Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

    Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồm: phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý và dân cư. Các yếu tố đó tồn tại trong mối thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau, tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó, phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ toàn bộ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

    Giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự thống nhất biện chứng nhưng không đồng nhất. Mối quan hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung.

    Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể tiếp cận kết cấu của ý thức xã hội từ những phương diện khác nhau.

    Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau, đó là ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học,…

    Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận: ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm…của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiẽn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, qui luật. Ý thức lý luận có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. Ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng.

    Cũng có thể phân tích ý thức xã hội theo hai trình độ và hai phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội, đó là tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Tâm lý xã hội là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí,…của những cộng đồng người nhất định; là sự phản ánh trực tiếp và tự phát đối với hoàn cảnh sống của họ. Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xã hội như: chính trị, triết học, đạo đức, tôn giáo,…; là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội đối với cùng một tồn tại xã hội, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, tuy nhiên, không phải tâm lý xã hội tự nó sản sinh ra hệ tư tưởng xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp thì ý thức xã hội cũng có tính giai cấp, phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất và lợi ích khác nhau, đối lập nhau giữa các giai cấp. Mỗi giai cấp đều có đời sống sinh hoạt tinh thần đặc thù của nó nhưng hệ tư tưởng thống trị xã hội bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, nó có ảnh hưởng đến ý thức của các giai cấp trong đời sống xã hội. Theo quan niệm của Mác và Ăngghen: “giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Khái Niệm, Môi Trường Và Quá Trình Xã Hội Hoá?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1, 2, 3, 4, 5, 6 Trang 73 Sách Bài Tập (Sbt) Sinh Học 9
  • Bài 63. Ôn Tập Phần Sinh Vật Và Môi Trường Sgk Sinh Học 9
  • Đề Tài Kinh Nghiệm Tích Hợp Kiến Thức Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Tiết Dạy Sinh Học 9
  • Bài Giảng Cơ Sở Cơ Học Môi Trường Liên Tục Và Lý Thuyết Đàn Hồi Chương 1 Mở Đầu Các Khái Niệm Chung
  • Lý Thuyết Sóng Cơ Và Sự Truyền Sóng Cơ
  • 12.1. Khái niệm xã hội hoá

    – Xã hội hoá là quá trình cá nhân con người lĩnh hội một hệ thống nhất định những tri thức, giá trị, chuẩn mực cho phép cá nhân đó hoạt động như một thành viên của xã hội. Là quá trình con người tiếp nhận nền văn hoá, quá trình con người học cách đóng vai trò để gia nhập vào xã hội.

    – Xã hội học là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình (N. Smelser).

    – Xã hội học là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một là sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động, và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó (Fichter).

    12.2. Các đặc điểm của xã hội hoá

    – Xã hội hoá là một quá trình hai mặt: Một mặt cá nhân chịu sự tác động của xã hội, mặt khác cá nhân với tính tích cực, sáng tạo của mình tác động trở lại đối với xã hội.

    – Nội dung, cấp độ các cơ chế cụ thể của xã hội hoá mang tính lịch sử cụ thể. Chúng được quy đinh bởi cơ cấu kinh tế – xã hội của các xã hội đó. Xã hội hoá không phải là sự áp đặt cơ học một hình thái xã hội sẵn có cho cá nhân.

    – Cá nhân vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình xã hội hoá.

    – Xã hội hoá kéo dài suốt đời và là quá trình tất yếu.

    – Xã hội hoá luôn tuân thủ các khuôn mẫu hành vi của các nhóm khác nhau.

    – Quá trình xã hội hoá diễn ra nhanh hay chậm là do sự tác động, ảnh hưởng của khung cảnh văn hoá, của gia đình và xã hội lên tác phong chứ không phải do yếu tố bẩm sinh (ảnh hưởng sinh lý, địa lý…).

    – Quá trình xã hội hoá là không đều đối với mỗi người do sự đòi hỏi, yêu cầu của xã hội đối với mỗi người là không giống nhau, nó phụ thuộc nhiều vào khả năng xã hội của họ.

    – Quá trình xã hội hoá diễn ra nhanh hơn nếu có sự khoanh vùng, hạn chế sự lựa chọn, hoặc có sự định hướng.

    – Xã hội hoá được thực hiện nhờ các thiết chế có sẵn như gia đình, nhà trường, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các phương thức giao tiếp công cộng.

    – Trong xã hội hoá có 2 khuynh hướng tác động:

    + Bản chất tự nhiên: Khả năng phản ứng lại các ảnh hưởng bên ngoài.

    + Khả năng đáp ứng, tuân thủ theo khuôn mẫu mà xã hội mong đợi.

    12.3. Môi trường xã hội hoá và quá trình xã hội hoá

    12.3.1. Môi trường xã hội hoá

    – Môi trường xã hội hoá chính thức: Gia đình và nhà trường là những môi trường xã hội hoá đầu tiên và chính yếu. Nó ảnh hưởng mạnh đến suốt đời sống con người. Trong môi trường này, xã hội hoá của cá nhân diễn ra có hoạch định và có chủ định theo một chương trình và nội dung nhất định.

    – Môi trường xã hội hoá phi chính thức: là toàn bộ môi trường xã hội mà ở đó cá nhân sống và hoạt động. Cá nhân tự hấp thụ và sàng lọc những gì cần thiết cho mình và mức độ thực hiện chúng là khác nhau đối với các đối tượng khác nhau trong mối quan hệ xã hội chằng chịt, đa dạng, phức tạp và khác nhau nhưng đều có cái chung.

    12.3.2. Quá trình xã hội hoá

    – Xã hội hoá trong giai đoạn thơ ấu

    – Xã hội hoá trong thời kỳ đến trường

    – Xã hội hoá trong thời kỳ lao động

    – xã hội hoá trong thời kỳ sau lao động

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Môi Trường Văn Hóa Xã Hội Là Gì?
  • Nội Dung Chuyên Đề Môi Trường Học Tập Của Học Sinh Thcs
  • Module Th 7 Xây Dựng Môi Trường Học Tập Thân Thiện.
  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Thường Xuyên Module Thpt5
  • Bảo Vệ Môi Trường Là Gì ? Phân Tích Về Hiện Trạng Bảo Vệ Môi Trường ?
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • a) Khái niệm tồn tại xã hội

    Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

    V.I.Lênin khi nghiên cứu tồn tại xã hội với tính cách vừa là đời sống vật chất vừa là những quan hệ vật chất giữa người và người đã cho rằng: việc anh sống, anh hoạt động kinh tế, anh sinh đẻ con cái và anh chế tạo ra các sản phẩm, anh trao đổi sản phẩm, làm nảy sinh ra một chuỗi tất yếu khách quan gồm những biến cố, những sự phát triển, không phụ thuộc vào ý thức xã hội của anh và ý thức này không bao giờ bao quát được toàn vẹn cái chuỗi đó.

    Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số… trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.

    b) Khái niệm và kết cấu của ý thức xã hội

    ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng,… của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

    – Cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân. ý thức của cá nhân đều phản ánh tồn tại xã hội với mức độ khác nhau. Do đó, nó không thể không mang tính xã hội. Song ý thức cá nhân không phải bao giờ cũng thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một thời đại xã hội nhất định.

    ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, thâm nhập vào nhau và làm phong phú nhau.

    Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể tiếp cận kết cấu của ý thức xã hội từ những phương diện khác nhau.

    Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, triết học,…

    Theo trình độ phản ánh có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận.

    ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm… của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Trong ý thức xã hội thông thường, tâm lý xã hội là bộ phận rất quan trọng.

    ý thức xã hội thông thường, thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc sống hàng ngày của con người, thường xuyên chi phối cuộc sống đó. ý thức thông thường tuy là trình độ thấp so với ý thức lý luận, nhưng những tri thức kinh nghiệm phong phú đó có thể trở thành tiền đề quan trọng cho sự hình thành các lý thuyết xã hội.

    ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật. ý thức lý luận (lý luận khoa học) có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng.

    Quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.

    Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm, ước muốn, tâm trạng, tập quán… của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản ánh đời sống đó.

    Đặc điểm của tâm lý xã hội là phản ánh một cách trực tiếp điều kiện sinh sống hàng ngày của con người, là sự phản ánh có tính chất tự phát, thường ghi lại những mặt bề ngoài của tồn tại xã hội. Nó không có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc bản chất các mối quan hệ xã hội của con người.

    Những quan niệm của con người ở trình độ tâm lý xã hội còn mang tính kinh nghiệm, chưa được thể hiện về mặt lý luận, yếu tố trí tuệ đan xem với yếu tố tình cảm. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tâm lý xã hội trong sự phát triển của ý thức xã hội. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nghiên cứu trạng thái tâm lý xã hội của nhân dân để hiểu nhân dân, giáo dục nhân dân, đưa nhân dân tham gia tích cực, tự giác vào cuộc đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp.

    Hệ tư tưởng là trình độ nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo), kết quả của sự khái quát hóa những kinh nghiệm xã hội. Hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác nghĩa là tạo ra bởi các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và được truyền bá trong xã hội.

    Cần phải phân biệt hệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng không khoa học. Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính xác, khách quan các mối quan hệ vật chất của xã hội. Hệ tư tưởng không khoa học tuy cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất của xã hội, nhưng dưới một hình thức sai lầm, hư ảo hoặc xuyên tạc.

    Với tính cách là một bộ phận của ý thức xã hội, hệ tư tưởng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khoa học. Lịch sử các khoa học tự nhiên đã cho thấy tác dụng quan trọng của hệ tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học đối với quá trình khái quát những tài liệu khoa học.

    Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, chúng có cùng một nguồn gốc là tồn tại xã hội, đều phản ánh tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên giai cấp tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp. Mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng khoa học tiến bộ) với tâm lý xã hội, với thực tiễn cuộc sống sinh động và phong phú sẽ giúp cho hệ tư tưởng xã hội, cho lý luận bớt xơ cứng, bớt sai lầm. Trái lại hệ tư tưởng, lý luận xã hội, gia tăng yếu tố trí tuệ cho tâm lý xã hội. Hệ tư tưởng khoa học thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh có lợi cho tiến bộ xã hội. Hệ tư tưởng phản khoa học, phản động kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội phát triển.

    Tuy nhiên, hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp từ tâm lý xã hội, không phải là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội.

    Bất kỳ tư tưởng nào khi phản ánh các mối quan hệ đương thời thì đồng thời cũng kế thừa những học thuyết xã hội, những tư tưởng và quan điểm đã tồn tại trước đó. Thí dụ, hệ tư tưởng tôn giáo thời trung cổ ở Tây Âu thể hiện lợi ích của giai cấp phong kiến, nhưng lại ra đời trực tiếp từ những tư tưởng triết học duy tâm có từ thời cổ đại và những tư tưởng của đạo Cơ đốc thời kỳ đầu Công nguyên. Hệ tư tưởng Mác – Lênin cũng không trực tiếp ra đời từ tâm lý xã hội của giai cấp công nhân lúc đó đang tự phát đấu tranh chống giai cấp tư sản, mà là sự khái quát lý luận từ tổng số những tri thức của nhân loại, từ những kinh nghiệm của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, đồng thời kế thừa trực tiếp các học thuyết kinh tế – xã hội và triết học vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX…

    Như vậy, hệ tư tưởng xã hội liên hệ hữu cơ với tâm lý xã hội, chịu sự tác động của tâm lý xã hội, nhưng nó không phải đơn giản là sự “cô đặc” của tâm lý xã hội.

    c) Tính giai cấp của ý thức xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị xã hội của mỗi giai cấp quy định, do đó, ý thức xã hội của các giai cấp có nội dung và hình thức phát triển khác nhau hoặc đối lập nhau.

    Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện ở tâm lý xã hội cũng như ở hệ tư tưởng. Về mặt tâm lý xã hội, mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen riêng, có thiện cảm hay ác cảm với tập đoàn xã hội này hoặc tập đoàn xã hội khác. ở trình độ hệ tư tưởng thì tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện sâu sắc hơn nhiều. Trong xã hội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng có những quan điểm tư tưởng hoặc những hệ tư tưởng đối lập nhau: tư tưởng của giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị ở thời đại đó.

    Nếu hệ tư tưởng của giai cấp bóc lột thống trị ra sức bảo vệ địa vị của giai cấp đó thì hệ tư tưởng của giai cấp bị trị, bị bóc lột thể hiện nguyện vọng và lợi ích của quần chúng lao động chống lại xã hội người bóc lột người, xây dựng một xã hội công bằng không có áp bức bóc lột.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân, ngọn cờ giải phóng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, phản ánh tiến trình khách quan của sự phát triển lịch sử. Hệ tư tưởng Mác – Lênin đối lập với hệ tư tưởng tư sản – hệ tư tưởng bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ người bóc lột người. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản hàng thế kỷ nay diễn ra gay gắt trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực hệ tư tưởng.

    Trong điều kiện xã hội ngày nay, cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ vẫn đang tiếp tục diễn ra. Trước những khó khăn và thử thách trên con đường phát triển của chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch đang ra sức tiến công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, muốn phủ nhận, xoá bỏ nó. Do vậy bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện thế giới ngày nay, là một nhiệm vụ quan trọng của cuộc đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ trên thế giới nói chung.

    Khi khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời còn cho rằng, ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động qua lại với nhau. Trong xã hội có áp bức giai cấp, các giai cấp bị trị do bị tước đoạt tư liệu sản xuất, phải chịu sự áp bức về vật chất nên không tránh khỏi bị áp bức về tinh thần, không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, bóc lột. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”1. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tư tưởng giai cấp thống trị đối với xã hội tùy thuộc vào trình độ phát triển ý thức cách mạng của giai cấp bị trị.

    Không những giai cấp bị trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, mà trái lại giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị trị. Đặc biệt ở thời kỳ đấu tranh cách mạng phát triển mạnh, thường thấy một số người trong giai cấp thống trị, nhất là những trí thức tiến bộ từ bỏ giai cấp xuất thân của mình chuyển sang hàng ngũ giai cấp cách mạng, chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp đó. Một số người còn trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.

    ý thức cá nhân trong xã hội có phân chia giai cấp, về bản chất, là biểu hiện mức độ này hay mức độ khác ý thức giai cấp, do địa vị và những điều kiện sinh hoạt vật chất chung của giai cấp quyết định. Nhưng mỗi cá nhân lại có những hoàn cảnh sinh sống riêng như hoàn cảnh giáo dục, trường đời mà họ trải qua, ảnh hưởng tư tưởng chính trị và tư tưởng khác do họ tiếp thu được khi sống trong môi trường thân cận (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp), v.v.. Tất cả những cái đó làm cho ý thức của mỗi người vừa biểu hiện ý thức giai cấp vừa mang những đặc điểm cá nhân, tạo thành những cá tính và nhân cách riêng của cá nhân, làm cho thế giới tinh thần của cá nhân này khác với thế giới tinh thần của những cá nhân khác cùng giai cấp.

    Tuy nhiên, quá nhấn mạnh những điều kiện sinh hoạt của cá nhân, thổi phồng mặt cá nhân trong ý thức của con người sẽ dẫn tới hiểu sai bản chất của ý thức cá nhân. Vì vậy, khi đánh giá các hiện tượng ý thức trong xã hội có giai cấp phải nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa ý thức giai cấp và ý thức cá nhân.

    Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội không chỉ mang dấu ấn của những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp, mà còn phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc; những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của dân tộc. Vì vậy, trong ý thức xã hội, ngoài tâm lý và hệ tư tưởng xã hội của giai cấp, còn bao gồm tâm lý dân tộc, tình cảm, ước muốn, tập quán, thói quen, tính cách, v.v. của dân tộc, phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc, thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống tinh thần của dân tộc, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác tạo thành truyền thống dân tộc.

    Tâm lý dân tộc tuy phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc và mang tính chất toàn dân tộc, nhưng có mối liên hệ hữu cơ với ý thức giai cấp. Giai cấp cách mạng tiến bộ phát huy những giá trị tinh thần của dân tộc, ngược lại những tư tưởng giai cấp phản động mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị đó.

    Giai cấp công nhân được vũ trang bằng hệ tư tưởng Mác – Lênin luôn luôn quan tâm sâu sắc đến việc bảo vệ và phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Công Tác Xã Hội Với Người Cao Tuổi
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì?
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì? Quy Định Về Xuất Nhập Khẩu Tại Chỗ
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì? Những Quy Định Về Xuất Nhập Khẩu Tại Chỗ
  • Câu hỏi: Khái niệm tồn tại xã hội? Khái niệm và kết cấu của ý thức xã hội?

    Đáp án:

    1. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội

    Tồn tại xã hội là toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội (bao gồm phương thức sản xuất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số… trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất) được đặt trong phạm vi hoạt động thực tiễn (hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học).

    Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, thói quen v.v. của cộng đồng xã hội được hình thành trên cơ sở của tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.

    2. Kết cấu của ý thức xã hội

    Cấu trúc của ý thức xã hội được tiếp cận nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau:

    – Ở góc độ sinh thành, ý thức xã hội được phân chia thành: Ý thức xã hội của xã hội cộng sản nguyên thủy; ý thức xã hội của xã hội chiếm hữu nô lệ; ý thức xã hội của xã hội phong kiến v.v..

    – Ở góc độ chủ thể ý thức, ý thức xã hội được phân chia thành: ý thức của giai cấp nông dân, ý thức của giai cấp công nhân v.v..

    – Ở góc độ phản ánh, ý thức xã hội được phân chia thành các hình thái ý thức xã hội như: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo v.v…

    – Ở góc độ trình độ và cấp độ của sự phản ánh, ý thức xã hội được phân chia thành: ý thức lý luận và ý thức thường ngày; tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.

    Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tiếp cận tìm hiểu ý thức xã hội ở góc độ trình độ và cấp độ của sự phản ánh.

    a) Ý thức thường ngày và ý thức lý luận

    – Ý thức thường ngày là các quan điểm, tư tưởng chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa, nó phản ánh trực tiếp các sự kiện, các hiện tượng diễn ra trong cuộc sống thường ngày nhằm đáp ứng nhu cầu tức thời của chủ thể về mặt nhận thức.

    Tri thức của ý thức thường ngày chưa được hệ thống hóa, tính khái quát của nó còn yếu, nhưng nó gắn với thực tiễn sinh động vì thế nó gần gũi với đời sống hiện thực. Những kinh nghiệm của ý thức thường ngày chính là kho tàng để cho các khoa học tìm kiếm nội dung của mình. Trước đây (thời cổ đại) ý thức thường ngày xa lạ với khoa học, còn ngày nay ý thức thường ngày chứa đựng tri thức khoa học.

    – Ý thức lý luận là toàn bộ tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Tri thức của ý thức lý luận mang tính hệ thống, tính hợp lý, nó phản ánh hiện thực khách quan một cách sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối quan hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. Tri thức của ý thức lý luận mang tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao được trình bày dưới dạng các phạm trù, quy luật, phạm vi ứng dụng của nó rất rộng, đòi hỏi khi vận dụng phải có năng lực. Ý thức lý luận phản ánh gián tiếp sự vật, hiện tượng nên có khả năng xa rời sự vật, trở nên xơ cứng và giáo điều.

    b) Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng

    – Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm, xúc cảm, kinh nghiệm, thói quen v.v. của con người, được hình thành tự phát dưới tác động trực tiếp của đời sống hàng ngày và phản ánh đời sống đó.

    Đặc điểm của tâm lý xã hội là phản ánh một cách trực tiếp hoàn cảnh xã hội, là sự phản ánh có tính chất tự phát, nó chỉ phản ánh hiện thực bề ngoài của tồn tại xã hội chứ chưa vạch ra được một cách đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc các mối liên hệ bản chất, quy luật của xã hội. Tâm lý xã hội tác động thường xuyên đến hành vi con người và tồn tại một cách dai dẳng trong ý thức. Trong xã hội có giai cấp thì tâm lý xã hội mang tính giai cấp, do các giai cấp có điều kiện, hoàn cảnh sinh sống khác nhau cho nên các giai cấp có quan niệm, tình cảm, tâm trạng, thói quen… khác nhau. Ngoài tâm lý giai cấp, tâm lý xã hội còn mang đặc điểm của tâm lý dân tộc, do mỗi dân tộc có lịch sử khác nhau cho nên đã hình thành truyền thống, thị hiếu, tập quán … khác nhau.

    – Hệ tư tưởng là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, quan niệm của một giai cấp đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận, thành các học thuyết xã hội. Những lý luận và học thuyết này phản ánh một cách gián tiếp hoàn cảnh xã hội, phản ánh một cách tự giác và sâu sắc lợi ích giai cấp, là vũ khí đấu tranh giai cấp của một giai cấp hay một lực lượng xã hội nhất định.

    Hệ tư tưởng là trình độ cao của ý thức xã hội, hình thành khi con người nhận thức sâu sắc hơn về những điều kiện sinh hoạt vật chất của mình. Nó có khả năng phản ánh các mối liên hệ bản chất của các quan hệ xã hội. Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội. Khác với tâm lý xã hội hình thành một cách tự phát, hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác, là kết quả tư duy khoa học của các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và được truyền bá trong xã hội.

    Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là hai giai đoạn, hai trình độ thấp và cao của ý thức xã hội, chúng đều phản ánh tồn tại xã hội, giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Tâm lý xã hội, tình cảm giai cấp tạo điều kiện cho việc tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp; ngược lại hệ tư tưởng của giai cấp sẽ củng cố, phát triển tâm lý xã hội và tình cảm giai cấp.

    Cần phải phân biệt hệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng không khoa học. Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính xác, khách quan các mối quan hệ vật chất của xã hội. Còn hệ tư tưởng không khoa học thì phải phản ánh sai lầm, xuyên tạc, hư ảo các mối quan hệ vật chất của xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Xã Hội Học Của Khái Niệm Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Gia Đình Hạnh Phúc Là Gì? Làm Thế Nào Để Gia Đình Hạnh Phúc?
  • Đi Tìm Định Nghĩa Hạnh Phúc Gia Đình Là Gì?
  • Gia Đình Là Gì? Và Tầm Quan Trọng Của Gia Đình Đối Với Mỗi Con Người
  • Bạo Lực Gia Đình Là Gì? Đặc Điểm Và Hậu Quả Của Bạo Lực Gia Đình?
  • Bác Sĩ Gia Đình Có Nhiệm Vụ Như Thế Nào?
  • Xã hội học gia đình – một chi nhánh của kiến thức xã hội học. Xem xét các gia đình như một hệ thống xã hội không thể thiếu trên cơ sở quan hệ họ hàng, hôn nhân, hoặc làm con nuôi, trong đó liên kết mọi người trong cuộc sống chung và trách nhiệm lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau.

    khái niệm gia đình trong xã hội học có một tính năng đặc biệt, như các nhà khoa học xã hội nghiên cứu nó, và như là một tổ chức xã hội, và như là một nhóm xã hội nhỏ. Nó cung cấp cho các gia đình có cơ hội để tìm hiểu những hình thức otnoscheniya con người như hôn nhân, làm cha mẹ, mối quan hệ.

