Phat Giao, Nhin Toan Dien

--- Bài mới hơn ---

  • Thủ Đoạn Của Tên Trộm Hơn 400 Cây Vàng Ở Hà Nội
  • Lời Khai Bất Ngờ Của Đối Tượng Trộm Ô Tô Vàng Phi Đoan
  • Phi Công Mỹ Đi Tìm Lại Người Bắn Rơi Mình
  • Nhẫn Mỹ Xưa Vàng 10K Giá Bao Nhiêu, Mua Ở Đâu Tphcm Đẹp 2022
  • Dự Án Căn Hộ The East Gate ®
  • am Tạng Kinh (Tipitaka), kinh điển Phật Giáo bằng tiếng Pali, thường nhắc đến những yếu tố của sự giác ngộ mà Ðức Phật nhiều lần giảng giải, trong nhiều trường hợp khác nhau. Trong bộ Samyutta Nikàya (Tạp A Hàm), phẩm Mahà Vaggà có một phần riêng biệt đề tựa là Bojjhanga Samyutta trong đó Ðức Phật giảng giải những yếu tố của sự giác ngộ (bojjhanga, giác chi) bằng nhiều lối khác nhau.

    Phần này có ba bài kinh mà từ thời Ðức Phật, người Phật tử thường đọc tụng như một loại kinh để bảo vệ (paritta hay pirit) chống lại đau nhức, bịnh hoạn và những bất hạnh trong đời v.v…

    Ở một đoạn khác Ðức Phật dạy, “Này chư tỳ khưu, cùng trong một ngôi nhà nóc nhọn, tất cả cây kèo đều đâm vào gốc nhọn, đều nghiêng về gốc nhọn, đều châu đầu vào gốc nhọn, và trong toàn thể sườn nhà cái gốc nhọn được xem là điểm chánh. Cùng thế ấy, này chư tỳ khưu, vị tỳ khưu trau giồi và chuyên cần phát triển bảy yếu tố của trí tuệ cũng thiên về Niết Bàn, nghiêng về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn như vậy.”

    3. Tấn (viriya)

    4. Phỉ (pìti)

    5. An (passaddhi)

    6. Ðịnh (samàdhi) và

    7. Xả (upekkhà).

    Một trong những bài kinh về bojjhanga, thất giác chi, có thể được nhắc lại ở đây: “Ta có nghe như vầy. Vào một thủa nọ Ðức Thế Tôn ngự trong thành Ràjagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi sóc. Ðại Ðức Mahà Kassapa (Ma Ha Ca Diếp), sống trong động Pipphali, lúc ấy lâm bịnh. Ngài mắc phải một chứng bịnh trầm trọng.

    Vào buổi chiều Ðức Phật xuất ra khỏi trạng thái vắng lặng, đến thăm Ðại Ðức Mahà Kassapa, ngồi lại, và ngỏ lời với vị đại đức: “Này Kassapa, hôm nay con đau thế nào? Con có nghe đau đớn quá lắm không; con có chịu nổi không? Cơn đau có thuyên giảm không, hay vẫn còn tăng trưởng? Có dấu hiệu nào cho thấy cơn đau giảm bớt không hay vẫn tăng thêm?”

    “Bạch hóa Ðức Thế Tôn, con rất đau đớn. Con không thể chịu nổi. Thật là đau đớn vô cùng. Không có dấu hiệu nào thuyên giảm mà càng lúc càng tăng.”

    “Này Kassapa, bảy yếu tố của sự giác ngộ ấy mà Như Lai đã giảng giải tận tường, Như Lai đã trau giồi và phát triển đầy đủ, bảy giác chi này đưa đến chứng ngộ trọn vẹn, trí tuệ tuyệt hảo, đến Niết Bàn. Bảy giác chi ấy là gì?

    “Niệm giác chi, này Kassapa, pháp này Như Lai đã giảng giải tận tường, đã trau giồi và phát triển đầy đủ, và khi mà được trau giồi và phát triển đầy đủ, giác chi này đưa đến chứng ngộ trọn vẹn, trí tuệ tuyệt hảo, đến Niết Bàn. Trạch pháp giác chi … Tinh tấn giác chi … Phỉ giác chi … An giác chi … Ðịnh giác chi … Xả giác chi.” “Thất giác chi này, quả thật vậy, này Kassapa, Như Lai đã giảng giải tận tường, Như Lai đã trau giồi và phát triển đầy đủ, và khi mà được trau giồi và phát triển đầy đủ thất giác chi này đưa đến chứng ngộ trọn vẹn, trí tuệ tuyệt hảo, đến Niết Bàn.”

