Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác

--- Bài mới hơn ---

  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác
  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • Phản Ánh Của Hoạt Động, Phản Ánh Tâm Lý Và Triết Học
  • Câu 35: Ý Thức Và Nguồn Gốc Ý Thức Theo Triết Học Mac
  • Có Chân Lý Khách Quan Không?
  • Ở Đức, trong khi Kierkegaard chối bỏ chủ nghĩa duy lý của Hêghen để đi vào mặc khải Thiên Chúa, thì N.Stirner, một đại biểu của phái Hêghen trẻ – lại kết hợp hệ thống Hêghen với chủ nghĩa cá nhân triệt để. Và trong khi Kierkegaard cố gắng thoát hẳn khỏi truyền thống cổ điển, thì N.Stirner lại không thể vượt qua hệ thống Hêghen, mà tái thiết nó theo tinh thần của cái Tôi. Vào năm 1948, khi C.Mác và Ph.Ăngghen công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, thì cũng trong khoảng thời gian đó, Kierkegaard xuất bản cuốn Đối thoại Kitô giáo, với nội dung chủ yếu là chống lại chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa vô thần.

    Chính trong bối cảnh đó, thái độ đối với truyền thống, cụ thể là đối với hệ thống Hêghen, đã có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành bản chất của triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập. Thay vì sự chối bỏ, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh tính kế thừa có chọn lọc tinh hoa tri thức nhân loại, từ cổ đại đến các bậc tiền bối trực tiếp, nhưng không hoà lẫn vào dòng chảy của chủ nghĩa nhân văn phương Tây như E.Fromm – một đại diện của trường phái Frankfurt – đã làm, mà thực hiện bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Yếu tố nào đóng vai trò chủ đạo trong sự lựa chọn cách tiếp cận đó của C.Mác và Ph.Ăngghen? Theo chúng tôi, đó là phép biện chứng. Ngay từ khi C.Mác và Ph.Ăngghen còn đứng trên lập trường duy tâm, phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, từ Kant đến Hêghen, đặc biệt là phép biện chứng Hêghen, vẫn có sức lôi cuốn mạnh mẽ nhất. Trong diện mạo văn hóa của chủ nghĩa Mác luôn bao hàm nguyên tắc kế thừa và phát triển, sự đánh giá nghiêm túc và khoa học đối với di sản văn hóa tinh thần nhân loại, được cô đọng trong các học thuyết triết học, từ Cổ đại đến Cận đại, đồng thời xác định triết học như một “tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại”(1). Không chỉ thế, C.Mác còn nhấn mạnh rằng, “các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất , quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học”(2).

    Có thể nói, việc tiếp cận với môi trường văn hóa sống động của châu Âu nói chung, nước Đức nói riêng và xa hơn nữa, việc làm quen với di sản văn hóa đồ sộ của nhân loại, đã tạo nên bản chất cách mạng và giàu tính nhân văn cho triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa Mác là giải phóng con người và tạo ra môi trường cho sự sáng tạo tự do của con người, hay nói như C.Mác và Ph.Ăngghen, tạo ra môi trường sáng tạo cho những Raphaen của thời đại(3). Điều quan trọng là, những bài học rút ra từ việc tìm hiểu, nhận thức các giá trị văn hóa nhân loại đã thôi thúc những người sáng lập chủ nghĩa Mác tìm kiếm con đường hiện thực của sự giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đưa lịch sử tiến về phía trước. Trong triết học Mác, ngay từ lúc mới hình thành, chức năng hệ tư tưởng đã không tách rời chức năng văn hóa. T.I.Ôigiécman cho rằng, khi đề cập đến chức năng hệ tư tưởng của triết học Mác, chúng ta cần nhấn mạnh tính định hướng của nó đối với giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống ý thức hệ tư sản; song, chớ nên quên rằng, triết học Mác đã kế thừa những gì tốt đẹp nhất trong triết học tư sản cổ điển, mà đó lại chính là những yếu tố đã đóng góp vào kho báu tinh thần của nhân loại. Thái độ hư vô chủ nghĩa của phái “Văn hóa vô sản” đối với lịch sử chẳng khác nào đồng nhất triết học Mác với hệ tư tưởng, phủ nhận tính kế thừa trong sự phát triển tư duy(4).

    Triết học Mác, cũng như các học thuyết triết học khác, không thể hình thành một cách tự phát. Để tạo nên một hệ thống lý luận chặt chẽ, nó phải cần đến một khối lượng công việc khoa học đồ sộ, sự hoạt động nghiên cứu không mệt mỏi của tư duy, sự nhận thức thấu đáo về mặt lý luận toàn bộ thành tựu khoa học và kinh nghiệm đấu tranh xã hội của các thời đại lịch sử. Bước ngoặt cách mạng trong triết học Mác; đương nhiên, gắn liền một cách biện chứng với việc nắm bắt các thành tựu tư duy lý luận và văn hóa của nhân loại. Trong Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin đã chỉ rõ rằng, mọi toan tính xem xét chủ nghĩa Mác bên ngoài con đường phát triển của văn hóa nhân loại, biến nó thành một học thuyết biệt phái, “đóng kín và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới” đều là biểu hiện của cách tiếp cận mang tính xuyên tạc, trái với chân lý(5). Các thành quả của tư tưởng nhân loại, trong đó có triết học luôn chứa đựng những vấn đề đòi hỏi phải có cả lời giải đáp mới lẫn những “hạt nhân hợp lý” mà C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng như tiền đề lý luận của mình.

    2. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, ngay từ những dòng đầu tiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu: bóng ma của chủ nghĩa cộng sản. Tất cả những thế lực của châu Âu cũ… đều đã liên hợp lại thành một liên minh thần thánh để trừ khử bóng ma đó”(6). Điều đó cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác đã trở thành một nỗi “ám ảnh” đối với “châu Âu cũ” và do vậy, sự đánh giá về C.Mác, cũng như chủ nghĩa Mác đã trở thành điểm nóng của diễn đàn tư tưởng trong suốt gần hai thế kỷ qua.

    Sự đánh giá của các nhà tư tưởng phương Tây hiện đại về chủ nghĩa Mác không đồng nhất do thiên hướng chính trị của họ. Có thể kể đến ba biểu hiện:

    1) Xuyên tạc bản chất của chủ nghĩa Mác, xem chủ nghĩa Mác là một dị biệt, hay “chủ nghĩa bè phái”,

    3) Đối lập C.Mác với các nhà mácxít khác, tách C.Mác khỏi Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, xem sự phát triển của chủ nghĩa Mác ở Liên Xô, các nước Đông Âu là chủ nghĩa Mác đã bị biến dạng.

    Bên cạnh đó, vẫn có nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đánh giá nghiêm túc học thuyết của C.Mác, đặc biệt nhấn mạnh tính mở, tính sáng tạo của chủ nghĩa Mác. Chẳng hạn, trong Những bóng ma của Mác, nhà tương lai học người Pháp – G.Đêriđa (Jacques Derrida) đã suy nghĩ như thế, khi ông phê phán hiện tượng “đóng vai Mác” để chống lại Mác, vô hiệu hóa một “sức mạnh tiềm tàng” và qua đó, khẳng định chủ nghĩa cực quyền đã làm cho “tinh thần mácxít trải qua những cơn đau lịch sử”(7). Theo ông, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là sự giã từ một mô hình, chứ không phải sự đoạn tuyệt đối với một di sản mà giá trị của nó, thể hiện ở tinh thần phê phán và sự “cứu thế mới”, “sự khai sáng như một đảm bảo cho tương lai”. Với quan điểm đó, ông kêu gọi: “chúng ta hãy trở lại với C.Mác, chúng ta hãy đọc ông như đọc một nhà triết học vĩ đại”(8) và nói thêm rằng, cần đọc phần sinh động nhất, cách mạng nhất, phần mở hướng cho cuộc sống. Khi nhấn mạnh một trong những đặc tính cơ bản của chủ nghĩa Mác là tính mở và tính sáng tạo không ngừng, G.Đêriđa đã đem đối lập “chủ nghĩa Mác của Mác” với “chủ nghĩa Mác bị xuyên tạc”, hay chủ nghĩa Mác giáo điều và qua đó, khẳng định sự khác nhau giữa chủ nghĩa Mác “nguyên bản” với chủ nghĩa Mác bị xuyên tạc” là ở chỗ, cái thứ nhất lấy thực tiễn làm tiền đề xuất phát, còn cái thứ hai thì ngược lại. Hơn thế nữa, ông còn khẳng định rằng, bằng sự phân tích sắc sảo của mình, C.Mác đã chứng minh rằng, chủ nghĩa tư bản, với tất cả những mâu thuẫn nội tại của nó, không phải là sự lựa chọn cuối cùng của nhân loại.