    Xã hội học của gia đình xác định cấu trúc và chức năng của gia đình, trong đó có cấu trúc phân lớp phức tạp mà không chỉ bao gồm số lượng và thành phần của các thế hệ, mà còn vai trò xã hội, vị trí của từng thành viên.

    Gia đình hạt nhân bao gồm một vài cha mẹ và con người phụ thuộc vào họ. Gia đình lớn bao gồm ngoài các gia đình hạt nhân và người thân khác (ông bà, chú bác, cô dì, anh em họ, vv).

    xã hội học gia đình như vậy, chia sẻ các khái niệm về gia đình và hôn nhân. Hôn nhân – một mối quan hệ pháp lý giữa một người đàn ông và một phụ nữ trong mối quan hệ với nhau và cho trẻ em. Về mặt lịch sử, như sau hình thức hôn nhân :

    a) một vợ một chồng – một người đàn ông và một người phụ nữ;

    b) chế độ đa thê – một người đàn ông và một vài phụ nữ (hoặc một người phụ nữ – một vài người đàn ông)

    c) một cuộc hôn nhân nhóm – một nhóm người và một vài phụ nữ.

    hôn nhân một vợ một chồng giữa một người đàn ông và một phụ nữ là phát triển nhất trong xã hội hiện đại, dựa trên tình yêu và sự lựa chọn cá nhân. Vai trò của quan hệ gia đình là một yếu tố tăng cường nhóm gia đình và tổ chức xã hội.

    chức năng xã hội học gia đình kết nối với lợi ích của xã hội, nhu cầu của từng cá nhân.

    Chức năng kinh tế là để cung cấp một cuộc sống, bao gồm cả các thành viên trong gia đình gia đình người khuyết tật và vị thành niên nghĩa là (trẻ em, người già, người tàn tật)

    chức năng sinh sản – quan trọng nhất trong điều kiện xã hội, như là dân voproizvodstve, để đáp ứng nhu cầu tự nhiên cho trẻ em.

    Chức năng giáo dục là nhằm mục đích giáo dục và xã hội hóa thế hệ trẻ.

    Gia đình thực hiện chức năng kiểm soát xã hội tiểu học, trong đó bao gồm trong sự hiểu biết các chuẩn mực xã hội, biện pháp trừng phạt, quy định về hành vi.

    chức năng thông tin liên lạc tinh thần cung cấp sự hài lòng của tự nhiên nhu cầu con người và bao gồm làm giàu tinh thần, trách nhiệm đạo đức, mối quan hệ druzhestkie.

    chức năng tình trạng xã hội nằm trong thực tế mà gia đình cung cấp các thành viên của mình một vị trí nhất định trong cơ cấu xã hội, bắt đầu từ các cơ hội.

    chức năng giải trí bao gồm trong việc tổ chức thời gian rảnh rỗi của tất cả các thành viên, sự phát triển của khả năng.

    chức năng cảm xúc cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng những nhu cầu tự nhiên của các thành viên gia đình, bằng cách cung cấp hỗ trợ tâm lý và hỗ trợ.

    chức năng gia đình kết nối với nhau, là một cấu trúc không thể thiếu, làm phong phú và bổ sung mỗi phần tử của hệ thống.

    Xã hội học của gia đình và nghiên cứu của mình tại thời điểm hiện tại là phù hợp nhất, kể từ khi cuộc khủng hoảng của gia đình intstitut xã hội được quan sát ở Nga. Đột ngột tăng số lượng các gia đình có nhược điểm rõ ràng intrafamilial, vi phạm trong những chức năng quan trọng nhất. Nhiều gia đình không chỉ là chức năng vỡ nợ, nhưng cũng có một định hướng chống xã hội rõ ràng. Sự gia tăng mạnh về số lượng trẻ em bỏ đi mà không chăm sóc của cha mẹ, ly dị, nghiện rượu và gây mê cha mẹ dẫn số liệu thống kê đáng thất vọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Đặc Điểm Áp Dụng Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Luật 52/2014/qh13 2022
  • Hôn Nhân Là Gì? Quy Định Về Hôn Nhân Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Là Gì Theo Quy Định Pháp Luật?
  • Khái Niệm Văn Hóa Trong Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Xã Hội Hóa Giáo Dục Là Gì? Bản Chất, Vai Trò Và Ý Nghĩa
  • Chủ Nghĩa Tiến Hóa Xã Hội: Xã Hội Hiện Đại Phát Triển Như Thế Nào?
  • Khái Niệm “tiến Hóa” Trong Triết Học
  • Sinh Học 12 Chương Tiến Hóa: Lý Thuyết Trọng Tâm Và Bài Tập
  • Xúc Tiến Bán Hàng Là Gì? Xây Dựng Chiến Lược Xúc Tiến Bán Hàng Hiệu Quả
  • Văn hóa hạn được đặc trưng bởi sự mơ hồ và được sử dụng để xác định các quá trình của tinh thần, trí tuệ, phát triển thẩm mỹ; hình thức và các sản phẩm của hoạt động tinh thần, trí tuệ và nghệ thuật; mô tả trạng thái của xã hội, dựa trên thứ tự của nhân loại và luật pháp.

    Khái niệm về văn hóa trong xã hội học là rất rộng, nó bao hàm việc nghiên cứu nó trong sự đa dạng của những khía cạnh này.

    Khái niệm về văn hóa trong xã hội học từ các nhà nghiên cứu khác nhau khác nhau về một số đặc điểm, mà tạo ra điều kiện tiên quyết cho việc phân bổ trong những phương pháp sau đây để định nghĩa của nó.

    Cách tiếp cận công nghệ xem xét văn hóa theo nghĩa rộng là một mức độ riêng biệt của sản xuất, cũng như tất cả các cấp của đời sống xã hội trong tất cả các proivleniyah sinh sản của nó. cách tiếp cận hoạt động – như một bộ sưu tập các hình dạng và loại hoạt động vật chất và tinh thần và kết quả của hoạt động này khác nhau. cách tiếp cận giá trị – như một quả cầu đời sống tinh thần, trong đó văn hóa là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực và niềm tin, cũng như các phương tiện biểu hiện của những giá trị này. cách tiếp cận tích hợp cho thấy rằng nền văn hóa bao gồm các mô hình tiềm ẩn và rõ ràng của hành vi con người, được tạo ra và truyền đi bằng các phương tiện của các biểu tượng, bản chất của nó bao gồm ý tưởng giá trị truyền thống, việc lựa chọn cuối cùng của thời gian lịch sử.

    Khái niệm về văn hóa trong xã hội học và vai trò của nó, diễn ra trong đời sống nhân dân có một định hướng khác nhau của hai dòng. Cách tiếp cận đầu tiên về vấn đề này – tiến hóa (Johann Gottfried Herder). Trong đó, văn hóa được xem là một yếu tố quyết định trong việc cải thiện và tiến hóa của con người, là người có thể biến nó thành một con sáng tạo và hài hòa. Cách tiếp cận thứ hai – quan trọng. Ông giải thích văn hóa như một phương tiện đặc biệt của nô lệ của con người và biến đổi tiến bộ của mình vào một công cụ của thế lực thù địch đối với con người.

    xã hội học hàng đầu đã xem xét các khái niệm về văn hóa như sau. Zhan Zhak Russo tin rằng cuộc sống trong lòng của thiên nhiên là người duy nhất đúng, và nó hư hỏng nền văn hóa. Fridrih Nitsshe viết rằng con người là yếu vô văn, và văn hóa dành cho nô lệ và áp bức của sức mạnh thiên nhiên của mình.

    Oswald Spengler tin rằng mỗi nền văn hóa có số phận riêng của mình, mà kết thúc với sự phát triển của nền văn minh. Tennis Ferdinand đưa lý thuyết về việc không thể phản đối các nền văn hóa và văn minh. José Ortega y Gasset là tác giả của truyền thống văn hóa bi quan, có nghĩa là một người là thành viên của quần chúng và hành vi thích giao du của nó. Cuộc khủng hoảng của nền văn minh hiện đại được liên kết với massivization văn hóa.

    văn hóa Nga, các nhà nghiên cứu đã giải thích các khái niệm về văn hóa trong xã hội học mâu thuẫn. Một mặt, nó đã phát triển một truyền thống của lý thuyết tiến hóa, theo đó sự tiến bộ của xã hội được xác định bởi sự phát triển của văn hóa), và mặt khác – chỉ trích.

    Các yếu tố của văn hóa trong xã hội học nổi bật bao gồm: giá trị, ngôn ngữ, định mức, tập quán, truyền thống và phong tục. Các yếu tố hiệu quả nhất của văn hóa – một khái niệm hay khái niệm (mà tổ chức thế giới của nam giới), tỷ lệ (phân bổ các liên kết giữa con người), các giá trị (hiển thị tín ngưỡng của người dân) và các quy tắc (điều chỉnh hành vi của người dân).

    Các loại văn hóa trong xã hội học như sau, tùy thuộc vào tiêu chí nhất định được đánh dấu.

    Trên một khu vực hoặc địa lý: văn hóa phương Tây, Đông, Châu Âu, Châu Phi, Mỹ, vv

    Trong cơ sở tự thời gian: nền văn hóa cổ, văn hóa của thời Trung cổ, Phục hưng, hiện đại và đương đại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Đánh Giá Tiềm Năng Của Việc Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Cộng Trong Tương Lai Ở Việt Nam
  • Đánh Giá Tiềm Năng Của Việc Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Cộng Trong Tương Lai Ở Việt Nam
  • Quá Trình Xã Hội Hóa Tại Gia Đình Và Tầng Lớp Xã Hội
  • Cái Tôi Và Quá Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân
  • Các Hình Thức Xuất Khẩu Chủ Yếu
  • Quá Trình Xã Hội Hóa Tại Gia Đình Và Tầng Lớp Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Tiềm Năng Của Việc Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Cộng Trong Tương Lai Ở Việt Nam
  • Tài Liệu Đánh Giá Tiềm Năng Của Việc Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Cộng Trong Tương Lai Ở Việt Nam
  • Khái Niệm Văn Hóa Trong Xã Hội Học
  • Xã Hội Hóa Giáo Dục Là Gì? Bản Chất, Vai Trò Và Ý Nghĩa
  • Chủ Nghĩa Tiến Hóa Xã Hội: Xã Hội Hiện Đại Phát Triển Như Thế Nào?
  • Theo nguyên tắc giáo dục, mỗi đứa trẻ, khi bước vào nhà trường đều có một sự khởi đầu như nhau. Trong thực tế, sự khởi đầu của mỗi đứa trẻ hoàn toàn khác nhau. Sự khởi đầu đó phụ thuộc vào vị trí của cha mẹ chúng, vị trí đó nằm ở thang bậc nào trong hệ thống cơ cấu xã hội. Cơ cấu xã hội là một khái niệm xã hội học để chỉ rằng vào một thời điểm lịch sử nhất định trong một xã hội có sự phân chia dân cư vào những vị trí xã hội, vốn được xem là những yếu tố ảnh hưởng đến những cơ may trong đời sống.