    “Quả thật vậy, bạch hoá Ðức Thế Tôn, đó là bảy yếu tố đưa đến giác ngộ! Ðúng thật vậy, bạch hóa Ðức Thế Tôn, đó là thất giác chi!” Ðại Ðức Kassapa nói. Ðó là những lời của Ðức Phật, và tiếp theo là lời của Ðại Ðức Kassapa, đón mừng tiếp nhận những lời vàng ngọc của Ðức Thế Tôn. Liền sau đó Ðại Ðức Kassapa hết bịnh. Lúc bấy giờ bịnh tình của Ðại Ðức Kassapa liền tan biến.

    Tâm của con người ảnh hưởng đến thân một cách rất sâu xa và vô cùng kỳ diệu. Nếu ta để tâm buông lung, tự do trôi chảy và duyên theo những tư tưởng ô nhiễm và tồi tệ, thì nó có thể gây tai hại không thể lường được, đến độ có thể giết chết một chúng sanh. Tuy nhiên, tâm cũng có thể chữa khỏi một chứng bịnh của thân. Nếu ta gom tâm mạnh mẽ vào những tư tưởng chân chánh, với sự hiểu biết chân chánh, thì thành quả mà tâm có thể đạt đến thật vô cùng rộng lớn và sâu xa.

    “Tâm không những gây bịnh mà còn có thể chữa bịnh. Một bịnh nhân lạc quan có nhiều hy vọng được chữa trị dễ dàng hơn người luôn luôn lo âu và sầu muộn. Trong những trường hợp đã được ghi nhận, có nơi cho thấy đức tin cũng chữa được hầu như tức khắc những chứng bịnh thuộc cơ hữu.”

    Giờ đây ta hãy đề cập đến từng yếu tố một của thất giác chi. Yếu tố đầu tiên là niệm (sati). Ðây là phương tiện hữu hiệu nhất để tự làm chủ lấy mình, và bất luận ai hành pháp này là đã tìm ra con đường đưa đến giải thoát. Niệm có bốn là: niệm thân (kàyànupassanà); niệm thọ (vedanà- nupassanà); niệm tâm (cittànupassanà); và niệm pháp (dhammànupassanà). “Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy kiên trì chú niệm để thành đạt giải thoát” (vayadhammà sankhàrà appamàdena sampà-detha). “Hãy kiên trì chú niệm. Ðây là lời khuyên dạy của ta” (sampàdetha appamàdena esà me anusàsanà) là những lời cuối cùng của Ðức A La Hán Sàriputta (Xá Lợi Phất), vị đại đệ tử đứng hàng đầu của Ðức Phật. Ngài nhập diệt trước Ðức Bổn Sư. Trong cả hai trường hợp, Ðức Phật và Ðức Sàriputta đều dùng một danh từ đầy ý nghĩa và tối quan trọng là“appamàda”, có nghĩa là chuyên cần chú niệm, giác tỉnh hay biết, cẩn thận chú tâm. Con người không thể chuyên cần chú niệm nếu không hoàn toàn hay biết những hành động bằng thân, khẩu, hay ý của mình trong lúc thức. Chỉ khi nào giác tỉnh chú niệm và hay biết đầy đủ những hành động của mình con người mới có thể phân biệt điều nào tốt điều nào xấu, đâu là chánh và đâu là tà. Chính trong ánh sáng của chú niệm con người sẽ nhìn thấy hành động của mình là đẹp hay xấu, đúng hay sai.

    Trong suốt Tam Tạng kinh điển danh từ “appamàda” luôn luôn được dùng để hàm xúc ý nghĩa “sati”, chú niệm. “Pamàda” được định nghĩa là tâm buông lung, không chú niệm (sati vossagga). Trong bộ Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A Hàm, Ðức Phật dạy:

    “Này chư tỳ khưu, Như Lai không thấy có một pháp nào có nhiền năng lực như sự chuyên cần chú niệm, để làm phát sanh những tư tưởng thiện chưa phát sanh, và làm tan biến những tư tưởng bất thiện đã phát sanh. Với người hằng có chánh niệm, những tư tưởng thiện, nếu chưa phát sanh sẽ phát sanh, và những tư tưởng bất thiện, nếu đã phát sanh sẽ tan biến.”

