đựng các sự vật riêng lẻ; ba là, cái chung được tạo ra sau khi các sự vật trong trí tuệ con người bằng con đường trừu tượng hóa khỏi các sự vật riêng lẻ. Trong học thuyết triết học của mình, Tômát cố gắng chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, nhưng sự chứng minh của ông khác một chút với sự chứng minh có tính chất bản thể luận của các nhà duy thực trước đó. Theo ông, sự tồn tại của Thượng đế chỉ có thể được chứng minh trên cơ sở của kinh nghiệm, nghĩa là trên cơ sở tồn tại của thế giới như là sự sáng tạo của Thượng đế. Tômát đưa ra năm điều chứng minh: 1. cần có cái động lực ban đầu, vì thế giới không phải là sự vận động vĩnh cửu; 2. mục đích của những nguyên nhân tác động không thể là vô tận, nên cần phái có cái nguyên nhân đầu tiên; 3. mọi sự vật của thế giới là ngẫu nhiên, do đó cần tồn tại một cái tất nhiên tuyệt đối; 4. các sự vật bộc lộ những giai đoạn hoàn thiện tuyệt đối; 5. Tính chất hợp lý của giới tự nhiên không thể giải thích bằng những nguyên nhân tự nhiên, cần phải tồn tại một thực thể lý trí siêu tự nhiên điều chỉnh thế giới. Như vậy theo Tômát, Thượng đế chính là động lực ban đầu, là nguyên nhân ban đầu, là cái tất nhiên tuyệt đối, sự hoàn thiện tuyệt đối cũng như là nguyên nhân tạo ra sự hợp lý của giới tự nhiên.

    Trong lý luận nhận thức của mình, Tômát áp dụng học thuyết Arixtốt về “hình dạng”. Mọi nhận thức, theo ông, đều diễn ra trong chủ thể nhờ tiếp thu khách thể. Nhưng không phải mọi tồn tại của khách thể đều được tiếp nhận, mà chỉ tiếp nhận cái gì trong khách thể giống với chủ thể (tức hình ảnh của sự vật chứ không phải bản thân sự vật vật chất). Bởi vì, theo Tômát, khi gia nhập vào tinh thần của cái nhận thức (chủ thể) thì cái được nhận thức bị mất tính vật chất của mình và chỉ tồn tại với tính cách là hình dạng” và “hình dạng’ của sự vật là hình ảnh nhận thức của nó. Nhờ hình ảnh biểu hiện yếu tố tồn tại của sự vật, yếu tố đó đồng thời giống với tinh thần mà cái vật thể được nhận thức đi vào tinh thần, vào vương quốc của tư tưởng.

    Tômát còn chia thành hình dạng cảm tính và hình dạng lý tính. Theo ông, hình dạng lý tính cao hơn hình dạng cảm tính. Nhò hình dạng lý tính (hay nhận thức trí lực) ta mới biết được cái chung, cái giống với đối tượng, cái mà trong đó chứa đựng nhiều thực thể riêng biệt. Tuy nhiên hình dạng cảm tính cũng có vai trò quan trọng. Nhờ có nó mà cảm giác trẻ nên cái cảm thụ tích cực.

    Lý luận nhận thức của Tômát chứa đựng những yếu tố tiêu cực của cảm giác luận, nhưng nó là bước tiến lớn trong sự phát triển triết học kinh viện trung cổ vì nó tiếp thu học thuyết của Arixtốt chứ không phải của Platôn.

    Cũng cần lưu ý rằng hệ thống triết học hết sức cồng kềnh và phiền tạp của Tômát chỉ là sự khôi phục về hình thức học thuyết của Arixtốt. Về bản chất, nó khác căn bản với học thuyết của Arixtốt. Như Lênin nhận xét, chủ nghĩa kinh viện và chủ nghĩa thầy tu đã lấy ở Arixtốt cái không có sinh khí, chứ không phải cái sống động: sự đòi hỏi, sự tìm tòi.

    b, Đơn Xcổt (1265 – 1308)

    Ông là một trong những nhà kinh viện, nhà duy danh luận lớn nhất thế kỷ XIII. Ông sinh trưởng ở Anh, tốt nghiệp trường đại học Ôcxpho, sau đó trở thành giáo sư của trường này. Về tín ngưỡng tôn giáo, ĐơnXcôt theo dòng đạo Phơrăngxít.

    Về mặt triết học, cũng như các nhà tư tưởng khác thời trung cổ, ĐơnXcốt coi vấn đề mối quan hệ giữa triết học và thần học là vấn đề chủ yếu. Theo ông, đối tuợng của thần học là nghiên cứu Thượng đế, còn đối tượng của triết học (siêu hình học) là tồn tại hiện thực khách quan – vật chất, giới tự nhiên), về quan hệ giữa lý trí và lòng tin tôn giáo thì Đơn Xcốt là người đề cao vai trò của lòng tin hơn lý trí. Ông nói rằng, nhận thức về Thượng đế mà dựa vào lý trí thì bị hạn chế, lý trí chỉ nhận thức được ở tồn tại cái gì mà nó không thể tách khỏi các tài liệu cảm tính, cho nên ở con người không có được một khái niệm nào về bản chất phi vật chất như Thượng đế, thiên thần.

    Về vấn đề tồn tại của Thượng đế, ĐơnXcốt đã giải quyết từ lập trường thần học. Theo ông, vì Thượng đế là một tồn tại bất tận, cho nên chứng minh về sự tồn tại của Thượng đế có nghĩa là chứng minh rằng “cái tồn tại bất tận” đó là có. Và điều này chỉ có thể chứng minh được khi đi từ kết quả tới cái nguyên nhân cuối cùng và tối cao của nó là Thượng đế. Song, theo ông, tuy có thể chứng minh được sự tồn tại của Thượng đế, nhưng con người lại không thể nhận thức được bản chất của Thượng đế, vì Ngài có quyền tự do lựa chọn tuyệt đối. Chẳng hạn, Thượng đế có thể tạo ra cái thế giới hoàn toàn khác cái thế giới mà chúng ta đang biết, hoặc có thể đem lại cho con người những quy tắc hiện có.

