Bản Chất Của Ý Thức Là Gì ? Cho Ví Dụ ?

--- Bài mới hơn ---

  • Ý Thức Tôn Giáo Là Gì ?
  • Ý Thức Pháp Luật Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì ? Phân Tích Cấu Trúc Của Ý Thức Pháp Luật
  • Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội Cau 39 Doc
  • Phân Tích Khái Niệm Ý Thức Xã Hội Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội
  • Chào bạn!

    1. Nguồn gốc của ý thức

    a. Nguồn gốc tự nhiên

    Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người.

    Bộ óc con người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật – xã hội và có cấu tạo rất phức tạp, gồm khoảng 14 – 15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào này tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản xạ có điều kiện và không điều kiện.

    Hoạt động ý thức con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người. Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Ý thức là chức năng của bộ óc người, là hình ảnh tinh thần phản ánh thế giới khách quan; nhưng ý thức không diễn ra ở đâu khác ngoài hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người.

    Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc, thần bí hoá hiện tượng tâm lý, ý thức. Còn chủ nghĩa duy vật tầm thường lại đồng nhất vật chất với ý thức.

    Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức.

    Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất. Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác.

    Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao với nhiều hình thức khác nhau.

    – Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá.

    – Phản ánh sinh học trong giới hữu sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật:

    + Tính kích thích: Thể hiện ở thực vật, động vật bậc thấp, đã có sự chọn lọc trước những tác động của môi trường.

    + Tính cảm ứng: Thể hiện ở động vật bậc cao có hệ thần kinh, xuất hiện do những tác động từ bên ngoài lên cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lại. Nó hoàn thiện hơn tính kích thích, được thực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường thông qua cơ chế phản xạ không điều kiện.

    + Tâm lý động vật: Là hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với các quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện, thông qua các cảm giác, tri giác, biểu tượng ở động vật có hệ thần kinh trung ương.

    – Phản ánh ý thức: Gắn liền với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người. Đó là hình thức phản ánh mới, đặc trưng của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người.

    Như vậy, sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

    b. Nguồn gốc xã hội

    Để ý thức có thể ra đời, những nguồn gốc tự nhiên là rất cần thiết nhưng chưa đủ. Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.

    – Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng 2 tay. Điều này cùng với chế độ ăn có thịt đã thực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người, từ tâm lý động vật thành ý thức. Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý nghĩa to lớn là con người đã có ý thức về mục đích của hoạt động biến đổi thế giới.

    – Trong quá trình lao động, con người tác động vào các đối tượng hiện thực, làm chúng bộc lộ những đặc tính và quy luật vận động của mình qua những hiện tượng nhất định. Những hiện tượng đó tác động vào bộ óc con người gây nên những cảm giác, tri giác, biểu tượng. Nhưng quá trình hình thành ý thức không phải là do tác động thuần túy tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ óc con người, mà chủ yếu là do hoạt động lao động chủ động của con người cải tạo thế giới khách quan nên ý thức bao giờ cũng là ý thức của con người hoạt động xã hội. Quá trình lao động của con người tác động vào thế giới đã làm cho ý thức không ngừng phát triển, mở rộng hiểu biết của con người về những thuộc tính mới của sự vật. Từ đó, năng lực tư duy trừu tượng của con người dần dần hình thành và phát triển.

    – Lao động ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan. Mối liên hệ đó không ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm nảy sinh ở họ một nhu cầu “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đó”, tức là phương tiện vật chất để biểu đạt sự vật và các quan hệ của chúng. Đó là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Theo Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng; không có ngôn ngữ thì con người không thể có ý thức.

    Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.

    2. Bản chất của ý thức

    – Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động. Vì vậy, ý thức … là cái vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”.

    Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có tính khái quát cao.

    Tuy nhiên, sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, bởi vì ý thức bao giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại.

    – Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã hội.

    3. Mối quan hệ và Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

    Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan. Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan.

    Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, lấy ý chí áp đặt cho thực tế vì nh¬ư vậy sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.

    Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật đồng thời vạch rõ sự tác động trở lại vô cùng to lớn của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Quan hệ giữa vật chất và ý thức là quan hệ hai chiều. Không thấy điều đó sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thường và bệnh bảo thủ, trì trệ trong nhận thức và hành động.

    Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định. Do đó, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì càng cải tạo thế giới có hiệu quả. Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.

    Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và b¬ước đi về xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế, nóng vội muốn xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, vi phạm nhiều quy luật khách quan. Cương lĩnh Đại hội VII đã chỉ rõ:”Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan”. Từ đó rút ra bài học quan trọng là: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”.

    Chúc vui!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lenin_Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Nguồn Gốc Của Ý Thức
  • Ý Thức, Nguồn Gốc, Kết Cấu Của Ý Thức
  • Trình Bày Nguồn Gốc Của Ý Thức (Nguồn Gốc Tự Nhiên Và Xã Hội)
  • Sự Hình Thành Và Phát Triển Ý Thức
  • Tri Thức Khoa Học Là Gì? Tri Thức Khoa Học Trong Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Vitamin D3 Là Gì? Vai Trò Của Vitamin D3 Đối Với Cơ Thể?
  • Vitamin B Là Gì? Vai Trò Của Vitamin Nhóm B Đối Với Cơ Thể
  • Vai Trò Của Vitamin A Đối Với Cơ Thể
  • Đặc Điểm Và Vai Trò Của Các Vitamin
  • Vitamin D Là Gì? Vai Trò Của Vitamin D Với Cơ Thể?
  • 1. Khái niệm tri thức khoa học là gì?

    Tri thức có vai trò hết sức quan trọng, góp phần tạo nên mọi thành tựu và tiến bộ trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại. Không phải tự nhiên mà máy tính điện tử những công cụ hiện đại trong lĩnh vực công nghệ thông tin thời nay lại tự nhiên mà có để thay thế con người trong các hoạt động lao động trí óc. Nó ra đời dựa trên kết quả lao động trí óc, vận dụng nguồn tri thức và tài năng vốn có để người ta chế tạo ra. Bởi vậy nếu không có tri thức sẽ không có một xã hội phát triển phồn thịnh như hiện tại.

    Theo từ điển tiếng Việt giải thích “tri thức là những điều hiểu biết do từng trải và học tập mà thu được” đây là một khái niệm được đúc kết dưới góc độ ngôn ngữ học những không quá trừu tượng đánh đố ý hiểu của độc giả. Còn theo ý nghĩa triết học của nó “Trí thức là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác”

    Tri thức được phân thành tri thức thông thường và tri thức khoa học. Nếu tri thức thông thường được hình thành do hoạt động hàng ngày của mỗi cá nhân, mang tính chất cảm tính trực tiếp bề ngoài và rời rạc thì tri thức khoa học phản ánh trình độ của con người đi sâu nhận thức thế giới hiện thức. Vậy tri thức khoa học còn khác với tri thức thông thường như thế nào?