    Trạng thái tâm thường xuyên giác tỉnh và kiên trì tinh tấn là điều kiện thiết yếu để tránh những hành động bất thiện và để thực hiện những thiện nghiệp. Con người luôn luôn chú niệm, luôn luôn thận trọng tự bao trùm quanh mình với tâm giác tỉnh (satimà), con người dũng cảm và quyết tâm trì chí, con người ấy sẽ chạy vượt lên trước như một tuấn mã chạy vượt lên, bỏ lại phía sau đàn ngựa tầm thường, già yếu ốm đau. Tầm quan trọng của chú niệm (sati) trong tất cả mọi hành động của ta được diễn tả một cách rõ ràng và mạnh mẽ trong những lời dạy sau đây của Ðức Thế Tôn:

    “Niệm, này chư tỳ khưu, Như Lai tuyên bố, niệm là yếu tố tối cần thiết trong mọi việc, bất luận nơi nào. Nó giống như muối trong cà ry” “Satim ca kho aham bhikkhave sabbatthikam vadàmi. Sabba byanjanepi lonadù- panam viya icchitabbà.” , tức là phát triển tâm đến mức cao nhất, và đó là con đường mà ta phải trải qua để thoát ra khỏi mọi đau khổ của vòng luân hồi.” “Người thích thú trong hạnh chuyên cần giữ chánh niệm và nhìn phóng dật với tâm sợ hải không còn phải rơi trở xuống. Vị ấy đã đối diện với Niết Bàn.”

    Trong Phật Giáo không có sự áp bức hay cưỡng chế. Phật Giáo không đòi hỏi tín đồ một đức tin mù quáng. Ngay từ lúc đầu, người có tâm hoài nghi lấy làm thỏa thích mà nghe lời kêu gọi nên khảo sát, suy xét tận tường trước khi chấp nhận. Toàn thể giáo lý của Ðức Phật, từ đầu đến cuối, được trình bày cho tất cả những ai có mắt muốn thấy và có tâm trí muốn thấu hiểu. Ðức Phật dẫn dắt chư môn đệ theo phương pháp phân biện và sáng suốt khảo sát. Ðối với người Kàlàmas muốn tìm hiểu, Ðức Phật dạy: “Hoài nghi là đúng, nêu lên những câu hỏi về những gì còn hoài nghi và những gì ta chưa hiểu rõ là hữu lý. Về một vấn đề, khi còn hoài nghi ắt có sự phân vân phát sanh” (xem Chương 5, Tự do khảo sát)

    Người tìm chân lý không thỏa mãn với một kiến thức nông cạn chỉ thấy trên bề mặt. Người ấy lặn sâu và nhìn những gì ở phía dưới. Ðó là loại tìm hiểu mà Phật Giáo khuyến khích. Loại hiểu biết đưa đến chánh kiến.

    Người trau giồi trạch pháp, dhammavicaya, tập trung chú niệm vào ngũ uẩn thủ (pancakkhandha) và gia công nhận thức trạng thái sanh diệt (udayabbaya) của sự cấu hợp những năng lực này (suddha sankhàra punja) — luồng trôi chảy của danh và sắc này (nàma-rùpa). Chí đến khi nhận thức đầy đủ bản chất vô thường của danh và sắc của chính mình người ấy mới chứng nghiệm được hạnh phúc, phỉ lạc. Do đó có câu:

    Yato yato sammasati – khandhànam udayabbayam

    Labhati pìti pàmojjam – amatam tam vijànatam.

    “Mỗi khi suy niệm về sự sanh-diệt của các uẩn, người kia có phỉ lạc.

    Ðối với người thấu hiểu, (suy niệm ấy) là bất tử, Niết Bàn.” . Ðức Phật không tự xưng là một đấng cứu thế có khả năng và sẵn sàng lãnh chịu tội lỗi của nhân loại. Trái lại, Ngài dạy rằng mỗi người phải mang lấy gánh nặng những hành động bất thiện của mình. Theo đúng lời của chính Ðức Phật, mỗi cá nhân phải tự mình cố gắng, tự mình chuyên cần tinh tấn đầy đủ mức độ cần thiết, và tự mình thăng tiến trên đường giải thoát. Ðức Phật chỉ là người “Vạch Ra Con Ðường”. Một cách gián tiếp người khác có thể hướng đến ta một cánh tay hỗ trợ, nhưng muốn thoát ra khỏi mọi khổ đau của đời sống mỗi người phải tự đặt mình lên hòn đe rồi tự đập, vỗ, uốn nắn mình bằng hành động của chính mình. “Hãy tự lấy con làm hải đảo cho con, hãy lấy con làm nương tựa cho con.” .

    Kinh Vitakka Santhàna Sutta của bộ Majjhima Nikàya, Trung A Hàm có ghi:

    “Cũng như người thợ mộc chuyên nghiệp hay người tập sự dùng một cái chốt nhỏ để lói ra một cái chốt lớn hơn, cùng thế ấy, khi có một ý nghĩ phát sanh đến thầy tỳ khưu mà có tánh cách bất thiện, xấu, nghĩa là liên hợp với tham, sân, si, thầy phải tạo trong tâm một ý nghĩ liên hợp với thiện pháp. Do đó những bất thiện pháp sẽ biến tan và cùng với sự tan biến của bất thiện pháp, tâm của thầy tỳ khưu trở nên ổn cố, trong sạch, an trụ và định.”