    Trên thực tế, “những vết loét” của xã hội tư sản, trong đó có tình trạng tha hoá con người, được C.Mác luận giải trong nhiều tác phẩm của ông, không hề mất đi, mà ngược lại, còn trở nên phổ biến và sinh sôi nảy nở trong cái gọi là “trật tự thế giới mới” hôm nay. Đó là: 1) từ nạn thất nghiệp theo nghĩa truyền thống đến “nạn thất nghiệp mới” và “nạn nghèo đói mới” trong cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện đại; 2) tình trạng vô gia cư, không quốc tịch gắn với thí nghiệm mới về lãnh thổ quốc gia và công dân; 3) chiến tranh kinh tế trên phạm vi toàn cầu đã và đang chi phối quan niệm thực tế về luật pháp quốc tế và sự thực thi luật pháp quốc tế một cách không bình đẳng và thiếu nhất quán; 4) sự bất lực trong việc chế ngự những mâu thuẫn về khái niệm, chuẩn mực và thực tế của thị trường tự do, sự can thiệp của các nước phát triển vào các nước đang phát triển vì lợi ích vị kỷ của họ; 5) sự gia tăng tình trạng nợ nước ngoài và những cơ chế gắn liền với nó làm cho một phần lớn nhân loại bị đói và bị đẩy tới tình trạng thất vọng; 6) nền công nghiệp vũ khí và tình trạng buôn bán vũ khí chi phối cả các hoạt động nghiên cứu khoa học – mâu thuẫn giữa nghiên cứu vì lợi ích dân sinh và nghiên cứu nhằm hoàn thiện phương tiện giết người hàng loạt; 7) tình trạng phát tán vũ khí nguyên tử đang đe doạ sự tồn vong của nhân loại; 8) chiến tranh sắc tộc dưới chiêu bài bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia; 9) quyền lực ngày càng lớn và vô hạn mang tính toàn cầu của những nhà nước ma, siêu hiệu lực và đặc biệt tư bản chủ nghĩa tức maphia và côngxoócxiom buôn bán ma tuý trên tất cả các lục địa; 10) tình trạng nhất thời, không bền vững của luật pháp quốc tế và các thiết chế của nó do những khác biệt về văn hoá và sự khống chế của một số nước lớn(9).

    Có thể nói, những đánh giá của G.Đêriđa về C.Mác là những đánh giá đầy tính thuyết phục về mặt lịch sử. Thật vậy, ngay trong hai tác phẩm viết chung đầu tiên – Gia đình thần thánh Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra tuyên ngôn về triết học mới thay cho thứ triết học “bay lượn cao trên cuộc sống”, tức triết học tư biện của Hêghen và phái Hêghen trẻ. Phê phán đồ thức luận lôgíc của Hêghen, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng, không phải cuộc sống diễn ra theo những đồ thức luận sẵn có của tư duy mà ngược lại, những đồ thức luận ấy cần thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn luôn biến đổi. Và, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các ông đã đề cập đến sự vận dụng sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản vào điều kiện cụ thể của mỗi nước với những chiến lược và sách lược thích hợp(10).

    Như vậy, ở bình diện nhận thức và hoạt động thực tiễn, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới thường xuyên phương thức tiến hành cách mạng vô sản, không chấp nhận sự khuôn mẫu, giáo điều, cũng như tư tưởng phiêu lưu chính trị dưới những biến tướng tinh vi của nó, như chủ nghĩa tự do cấp tiến và chủ nghĩa vô chính phủ trong một số tổ chức công nhân. Phép biện chứng duy vật khi được vận dụng vào việc phân tích tiến trình lịch sử – xã hội và hiện thực hoá các lý tưởng dân chủ, nhân văn, đã trở thành minh chứng sống động cho tính mở và tính sáng tạo của chủ nghĩa Mác. Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhà triết học Đanien Benxaiđơ đã nhấn mạnh tính “vượt trước thời đại” của C.Mác là ở chỗ, C.Mác đã phát minh ra “cách viết mới về lịch sử”. “Cách viết mới” ấy không xem xét lịch sử như những “lát cắt” tách rời nhau, đứt đoạn, thiếu những mối liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các thời đại, hoặc rơi vào quan điểm tất định luận mỹ miều, theo kiểu “sau cái này ắt là cái kia”, hoặc “thi vị hóa” lịch sử, biến lịch sử thành bản trường ca của tinh thần phổ biến, siêu việt, “hoàn toàn lý tưởng chủ nghĩa”. Quá trình “tư duy lại tư duy” đồng nghĩa với việc công phá những tàn tích bảo thủ cuối cùng của hệ thống Hêghen, được cải biến trong phái Hêghen trẻ. Benxaiđơ viết :”Vấn đề từ nay là phải xem xét lịch sử một cách nghiêm túc, không còn với tính cách là sự trừu tượng hóa tôn giáo, trong đó những cá nhân sống là những sinh vật thấp hèn, mà với tính cách là sự phát triển hiện thực của những quan hệ xung đột nhau”(11). “Cách viết mới về lịch sử” của C.Mác, một mặt, xuất phát từ phương thức sản xuất xã hội, căn cứ vào đó mà nhận thức quy luật xã hội phổ biến, chi phối sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội; mặt khác, vượt qua lối mòn của cách tiếp cận máy móc – siêu hình và quan niệm duy tâm về lịch sử vốn thống trị trong lịch sử tư tưởng Cận đại.

    3. Thực tiễn cách mạng thế giới kể từ khi C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đến khi chủ nghĩa Mác được kế thừa và vận dụng vào điều kiện cụ thể của cách mạng ở nhiều nước trên thế giới đã cho phép chúng ta khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác là một hệ thống mở. Tính mở này được chứng minh không chỉ bằng những suy luận thuần túy lý thuyết, mà thông qua hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế, không chỉ bằng những lời biện minh theo quan điểm “chính thống”, mà được chính những nhà Mác học phương Tây, những người không đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác, thừa nhận và đánh giá cao. Chủ nghĩa Mác mà phép biện chứng là “linh hồn sống” của nó, về thực chất, không chấp nhận chủ nghĩa giáo điều dưới bất kỳ hình thức nào.

    Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới, chủ nghĩa Mác vẫn tiếp tục tồn tại dưới dạng “trẻ hóa”, theo cách nói của Đêriđa, sau khi vượt qua những cơn đau lịch sử, và tiếp tục khẳng định sức sống của nó ở thế kỷ XXI. Vấn đề đặt ra ở đây là, liệu chủ nghĩa giáo điều, hay ít ra là những biến tướng của nó, có còn ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển xã hội trong điều kiện hiện nay không?