    – Tri thức thông thường: Hiểu một cách đơn giản và dễ hình dung nhất là trong đời sống, con người thường xuyên phải tiếp xúc với thiên nhiên, với xã hội, phải giải quyết nhiều công việc thực tế hàng ngày. Những công việc này người ta đều có thể cảm nhận bằng các giác quan để cảm nhận về bản thân, về thế giới xã hội xung quanh rồi rút ra kinh nghiệm sống. Đó chính là tri thức thông thường mà không phải ai cũng biết.

    – Tri thức khoa học: Phức tạp hơn tri thức thông thường. Sự phát triển của lao động sản xuất và hoạt động xã hội là nguyên nhân khiến con người phải tìm hiểu sâu hơn, nghiên cứu đầy đủ hơn về thế giới và tìm hiểu khả năng nhận thức của chính mình. Tri thức khoa học là hệ thống tri thức khái quát về các sự vật, hiện tượng của thế giới và các quy luật vận động của chúng. Đây là hệ thống tri thức được xác lập trên căn cứ xác đáng có thể kiểm tra được và có tính ứng dụng trong các hoạt động phát triển đất nước hay bất cứ hoạt động nào cần tới vận dụng sâu tri thức. Tri thức khoa học được phân thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận.

    Tri thức khoa học và tri thức thông thường khác nhau nhưng lại bổ trợ cho nhau đề cùng tồn tại. Tri thức khoa học tuy phức tạp hơn tri thức thông thường nhưng nó có thể xuất phát từ tri thức thông thường, phải có những cảm nhận, đánh giá khách quan từ tri giác thì tri thức khoa học mới có cơ sở để tiến hành những nghiên cứu một cách sâu sắc.

    2. Vai trò của tri thức khoa học

    2.1. Vai trò của tri thức khoa học đối với đời sống xã hội

    Như đã nhấn mạnh, tri thức có vai trò hết sức quan trọng góp phần tạo nên mọi thành tựu và tiến bộ trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại. Tri thức gắn liền với nền văn minh loài người, con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn nội hàm mới của tri thức mà không ngừng sáng tạo ra tri thức, dần dần xây dựng và hoàn thiện hệ thống tri thức mới. Tri thức bao trùm trên nhiều lĩnh vực từ lao động sản xuất (công, nông nghiệp) tới cả chính trị, giáo dục, văn học, nghệ thuật, y tế, luật pháp, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc,…

    Trong thời đại ngày nay tri thức lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, nó góp mặt và trở thành lực lượng lao động trực tiếp quan trọng nhất. Nhờ sự góp mặt của tri thức tạo ra những thay đổi lớn lao không chỉ trong quản lý và sản xuất kinh doanh mà con tác động làm thay đổi đáng kể cuộc sống của con người theo chiều hướng tích cực hơn. Có thể thấy từ khi có sự tác động của tri thức khoa học, các suy nghĩ và nhận thức của con người có sự thay đổi hơn rất nhiều. Đã từ lâu những quan điểm cổ hủ, những định kiến lạc hậu đã được thay thế bằng những quy nghĩ, tư duy mới hiện đại hơn, phù hợp với xu thế hơn.

    Con người không chỉ biết mà phải áp dụng được cả tri thức và tri thức khoa học coi đó là kim chỉ nam cho các hành động nhằm cải tạo thế giới đáp ứng toàn diện nhu cầu vật chất của cuộc sống con người. Vì vậy để biết cách áp dụng được những kiến thức của tri thức khoa học vào đời sống xã hội, con người phải chủ động học tập không ngừng và liên tục bởi kiến thức rất rộng và bao la, con người không chỉ học trong ngày một ngày hai mà học cả đời chưa chắc cũng chưa biết hết được. Và tất nhiên, theo thời gian kiến thức có thể được phát hiện ra thêm bổ sung vào kho tri thức, con người phải dám gạt bỏ những tri thức đã lỗi thời, tiếp thu và có nhận xét những tri thức đã có rồi tìm mọi cách để tiếp cận những tri thức mới. Hãy là một tế bào sống tốt để nuôi dưỡng sự sống cho cả một xã hội văn minh.

    2.2. Vai trò của tri thức khoa học đối trong kinh tế

    Trong phát triển kinh tế, không cần nói ai trong số chúng ta cũng biết tri thức đóng vai trò rất quan trọng cho ra đời những phát minh khoa học kỹ thuật phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhờ tri thức mà những suy nghĩ tưởng như không thể lại thành có thể và giờ đây chúng ta đang được sống trong nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế có sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.

    Trong nền kinh tế tri thức, những ngành áp dụng được nhiều thành tựu mới nhất của khoa học, công nghệ và dựa vào tri thức như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,… nhưng những ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp cũng không nằm ngoài danh sách được thừa hưởng và ứng dụng khoa học công nghệ cao. Sở dĩ các nước phát triển ngày nay có tốc độ phát triển nhanh là do sản phẩm của họ có hàm lượng trí tuệ cao, hàm lượng giá trị do trí tuệ tạo ra và đã được kết tính khéo léo trong sản phẩm. Xã hội đã tạo nên một nền kinh tế tri thức mà sản phẩm được sản xuất dựa trên thành tự mới của khoa học công nghệ, dựa trên những tri thức mà con người đã đạt được ngày càng phong phú, đáp ứng tốt những yêu cầu về vật chất cũng như tinh thần của con người.

    Tuy nhiên tri thức khoa học cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực đến nền kinh tế dẫn đến tồn tại nhiều mặt trái của nền kinh tế hiện nay đó là có sự phân hóa giữa nước giàu, nước nghèo về nhiều yếu tố như thu nhập, tuổi thọ, giáo dục và chất lượng cuộc sống,… Điều gì cũng có hai mặt đó là điều tất yếu khách quan tồn tại trên thế giới này bởi vậy nếu xã hội muốn áp dụng thành tự của tri thức khoa học thì phải chấp nhận cả những tác động tiêu cực trên. Có như vậy mọi thứ mới dung hòa được đề cùng tồn tại trong một thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Về Vai Trò Của Tri Thức
  • Thị Trường Là Gì? 2 Ứng Dụng Thực Tế Thị Trường Vào Kinh Doanh
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Thị Trường
  • Thị Trường Và Vai Trò Của Thị Trường
  • Thị Trường Hàng Hóa Gồm Những Gì? Vai Trò Của Thị Trường Hàng Hóa
  • Hợp Âm Là Gì Cho Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Là Gì? Vai Trò Của Hệ Thống Môi Trường
  • Dns Sinkhole Là Gì? Cách Sử Dụng Kỹ Thuật Dns Sinkhole
  • Các Hợp Âm Piano Cơ Bản Dành Cho Người Mới Học
  • Các Chức Danh Trong Tiếng Anh Và Cách Dùng
  • Xem Tử Vi Tuổi Tý Năm 2022 Đầy Đủ Và Chi Tiết Nhất
  • Ba hoặc nhiều nốt nhạc cùng vang lên 1 lúc thì tạo thành một hợp âm. Thông thường, một hợp âm được xây dựng từ hai hay nhiều quãng 3. Ví dụ, các nốt C-E-G tạo thành một hợp âm trưởng. Nốt nhạc mà theo đó hợp âm dùng làm nền thì gọi là nốt chủ âm (nốt nền). Các nốt khác được gọi theo tên của quãng mà chúng tạo thành với nốt chủ âm.

