Sốt Là Gì? Làm Gì Khi Bị Sốt

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Nấu Thịt Bò Sốt Vang Miền Bắc Ngon Đúng Điệu Cho Cả Nhà
  • Molten Lava Cake (Công Thức Mới)
  • Sốt Mò Là Gì? Cách Điều Trị Thế Nào? Dược Điển Việt Nam
  • Miso Là Gì? Top #6 Lợi Ích Của Miso
  • Sốt Mayonnaise, Giá Cập Nhật 2 Giờ Trước
  • Nhiệt độ của cơ thể thay đổi như thế nào trong ngày?

    Nhiệt độ cơ thể bình thường của con người có thể thay đổi và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như ăn uống, tập thể dục, ngủ và thời gian trong ngày.

    Nhiệt độ cơ thể của chúng ta thường cao nhất vào khoảng 6 giờ chiều. và ở mức thấp nhất vào khoảng 3 giờ sáng.

    Tại sao chúng ta lại bị sốt?

    Nếu bị sốt, đây là tất cả những điều bạn cần biết để xử lý đúng cách – Ảnh 2.

    Nhiệt độ cơ thể tăng cao, hoặc sốt, là một trong những cách mà hệ miễn dịch của chúng ta cố gắng chống lại tác nhân nhiễm trùng.

    Tuy nhiên, đôi khi nó có thể tăng quá cao, trong trường hợp đó, sốt có thể nghiêm trọng và dẫn đến biến chứng.

    Khi bị sốt, chúng ta sẽ có triệu chứng gì?

    Khi bị sốt, chúng ta thường đi kèm với các triệu chứng sau đây:

    * Mất nước – ngăn ngừa bằng cách uống nhiều nước

    Điều trị sốt bằng cách nào?

    Nếu bị sốt, đây là tất cả những điều bạn cần biết để xử lý đúng cách – Ảnh 3.

    Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) như Tylenol (paracetamol) hoặc ibuprofen có thể giúp hạ sốt.

    Bạn có thể mua tại các tiệm thuốc tây mà không cần toa của bác sĩ. Tuy nhiên, sốt nhẹ có thể giúp chống lại vi khuẩn hoặc vi-rút gây nhiễm trùng. Vì vậy không nên hạ sốt nếu chỉ sốt nhẹ.

    Nếu sốt do bởi một nhiễm trùng do vi khuẩn, bác sĩ có thể kê đơn thuốc kháng sinh.

    Nếu bị sốt do cảm lạnh gây ra do nhiễm virus, NSAID có thể được sử dụng để làm giảm các triệu chứng khó chịu.

    Thuốc kháng sinh không có tác dụng chống vi-rút và sẽ không được bác sĩ kê toa để điều trị nhiễm virus.

    Uống nước: Nếu bị sốt, bạn nên uống nhiều nước để ngăn ngừa tình trạng mất nước. Mất nước sẽ làm cho bệnh nặng thêm.

    Đột quỵ do nhiệt: Các NSAID sẽ không có hiệu quả nếu sốt do thời tiết nóng hoặc tập luyện quá sức kéo dài. Bệnh nhân cần được làm lạnh. Nếu bị lú lẫn hoặc bất tỉnh, nên được bác sĩ điều trị ngay lập tức.

    Các nguyên nhân gây sốt là gì?

    Sốt có thể do một số yếu tố gây ra:

    * Nhiễm trùng, chẳng hạn như viêm họng, cúm, thủy đậu hoặc viêm phổi

    * Da tiếp xúc quá nhiều với ánh sáng mặt trời, hoặc bị cháy nắng

    * Tiếp xúc với nhiệt độ cao hoặc tập thể dục quá sức kéo dài

    * Silicosis, một loại bệnh phổi gây ra do tiếp xúc lâu dài với bụi silic

    Phân độ sốt như thế nào?

    Thời gian sốt như thế nào?

    * Cấp tính nếu nó kéo dài dưới 7 ngày

    * Bán cấp, nếu nó kéo dài đến 14 ngày

    * Mãn tính hoặc kéo dài, nếu nó tồn tại trong hơn 14 ngày

    Sốt tồn tại trong nhiều ngày hoặc vài tuần không tìm được nguyên nhân gọi là “sốt kéo dài không rõ nguyên nhân”.

    Sốt co giật ở trẻ em là gì?

    Trẻ em có nhiệt độ cao có thể bị co giật do sốt, còn được gọi là sốt co giật; hầu hết chúng không nghiêm trọng và có thể là hậu quả của nhiễm trùng tai, viêm dạ dày ruột hoặc nhiễm vi rút đường hô hấp hay cảm lạnh.

    Ít gặp hơn, co giật do sốt có thể có nguyên nhân nghiêm trọng, như viêm màng não, nhiễm trùng thận hoặc viêm phổi.

    Làm sao để ngăn ngừa sốt?

    Vệ sinh – sốt thường do nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc virus gây ra. Vệ sinh tốt giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng. Bao gồm rửa tay trước và sau bữa ăn, và sau khi đi vệ sinh.

    Một người bị sốt do nhiễm trùng nên có ít tiếp xúc nhất có thể với người khác, để ngăn ngừa sự lây lan của bệnh. Bất cứ ai chăm sóc cho bệnh nhân nên thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước ấm.

    *Theo medicalnewstoday/medicinenet/nhs.uk

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Mỳ Ý Sốt Kem Ngon Nhất Tại Nhà
  • Cách Làm Món Ức Gà Sốt Kem Nấm Theo Phong Cách Phương Tây
  • Chẩn Đoán Điều Trị Bệnh Kawasaki
  • Bệnh Kawasaki Ở Trẻ Em Là Gì? Nguyên Nhân Và Triệu Chứng
  • Bệnh Kawasaki Ở Trẻ Em Là Bệnh Gì? Có Nguy Hiểm Không?
  • Bệnh Sốt Rét Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Xốt Béchamel Sauce Không Khó Như Bạn Nghĩ
  • Công Thức Nấu Nước Sốt Bechamel Cách Nấu Nước Sốt Bechamel, Nhanh Chóng Và Dễ Dàng Từng Bước Công Thức Nấu Ăn Với Hình Ảnh
  • Một Số Loại Sốt Thông Dụng Kiểu Tây
  • Nước Sốt Bechamel: Một Công Thức Cổ Điển Tại Nhà, Nguyên Liệu, Lưu Trữ, Đánh Giá
  • Sự Thật Không Ngờ Về Thịt Xông Khói
  • Bệnh sốt rét là gì, có nguy hiểm không ?

    Sốt rét (Malaria) là một căn bệnh gây tử vong do ký sinh trùng Plasmodium được truyền sang người bởi muỗi Anophen. Một khi muỗi nhiễm bệnh cắn người, các ký sinh trùng đi vào cơ thể và nhân số lượng lên nhiều lần trong gan, sau đó phá hủy hồng cầu.

    Ở những quốc gia có nền y học phát triển, sốt rét có thể được điều trị và kiểm soát nếu chẩn đoán sớm. Tuy nhiên, một số nước thiếu nguồn lực rất khó khăn trong việc thực hiện điều này một cách hiệu quả.

    Chưa có loại vắc-xin nào được cấp phép được sử dụng để điều trị sốt rét trên toàn cầu. Tuy nhiên ở những nước Châu Âu có sử dụng một loại vắc-xin.

    Các trường hợp mắc sốt rét chủ yếu tập trung ở các khu vực nhiệt đới, nơi muỗi hoạt động mạnh. Theo ước tính mỗi năm có hơn 500 triệu người mắc bệnh trên toàn cầu, từ 1-3 triệu người tử vong do sốt rét. Phần lớn các trường hợp tử vong tập trung ở Châu Phi (85%), do ý thức người dân và nền y học còn yếu kém.

    Những sự thật nhanh về bệnh sốt rét

    • Sốt rét chỉ truyền từ muỗi sang người, không có khả năng truyền từ người sang người.
    • Các triệu chứng của bệnh này giống bệnh cúm, nhưng nếu không điều trị có thể gây tử vong cho bệnh nhân.
    • Nếu di du lịch và cắm trại ở đâu đó, bạn có thể tự bảo vệ mình bằng kem chống muỗi, thuốc diệt muỗi, quần áo dài và lưới.

    Triệu chứng và nguyên nhân hình thành bệnh Sốt rét

    Tuy nhiên, chỉ có 5 loại ký sinh trùng Plasmodium có thể lây nhiễm cho người. Chúng được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới và mức độ gây bệnh cũng khác nhau.

    Các triệu chứng của bệnh sốt rét có thể chia thành hai trường hợp: nhẹ và nặng.

    Sốt rét nhẹ (không biến chứng):

    Triệu chứng nhẹ thường chỉ bị giống bệnh cúm và không có dấu hiệu nhiễm trùng nào nghiêm trọng. Tuy nhiên nó có thể phát triển mạnh lên nếu không được điều trị hoặc sức đề kháng của người bệnh kém.

    Các triệu chứng của bệnh sốt rét không biến chứng thường kéo dài từ 6 đến 10 giờ và lặp lại mỗi ngày thứ hai. Một số loại ký sinh trùng có thể có chu kỳ dài hơn hoặc gây ra các triệu chứng hỗn hợp.

    Khi các triệu chứng giống với bệnh cúm có thể được chẩn đoán sai ở những vùng sốt rét ít gặp hơn.

    Ở sốt rét không biến chứng, các triệu chứng tiến triển như sau, thông qua các giai đoạn lạnh, nóng, và đổ mồ hôi:

    • Cảm thấy lạnh và run.
    • Sốt, nhức đầu, nôn.
    • Động kinh, thường chỉ xảy ra ở người trẻ tuổi.
    • Đổ mồ hôi, sau đó cơ thể trở về nhiệt độ bình thường, cảm thấy mệt mỏi.

    Ở những vùng sốt rét phổ biến, người dân có thể nhận biết và tự chữa trị mà không nhờ đến bác sĩ.

    Sốt rét nặng (có biến chứng)

    Bệnh sốt rét nặng hay còn gọi sốt rét ác tính, các bằng chứng lâm sàng hoặc xét nghiệm cho thấy các dấu hiệu của rối loạn chức năng của các cơ quan quan trọng.

    Các triệu chứng bao gồm:

    • Sốt, ớn lạnh
    • Suy giảm ý thức
    • Đau nhức xương khớp
    • Co giật
    • Thở sâu và suy nhược hô hấp
    • Chảy máu bất thường và các dấu hiệu thiếu máu
    • Vàng da lâm sàng và chứng rối loạn chức năng các cơ quan quan trọng
    • Sốt rét nặng có thể gây tử vong nếu không được điều trị.

    Sốt rét xảy ra khi ký sinh trùng Plasmodium xâm nhập vào cơ thể người thông qua vết đốt của muỗi Anophen. Chỉ có muỗi Anopheles (muỗi cái) mới có thể truyền bệnh sốt rét.