    Bước theo dấu chân của Ðức Phật, người Phật tử tự nghĩ: “Dầu chỉ còn da, gân và xương, máu và thịt đã khô dần và tàn héo, ta sẽ không bỏ dỡ cuộc chiến và bước lệch ra ngoài con đường trực tiến, thẳng đến giác ngộ.” (xem Chương 4, Chánh Tinh Tấn)

    Yếu tố giác ngộ thứ tư là phỉ (pìti). Ðây cũng vậy, là một tâm sở (cetasika), và cũng là một đức tánh có ảnh hưởng sâu rộng bao gồm cả tâm lẫn thân. Người thiếu đức tánh này không thể đi dài theo con đường dẫn đến giác ngộ. Một nỗi buồn mang máng, một trạng thái lãnh đạm lạnh lùng trước thiện pháp, một tình trạng bất mãn đối với thiền tập, một sự biểu lộ bất toại nguyện, sẽ phát sanh đến người thiếu tâm phỉ (pìti). Như vậy, tâm phỉ quả thật là thiết yếu cho người có nguyện vọng và cố gắng thành đạt giác ngộ và giải thoát cuối cùng ra khỏi những ràng buộc của cuộc đi bất định trong vòng luân hồi (samsàra). Người ấy cần phải cố gắng trau giồi giác chi “phỉ” vô cùng quan trọng này. Không ai có thể ban tặng hạnh phúc cho người khác. Mỗi người phải tự xây dựng hạnh phúc cho riêng mình, bằng nỗ lực của chính mình, bằng chú niệm và bằng những sinh hoạt tích cực để làm cho tâm an trụ. Phỉ là một tâm sở, nghĩa là một phần của tâm. Vì lẽ ấy không nên tìm hạnh phúc ở bên ngoài, mặc dầu ở mức độ nhỏ bé nào, cảnh vật bên ngoài cũng ảnh hưởng đến tâm.

    Tri túc là đặc điểm của hạnh phúc cá nhân. Người thường trong dân gian hình như có ý nghĩ rằng rất khó trau giồi và phát triển hạnh tri túc. Tuy nhiên, nếu ta kiên trì dũng mãnh, quyết tâm trì chí chú niệm và suy tư chân chánh về những gì mà chúng ta thường gặp hằng ngày, nếu ta kiểm soát những khuynh hướng bất thiện và kềm hảm năng lực lôi cuốn của nhục dục ngũ trần, nếu đè nén những quyến rũ vật chất bất thiện mà thế thường ta riu ríu phục tùng — vâng lịnh một cách hồn nhiên không suy nghĩ — ắt có thể giữ tâm khỏi bị ô nhiễm, và chừng ấy chúng ta có thể cảm giác hạnh phúc của hạnh tri túc. Trong tâm của con người thường xảy diễn những xung đột đủ loại và nếu các cuộc xung đột này phải được kiểm soát, trong khi ta chưa đủ khả năng để loại trừ, con người chớ nên buông lơi để cho những khuynh hướng xấu xa và dục vọng lôi cuốn, nói cách khác phải trau giồi hạnh tri túc. Quả thật là khó mà từ bỏ những gì lừa phỉnh và bắt giữ ta làm nô lệ, và quả thật khó xua đuổi loại tà ma đang chế ngự tâm hồn ta dưới hình thức những tư tưởng xấu xa, bất thiện. Những loại ma quỉ đó là sự biểu hiện của lòng tham, sân, si — lobha, dosa, moha. Cho đến khi thành đạt trạng thái trong sạch và an tĩnh tuyệt đỉnh bằng cách trường kỳ rèn luyện tâm trí, chúng ta không thể hoàn toàn và trọn vẹn chiến thắng những vị khách xấu xa và khó tánh ấy, những người khách đang chế ngự tâm ta. Từ bỏ suông những gì ở bên ngoài như nhịn đói, tắm trong các dòng sông và các suối nước nóng v.v… không thể thanh lọc con người, không thể đem hạnh phúc đến con người, không thể làm cho con người trở thành bậc thánh nhân. Do đó, nhu cầu phát triển và trau giồi con đường trong sạch của Ðức Phật: giới, định, tuệ — sìla, samàdhi, pannà.