    Các loại hợp âm

    Để xác định loại hợp âm (trưởng, thứ, bảy, …) chúng ta dựa vào ký tự nhỏ đi sau chữ cái chỉ tên hợp âm.

    Tuy nhiên, nếu hợp âm chỉ có mỗi ký tự chữ in hoa thì nó là hợp âm trưởngC:

    Cách đọc tên hợp âm

    Chúng ta có 7 nốt nhạc Đô – Rê – Mi – Fa – Sol – La – Si tương ứng với các chữ cái C – D – E – F – G – A – B. Và 5 loại hợp âm đã giới thiệu ở trên. Ghép tên chữ cái và loại hợp âm lại ta gọi được tên hợp âm đó.

    Ví dụ:

    Ngoài những dạng đơn giản trên, đôi khi ta còn bắt gặp những loại có tên gọi “dài dòng” như:

    Chủ đề tìm kiếm

    hợp âm là gì

    hợp âm là gì piano

    hợp âm là gì lớp 9

    hợp âm là gì organ

    hợp âm là gì guitar

    hợp âm là gì cho ví dụ

    hợp âm 7 là gì

    vòng hợp âm là gì

    hợp âm dim là gì

    hợp âm chặn là gì

    hợp âm major là gì

    hợp âm sus là gì

    hợp âm trưởng là gì

    hợp âm thứ là gì

    hợp âm 3 là gì

    hợp âm màu là gì

    hợp âm em là gì

    hợp âm bb là gì

    hợp âm sus4 là gì

    hợp âm am là gì

    hợp âm add là gì

    hợp âm aug là gì

    hợp âm a7 là gì

    hợp âm am7 là gì

    hợp âm asus4 là gì

    hợp âm tiếng anh là gì

    hợp âm am em là gì

    hợp âm bảy là gì

    hợp âm bm là gì

    hợp âm bdim là gì

    hợp âm bạn là gì

    hợp âm ba là gì

    hợp âm b7 là gì

    hợp âm b là gì

    bộ hợp âm là gì

    các loại hợp âm

    các loại hợp âm 7

    các loại hợp âm piano

    các loại hợp âm ukulele

    các loại hợp âm nâng cao

    các loại hợp âm 3

    các loại hợp âm màu

    các loại hợp âm ba

    cấu tạo các loại hợp âm

    tất cả các loại hợp âm

    tổng hợp các loại hợp âm

    đọc hợp âm

    đọc hợp âm thứ bảy

    đọc hợp âm thứ 7

    xem hợp âm

    cách đọc hợp âm piano

    cách đọc hợp âm ukulele

    cách đọc hợp âm trên bản nhạc

    cách đọc hợp âm organ

    cách đọc hợp âm trong bài hát

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Fpt Play Box Plus Năm 2022
  • [Taimienphi.vn] Hướng Dẫn Tạo File Zip Trên Máy Tính, Nén File Bằng 7 Zip
  • Unisex Là Gì? Phong Cách Thời Trang Phi Giới Tính
  • Những Điều Cần Biết Khi Sử Dụng Màu Xanh Xám (Sage Green) Cho Căn Nhà Của Bạn
  • File Ai Là Gì Phần Mềm Mở File Ai Cách Mở File Ai
  • Thông Tin Là Gì ? Cho Ví Dụ.

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2. Và Dữ Liệu
  • Giáo Án Tin Học 10 Và Dữ Liệu
  • Những Khái Niệm Và Kiến Trúc Của Hệ Thống Cơ Sở Dữ Liệu
  • Dci: Informatique Khái Niệm Dữ Liệu
  • Khái Niệm Mô Hình Dữ Liệu
  • Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội. Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng.

    Thông tin được lưu trữ trên nhiều dạng vật liệu khác nhau như được khắc trên đá, được ghi lại trên giấy, trên bìa, trên băng từ, đĩa từ… Ngày nay, thuật ngữ “thông tin” (information) được sử dụng khá phổ biến. Thông tin chính là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người. Con người luôn có nhu cầu thu thập thông tin bằng nhiều cách khác nhau: đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, giao tiếp với người khác…Thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là ngườn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định

    Môi trường vận động thông tin là môi trường truyền tin, nó bao gồm các kênh liên lạc tự nhiên hoặc nhân tạo như sóng âm, tia sáng, dây dẫn, sóng âm thanh, sóng hình… Kênh liên lạc thường nối các thiết bị của máy móc với nhau hay nối với con người. Con người có hình thức liên lạc tự nhiên và cao cấp là tiếng nói, từ đó nghĩ ra chữ viết. Ngày nay nhiều công cụ phổ biến thông tin đã xuất hiện: bút viết, máy in, điện tín, điện thoại, phát thanh, truyền hình, phim ảnh v.v.