    Như vậy những yếu tố có tính phê phán triết học kinh viện ở Tômát trong học thuyết của Đơn Xcốt được phát triển không phải vì lợi ích của khoa học và triết học mà vì thần học. Ông khẳng định rằng, hình như triết học bất lực trong việc cứu thoát con người vì nó coi thường mọi cái riêng, suy lý từ cái chung đến cái chung. Nó rút ra mọi cái không phải từ ý chí Thượng đế mà từ tính tất yếu. Cho nên triết học không thể chứng minh được, chẳng hạn, bản chất ba mặt của Thượng đế (đức thánh cha, đức thánh con và đức thánh thần), hoặc sự thể hiện của Thượng đế trong người con của Ngài là chúa Giêsu, sự sáng tạo thế giới từ hư vô V.V..

    Về vấn đề quan hệ giữa lý trí và lòng tin, Đơn Xcốt đã giải quyết khác với Tômát Đacanh. Nếu Tômát cố gắng dung hoà lý trí và lòng tin, không hạ thấp quá đáng vai trò của lý trí, thì Đơn Xcốt là người hoài nghi năng lực của lý trí trong việc phục vụ lòng tin. Ông cho rằng, vì núp dưới chiêu bài bênh vực lòng tin một cách có lý trí mà nhiều tà đạo đã xâm nhập vào thần học. Vì vậy, lý trí và lòng tin, tri thức và thần học là không thể và không nên dung hòa, vị trí hàng đầu phải thuộc về lòng tin còn lý trí đóng vai trò phụ thuộc.

    Cần lưu ý, sự phê phán của Đơn Xcối đối với những lập luận có tính chất duy lý không hề chứng tỏ học thuyết của ông phản động hơn học thuyết của Tômát. Vì sự phê phán đó không dẫn tới tư tưởng về tính chất siêu lý trí của các tín điều tôn giáo, mà dẫn tới tư tưởng về tính chất phản lý trí của các tín điều đó.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Nghĩa Kinh Viện Giai Đoạn Suy Thoái. Cuộc Đấu Tranh Chống Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii
  • Khái Niệm Triết Học Mác Lênin
  • Khái Niệm Với Tính Cách Một Vấn Đề Triết Học
  • Khái Niệm Là Gì Triết Học
  • Khái Niệm Khả Năng Và Hiện Thực Của Triết Học
  • Chủ Nghĩa Kinh Viện Giai Đoạn Suy Thoái. Cuộc Đấu Tranh Chống Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Đại Biểu Chính Của Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii
  • Lý Thuyết: Triết Học Khai Sáng Pháp Thế Kỷ Xviii
  • Triết Học Kant: Từ Khai Sáng Nhân Loại Đến Đạo Đức Của Người Việt
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Hệ Thống Câu Hỏi Lớp 10 Gdcd Phần Triết Học Câu 1
  • Sau thời kỳ cực thịnh, chủ nghĩa kinh viện đã đi vào giai đoạn suy thoái với sự ra đời của khoa học thực nghiệm (đại biểu là Rôgiê Bêcơn) và sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy danh (tiêu biểu là học thuyết của Guyôm Ốccam) đã tạo điều kiện thuận lợi cho triết học và khoa học chuyển sang giai đoạn phát triển mới.

    a, Rôgiê Bêcơn (khoảng 1214 -1294)

    Rôgiê Bêcơn sinh ở Anh, ngày sinh và ngày mất của ông đều không được xác định chắc chắn.

    Ông là một trong những người đề xướng vĩ đại nhất của khoa học thực nghiệm thời kỳ mới. Triết học của R. Bêcơn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống triết học kinh viện của các đại biểu trước ông. Xét trong điểu kiện lịch sử của thời đại ông thì R.Bêcơn đã có một quan niệm hay và mới về đối tượng của triết học (siêu hình học). Theo ông, siêu hình học là khoa học lý luận chung giải thích mối quan hệ giữa khoa học bộ phận (riêng lẻ) và đem lại cho các khoa học đó những quan điểm cơ bản. Và bản thân siêu hình học được xây dựng trên thành quả của các khoa học đó.

    Tuy nhiên, trong hệ thống siêu hình học của mình, R.Bêcơn chưa phải là người có nhiều cái độc đáo. Ông vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Platôn và Ôguýtxtanh. Chẳng hạn, ông đã nghiên cứu về “tính chất rõ ràng của tư tưởng” xuất phát từ những mẫu mực đầu tiên của Thượng đế, về “lý trí hoạt động tiên nghiệm”, V.V.. Nhưng sức mạnh và bản chất của học thuyết R. Bêcơn không phải ở chỗ đó, mà chủ yếu là sự phê phán phương pháp kinh viện và ở sự khẳng định ý nghĩa của kinh nghiệm và ở sự tìm kiếm khoa học có tính chất độc lập.