    Sự phát triển của ký sinh trùng trong muỗi phụ thuộc vào một số yếu tố, điều quan trọng nhất là độ ẩm và nhiệt độ môi trường xung quanh.

    Khi một con muỗi bị nhiễm bệnh đốt người, ký sinh trùng ngay lập tức xâm nhập vào máu và nằm yên trong gan. Người bệnh sẽ không thấy có triệu chứng gì, trung bình 10,5 ngày. Tuy nhiên, ký sinh trùng sốt rét đã bắt đầu nhân lên trong thời gian này.

    Các ký sinh trùng sốt rét mới sau đó được phóng thích trở lại trong máu, nơi chúng lây nhiễm vào các tế bào hồng cầu và nhân lên nhiều hơn. Một số ký sinh trùng sốt rét vẫn còn trong gan và không được giải phóng, dẫn đến tái phát vi khuẩn.

    Một con muỗi chỉ bị nhiễm bệnh khi nó hút phải máu của người bị nhiễm bệnh. Do đó, một người bị nhiễm bệnh có thể truyền bệnh sang người khác nhờ muỗi. Cần cách ly người bệnh ở khu vực riêng.

    Chẩn đoán sớm là rất cần thiết cho sự phục hồi của bệnh nhân. Bất cứ ai có dấu hiệu sốt rét đều phải được kiểm tra ngay lập tức.

    Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo mạnh mẽ việc xác định ký sinh trùng thông qua kiểm tra trong phòng thí nghiệm vi mô hoặc bằng phương pháp chẩn đoán nhanh (RDT), tùy thuộc vào các cơ sở sẵn có.

    Không có triệu chứng nào của bênh sốt rét khác biệt với các bệnh khác. Do đó xét nghiệm ký sinh trùng là cần thiết để xác định và tìm cách đối phó.

    Ở một số vùng sốt rét phổ biến, chẳng hạn như vùng hạ Sahara, mức độ nghiêm trọng của bệnh có thể gây miễn dịch nhẹ ở một tỷ lệ lớn dân số. Kết quả là một số người mang ký sinh trùng trong máu nhưng không bị ốm.

    Cách điều trị và ngăn chặn bệnh sốt rét

    Liệu pháp phối hợp dựa trên artemisinin (ACT) do WHO khuyến cáo để điều trị sốt rét không biến chứng.

    Artemisinin có nguồn gốc từ cây Artemisia annua, được biết đến như cây ngải ngọt. Có khả năng làm giảm nồng độ các ký sinh trùng Plasmodium trong máu nhanh chóng.

    ACT là sự kết hợp giữa artemisinin với thuốc phụ trợ. Vai trò của artemisinin là làm giảm số ký sinh trùng trong vòng 3 ngày đầu tiên bị nhiễm trùng, trong khi các thuốc phụ trợ loại bỏ phần còn lại.

    Việc mở rộng ACT sử dụng trên toàn thế giới đã giúp làm giảm tác động của sốt rét, nhưng căn bệnh ngày càng trở nên kháng các tác động của ACT.

    Ở những nơi sốt rét kháng ACT, việc điều trị phải có thêm một loại thuốc phối hợp hiệu quả. WHO đã cảnh báo rằng không có lựa chọn thay thế cho artemisinin trong nhiều năm tới.

    Nghiên cứu phát triển vắc xin phòng chống sốt rét toàn cầu an toàn và hiệu quả đang được thực hiện với một loại vắc xin đã được cấp phép sử dụng ở Châu Âu. Không có vắc xin nào được cấp phép ở Hoa Kỳ và các khu vực còn lại.

    Nếu bạn có người nhà mắc các triệu chứng của sốt rét thì nhanh chóng đưa họ đến cơ sở y tế để được điều trị kịp thời.

    • Vệ sinh nhà cửa gòn gàng sạch sẽ bằng nước tẩy.
    • Đảm bảo ống nước không bị tắc nghẽn (muỗi thường đẻ trứng nơi nước đọng)
    • Xử lý các vũng nước đọng ngoài trời sau những cơn mưa.
    • Loại bỏ các vật dụng đựng nước không dùng đến: lốp xe, chum chậu cũ, máng xối…
    • Nuôi cá trong giếng hoặc trong hồ nước, chậu bông thờ cúng.
    • Rút nước hồ bơi khi không sử dụng.
    • Sử dụng thuốc diệt muỗi để phòng chỗng muỗi cho căn nhà.
    • Mắc màn trước khi ngủ (kể cả ban ngày).
    • Mặc quần áo dài tay khi ở trong nhà và ra ngoài.
    • Sử dụng kem chống muỗi hoặc thiết lập hệ thống lưới chống côn trùng.
    • Liên hệ với chuyên gia dịch hại Pest-Solutions để được tư vấn cách diệt muỗi và phòng ngừa bệnh sốt rét.

    Pest-Solutions

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phải Làm Sao Khi Trẻ Bị Sốt Nhẹ? Cách Phòng Ngừa Trẻ Bị Sốt Nhiều Ngày
  • Làm Gì Khi Trẻ Bị Sốt? 6 Cách Hạ Sốt Tại Nhà Đúng Cách Dịch Covid
  • Trẻ Sơ Sinh Bị Sốt, Mẹ Nên Làm Gì Để Tránh Nguy Hiểm Cho Con
  • Mẹ Cần Làm Gì Khi Trẻ Sơ Sinh Bị Sốt?
  • Bé Bị Sốt Nên Ăn Gì Là Phù Hợp Và Nhanh Khỏi Nhất?
  • Bệnh Sốt Xuất Huyết Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hot Dog Là Gì? Những Điều Thú Vị Cần Biết Về Hot Dog
  • Bệnh Kawasaki Ở Trẻ Em Là Bệnh Gì? Có Nguy Hiểm Không?
  • Bệnh Kawasaki Ở Trẻ Em Là Gì? Nguyên Nhân Và Triệu Chứng
  • Chẩn Đoán Điều Trị Bệnh Kawasaki
  • Cách Làm Món Ức Gà Sốt Kem Nấm Theo Phong Cách Phương Tây
  • Bệnh sốt xuất huyết hay sốt xuất huyết do virus là từ để chỉ một nhóm bệnh sốt xảy ra ở người và động vật. Nhóm bệnh này có thể xảy ra do 5 họ virus khác nhau: họ Arenaviridae, họ Bunyaviridae, họ Filoviridae, họ Flaviviridae và họ Rhabdoviridae. Tất cả các bệnh sốt xuất huyết đều được đặc trưng bởi sốt và rối loạn chảy máu (xuất huyết). Một số loại virus gây ra các bệnh sốt xuất huyết tương đối nhẹ trong khi nhiều loại khác, chẳng hạn như virus Ebola, virus Lassa,… có thể gây ra các tình trạng nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong.

    Ở Việt Nam, hầu như 100% các ca bệnh sốt xuất huyết xảy ra là do virus dengue, một loại virus thuộc họ Flaviviridae phổ biến ở các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới. Do đó khái niệm sốt xuất huyết ở nước ta được sử dụng để nói về sốt xuất huyết Dengue và trong bài viết này, chúng tôi cũng sẽ chỉ đề cập đến căn bệnh sốt xuất huyết Dengue mà thôi.

    Sốt xuất huyết Dengue là một căn bệnh nhiệt đới lây nhiễm do muỗi bắt nguồn từ virus Dengue. Căn bệnh này lây nhiễm chủ yếu qua cơ thể vật chủ trung gian là muỗi vằn hoặc theo một số điều kiện đặc biệt khác (rất hiếm hoi).

    Khi bị nhiễm virus Dengue, bệnh nhân có thể bị sốt Dengue cổ điển (thể nhẹ), sốt xuất huyết Dengue hoặc nặng hơn là mắc phải Hội chứng sốc Dengue. Cả 3 dạng bệnh này đều có thể gây ra tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

    Quá trình mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue được chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn phục hồi. Các giai đoạn của bệnh sốt xuất huyết cụ thể như sau:

    Trong giai đoạn này, bệnh nhân có thể bị sốt cao (trên 40ᵒC), đau nhức toàn thân và đau đầu kéo dài từ 02 – 07 ngày, có thể buồn nôn và ói mửa. Khoảng 50 – 80% trường hợp xuất hiện triệu chứng phát ban (xuất hiện ban đỏ gây ngứa trên da) vào ngày đầu tiên hoặc sau đó từ 03 – 06 ngày. Có thể xuất huyết nhẹ từ miệng hoặc mũi.

    Trong giai đoạn này, cơn sốt sẽ giảm một cách đột ngột hoặc biến mất hẳn. Tuy nhiên sẽ xuất hiện tình trạng rò rỉ huyết tương từ các mạch máu, gây tụ dịch trong lồng ngực và bụng, suy giảm thể tích máu và từ đó làm giảm lượng máu cung cấp đến các cơ quan quan trọng. Điều này có thể dẫn tới sự rối loạn các chức năng của nội tạng và gây chảy máu nghiêm trọng. Đây là giai đoạn rất nguy hiểm bởi tình trạng thiếu máu sẽ có thể gây ra các biến chứng lâu dài, thậm chí dẫn tới tử vong.

    Trong giai đoạn này, cơ thể sẽ dần dần hồi phục. Huyết tương được hấp thụ trở lại vào mạch máu, cơn sốt lui dần. Một số vấn đề có thể xảy ra bao gồm phát ban, ngứa, nhịp tim chậm, quá tải dịch.

    Sốt xuất huyết Dengue là một căn bệnh cực kỳ nguy hiểm. Nhất là với đặc điểm: giai đoạn nguy hiểm có thể gây biến chứng thường đi kèm với việc cơn sốt giảm đột ngột. Điều này thường dễ gây hiểu lầm cho bệnh nhân và người nhà là căn bệnh đã khỏi hẳn, từ đó làm chậm trễ việc điều trị có thể dẫn tới những biến chứng hoặc thậm chí là tử vong. Các biến chứng nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết mà bệnh nhân thường gặp phải cụ thể như sau:

    Biến chứng về mắt: Tình trạng xuất huyết có thể xảy ra ở mắt gây hòa tan dịch kính (khối chất lỏng giúp mắt nhìn được bình thường) hoặc làm tổn hại các mạch máu của võng mạc, từ đó làm giảm thị lực hoặc gây mù vĩnh viễn.

    Biến chứng về phổi: Huyết tương tràn ra ngoài có thể gây tràn dịch màng phổi, viêm phổi hoặc phù phổi, từ đó khiến cho hệ hô hấp của cơ thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tình trạng nhẹ cũng khiến bệnh nhân giảm thể lực tạm thời hoặc vĩnh viễn, nếu nặng có thể gây tử vong do suy hô hấp.