    Cơ may trong đời sống được phân bố không đồng đều theo những vị trí xã hội mà con người ta đảm nhận, góp phần phát triển cá nhân, thực hiện những khả năng, những mong muốn và những hy vọng. Và những đứa trẻ mà cha mẹ chúng nằm ở bậc thang dưới về thu nhập, quyền lực, giáo dục và uy thế sẽ bị cản trở trên con đường tiếp cận những nguồn tài nguyên của xã hội. Vì vậy mà các chính sách xã hội, chính sách về giáo dục được đưa ra nhằm để tạo một sự khởi đầu tốt đẹp cho mọi trẻ em trong xã hội. Ví dụ để “hướng đến một thế hệ công dân tự tin, thông minh” (tựa bài báo trong Sài Gòn Giải Phóng, 1/8/2005), chính phủ Thái Lan đã đề ra biện pháp tặng quà cho các bé sơ sinh. Theo đó, các bậc cha mẹ khi sinh con sẽ được tặng một bộ sách và đĩa CD bao gồm các bài hát ru, được các chuyên gia soạn thảo riêng với mục đích khuyến khích tư duy, vận động não bộ cho trẻ. Chính phủ cũng đang xem xét khả năng tặng sách miễn phí cho trẻ em.

    Nhưng một sự khởi đầu tốt đẹp, lại phụ thuộc rất nhiều vào quá trình xã hội hóa tại gia đình. Nói đến xã hội hóa tại gia đình tức là nói đến:

    – Hành vi kiểm soát của các bậc cha mẹ,

    – Mối quan hệ cảm xúc giữa cha mẹ và con,

    – Nhấn mạnh đến sự độc lập và thành tích,

    – Loại hình truyền thông giữa cha mẹ và con cái.

    Gia đình được mô tả là cơ quan trung chuyển chính đối với sự tái sản xuất xã hội. Nhà xã hội học Rolff đưa ra giả thiết: Ðặc tính xã hội, đó là sự kết nối giữa những đặc điểm nhân cách của cha mẹ và sự phát triển của đứa trẻ có một mối quan hệ trực tiếp. Nói đến đặc tính xã hội tức là nói đến những đặc điểm nhân cách như động cơ về thành tích, những định hướng giá trị, trí thông minh và khả năng ngôn ngữ. Tài năng cá nhân của một đứa trẻ trong những gia đình công nhân không được hình thành do cha mẹ chúng có những thái độ giáo dục khác so với tầng lớp trung lưu và thượng lưu trong xã hội. Vì vậy mà những đứa trẻ này gặp những khó khăn tại nhà trường và trong nghề nghiệp của chúng sau này. Và như vậy, đặc tính xã hội này lại góp phần tái sản xuất cơ cấu xã hội, tạo nên những thang bậc “cao- giữa- thấp” trong hệ thống phân tầng xã hội. Và đây cũng chính là vấn đề mà những nghiên cứu xã hội hóa theo những phân tầng xã hội đặt ra từ 50 năm nay. Vị trí của một gia đình trong cơ cấu xã hội (đặc biệt là cơ cấu nghề nghiệp) càng thấp, thì họ càng bị thiệt thòi về vật chất, xã hội và văn hóa. Và quá trình xã hội hóa tại gia đình không thể thúc đẩy tiềm năng nhận thức, động cơ và ngôn ngữ của trẻ. Những tiềm năng này vô cùng quan trọng đối với kết quả học tập tại nhà trường sau này.

    Mối quan hệ giữa tầng lớp xã hội và quá trình xã hội hóa tại gia đình:

    – Các cuộc nghiên cứu đã chứng minh không có mối quan hệ mạnh giữa hành vi của cha mẹ buộc con cái phải hướng theo ý muốn, chủ đích của họ và tầng lớp xã hội.

    – Tương tự như vậy, cũng không có một mối quan hệ mạnh giữa hành vi của cha mẹ đe dọa họ sẽ từ bỏ tình yêu đối với đứa trẻ nếu chúng không chịu từ bỏ hành vi của chúng theo ý muốn của cha mẹ và tầng lớp xã hội.

    – Ngược lại, các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp công nhân chú ý nhiều đến kết quả của hành động, trong khi đó các bậc cha mẹ của tầng lớp trung lưu chú ý nhiều về chủ đích của đứa trẻ- để quyết định trừng phạt con cái hay không.

    – Nói về mối quan hệ cảm xúc giữa cha mẹ và con cái tức là nói đến những quan tâm, giúp đỡ đến chủ đích hành động của đứa trẻ. Có một mối quan hệ giữa tầng lớp xã hội và sự giúp đỡ, quan tâm. Giới tính của các bậc cha mẹ có một vai trò đối với quan hệ này.

    – Mối quan hệ giữa tầng lớp xã hội và chú trọng của cha mẹ vào tính độc lập và thành tích của đứa trẻ rất mạnh. Trẻ em của tầng lớp trung lưu được kỳ vọng phải có những thành tích cao, đặc biệt tại nhà trường, chúng buộc phải học cách độc lập ngay từ rất sớm. Các bà mẹ thuộc tầng lớp trung lưu luôn tìm cách phát triển khả năng trí tuệ và thành tích của đứatrẻ.

    – Ðối với phân tích về mối quan hệ giữa tầng lớp xã hội và truyền thống trong gia đình, trước nhất phải kể đến Bernstein. Ông đưa ra giả thiết: Các thành viên của các tầng lớp có những điều kiện sống và làm việc khác nhau. Những điều kiện về mặt cơ cấu xã hội này đã hình thành nên hai thứ ngôn ngữ với hai mã khác nhau: Mã hữu hạn và mã phức tạp (Mã là hệ th các tín hiệu có thể truyền đạt thông tin). Mã hữu hạn có cấu trúc đơn giản, sử dụng nhiều đại từ nhân xưng và câu hỏi phụ, không thể hiện được cá tính của người nói. Mã phức tạp có cấu trúc tương đối phức tạp, sử dụng nhiều tính từ, động từ., thể hiện được đặc trưng cá tính của người nói. Bernstein đã tiến hành khảo sát ngôn ngữ trẻ em thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau và đi đến nhận định rằng, trẻ em thuộc tầng lớp trung lưu có cả mã hữu hạn và mã phức tạp. Trong sử dụng, chúng có thể tùy theo hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để chọn dùng một trong hai mã. Trong khi đó thì con em của tầng lớp công nhân lao động chỉ có mã hữu hạn mà thôi. Mã phức tạp rất phù hợp với ngôn ngữ ở nhà trường, và như vậy, thành tích học tập của trẻ em thuộc các gia đình tầng lớp trung lưu cao hơn.

    Bernstein phân ra làm hai cơ cấu: “Cơ cấu đóng” khi hành vi của các thành viên trong gia đình được ấn định thông qua vị thế xã hội của họ (Mẹ, Cha, con trai, con gái) và “Cơ cấu mở” khi các thành viên trong gia đình được đối xử một cách uyển chuyển theo đặc điểm cá nhân của họ. Theo ông, một cơ cấu đóng khi các bậc cha mẹ có những kinh nghiệm làm việc hạn chế; một cơ cấu mở khi cha mẹ có những kinh nghiệm làm việc nhấn mạnh đến tính tự lập, sáng tạo. Và cơ cấu mở sẽ phù hợp với hệ thống tương tác và truyền thông hướng đến từng cá nhân trong gia đình; cơ cấu đóng sẽ hướng đến những vị thế của các thành viên trong gia đình.

    Theo Bernstein, sự tương tác hướng đến cá nhân sẽ tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng những tiềm năng cho hành động xã hội sau này của đứa trẻ.

    Vai trò của kinh nghiệm nghề nghiệp

    Ðể có thể mô tả và giải thích rõ hơn về hoàn cảnh sống, vật chất cũng như xã hội của các gia đình, từ những năm 70, những cuộc nghiên cứu được tiến hành với những phương pháp chính xác hơn nhằm phân tích những điều kiện nào của các hoàn cảnh sống đối với sự hình thành nhân cách. Nhà xã hội học M.L. Kohn (1981) cho rằng những điều kiện nghề nghiệp sẽ có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển nhân cách, những điều kiện này đo được bằng độ “tự khẳng định” ở nơi làm việc của các bậc cha mẹ. Theo Kohn, những điều kiện nghề nghiệp của các tầng lớp trên là yếu tố thuận lợi để các thành viên có thể đưa ra những ý kiến của riêng họ, và nhờ vậy đã tạo niềm tin về khả năng có được hành động duy lý, nhận thức rõ về mục tiêu. Ngược lại, điều kiện làm việc ở những tầng lớp dưới yêu cầu sự thích nghi. Và như thế, các bậc cha mẹ sẽ truyền tải lại những định hướng giá trị của họ vào quá trình giáo dục tại gia đình. Cha mẹ sẽ giáo dục cho con về một thế giới, thế giới đó có được do họ thu nhận trong quá trình làm việc. Thông qua đó, trẻ em sẽ được chuẩn bị những định hướng giá trị và lối sống giống như cha mẹ của chúng: tuân thủ, nhấn mạnh đến những ảnh hưởng từ bên ngoài đối với gia đình tầng lớp công nhân; độc lập, nhấn mạnh đến sự tự chủ ở những gia đình có hoàn cảnh sống thuận lợi. Ý kiến của Kohn đúng ở chỗ cha mẹ thông qua hành vi giáo dục sẽ chuyển tải những thái độ và kỳ vọng hành vi vào đứa trẻ, những thái độ và kỳ vọng mà họ cho rằng rất quan trọng nơi làm việc của họ. Nhưng như một số nhà xã hội học khác nhận xét, cơ chế của sự trung chuyển đó như thế nào thì nghiên cứu của Kohn chưa chỉ ra được.

    Tương tự như vậy, Steinkamp và Stief (1978) cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa những điều kiện làm việc của cha mẹ, trình độ giáo dục của cha mẹ và những mục tiêu giáo dục khác nhau và thực tiễn giáo dục khác nhau. Những điều kiện quan trọng trong thực tiễn giáo dục để tạo ra một hành vi tự chủ cho đứa trẻ được xây dựng trên một quá trình làm việc của cha mẹ với những tiềm năng đánh giá, tư duy, sáng kiến, khả năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng lập kế hoạch và tổ chức. Ngược lại, những nghề nghiệp ít có những đòi hỏi thậm chí không hề yêu cầu về tiềm năng tư duy và lập kế hoạch, không đòi hỏi những hành vi sáng tạo sẽ đem đến những thực tiễn giáo dục mang tính tuân thủ, thụ động.

    Không thể phủ định rằng có mối quan hệ giữa tầng lớp xã hội và những chiều cạnh của xã hội hóa gia đình, nhưng mối quan hệ đó không phải là mạnh. Hoặc nói theo ngôn ngữ thống kê: Phương sai được giải thích trong tất cả các trường hợp đều dưới 10%. Các cuộc nghiên cứu về quá trình xã hội hóa theo phân tầng xã hội đều tìm hiểu mối quan hệ giữa vị trí của một gia đình nằm trong thang bậc nào của sự phân tầng xã hội và chiến lược xã hội hóa của gia đình đó. Nhưng một điểm yếu của nghiên cứu xã hội hóa theo phân tầng xã hội là chỉ tập trung vào vị thế nghề nghiệp của người cha trong gia đình. Tuy người ta nói đến sự sở thuộc của một gia đình vào một tầng lớp xã hội nào đó, nhưng thật sự là chỉ nói đến một chỉ báo duy nhất, tức là người cha là thành viên của một nhóm nghề nghiệp nào trong xã hội.