    Về nguyên tắc, thì bất kỳ cấu trúc vật chất nào hoặc bất kỳ dòng năng lượng nào cũng có thể mang thông tin. Các vật có thể mang thông tin được gọi là giá mang tin (support). Thông tin luôn mang một ý nghĩa xác định nhưng hình thức thể hiện của thông tin thì rõ ràng mang tính quy ước. Chẳng hạn ký hiệu “V” trong hệ đếm La Mã mang ý nghĩa là 5 đơn vị nhưng trong hệ thống chữ La tinh nó mang nghĩa là chữ cái V. Trong máy tính điện tử, nhóm 8 chữ số 01000001 nếu là số sẽ thể hiện số 65, còn nếu là chữ sẽ là chữ “A”

    Có nhiều cách phân loại thông tin. Chúng ta quan tâm đến cách phân loại dựa vào đặc tính liên tục hay rời rạc của tín hiệu vật lý. Tương ứng, thông tin sẽ được thành chia thành thông tin liên tục và thông tin rời rạc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tin Học 10 Bài 2: Và Dữ Liệu
  • Bài 2. Và Dữ Liệu C1 T2 Lt Doc
  • Dữ Liệu Kiểu Tệp: Khái Niệm Về Tệp
  • Bài 1. Một Số Khái Niệm Cơ Bản Bo De Kiem Tra Tin Hoc 12 Docx
  • Lý Thuyết: Một Số Kiểu Dữ Liệu Chuẩn Trang 21 Sgk Tin Học 11
  • Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Từ Là Gì? Khái Niệm Vai Trò Trong Câu & Ví Dụ
  • Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì
  • Khái Niệm Động Từ Khuyết Thiếu Trong Tiếng Anh Là Gì?
  • Booking Là Gì? Những Khái Niệm Về Booking Bạn Cần Biết
  • Tổng Quan Về Kỹ Năng Đọc Và Đọc Hiểu
  • Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm, Khái Niệm C, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ưu Thế Lai, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Url, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm Uml, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm 4p, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ước, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm Văn Hóa, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Oop, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm P, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Oda, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm M&e, Khái Niệm M&a, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Iot, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm Erp, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm G,

    Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm, Khái Niệm C, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm B/l, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ưu Thế Lai, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Url, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm Uml, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm 4p, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm ước, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm ước Mơ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Văn Miêu Tả
  • Khái Niệm Lực Ở Lớp 6
  • Công Thức, Định Nghĩa, Lớp 4, Lớp 5, Lớp 7
  • Khái Niệm Là Gì Lớp 4
  • Không Thể Đánh Tráo Khái Niệm “lòng Yêu Nước”
  • Ẩn Dụ Là Gì, Hoán Dụ Là Gì? Cho Ví Dụ Và Có Mấy Loại

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoán Dụ Là Gì? Có Mấy Hình Thức Trong Biện Pháp Hoán Dụ?
  • Các Chỉ Số Iq, Eq, Cq, Aq Là Gì?
  • Full Hd Là Gì? Có Nên Sử Dụng Màn Hình Full Hd
  • Lễ Hội Tiếng Nhật Là Gì? Bình Luận Từ Văn Hóa Truyền Thống Đến Ba Lễ Hội Lớn! │Karuta
  • “Hiếu Thảo Chân Thật Bắt Đầu Từ Lòng Hiếu Thảo.”
  • Ẩn dụ là gì?

    Ẩn dụ là biện pháp tu từ dùng tên gọi của sự vật/hiện tượng này bằng tên của sự vật/hiện tượng khác có nét tương đồng giữa 2 đối tượng về mặt nào đó (như tính chất, trạng thái, màu sắc, …) nhằm tăng sức gợi hình và gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Hoặc các bạn có thể hiểu nôm na là Ẩn dụ là biện pháp thay đổi tên gọi của sự vật/hiện tượng A với B, là các bạn gọi tên A nhưng ẩn B đi.

    Hoán dụ là gì?

    Hoán dụ là biện pháp dùng tên gọi của một cái bộ phận để chi cho toàn thể. Tức là gọi tên sự vật/hiện tượng này bằng một tên sự vật/hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nhau để tăng sức gợi hình và gợi cảm trong diễn đạt

    Có mấy loại ẩn dụ? Ví dụ của từng loại.

    Có tổng cộng 4 kiểu ẩn dụ mà các bạn thường gặp đó là:

    1.Ẩn dụ hình thức (tức là tương đồng về hình thức)

    Ví dụ:

    Về thăm quê Bác làng Sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng​

    Tương đồng về hình thức là màu hồng của lửa và màu đỏ của hoa râm bụt.

    2.Ẩn dụ cách thức (tức là tương đồng về cách thức)

    Ví dụ:

    Ăn quả nhớ kẻ trồng cây​

    Tương đồng về cách thức là ăn quả tương đồng với hưởng thành quả lao động, còn trồng cây tương đồng với công lao người tạo ra thành quả.

    3.Ẩn dụ phẩm chất (tức là tương đồng về phẩm chất)

    Ví dụ:

    Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm​

    Tượng đồng về phẩm chất là người cha tức đang ẩn dụ Bác Hồ, Bác đang chăm lo giấc ngủ cho các chiến sĩ như những người cha ruột đang chăm sóc cho các đứa con yêu của minh.

    4.Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (tức là chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác hoặc cảm nhận bằng giác quan khác).

    Ví dụ:

    Giọng nói của chị ấy rất ngọt ngào​

    Chuyển cảm giác từ thính giác sang vị giác. Từ giọng nói nghe bằng tai qua đến ngọt ngào cảm nhận bằng miệng.

    Có mấy loại hoán dụ? Ví dụ của từng loại

    Có tổng cộng 4 kiểu hoán dụ mà các bạn thường gặp đó là

    1.Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể

    Ví dụ:

    Một trái tim lớn lao đã già từ cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống.​

    Hình ảnh hoán dụ ở đây là chỉ cả con người của Bác Hồ – vị lãnh tụ, cha già kính yêu của chúng ta.

    2.Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng

    Ví dụ:

    Vì sao trái đất nặng ân tình

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh​

    Hình ảnh hoán dụ ở đây đó là trái đất hoán dụ cho hình ảnh nhân loại.

    3.Lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật

    Ví dụ:

    Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân.​

    Hình ảnh hoán dụ ở đây là sen tức chỉ mùa hạ, cúc tức chỉ mùa thu.

    4.Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

    Ví dụ:

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại lên hòn núi cao.​

    Hoán dụ ở đây là chỉ ra sự đơn lẻ không đoàn kết, một là số lẻ ít và 3 là chỉ số lượng nhiều. Tức là một mình ta làm sẽ không bằng chúng ta đoàn kết lại cùng nhau làm.

    Thank For Watching !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ẩn Dụ Là Gì? Có Những Kiểu Ẩn Dụ Nào, Lấy Ví Dụ Chi Tiết Về Từng Kiểu Ẩn Dụ
  • Xét Nghiệm Hiv Âm Tính Có Ý Nghĩa Gì?
  • Kết Quả Hiv Dương Tính Nghĩa Là Gì?
  • Duyên Là Gì – Thầy Khải Toàn
  • Des Là Gì Trên Facebook
  • Chân Lý Là Gì Theo Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Chân Lý?
  • Bản Chất Của Chân Lý
  • Triết Học Về Vật Chất
  • Con Người Và Bản Chất Của Con Người
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chế Độ Dân Chủ Nhân Dân
  • Ngay từ thời cổ đại, con người đã luôn suy nghĩ tìm lời giải đáp cho câu hỏi chân lý là gì? Vấn đề chân lý là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận .

    Chân lý là tri thức phù hợp với khách thể mà nó phản ánh và được kiểm nghiệm.

    + Sự phát triển của sự vật khách quan;

    + Điều kiện lịch sử – cụ thể của ;

    + Hoạt động thực tiễn, và

    + Hoạt động nhận thức của con người.

    Như Lênin đã nhận xét: Sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình. Tư tưởng (= con người) không nên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng im chết cứng, một bức tranh (hình ảnh) đơn giản, nhợt nhạt (lờ mờ), không khuynh hướng, không vận động.

    Mọi chân lý đều có tính khách quan, tính cụ thể, tính tuyệt đối và tính tương đối. Điều này thể hiện như sau:

    – Nghĩa là, tuy chân lý là nhận thức của con người nhưng nội dung của nó không phụ thuộc vào con người.

    + Trái đất xoay quanh mặt trời: Đây là chân lý khách quan dù con người đã nhận thức được hay chưa.

    + Khủng long là loài động vật xuất hiện trên trái đất trước loài người.

    – Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhấn mạnh tính khách quan của chân lý có nghĩa là thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và sự phản ánh thế giới đó vào trong bộ óc con người.

    Nội dung mà chân lý phản ánh thuộc về thế giới khách quan. Chân lý chỉ có ở con người, nhưng nội dung của chân lý lại không lệ thuộc vào con người mà chỉ lệ thuộc vào sự vật khách quan được chân lý đó phản ánh.

    – Điều này nghĩa là không có chân lý trừu tượng, mơ hồ.

    Chân lý đạt được trong quá trình nhận thức bao giờ cũng gắn liền với một lĩnh vực cụ thể của hiện thực, và được phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể đó.

    – Nguyên lý tính cụ thể của chân lý có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và thực tiễn.

    Nguyên lý này đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử – cụ thể khi xem xét, đánh giá sự vật, sự việc, con người.

    Do đó, Lênin đã khẳng định: “Bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể”.

    Quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải chú ý đến điều kiện lịch sử – cụ thể của từng quốc gia, dân tộc, từng địa phương khi vận dụng lý luận chung, sơ đồ chung, phải biết cụ thể hóa, cá biệt hóa vào cho cái riêng. Phải hết sức tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc.

    Đối với Việt Nam, chúng ta phải nghiên cứu, hiểu rõ điều kiện lịch sử – cụ thể của đất nước để vận dụng sáng tạo.

    Trung thành với chủ nghĩa mác – Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của nó và biết vận dụng đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta. Cả chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa dân tộc cực đoan đều xa lạ với chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Như đã phân tích, con người đạt tới chân lý trong quá trình vận động vô tận của nhận thức thế giới khách quan với cả một chuỗi những sự trừu tượng, những sự hình thành các khái niệm, quy luật.

    Những khái niệm bao quát một cách tương đối, gần đúng những quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển, tạo nên một bức tranh khoa học về thế giới khách quan.

    Nhưng con người nhận thức chân lý khách quan như thế nào? Có thể nhận thức được một cách tức thời, toàn bộ, tuyệt đối, vô điều kiện hay chỉ gần đúng, có điều kiện?

    Trả lời câu hỏi đó tức là phải xem xét quan hệ giữa tính tuyệt đối và tính tương đối của chân lý. Ở đây, ta có chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối.

    Mối quan hệ giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa quá trình vô tận của sự nhận thức thế giới khách quan với khả năng, kết quả nhận thức có hạn ở từng thời điểm cụ thể của lịch sử nhận thức.

    Chân lý tương đối là tri thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan nhưng chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện, cần phải được bổ sung, điều chỉnh trong quá trình phát triển tiếp theo của nhận thức.

    Ở chân lý tương đối, sự phản ánh hiện thực khách quan bị giới hạn ở những mặt, những bộ phận nhất định và bị chế ước bởi điều kiện lịch sử.

    Chân lý tuyệt đối là tri thức hoàn toàn đầy đủ, hoàn chỉnh về thế giới khách quan.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì theo bản chất của nó, tư duy con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối.

    Sở dĩ như vậy vì thế giới khách quan là vô cùng tận, nó biến đổi, phát triển không ngừng, không có giới hạn tận cùng, còn nhận thức của từng con người, từng thế hệ lại luôn bị hạn chế bởi điều kiện lịch sử khách quan và bởi năng lực chủ quan.

    Việc thừa nhận tính tương đối của chân lý không loại trừ việc chấp nhận, dù là chút ít, chân lý tuyệt đối. Trong tính tương đối đó vẫn chứa đựng một phần, một yếu tố của chân lý tuyệt đối.

    Phải chăng sự phân biệt giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối là không xác định?

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó vừa đủ “không xác định” để ngăn ngừa khoa học trở thành một giáo điều theo nghĩa xấu của từ đó.

    Nhưng đồng thời lại vừa đủ “xác định” để phân rõ ranh giới dứt khoát với chủ nghĩa tín ngưỡng và thuyết bất khả tri, với chủ nghĩa duy tâm và thuyết ngụy biện.

    3.3. Quan hệ biện chứng giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối:

    – Chân lý tương đối bao giờ cũng chứa những yếu tố là chân lý tuyệt đối. Chân lý tuyệt đối được hình thành từ các chân lý tương đối, có sự bổ sung các chân lý tương đối.

    – Sự khác biệt giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối không phải ở bản chất mà là ở mức độ phù hợp của chúng với khách thể được phản ánh. Mức độ hay ranh giới giữa chúng bao giờ cũng tồn tại nhưng không ngừng được xóa bỏ và được xác lập.

    III. Tiêu chuẩn của chân lý là thực tiễn

    – Thực tiễn có vai trò như vậy vì nó có ưu điểm của “tính phổ biến” và là hiện thực trực tiếp. Nhờ đó, thực tiễn có thể “vật chất hóa” được tri thức, biến tri thức thành những khách thể xác định, cảm tính trong thế giới khách quan.

    – Tiêu chuẩn thực tiễn vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương đối. Tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất. Tương đối vì thực tiễn luôn luôn biến đổi, phát triển, do đó cần có sự bổ sung, phát triển những tri thức đã có trước đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tri Thức Và Tri Thức Phương Pháp
  • Và Tri Thức
  • Luận Án: Công Bằng Xã Hội Với Việc Phát Triển Con Người Việt Nam
  • Khái Niệm Công Bằng Trong Triết Học Pháp Quyền Arthur Kaufmann
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Câu 35: Ý Thức Và Nguồn Gốc Ý Thức Theo Triết Học Mac

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Chân Lý Khách Quan Không?
  • Một Biểu Tượng Là Gì? ·
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Khái Niệm Công Bằng Trong Triết Học Pháp Quyền Arthur Kaufmann
  • Luận Án: Công Bằng Xã Hội Với Việc Phát Triển Con Người Việt Nam
  • Quan điểm của triết học Mác-Lênin về ý thức, nguồn gốc ý thức và tính năng động của nó trong tác động qua lại các quá trình vật chất khách quan. Ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận của quan điểm đó.