    Biến chứng về nội tạng: Việc thoát và tích huyết tương làm giảm lượng máu cung cấp đến các cơ quan quan trọng, khiến chúng phải làm việc nhiều hơn trong tình trạng không đủ chất dinh dưỡng. Từ đó sẽ dẫn tới tình trạng suy đa tạng mà cụ thể là suy tim, viêm tim, suy gan, suy thận,…

    Xuất huyết não: Đây là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất. Là một trong những bộ phận quan trọng nhất, điều khiển hoạt động của toàn bộ cơ thể, tình trạng xuất huyết sẽ gây chèn ép não. Về lâu dài có thể khiến sức khỏe bị suy nhược, giảm trí thông minh, liệt cục bộ hay liệt toàn thân, chết não hoặc tử vong.

    – Độ thấm thành bụng ở người lớn kém hơn so với trẻ em tức là khả năng xuất huyết cũng cao hơn. Do đó khi mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue, người lớn thường có nguy cơ mắc phải các biến chứng và tử vong cao hơn so với trẻ em.

    – Đặc điểm nguy hiểm nhất của bệnh sốt xuất huyết Dengue là tình trạng giảm sốt đột ngột vào giai đoạn nguy hiểm nhất (từ khoảng ngày thứ 3). Do đó, nếu người bệnh đang ở trong vùng dịch và lại giảm sốt một cách đột ngột, cần phải lập tức đưa đến bệnh viện để tiến hành khám và điều trị.

    – Bệnh sốt xuất huyết Dengue gây thoát huyết tương, không phải gây mất nước. Do đó cần cẩn thận và hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiến hành truyền dịch.

    – Vào giai đoạn hồi phục, huyết tương thoát ra ngoài đã bắt đầu được hấp thụ trở lại. Lúc này cần phải cẩn thận trong việc truyền dịch để tránh gây ra tình trạng quá tải dịch có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như phù phổi, suy tim,….Nếu vẫn muốn truyền dịch thì có thể cho bệnh nhân uống kèm thuốc lợi tiểu để tăng cường bài tiết nước ra ngoài.

    thậm chí là nguy cơ tử vong.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sốt Xuất Huyết Ở Người Lớn: Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Hummus Là Gì? Gợi Ý Cách Nấu Và Địa Chỉ Mua Hummus Ở Hà Nội, Tphcm
  • Sốt Siêu Vi Là Gì Và Lây Qua Đường Nào?
  • Hỏi Đáp: Sốt Siêu Vi Có Thực Sự Nguy Hiểm Không?
  • Vi Khuẩn Hp Là Gì, Chữa Khỏi Không? Triệu Chứng Nhiễm & Cách Chữa
  • Bệnh Sốt Mò Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Sốt Ve Mò: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Bệnh Sốt Rét Là Gì? Nguyên Nhân Và Dấu Hiệu Nhận Biết
  • Sốt Rét: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • 12 Tác Dụng Của Nước Sốt Alfredo Đối Với Sức Khỏe Con Người
  • Sốt Viêm Amidan Biểu Hiện Ra Sao? Bao Nhiêu Ngày Thì Khỏi?
  • Bệnh sốt mò có hơn 1000 năm trước ở Nhật, Trung Quốc. Sau này bệnh được xếp vào nhóm bệnh do Rickettsia, một người Mỹ nghiên cứu và sau ông chết vì bệnh này khi nghiên cứu, đó là Howard Taylor Ricketts (1871-1910). Côn trùng trung gian bệnh là ấu trùng mò. Năm 1906 Kitashima và Miyajima xác định được tác nhân gây bệnh và thành công trên thực nghiệm, vài năm sau đó Wolff phát hiện huyết thanh của bệnh nhân sốt mò ngưng kết dịch nuôi cấy vi khuẩn Proteus OX-K (Không ngưng kết với huyết thanh của bệnh nhân mắc các Rickettsia khác).

    Định nghĩa

    Sốt Mò, bệnh cấp tính do Rickettsia orientalis (R. tsutsugamushi), tác nhân gây bệnh lây truyền qua vết ấu trùng mò đốt. Bệnh có đặc điểm khởi phát đột ngột, gồm sốt 40-410C, kết mạc-da xung huyết, phát ban, người mệt nhiều, thần kinh trì trệ, có khi nói sảng. Đặc biệt nơi mò đốt có sẩn đỏ, sau đóng vảy đen. Bệnh có thể tử vong do biến chứng phổi, tim và gặp trong thể nặng.

    Tác nhân gây bệnh

    Rickettsia orientalis (R.O.) gây bệnh sốt Mò, trung gian giữa virus và vi khuẩn, giống vi khuẩn vì có lớp vỏ, bào tương, một nhân DNA hoặc RNA và các hạt vùi bên

    trong, mặt khác giống virus vì ký sinh bắt buộc trong bào tương hoặc nhân của tế bào đích.

    Cuối cùng người ta xếp vào lớp vi khuẩn gram âm đa dạng (pleomorphis), vì có khả năng sao chép và nhân lên trong tế bào vật chủ, các phần tử cấu thành tương tự vi khuẩn gram âm khác gồm DNA và RNA, thành tế bào chứa Lipopolysaccharide, Aminoacid, Aminosugars. Ký sinh nội bào bắt buộc, vì vậy chúng lệ thuộc hoàn toàn vào các chất carbohydrate của tế bào vật chủ để lấy năng lượng chuyển hoá. Chúng nhạy cảm với kháng sinh.

    R.O. có nhiều dòng, nhưng 3 dòng KARP, GILLIAM, KATO được sử dụng kháng nguyên rộng rải.

    Hình dạng R.O. giống các Rickettsia khác, nuôi cấy được ở môi trường tế bào, tốt nhất là phôi gà-vịt ; tiêm vào tiền phòng mắt thỏ, khỉ, chuột nhắt. Tiêm vào tinh hoàn vật thí nghiệm để gây viêm tinh hoàn thực nghiệm. Chuột nhắt trắng nhạy cảm với R.O. và dùng để chẩn đoán sinh vật học.

    Dịch tễ học

    Người ta ghi nhận sốt mò có mặt rất sớm, nhiều tài liệu mô tả bệnh hết sức phong phú nhiều nơi ở châu Á. Với nhiều tên gọi khác như sốt triền sông Nhật Bản; Tsutsugamushi, giả thương hàn, sốt bụi rậm (scrub typhus).

    Trên thế giới, có ở Đông Nam Á, Nhật Bản, các quần đảo Tây Thái Bình Dương, đặc biệt là vùng Pakistan, Ấn độ, Srilanca, tới Tây-Nam Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Tây Tạng, và phía bắc Liên Bang Xô Viết củ, Tân Guinea, Phi luật Tân, từ duyên hải phía bắc bang Queensland tới phía đông Australia.

    Nước ta, theo Bùi Đại, bệnh có mặt ở vùng Tây Bắc, Sơn La, Nghệ Tĩnh, Mộc Châu.

    Nam vĩ tuyến 17, trong thời tạm chiếm, một số y văn ghi lính Mỹ đã mắc bệnh.

    Như vậy, dựa vào sinh thái, đặc điểm khí hậu, tư liệu, cho thấy nước ta có sự lưu hành của bệnh và có thể nhiều ổ dịch tự nhiên. Số bệnh nhân có thể nhiều, nhưng do nhiều lý do khác nhau mà chẩn đoán nhầm với bệnh khác như thương hàn, sốt rét, leptospira, dịch hạch, nhiễm khuẩn máu, sốt dengue…, nếu không chú ý.

    Tại miền Trung, trên thực tế lâm sàng nhiều trường hợp bệnh xuất hiện.

    Bệnh theo mùa, vùng địa lý rõ. Khu vực triền sông, vùng bán sơn địa nhiều bụi rậm và dưới nhiều chất mùn, quanh năm ẩm ướt; vùng nông nghiệp, người hay lui tới dễ nhiễm bệnh.

    Côn trùng trung gian

    Đó là ấu trùng mò Trombicula (acarien), ngoài có màu nhung đỏ hoặc cam tươi, ấu trùng mò chứa R.O., có sự truyền R.O. từ thế hệ mò trưởng thành sang thế hệ ấu trùng mò.

    Trứng của mò bị nhiễm tồn tại trong đất ẩm nhiều chất mùn, thành ấu trùng rồi bò vào các bụi cây thấp lên tận đến lá, chúng sẽ bám vào các động vật có xương sống (loài có vú hoặc chim) khi có điều kiện, trên thân các động vật này vài ngày rồi rơi xuống đất và phát triển thành nhộng (nymphs) và rồi mò trưởng thành. Khi chu kỳ này được tiếp tục, thì sự truyền R.O. qua trứng sẽ đảm bảo cho thế hệ sau bị nhiễm.

    R.O. nhân lên trong tuyến nước bọt ấu trùng mò với lượng lớn, vì vậy dễ gây nhiễm cho vật nhạy cảm khi bị đốt.

    Cần lưu ý, chỉ có ấu trùng mò mới đốt người và súc vật và chỉ đốt một lần trong chu kỳ sống, mò trưởng thành không đốt.

    Ở người, ấu trùng mò thường bám vào cẳng, đùi rồi di chuyển đến những nơi kín, có mồ hôi ẩm, dừng lại ở đó (thắt lưng, bẹn, ngực, nách…), chúng cố định bằng cách chích vòi vào da. Ấu trùng mò không ăn máu, khi đốt chúng bơm nước bọt vào vết đốt trong đó có R.O., nước bọt chứa các enzyme tiêu protein để làm tiêu các tế bào vật chủ rồi tạo nên một chất nhão có chất dinh dưỡng mà ấu trùng chỉ việc hút chúng, sau khi đã no ấu trùng rơi xuống đất mùn để tiếp tục chu kỳ sống. Ấu trùng mò đốt vào ban mai và lúc trời sắp tối.

    Ở khu vực khí hậu nóng ẩm, bệnh xảy ra quanh năm (nước ta), trái lại vùng lạnh như Nhật Bản thì hay gặp vào mùa thu.

    Vật chủ

    Vật chủ chứa tác nhân gây bệnh rất đa dạng, mà loài gặm nhấm đóng vai trò cơ bản duy trì R.O. trong thiên nhiên, loài chuột bị bệnh không rõ, tạo điều kiện lây nhiễm cho vec tơ truyền bệnh (ấu trùng mò), chủ yếu là chuột Rattus rattus đồng và nhà, các loài chuột khác, thỏ cũng có thể là nơi lưu giữ mầm bệnh.

    Loài chim nhiễm tự nhiên, cũng có thể dùng thực nghiệm, đặc biệt là chim sẻ, chúng mang mầm bệnh tiềm tàng và là nơi lưu trú của mò Trombicula, do đó mà chúng làm lan toả R.O. và vec tơ truyền bệnh cho các quần đảo trên đại dương, nơi mà chúng lưu trú trong quá trình di chuyển.

    Mò trưởng thành được xem là vật chủ thứ yếu vì có chứa R.O.

    Các yếu tố nguy cơ

    Những người làm nông nghiệp, lâm nghiệp, công tác kiểm lâm…, có điều kiện tiếp xúc côn trùng truyền bệnh tại các bờ sông suối, nhiều bụi rậm.