    Còn người mẹ? Chúng ta biết rằng, cuộc sống hàng ngày trong mỗi gia đình phần lớn đều có sự hiện diện của người mẹ. Thời gian trung bình mà người cha dành cho sự nghiệp giáo dục con cái, rất ít so với người mẹ, và hoàn toàn độc lập nếu tính theo tuổi tăng dần của con cái, theo vị thế xã hội của người cha, theo nghề nghiệp của người mẹ. Nhà xã hội học chuyên nghiên cứu về quá trình xã hội hóa Bertram(1978) cho rằng, người mẹ trong định hướng giá trị cho hành động giáo dục con cái bị ảnh hưởng bởi người chồng. Bởi vì người chồng với những tài nguyên vật chất (thu nhập) và phi vật chất (uy thế) đảm nhiệm chức năng nuôi nấng gia đình đã ảnh hưởng đến không gian hành động của người vợ. Mặc dù khuôn mẫu phân công lao động truyền thống trong gia đình: người đàn ông đảm nhiệm chức năng nghề nghiệp và người phụ nữ đảm nhiệm chức năng nội trợ và nuôi dưỡng con cái dần dà không còn phổ biến, nhất là trong những xã hội có trình độ phát triển cao, nhưng chưa ai dám khẳng định có những thay đổi vào quá trình xã hội hóa của đứa trẻ. Và chúng ta vẫn có quyền phỏng đoán rằng, những phụ nữ làm việc ngoài xã hội ngày nay vẫn chú trọng đến công việc nội trợ và nuôi dạy con cái, và những kinh nghiệm làm việc mà người phụ nữ có được trong quá trình làm việc có ảnh hưởng thấp hơn là ảnh hưởng của mẫu hình “người đàn ông là trụ cột của gia đình”. Cho dù thời gian trung bình mà người cha dành cho con ít hơn người mẹ, điều đó chưa đủ để nói rằng chất lượng và cường độ của mối quan hệ cha- con thấp. Nhiều cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng người cha mang một chức năng rất lớn, họ là mẫu hình quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển về nhận thức, trí thông minh đối với đưa trẻ, đặc biệt là trẻ nam, nhưng những ảnh hưởng về đạo đức, tình cảm thì chưa được chứng minh rõ ràng lắm.

    Gia đình đóng một vai trò chủ đạo trong quá trình xã hội hóa tại gia đình, đặc biệt trong 10 năm đầu của đứa trẻ, gia đình là nhóm qui chiếu, nó điều khiển, và lựa chọn những loại hình giáo dục bên ngoài. Khi đứa trẻ tiếp tục học lên cao, ảnh hưởng này giảm dần, thay vào đó là những phương tiện truyền thông đại chúng và những nhóm bạn đồng lứa. Tuy vậy gia đình vẫn là nơi để duy trì ảnh hưởng vào việc tổ chức đời sống của thanh thiếu niên trong các định hướng về những chuẩn mực đạo đức và lập định kế hoạch về nghệ nghiệp tương lai. Gia đình vẫn là điểm tựa cho thanh thiếu niên.

    Bên cạnh vị trí nghề nghiệp của người cha, cần có những chỉ báo khác để có thể sử dụng phân tích vị trí xã hội và kinh tế của một gia đình trong cơ cấu xã hội: thu nhập, sở hữu, giáo dục, quyền lực, ảnh hưởng cũng như nhà ở, cơ sở hạ tầng tại nơi ở, độ lớn của nhà ở, thành phần xuất thân, truyền thống văn hóa của gia đình. Ðặc biệt có thể sử dụng “hoàn cảnh sống” để phân tích. Hoàn cảnh sống là những điều kiện sống giống nhau về mặt xã hội và vật chất của một nhóm người. Con người, trong những hoàn cảnh sống giống nhau hoặc khác nhau sẽ cảm nhận và phân tích những điều kiện sống của họ như thế nào.

    Trong xu thế xã hội hiện nay, những điều kiện sống ngày càng được cải thiện, những hoàn cảnh sống càng ngày càng khác biệt nhau, điều đó dẫn đến một xu hướng mới: đa dạng các lối sống trong xã hội hiện đại. Khó thể chỉ dựa vào yếu tố tầng lớp để làm điểm tựa khi nghiên cứu về quá trình xã hội hóa. Con người, tuy cùng một tầng lớp xã hội, nhưng có những hành động khác nhau, suy nghĩ khác nhau, giá trị khác nhau. Vì vậy mà nhà xã hội học Stefan Hradil đề nghị nên sử dụng khái niệm môi trường (Milieu) để giải thích những hoàn cảnh sống khác nhau sẽ có những thái độ, hành vi khác nhau hay nói cách khác những lối sống khác nhau. Những người có tôn giáo, truyền thống vùng, hoàn cảnh kinh tế, khuôn mẫu định hướng văn hóa giống nhau sẽ tạo nên những môi trường tương đối giống nhau. Các nhà xã hội học thường phân ra nhiều loại lối sống theo môi trường: Môi trường khóai lạc, môi trường tiểu tư sản, môi trường bảo thủ, môi trường công nhân, môi trường hướng đến thăng tiến. Nhờ vậy mà ta có thể giải thích tại sao xã hội Việt Nam hiện nay có những “trẻ em con nhà giàu phải vượt khó”, những cậu ấm, cô chiêu phải ngồi tù vì tội đua xe trái phép, hay những thủ khoa đại học con nhà nghèo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cái Tôi Và Quá Trình Xã Hội Hóa Cá Nhân
  • Các Hình Thức Xuất Khẩu Chủ Yếu
  • Nhận Ủy Thác Xuất Nhập Khẩu Là Gì?
  • Ủy Thác Nhập Khẩu Là Gì? Dịch Vụ Ủy Thác Xuất Nhập Khẩu Trọn Gói
  • Ủy Thác Xuất Nhập Khẩu Là Gì? Những Rủi Ro Trong Ủy Thác Xuất Nhập Khẩu
  • Một Số Khái Niệm Trong Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Loại Kiểm Soát Xã Hội
  • Bài 1: Các Khái Niệm Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • “xã Hội Thông Tin” Trông Ra Sao?
  • Xã Hội Truyền Thống: Định Nghĩa. Đặc Điểm Của Một Xã Hội Truyền Thống
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp (Csr) Là Gì ? Phân Tích Về Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp
  • MỘT SỐ KHÁI NIỆM TRONG XÃ HỘI HỌC

    I.CƠ CẤU XÃ HỘI:

    Là mô hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội. Những thành phần này

    tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu tính chất của các thành phần và các mối quan hệ

    giữa chúng biến đổi từ xã hội này sang xã hội khác.

    Nói đến cơ cấu xã hội là nói đến các yếu tố tạo nên một chỉnh thể xã hội và những mối quan hệ đa dạng, phức

    tạp giữa các cá nhân và các tổ chức xã hội. Theo định nghĩa trên (của Osipov) thì, cơ cấu xã hội sẽ bao gồm: vị

    thế và địa vị xã hội, vai trò, nhóm, các thiết chế xã hội.

    1. Vị thế xã hội:

    Vị thế là vị trí của một người trong cơ cấu tổ chức xã hội theo sự thẩm định, đánh giá của xã hội.

    Vị thế xã hội được tạo thành từ nhiều yếu tố khác nhau. Các cá nhân và nhóm xã hội xác lập chỗ đứng của

    mình dưới tác động của các yếu tố này. Chúng bao gồm các đặc điểm sinh lý, trình độ học vấn, tài sản, nghề

    nghiệp, dòng dõi…

    2. Địa vị xã hội:

    Là sự phản ánh vị thế xã hội của cá nhân, do cá nhân đạt được ở trong một nhóm hoặc là một thứ bậc trong

    nhóm này khi so sánh với thành viên trong nhóm khác.

    Vị thế xã hội tạo cho người hoạt động, và mỗi người trong xã hội tuy có nhiều vị thế xã hội khác nhau nhưng

    nhất định phải có một vị thế then chốt, trong trường hợp đó, người ta gọi là địa vị xã hội.

    3. Vai trò xã hội:

    Là những hành động, hành vi ứng xử, những khuôn mẫu tác phong mà xã hội chờ đợi hay đòi hỏi ở một người

    hay một nhóm xã hội nào đó phải thực hiện trên cơ sở vị thế của họ. Đây là một trong những khái niệm cơ bản

    của xã hội học.

    4. Nhóm xã hội:

    Một tập hợp các thành viên có những nét tương đồng với nhau về nghề nghiệp, khu vực cư trú, đặc trưng văn

    hoá, ngôn ngữ…không những thế họ còn có một ý thức chung và một sự kết cấu nào đấy với nhau trong hành

    động dựa trên những giá trị và mục tiêu thống nhất.

    5. Thiết chế xã hội:

    Là một cơ cấu tổ chức tương đối có tính cách vĩnh cửu, của những khuôn mẫu xã hội, vai trò và những tương

    quan con người thực hiện theo một số lề lối đã được chế tài và thống nhất với mục đích thoả mãn những nhu

    cầu xã hội căn bản.

    Dù định nghĩa thế nào thì khi đề cập đến thiết chế xã hội người ta nói đến một thực thể tổ chức xã hội mà thực

    thể ấy có sức mạnh mang tính kiểm soát xã hội.

    Đặc điểm (trang 80):

    – Thiết chế xã hội nảy sinh trên cơ sở điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.

    – Thiết chế xã hội tác động kìm hãm hay thúc đẩy ngược trở lại đối với điều kiện kinh tế – xã hội.

    – Thiết chế xã hội phản ánh tính giai cấp rõ rệt: mang tính giai cấp, mang hệ tư tưởng giai cấp thống trị và

    phản ánh quyền lợi của giai cấp đó.

    – Trong một xã hội, thường tồn tại nhiều thiết chế xã hội, các thiết chế này có vai trò tương hỗ, bổ sung cho

    nhau.

    – Thiết chế xã hội càng hoàn thiện thì xã hội càng phát triển, chúng xác định vị trí, chức năng của các cá

    nhânạnh mẽ đến đâu cũng khó có thể xoá bỏ hoàn toàn phần tự nhiên vốn có. Chính vì vậy mà không phải lúc

    nào con người cũng có thể hành động theo đúng chuẩn mực và quy tắc xã hội. Chính vì thế, xã hội chứ không

    ai khác, cần phải có những thiết chế, chế tài nhằm kiểm soát các hành vi có tính bản năng hoặc cố tình lệch

    chuẩn của con người.

    1

    – Theo quan điểm của Mac-xit, con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội. xã hội là tập hợp của nhiều

    cá nhân, trong đó mỗi cá nhân có một vị thế xã hội nhất định và họ xác lập mạng lưới quan hệ xã hội, dựa trên

    lợi ích và vị thế của quan hệ đó và họ tồn tại trong một cơ cấu xã hội. Quan hệ đó tạo nên một mạng lưới quan

    hệ chằng chịt và phức tạp. Vì vậy, để duy trì trật tự xã hội cần phải biết điều tiết các mối quan hệ xã hội phức

    tạp ấy sao cho chúng ở trạng thái cân bằng và không dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc xã hội.