    Theo chúng tôi, nguy cơ đáng kể hiện nay là sự hiện diện của thứ chủ nghĩa giáo điều tinh vi, được nguỵ trang bằng những ngôn từ khoa học, song trên thực tế lại cản trở sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới của nhân dân các nước, các dân tộc đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội Liên Xô đã cho thấy, cái giá phải trả của quá trình từ chủ nghĩa giáo điều sang chủ nghĩa phiêu lưu chính trị, xa rời các nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa Mác. Chúng ta đã rút ra được nhiều bài học quý giá từ quá khứ, vượt qua cơn chấn động chính trị, vững bước đi lên, đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp đổi mới, từ lĩnh vực kinh tế đến chính trị, xã hội, văn hoá, từ đối nội đến đối ngoại. Những thành công đó chứng tỏ sự nhận thức và vận dụng đúng đắn biện chứng của cái phổ biến và cái đặc thù, vừa chủ động và tích cực hội nhập với thế giới, phù hợp với xu thế vận động chung của lịch sử, vừa kiên định sự lựa chọn con đường phát triển dựa trên những nét đặc thù lịch sử và điều kiện cụ thể của đất nước. Tuy nhiên, về mặt nhận thức, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân do những nguyên nhân khác nhau, trong đó có cả sức ỳ của thói quen truyền thống và hậu quả của thời kỳ trì trệ, những yếu tố giáo điều, bảo thủ vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội. Không khó nhận ra những biến thái của chủ nghĩa giáo điều. Căn bệnh giáo điều có thể do hạn chế về nhận thức, không đủ khả năng tiếp thu, nắm bắt cái mới và vận dụng nó vào cuộc sống. Sự hạn chế về trình độ nhận thức dẫn đến những ngộ nhận về giá trị, về các chuẩn mực, chấp nhận cái sẵn có một cách máy móc, thiếu tinh thần phê phán. Để sự nghiệp đổi mới tiếp tục tiến lên, chúng ta luôn cần đến những đột phá trong lĩnh vực tư duy lý luận, khuyến khích tinh thần phê phán, xác lập cơ chế phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, xoá dần những vùng cấm không đáng có, chấm dứt tình trạng “bao sân” về lý luận, ngăn chặn cả những biểu hiện giáo điều, không tưởng chính trị, căn bệnh cố chấp, áp đặt lẫn chủ nghĩa phiêu lưu chính trị, không chỉ chống “diễn biến hòa bình”, mà còn phải cảnh giác đối với “tự diễn biến hòa bình” dưới những biến thái tinh vi.

    Chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa bảo thủ và chủ nghĩa duy tâm chính trị cũng là những biểu hiện của sự chệch hướng, của “tự diễn biến hòa bình” về mặt lý luận, bởi chúng xa rời “linh hồn sống” của chủ nghĩa Mác – phép biện chứng duy vật. Do vậy, “tiếp tục đổi mới tư duy, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời làm sáng tỏ hơn những vấn đề bức xúc về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chú trọng nâng cao tính khoa học, tính thực tiễn và sự mạnh dạn khám phá, sáng tạo trong công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận”(12) cần phải được coi là những định hướng cơ bản, thiết yếu trong quá trình đấu tranh chống lại những biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Quan Niệm Về Vật Chất Trong Lịch Sử Triết Học
  • Thế Nào Là Chất, Lượng, Độ, Điểm Nút, Bước Nhảy? Chất Và Lượng Của Sự Vật Có Mối Quan Hệ Biện Chứng Nào? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Gì Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Bài 7: Vai Trò, Ý Nghĩa Của Từ Hán Việt
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Tâm Lý Học Định Nghĩa Như Thế Nào Về Sự Sáng Tạo?
  • Khái Niệm Về Khoa Học Trong Triết Học
  • Khái Niệm Ăn Uống Có Khoa Học
  • Nguyên Tắc Ăn Uống Khoa Học
  • Chế Độ Ăn Uống Khoa Học
  • Hoạt động sáng tạo gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Từ việc tìm ra lửa, chế tạo công cụ bằng đá thô sơ… đến việc sử dụng năng lượng nguyên tử, chinh phục vũ trụ…, hoạt động sáng tạo của loài người không ngừng được thúc đẩy. Sáng tạo không thể tách rời khỏi tư duy – hoạt động bộ não của con người. Chính quá trình tư duy sáng tạo với chủ thể là con người đã tạo các giá trị vật chất, tinh thần, các thành tựu vĩ đại về mọi mặt trong cuộc sống và tạo ra nền văn minh nhân loại.

    Ý định “khoa học hóa tư duy sáng tạo” có từ lâu. Nhà toán học Hy Lạp Pappos, sống vào thế kỷ III, gọi khoa học này là Ơristic (Heuristics). Theo quan niệm lúc bấy giờ, Ơristic là khoa học về các phương pháp và quy tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán, quân sự… Do cách tiếp cận quá chung và không có nhu cầu xã hội cấp bách, Ơristic bị quên lãng cho đến thời gian gần đây.

    Cùng với cuộc cách mạng KHKT, số lượng bài toán phức tạp mà loài người cần giải quyết tăng nhanh, đồng thời yêu cầu thời gian phải giải được chúng rút ngắn lại. Trong khi đó không thể tăng mãi phương tiện và số lượng người tham gia giải bài toán. Thêm nữa, cho đến nay và trong tương lai khá xa sẽ không có công cụ nào thay thế được bộ óc tư duy sáng tạo. Ngưòi ta đã nhớ lại Ơristic và phát triển tiếp để tìm ra cách tổ chức hợp lý, nâng cao năng suất, hiệu quả quá trình tư duy sáng tạo – quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định trong mọi lĩnh vực không riêng gì khoa học kỹ thuật.

    Trên con đường phát triển và hoàn thiện, KHOA HỌC SÁNG TẠO (Heuristics, Creatology) tách ra thành một khoa học riêng, trong mối tương tác hữu cơ với các khoa học khác (có đối tượng nghiên cứu, hệ thống các khái niệm kiến thức riêng, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu riêng…)

    Một số nước tiên tiến trên thế giới đã bắt đầu đào tạo cử nhân, thạc sỹ về chuyên ngành sáng tạo và đổi mới (BA, BS, MA, MS in Creativity and Innovation). Ví dụ Trung tâm nghiên cứu sáng tạo (Center for Studies in Creativity) thuộc Đại học Buffalo bang New York (Mỹ) đến cuối năm 1994 đã đào tạo được 100 thạc sỹ.

    MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC TRẺ EM KHÔNG PHẢI LÀ THÔNG TIN VỀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA QUÁ KHỨ MÀ LÀ SÁNG TẠO NHỮNG GIÁ TRỊ MỚI CỦA TƯƠNG LAI – JOHN DEWEY –

    2. Phương pháp luận Sáng tạo là gì?

    Nói một cách ngắn gọn, “PHƯƠNG PHÁP LUẬN SÁNG TẠO” (Creativity Methodologies) là bộ môn khoa học có mục đích xây dựng và trang bị cho mọi người hệ thống các phương pháp, các kỹ năng thực hành tiên tiến về suy nghĩ để giải quyết vấn đề và ra quyết định một cách sáng tạo, về lâu dài, tiến tới điều khiển được tư duy.

    “PHƯƠNG PHÁP LUẬN SÁNG TẠO” là phần ứng dụng của khoa học rộng lớn hơn, mới hình thành và phát triển trong thời gian gần đây : KHOA HỌC SÁNG TẠO (Creatology).

    Theo các nhà nghiên cứu, khoa học này ứng với “làn sóng thứ tư” trong quá trình phát triển của loài người, sau nông nghiệp, công nghiệp và tin học. Làn sóng thứ tư ứng với Creatology (hay còn gọi là thời đại hậu tin học) chính là sự nhấn mạnh vai trò chủ thể tư duy sáng tạo của loài người trong thế kỷ XXI.

    TRONG CON NGƯỜI VỐN CÓ NHỮNG NGUỒN SÁNG TẠO VÔ TẬN, NẾU KHÁC ĐI THÌ ĐÁ KHÔNG THÀNH NGƯỜI. CẦN PHẢI GIẢI PHÓNG VÀ KHƠI THÔNG CHÚNG. – A.N.TÔLXTÔI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủng Tộc: Một Khái Niệm Không Có Cơ Sở Khoa Học
  • Thế Nào Là “cơ Sở Khoa Học” ?
  • Quy Trình Thực Hiện Nghiên Cứu Khoa Học (Mục Tiêu Nghiên Cứu).
  • Bài Giảng Thế Giới Quan Và Thế Giới Quan Khoa Học
  • Thế Giới Quan Khoa Học (1)
  • Sáng Tạo Là Gì, Định Nghĩa Đúng Về Sáng Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Thức Là Gì? – Các Thuộc Tính Và Cấu Trúc Của Ý Thức
  • Khách Quan Là Gì, Chủ Quan Là Gì. Phân Biệt Chủ Quan & Khách Quan
  • Hocthue.net: Mối Quan Hệ Giữa Khách Quan Và Chủ Quan Trong Triết Học
  • Triết Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • 22 Từ Vựng Tiếng Anh Về Trường Phái Triết Học
  • Trong cuộc sống, Sáng tạo là từ mà chúng ta thường nghe thấy nhiều nhất, như con người sáng tạo, công ty sáng tạo, làm việc sáng tạo…. Vậy sáng tạo là gì?