    Những người tham quan du lịch vào vùng bệnh lưu hành.

    Những người chưa tiếp xúc ổ dịch dễ mắc bệnh hơn những người trong vùng dịch lưu hành.

    Cơ Thể Bệnh Tại vị trí bị ấu trùng mò đốt

    R.O. nhân lên và phát triển, rồi lan toả. Ở đây, có vết loét hoại tử, ảnh hưởng đến lớp tế bào biểu mô da, tạo thành ổ loét hình tròn có giới hạn rõ ràng.

    Mạch máu

    R.O. có ái tính với các tế bào nội mạc mạch máu, gây thương tổn nội mạch, xung quanh các mạch máu nhỏ và lớn (động, tĩnh mạch, mao mạch, giường mao mạch) đặc biệt là ở mạch da,cơ tim, não, phổi.

    Phổi

    Người ta tìm thấy tổn thương trong lòng mạch với hiện tượng thuyên tắc và chảy máu, các tế bào mono, tương bào, lymphô xâm nhập thành mạch và thành mạch bị phù nề, thành phế nang dày lên, khoang giữa các phế nang có hiện tượng xuất tiết huyết thanh và ứ đọng hồng cầu.

    Cơ tim

    Tế bào mono xâm nhập khe cơ tim và hoại tử khu trú, viêm kẻ cơ tim, mao mạch nhỏ của cơ tim bị nhồi máu li ti từng đám.

    Não

    Rải rác có phản ứng viêm quanh mạch não và tăng sinh tế bào đệm, các mao mạch của tổ chức não có tế bào mono xâm nhập và hoại tử khu trú do nhồi máu li ti.

    Lách

    Lách sưng to và có các biến đổi như trong nhiễm khuẩn máu, kèm theo hoại tử khu trú.

    Gan

    Gan sưng, xung huyết, hoại tử khu trú.

    Thận

    Có vài khu vực thận xung huyết, vỏ thận nhạt màu và sưng.

    Bằng kỹ thuật huỳnh quang, người ta có thể phát hiện ra R.O. trên tổ chức não, phổi, cơ tim và các tổ chức khác

    R.O. phát triển và nhân lên tại vị trí ấu trùng mò đốt; sau một thời gian ủ bệnh chúng thâm nhập vào máu, thường là vài giờ trước khi phát bệnh, chúng lại tiếp tục xâm nhập các tế bào nội mạc mạch máu, ở đó chúng tăng sinh và phát triển tạo ra các biến đổi tại mạch máu, gây viêm, xung huyết và phát ban.

    Trường hợp nặng (giai đoạn sớm), gây suy tuần hoàn ngoại biên, thường xuất hiện trong tuần đầu của bệnh do hiện tượng dãn mạch và ứ trệ máu lưu thông, chưa có hiện tượng tăng thấm mao mạch, hoặc thoát dịch ra khoảng gian bào. Vả lại, trong các trường hợp nặng (giai đoạn muộn), có thương tổn tăng sinh và thuyên tắc xuất hiện trong các mao mạch nhỏ, kết quả gây nên hiện tượng hoại tử và tăng thấm mao mạch ít nhiều gây giảm thể tích máu, phù nề khoảng khe quanh mạch máu (phù trên lâm sàng), đặc biệt nhất là giai đoạn muộn trên bệnh nhân nặng.

    Bệnh còn biểu hiện phù và thiếu máu cơ tim, trên tổ chức học và điện tim, đôi khi loạn nhịp xoang nặng.

    Kết quả của suy tuần hoàn ngoại biên gặp trong các trường hợp bệnh nặng, gây thiểu niệu, vô niệu trên lâm sàng, tăng urê máu, creatinin máu; giảm protid máu, natri máu; phù và hôn mê. Có khi rối loạn chức năng gan hoặc cả đông máu rải rác nội mạch.

    Các nghiên cứu về các tế bào bị nhiễm R.O., các đại thực bào trên tổ chức nuôi cấy, người ta thấy có sự tăng thấm mao mạch gây ra thoát huyết tương vào khoảng gian bào. Nguyên nhân này là do các tế bào nội mạc mao mạch và đại thực bào thương tổn giải phóng các prostaglandin (nhất là PG1 và PG2) và Leucotrienes.

    Bệnh có miễn dịch không bền, dễ mắc lại, dân bản địa ít mắc và nhẹ hơn dân ngoại lai, có chủng 1 – 2 tháng, có chủng đến 2 năm.

    Thể bệnh điển hình Ủ bệnh

    Trung bình 10-15ngày, có nốt sẩn đỏ do ấu trùng mò đốt, có thể gặp từ 10-90% trường hợp, tuỳ từng nơi. Ngoài ra, không có triệu chứng nào khác.

    Khởi phát

    Khởi phát đột ngột với cơn rét run, sốt cao, người mệt mõi toàn thân, nhức đầu nhiều vùng trán hoặc thái dương, đau dọc cột sống-cơ khớp-các chi; sau thời gian ngắn rồi vào thời toàn phát.

    Toàn phát

    Sốt: sốt cao 40-410C, dạng cao nguyên trong vài 3 ngày đầu, sau đó giảm, rồi tiếp tục tăng đến 39-400C và duy trì mức ấy trong 2-3 tuần, nhiệt sáng thấp chiều cao.

    Tim mạch: nhanh (bệnh nặng), chậm (thể nhẹ). Có thể truỵ tim mạch (mạch nhanh, hạ huyết áp, khó thở & tím tái), viêm cơ tim hay gặp (tim nhanh, tiếng tim mờ), có khi ngoại tâm thu.

    Hô hấp: biểu hiện viêm phế quản (nhẹ), viêm phổi không điển hình do R.O. (nặng).

    Thần kinh: nhức đầu nhiều, sợ ánh sáng, mất ngủ; bệnh nặng có dấu kích động, vật vã, mê sảng, u ám, mệt nhiều về đêm, lãng tai, nhưng nước não tuỷ bình thường. Nếu viêm màng não thường là nặng.

    Tiêu hoá: lưỡi khô, đỏ xung quanh, trắng hoặc đen cháy ở giữa. Đôi khi tiêu chảy hoặc xuất huyết tiêu hoá. Lách lớn, gan sưng.

    Da và kết mạc: xung huyết; phát ban gặp 2/3 trường hợp, xuất hiện ngày thứ 4-7, khởi đầu ở đầu mặt sau đó lan ra thân mình, tứ chi. Loại ban dát sẩn đôi khi biến thành mọng nước, thường mất đi khi ấn; chấm xuất huyết (thể nặng); ban chỉ xuất hiện một đợt. Nội ban ở màn hầu, họng.

    Tại vết đốt xuất hiện mọng nước, sau đó hoại tử và hình thành một lớp vảy khô, đường kính 4-5mm, xung quanh hơi đỏ, có khi ngứa-đau nhẹ, có sưng hạch khu trú kèm theo nhưng không hoá mủ. Nốt loét thường ở bẹn, bìu, thắt lưng, lổ rốn, nách, ngực, dái tai….

    Tiết niệu: đái dầm, bí đái, albumin và trụ niệu, urê máu bình thường, hiếm khi viêm thận.

    Hạch toàn thân: đôi khi có gặp, rõ nhất là ở cổ, nách và bẹn, hơi rắn, ấn đau nhẹ, hạch không hoá mủ, hạch sẽ mất đi trong thời gian hồi phục.

    Lui bệnh

    Sau 14-30 ngày, nhiệt độ giảm nhanh, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu, đái nhiều. Người còn yếu và mệt, ăn uống kém. Thời gian hồi phục kéo dài nhiều tuần tới nhiều tháng. Bệnh nhẹ thời kỳ này ngắn hơn.

    Thể bệnh không điển hình

    Không có nốt loét, không phát ban và chỉ sốt trong vòng 5-10 ngày, khó chẩn đoán. Một số thể bệnh biểu hiện ở cơ quan nhất là phổi biểu hiện viêm phổi không điển hình có khó thở, thể bệnh viêm cơ tim,v.v..

    Tiến triển nặng nhẹ tuỳ địa phương, tuổi bệnh nhân (tuổi cao bệnh nặng). Tỷ lệ tử vong một số nơi như Indonesia-Đài Loan 5-20%, Nhật 20-60%; Mã Lai 15%, Việt Nam 0,6% (thể nhẹ).

    Nguyên nhân tử vong thường do truỵ tim mạch, viêm cơ tim, xuất huyết, bội nhiễm phổi, biến chứng viêm não- màng não.

    Nếu được phát hiện và điều trị sớm bệnh giảm sốt nhanh trong vòng 12, 24-48 giờ; thời kỳ hồi phục và lại sức sớm.

    Lâm sàng

    Chủ yếu dựa vào tính chất khởi phát đột ngột với

    Sốt cao liên tục

    Nốt loét, kèm sưng hạch vệ tinh (nốt loét là dấu điển hình trong bệnh sốt mò, tuy nhiên có khi không tìm thấy cho nên khó chẩn đoán)

    Xung huyết kết mạc, da; phát ban

    Sưng hạch toàn thân

    Viêm cơ tim

    Chẩn đoán miễn dịch học:

    Kháng thể huỳnh quang gián tiếp (Indirect Fluorescent Antibody: IFA): Dùng kháng thể KARP, GILLIAM, KATO để phát hiện kháng nguyên (khá nhạy). Bệnh nhân có nồng độ 1: 40 từ ngày thứ 9 của bệnh trở đi, nồng độ cao nhất vào tuần thứ 2. Giá trị (+) tuỳ thuộc từng phòng thí nghiệm có thể 1 : 640 hoặc 1 : 1280, nhưng nếu được điều trị trong 4 ngày đầu thì đáp ứng miễn dịch có thể giảm (xét nghiệm chuẩn của WHO, nhưng do khó về kỹ thuật, chưa áp dụng rộng).

    Miễn dịch gián tiếp Peroxidase ( indirect Immunologic Peroxidase: IIP) là phương tiện hổ trợ tốt tiếc rằng không được dùng phổ biến.

    Phản ứng Weil Felix: Phản ứng (+) với OX-K bắt đầu từ ngày 5 sau sốt, hiệu giá cao nhất vào tuần thứ 3, rồi giảm dần từ tuần thứ 4. Các trường hợp có hiệu giá ngưng kết với OX-K trên 1 : 160 về độ hoà loãng, hoặc lần 2 gấp lần đầu 4 lần đều có giá trị chẩn đoán, với 2 lần cách nhau 2 tuần.

    Phân lập R.O.: Lấy máu bệnh nhân lúc sốt cao, tiêm phúc mạc chuột, nếu trong vòng 13-16 ngày chuột chết chứng tỏ trong máu có R.O.. Nhuộm tử thiết gan, lách, hạch bằng giemsa, soi kính hiển vi sẽ phát hiện R.O., đôi khi phải tiêm chuyển tiếp 2-3 chuột mới phát hiện (+).