    Trả lời

    1. Quan điểm của triết học Mác-Lênin về ý thức, nguồn gốc ý thức và tính năng động của nó trong tác động qua lại các quá trình vật chất khách quan:

    – Ý thức là sự phản ánh mang tính năng động và sáng tạo của hiện thực khách quan vào óc người. Ý thức tuỳ phục thuộc vào năng lực phản ánh của chủ thể, tâm trạng của chủ thể phản ánh và mục đích phản ánh.

    – Ý thức có nguồn gốc tự nhiên và xã hội:

    + Nguồn gốc tự nhiên:

    • Ý thức là đỉnh cao trong sự tiến hoá một loại thuộc tính chung mà mọi dạng vật chất đều có là thuộc tính phản ánh.
    • Phản ánh là khái niệm dùng để chỉ khả năng và năng lực thực tế của hệ thống vật chất này có thể tái tạo được một số đặc điểm, thuộc tính của hệ thống vật chất khác khi chúng tác động qua lại với nhau.

    + Nguồn gốc xã hội:

    • Trong lao động và thông qua lao động mà các giác quan phản ánh của con người ngày càng hoàn thiện hơn. Bằng lao động con người tác động vào sự vật làm bộc lộ ra thuộc tính ẩn dấu bên trong nhờ vậy con người phản ánh được cái thuộc tính ấy. Chính hiểu biết đó tạo nên nội dung căn bản của hiểu biết của con người về sự vật.
    • Ngôn ngữ giúp con người phản ánh gián tiếp sự vật, truyền đạt hiểu biết cho nhau, cho các thế hệ sau, nhờ vậy nhận thức của con người về sự vật ngày càng phong phú sâu sắc hơn.

    Xem lại bài trước: Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.

    – Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức – vấn đề cơ bản của triết học

    +Vật chất quyết định ý thức: quyết định sự ra đời của ý thức, quyết định nội dung của ý thức bởi ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất vào não người, quyết định sự vận động và phát triển của ý thức.

    + Ý thức tác động trở lại các quá trình vật chất khách quan:

    • Ý thức góp phần thúc đẩy cũng như kìm hãm sự vận động và phát triển của vật chất.
    • Mức độ tác động của ý thức đến vật chất phục thuộc: mức độ tính đúng đắn hay sai lầm của ý thức, khả năng thâm nhập cuả nó vào quần chúng, năng lực tổ chức thực tiễn trên cơ sở ý thức đó.

    2. Ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận

    – Để nhận thức đúng sự vật, chúng ta phải quán triệt quan điểm về tính khách quan của sự xem xét. Khi xem xét một sự vật phải tôn trọng khách quan, nó như thế nào phải phản ánh nó đúng như thế, không thêm bớt gì sự vật.

    – Trong thực tiễn, nhằm cải tiến sự vật, một mặt chúng ta phải xuất phát từ kháhc quan, tôn trọng khách quan, lấy đó làm cơ sở cho hoạt động có ý thức của con người đồng thời ra sức phát huy nội lực của nhân tố chủ quan của tri thức.

    Bạn có thể xem lại toàn bộ câu hỏi và đáp án chi tiết của môn Chủ nghĩa Mac – Lênin tại: Ngân hàng đề thi môn chủ nghĩa Mac – Lenin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phản Ánh Của Hoạt Động, Phản Ánh Tâm Lý Và Triết Học
  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác
  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • Phản Ánh Của Hoạt Động, Phản Ánh Tâm Lý Và Triết Học
  • Câu 35: Ý Thức Và Nguồn Gốc Ý Thức Theo Triết Học Mac
  • Có Chân Lý Khách Quan Không?
  • Một Biểu Tượng Là Gì? ·
  • Vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là một vấn đề hết sức phức tạp, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm .

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và xã hội . Cần phải xem xét cả hai mặt tự nhiên và xã hội để hiểu nguồn gốc, bản chất của này.

    Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, các nhà duy vật biện chứng cho rằng, nguồn gốc tự nhiên của ý thức có hai yếu tố không thể tách rời nhau là bộ óc con người thế giới bên ngoài tác động lên óc người.

    – Đây là một dạng vật chất sống đặc biệt, có tổ chức cao, trải qua quá trình tiến hóa lâu dài về mặt sinh vật – xã hội. Ý thức là thuộc tính của riêng dạng vật chất này.

    Tức là, chỉ con người mới có ý thức. Không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật thông minh nhất có năng lực này.

    – Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có thế giới bên ngoài tác động vào bộ óc, thì cũng không có ý thức. Do vậy, nguồn gốc tự nhiên cần có yếu tố thứ hai là thế giới bên ngoài.

    – Trong tự nhiên, mọi đối tượng vật chất (con khỉ, con voi, cái bàn, mặt nước, cái gương…) đều có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh. Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng.

    Nói một cách dễ hiểu, phản ánh chính là sự chép lại, chụp lại, kể lại một cái gì đó. Chép lại lời nói ra giấy là sự phản ánh. Chụp một bức ảnh cũng là sự phản ánh.

    Để có quá trình phản ánh xảy ra, cần có vật tác động và vật nhận tác động.

    – Đương nhiên, bộ óc người cũng có thuộc tính phản ánh. Nhưng phản ánh của bộ óc con người có trình độ cao hơn, phức tạp hơn so với các dạng vật chất khác.

    Sau quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thì thuộc tính phản ánh của óc người cũng hoàn mỹ nhất so với mọi đối tượng khác trong tự nhiên.

    Do hoàn mỹ nhất như vậy, nên thuộc tính phản ánh của óc người được gọi riêng bằng phạm trù ” ý thức “. Đó là sự phản ánh, sự tác động của thế giới bên ngoài vào bộ óc con người.

    Để cho ý thức ra đời, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ. Điều kiện quyết định, trực tiếp và quan trọng nhất cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc . Đó là lao động, tức là và ngôn ngữ.

    – Trong tự nhiên, con vật tồn tại nhờ những vật phẩm có sẵn như trái cây, côn trùng hoặc loài vật yếu hơn nó… Nhưng đối với con người thì khác.