    + Tạo các khuôn mẫu hành vi, có sẵn mang tính định chế

    + Đưa ra các khuôn mẫu vai trò.

    + Kiểm soát hành vi và việc thực hiên vai trò xã hội của cá nhân.

    Hạn chế (trang 83):

    Do phải duy trì, bảo vệ các khuôn mẫu hành vi nhằm ổn định xã hội cho nên chúng ít nhiều cản trở đến tốc độ

    của sự biến chyển, phát triển của xã hội. Đồng thời tính khuôn mẫu đã hạn chế tính đột phá, sáng tạo của cá

    nhân và đôi khi họ trở nên thiếu trách nghiệm trong việc thay đổi hay xoá bỏ các định chế đã lõi thời.

    6. Hành động xã hội:

    Đây là một khái niệm xã hội căn bản trong xã hội học được M. Weber đặc biệt quan tâm, theo ông hành động

    xã hội:

    --- Bài cũ hơn ---

  • I. Khái Niệm Tệ Nạn Xã Hội Và Các Dấu Hiệu Đặc Trưng
  • Qui Luật Kinh Tế (Economic Laws) Là Gì? Tính Chất Của Qui Luật
  • Xã Hội Và Đặc Điểm Cơ Bản Của Qui Luật Xã Hội
  • Khái Niệm Quy Luật Xã Hội? Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Quy Luật Xã Hội Và Hoạt Động Có Ý Thức Của Con Người Cau 23 Doc
  • Hiệu Quả Kinh Tế Và Vai Trò Của Việc Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Trong Sản Xuất Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì?
  • Khái niệm “tồn tại xã hội” và “ý thức xã hội” phản ánh hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội.

    Nội dung bài viết bao gồm:

    • a. Khái niệm “tồn tại xã hội” và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
    • b. Ý thức xã hội và hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội
    • c. Các hình thái ý thức xã hội

    a. Khái niệm “tồn tại xã hội” và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội

    Khái niệm “tồn tại xã hội” dùng để chỉ mặt sinh hoạt (hoạt động) vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội; tức là các điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn, phát triển của xã hội.

    Xét về thực chất, hoạt động vật chất của xã hội chính là hoạt động thực tiễn mà trước hết và cơ bản là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự sinh tồn và phát triển của xã hội; đồng thời, gắn liền với hoạt động đó còn là quá trình hình thành, phát triển của các hình thức, phương thức giao tiếp, trao đổi kết quả của sản xuất vật chất giữa con người với nhau cũng như giữa các cộng đồng xã hội khác nhau.

    Các điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn và phát triển của mỗi xã hội bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó có ba yếu tố cơ bản là điều kiện tự nhiên, dân cư và phương thức sản xuất; trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quy định sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội.

    Điều kiện địa lí tự nhiên với tư cách là yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội – đó là toàn bộ những điều kiện vật chất tự nhiên tạo thành những điều kiện khách quan cho sự sinh tồn và phát triển của cộng đồng người trong lịch sử. Một cách hiển nhiên, không thể có cộng đồng người nào, dù là xã hội nguyên thủy hay xã hội hiện đại, có thể tồn tại ngoài những điều kiện vật chất tự nhiên nhất định. Giới tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người. Chính từ trong điều kiện tự nhiên mà con người có thể thực hiện quá trình trao đổi chất, tiến hành sản xuất, cung cấp những điều kiện vật chất đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của mình.

    Yếu tố dân cư bao gồm toàn bộ các phương diện về số lượng, cơ cấu, mật độ phân bố, cấu trúc tổ chức dân cư….tạo thành điều kiện vật chất khách quan đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của xã hội. Thí dụ, cấu trúc cư dân nông nghiệp lúa nước ở Việt Nam, với tổ chức làng xã ổn định có những khác biệt khá lớn so với cách thức cấu trúc dân cư của các cộng đồng dân du mục thường xuyên di động. Sự phân bố và tổ chức dân cư trong xã hội nông nghiệp truyền thống cũng có sự khác biệt cơ bản với xã hội công nghiệp – thị trường ở các nước có trình độ sản xuất vật chất phát triển cao. Trong các xã hội nông nghiệp truyền thống, tổ chức dân cư thường phân tán, tách biệt với quy mô nhỏ, đó là các mô hình “công xã nông thôn” (mô hình tổ chức làng, bản…), việc quan hệ trao đổi hàng hóa rất hạn chế, chỉ là sự liên kết ngẫu nhiên. Ngược lại, trong các xã hội công nghiệp phát triển gắn kết với phương thức kinh tế thị trường, tổ chức dân cư cũng có những biến đổi cơ bản. Đó là quá trình di dân làm hình thành nên những khu công nghiệp và thành thị với quy mô lớn, nhằm tạo ra những điều kiện tiền đề khách quan cho quá trình phát triển nền sản xuất vật chất hiện đại.

    Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên và dân cư là những yếu tố tiền đề cho việc xác lập một phương thức sản xuất nhất định, đồng thời các yếu tố đó cũng biến đổi theo yêu cầu khách quan của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử.

    Phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp quy định sự sinh tồn, phát triển của mỗi con người cũng như của toàn bộ cộng đồng xã hội, quy định trực tiếp phương thức hoạt động vật chất của mỗi xã hội. Phương thức sản xuất nào cũng được tạo nên từ hai mặt, đó là mặt vật chất – kĩ thuật của quá trình sản xuất (biểu hiện tập trung ở trình độ phát triển phương thức kĩ thuật, công nghệ) và mặt kinh tế – xã hội của quá trình ấy (thể hiện tiêu biểu ở trình độ phát triển của phương thức tổ chức kinh tế). Trong hai mặt đó, mặt kinh tế – xã hội phụ thuộc tất yếu vào trình độ phát triển của mặt vật chất – kĩ thuật; nó trực tiếp quy định tính chất và trình độ phát triển của một tồn tại xã hội nhất định.

    Thí dụ, phương thức sinh tồn cơ bản và truyền thống của cư dân người Việt trong lịch sử là phương thức kĩ thuật canh nông lúa nước với trình độ công cụ và lao động thủ công (xét về mặt phương thức kĩ thuật). Thích ứng với phương thức kĩ thuật đó là phương thức tổ chức kinh tế với quy mô nhỏ và phân tán theo nguyên lí lấy tổ chức kinh tế hộ gia đình cùng cấu trúc tổ chức “công xã nông thôn” hay làng xã truyền thống làm cơ sở (phương thức tổ chức kinh tế). Giữa các công xã đó chỉ có sự liên kết không thường xuyên qua hình thức trao đổi hàng hóa dư thừa tương đối để đảm bảo sự cân bằng trong sinh hoạt vật chất giữa các cộng đồng người. Phương thức tổ chức kinh tế ấy là cơ sở trực tiếp quy định tính ổn định theo nhịp điệu tuần hoàn lặp đi lặp lại giữa các chu kì theo tính chất mùa vụ của quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nền sản xuất nông nghiệp truyền thống. Trong lịch sử, người Việt Nam về cơ bản là theo phương thức sản xuất đó.

    Giữa các yếu tố hợp thành tồn tại xã hội có mối quan hệ quy định và chi phối lẫn nhau, tạo nên sự biến đổi trong lĩnh vực hoạt động, sinh hoạt vật chất khách quan của mỗi cộng đồng xã hội. Trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quy định trình độ phát triển của tồn tại xã hội. Khi phương thức sản xuất có sự phát triển nhờ những tiến bộ về kĩ thuật, công nghệ sản xuất, tất yếu sẽ dẫn tới những biến đổi trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên và cơ cấu, phân bố dân cư để đảm bảo cho quá trình xác lập phương thức sản xuất mới.

    Thí dụ, xuất phát từ tính chất đặc thù về điều kiện tự nhiên của đất nước, người Việt Nam trong lịch sử đã tiến hành quá trình sản xuất theo phương thức canh nông lúa nước. Để tiến hành quá trình đó nhất định con người phải liên kết lại dưới hình thức tổ chức lao động gia đình và tổ chức dân cư theo mô hình làng xã ổn định, bền vững. Sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản đó tạo thành điều kiện khách quan cho sự sinh tồn và phát triển của người Việt Nam. Đó cũng chính là cơ sở hiện thực quy định những nội dung và tính chất cơ bản nhất trong đời sống tinh thần, truyền thống của người Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình công nghệ hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp hiện nay tất yếu dẫn tới sự biến đổi trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên truyền thống và làm thay đổi cấu trúc nông thôn Việt Nam sang một hình thức mới, trên cơ sở đó dẫn tới sự biến đổi, phát triển đời sống văn hóa – tinh thần của nông thôn mới và con người mới.

    b. Ý thức xã hội và hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội

    Khái niệm: ý thức xã hội, ý thức cá nhân và ý thức giai cấp

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ mặt tinh thần của đời sống xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội; bao gồm trong đó toàn bộ đời sống tư tưởng và tâm lí xã hội, được biểu hiện phong phú trong sinh hoạt tư tưởng, văn hóa, tập quán…của mỗi cộng đồng xã hội.

    Thuộc về đời sống tinh thần của xã hội, ý thức xã hội không tự tồn tại cảm tính như các hình thức tồn tại của vật chất tự nhiên mà phải thông qua các hình thức văn hóa của xã hội. Thông thường có thể nhận biết nó qua ba hình thức cơ bản và phổ biến: 1) Các sinh hoạt tư tưởng mang tính học thuật như: sinh hoạt chính trị, pháp luật, khoa học… của cộng đồng xã hội; 2) Các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng và xã hội như: sinh hoạt lễ hội truyền thống, tôn giáo, nghệ thuật…; 3) Các tập tục và nếp sống mang đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng người.

    Ngoài ra, ý thức xã hội với tư cách là “cái chung” thuộc đời sống tinh thần của cộng đồng xã hội còn biểu hiện trực tiếp qua nhận thức và nếp sống của mỗi cá nhân con người với tư cách là thành viên của nó. Trong trường hợp này, ý thức cá nhân tồn tại với tư cách là “cái riêng” trong đó có sự biểu hiện của “cái chung” là ý thức xã hội mà ít hay nhiều cá nhân đó đã tiếp nhận được từ sự giáo dục của xã hội.

    Thí dụ, tình cảm yêu nước của dân tộc Việt Nam là cái chung, thể hiện một cách phong phú ở đời sống tình cảm và sinh hoạt của mỗi người Việt Nam trong lịch sử, với mức độ và phương thức biểu hiện khác nhau ở mỗi con người cụ thể, ở mỗi hoàn cảnh cụ thể.

    Ý thức giai cấp và tính giai cấp của ý thức xã hội.

    Khái niệm ý thức giai cấp dùng để chỉ ý thức đặc thù của mỗi giai cấp, phản ánh địa vị và lợi ích của mỗi giai cấp đó trong xã hội. Thí dụ, có sự đối lập giữa ý thức hệ tư tưởng của giai cấp tư sản và hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, phản ánh địa vị và lợi ích căn bản đối lập giữa hai giai cấp ấy trong đời sống xã hội.