    Dịch tễ học

    Bệnh nhân đang sinh sống, làm việc, hoặc vào vùng bệnh lưu hành.

    Nguyên tắc điều trị

    Điều trị đặc hiệu càng sớm càng tốt.

    Chống chỉ định các thuốc có Sulfonamide vì sẽ làm cho bệnh nặng thêm.

    Trong trường hợp có sưng hạch toàn thân, hạch vệ tinh thì cần điều trị kéo dài để chống tái phát.

    Điều trị hổ trợ, nhất là trường hợp nặng sẽ góp phần làm giảm các biến chứng và tỷ lệ tử vong.

    Điều trị thực tế

    Điều trị đặc hiệu

    Nếu điều trị sớm, trước khi phát ban thì rất hiệu quả, nhiệt độ trở về bình thường trong vòng 24 giờ, nếu điều trị muộn khi ban đã xuất hiện, có xuất huyết thì đáp ứng chậm hơn.

    Thuốc có hiệu lực Chloramphenicol; Tetracyclin (Doxycyclin); còn Azithromycin có tác dụng với dòng R.O. đề kháng Tetracyclin trên ống nghiệm, ứng dụng có hiệu quả lâm sàng.

    Liều lượng:

    Chloramphenicol 30 mg/ kg/ ngày; Tetracyclin 20-30 mg/ kg/ ngày; Doxycyclin 100mg x 2 viên / ngày (người lớn). Chỉ dùng một thuốc; dùng 7 ngày; khi hạch sưng dùng 14 ngày. Kháng sinh dùng bằng đường uống; nhưng bệnh nặng và có điều kiện dùng tĩnh mạch (vdụ: bệnh kèm theo viêm màng não)

    Chú ý: Fluoroquinolone không hiệu quả với R.O. chỉ với Rickettsia conorii (Mediterranean spotted fever).

    Điều trị hổ trợ

    Dịch truyền: Glucose hoặc Ringer’s Lactate nhằm hồi phục nước & điện giải, lượng tuần hoàn; cần lưu ý trường hợp viêm phổi, viêm cơ tim không truyền nhiều.

    Chế độ ăn uống: nên ăn xúp, cháo loảng khi còn sốt, đảm bảo chất dinh dưỡng.

    Vệ sinh răng miệng, lau sạch toàn thân hằng ngày, tránh loét cho các trường hợp nặng.

    Thiếu máu do xuất huyết tiêu hoá, nên truyền máu tươi.

    Trường hợp nặng hoặc có biến chứng (tim, phổi, thần kinh…) và nhất là các ca điều trị muộn, tuỳ trường hợp dùng thêm corticosteroid liều cao, ngắn ngày : Hydrocortison: 100 mg / ngày x 3 ngày, có thể thay bằng Depersolon.

    PHÒNG & CHỐNG BỆNH SỐT MÒ Khi chưa mắc bệnh: có các hướng dự phòng như sau

    Diệt vật chủ và côn trùng trung gian

    Tại khu vực dân cư sinh sống, cơ quan đơn vị đứng chân, nhân viên y tế cần quan tâm dịch lưu hành nhất là vùng trung du, đồng ruộng, có nhiều bụi rậm và sông suối.

    Chuột và các loài gặm nhấm: nơi có dịch lưu hành, nơi lao động cần phát động phong trào diệt chuột thường xuyên bằng mọi biện pháp từ thủ công đến hoá chất.

    Cần tổ chức phát quang, làm sạch cỏ và bụi rậm quanh nhà ở, phát quang rồi đốt tập trung, có thể phối hợp phun hoá chất diệt côn trùng (Trung quốc áp dụng có hiệu quả không có mò tồn tại đến 40 ngày). Công việc này cần tiến hành thường xuyên.

    Bảo vệ cá nhân, hạn chế, tránh ấu trùng mò đốt

    Khi lao động, di chuyển đến vùng có bụi rậm cần cột chặt ống quần tay áo, hoặc mang dày có bít tất cao cổ.

    Thời gian nghỉ sau lao động, nghỉ dọc đường, không nên nằm hoặc bỏ áo quần trên cỏ rậm.

    Sau lao động hoặc vào các khu vực trên nên tắm ngay trong ngày, lau sạch người nhất là các vùng kín (bẹn, nách, thắt lưng, cổ…)

    Vaccine

    Trong thế chiến II, các tác giả Anh, Mỹ đề xuất loại vắc xin Rickettsia chết, không hiệu quả.

    Năm 1952, các nhà khoa học Mã lai đề nghi dùng vắc xin chết kết hợp kháng sinh, đề xuất này không hợp lý, vì gây bệnh rồi dùng kháng sinh thì bệnh nhẹ nhưng không tạo miễn dịch bền được.

    Điều trị dự phòng

    Ngay sau khi bị ấu trùng mò đốt uống 1 lần 2gram chlorocid hoặc 1.5 gram Tetracyclin, sau đó hằng tuần uống 1 lần, trong thời gian 4 tuần, thì bệnh nhẹ hoặc không phát ra. Tốt nhất, bệnh mới chớm dùng thuốc bệnh sẽ nhẹ hơn nhiều.

    Khi có người mắc bệnh

    Cần phát hiện sớm để điều trị, nhất là vùng bệnh lưu, hành nhân viên y tế cần quan tâm đến bệnh cảnh lâm sàng để phát hiện sớm. Khi có bệnh nhân cần theo dõi các biến chứng có thể xảy ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sốt Pesto Là Gì? Nguồn Gốc, Cách Dùng Và Các Món Ăn Từ Sốt Pesto
  • Làm 3 Loại Sốt Pesto Đặc Trưng Ẩm Thực Ý Trong 3 Phút Cho Bữa Ăn Gia Đình Thêm Dinh Dưỡng Và Hương Vị
  • Teriyaki Là Gì? Cách Làm Sốt Teriyaki Tuyệt Cú Mèo Nhất
  • Teriyaki Là Gì? Cách Chế Biến Xốt Teriyaki Độc Đáo
  • Chọn Dùng Tretinoin Và Retinol Như Thế Nào Phù Hợp?
  • Sốt Cỏ Khô Là Gì ? Sốt Cỏ Khô Khác Sốt Thông Thường Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lava Cake Là Gì? Công Thức Làm Lava Cake “siêu Ngon” « Bạn Có Biết?
  • Blog Nấu Ăn Gia Đình Việt
  • 10 Công Thức Tự Làm Sốt Mayonnaise Ngon Tuyệt Tại Nhà
  • Khám Phá Bí Mật Hương Vị Của Malatang
  • Sốt Marinara Đa Năng: 12 Bước (Có Hình Ảnh)
  • Sốt cỏ khô là gì ? Sốt cỏ khô khác sốt thông thường như thế nào?

    Sốt cỏ khô có những triệu chứng tương tự với viêm mũi dị ứng, song không giống với cảm lạnh hay sốt thông thường do virus mà nguyên nhân gây bệnh thường bắt nguồn từ những phản ứng của cơ thể trước các tác nhân gây dị ứng. Để hiểu rõ hơn về căn bệnh với tên gọi còn khá xa lạ này mời bạn tham khảo bài viết sau.

    Sốt cỏ khô là gì?

    Sốt cỏ khô vẫn thường được gọi là viêm mũi dị ứng do triệu chứng bệnh tương đối giống nhau, nhưng không giớn với sốt hay cảm lạnh thông thường, bệnh không phải do virus mà nguyên nhân xuất phát từ các phản ứng gây dị ứng đến từ môi trường ngoài như phấn hoa, lông thú, mạt bụi…

    Sốt cỏ khô có thể gây khó chịu bởi những cơn đau cổ, làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động học tập và công việc hằng ngày, nếu điều trị sớm bạn có thể nhanh chóng lấy lại sức khỏe và tạo nên khác biệt lớn so với trước khi điều trị.

    Triệu chứng sốt cổ khô thường bắt đầu ngay lập tức khi vừa tiếp xúc với nguồn gây dị ứng, bao gồm các biểu hiện như:

     – Ho, hắt hơi.

    – Chảy nước mũi và nghẹt mũi.

    – Ngứa mắt hoặc mắt chảy nước.

    – Ngứa mũi, miệng hay vòm họng.

    – Mắt sưng hoặc có màu xanh da dưới mắt.

    – Giảm hoặc mất cảm giác về mùi vị.

    Các triệu chứng của bệnh thường bắt đầu tồi tệ tại một số thời điểm nhất định trong năm hoặc được kích hoạt do tiếp xúc với phấn hoa hay cỏ dại vào những thời điểm khác. Nếu các triệu chứng này làm ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn, hãy thăm khám và nhận trợ giúp từ bác sĩ ngay.

    Sốt cỏ khô khác sốt thông thường như thế nào?

    Sốt vỏ khô thường kéo dài hơn so vời các cơn sốt do cảm cúm hay cảm lạnh đến vài tuần. Triệu chứng bệnh cũng tương đối giống nhau bao gồm: sốt cao, chảy nước mũi, có dịch đờm nhầy ở mũi, ngứa (nếu là sốt cỏ khô thường tập trung chủ yếu ở khu vực quanh mắt, miệng, mũi hay cổ họng), những đợt sổ mũi do sốt cỏ khô gây ra cũng nghiêm trọng hơn.

    Tuy nhiên, vẫn có một số điểm khác biệt đáng lưu ý giữa sốt thông thường so với sốt cỏ khô. Cụ thể như:

    Sốt cỏ khô

    Sốt thông thường

    Dấu hiệu

    Chảy nước mũi, lưu lượng vừa, sốt nhẹ hoặc không kèm theo sốt.

    Nước mũi chảy ra có màu vàng, đặc. Đau nhức toàn than, mức độ sốt tùy thể trạng.

    Khởi phát

    Ngay sau khi tiếp xúc với yếu tố dị ứng.

    Từ một đến ba ngày sau khi tiếp xúc với virus gây bệnh.

    Thời gian

    Kéo dài hơn từ 1-2 tuần so với sốt thông thường.

    Kéo dài từ 5-7 ngày.