    Trong tinh thần sambojjhanga, thất giác chi, khi đề cập đến hạnh phúc, ta nên ghi nhận sự khác biệt lớn lao giữa thỏa thích và hạnh phúc. Thỏa thích — cảm giác thích thú — là cái gì tạm bợ nhất thời, chỉ thoáng qua rồi mất. Có sai lầm chăng, khi ta nói rằng cảm giác thích thú chỉ là dấu hiệu báo trước rằng đau khổ sắp đến? Những gì mà trong khoảnh khắc này người ta ôm ấp và tâng tiu như một bảo vật có thể là nguồn đau khổ trong khoảnh khắc kế tiếp. “Vật mà ta mong muốn không còn đó nữa khi ta vói tay nắm lấy nó, hoặc lúc ta vừa nắm được thì nó tan biến như một nắm tuyết.” Theo lời của Robert Burns:

    “Lạc thú trên đời không khác nào những cái bông toét nở,

    Anh vừa nắm lấy nó thì những tai hoa tả tơi rơi rụng;

    Hay cũng như tuyết đổ trên dòng sông,

    Vừa thấy trắng sáng bỗng chốc đã mãi mãi tan trong nước.”

    — (Tam O’Shanter)

    Khi thấy một hình sắc, nghe một âm thanh, hưởi một mùi, nếm một vị, nhận thức một ý nghĩ, thì người ta bị các đối tượng ấy của giác quan và tâm (trần cảnh) kích thích, và cảm nghe ít nhiều thỏa thích. Nhưng tất cả đều là những hiện tượng phù du tạm bợ, vừa phát sanh đã hoại diệt. Loài thú chỉ nhắm vào mục tiêu duy nhất là tìm thỏa thích ở bất luận đâu, với bất cứ giá nào. Con người trái lại, phải cố gắng thành đạt tâm phỉ (pìti), hay hạnh phúc của tâm thanh bình an lạc. Hạnh phúc thật sự không thể đến bằng cách bám níu hay nắm chắc lấy những vật vô tri vô giác hay hữu giác hữu tri, mà chỉ có thể đạt đến bằng hạnh buông bỏ (nekkhamma). Chính thái độ từ khước những gì thuộc về thế gian mới đem lại hạnh phúc thật sự. Kinh Niệm Xứ, Satipatthàna Sutta, có đề cập đến hai trạng thái, thỏa thích của thế gian (sàmisa sukha) và thỏa thích siêu thế gian (niràmisa sukha). Niràmisa cao quý hơn sàmisa sukha nhiều.

    Một lần nọ Ðức Phật vào thôn xóm trì bình mà không có chút gì để độ ngọ và một người tọc mạch để ý rằng Ðức Bổn Sư có vẽ bị đói. Nhân đó Ðức Thế Tôn giải thích thái độ tinh thần của người đã thoát ra khỏi mọi chướng ngại như sau:

    “Hạnh phúc thay Như Lai sống

    Không bị chướng ngại,

    Dưỡng nuôi phỉ lạc, Như Lai lúc nào

    Cũng như các vị Trời ở cảnh Quang Âm Thiên.” . Ðó là bản chất của cái tâm vô cùng tế nhị. Chính sự chú tâm suy tư chân chánh (yoniso manasikàra) giúp cho người có nguyện vọng thành đạt giác ngộ kềm lại, làm cho cái tâm chao động trở nên yên tĩnh. Chỉ khi nào có trau giồi tâm “an” vắng lặng mới có thể thành công định tâm. Một cái tâm an tĩnh giữ cho tâm không có những tư tưởng nông cạn và vô ích.

    Nhiều người ngày nay nghĩ rằng tự do là sống buông lung không bị hạn chế, còn tự rèn luyện, tự khép mình vào khuôn khổ kỷ cương, tự uốn nắn lấy mình là cản trở sự phát triển cá nhân. Giáo lý của Ðức Phật dạy khác hẳn. Cái tự ngã phải được khắc phục và thuần hóa theo đúng chiều hướng để trở nên thật sự tốt đẹp. Ðức Phật, bậc Ðã Ðược Thuần Hóa, truyền dạy Giáo Pháp với chủ đích thuần hóa tâm của con người (danto so Bhagavà dama-tàya dhammam deseti)

    Ðó là lợi ích của tâm an tĩnh vắng lặng. Không chao động trong những hoàn cảnh lợi lộc và lỗ lã, danh thơm và tiếng xấu, được tán dương và bị khiển trách, hạnh phúc và đau khổ, và không bàng hoàng hay phiền muộn trước những nghịch cảnh của kiếp sinh tồn. Muốn có được tâm bình thản như thế ấy phải nhìn thế gian vô thường này đúng trong bối cảnh của nó. Vậy, trạng thái an tĩnh (passaddhi) dẫn con người đến giác ngộ và giải thoát con người ra khỏi mọi khổ đau của đời sống.

    Yếu tố thứ sáu của sự giác ngộ là định (samàdhi). Chỉ có tâm an tĩnh mới dễ dàng gom trụ vào đề mục hành thiền. Tâm an và trụ thấy sự vật đúng theo chân tướng của nó (samàhito yathà bhùtam pajànàti). Tâm an trụ vào một điểm có khả năng chế ngự năm chướng ngại tinh thần (panca nìvaranàni, năm pháp triền cái).