    Bạn hãy tự trả lời trước khi đọc tiếp phần dưới.

    Đây là một số câu trả lời khi tìm kiếm cụm từ này trên Google

    1. Là dám nghĩ khác và dám làm khác
    2. Là một ý tưởng mới, phù hợp với thời đại và không gian sinh ra nó, và ý tưởng đó mang lại giá trị
    3. Là một điều gì đó mới mẻ táo bạo và khác thường
    4. Là nhìn một vấn đề, một câu hỏi… theo những cách khác với thông thường. Tức là nhìn mọi thứ từ các góc độ, tầm nhìn khác nhau, “nhìn” theo những cách không bị hạn chế bởi thói quen, bởi phong tục, bởi tiêu chuẩn…
    5. Là sự sắp xếp mọi thứ đã có sẳn theo một trật tự mới
    6. Là làm cái gì đó khác đi và hẳn nhiên phải hay và có ích
    7. Sáng tạo là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ thuộc vào những cái đã có
    8. Sáng tạo là những gì thực tế cần , giúp ích cho sự tiến bộ của loài người , được mọi người đón nhận
    9. Là nghĩ ra 1 ý tưởng hoặc 1 sản phẩm mới hay cải biên chúng
    10. Là 1 từ trừu tượng, nói nôm na thì đó là cái mới mẻ mà chính bạn tự khám phá….
    11. Sáng tạo là trong quá trình làm việc luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và học hỏi để tìm ra cái mới , cách giải quyết tốt nhất để đạt được hiệu quả tốt nhất
    12. Là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất. Nói cho dễ hiểu thì sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra sản phẩm và sản phẩm này phải đáp ứng được hai yêu cầu sau:

      – Có tính mới (mới về chất)

      – Có giá trị so với sản phẩm cũ (có lợi hơn, tiến bộ hơn)

    ….

    Tất cả các định nghĩa trên chỉ đúng một phần mà chưa đủ. Định nghĩa sau (trong Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới-Phan Dũng) sẽ khái quát và định nghĩa thế nào là sáng tạo một cách đầy đủ nhất.

     Sáng tạo là hoạt động tạo ra

    bất cứ cái gì

    đồng thời tính mới và tính ích lợi  (trong phạm vi áp dụng cụ thể)

    • Bất cứ cái gì: ở bất cứ lĩnh vực nào của thế giới vật chất và tinh thần
    • Tính mới: là sự khác biệt của đối tượng cho trước so với đối tượng cùng loại ra đời trước đó về mặt thời gian.
    •  Tính ích lợi: như tăng năng suất, tăng hiệu quả, tiết kiệm, giảm giá thành, thuận tiện khi sử dụng, thân thiện với môi trường…, tính ích lợi có thể mang đến cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng, cho nhân loại.
    •  Phạm vi áp dụng: chỉ đúng trong không gian, thời gian, hoàn cảnh , điều kiện… cụ thể, nếu vượt ra ngoài thì có thể biến lợi thành hại.

    Như vậy,  để biết bất cứ cái gì có sáng tạo hay không, bạn phải so sánh cái đó với cái trước nó, nếu cái đã thay đổi nghĩa là nó mới hơn so với cái cũ đồng thời  mang lại tính ích lợi cho bạn, cho cộng đồng hay cho nhân loại trong phạm vị áp dụng cụ thể thì bất cứ cái gì đó đã là sáng tạo.

    Chúng ta xét một vài ví dụ đơn giản sau để hiểu rõ sáng tạo là gì

    Một bạn sinh viên nhận kết quả kém trong học kỳ 1, bạn đặt mục tiêu cho học kỳ sau phải đạt loại khá, vì thế bạn đã thay đổi cách học so với cách học trước đó và bạn đã có kết quả tốt trong học kỳ 2. Như vậy, cách bạn học đã có sáng tạo hơn so với cách trước, điều này đã mang lại lợi ích cho bạn, tuy nhiên cách học này chỉ có thể áp dụng chỉ cho bạn hoặc trong thời điểm học kỳ 1 còn học kỳ khác thì có thể hoặc không mang lại hiệu quả.

     

    Trong phòng trọ, tận dụng những vật có sẵn, người ta đã sử dụng kẹp để làm giá để bàn chải đánh răng. (Sáng tạo này chỉ có ích trong  nhà của bạn khi trước đó bạn không có vật dụng để bàn chải, nhưng bạn áp dụng điều này trong khách sạn thì  không thể chấp nhận được)

     

    Để kích thích sự thèm ăn của con, mẹ đã cắt trái chuối thành hình chú cá heo ngậm trái nho (Vì trước đó để nguyên trái con bạn không ăn, thay đổi hình dạng làm bé thích thú hơn so với cách cũ. Sáng tạo này chỉ thích hợp với trẻ con, còn người lớn thì không thích hợp)

    Tận dụng cây thang đã bỏ đi, người ta đã treo nó lên tường và làm thành giá sách (Trong những ngôi nhà sang trọng áp dụng sáng tạo này có thể không thích hợp với gu thẩm mỹ của chủ nhà)

    Kết hợp với các hình có sẵn trên tường, vẽ thêm vài họa tiết trên ngón tay sẽ có một bức tranh sống động. (Bạn hãy vẽ những nơi được phép nếu không bạn sẽ mắng đấy)

    Để đổ sữa ra khỏi ly mà không làm bắn ra ngoài, đơn giản là đổi cách cầm bình.

    Trong nhà có trẻ con, việc để các ổ cắm bên ngoài rất nguy hiểm, sáng tạo nó bằng cách để vào hộc tủ. (nếu như nhà bạn không có trẻ con thì sáng kiến này là một bất tiện)

    Như vậy, sáng tạo không phải là làm những thứ đao to búa lớn mà là những thứ ngay bên cạnh ta hàng ngày và mỗi chúng ta đã từng nhiều lần sáng tạo và sáng tạo là một môn khoa học  hoàn toàn có thể học được.

     Tính ích lợi của mỗi sáng tạo mang đến có khi chỉ ở trong phạm vi hẹp của người đã tạo nên chúng chứ không cần mang đến cho nhiều người.

     Điều cần nhớ là sáng tạo chỉ có ích trong một số phạm vi nhất định, nếu không nghĩ đến phạm vi này, sáng tạo có thể trở thành sáng tối và gây nguy hiểm cho người xung quanh.

     Thái Phương

    Trang chủ

    Các khóa học về sáng tạo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Của Niềm Tin
  • Ý Nghĩa Tên Vũ Là Gì Và Cách Đặt Tên Vũ Cho Bé Trai Và Bé Gái
  • Đừng Hiểu Học Chữ Hán Là Học Tiếng Trung Quốc!
  • Chuyện Chữ Nghĩa: Trắc Ẩn – Thấu Cảm
  • Ý Nghĩa Tên Tú Là Gì & Gợi Ý Bộ Tên Đệm Hay Cho Con Tên Tú
  • Năng Động, Sáng Tạo Là Gì? Làm Gì Để Năng Động Sáng Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Luận Về Các Khái Niệm
  • Trung Tâm Sáng Tạo Khoa Học
  • Vấn Đề Nhận Thức Và Khả Năng Tự Ý Thức Của Con Người Trong Triết Học Đêcáctơ
  • Tính Khách Quan Là Gì? So Sánh Giữa Khách Quan Và Chủ Quan
  • Triết Học Là Gì? Những Vấn Đề Của Triết Học Đối Với Cuộc Sống
  • Việc làm Sinh viên mới tốt nghiệp – Thực tập

    1. Thế nào là năng động, sáng tạo

    Năng động là chủ động, tích cực, dám nghĩ, dám làm. Năng động là luôn có những hành động tích tực, làm việc một cách nhiệt huyết, luôn cố gắng làm mọi việc hết sức để tác động với những sự vật, hiện tượng xung quanh chúng ta nhằm thực hiện tốt những công việc đã định.

    Còn sáng tạo là gì? Sáng tạo chính là luôn luôn say mê nghiên cứu, tìm tòi cái mới dựa trên cái đã có để tạo ra những thứ giá trị về tinh thần, vật chất và cách giải quyết mới mẻ không bị gò bó.