    R. Bêcơn đã phê phán một cách gay gắt và cay độc tính chất vô dụng của phương pháp kinh viện tách rời cuộc sống. Theo ông, có bốn điều trở ngại đối với chân lý: một là, sự sùng bái, quy phục trước cái uy tín không có cơ sở và không xứng đáng; hai là, thói quen lâu đời đối với những quan niệm đã rõ ràng; ba là, tính chất vô căn cứ của các nhà bác học đối với điều ngu dốt của mình dưới cái mặt nạ của sự thông thái hư ảo. Và cuối cùng ông rút ra ba nguồn gốc của nhận thức là uy tín, lý trí và kinh nghiệm. Bêcơn cho rằng, uy tín mà thiếu sự chứng minh là uy tín thiếu sót và “những lập luận mà chưa kiểm tra các kết luận bằng con đường kinh nghiệm và thực nghiệm thì chưa thể phân biệt giữa ngụy biện và chứng minh”; cao hơn mọi tri thức và nghệ thuật suy lý và việc biết tạo ra kinh nghiệm và khoa học, đó là bà chúa của mọi khoa học.

    Như vậy, R.Bêcơn đã đánh giá rất cao vai trò của kinh nghiệm trong việc kiểm tra chân lý, xem kinh nghiệm như là tiêu chuẩn của chân lý, thước đo của lý luận. Đó là một quan niệm tiến bộ của thời đại ông.

    Ngoài triết học, R.Bêcơn còn chú ý đến nhiều, ngành khoa học khác, đặc biệt những khoa học nào giúp con người xây dựng nhà cửa, thành phố, cầu đường, làm ruộng, chăn nuôi, ông đánh giá cao vai trò của vật lý học, nhất là quang học vì nó giúp con người nhìn ra các sự vật, phần biệt được chúng, nhờ đó mọi tri thức của chúng ta về giới tự nhiên được hình thành. R.Bêcơn là người hết sức coi trọng tri thức khoa học. Ông đã từng nói: “Không có sự nguy hiểm nào lớn hơn sự ngu dốt”.

    R.Bêcơn cũng có nhiều tư tưởng xã hội tiến bộ, đã dũng cảm lên án sự áp bức phong kiến, những tội lỗi của giáo sĩ, dám tấn công vào ngôi Giáo hoàng thiêng liêng, bênh vực quyền lợi của nhân dân. Ông nói: “Bọn công tước, nam tước và bọn hiệp sĩ là những kẻ cướp bóc lẫn nhau, hủy hoại những thần dân của mình bằng những cuộc chiến tranh bất tận và thuế khóa nặng nề…”; “những sự đồi trụy nhất đã thống trị ở mọi nơi… ngôi thiêng liêng đã trở thành chiến lợi phẩm của sự lừa dối...”.

    Đằng sau sự vạch trần các trật tự xã hội phong kiến và sự đồi bại của giới giáo sĩ đã bộc lộ rõ quan điểm có tính chất “tà đạo” của R.Bêcon. Đạo Cơ đốc được ông xem như một trong những đạo mà sự xuất hiện của nó được giải thích bằng chiêm tinh học, bằng sự kết hợp của hai hành tinh sao mộc và sao thủy. Do những quan điểm tiến bộ đó Bêcơn đã bị nhà nước phong kiến và giáo hội truy nã một cách quyết liệt. Năm 1278, lúc R.Bêcơn đã già nhưng ông vẫn bị cầm tù trong nhà tù của tu viện. Mười bốn năm sau, năm 1292 ông mới được tha và hai năm sau thì mất.

    Cũng cần thấy rằng, trong học thuyết của mình, R.Bêcơn tuy lên tiếng chống Giáo hoàng, nhưng không chống lại tôn giáo nói chung. Ông cũng tuyên bố sự phụ thuộc của triết học vào lòng tin. Nhưng vì hiện tại chưa thấy xuất hiện sự màu nhiệm thiêng liêng, cho nên để đối xử với những điều không tin và bác bỏ kẻ chống đối thì chỉ còn một con đường – đó là sức mạnh của triết học và tri thức khoa học. Điều này cắt nghĩa vì sao R.Bêcơn có nhiều tư tưởng tiến bộ nhưng vẫn chưa thoát khỏi thời đại mình – thời đại thống trị của tôn giáo và nhà thờ.

    b, Chủ nghĩa duy danh thể kỷ XIV. Guyôm Ốccam

    Thế kỷ XIV là thế kỷ phát triển tiếp tục của kinh tế, đồng thời cũng là thế kỷ suy tàn của chế độ nông nô ở Anh do những cuộc khởi nghĩa liên tục của nông dân và sự nổi dậy của thành thị. Sự tách rời thành thị khỏi nông thôn, sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp đã dẫn tới chỗ chuyển sự áp bức nặng nề theo kiểu nông nô sang hình thức áp bức tiền tệ. Chế độ nông nô với sự phụ thuộc của nông dân vào giai cấp địa chủ dần đần bị thủ tiêu. Tuy nhiên giữa thế kỷ XIV, sau bệnh dịch hạch tàn ác phá hoại cả châu Âu, thì lại bắt đầu sự phản động của chế độ nông nô. Đáp lại chính sách phản động của giai cấp thống trị phong kiến là những cuộc khởi nghĩa của nhân dân, như cuộc khởi nghĩa của Uốt Tailo, một thợ thủ công ở Anh năm 1381, đã gây chấn động chế độ phong kiến ở Anh. Cũng vào thời kỳ đó sự phản hóa dân cư thành thị dẫn đến những cuộc nổi dậy của những người nghèo trong nhiều thành phố ở Italia và Pháp.