    Ðịnh là trạng thái tâm ổn định vững chắc, có thể ví như ngọn đèn vững vàng đứng ngọn, không chao động, ở một nơi không gió. Chính trạng thái định giữ vững tâm ngay thẳng và làm cho tâm không lay chuyển, không vọng động. Khi thực hành đúng, định giữ tâm và các tâm sở trong trạng thái quân bình, cũng như cán cân được giữ vững giữa hai bàn cân. Chánh định tiêu trừ những khát vọng vốn làm cho tâm vọng động và cùng lúc thanh lọc ô nhiễm, làm cho tâm trở nên tinh khiết. Tâm định không bị nhục dục ngũ trần làm chao động. Khi tâm định được phát triển đến cao độ thì dầu ở hoàn cảnh trái nghịch nào cũng không bị khuấy động.

    Ngưòi quyết tâm trau giồi định phải nghiêm trì giới luật, sìla, bởi vì giới đức nuôi dưỡng đời sống tâm linh và làm cho tâm an trụ và vắng lặng, quân bình và dồi dào phong phú. Tâm buông lung tự làm cho mình rời rạc bằng những sinh hoạt vô ích.

    Người hành thiền, người có nguyện vọng thành tựu giác ngộ, phải đương đầu với rất nhiều chướng ngại. Nhưng đặc biệt có năm pháp gây trở ngại mạnh mẽ cho tâm định, samàdhi, và chận ngang con đường giải thoát. Trong giáo huấn của Ðức Phật năm pháp ấy được gọi là panca nìvarana, năm pháp triền cái. Danh từ Phạn ngữ nìvarana có nghĩa là cái gì gây trở ngại, hay cản ngăn công trình phát triển tinh thần (bhàvana). Ðược gọi là nìvarana, triền cái, bởi vì nó khóa chắc lại, cắt đứt lìa và chận ngang. Nó đóng chắc lại cánh cửa giải thoát.

    Năm pháp triền cái là:

    1. Tham dục (kàmacchanda),

    2. Oán ghét (vyàpàda),

    3. Tâm dã dượi và hôn trầm (thina-middha),

    4. Phóng dật và lo âu (uddhacca-kukkucca), và

    5. Hoài nghi (vicikicchà).

    Kàmacchandha hay tham dục, hay thèm khát mạnh mẻ các sở hữu, hoặc muốn thỏa mãn những dục vọng thấp hèn, là chướng ngại đầu tiên cột trói chúng sanh trong cuộc đi bất định trong vòng luân hồi (samsàra), và đóng chắc cánh cửa giải thoát.

    Dục vọng là gì? Ái dục (tanhà) ấy xuất xứ và khởi sanh từ đâu? Theo kinh Niệm Xứ (Satipatthàna), “Nơi nào có hoan hỷ và thỏa thích thì ái dục bắt nguồn và khởi sanh.” Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp là những nơi có tánh cách hoan hỷ và thỏa thích, nơi ấy ái dục bắt nguồn và phát sanh. Khi ái dục bị ngăn cản thì trở thành bất mãn và phẩn nộ. Như Kinh Pháp Cú, câu 216, dạy:

    Tanhàya jàyati soko — tanhàya jàyati bhayam

    Tanhàya vippamuttassa — natthi soko kuto bhayam.

    “Ái dục sanh sầu muộn, ái dục sanh lo sợ,

    Người đã trọn vẹn dập tắt ái dục không còn sầu muộn,

    Càng ít lo sợ”.

    Pháp triền cái kế đó là vyàpàda, oán ghét, ác ý, sân hận, hay bực mình khó chịu. Một cách tự nhiên, con người nổi dậy chống đối những gì không vừa lòng thích ý hay không làm cho mình thỏa mãn và cũng chán nản vì những điều này. Xa cách người thân kẻ yêu là đau khổ, và kết hợp với người mình không ưa thích cũng đau khổ dường ấy. Chí đến một món ăn không vừa miệng, một thức uống không hợp ý thích, một tư cách khó thương, và trăm ngàn nghịch cảnh khác mà ta có thể gặp trên đường đời làm cho ta bất toại nguyện. Chính vì suy tư lầm lạc, chú ý không chân chánh (ayonisso manasikàra) mà ta tức giận. Ðàng khác, sân hận dưỡng nuôi sân hận và làm lu mờ trí óc, bóp méo toàn thể cái tâm và những tâm sở và do đó, gây trở ngại cho trạng thái giác tỉnh, ngăn chận ánh sáng chân lý và khóa chắc con đường đưa đến giải thoát. Tham và sân đặt nền tảng trên si mê và nằm trong lớp mây mờ vô minh, đỉnh cao điên rồ của chúng ta (avijjà paramam malam). Tham, sân, si, quả thật là căn nguyên của tất cả mọi xung đột, mọi tranh chấp và mọi chia rẽ giữa người và người, quốc gia và quốc gia.