    Con người có khả năng và bắt buộc phải ra những sản phẩm mới (bàn, ghế, quần áo, ti vi, tủ lạnh…), khác với những sản phẩm có sẵn. Tức là, con người phải lao động mới đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của mình.

    Chính thông qua lao động, hay còn gọi là hoạt động , nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể phản ánh được, biết được nhiều bí mật về thế giới đó, mới có ý thức về thế giới này.

    – Nhưng ở đây, không phải bỗng nhiên mà thế giới khách quan tác động vào bộ óc con người để con người có ý thức. Ý thức có được chủ yếu là do con người chủ động tác động vào thế giới khách quan để cải tạo, biến đổi nó nhằm tạo ra những sản phẩm mới.

    Nhờ chủ động tác động vào thế giới khách quan, con người bắt những đối tượng trong hiện thực (núi, rừng, sông, mỏ than, sắt, đồng…) phải bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật của mình. Những bộc lộ này tác động vào bộ óc người để hình thành ý thức của con người.

    – Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng với nhau, tức là nhu cầu nói chuyện được với nhau. Chính nhu cầu này đòi hỏi sự ra đời của ngôn ngữ, trước hết là tiếng nói, sau đó là chữ viết.

    Theo C. Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức.

    – Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, đồng thời là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là diễn đạt những khái niệm, phạm trù, để suy nghĩ, tách mình khỏi sự vật cảm tính.

    Cũng nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm, hiểu biết của con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

    Như vậy, bản chất của nó được thể hiện qua 4 khía cạnh sau đây:

    Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, nhưng lại thuộc phạm vi chủ quan, không có tính vật chất. Nó là hình ảnh phi cảm tính của các đối tượng vật chất có tồn tại cảm tính.

    Con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo.

    Trong quá trình lao động để cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình (xây nhà, cày ruộng, đào mương, xây cầu…). Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện thực khách quan.

    Tính năng động, sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.

    Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế. Nó có thể tiên đoán, dự báo tương lai một cách tương đối chính xác, hoặc có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại. Thậm chí, một số người còn có khả năng tiên tri, ngoại cảm, thấu thị…

    Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của nó là sáng tạo của sự phản ánh, theo và trong khuôn khổ của sự phản ánh.

    Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản ánh (núi, sông, mưa,…). Sự trao đổi này mang tính hai chiều, có định hướng, chọn lọc các thông tin cần thiết.

    Hai là, con người mô hình hóa (tức là vẽ lại, lắp ghép lại…) đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần. Thực chất đây là quá trình ý thức sáng tạo lại hiện thực, là sự mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.

    Ba là, chủ thể chuyển mô hình từ trong óc ra hiện thực khách quan. Đây là qúa trình hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn để biến quan niệm của mình thành dạng vật chất trong cuộc sống. Ví dụ như con người sẽ xây cầu qua sông, làm đường xuyên núi… theo mô hình thiết kế đã có ở bước 2 ở trên.

    III. Ý nghĩa rút ra từ nội dung nguồn gốc, bản chất của ý thức

    Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất của ý thức, ta có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sau:

    Xuất phát từ thế giới khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

    Do ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc người, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta phải bắt đầu từ thế giới khách quan. Tức là, trước hết ta phải nghiên cứu, tìm tòi từ các đối tượng vật chất bên ngoài bộ óc để phục vụ nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các đối tượng vật chất đó.

    Ta cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí. Tức là chống lại thói quen dùng quan điểm, suy nghĩ thiếu cơ sở của mình để gán cho các đối tượng vật chất.

    Cần xóa bỏ thói quan liêu, dùng mong muốn chủ quan của cá nhân mình để áp đặt thành chỉ tiêu cho cơ quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng.

    Phát huy tính tự giác, chủ động của con người

    Do ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới khách quan, ta cần phát huy hết sức tính tự giác, chủ động của con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cần kiên quyết chống lại tư duy giáo điều, cứng nhắc, lý thuyết suông… về sự vật, hiện tượng.

    Ta cần phát huy hết sức trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong học tập, lao động. Luôn nỗ lực bài trừ thói quen thụ động, ỷ lại, bình quân chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Quan Niệm Về Vật Chất Trong Lịch Sử Triết Học
  • Thế Nào Là Chất, Lượng, Độ, Điểm Nút, Bước Nhảy? Chất Và Lượng Của Sự Vật Có Mối Quan Hệ Biện Chứng Nào? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Gì Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Mối Quan Hệ Vật Chất Và Ý Thức Cho Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học L.feuerbach
  • Khoa Học Về Vi Sinh Vật Đang Định Nghĩa Lại Triết Học: Con Người Là Gì?
  • Phẩm Giá Con Người Trong Triết Học Kant
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Mác
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ Và Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân
  • Câu hỏi: Cho e hỏi mối quan hệ vật chất và ý thức cho ví dụ dùm e với ạ

    E cảm ơn ☺️ ☺️ ☺️

    1/ Khái niệm vật chất và ý thức:

    a/ Vật chất:

    • Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan mà con người biết được qua cảm giác, Được cảm giác chụp lại, chép lại, phản ánh, tồn tại không phụ thuộc cảm giác
    • Trước hết, Lê nin trong định nghĩa vật chất đã dùng định nghĩa đặc biệt khác với thông thường. Nghĩa là đem đối lập giữa vật chất với ý thức để định nghĩa . Nghĩa là tất cả những gì bên ngoài độc lập với ý thức con người đều là vật chất.

    Về nội dung vật chất: có 2 nội dung chính:

    Thứ nhất: vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan và con người biết được qua cảm giác.

    Thứ 2 là: Cảm giác chụp lại, nhắc lại và phản ảnh những tồn tại không phụ thuộc cảm giác. Nghĩa là vật chất là cái mà con người có thể nhận biết được, chỉ có cái chưa biết nhưng rồi con người sẽ biết thông qua nhận thức.

    b/ Ý thức :

    Là sự phản ánh thế giới khách quan lên bộ óc con người dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Đây là phản ánh tích cực chủ động sáng tạo hình ảnh chủ quan …

    Qua đây ta thấy:

    Thứ nhất: BẢN chất của ý thức là sự phản ánh thực Tại khách quan trên cơ sở hoạt động Thực tiễn. Ý THỨC KHÔNG PHẢI LÀ HUYỀN BÍ mà bản chất của nó là sự phản ảnh tức là có cả cái phản ảnh (Ý thức) và cái được phản ánh (vật chất). Ở đây cái được phản ánh sẽ quyết định cái phản ánh.

    Thứ 2: Hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Hình ảnh chủ quan nghĩa là ý thức là hình ảnh chứ không phải là bản thân sự vật. Nghĩa là bản thân sự vật được di chuyển vào óc người và được cải biến trong đó. Vì thế nội dung phản ảnh mang tính khách quan. Mức độ cải biến đến đâu là do chủ thể.