    Khác với khái niệm ý thức giai cấp, khái niệm tính giai cấp của ý thức xã hội là khái niệm dùng để chỉ tính chất của ý thức xã hội trong điều kiện mỗi cộng đồng người có sự phân hóa thành các giai cấp nhất định. Thí dụ, trong một cộng đồng dân tộc có sự phân hóa giai cấp thì ý thức dân tộc đó cũng có tính giai cấp và bị chi phối bởi tính giai cấp.

    Trong xã hội có sự phân hóa giai cấp thì ý thức của các giai cấp có sự ảnh hưởng qua lại với nhau. Trong nhiều trường hợp, đời sống tinh thần của giai cấp này không thể không chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố thuộc đời sống tinh thần của các giai cấp khác. Thông thường, ý thức của giai cấp thống trị bao giờ cũng có ảnh hưởng lớn nhất tới ý thức của các giai cấp khác và giữ địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội.

    Mác và Ăngghen viết: “Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.

    Như vậy, khi nghiên cứu về ý thức xã hội, một mặt cần phân tích ý thức giai cấp với tư cách là hiện tượng ý thức đặc trưng, đặc thù của mỗi giai cấp nhất định; mặt khác, cũng cần phải phân tích tính giai cấp của ý thức xã hội, sự ảnh hưởng lẫn nhau về phương diện ý thức giai cấp mới có thể có được cách nhìn nhận đúng đắn về đời sống tinh thần phong phú của mỗi cộng đồng người.

    – Hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội

    Có hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là trình độ phản ánh ở tầm tâm lí xã hội (tình cảm, khát vọng, ý chí….chung của cộng đồng xã hội) và trình độ phản ánh ở tầm các tư tưởng xã hội (các quan niệm, quan điểm chung, có tính chất phổ biến trong mỗi cộng đồng xã hội nhất định) mà hình thức phát triển cao nhất của nó là các học thuyết, các lí luận xã hội, cũng tức là sự phát triển của các tư tưởng xã hội đạt đến cấp độ là hệ tư tưởng xã hội.

    Thí dụ, tình cảm yêu nước, ý chí độc lập tự cường, khát vọng độc lập, tự do…. của cộng đồng dân tộc Việt Nam là sự phản ánh ở trình độ tâm lí xã hội; còn chủ nghĩa yêu nước với những quan niệm, quan điểm về dân tộc độc lập, quyền tự quyết định vận mệnh dân tộc, không có gì quý hơn độc lập tự do… của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước là trình độ phản ánh ở cấp độ hệ tư tưởng xã hội. Toàn bộ đời sống tâm lí và tư tưởng xã hội ấy hợp lại thành tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam.

    Tâm lí xã hội là bộ phận ý thức xã hội phản ánh trực tiếp và tự phát đối với tồn tại xã hội, đối với hoàn cảnh sống khách quan của cộng động, được cấu thành từ các nhân tố tình cảm, khát vọng, ý chí… của các cộng đồng người nhất định. Thí dụ, tình cảm yêu quê hương đất nước, ý chí độc lập tự cường, khát vọng tự do… của cộng đồng người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử là thuộc đời sống tâm lí xã hội.

    Tâm lí xã hội khi đã trở thành yếu tố bền vững của một cộng đồng người thì nó thường được thể hiện trong các phong tục, tập quán…của cộng đồng đó. Khi đó chúng đã được văn hóa và trở thành các thành tố quan trọng trong nền văn hóa truyền thống. Thí dụ, trong truyền thống của người Việt Nam, tình cảm yêu nước, khát vọng độc lập, tình yêu quê hương xóm làng… đã được thăng hoa thành một nét đẹp truyền thống, được thể hiện qua các biểu tượng văn hóa, các lễ hội, các sinh hoạt văn hóa dân gian… Những yếu tố này giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hiện thực của cộng đồng.

    Tư tưởng xã hội là bộ phận ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách tự giác và gián tiếp; chúng tồn tại dưới hình thức là những quan niệm, quan điểm có tính chất phổ biến trong một cộng đồng người. Thí dụ, tinh thần yêu nước của người Việt Nam không phải chỉ được phân tích từ giác độ là tình cảm yêu nước, ý chí độc lập…mà còn được phân tích từ giác độ là những quan niệm, quan điểm về dân tộc và dân tộc độc lập… thậm chí có thể đạt tới tầm là chủ nghĩa yêu nước – tức hệ thống quan niệm, quan điểm nhất định. Như vậy, giữa khái niệm tư tưởng xã hội và khái niệm hệ tư tưởng xã hội là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất. Về mặt ngoại diên, khái niệm hệ tư tưởng xã hội nằm trong khái niệm tư tưởng xã hội. Tư tưởng xã hội không nhất thiết ở tầm hệ tư tưởng xã hội, chỉ khi những quan niệm của con người đạt tới trình độ có tính hệ thống thì khi đó nó trở thành hệ tưởng xã hội. Thí dụ, những triết lí trong cuộc sống của một cộng đồng xã hội chưa phải là ở trình độ hệ tư tưởng xã hội nhưng nó không phải là yếu tố tâm lí xã hội với đặc tính phản ánh tự phát và trực tiếp đối với hoàn cảnh sống của cộng đồng.

    Tâm lí xã hội và tư tưởng xã hội là hai lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần của mỗi cộng đồng người nhất định nên có mối quan hệ biện chứng với nhau và đều cùng bị quy định bởi tồn tại xã hội của cộng đồng đó, do vậy giữa chúng có thể phát sinh mối quan hệ cộng hưởng. Tuy nhiên, đây là hai trình độ và phương thức phản ánh khác nhau đối với tồn tại xã hội nên giữa chúng cũng có thể phát sinh mối quan hệ loại trừ – bất cộng hưởng, có thể làm triệt tiêu các giá trị của nhau ở một mức độ nhất định và ở một số phạm vi nhất định. Thí dụ, trong tinh thần yêu nước của người Việt Nam thì giữa tình cảm yêu nước và tư tưởng yêu nước thường phát sinh quan hệ cộng hưởng, bổ sung cho nhau, được thể hiện song trùng và tích hợp trong mỗi hoạt động của cộng đồng. Ngay trong một lễ hội truyền thống của người Việt Nam đã có sự tích hợp và cộng hưởng giữa tình cảm và nhưng quan niệm, thậm chí có thể đạt tới những triết lí sống thể hiện những quan niệm về đất nước và dân tộc. Ngay trong “Bài thơ thần” tương truyền của Lý Thường Kiệt đã bao hàm trong đó cả khát vọng, ý chí và quan niệm thuộc tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hệ tưởng xã hội không phải là cái được nảy sinh trên cơ sở tâm lí xã hội. Cũng không phải có tâm lí xã hội thì sẽ có được tư tưởng và hệ tư tưởng xã hội. Sở dĩ như vậy là vì phương thức hình thành của tâm lí xã hội và hệ tư tưởng xã hội là khác nhau. Vấn đề là ở chỗ, nếu tư tưởng xã hội và tâm lí xã hội có sự phù hợp với nhau thì sẽ phát sinh mối quan hệ cộng hưởng, ngược lại sẽ phát sinh mối quan hệ loại trừ.

    c. Các hình thái ý thức xã hội

    Phân tích đời sống tinh thần của xã hội thành các hình thái ý thức xã hội là một phương pháp tiếp cận phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Phương pháp tiếp cận như vậy cho thấy tính chất phong phú của đời sống tinh thần của xã hội bởi vì mỗi hình thái ý thức xã hội đều có những đặc trưng riêng của nó. Đó là các hình thái ý thức xã hội đều có những đặc trưng riêng của n ó. Đó là các hình thái ý thực: chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, khoa học, thẩm mĩ… Mỗi hình thái ý thức xã hội đều bao gồm trong nó hai trình độ phản ánh là trình độ phản ánh tâm lí và trình độ phản ánh ở mức độ tư tưởng xã hội. Tuy nhiên, về cơ bản, các hình thái ý thức xã hội thường được phân tích ở trình độ là hệ tư tưởng xã hội.

    – Hình thái ý thức chính trị

    Hình thái ý thức chính trị là hình thái ý thức chỉ xuất hiện và tồn tại trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia, cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước.

    Hệ tư tưởng chính trị của một giai cấp nhất định phản ánh trực tiếp tập trung lợi ích giai cấp của chính nó. Hệ tư tưởng chính trị được thể hiện trong đường lối, cương lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trong luật pháp, chính sách nhà nước, công cụ của giai cấp thống trị. Hệ tư tưởng chính trị được hình thành một cách tự giác. Nó được các nhà tư tưởng của giai cấp xây dựng và truyền bá. Hệ tư tưởng chính trị gắn với các tổ chức chính trị. Thông qua các tổ chức chính trị mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh về ý thức hệ vì lợi ích của giai cấp của mình.

    Ý thức chính trị (đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Thông qua tổ chức nhà nước, nó tác động trở lại cơ sở kinh tế và có thể, trong những giới hạn nhất định thay đổi cơ sở kinh tế. Hệ tư tưởng chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, đồng thời thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác.

    Tác động tích cực hoặc tiêu cực của hệ tư tưởng chính trị (cũng như ý thức chính trị nói chung) phụ thuộc vào tính chất tiến bộ, cách mạng hoặc phản tiến bộ, phản cách mạng của giai cấp mang hệ tư tưởng đó. Khi giai đoạn còn tiến bộ, cách mạng – tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của lịch sử, thì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác dụng tích cực đến sự phát triển xã hội. Khi giai cấp đó trở thành lạc hậu, phản động, thì hệ tư tưởng chính trị của nó tác động tiêu cực, kèm hãm sự phát triển xã hội.

    – Hình thái ý thức pháp quyền

    Hình thái ý thức pháp quyền là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ cho nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội, cùng với nhận thức và tình cảm của con người trong việc thực thi luật pháp của nhà nước.

    Cũng như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước. Giữa hai hình thái này có sự gần nhau về cả nội dung và hình thức. Ý thức pháp quyền phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết là các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật.

    Trong xã hội có giai cấp, pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện thành luật, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm chính quyền. Nhưng trong xã hội có giai cấp đối kháng, các giai cấp khác nhau lại có những ý thức khác nhau về pháp luật, phản ánh lợi ích của giai cấp mình. Do đó, hiệu lực của pháp luật không những phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật của xã hội.

    – Hình thái ý thức đạo đức

    Hình thái ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm, những hiểu biết và các trạng thái xúc cảm tâm lí chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.

    Hình thái ý thức đạo đức là một trong những hình thái ý thức ra đời từ rất sớm trong lịch sử, ngay từ xã hội nguyên thủy.

    Sự ý thức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng… phản ánh khả năng tự chủ của con người là sức mạnh đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản quy định đạo đức của con người, cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con người. Với ý nghĩa đó, sự phát triển ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ xã hội.

    Trong ý thức đạo đức, yếu tố tình cảm đạo đức là yếu tố đặc biệt quan trọng, nếu thiếu nó thì những khái niệm, phạm trù đạo đức và mọi tri thức đạo đức thu nhận được bằng con đường lí tính không thể chuyển hóa thành hành vi đạo đức.

    Trong tiến trình phát triển của xã hội đã hình thành những giá trị đạo đức mang tính toàn nhân loại, tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khác nhau. Đó là những quy tắc đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi của con người, cần thiết cho việc giữ gìn trật tự xã hội chung và sinh hoạt thường ngày của mọi người.

    Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, nội dung chủ yếu của đạo đức phản ánh quan hệ giai cấp và có tính giai cấp. Trong các phạm trù đạo đức thường phản ánh địa vị và lợi ích của giai cấp. Mỗi giai cấp trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội đều có những quan niệm đạo đức riêng của mình. Giai cấp tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của xã hội thì đại diện cho một nền đạo đức tiến bộ, còn các giai cấp phản động thì đại diện cho một nền đạo đức suy thoái. Ăngghen viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp, hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức”.

    – Hình thái ý thức khoa học

    Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, hình thái ý thức khoa học là hệ thống tri thức phản ánh chân thực dưới dạng logic trừu tượng về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Đối tượng phản ánh của ý thức khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là một trong những sự khác biệt giữa ý thức khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác.

    Hình thức biểu hiện chủ yếu của ý thức khoa học là phạm trù, định luật, quy luật,… Ý thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác, hình thành các khoa học tương ứng với từng hình thái ý thức đó. Thí dụ: Ý thức chính trị và chính trị học, ý thức đạo đức và đạo đức học, ý thức nghệ thuật và nghệ thuật học… Nhờ ý thức khoa học, con người không ngừng vươn tới cái mới, sáng tạo ra “thế giới nhân tính hóa” và ngày càng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình.

    Xét theo đối tượng nghiên cứu, có thể phân chia khoa học thành: khoa học tự nhiên; khoa học xã hội – nhân văn và khoa học về tư duy. Các khoa học đó đều có mục đích khám phá những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học là một khoa học bởi nó nghiên cứu những quy luật chung nhất của mọi tồn tại trong tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng nên phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Trong mỗi khoa học có thể phân chia thành các cấp độ kinh nghiệm và lí luận (hay lí thuyết). Cấp độ kinh nghiệm là những tư liệu hiện thực đã tích lũy được qua sự tổng kết quan sát và thí nghiệm; lí luận là sự khái quát kinh nghiệm thể hiện trong những lí thuyết về quy luật và nguyên lí tương ứng. Cấp độ lí luận của các khoa học cụ thể kết hợp với nhau trong sự giải thích các nguyên lí và quy luật chung được phát hiện ở tầm nghiên cứu triết học, hình thành thế giới quan và phương pháp luận của toàn bộ nhận thức khoa học.

    – Hình thái ý thức thẩm mĩ

    Hình thái ý thức thẩm mĩ là sự phản ánh hiện thực vào ý thức con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức và sáng tạo “cái đẹp”. Trong các hình thức hoạt động thưởng thức và sáng tạo cái đẹp thì nghệ thuật là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm mĩ.

    Nghệ thuật ra đời từ rất sớm, ngay từ khi xã hội chưa phân chia thành giai cấp. Quá trình hình thành nghệ thuật gắn liền với lao động của con người, với thực tiễn xã hội. Những dấu vết đầu tiên của nghệ thuật đều thuộc về thời kì con người đã biết sản xuất ra những công cụ bằng đá, xương, sừng…

    Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, nghệ thuật bắt nguồn từ tồn tại xã hội. Nếu khoa học và triết học phản ánh thế giới hiện thực bằng khái niệm, phạm trù, quy luật thì nghệ thuật lại phản ánh thế giới một cách sinh động, cụ thể bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật tuy cũng phản ánh bản chất của đời sống hiện thực nhưng phản ánh thông qua cái cá biệt, cụ thể – cảm tính, sinh động. Hình tượng nghệ thuật cũng nhận thức cái chung trong cái riêng, nhận thức cái bản chất trong cái hiện tượng, nhận thức cái phổ biến trong cái cá biệt, song cái cá biệt trong nghệ thuật phải là cái cá biệt có tính điển hình và nếu nhà nghệ thuật tạo ra cái điển hình thì phải là cái điển hình đã được cá biệt hóa.

    Sự phát triển của nghệ thuật, cả về nội dung và hình thức, không thể tách khỏi sự phát triển của tồn tại xã hội. Nhưng nghệ thuật có tính độc lập tương đối rất rõ nét trong sự phát triển của mình. Nó không phải bao giờ cũng phản ánh tồn tại xã hội một cách trực tiếp, dễ thấy.

    Nghệ thuật chân chính gắn bó với đời sống hiện thực của nhân dân; là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ xã hội thông qua việc đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ của con người. Khi phản ánh thế giới hiện thực trong các hình tượng nghệ thuật chân thực và có giá trị thẩm mĩ cao, nghệ thuật đã tác động đến lí trí và tình cảm của con người, kích thích tính tích cực của con người, xây dựng ở con người những hành vi đạo đức tốt đẹp.

    Trong xã hội có giai cấp, nghệ thuật bao giờ cũng mang tính giai cấp. Tính giai cấp của nghệ thuật biểu hiện trước hết ở chỗ nó không thể k hông chịu sự tác động của thế giới quan, các quan điểm chính trị của một giai cấp, không thể đứng ngoài chính trị và các quan hệ kinh tế. Do vậy không thể phủ nhận được mối liên hệ giữa nghệ thuật và chính trị.

    Khi nhấn mạnh tính giai cấp của nghệ thuật trong xã hội có giai cấp, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin không phủ nhận tính nhân loại chung của nó. Không ít tác phẩm nghệ thuật mà giá trị của chúng được lưu truyền khắp thế giới qua các thời đại, mặc dù tác giả là đại biểu của một giai cấp nhất định. Có những nền nghệ thuật của một dân tộc nhất định nhưng đã trở thành những giá trị văn hóa tiêu biểu của cả nhân loại. Tính giai cấp của nghệ thuật cách mạng và tiến bộ không những không mâu thuẫn với tính nhân loại, mà ngược lại còn làm sâu sắc những giá trị toàn nhân loại.

    – Hình thái ý thức tôn giáo

    Ý thức tôn giáo với tư cách là hình thái ý thức xã hội bao gồm tâm lí tôn giáo và tư tưởng tôn giáo.

    Tâm lí tôn giáo là toàn bộ những biểu tượng, tình cảm, tâm trạng thói quen của quần chúng về tín ngưỡng tôn giáo. Tư tưởng tôn giáo là các quan niệm, quan điểm tôn giáo do các giáo sĩ, các nhà thần học tạo ra và truyền bá trong xã hội. Đứng về mặt lịch sử, tâm lí tôn giáo và tư tưởng tôn giáo là hai giai đoạn phát triển của ý thức tôn giáo, nhưng chúng liên hệ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau.

    Ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thực hiện “chức năng đền bù hư ảo” trong một xã hội cần đến sự đền bù hư ảo. Chức năng đó làm cho tôn giáo có một đời sống lâu dài, một vị trí đặc biệt trong xã hội. Chức năng đền bù hư ảo nói lên khả năng của tôn giáo có thể bù đắp, bổ sung tâm lí hay tư tưởng cho cái hiện thực mà trong đó con người còn bất lực, chưa làm chủ được trước những sức mạnh tự nhiên và những điều kiện khách quan của đời sống xã hội. Những mâu thuẫn của đời sống hiện thực, những bất lực trong thực tiễn của con người được giải quyết theo phương thức đền bù hư ảo trong ý thức của họ. Vì vậy, trong lịch sử, tôn giáo đã từng được một số giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ để thực hiện sự cai trị của nó.

    Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, điều kiện tiên quyết để khắc phục những hạn chế của tôn giáo (với tư cách là một hình thái ý thức xã hội) là phải xóa bỏ nguồn gốc xã hội của nó, nghĩa là phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội triệt để nhằm cải tạo cả tồn tại xã hội lẫn ý thức xã hội. Bằng hoạt động tích cực cách mạng của mình, quần chúng không những cải tạo xã hội mà còn cải tạo bản thân, giải phóng ý thức mình khỏi những quan niệm sai lầm, những ảo tưởng tôn giáo trong đời sống tinh thần của chính họ. Mặt khác, trong ý thức tôn giáo cũng bao hàm những nhân tố tư tưởng tích cực cần được nghiên cứu, kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Khái Niệm Về Nhân Cách Trong Xã Hội Học Là Một Thành Viên Có Ý Thức Của Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Khái Niệm Chung Về Nhân Cách
  • Bàn Về Khái Niệm Và Chỉ Báo Đo Lường Dư Luận Xã Hội
  • Xã Hội Học : Đối Tượng Và Phương Pháp (É. Durkheim, 1895)
  • Nghiên Cứu Xã Hội Học Ở Việt Nam
  • 9 Khái Niệm Tâm Lý Học Quan Trọng Áp Dụng Trong Marketing
  • Man – sự sáng tạo tuyệt vời nhất của thiên nhiên, mà tìm cách biết mình. Niềm đam mê về nguồn gốc và sự phát triển không bị khô theo thời gian, và khám phá xã hội học đang ngày càng khuyến khích hành động trong lĩnh vực này. Đó cũng bao gồm các khái niệm về nhân cách trong xã hội học? Bài viết này sẽ cống hiến công bố phổ biến của vấn đề.

    Tính cách phân loại trong xã hội học dựa trên thực tế là một người biến thành một người vì một lý do, và nhờ vào việc tổ chức cơ thể tinh thần khuyến khích sự sáng tạo để đạt được mục tiêu. Đây là điều kiện thuận lợi bởi mức độ phát triển ngôn luận và văn bản, khả năng khái quát các tính chất của các hiện tượng và phát triển tài nguyên thiên nhiên để tạo ra các hiện tượng văn hóa mới.

    Trong trường hợp đầu tiên – đó là một thành viên tích cực trong các hoạt động đó được xác định bởi họ tự do và tập trung vào kiến thức và thay đổi thế giới. một người như vậy có khả năng xác định lối sống của họ và cung cấp cho lòng tự trọng của hành động của mình và khả năng cá nhân. Cô sống và làm việc phù hợp với các chuẩn mực xã hội và đạo đức, có một tâm trí quan trọng, kiểm soát bản thân và hành động của họ, chịu trách nhiệm cho họ và được thành thạo trong tình hình, tìm đúng cách để giải quyết vấn đề.

    Một khái niệm của cá nhân trong xã hội học được xem thông qua đó tập hợp các hàm và vai trò phân bổ cho nó trong xã hội. Qua họ, ông thể hiện bản thân và hành vi theo tình hình và hoàn cảnh. Một ví dụ là hai mối quan hệ khác nhau giữa các thành viên lớn tuổi và trẻ hơn của hệ thống gia tộc và xã hội hiện đại.

    Đồng thời thực hiện nhiều vai trò, ví dụ, một người đàn ông lao động, gia đình, một vận động viên, và những người khác, những người có hành vi như vậy, mà thể hiện ý thức và tích cực, nhưng theo những cách khác nhau. Nó có thể là một người đàn ông trong gia đình tốt, nhưng không phải là một nhân viên rất siêng năng, và ngược lại. Người này không thể thờ ơ với bất kỳ bên của cuộc sống của bạn. Nó không cho phép thờ ơ và dửng dưng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Nhu Cầu
  • Nhu Cầu Là Gì? Tháp Nhu Cầu Trong Marketing
  • Nhu Cầu Là Gì? Đặc Điểm Của Nhu Cầu Trong Tâm Lý Học
  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập Nhằm Chấn Hưng Nền Giáo Dục Ở Việt Nam
  • Xã Hội Học Tập Là Xu Thế Mới Của Nhân Loại
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100