    Khi hai tính cách này song hành và hỗ trợ lần nhau thì nó trở thành một phẩm chất vô cùng quý giá và rất cần thiết cho mỗi một con người.

    Vậy người năng động, sáng tạo là người luôn luôn say mê, tìm tòi cái mới mà không sợ cái gì và có thể nói những người năng động sáng tạo là những nhà phát mình khoa học hay những nhà tâm lý học vô cùng giỏi. Tại sao lại nói vậy? Bởi nếu bạn đam mê tìm tòi những thứ mới mẻ để tạo ra những giá trị vật chất thì sẽ được gọi là những nhà phát minh khoa học, cái mà họ tìm ra chính là những thứ mà ta có thể sử dụng được và tạo ra các giá trị thực tiễn đem lại nguồn lợi ích khá lớn cho cuộc sống của chúng ta.

    Mặt khác, đối với những người say mê, tìm tòi ra những thứ có giá trị về tinh thần và các cách giải quyết mới mẻ thì họ lại là những nhà tâm lý học vô cùng tài ba. Nắm bắt được nhu cầu của con người và các giá trị mà con người hướng đến để có thể tìm ra những thứ có giá trị hay các cách giải quyết làm cho tinh thần của con người được cải thiện và tốt lên.

    2. Tại sao cần năng động, sáng tạo

    Đối với bất kỳ công việc nào cũng cần chúng ta phải năng động và sáng tạo. Chỉ có năng động và sáng tạo mới giúp chúng ta có thể vượt qua những rào cản, ràng buộc của bản thân. Giúp chúng ta rút ngắn được thời gian hoàn thành một công việc nào đó một cách nhanh chóng và tốt đẹp. Khi bạn sáng tạo thì bạn sẽ tự tin về bản thân mình hơn bởi mình có thể làm những thứ mà người khác không làm được.

    Dần dần bạn sẽ tạo được sự tin tưởng đối với bản thân mình, dù bản thân mình làm gì, người khác nghĩ gì thì mình cũng thực sự có khả năng làm điều đó. Một người năng động sáng tạo khi ra trường thì cũng là người tìm việc làm nhanh nhất trong khi bạn bè còn đang loay hoay tìm vị trí phù hợp.

    Có thể nói năng động chính là cơ sở để sáng tạo phát triển, còn sáng tạo chính là động lực cho năng động. Sáng tạo là quá trình dài suy nghĩ ra những ý tưởng mới. Tuy nhiên, chỉ nghĩ ra thôi thì chưa đủ, ta cần phải thực hiện được ý tưởng ấy.

    Nhờ có năng động sáng tạo mà chúng ta có thể đem lại cho bản thân và gia đình những niềm tự hào vẻ vang, giúp chúng ta có thể tạo ra những kỳ tích mà chưa ai làm được.

    Năng động sáng tạo là phẩm chất cần thiết của người lao động trong xã hội hiện đại. Nhất là trong thời đại 4.0 này. Tất cả những thành tựu to lớn mà chúng ta đang hưởng thụ bây giờ, đều là công sức của nhiều khối trí óc mà các bậc tiền bối phía trước đã gầy dựng. Những công thức, định lý, đến những phát minh rất quan trọng như chiếc điện thoại, Internet, mạng xã hội, đều bắt nguồn từ bản tính sáng tạo của các nhà sáng chế. Là một công dân của xã hội hiện đại này, ta phải luôn say mê nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi để bắt kịp được sự nhanh đến chóng mặt này. Bao nhiêu phát kiến được nghĩ ra một ngày, thì cũng bấy nhiêu sáng chế được tiến hành dựa trên ý tưởng ấy. Sự sáng tạo mang đến rất nhiều cuộc thử nghiệm, và nếu may mắn, ý tưởng của bản thân sẽ được biết đến và góp phần vào công cuộc phát triển này.

    Năng động sáng tạo để bắt kịp xu hướng thời đại mới, để không bị đi lùi lại với cuộc sống, luôn cần mày mò, phát hiện xử lí linh hoạt những tình huống trong học tập, công việc nhằm đạt hiệu quả cao

    Khi bạn năng động sáng tạo chính là được làm những gì mình suy nghĩ và thích thú, thấy được những thứ mà người khách không thấy được. Từ đó, năng lượng để bạn theo đuổi một công việc với nhiềm đam mê được gia tăng rất nhiều. Bạn có thể thích thú công việc mà ngồi suốt nhiều giờ mà không thấy chán.

    3. Làm sao để năng động, sáng tạo trong công việc

    Nếu bạn làm gì đó mà có không có niềm tin thì liệu rằng bạn có thể làm được gì? Không có gì tồi tệ bằng việc chưa làm mà đã nghĩ tới thất bại, khó khăn. Trước khi làm một công việc gì bạn hãy xác đinh được những ưu, nhược điểm, sở trường, kỹ năng của bạn. Trong lúc làm việc mà bạn được sếp giao một công việc nằm ngoài khả năng của bạn thì bạn hãy tự tin và bày tỏ với xếp để có thể được sắp xếp công việc khác hay được hỗ trợ thêm nhân lực để cùng bạn hoàn thành công việc.

    Tất cả các sếp luôn luôn khuyến khích những nhân viên thẳng thắn có ý kiến hay. Đôi khi những ý kiến của bạn nó không được hay thì cho dù có bị đồng nghiệp coi thường thì chế nhạo thì bạn đừng nhụt chí và mất bình tĩnh. Bạn hãy coi đó là bài học để bạn rút ra kinh nghiệm cho những lần sau.

    Năng động sáng tạo không phải là việc mà bạn lao ngay vào nghiên cứu và thực hiện một cái mới hoàn toàn mà bạn hãy tìm tòi những cái mới dựa trên những cái có sẵn đang tồn tại xung quanh bạn. Ví dụ như bạn thay đổ cách thức làm việc, nếp sống, thay đổi suy nghĩ… Chính sự thay đổi này sẽ tạo ra những cơ hội sáng tạo. Nếu bạn viết một bài báo cáo mà bạn viết theo một cách nhìn nhận khác với mọi người, đôi lúc bạn lại nhìn thấy được những cái mọi người không thấy được và cho ra một cách giải quyết khác hữu dụng hơn rất nhiều. Chỉ cần bạn dám thay đổi thì bạn sẽ nhận được cái mà người không dám thay đổi không có được.

    Tâm lý chung của mọi người hiện nay là ngại làm những gì mới mẻ, bởi nó có đôi lúc sẽ khó khăn và bản thân mình lại chưa có kinh nghiệm làm việc ấy. Nhưng nếu bạn muốn thăng tiến nhanh trong công việc thì hãy coi đây là một thử thách. Đôi nghi bạn cũng nên đặt mình vào vị trí của người khác xem họ nghĩ gì và mình có thể làm gì khi cũng vào vị trí đó. Bạn có thể tham gia 1 bộ môn thể thao nào đó, bạn có thể làm một công việc mới mà bạn chưa từng biết. Nghe có vẻ nhiều khó khăn, nhưng thành công nào mà không trải qua những khó khăn. Bạn hãy mạnh mẽ và đừng ngại làm một công việc, lĩnh vực mới. Biết đâu đó công việc mới ấy lại giúp ích rất nhiều cho bạn trong tương lai.

    Bạn hãy tham gia vào những câu lạc bộ hay những cuộc thi, đề tài khoa học, phát minh, sáng chế…đòi hỏi sự sáng tạo để có thể tạo thói quen cho bản thân mình.

    Làm việc với một cá nhân khác hoặc có thể là một nhóm người từ 3 đến 5 người, thì bạn có thể nghe được những ý kiến khác nhau. Cung một vấn đề nhưng mỗi người lại có cách nhìn nhận khác, nếu bạn có thể biết được những cách nhìn nhận khác thì bạn có thể phát huy sự sáng tạo của mình rất nhiều.

    Đôi khi chìa khóa để mở cánh của sáng tạo lại chính là những lời chỉ dẫn của những người đi trước đã có kinh nghiệm. Khi bạn gặp một vấn đề khó giải quyết thì bạn hãy tham vấn những người có kinh nghiệm đi trước để có sự lựa chọn đúng đắn nhất. Như thế bạn sẽ tự tạo ra được sự quyết đoán và mạnh dạn hơn trong công việc và cuộc sống.