    Chướng ngại tinh thần thứ ba bao gồm cặp tệ hại thìna và middha, dã dượi và hôn trầm. Thìna là sự mệt mỏi, hay trạng thái dã dượi của tâm vương và middha, hôn trầm, là trạng thái dã dượi của tâm sở. Thìna và middha, dã dượi và hôn trầm, không phải là tình trạng nhuể nhoại biếng nhác thuộc về cơ thể, như vài người có chiều hướng nghĩ như vậy, bởi vì chí đến chư vị A La Hán, bậc Toàn Hảo, đã tận diệt cặp triền cái này, vẫn còn thọ cảm tình trạng mệt mỏi của cơ thể. Dã dượi hôn trầm làm chậm trể mọi công trình phát triển tâm linh. Do ảnh hưởng của cặp dã dượi và hôn trầm tâm không thể hoạt động hữu hiệu vì như cục bơ đặc quá, cứng, không thể trét lên bánh, hay như mạch nha dính trên muỗng.

    Trạng thái hôn trầm là kẻ thù nguy hại của công trình phát triển tâm linh. Trạng thái hôn trầm dẫn đến hôn trầm hơn và cuối cùng, đến tâm trạng dửng dưng chai đá. Bẩm tánh mềm yếu như vậy là một chướng ngại nguy hại trên con đường đưa đến chân chánh và tự do. Nhờ tinh tấn, viriya, hay nỗ lực tinh thần, có thể khắc phục tệ hại trên.

    Pháp triền cái thứ tư bao gồm cặp uddhacca và kukkucca, phóng dật và lo âu. Thông thường tâm của người có lỗi không yên mà bồn chồn lo lắng. Kẻ có tội và người thiếu kiên nhẫn thường bị chướng ngại này. Tâm phóng dật và không ổn định giống như bầy ong vỡ ổ. Tình trạng chao động tinh thần như vậy gây trở ngại cho công phu hành thiền và khóa kín con đường hướng thượng. Lo âu cũng tai hại dường thế ấy. Người ta thường ăn năn những tội lỗi mà mình đã phạm. Ðức Phật không tán dương thái độ hối tiếc ấy, bởi vì khi sữa đã rơi đổ xuống đất thì có than khóc mấy cũng không lợi ích gì. Thay vì khóc than rên rỉ những thiếu sót như vậy, ta nên quyết tâm cố gắng không còn lặp lại hành động bất thiện tương tợ trong tương lai. Có người băn khoăn lo lắng vì đã chểnh mãng bỏ lỡ một cơ hội tạo thiện nghiệp, hay đã lãng quên một phận sự. Ðiều này cũng vậy, vô ích. Làm như thế không khác nào đứng trên một bờ sông rồi bảo cái bờ bên kia xích lại gần để mình bước qua. Thay vì luống công vô ích, như lo âu về các hành động thiện mà ta bỏ lỡ không làm, hãy cố gắng tích cực tạo thiện nghiệp. Trạng thái bất ổn định tinh thần (kukkucca, lo âu) cũng là một chướng ngại cho tiến bộ.

    Triền cái thứ năm và cuối cùng là vicikicchà, hoài nghi. Danh từ vi + cikiccà, đúng theo nghĩa từng chữ, là không thuốc chữa. Người mang tật hoài nghi quả thật đã mắc phải một chứng bịnh nan y, và cho đến chừng nào xa lìa hoài nghi ta vẫn còn phải chịu khổ đau vì bịnh này. Ngày nào mà còn hoài nghi thì con người còn tiếp tục có một quan kiến bất định về sự vật, và đó là một thiệt hại vô cùng trọng đại cho công trình phát triển tâm linh. Các nhà chú giải giải thích rằng hoài nghi này là không thể quyết định điều gì một cách chắc chắn. Hoài nghi ở đây cũng là không tin rằng người ta có thể đắc thiền (jhàna). Về điểm này ta có thể thêm rằng dầu là người không phải Phật tử hay không biết gì đến Tam Bảo cũng có thể khắc phục triền cái hoài nghi (vicikicchà) và đắc thiền (jhàna).

    Hành giả đã đắc thiền tạm thời chế ngự năm chướng ngại bằng năm chi thiền (jhànanga). Chi thiền ekaggatà (trụ) chế ngự triền cái kàmacchandha (tham dục); pìti (phỉ) chế ngự vyàpàda (oán ghét); vitakka (tầm) chế ngự thìna-middha (dã dượi và hôn trầm); sukha (lạc) chế ngự uddhacca-kukkucca (phóng dật và lo âu); và vicàra (sát) chế ngự vicikicca (hoài nghi). Tuy nhiên, đắc thiền (jhàna) không phải là mục tiêu cứu cánh mà hành giả nhắm đến. Thiền phải dẫn đến minh sát (vipassanà). Do nhờ minh sát mới tận diệt những ô nhiễm tiềm tàng ngủ ngầm (anussaya kilesa) và thành tựu trạng thái hoàn toàn trong sạch.