    Sốt cỏ khô có thể gây ra những phản ứng nguy hiểm cho cơ thể nếu không được điều trị kịp thời, vì vậy khi có các biểu hiện của bệnh bạn nên nhanh chóng tìm đến phòng khám chuyên khoa để được xử lý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sốt Cỏ Khô Là Gì Và Hay Gặp Trong Mùa Nào?
  • Các Loại Sốt Thường Dùng Trong Bữa Ăn Của Người Nhật (2): Sốt Unagi
  • Tìm Hiểu Về Kabayaki
  • Seoul’s Hotdog Là Gì Mà Nhất Định Bạn Phải Ăn Thử?
  • Sốt Xuất Huyết: Biểu Hiện Và Cách Chữa Trị Như Thế Nào?
  • Bệnh Sốt Vàng Là Gì, Cách Phòng Chống Bệnh Sốt Vàng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Gói Gia Vị Nấu Sốt Vang 500G. Cách Nấu Bò Sốt Vang Ngon Đúng Điệu
  • Cách Nấu Thịt Bò Sốt Vang Ngon Như Ngoài Hàng, Ai Cũng Khen Ngon
  • Biểu Hiện Bệnh Sốt Vẹt
  • Bệnh Virut Do Vẹt Và Bệnh Virut Do Chim
  • Thời Gian Ủ Bệnh Sốt Vẹt Bao Lâu?
  • Từ lâu bệnh sốt vàng được đánh giá là một căn bệnh nguy hiểm, có tính lây lan cao khi bị muỗi đốt. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ mắc bệnh sốt vàng cao do đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao nên nhiều muỗi. Vậy bệnh sốt vàng là gì? nguyên nhân và cách phòng bệnh sốt vàng?

    Bệnh sốt vàng là gì?

    Bệnh sốt vàng là một loại bệnh gây ra bởi virus, những người bị bệnh sốt vàng sẽ có làn da màu vàng nên còn được gọi là bệnh vàng da. Bệnh lây lan từ người này sang người khác do bị muỗi đốt (muỗi Aedes hoặc Haemagogus), những người bị bệnh sốt vàng có khả năng lây nhiễm cho người khác 5 ngày trước khi có triệu chứng cụ thể của bệnh.

    Bệnh sốt vàng

    Triệu chứng của bệnh sốt vàng

    Nhìn chung những người bị bệnh sốt vàng thường chỉ có triệu chứng nhẹ hoặc thậm chí không có triệu chứng, một số triệu chứng đặc trưng của bệnh sốt vàng bao gồm:

    • Sốt đột ngột
    • Đau đầu dữ dội
    • Có cảm giác ớn lạnh
    • Đau vùng lưng
    • Đau nhức toàn thân
    • Cảm giác buồn nôn, ói mửa
    • Cơ thể cảm thấy mệt mỏi, ốm yếu.

    Trong nhiều trường hợp các triệu chứng này sẽ giảm và hết hẳn trong 1 tuần, với những người có sức đề kháng yếu thì thời gian kéo dài lên tới 1 tháng, thậm chí nặng hơn với các triệu chứng như:

    Do bệnh sốt vàng có khả năng gây chết người chính vì vậy khi phát hiện bản thân có những hiện tượng như trên bạn nên tới ngay các cơ sở y tế gần nhất để được chữa trị kịp thời.

    Cách phòng chống bệnh sốt vàng

    Bệnh sốt vàng là bệnh có thể phòng chống được theo các cách sau:

    Tiêm vắc xin: Đây là cách đơn giản và nhanh nhất, vắc xin phòng bệnh sốt vàng đã có từ 80 năm trước, bạn nên tiêm vắc xin cho trẻ sơ sinh từ 9 tháng tuổi trở lên hoặc cho những người sống trong môi trường ẩm thấp, có nhiều muỗi, những nơi có nguy cơ mắc bệnh sốt vàng cao. Vắc xin có khả năng bảo vệ người được tiêm suốt cuộc đời chính vì vậy vì sức khỏe của bạn và gia đình bạn nên tiêm vắc xin ngay khi có thể.

    Tiêm vắc xin là cách hiệu quả nhất để phòng bệnh sốt vàng

    – Những người bị HIV/AIDS hoặc bị bệnh khác ảnh hưởng tới hệ miễn dịch của cơ thể.

    – Đang trải qua các điều trị y tế khác ảnh hưởng tới hệ miễn dịch như cấy ghép, ung thư…

    – Những người bị rối loạn tuyến ức.

    – Người lớn từ 60 tuổi trở lên.

    – Trẻ sơ sinh dưới 8 tháng tuổi.

    – Phụ nữ mang thai và cho con bú.

    Chống muỗi: Sử dụng các phương pháp chống muỗi truyền thống như phun thuốc xịt muỗi hay sử dụng màn ngủ cũng là cách hạn chế bị bệnh sốt vàng, ngoài ra cách này còn tránh được các bệnh khác lây truyền qua đường muỗi đốt như sốt rét, sốt xuất huyết..

    Tham khảo bài viết Muỗi – sát thủ gây ra cái chết nhiều nhất cho con người!

    Việc sử dụng điều hòa hoặc rèm cửa cũng hạn chế rất nhiều muỗi, bạn cũng nên mặc quần áo dài tay nếu thời tiết cho phép.

    Cách điều trị bệnh sốt vàng

    Hiện tại chưa có thuốc đặc trị bệnh sốt vàng, khi bị bệnh sốt vàng thì người bệnh nên nghỉ ngơi và uống nhiều nước để ngăn tình trạng mất nước. Khi bị sốt và đau đầu bạn cũng cần uống thuốc để giảm bớt tình trạng của bệnh, không nên sử dụng aspirin hoặc các thuốc chống viêm không chứa steriod (như NSAID hoặc ibuprofen, naproxen) giúp giảm nguy cơ chảy máu. Trường hợp diễn biến bệnh nặng bạn cần nhập viện để các bác sĩ tiện theo dõi và chăm sóc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Sốt Vàng: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Điều Trị Và Cách Phòng Ngừa
  • Phân Biệt Và Cách Sử Lý 2 Chứng Sốt Virus Và Sốt Xuất Huyết
  • Sốt Virus Ở Trẻ Em Bao Lâu Thì Khỏi
  • Sốt Virus Nên Ăn Gì?
  • Xử Lý Như Thế Nào Khi Bị Sốt Virus Ở Người Trưởng Thành?
  • Sốt Là Bệnh Gì? Dấu Hiệu Và Cách Chữa Bệnh Sốt

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Sốt Thường, Sốt Virus Và Sốt Xuất Huyết
  • 7 Cách Làm Nước Sốt Bbq Ướp Thịt Nướng Cực Ngon Và Đơn Giản
  • Cách Làm Nước Sốt Bbq Ngon Và Đơn Giản Cho Món Nướng
  • Sốt Phát Ban Kiêng Gì Nhanh Khỏi?
  • Balsamic Là Gì? Bạn Đã Biết Về Loại Gia Vị Đắt Đỏ Này Chưa?
  • Sốt là khi có sự tăng nhiệt độ cơ thể tạm thời do phản ứng lại với bệnh. Nhiệt độ cơ thể chúng ta không bằng nhau ở các thời điểm trong ngày và thường cao hơn vào buổi chiều. Tuy nhiên, nếu nhiệt độ cơ thể vượt quá 38 độ C thì rất có thể bạn đã bị sốt.

    Sốt thường xảy ra khi cơ thể phản ứng lại với sự nhiễm khuẩn như virus cảm cúm, viêm họng, viêm gây ra do tổn thương mô hoặc mắc bệnh…

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sốt, chẳng hạn như: phản ứng với một số loại thuốc, tiếp xúc lâu với ánh nắng mặt trời, sốc nhiệt, ngộ độc thực phẩm, mọc răng ở trẻ, khớp dạng thấp…

    + Cảm thấy lạnh khi mọi người xung quanh không cảm thấy thế.

    + Da sờ thấy nóng, đặc biệt là trán và mặt.

    + Khó tập trung.

    + Người bị run.

    Các nguyên nhân dẫn đến sốt

    Sốt có thể do một số yếu tố gây ra:

    + Một số loại thuốc

    + Da tiếp xúc quá nhiều với ánh sáng mặt trời, hoặc bị cháy nắng

    + Tiếp xúc với nhiệt độ cao hoặc tập thể dục quá sức kéo dài

    + Mất nước

    + Silicosis, một loại bệnh phổi gây ra do tiếp xúc lâu dài với bụi silic

    + Lạm dụng amphetamine

    + Bỏ rượu

    Tùy vào nguyên nhân gây ra sốt mà sẽ có những phương pháp điều trị khác nhau:

    + Nếu sốt do nhiễm khuẩn như viêm họng, bác sĩ sẽ chỉ định dùng kháng sinh để điều trị.

    + Sốt gây ra bởi virus như cảm lạnh, bạn có thể dùng thuốc kháng viêm không chứa steroid như paracetamol hoặc naproxen để làm giảm các triệu chứng khó chịu.

    Khi bị sốt, tình trạng đổ mồ hôi rất phổ biến, do vậy, bạn nên bổ sung nhiều nước để ngăn ngừa tình trạng mất nước. Mặc dù các loại thuốc không cần kê đơn rất phổ biến và có hữu dụng nhưng chúng không giúp điều trị bệnh gây ra bởi nhiệt độ cao hoặc tập luyện quá sức. Do đó, khi bị sốc nhiệt, bạn cần đến ngay các cơ sở y tế để điều trị kịp thời.

    Lưu ý với trẻ em và trẻ vị thành niên không nên uống thuốc aspirin vì uống quá nhiều aspirin có thể dẫn đến hội chứng Reye.

    Cách xử trí khi người bệnh bị sốt:

    Khi bệnh nhân đang lên cơn sốt: để người bệnh nằm ở nơi thông thoáng khí, không có gió lùa và hạn chế nhiều người vây quanh.

    Đo nhiệt độ: có thể đặt nhiệt kế ở dưới nách hoặc ở hậu môn của bệnh nhân. Nhiệt kế phải được giữ trong nách ít nhất 3 phút, cánh tay của bệnh nhân áp sát vào ngực.

    Dùng thuốc hạ sốt khi người bệnh sốt ≥ 390C.

    Nếu thân nhiệt của người bệnh không quá 39 0 C: bệnh nhân cần được cởi quần áo ấm, mặc thoáng mát, không đắp chăn. Đặc biệt, theo dõi nhiệt độ của người bệnh thường xuyên, cứ khoảng 1 – 2 giờ đo 1 lần.

    Chườm mát để hạ sốt bằng cách: lau người, hoặc tắm cho người bệnh bằng nước ấm. Dùng khăn bông mềm, sạch, nhúng vào chậu nước ấm, vắt hơi ráo rồi lau lên khắp thân mình, nhất là các vị trí như nách, bẹn, chờ bốc hơi thì lau tiếp cho tới khi thân nhiệt hạ xuống dưới 38 0 C, mặc lại quần áo cho người bệnh. Cần phải theo dõi nếu thân nhiệt lại tăng thì lại chườm tiếp.

    Cho người bệnh uống nhiều nước, nếu ở trẻ còn bú thì cho bú nhiều hơn. Bù nước và điện giải cho bệnh nhân bằng Oresol theo đúng hướng dẫn sử dụng.

    Cho bệnh nhân ăn uống bình thường bằng các loại thức ăn lỏng, dễ tiêu như cháo, súp…, uống thêm các loại nước hoa quả như cam, chanh…

    Khi nào cần đưa người bị sốt đến bệnh viện?