    Sau khi giải quyết xong một vấn đề hay công việc nào đó thì bạn nên đặt ra những câu hỏi xung quanh những công việc đã hoàn thành ấy. Liệu bạn hoàn thành công việc đó đã nhanh nhất chưa, còn cách giải quyết nào nhanh hơn mà không bị tốn công sức nhiều như cách giải quyết hiện tại hay không? Hay thậm chí bạn nên nhìn lại những mục tiêu và lộ trình bạn đặt ra trước đó có liệu thực sự đã đúng chưa? Có nên thay đổi không? Trong trường hợp xuất hiện những rủi ro mà bạn không mong muốn thì đã cách giải quyết vấn đề đó như thế nào? Việc này khiến bạn chủ động và sáng suốt hơn trong mọi khía cạnh nhìn nhận mọi thứ.

    Nếu làm xong mỗi một công việc mà bạn nhận được ra những vấn đề cần phát huy hay cần chỉnh sửa thì bạn thật sự đã bước đàn đến sự thành công rồi đó.

    Đừng để những ý tưởng của bạn trong đầu, mà hãy phát triển nó thành những thứ thực tế hơn. Không phải là tất cả những bạn hãy đảm bảo rằng những suy nghĩ ấy thành hành động khi có điều kiện thích hợp. Chí có cách đó bạn mới có thể chứng minh được thực tiễn trong sáng tạo của mình không phải là những suy nghĩ viển vông, vô tác dụng. Từ đó bạn có thể lấy được lòng tin của mọi người, đặc biệt là với sếp của bạn. Rất tuyệt vời nếu sự sáng tạo của bạn được mọi người biết đến và công nhận nó.

    Cứ mỗi ngày trôi qua, con người ta đã tạo ra vô vàn những điều mới mẻ. Trong một xã hội đang phát triển như bây giờ, mỗi cá nhân phải tự rèn luyện cho mình những kỹ năng cần thiết để dễ dàng thích ứng với sự phát triển này. Chính vị vậy, năng động và sáng tạo không ngừng là yếu tố đưa bạn đến với thành công. Hãy áp dụng sự năng động sáng tạo vào công việc của bạn để có thể đi trên con đường thành công và đến đỉnh vinh quang một cách nhanh nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Tiền Tệ Phải Chăng Là Hàng Hoá?
  • # Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Đọc Triết Học Dành Cho Sv Năm 1
  • Nhiệt Độ Là Gì? Tìm Hiểu Về Nhiệt Độ Là Gì?
  • Trung Tâm Sáng Tạo Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Nhận Thức Và Khả Năng Tự Ý Thức Của Con Người Trong Triết Học Đêcáctơ
  • Tính Khách Quan Là Gì? So Sánh Giữa Khách Quan Và Chủ Quan
  • Triết Học Là Gì? Những Vấn Đề Của Triết Học Đối Với Cuộc Sống
  • Tổng Quan Chi Tiết Về Ngành Triết Học
  • Chủ Nghĩa Tư Bản Là Gì?
  • Lời nói đầu

    Người viết: Phan Dũng

    Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (viết tắt là PPLSTVĐM, tiếng Anh là Creativity and Innovation Methodologies) là phần ứng dụng của Khoa học về sáng tạo (Sáng tạo học, tên cổ điển – Heuristics, tên hiện đại – Creatology), gồm hệ thống các phương pháp và các kỹ năng cụ thể giúp nâng cao năng suất và hiệu quả, về lâu dài tiến tới điều khiển tư duy sáng tạo (quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định) của người sử dụng.

    Suốt cuộc đời, mỗi người chúng ta dùng suy nghĩ rất nhiều, nếu không nói là hàng ngày. Từ việc trả lời những câu hỏi bình thường như “Hôm nay ăn gì? mặc gì? làm gì? mua gì? xem gì? đi đâu?…” đến làm các bài tập thầy, cô cho khi đi học; chọn ngành nghề đào tạo; lo sức khỏe, việc làm, thu nhập, hôn nhân, nhà ở; giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc, trong quan hệ xã hội, gia đình, nuôi dạy con cái…, tất tần tật đều đòi hỏi phải suy nghĩ và chắc rằng ai cũng muốn mình suy nghĩ tốt, ra những quyết định đúng để “đời là bể khổ” trở thành “bể sướng”.

    Chúng ta tuy được đào tạo và làm những nghề khác nhau nhưng có lẽ có một nghề chung, giữ nguyên suốt cuộc đời, cần cho tất cả mọi người. Đó là “nghề” suy nghĩ và hành động giải quyết các vấn đề gặp phải trong suốt cuộc đời nhằm thỏa mãn các nhu cầu chính đáng của cá nhân mình, đồng thời thỏa mãn các nhu cầu để xã hội tồn tại và phát triển. Nhìn dưới góc độ này, PPLSTVĐM giúp trang bị loại nghề chung nói trên, bổ sung cho giáo dục, đào tạo hiện nay, chủ yếu, chỉ đào tạo các nhà chuyên môn. Nhà chuyên môn có thể giải quyết tốt các vấn đề chuyên môn nhưng nhiều khi không giải quyết tốt các vấn đề ngoài chuyên môn, do vậy, không thực sự hạnh phúc như ý.

    Các nghiên cứu cho thấy, phần lớn mọi người thường suy nghĩ một cách tự nhiên như đi lại, ăn uống, hít thở mà ít khi suy nghĩ về chính suy nghĩ của mình, xem nó hoạt động ra sao để cải tiến, làm suy nghĩ của mình trở nên tốt hơn, như người ta thường chú ý cải tiến các dụng cụ, máy móc dùng trong sinh hoạt và công việc. Cách suy nghĩ tự nhiên nói trên có năng suất, hiệu quả rất thấp và nhiều khi trả giá đắt cho các quyết định sai. Nói một cách nôm na, cách suy nghĩ tự nhiên ứng với việc lao động bằng xẻng thì PPLSTVĐM là máy xúc với năng suất và hiệu quả cao hơn nhiều. Nếu xem bộ não của mỗi người là máy tính tinh xảo – đỉnh cao tiến hóa và phát triển của tự nhiên thì phần mềm (cách suy nghĩ) tự nhiên đi kèm với nó chỉ khai thác một phần rất nhỏ tiềm năng của bộ não. PPLSTVĐM là phần mềm tiên tiến giúp máy tính – bộ não hoạt động tốt hơn nhiều. Nếu như cần “học ăn, học nói, học gói, học mở” thì “học suy nghĩ” cũng cần thiết cho tất cả mọi người.

    Chịu ấn tượng rất sâu sắc do những ích lợi PPLSTVĐM đem lại cho cá nhân mình, bản thân lại mong muốn chia sẻ những gì học được với mọi người, cùng với sự khuyến khích của thầy G.S. Altshuller, năm 1977 người viết đã tổ chức dạy dưới dạng ngoại khóa cho sinh viên các khoa tự nhiên thuộc Đại học tổng hợp TpHCM (nay là Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia TpHCM). Những khóa PPLSTVĐM tiếp theo là kết quả của sự cộng tác giữa người viết và Câu lạc bộ thanh niên (nay là Nhà văn hóa thanh niên TpHCM), Ủy ban khoa học và kỹ thuật TpHCM (nay là Sở khoa học và công nghệ TpHCM). Năm 1991, được sự chấp thuận của lãnh đạo Đại học tổng hợp TpHCM, Trung tâm Sáng tạo Khoa học – kỹ thuật (TSK) hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải ra đời và trở thành cơ sở chính thức đầu tiên ở nước ta giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu PPLSTVĐM.

    Đến nay đã có vài chục ngàn người với nghề nghiệp khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế, xã hội, từ Hà Nội đến Cà Mau tham dự các khóa học từng phần hoặc đầy đủ chương trình 120 tiết của TSK dành đào tạo những người sử dụng PPLSTVĐM.