    Cuối thế kỷ XIII, sức mạnh của ngôi giáo hoàng La Mã, sau khi đã đạt đến thời kỳ cực điểm của mình, bắt đẩu suy yếu dần. Nhiều giáo chủ đã từ bỏ La Mã để tản đến các thành phố giáp nước Pháp. Vào những năm 20 của thế ký XIV xuất hiện sự xung đột gay gắt giữa Giáo hoàng và dòng đạo Phơrăngxít, đặc biệt là với nhóm “duy linh”. Những người trong nhóm này đã đưa ra những truyền thống lý tưởng của đạo Cơ đốc khởi nguyên, chiến đấu chống lại sự giàu sang của nhà thờ và những kỳ vọng thế tục của Giáo hoàng. Giáo hoàng và những người trong dòng đạo Phơrăngxít đã gọi nhau là những kẻ tà đạo. Cũng vào thời kỳ này đã bắt đầu cuộc đấu tranh nhiều năm giữa Giáo hoàng và Hoàng đế. Giáo hoàng thì nguyền rủa Hoàng đế, còn Hoàng đế thì tìm cách truất ngôi Giáo hoàng.

    Về mặt triết học, thế kỷ XIV được đánh dấu bằng sự phát triển của chủ nghĩa duy danh mà đại biểu xuất sắc là Guyôm Ốccam.

    G. Ốccam (khoảng 1300 – 1350) là nhà văn, nhà chính trị nổi tiếng thời đại mình, nhà thần học và triết học kinh viện Anh, nhà tư tưởng của giai cấp phong kiến thế tục trong cuộc đấu tranh chống Giáo hoàng.

    Tư tưởng chống Giáo hoàng của Ốccam thể hiện trong hầu hết các tác phẩm lý luận của ông. Ông tuyên bố, chức giáo hoàng chỉ là một thể chế tạm thời, không phải là người được gán cho tính chất luôn luôn đúng đắn. Vị lãnh chúa tối cao của đất nước, theo ông, là quốc vương thế tục – người phải được sùng phục ở mọi nơi. Thế quyền và thần quyền phải hoạt động tách rời nhau. Thần quyền chỉ ra lệnh về cái gì gắn với việc cứu rỗi linh hồn trong nhà thờ. Mặc dù Ổccam có những sự thỏa hiệp, lý luận của ông là lý luận hết sức nguy hiểm đối với quyền của Giáo hoàng.

    Gắn với hoạt động có tính chất chính trị chống Giáo hoàng, bảo vệ nhà nước phong kiến thế tục là hoạt động triết học của Ốccam. Triết học của ông đã chống đối kịch liệt hệ tư tưởng chính thống (hệ tư tưởng đạo Thiên chúa). Trong vấn đề trung tâm của triết học trung cổ – vấn đề mối quan hệ giữa lòng tin và lý trí, giữa linh cảm và tri thức, Ốccam đã làm sâu sắc thêm những quan điểm của ĐơnXcốt. Ông khẳng định: Cũng như quyền lực của nhà thờ chỉ giới hạn ở công việc tôn giáo, thần học chỉ thống trị trong các vấn đề về lòng tin và dựa trên sự “linh cảm”. Những chứng minh có tính chất lý trí về lòng tin không có khả năng và vô giá trị. Cũng không thể chứng minh được sự tồn tại của Thượng đế và bản chất của Ngài. Đối với những tín điều tôn giáo thì chỉ có tin.

    Tuy là người bảo vệ nhiệt tâm lòng tin tôn giáo như mọi nhà triết học khác ở thời đại phong kiến, nhưng ở Ốccam chúng ta cũng thấy rõ sự tan vỡ của chính cơ sở triết học kinh viện và sự mất tác dụng của nó. Bởi vì, cái trục của triết học Ốccam là chủ nghĩa duy danh có khuynh hướng duy vật.

    Là một nhà duy danh luận, Ốccam cho rằng chỉ có những sự vật riêng lẻ, đơn nhất là tồn tại thực. Còn cái phổ biến (cái chung) chỉ tìm thấy trong “tinh thần và trong từ ngữ”. Nếu thừa nhận hiện thực khách quan của cái phổ biến sẽ dẫn đến sự vô lý, vì cái phổ biến không phải là những hình ảnh tư duy đơn giản. Cái phổ biến (cái chung) chỉ diễn đạt, mô tả cái giống nhau trong các đối tượng riêng lẻ mà thôi.

    Khái niệm, danh từ, theo Ốccam chỉ là những ký hiệu của sự vật. Và do đó, nhận thức của chúng ta không phải là nhận thức các sự vật vốn có, mà là nhận thức những ký hiệu, nhận thửc cái “thay mặt’ sự vật. Ở đây Ốccam đã đưa hoài nghi luận vào trong nhận thức luận.

    Trong lý luận nhận thức của mình, Ốccam cũng chia nhận thức làm hai loại: nhận thức trực giác (ông hiểu là nhận thức kinh nghiệm) vì nhận thức trừu tượng. Nhận thức trực giác được ông đặt cao hơn nhận thức trừu tượng, nó bao gồm cảm tính và sự tự quan sát. Vì chỉ có những sự vật riêng lẻ là tồn tại thực, nên nhận thức thế giới khách quan được bẩt đầu từ kinh nghiệm thông qua cảm giác.

    Trong lý thuyết đạo đức, Ốccam cũng phát triển quan điểm của ĐơnXcốt. Ông phủ nhận sự khác nhau tuyệt đối giữa điều thiện và điều ác. Vì theo ông ý chí của Thượng đế có thế biến hành vi tội lỗi của con người thành hành vi tốt.

    Tóm lại, xã hội phong kiến Tây Âu trung cổ là xã hội thống trị bởi hệ tư tưởng tôn giáo. Triết học chính thức của xã hội đó là chủ nghĩa kinh viện thấm nhuần tinh thần duy tâm chủ nghĩa, coi khinh mọi tri thức, phương pháp quan sát thực nghiệm. Hầu hết các nhà tư tưởng của trào lưu triết học này đều đặt mục đích cao nhất là phục vụ tôn giáo và nhà thờ, nên đã ra sức xuyên tạc học thuyết của các nhà triết học tiến bộ thời cổ, đặc biệt là của Arixtốt.