    Thứ 3: Đây là phản ánh tích cực chủ động, sáng tạo:

    Tích ực chủ động là con người không thụ động chờ đợi hoàn cảnh khách quan mà chủ động tác động vào khách quan để khách quan bộc lộ thuộc tính. Con người nhận thức để cải tạo thế giới khách quan theo mục đích của mình. Ví dụ: đổ dấm vào đá, đá sủi bọt

    Tính sáng tạo là ý thức phản ánh sự vật và đi sâu vào bản chất sự vật, dự kiến được xu hướng phát triển của sự vật để con người chủ động đón trước. Mác nói: con người tái tạo tự nhiên theo quy luật của cái đẹp. Ví dụ: nước ta đưa ra những mục tiêu đến năm 2022 nước ta trở thành 1 nước cơ bản là 1 nước công nghiệp. Xây nhà làm sao cho đẹp.

    Ý thức có kết cấu phức tạp bao gồm nhiều thành tố có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Đó là: Tri thức, tình cảm ý chí… Trong đó, tri thức là quan trọng nhất. Mác nói: Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức.

    2/ Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

    Trong lịch sử, Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất

    mối quan hệ vật chất và ý thức chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:

    a) Vai trò của vật chất đối với ý thức

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:

    Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất. Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau.

    Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.

    Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.

    b) Vai trò của ý thức đối với vật chất

    Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

    Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực. Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương huớng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v. để thực hiện mục tiêu của mình. Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiền của con người.

    Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực cúa ý thức. Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan.

    Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả.

    Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức có thể thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người. Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người hành động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức.

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát từ con người hiện thực, con người thực tiễn để xem xét mối quan hệ này. Từ đó khảng định, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người

    * Vật chất quyết định ý thức: Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất quyết định nguồn gốc, bản chất, nội dung sự biến đổi của ý thức.

    VÍ DỤ : Trong ĐỜI SỐNG XÃ HỘI có câu: thực túc, binh cường, có thực mới vực được đạo.

    + Vật chất Quết định nguồn gốc ý thức: Nghĩa là não người là dạng vật chất cao có tính chất của vật chất là cơ quan phản ánh để hoàn thành ý thức.

    Ý thức phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.

    + Vật chất quyết định bản chất, nội dung ý thức: Bản chất là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: nghĩa là ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất và thế giới vật chất được dịch chuyển vào óc người, được cải biến trong đó. Vì thế, vật chất quyết định cả bản chất và nội dung. Nội dung là phản ánh thế giới khách quan.

    + Vật chất quyết định Sự biến đổi ý thức: Ý thức là cái phản ánh, vật chất là cái được phản ánh khi cái được phản ánh biến đổi thì cái phản ánh cũng phải biến đổi theo.

    * Ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động con người cụ thể nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm ở một mức độ nhất định, các điều kiện vật chất góp phần cải tạo hình thức khách quan.

      Nếu phản ánh đúng hiện thực khách quan – nó thúc đẩy ngược lại thì nó cản trở

    Ví dụ: Chủ rương đổi mới cơ chế quan liêu bao cấp, cản trở phát triển con người – khủng hoảng kinh tế xã hội, động lực

    Tóm lại: Quan hệ VẬT CHẤT và ý thức là quan hệ hai chiều tác động biện chứng qua lại, trong đó VẬT CHẤT quyết định ý thức còn ý thức tác động trở lại thực tiễn thông qua hoạt động nhận thức của con người.

    III/ Ý nghĩa phương pháp luận:

    1/ Vì vật chất quyết định ý thức, sinh ra ý thức cho nên mọi chủ trương CS hoạt động nhận thức, hoạt động con người đều phải xuất phát từ hiện thực khách quan và hoạt động tuân theo quy luật khách quan, nghĩa là chúng ta phải có quan điểm khách quan trong nhận thức hoạt động thực tiễn.

    2/ Xuất phát từ hiện thực khách quan, không phải từ những cái lẻ tẻ của hiện thực khách quan, phải xuất phát từ cái chung là quy luật khách quan.

    Nghị quết 6 của Đảng là bài học kinh nghiệm là phải nắm vững hiện thực khách quan.

    + Hoạt động tuân theo quy luật (quan điểm khách quan) là nhận thức sự vật phải tôn trọng chính nó có, phải phản ánh đúng quy luật vận động phát triển của sự vật và chống chủ nghĩa khách quan, đồng thời chống chủ quan duy ý chí.

    3/Vì ý thức có tính độc lập tương đối, có tính năng động sáng tạo có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động con người, cho nên cùng với xuất phát từ cái hiện thực khách quan thì phải phát huy tính năng động chủ quan , tức là phát huy mặt tích cực ý thức, hạn chế mặt tiêu cực của ý thức.

    Ví dụ: Trước một trận đánh làm quyết tâm thư, tự phê bình và phê bình, rut ra những nhược điểm để tiến bộ, khắc phục những mặt tiêu cực.

    Giáo dục nhận thức thông qua phong trào, thực tiễn tư tưởng cục bộ đ phong, đạo đức giả

    4/ Giữa vật chất và ý thức chỉ có đối lập tuyệt đối trong phạm vi nhận thức luận. Ngoài lĩnh vực đó ra, sự phân biệt chỉ là tương đối (Câu của Lê Nin)

    Vì thế một chính sách đúng đắn là cơ sở liên kết hợp hai yếu tố này.

    Ví dụ: giáo dục chính trị, tư tưởng gắn liền với khuyến khích lợi ích vật chất như đạt danh hiệu thi đua, được phần thưởng.

    + Công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức nếu tuyệt đối hóa yếu tố vật chất, yếu tố kinh tế mà coi nhẹ ý thức của con người, coi nhẹ tính năng động , sáng tạo của con người sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thường, ngược lại nếu tuyệt đối hóa yếu tố ý thức và coi nhẹ điều kiện vật chất nhất định thì sẽ rơi vào chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.

    Ví dụ: một thời kỳ đề ra vấn đề công hữu , xây dựng quan hệ sản xuất không dựa trên lực lượng sản xuất.

    Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng. Trong mối quan hệ này, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức không hoàn toàn thụ động mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung, Ý Nghĩa Phương Pháp Luật Của Định Nghĩa Vật Chất
  • Quan Niệm Về Chân Lý Trong Triết Học Phương Tây
  • Trí Thức Và Một Vài Đặc Điểm Của Trí Thức
  • Luận Bàn Về Tri Thức (1)
  • Trả Lời Câu Hỏi: Trí Thức Là Gì? (Phần 1)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100