    Ngoài ra, bạn nên giữ những thói quen sinh hoạt điều độ để kiểm soát và ngăn ngừa bệnh một cách tốt hơn như:

    + Giữ vệ sinh bằng cách rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh để làm giảm nguy cơ nhiễm trùng do vi khuẩn và virus phát triển.

    + Tránh tiếp xúc với những người đã nhiễm bệnh để hạn chế virus có thể lây lan. Những người chăm sóc thường xuyên cho bệnh nhân nên rửa tay với nước ấm và xà phòng.

    + Uống nhiều nước, ăn nhiều rau xanh để tăng sức đề kháng cho cơ thể.

    Sau khi cơ thể đã khỏe mạnh, hãy bổ sung thêm khoáng chất và vitamin C để tăng sức đề kháng. Tập thể dục thường xuyên cũng giúp sức khỏe của bạn tốt hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viêm Amidan Là Gì, Sốt Không? Hình Ảnh, Triệu Chứng, Nguyên Nhân, Thuốc Điều Trị
  • Sốt Viêm Amidan Biểu Hiện Ra Sao? Bao Nhiêu Ngày Thì Khỏi?
  • 12 Tác Dụng Của Nước Sốt Alfredo Đối Với Sức Khỏe Con Người
  • Sốt Rét: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Bệnh Sốt Rét Là Gì? Nguyên Nhân Và Dấu Hiệu Nhận Biết
  • Sốt Xuất Huyết Và Sốt Rét: Sự Khác Biệt Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Worcestershire Sauce Là Gì ? , Nguồn Gốc, Thành Phần
  • Sốt Xuất Huyết Là Bệnh Gì?
  • Sốt Xuất Huyết: Nguyên Nhân, Biến Chứng Và Cách Điều Trị
  • Sốt Zika Là Gì? Dấu Hiệu Và Cách Phòng Chống
  • Nghị Luận Về Tác Dụng Của Sách Đối Với Đời Sống Con Người
  • Sốt xuất huyết và sốt rét là hai căn bệnh lây nhiễm do muỗi mang mầm bệnh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của cả người lớn và trẻ nhỏ. Hai bệnh nhiễm trùng này phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, gây ra tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao cho nhiều bệnh nhân trên thế giới.

    Mặc dù chúng ta thường cho rằng sốt xuất huyết và sốt rét đồng nghĩa với nhau, nhưng sự thực không như vậy. Điều cần thiết là phải biết sự khác biệt giữa hai căn bệnh để có sự chuẩn bị tốt nhất cho tất cả các tình huống.

    Sốt xuất huyết là do vết cắn của muỗi cái Andes gây ra nhiễm virus ở người trong khi Sốt rét do Parasite Plasmodium gây ra và có thể ảnh hưởng đến cả người và động vật. Cả Sốt rét và sốt xuất huyết đều có thể dẫn đến tử vong và cực kỳ nguy hiểm.

    Bệnh bắt đầu bằng một vết muỗi đốt và thường kết thúc bằng việc tử vong của người đó nếu không điều trị kịp thời. Muỗi có thể cắn bạn bất cứ nơi nào dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng.

    Vậy sự khác biệt giữa Sốt xuất huyết và sốt rét là gì?

    Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng đơn bào thuộc họ Plasmodium gây ra và thường lây truyền qua vết cắn của muỗi Anophele hoặc do kim tiêm hoặc truyền máu.

    Sốt rét ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào máu đỏ hoặc hồng cầu có thể lây truyền trong muỗi Anophele cắn một người hoặc động vật đã bị nhiễm bệnh này. Sốt rét có thời gian ủ bệnh là 7 ngày và đối với sốt xuất huyết thì khác nhau.

    Sốt xuất huyết là một bệnh nhiễm virus do muỗi truyền. Nhiễm trùng dẫn đến cúm như sốt và bệnh trong khoảng thời gian đều đặn, phát triển thành một biến chứng gây tử vong, được gọi là sốt xuất huyết nặng.

    Sốt xuất huyết không phải là bệnh truyền nhiễm nhưng ảnh hưởng đến hồng cầu và tiểu cầu. Muỗi sốt xuất huyết cắn một người trong ánh sáng ban ngày thích hợp và các tác dụng phụ của nó bắt đầu xuất hiện trong khoảng 4 đến 13 ngày, trước khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng thích hợp nào.

    Sốt xuất huyết còn được gọi là sốt xương gãy có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng. Các dạng nặng hơn bao gồm hội chứng sốc sốt xuất huyết và sốt xuất huyết (DHF). Bệnh nhân phát triển các dạng sốt xuất huyết nghiêm trọng hơn thường phải nhập viện.

    Sốt rét được truyền qua vết cắn của muỗi cái Anophele. Sốt rét chỉ có thể lây lan qua vết cắn của muỗi không giống như sốt xuất huyết. Muỗi truyền bệnh thường trở nên hoạt động và cắn trong đêm.

    Sốt xuất huyết được khuếch tán bởi vết cắn của muỗi Aedes aegypti bị nhiễm bệnh. Nó có thể lây lan thêm nếu một con muỗi khác tấn công người bị nhiễm bệnh và sau đó lây sang một số người khác. Muỗi Aedes aegypti tấn công vào ban ngày.

    Bệnh sốt rétphổ biến rộng rãi ở châu Phi cận Sahara. Tuy nhiên, châu Á và châu Mỹ Latinh cũng bị ảnh hưởng.

    Ở mức độ thấp hơn, một số khu vực của Châu Âu và Trung Đông cũng bị ảnh hưởng, vị trí chủ yếu là nông thôn.

    Sốt xuất huyết phổ biến rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đây là loài đặc hữu ở hơn 100 quốc gia ở Châu Phi, Đông Địa Trung Hải và Châu Mỹ, Tây Thái Bình Dương và Nam Thái Châu Á. Vị trí chủ yếu là đô thị.

    Chúng bao gồm Plasmodium Vivax, Plasmodium Malaria, Plasmodium ovale, Plasmodium Falciparum và Plasmodium Knowlesi.

    Sốt xuất huyết là một bệnh gây sốt cấp tính do virus truyền qua muỗi Aedes, virus sốt xuất huyết, ví dụ DENV, bao gồm 4 loại huyết thanh (DENV 1/ DENV 2/ DENV 3/ DENV 4), là thành viên của họ flaviviridae, chi flavachus.

    Tất cả 4 kiểu huyết thanh DENV đã nổi lên từ các chủng sylvatic trong các khu rừng ở Đông Nam Á.

    Thông thường, bệnh sốt rét có thời gian ủ bệnh từ 10 – 15 ngày sau khi bị muỗi đốt.

    Thời gian ủ bệnh sốt xuất huyết dao động từ 3 – 14 ngày, sau khi muỗi đốt bị nhiễm bệnh, trung bình từ 4 – 7 ngày.

    Sốt xuất huyết thường kéo dài trong một thời gian dài hơn và xuất hiện trong 2 – 3 ngày. Nó biến mất một thời gian và tăng trở lại và tình trạng tồi tệ hơn trước.

    Mặt khác, sốt rét kéo dài trong một thời gian ngắn hơn và xuất hiện trong các giai đoạn cực kỳ lạnh, đổ mồ hôi và cực lạnh trở lại.

    Phương thức truyền bệnh của sốt rét là qua Vectơ muỗi, kim đâm, truyền máu.

    Phương thức truyền bệnh của sốt xuất huyết chỉ qua muỗi Aedes cắn.

    Sốt rét là một căn bệnh nghiêm trọng do truyền Plasmodium, một động vật nguyên sinh ký sinh, xâm nhập vào cơ thể thông qua vết cắn của muỗi bị nhiễm bệnh. Các triệu chứng phổ biến của bệnh sốt rét như sau:

    Phát ban thường chỉ được quan sát trong sốt xuất huyết. Bệnh nhân sốt rét không biểu hiện phát ban. Vì vậy, nếu bạn nhận thấy phát ban trên người bệnh, có nhiều khả năng họ đang bị sốt xuất huyết.

    • Sốt cao trong 2-3 ngày, ớn lạnh,
    • Nhức đầu không chịu nổi
    • Buồn nôn liên tục,
    • Ho khan không ngừng, ngất,
    • Ra mồ hôi nhiều, Vàng da,
    • Gan to, lá lách to, chán ăn (rối loạn ăn uống đặc trưng bởi trọng lượng thấp).
    • Đau cơ và không có khả năng thực hiện các nhiệm vụ thể chất
    • Khó chịu và mệt mỏi
    • Chuyển động lỏng và chảy nước mũi
    • Sốt đột ngột (39 đến 41 độ C),
    • Nhức đầu, mệt mỏi,
    • Đau dữ dội sau mắt
    • Số lượng tế bào bạch cầu thấp,
    • Ngứa, đau quỹ đạo retro,
    • Nổi mề đay da, dễ bầm tím
    • Đau khớp vừa (mắt cá chân, đầu gối, khuỷu tay),
    • Sưng hạch và nổi mẩn ở chi trên và dưới ,
    • Ngứa dữ dội, nổi hạch bạch huyết, nóng mắt,
    • Chán ăn và vị giác, chảy máu cam (chảy máu mũi),
    • Máu trong phân và phân, chảy máu nướu.
    • Cơn sốt đôi khi tan biến và sau đó tái phát diễn ra cùng với đỏ da và phát ban.

    Mặt khác, nếu một người bị ớn lạnh và đổ mồ hôi nhiều, họ có thể được chẩn đoán mắc bệnh Sốt rét.

    Một người bị nhiễm sốt xuất huyết sẽ cho thấy số lượng tiểu cầu trong máu giảm mạnh trong khi một người bị sốt rét sẽ cho thấy các tế bào hồng cầu bị nhiễm bệnh vì đó là nơi sốt cao nhất.

    Không có vắc-xin có sẵn cho bệnh sốt rét. Tuy nhiên, thuốc chống sốt rét có sẵn. Tốt hơn là bạn nên chủ động bảo vệ bản thân khỏi muỗi đốt.

    Các loại thuốc chống sốt rét nên được sử dụng dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia y tế.

    Không có vắc-xin có sẵn sốt xuất huyết. Tuy nhiên, để an toàn, chỉ cần tránh muỗi đốt. Uống nước đầy đủ được khuyến khích để tránh bị mất nước cho cơ thể.

    Các biến chứng đe dọa tính mạng do nhiễm sốt rét với Plasmodium falciparum có thể bao gồm:

    Biến chứng khá là nghiêm trọng khi tình trạng tiến triển thành sốt xuất huyết nặng. Vết bầm tím và đốm máu bên dưới da, viêm phổi và sưng tim có thể xảy ra.