    Tuy nhiên, trong sự thống trị nặng nề của tôn giáo và thần học thời kỳ này cũng đã xuất hiện cuộc đấu tranh của các xu hướng duy vật trong triết học và trong các phong trào tà giáo chống lại chủ nghĩa ngu dân của nhà thờ. Tà giáo phát triển mạnh cũng là biểu hiện về mật tư tưởng những phong trào của nhân dân chống lại sự thống trị của giai cấp phong kiên quý tộc và Giáo hoàng chính thống.

    Như vậy, xã hội phong kiến Tây Âu thời trung cổ và nền triết học của nó không phải là sự “đứt đoạn” hay “sụp đổ” của tiến trình lịch sử. Lịch sử triết học thời kỳ này dù rất phức tạp và đầy mâu thuẫn, nó vẫn chứa đựng những nhân tố chuẩn bị cho sự khôi phục những học thuvết duy vật thời cổ đại và phát triển chúng trong thời đại của chủ nghĩa tư bản.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Triết Học Mác Lênin
  • Khái Niệm Với Tính Cách Một Vấn Đề Triết Học
  • Khái Niệm Là Gì Triết Học
  • Khái Niệm Khả Năng Và Hiện Thực Của Triết Học
  • Quan Hệ Triết Học Mỹ Học Nghệ Thuật Học Trong Văn Hóa Nghệ Thuật
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Ta Cần Triết Học Để Làm Gì?
  • Interferon Là Gì? Phân Loại, Tác Dụng Của Interferon?
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Tuyến Tụy
  • Nguồn Gốc Ung Thư Và Vai Trò Của Hệ Miễn Dịch
  • Cytokin Và Điều Hòa Miễn Dịch
  • Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Triết học là gì

    Định nghĩa Triết học là gì?

    • Triết học là một bộ môn chính thực hiện việc nghiên cứu về các vấn đề chung, cơ bản về con người – thế giới quan cũng như vị trí của con người ở trong thế giới quan – những vấn đề đó có kết nối lại với chân lý – sự tồn tại – kiến thức – giá trị – quy luật – ngôn ngữ. Dựa vào cách mà triết học giải quyết các vấn đề này, người ta sẽ phân biệt được nó với lại những môn khoa học khách. Trong đó, nó nổi bật nhất khi thể hiện rõ tính phê phán, các phương pháp tiếp cận vào hệ thống chung nhất, sự phụ thuộc của nó sẽ dựa vào tính duy lý ở việc lập luận.
    • Triết học có tên gọi tiếng Anh là Philosophy, từ này được xuất phát trong tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa dịch ra “tình yêu đối với sự thông thái”. Các thuật ngữ như là “triết học” hay “ triết gia” ra đời là gắn cùng với nhà tư tưởng người Hy Lạp Pythagoras.
    • Hiện nay, triết học cũng là một ngành khoa học được đào tạo riêng biệt dành cho sinh viên và triết học là môn học bắt buộc đối với tất cả các sinh viên trong trường Đại học – Cao đẳng. Để học ngành triết học, sinh viên sẽ phải thi khối C, học trong thời gian 4 năm. Hiện nay có một số trường đào tạo chuyên ngành triết học như: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc gia Hà Nội),…

    Nguồn gốc của triết học

    Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định.

    Nguồn gốc nhận thức:

    • + Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? … trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học.
    • + Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận.

    – Nguồn gốc xã hội:

    Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.

    Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia chúng chỉ có tính chất tương đối.

    Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử

    * Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên – bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học.

    * Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học. Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh. Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện.

    * Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập. Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học – Khoa học hậu vật lý. Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được.

    + Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph. Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    + Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen.

    + Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học.

    * Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học”. Triết học Mác – Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó. Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    * Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học. Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

    * Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới.

    *Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức.

    * Các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):

    +Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới.

    + Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người.

    + Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức. Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

    VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRIẾT HỌC.

    Vấn đề cơ bản của triết học

    Ăngghen định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học như sau: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học, đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    * Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

    • + Mặt thứ nhất: Giữa tư duy và tồn tại thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    • + Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thể giới hay không?

    * Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:

    + Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ý thức của chúng ta, không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy.

    + Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.

    + Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên.

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả tri hay bất khả tri.

    + Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người.

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn:

    • + Chủ nghĩa duy vật: Là những người cho rằng vật chất giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.
    • + Chủ nghĩa duy tâm: là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

    * Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của nó

    Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện triết học thì đã phân chia ra chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật từ đó đến nay luôn gắn với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có quan điểm thống nhất coi vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, đều xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới. Cụ thể:

    + Chủ nghĩa duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại:

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại mang tính trực quan nên ngây thơ và chất phác, tuy còn nhiều hạn chế nhưng với nguyên tắc cơ bản là đúng. Trường phái này giải thích giới tự nhiên từ chính bản thân tự nhiên, không viện dẫn thần linh hay thượng đế.

    + Chủ nghĩa duy vật máy móc siêu hình thế kỷ thứ XVII – XVIII.

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ sự phát triển rực rỡ của cơ học khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu máy móc chiếm vị trí thống trị và tác động mạnh mẽ đến các nhà duy vật.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Là kết quả nhận thức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa những tinh hoa của các học thuyết trước đó, đồng thời khắc phục những hạn chế, sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin mang tính chất cách mạng triệt để và biện chứng khoa học, không chỉ phản ánh hiện thực đúng như bản thân nó mà còn là công cụ hữu ích giúp con người cải tạo hiện thực đó.

    * Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của nó:

    + Duy tâm chủ quan thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực. Mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp cảm giác của cá nhân, của chủ thể.

    + Duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang tên gọi khác nhau như: ý niệm; tinh thần tuyệt đối; lý tính thế giới…

    Một hình thức biến tướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, với sự thừa nhận thượng đế; chúa trời sáng tạo thế giới. Tuy nhiên có sự khác nhau đó là, chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thì lòng tin là cơ sở chủ yếu, đóng vai trò chủ đạo; còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.

    Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm:

    +Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.

    * Triết học nhị nguyên: vật chất và ý thức song song tồn tại, không có cái nào có trước, cả hai đều là nguồn gốc tạo nên thế giới, triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Xét về thực chất, Triết học nhị nguyên thể hiện sự dao động ngả nghiêng, cuối cùng cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

    Thuyết khả tri; bất khả tri và hoài nghi luận

    – Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản “con người có nhận thức được thế giới không?”:

    + Thuyết khả tri( Thuyết có thể biết) là những nhà Triết học cả duy vật và duy tâm trả lời một cách khẳng định: Con người có khả năng nhận thức được thế giới

    +Hoài nghi luận xuất hiện từ thời Cổ đại (từ chữ Hy Lạp skeptikos và skiptomai có nghĩa là tôi thẩm tra) mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ đại). Họ là những người đã luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.

    Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấy tranh chống hệ tư tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.

    +Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): là sự phát triển mặt tiêu cực của trào lưu hoài nghi luận. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không bảo đảm tính chân thực, từ đó họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó.

    Đại biểu nổi tiếng nhất của “thuyết không thể biết” là Hium (nhà triết học Anh) và Cantơ (nhà triết học Đức). Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không. Còn Cantơ thì thừa kế nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “vật tự nó”; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là nhận thức những hiện tượng của nó mà thôi.

    Thuyết không thể biết đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph. Ăngghen đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết không thể biết một cách triệt để nhất. “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp. Nếu chúng ta có thể chứng minh được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”.

    SIÊU HÌNH VÀ BIỆN CHỨNG

    Trong lịch sử triết học không những có sự đối lập giữa CNDV và CNDT khi tìm hiểu bản chất của thế giới, mà đồng thời còn phải trả lời các câu hỏi: thế giới là bất động, đứng im hay là không ngừng vận động và phát triển? Các sự vật, hiện tượng của thế giới ở trạng thái cô lập, tách rời nhau hay có liên hệ với nhau, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau.

    Lịch sử đã biết đến hai quan điểm, hai cách xem xét nhìn nhận trái ngược nhau trong khi giải đáp những câu hỏi trên. Đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    Phương pháp siêu hình

    Phương pháp biện chứng

    +Thừa nhận đối tượng ở trạng thái cô lập,tách rời với các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối

    +Thừa nhận đối tượng qua các mối liên hệ của nó với các đối tượng khác và sự ảnh hưởng ràng buộc lẫn nhau giữa chúng

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đấy chỉ là biến đổi về mặt số lượng, nguyên nhân của mọi sự biến đổi nằm ngoài đối tượng.

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi có khuynh hướng chung là phát triển, có sự thay đổi về chất, mà nguyên nhân của mọi sự biến đổi ấy là do nguồn gốc bên trong đối tượng. Đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập.

    – Phương pháp siêu hình chỉ nhìn thấysự vật riêng biệt mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa chúng; chỉ thấy sự tồn tại mà không thấy quá trình sự phát sinh và tiêu vong .(Về bản chất là không hiểu được mối quan hệ giữa vận động và đứng im, hay đứng im chỉ là một hình thức vận động đặc biệt).– Tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung nhau được, họ nói có là có, không là không. Đối với họ, một sự vật hoặc tồn tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, v.v…Nguồn gốc của phương pháp siêu hình: Là bắt nguồn từ việc muốn nhận thức đối tượng, trước hết con người phải tách đối tượng ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Tuy phương pháp đó là cần thiết và có tác dụng trong một phạm vi nhất định, nhưng thực tế thì hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    – Phương pháp biện chứng không chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối quan hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong của sự vật.– Phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt trong sự phản ánh hiện thực,– Phương pháp biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “ hoặc là.. hoặc là” còn có cái “vừa là… vừa là”; đối tượng hay chỉnh thể trong lúc tồn tại là nó thì cũng đồng thời bao hàm sự tồn tại không là nó; cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa gắn bó nhau. Do đó, nó phản ánh hiện thực ngày càng chân thực chính xác, và nó trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem sét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương pháp biện chứng là phương pháp xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với tư duy mềm dẻo, linh hoạt.

    Các giai đoạn phát triển cơ bản của phương pháp biện chứng

    * Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời Cổ đại. thể hiện rõ nét trong “thuyết Âm – Dương” của triết học Trung Quốc, đặc biệt là trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học đều thấy các sự vật hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hoá trong những mối liên hệ vô cùng tận. Cách nhận xét thế giới như vậy, theo Ăngghen, là một cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng và là kết quả của một trực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả cuả những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. Chính vì hạn chế này mà phép biện chứng Cổ đại phải nhường bước cho phép siêu hình, phương pháp thống trị trong tư duy triết học ở thế kỷ XVIII là điều không thể tránh khỏi. Đây là giai đoạn khám phá kết cấu, thuộc tính của đối tượng.

    * Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, bắt đầu từ Cantơ và hoàn chỉnh ở Hêghen. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển tư duy nhân loại, các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung của phép biện chứng. Tuy nhiên, đây mới chỉ dừng lại ở biện chứng của khái niệm, của tinh thần, và tai hại hơn là họ cho rằng giới hiện thực chỉ là sự sao chép của tinh thần, bởi vậy phép biện chứng cổ điển Đức là có tính chất duy tâm.

    * Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng duy tâm, sau khi gạt bỏ tính chất duy tâm thần bí của nó, Mác – Ăng ghen xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

    Vai trò thế giới quan và phương pháp luận

    Vai trò thế giới quan của triết học

    * Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.

    * Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.

    * Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.

    * Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

    + Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập.

    Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.

    Do vậy:

    + Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.

    + Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động. + Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.

    Vai trò phương pháp luận của triết học

    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    * Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất

    + Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.

    Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.

    Vai trò của triết học Mác – Lê nin

    Triết học Mác – Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.

    * Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.

    + Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.

    + Nắm vững triết học triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.

    * Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.

    Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.

    Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.

    Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.

    Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:

    + Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;

    + Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị vấp váp, thất bại.

    Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vài Trò Và Ý Nghĩa Giao Tiếp Mà Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Đời Sống Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Tìm Hiểu Về Giới Tính Và Giới
  • Liên Minh Châu Âu Và Tầm Quan Trọng Trên Toàn Thế Giới
  • Trí Tuệ Cảm Xúc: Tầm Quan Trọng Của Eq Đối Với Thành Công
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Triết Học Là Gì? Đối Tượng Của Triết Học Là Gì? Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Hàm Vlookup Trong Excel, Cách Dùng Hàm Vlookup Trong Excel, Hàm Tìm Ki
  • =)), :)), :3, :v, ^^, :, @@, 3:), V/v, Vc, Vs Nghĩa Là Gì?
  • Iphone Bypass Là Gì? Có Nên Mua Iphone Bypass
  • Info Là Gì? Xin Info Là Gì? Ý Nghĩa Của Info Được Dùng Trên Mạng Xã Hội
  • Khi học triết học, chúng ta thường xuyên đặt câu hỏi triết học là gì? Đối tượng của triết học và vấn đề cơ bản khoa học này là gì? Bài viết này sẽ cung cấp giải đáp cho những câu hỏi đó.

    – Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    Ở Trung Quốc, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar’sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    – Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau:

    Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu:

    “Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy”.

    – Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    – Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của ; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

    Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng.

    Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại.

    Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu.

    Ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học.

    Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập.

    Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.

    Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác.

    “Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.”

    Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.

    Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó.

    Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa học”, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.

    Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản…

    Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.

    Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Homestay Là Gì? 6 Đặc Trưng Làm Nên Loại Hình Homestay
  • Homestay Là Gì? Những Điều Cần “nằm Lòng” Nếu Muốn Đầu Tư Homestay
  • Hợp Âm Là Gì? Cách Sử Dụng Hợp Âm Chuẩn
  • Gdp Là Gì, Ý Nghĩa Và 3 Cách Tính Gdp Danh Nghĩa Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Du Lịch La Gi, Bình Thuận (Cập Nhật 12/2020)
  • # Trong Triết Học Tiền Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiền Tệ Phải Chăng Là Hàng Hoá?
  • Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Năng Động, Sáng Tạo Là Gì? Làm Gì Để Năng Động Sáng Tạo
  • Bình Luận Về Các Khái Niệm
  • Trung Tâm Sáng Tạo Khoa Học
  • Theo kinh tế học “Tiền là tiền khi chỉ xét chức năng là phương tiện thanh toán, là tiền tệ được pháp luật quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia, nền kinh tế”. Theo định nghĩa này, tiền cũng có thể được gọi là tiền lưu hành. Triết học Mác – Lênin, trên cơ sở nghiên cứu về lịch sử và bản chất tiền tệ của chúng tôi đã xác định: “Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt tách ra từ trong thế giới hàng hoá như một vật ngang giá chung thống nhất. đối với các hàng hoá khác, nó thể hiện lao động xã hội và thể hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá.

    1. Tiền tệ theo quan điểm Mác – Lênin bao gồm 5 chức năng sau:

    Chức năng đo giá trị: Giá trị của mỗi hàng hóa được biểu thị bằng số lượng

    tiền nhất định. Tiền tệ có thể đóng vai trò là thước đo giá trị vì bản thân nó đã là hàng hóa.

    có giá trị như bất kỳ hàng hóa nào khác.

    Khái niệm, chức năng và sự phát triển của tiền

    1/3

    Chức năng lưu thông xe Một chức năng tiền tệ khác. Tại thời điểm này, tiền làm

    là hàng đổi hàng và bằng tiền mặt.

    Chức năng phương tiện: Thực hiện chức năng này, tiền rút khỏi lưu thông và hầu hết

    phải có đủ giá trị. Chỉ tiền, vàng, tiền, thỏi, bạc và châu báu

    Vàng và bạc có thể làm chức năng này.

    Chức năng phương tiện thanh toán: Khi tiền được dùng để trả nợ, để trao đổi

    hàng hóa … là khi tiền thực hiện chức năng này.

    Chức năng tiền tệ quốc tế: Tiền không chỉ được sử dụng trong một quốc gia mà còn

    Nó cũng có thể được sử dụng bên ngoài quốc gia, khi tiền thực hiện chức năng tiền tệ

    thế giới.

    Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền có ba chức năng tiêu biểu:

    Chức năng trao đổi phương tiện, phương tiện đo lường và chức năng phương tiện tính toán

    chức năng tích lũy phương tiện.

    Chức năng trao đổi phương tiện: Tiền là vật ngang giá chung, là vật trung gian cho các vật

    Việc trao đổi hàng hóa giữa người này với người khác trở nên thuận tiện hơn. Phương tiện được trao

    Tiền tệ là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Nếu không có chức năng này, tiền tệ sẽ

    không còn nữa.

    Chức năng của phương tiện đo và tính giá trị: Đo lường giá trị của hàng hóa và dịch vụ

    Với tiền cũng giống như việc đo khối lượng bằng một chiếc cân và đo khoảng cách bằng mét.