    TSK cũng tích cực tham gia các hoạt động quốc tế như công bố các công trình nghiên cứu khoa học dưới dạng các báo cáo, báo cáo chính (keynotes) tại các hội nghị, các bài báo đăng trong các tạp chí chuyên ngành và giảng dạy PPLSTVĐM cho các cán bộ quản lý, giảng dạy, nghiên cứu ở nước ngoài theo lời mời.

    Năm 2000, tại Mỹ, nhà xuất bản Kendall/Hunt Publishing Company xuất bản quyển sách “Facilitative Leadership: Making a Difference with Creative Problem Solving” (Tạm dịch là “Lãnh đạo hỗ trợ: Tạo sự khác biệt nhờ giải quyết vấn đề một cách sáng tạo”) do tiến sỹ Scott G. Isaksen làm chủ biên. Ở các trang 219, 220, dưới tiêu đề Các tổ chức sáng tạo (Creativity Organizations) có đăng danh sách đại biểu các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo và đổi mới trên thế giới. Trong 17 tổ chức được nêu tên, TSK là tổ chức duy nhất ở châu Á.

    Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, xã hội loài người trong quá trình phát triển trải qua bốn thời đại hay nền văn minh (làn sóng phát triển): Nông nghiệp, công nghiệp, thông tin và tri thức. Nền văn minh nông nghiệp chấm dứt thời kỳ săn bắn, hái lượm, du cư bằng việc định cư, trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng các công cụ lao động còn thủ công. Nền văn minh công nghiệp cho thấy, mọi người lao động bằng các máy móc hoạt động bằng năng lượng ngoài cơ bắp, giúp tăng sức mạnh và nối dài đôi tay của con người. Ở thời đại thông tin, máy tính, các mạng lưới thông tin giúp tăng sức mạnh, nối dài các bộ phận thu, phát thông tin trên cơ thể người như các giác quan, tiếng nói, chữ viết và một số hoạt động lôgích của bộ não. Nhờ công nghệ thông tin, thông tin trở nên truyền, biến đổi nhanh, nhiều, lưu trữ gọn, truy cập dễ dàng. Tuy nhiên, trừ loại thông tin có ích lợi thấy ngay đối với người nhận tin, các loại thông tin khác vẫn phải cần bộ não của người nhận tin xử lý, biến đổi để trở thành thông tin có ý nghĩa và ích lợi (tri thức) cho người có thông tin. Nếu người có thông tin không làm được điều này trong thời đại bùng nổ thông tin thì có thể trở thành bội thực thông tin nhưng đói tri thức, thậm chí ngộ độc vì nhiễu thông tin và chết đuối trong đại dương thông tin mà không khai thác được gì từ đại dương giàu có đó. Thời đại tri thức mà thực chất là thời đại sáng tạo và đổi mới, ở đó đông đảo quần chúng sử dụng PPLSTVĐM được dạy và học đại trà để biến thông tin thành tri thức với các ích lợi toàn diện, không chỉ riêng về mặt kinh tế. Nói cách khác, PPLSTVĐM là hệ thống các công cụ dùng để biến đổi thông tin thành tri thức, tri thức đã biết thành tri thức mới.

    Rất tiếc, ở nước ta hiện nay chưa chính thức đào tạo các cán bộ giảng dạy, nghiên cứu Sáng tạo học và PPLSTVĐM với các bằng cấp tương ứng: Cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ như một số nước tiên tiến trên thế giới. Người viết tin rằng sớm hay muộn, những người có trách nhiệm quyết định sẽ phải để tâm đến vấn đề này và “sớm” chắc chắn tốt hơn “muộn”. Hy vọng rằng, PPLSTVĐM nói riêng, Sáng tạo học nói chung sẽ có chỗ đứng xứng đáng, trước hết, trong chương trình giáo dục và đào tạo của nước ta trong tương lai không xa.

    Tư duy sáng tạo – Tiềm năng sáng tạo của mỗi người

    Người viết: Phan Dũng

    Mỗi người làm việc, không thể không suy nghĩ và đòi hỏi cải tiến công việc phải là cơ sở cho mọi suy nghĩ của chúng ta. Nói cách khác, mỗi người chúng ta đều cần suy nghĩ để sáng tạo. Tư duy sáng tạo là tài nguyên cơ bản nhất của mỗi con người. Chúng ta cần sáng tạo vì chúng ta cảm thấy rằng, mọi việc cần được thực hiện theo cách đơn giản hơn và tốt hơn. Dù chúng ta tài giỏi như thế nào, chúng ta vẫn luôn mong muốn tốt hơn nữa.

    Sáng tạo gắn liền với sự thay đổi, đưa ra cái mới (đổi mới), sáng chế, các ý tưởng mới, các phương án lựa chọn mới. Sự sáng tạo thuộc về năng lực ra quyết định, thuộc về sự kết hợp độc đáo hoặc liên tưởng, phát ra các ý tưởng đạt được kết quả mới và ích lợi. Mọi người có thể dùng tính sáng tạo của mình để đặt vấn đề một cách bao quát, phát triển các phương án lựa chọn, làm phong phú các khả năng và tưởng tượng các hậu quả có thể nảy sinh. Tóm lại, bạn làm được gì mới, khác và có ích lợi, đấy là sáng tạo. Sự sáng tạo nảy sinh ở mọi tầng lớp và mọi giai đoạn trong cuộc sống của chúng ta.

    Vì vậy, mỗi người trong mỗi cơ cấu tổ chức cần học phương pháp luận (các thủ thuật cơ bản, các phương pháp, lý thuyết) về tư duy sáng tạo. Ðiều này làm cho cơ cấu tổ chức của bạn mạnh lên rất nhiều. Trong mỗi cơ cấu tổ chức, càng nhiều người học phương pháp luận về tư duy sáng tạo, tổ chức hoạt động càng có hiệu quả

    Phương pháp luận sáng tạo là gì?

    Người viết: Phan Dũng

    LTS: Ở thành phố ta, từ năm 1977 đã có những khóa học dạy về “phương pháp luận sáng tạo”. Để giúp hiểu rõ hơn đối tượng và mục đích của môn học mới mẻ này, chúng tôi giới thiệu cùng bạn đọc bài viết sau đây của GS, tiến sĩ khoa học PHAN DŨNG, Giám đốc Trung tâm Sáng tạo Khoa học-kỹ thuật (TSK) thuộc Đại học Tổng hợp TP.HCM.

    Nói một cách ngắn gọn, “Phương pháp luận sáng tạo” là bộ môn khoa học có mục đích trang bị cho người học hệ thống các phương pháp, các kỹ năng thực hành về suy nghĩ để giải quyết các vấn đề và ra quyết định một cách sáng tạo, về lâu dài, tiến tới điều khiển được tư duy.

    Có người đưa ra định nghĩa về đời người như sau: Cuộc đời là chuỗi các vấn đề cần phải giải quyết và chuỗi các quyết định cần phải ra. Quả thật, mỗi người chúng ta trong cuộc đời của mình gặp biết bao vấn đề, từ chuyện mua sắm, học hành, quan hệ giao tiếp đến chọn ngành nghề, nơi ở, thu nhập, xã hội… phải suy nghĩ để giải quyết và ra quyết định xem phải làm gì và làm như thế nào. Nói như vậy để thấy tuy cái tên “Phương pháp luận sáng tạo” còn “dội” đối với nhiều người nhưng đối tượng và mục đích của bộ môn khoa học này lại hết sức gần gũi với mỗi người.

    Nếu như trước đây, ngay cả đối với các nhà nghiên cứu, sáng tạo được coi là huyền bí, mang tính thiên phú, may mắn, ngẫu hứng… thì ngày nay với những phát hiện mới, người ta cho rằng có thể khoa học hóa được lĩnh vực sáng tạo và sáng tạo có thể dạy và học được. Không những thế, còn cần phải quản lý sự sáng tạo như là lâu nay người ta vẫn quản lý một cách có kết quả nhiều lĩnh vực khác. Ví dụ, hiện nay, một tạp chí khoa học quốc tế, trụ sở đặt tại Manchester, nước Anh, có tên gọi rất rõ ràng về mục đích ấy “Quản lý sự sáng tạo và đổi mới” (Creativity and Innovation Management) mà số đầu tiên của nó mới ra đời năm 1992.