    Ngày nào các ô nhiễm (kilesa) còn tiềm tàng tồn tại trong tâm con người, ngày ấy ác pháp (pàpa) còn có thể tiếp tục phát sanh. Người đã đắc thiền (jhàna) vẫn còn phải nhắm đến mục tiêu cao hơn, là minh sát. Người đắc thiền không tạo nghiệp bất thiện vì đã chế ngự năm pháp triền cái, tuy nhiên, ô nhiễm vẫn còn tiềm tàng sâu kín bên trong và như vậy, chưa đạt đến trạng thái tuyệt đối châu toàn.

    Nhưng vị A La Hán, bậc Toàn Hảo, đã gội rửa tất cả mọi ô nhiễm đến tận cùng gốc rễ và đã chấm dứt mọi cuộc đi thênh thang bất định trong vòng luân hồi. Ngài là bậc đã chắc chắn chấm dứt mọi cuộc sống, bởi vì đã làm cho kiếp sống cao quý của Ngài trở nên toàn hảo, hoàn toàn trong sạch và đã hoàn tất viên mãn những gì cần phải làm. Ðối với Ngài không còn kiếp sống nào khác .

    Kinh Pháp Cú dạy:

    “Ðối với vị tỳ khưu đã rút vào nơi ẩn dật, đã giữ tâm vắng lặng, và đã ngộ rõ Giáo Pháp, vị ấy chứng đạt phỉ lạc siêu trần.” — (Câu 373)

    Giác chi thứ bảy mà cũng là yếu tố giác ngộ cuối cùng là upekkhà, xả. Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), upekkhà, cũng được gọi bằng một danh từ khác là tatra-majjhattatà, có nghĩa trung lập, không thiên bên nào. Ðó là trạng thái tâm quân bình chớ không phải tâm lãnh đạm thờ ơ hay thản nhiên dửng dưng. Trạng thái tâm quân bình hay xả, là kết quả của tâm định an tĩnh vắng lặng.

    Quả thật là khó tránh khỏi bị chao động khi phải va chạm thường xuyên với những thăng trầm của cuộc sống, nhưng người có trau giồi đức tánh “xả” khó có được này không còn cảm nghe phiền lụy bực mình. Giữa những cơn bão táp của tám pháp thế gian (attha loka dhamma), lợi lộc và lỗ lã, danh thơm và tiếng xấu, tán dương và khiển trách, hạnh phúc và đau khổ, người có tâm xả không bao giờ lay động. Người ấy vững chắc như tảng đá to. Dĩ nhiên đó là thái độ của một vị A La Hán, bậc Toàn Hảo. Ðể mô tả tâm trạng bình thản của Ngài có câu: “Người tốt buông xả tất cả. Bậc thánh nhân không nghĩ đến ái dục. Dầu hạnh phúc hay đau khổ bậc thiện trí không bồng bột cũng không để tinh thần suy sụp.”

    Tạp A Hàm, v, trang 63.

    Samyutta Nikàya, v, 81.

    Aldous Huxley, Ends and Means (London, 1946), trang 259.

    Satipatthàna Sutta, Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 10, hoặc Dìgha Nikàya, Trường A Hàm. 22. Xem The Foundations of Mindfulness, do Nyanasatta dịch (Kandy: BPS) Wheel 19.

    Chú Giải kinh Satipatthàna Sutta, Tứ niệm xứ.

    Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 32.

    Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 374.

    Dìgha Nikàya, Trường A Hàm, 16/II. 100.

    Ðể có thêm chi tiết xin đọc The Removal of Distracting Thoughts, do Soma Thera dịch (Kandy: BPS). Cũng xin xem Phụ bản VI, Chương 10

    Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 200.

    Dìgha Nikàya, Trường A Hàm, 25/III. 541.

    Majjhima Nikàya, Trung A Hàm, 27.

    Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 83.

    [27] Psalms of the Brethen (Theragàthà, Trưởng Lão Tăng Kệ) v, 947.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truy Tìm Những Kho Báu Bí Ẩn Nhất Mọi Thời Đại
  • : Giá Vàng Tiệm Vàng Kim Hoàng Cần Thơ Hôm Nay
  • Vàng Và Dầu Thúc Đẩy Sự Bùng Nổ Nguyên Liệu Vào Năm 2022
  • Giá Vàng 24K Hôm Nay Tại Quảng Bình
  • Những Giọng Ca Vàng: Kim Anh
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100