    • Sốt rét não tức là nhiễm trùng sốt rét đến não kèm theo co giật, nhầm lẫn và mệt mỏi quá mức dẫn đến hôn mê và thậm chí tử vong.
    • Giữ nước trong phổi (phù phổi).
    • Suy thận.
    • Chức năng gan dương.
    • Thiếu máu bất sản (Khi cơ thể ngừng sản xuất đủ tế bào máu mới).
    • Giảm WBC tức là bạch cầu.
    • Hạ đường huyết (Giảm lượng đường trong máu).
    • Thay đổi hóa học máu, bao gồm natri thấp và pH thấp (nhiễm axit lactic).
    • Cơn sốt Blackwater sốt (xé rách RBCs tức là hồng cầu, gây ra nước tiểu có màu sẫm).

    Sốt xuất huyết nặng là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng có thể gây tử vong và dẫn đến tỷ lệ tử vong cho 5% số người nhiễm bệnh.

    Trích nguồn bài viết từ Wiki FCarePlus

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Sốt Vàng Là Gì? Nguyên Nhân, Cách Phòng Và Điều Trị Triệt Để
  • Sốt Virus Ở Người Lớn: Biểu Hiện Và Cách Chữa Trị Hiệu Quả
  • Bệnh Sốt Virus, Triệu Chứng Và Cách Điều Trị
  • Cách Làm Mì Tương Đen Hàn Quốc Đơn Giản Nhất Tại Nhà
  • Mỳ Sốt Tương Đen Kiểu Hàn
  • Con Sốt Hoa Tulip Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Cocktail Tôm Chuẩn Nhà Hàng 5 Sao Ngay Tại Nhà
  • Cocktail Là Gì? 7 Cách Phân Loại Cocktail Bartender Cần Biết
  • Classic Cocktail Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Classic Cocktail
  • Những Loại Cocktail Tại Quán Bar
  • Công Nghệ Sản Xuất Nước Sốt Caramel
  • Bong bóng hoa Tulip

    Cơn sốt hoa Tulip diễn ra tại Hà Lan, trong Thời kỳ Hoàng kim Hà Lan. Vào thời điểm đó, nước này có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới nhờ vào sự phát triển thương mại quốc tế và các hoạt động thương mại mở rộng.

    Sự bùng nổ kinh tế đã giúp nhiều người đạt được sự giàu có và thịnh vượng, từ đó thúc đẩy thị trường hàng hóa xa xỉ. Trong bối cảnh này, một trong những mặt hàng được thèm muốn nhất là hoa tulip, đặc biệt là những bông hoa có yếu tố đột biến khiến chúng sặc sỡ hơn các bông hoa thường khác. Những bông hoa độc đáo này khác biệt so với các lựa chọn sẵn có khác, vì vậy mọi người đều muốn sở hữu để khoe chúng vì màu sắc và kiểu dáng khác thường.

    Tùy thuộc vào sự đa dạng, giá hoa có thể vượt quá thu nhập của một số công nhân hoặc thậm chí giá của một ngôi nhà. Bên cạnh đó, giá hoa được thị trường tương lai đẩy lên với việc hoa sẽ không được bán trao tay ngay lập tức mà là trong tương lai.

    Cuối cùng, nguồn cung hoa tulip trở lên quá cao do nông dân ồ ạt dùng đất của mình để trồng hoa, khiến cho bong bóng nổ vào năm 1637 chỉ trong vòng một tuần. Một số người tin rằng bệnh dịch hạch cũng có tác động vì những người mua không xuất hiện tại cuộc đấu giá hoa tulip ngay trước khi giá hoa rơi tự do. Các nhà sử học không chắc liệu có bất kỳ trường hợp phá sản nào thực sự xảy ra do Cơn sốt hoa Tulip hay không, vì không có hồ sơ tài chính ghi chép lại vào thời điểm đó, nhưng sự kiện chắc chắn gây thiệt hại đáng kể cho các nhà đầu tư nắm giữ hợp đồng hoa tulip.

    Cơn sốt hoa Tulip và Bitcoin

    Khá phổ biến khi bạn được nghe rằng Bitcoin và các đồng tiền điện tử khác hiện đang theo một mô hình tương tự. Tuy nhiên, thế giới tài chính hiện nay có nhiều khác biệt và lượng người tham gia là lớn hơn nhiều so với thế kỷ 17, vì vậy việc liên hệ giữa Cơn sốt hoa Tulip và Bitcoin là không hợp lý. Hơn nữa, tiền điện tử và thị trường truyền thống là khác nhau trên nhiều khía cạnh.

    Các khác biệt chính

    Ngược lại, Bitcoin là kỹ thuật số và có thể được chuyển giao trong một mạng ngang hàng toàn cầu. Nó là một đồng tiền kỹ thuật số được bảo đảm bằng các kỹ thuật mã hóa, giúp cho nó có khả năng chống lại gian lận. Bitcoin không thể được sao chép hoặc phá hủy và có thể dễ dàng chia thành nhiều đơn vị nhỏ hơn. Hơn nữa, bitcoin là tương đối khan hiếm với một nguồn cung hạn chế cố định ở mức tối đa là 21 triệu đơn vị. Đúng là thế giới kỹ thuật số của các đồng tiền điện tử có một số rủi ro, nhưng việc áp dụng các nguyên tắc bảo mật chung sẽ giúp tiền của bạn được an toàn.

    Cơn sốt hoa Tulip có thực sự là bong bóng?

    Năm 2007, Anne Goldgar xuất bản một cuốn sách mang tên “Cơn sốt hoa Tulip: Tiền, danh dự và kiến thức trong Thời kỳ Hoàng kim Hà Lan”. Trong sách, bà trình bày rất nhiều bằng chứng cho thấy câu chuyện phổ biến về Cơn sốt hoa Tulip thực ra chứa đầy yếu tố không thật. Dựa trên nghiên cứu từ hệ thống lưu trữ, các lập luận của Goldgar cho thấy rằng sự tăng giá và nổ bong bóng hoa tulip là nhỏ hơn nhiều so với mức mà hầu hết chúng ta có xu hướng tin vào. Bà cho rằng hậu quả kinh tế là khá nhỏ và số lượng người tham gia thị trường hoa tulip là không nhiều.

    Kết luận

    Bất kể Cơn sốt hoa Tulip là một bong bóng tài chính hay không, sẽ không hợp lý khi so sánh hoa tulip với Bitcoin (hoặc bất kỳ tiền điện tử nào khác). Sự kiện đã diễn ra gần 400 năm trước, trong một bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác, và hoa chắc chắn không thể so sánh được với một đồng tiền kỹ thuật số được bảo đảm bằng kỹ thuật mật mã.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khi Lên Cơn Sốt Rét Bạn Cần Làm Gì?
  • Cumin Cọ Xát Gà Nướng Với Sốt Chimichurri
  • Cách Nấu Steak Và Trứng Sandwich Cùng Sốt Chimichurri
  • 2 Cách Làm Ức Gà Áp Chảo Sốt Chimichurri Và Bechamel Cực Ngon Miệng
  • Một Lịch Sử Ngắn Gọn Của Chimichurri: Nước Sốt Yêu Thích Của Argentina
  • Sốt Pesto Là Gì? Các Món Ăn Ngon Từ Sốt Pesto

    --- Bài mới hơn ---

  • Nước Sốt Pesto: Những Gì Nó Được Ăn Với Và Những Gì Được Kết Hợp Với
  • Nước Sốt Xo Là Gì? Từ Tên Gọi Đến Giá Trị Dinh Dưỡng Cụ Thể
  • Bệnh Sốt Rét: Triệu Chứng, Điều Trị Và Phòng Ngừa
  • Nguyên Nhân Và Dấu Hiệu Bệnh Sốt Rét
  • Triệu Chứng Của Bệnh Sốt Rét Là Gì?
  • 1 Sốt Pesto là gì?

    Sốt Pesto là một loại sốt có nguồn gốc từ Genova của nước Ý. Loại sốt này đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ 16. Sốt Pesto có vị béo ngậy của phô mai, mùi thơm đặc trưng từ húng quế hoặc ngò rí và cuối cùng là vị mặn nhẹ của muối.

    Có 3 cách chế biến sốt Pesto tại nhà dễ dàng nhất là:

    Sốt Pesto truyền thống: Được chế biến từ các loại nguyên liệu là hạt thông Châu Âu, tỏi nghiền, húng quế, phô mai, muối hạt,… Cuối cùng trộn đều cùng với một chút dầu ô liu.

    Sốt Pesto ngò rí: Cũng là những nguyên liệu trên và bạn chỉ thay hạt thông bằng đậu phộng và ngò rí bằng húng quế là cũng có thể làm được thành sốt Pesto rồi đấy.

    Sốt Pesto chay: Được tạo ra từ các nguyên liệu gồm cải bó xôi, quả bơ, hạt điều, muối và tiêu. Bước cuối cùng là trộn đều cùng dầu ô liu.

    2 Những món ăn ngon được làm từ sốt Pesto

    Mỳ Ý sốt Pesto

    Chuẩn bị mỳ Ý cùng với những nguyên liệu làm sốt Pesto như phô mai Parmesan, hạt thông hoặc hạt óc chó, tỏi, muối và whipping cream (nếu thích). Luộc mỳ và trộn cùng với sốt để có một món mỳ ý đậm đà, béo ngậy.

    Mua mì Ý tại Bách hóa XANH làm mì Ý sốt Pesto:

    Pizza hải sản sốt Pesto

    Một chiếc bánh pizza hải sản kèm sốt pesto vô cùng hấp dẫn dành cho cả nhà cuối tuần. Với hương bị béo ngậy của phô mai cùng với cà chua tươi và sốt Pesto đậm đà, món pizza hải sản trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết.

    Bánh mì chấm sốt Pesto

    Chuẩn bị sốt Pesto cùng với bánh mì đã nướng qua. Chấm bánh mì với sốt Pesto thì đúng tuyệt vời. Vị giòn giòn của bánh mì kèm với sốt béo ngậy. Đây chắc chắn là một món ăn ngon mà các bé sẽ yêu thích đấy.

    Salad sốt Pesto

    Gà nướng rau củ sốt Pesto

    Bạn chỉ cần chuẩn bị ức gà, một số rau củ như đậu cô ve, cà chua bi, và các gia vị làm sốt như hạt thông, phô mai,… Áp chảo ức gà, đậu cô ve. Sau đó cắt cà chua bi rồi cho sốt lên. Ức gà áp chảo mềm nhưng vẫn giữ được vị thơm ngon, đậu cô ve chín tới cùng với cà chua bi. Có thêm sốt nên món ăn sẽ ngon hơn rất nhiều.

    Tham khảo phô mai làm sốt Pesto tại Bách hóa XANH:

    Kinh nghiệm hay Bách Hóa XANH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Làm Bánh Mì Thịt Gà Sốt Teriyaki Nhật Bản.
  • Từ Điển Từ Ngữ Tiếng Nhật “teriyaki”
  • Hướng Dẫn Cách Làm Sốt Teriyaki, Cách Sử Dụng Teriyaki
  • Thịt Gà Sốt Teriyaki (Chicken Teriyaki)
  • 5 Phút Tự Làm Sốt Teriyaki Tại Nhà Đơn Giản Cực Ngon
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100