    Tiền tệ là thước đo phổ biến được sử dụng trong các mối quan hệ xã hội. Cảm ơn

    chức năng kiếm tiền ngày càng phổ biến này trong sự phát triển của đo lường

    của xã hội, đo lường mức sống của người dân … Nó đã tạo ra một nền kinh tế thực

    tiền tệ.

    Chức năng xe tích lũy: Tích lũy là cơ sở để tái sản xuất và mở rộng sản xuất

    vì vậy nó cũng là cơ sở của sự phát triển kinh tế. Tiền có chức năng này như nó vốn có

    phương tiện trao đổi, là tài sản có tính thanh khoản cao nhất.

    2. Quá trình phát triển tiền tệ

    Khi nền kinh tế còn sơ khai, lúc đó chưa có ngân hàng thì tiền dùng để trao đổi là

    Hiện vật (tiền hàng hóa) là tiền được tạo ra từ các hình thức vật chất mà bản thân nó

    nó có sẵn để sử dụng, nó không được xuất bản bởi bất kỳ tổ chức nào. Là nền sản xuất

    và trao đổi hàng hóa đang phát triển từng ngày, nhân loại đã tìm thấy và khai thác kim

    Loại hàng hóa thể hiện nhiều nhược điểm của hàng hóa khi kim loại được chọn

    mệnh giá thông dụng với các ưu điểm như: bền, gọn nhẹ, mệnh giá bình dân. Cho thuận tiện

    Đối với việc lưu thông tiền xu, ngân hàng có quy định thống nhất về việc đúc tiền như để kích cầu

    Khái niệm, chức năng và sự phát triển của tiền

    2/3

    thước, hình dạng, trọng lượng cho mỗi loại tiền tệ, đặt tên tiền xu, quy ước

    một phần của đồng xu. Tiền kim loại do nhà nước và cá nhân đúc, nhưng bình đẳng

    phải được nhà nước quản lý, đánh dấu sự ra đời của doanh nghiệp phát hành tiền.

    Nhờ số tiền này, kinh tế đi vào ổn định hơn, cũng trên cơ sở đó, nhà

    Các quốc gia thời đó không chỉ phát hành tiền kim loại mà còn phát hành tiền giấy.

    Như vậy, thời kỳ này đã xuất hiện tiền kim loại và tiền giấy, nhưng chưa xuất

    hiện ngân hàng.

    Hoạt động ngân hàng xuất hiện là một tất yếu khách quan do yêu cầu của nền kinh tế. ngân hàng

    NHTM (NHTM) là ngân hàng đầu tiên xuất hiện, trong giai đoạn đầu hoạt động

    Ngân hàng còn rất sơ khai, ngân hàng sẽ phát hành chứng chỉ hoặc kỳ

    Số phiếu đúng bằng giá trị vàng mà khách hàng gửi vào ngân hàng, là khả năng

    chuyển đổi những giấy tờ đó thành vàng luôn luôn thuận tiện. Tuy nhiên, với tốc độ

    lưu thông ngày càng nhiều, nhu cầu về tiền ngày càng nhiều thúc đẩy sự ra đời

    của hàng loạt ngân hàng thương mại. Điều này dẫn đến rất nhiều tiền giấy được lưu hành

    Ở những điểm khác nhau, nhiều ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận đã phát hành kỳ phiếu

    Không có vàng để đảm bảo khả năng thanh toán khiến người dân nghi ngờ, mất uy tín

    Tín dụng của khách hàng đối với các ngân hàng nhỏ và họ đổ xô nhau đến các ngân hàng lớn, đến hạn

    Trong khi đó, các ngân hàng lớn có cơ hội mở rộng và mua lại các ngân hàng nhỏ. Bên

    Bên cạnh đó, với nhiều loại giấy được đưa vào lưu thông làm cho tiền tệ không ổn định, do đó

    buộc Nhà nước phải can thiệp để thống nhất việc phát hành tiền và đảm bảo an toàn

    Tiền giấy lưu hành bằng cách chỉ phát hành một số ngân hàng nhất định

    Giấy bạc ngân hàng gọi là ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hành là ngân hàng

    hàng có vốn lớn, chi nhánh nhiều, có uy tín trên thị trường.

    Cuối thế kỷ XIX, một số nước đã hình thành ngân hàng phát hành và ngân hàng phát hành

    Thông lệ này đã thực hiện một số chức năng của ngân hàng trung ương. Và đến đầu thế kỷ XX, các quan

    Chức năng phát hành tiền đã được tách hoàn toàn khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng thương mại,

    đánh dấu sự ra đời của ngân hàng trung ương, và ngân hàng trung ương trở thành cơ quan độc quyền phát hành tiền

    ở một quốc gia. Sự phát triển của công nghệ ngân hàng ngày càng hiện đại

    cho phép thay thế một phần tiền giấy, tiền xu do ngân hàng trung ương phát hành bằng

    Tiền điện tử, điều này mang lại lợi ích to lớn cho bất kỳ quốc gia nào vì nó giúp

    để tăng tốc độ luân chuyển vốn cho nền kinh tế.

    * Bên ngoài: Làm thế nào để kiếm tiền? Bạn có thể học kiếm tiền online trên điện thoại qua các bài viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Triết Học Dành Cho Sv Năm 1
  • Nhiệt Độ Là Gì? Tìm Hiểu Về Nhiệt Độ Là Gì?
  • Từ Ngữ Hán Việt Trong Tác Phẩm “lục Vân Tiên” Của Nguyễn Đình Chiểu
  • Ngôn Ngữ Hán Việt Trong Y Học (Bs. Vũ Thanh Giang)
  • Cách Tra Từ Điển Hán Ngữ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100