    Trên thế giới, các trung tâm, trường học, công ty chuyên về sáng tạo được thành lập cách đây chưa lâu. Ở Mỹ, lâu đời nhất là Trung tâm nghiên cứu sáng tạo (Center for Studies in Creativity) thuộc đại học Buffalo, New York ra đời năm 1967. Đại học sáng tạo sáng chế đầu tiên của Liên Xô cũ hoạt động từ năm 1971. Ở Anh, khi người ta bắt đầu chương trình dạy sáng tạo tại Trường kinh doanh Manchester năm 1972 thì chưa một trường đại học Tây Âu nào làm việc này. Ngày nay, ít nhất đã có 12 nước Tây Âu triển khai các chương trình tương tự. Các hiệp hội, mạng lưới về sáng tạo được thành lập ở nhiều nước và nhiều khu vực trên thế giới. Chỉ riêng Mạng lưới sáng tạo quốc tế (International Creativity Network), trụ sở liên lạc ở Mỹ, tuy mới thành lập ba năm nay, đã có hơn 300 hội viên ở hơn 25 nước. Các hội nghị khoa học về sáng tạo cũng được tổ chức thường xuyên. Riêng năm 1990 đã có 7 hội nghị như vậy. Năm 1994 từ ngày 10 đến 13 tháng 8 đã có một hội nghị quốc tế tại Québec, Canađa, sắp tới đây có một hội nghị về sáng tạo tại London (Anh Quốc).

    Ở nước ta, lớp học đầu tiên về tư duy sáng tạo được tổ chức vào năm 1977. Hiện nay, Trung tâm Sáng tạo KHKT (TSK) thuộc Đại học Tổng hợp TPHCM thường xuyên mở các lớp, chiêu sinh theo cách ghi danh tự do cho những người nào quan tâm đến việc nâng cao chất lượng suy nghĩ. Gần 60 khóa học đã mở với hơn 2.300 người tham dự. Qua các ý kiến của các học viên có thể thấy được những ích lợi cụ thể do môn học mang lại. Một số học viên đã có những thành công đáng kể trong công việc và trong cuộc sống của chính mình mà báo chí thành phố ta đã có dịp nói tới.

    Thế kỷ 21, theo các dự báo là thế kỷ trí tuệ. Sự cạnh tranh trên thế giới, càng ngày càng sẽ là cạnh tranh chất xám sáng tạo chứ không phải theo lối chụp giựt, trả lương rẻ hay do có được nhiều tài nguyên thiên nhiên, có được vị trí địa lý thuận tiện… Dưới cách nhìn hiện đại, sáng tạo là nguồn tài nguyên cơ bản của con người (a fundamental human resource), nguồn tài nguyên đặc biệt mà theo như nhà khoa học Mỹ George Koznetsky: bạn càng sử dụng nó nhiều thì bạn càng có nó nhiều hơn. Từ đây, chúng ta thấy, giáo dục và rèn luyện tính sáng tạo sẽ càng ngày càng đóng vai trò quan trọng như John Dewey nhận xét: “Mục đích giáo dục trẻ em không phải là thông tin về những giá trị của quá khứ, mà là sáng tạo những giá trị mới của tương lai” (chắc là, không chỉ đối với trẻ em).

    Người viết tin rằng, trên con đường phát triển, đất nước chúng ta sẽ không tránh khỏi bộ môn khoa học mới mẻ này. Do vậy, chúng ta cần có những nỗ lực cần thiết để đưa nó vào cuộc sống xã hội, giúp nâng cao khả năng sáng tạo của mỗi người, của toàn dân tộc.

    (Báo “Sài Gòn Giải Phóng”, ra ngày 28/1/1995)

    Các kỹ năng của tương lai

    Người viết: Phan Dũng

    Các kỹ năng cơ bản thường được coi là các kỹ năng đọc, viết và làm các phép tính số học. Những người tìm việc trong tương lai sẽ cần những kỹ năng làm việc mới để đáp ứng các công việc của ngày mai. Hiệp hội Mỹ về huấn luyện và phát triển, một tổ chức nghề nghiệp của những người chuyên làm công tác huấn luyện cho các công ty, gần đây đã nghiên cứu “những kỹ năng cơ bản” mới cho Bộ Lao động Mỹ.

    1. Tư duy sáng tạo: do công việc ngày càng trở nên linh động, các giải pháp của những người làm việc cần phải trở nên sáng tạo hơn.
    2. Ðặt mục đích / Ðộng cơ: những người làm việc cần có khả năng đặt mục đích và kiên trì theo đuổi để đạt chúng.
    3. Các kỹ năng quan hệ giữa người với người: có khả năng làm việc tương hợp với những người cung cấp, các đồng nghiệp và các khách hàng sẽ là điều cần thiết trong công việc tương lai.
    4. Lãnh đạo: những người làm việc sẽ được yêu cầu nhận càng ngày càng nhiều trách nhiệm và hướng dẫn các đồng nghiệp của họ khi cần thiết.
    5. Học cách học tập: những người làm việc sẽ cần biết cách học để thu nhận những thông tin, các kỹ năng mới và có khả năng vận dụng chúng vào công việc.
    6. Lắng nghe: các kỹ năng biết lắng nghe sẽ giúp những người làm việc hiểu những nỗi bận tâm của các đồng nghiệp, các người cung cấp và các khách hàng.
    7. Thương lượng – đàm phán: những người làm việc cần có khả năng xây dựng được sự thỏa thuận thông qua việc cho và nhận.
    8. Giao tiếp bằng lời nói: những người làm việc phải có khả năng đáp lại một cách rõ ràng đối với những nỗi bận tâm của các đổng nghiệp, các người cung cấp và các khách hàng.
    9. Tính hiệu quả của tổ chức: những người làm việc phải hiểu làm thế nào để đáp ứng được các mục đích công việc của công ty và làm sao cho công việc của họ đóng góp vào việc thực hiện các mục đích này.
    10. Các kỹ năng phát triển cá nhân / nghề nghiệp: những người làm việc được đánh giá cao nhất là những người hiểu rằng họ cần phải phát triển liên tục trong công việc.
    11. Giải quyết vấn đề: những tổ chức làm việc theo lối mới có nghĩa là sẽ đòi hỏi những người làm việc giải quyết các vấn đề và tìm ra các giải pháp.
    12. Tự trọng: những người giám sát nói rằng họ muốn những người làm việc là những người có lòng tự hào về bản thân và về những khả năng của mình.
    13. Làm việc tập thể: làm việc tập thể có nghĩa là những người làm việc cần phải biết cách phân công công việc một cách công bằng, có hiệu quả và làm việc cùng nhau để đạt được mục đích của tập thể.

    Có một khoa học như thế

    Người viết: Phan Dũng

    LTS: Khoa học tư duy sáng tạo trên thế giới đã hình thành từ lâu. Sau một thời gian dài bị lãng quên, gần đây, do yêu cầu của thực tiễn nó được nhìn nhận lại, phát triển và đem lại hiệu quả đáng kể.

    Ở nước ta lĩnh vực khoa học này mới trong giai đoạn gây dựng. Để phát triển nó, cần có sự quan tâm của Nhà nước mà trước hết là Bộ giáo dục và đào tạo và Ủy ban khoa học Nhà nước.

    Ba lĩnh vực loài người cần nhận thức và tiến tới làm chủ là tự nhiên, xã hội và tư duy. Tư duy – sản phẩm bộ não, chỉ riêng con người mới có. Con người không ngừng sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng theo nguyên tắc: Đạt hiệu quả cao nhất với những chi phí ít nhất. Có thể nói, những thành tựu vĩ đại đạt được trong hai lĩnh vực tự nhiên và xã hội là kết quả “vật chất hóa” quá trình tư duy sáng tạo. Từ đây dễ dàng nhận thấy: Tư duy sáng tạo là công nghệ của mọi công nghệ và nếu nâng cao được hiệu quả tư duy sáng tạo thì những thành tựu của hai lĩnh vực kia chắc chắn sẽ nhân lên gấp bội.

    Ý định “khoa học hóa tư duy sáng tạo” có từ lâu. Nhà toán học Hy Lạp Papp ở Alexanđri, sống vào thế kỷ thứ ba, gọi khoa học này là Ơrixtic (Heuristics) có gốc là từ Ơrica (Eureka). Theo quan niệm lúc bấy giờ, Ơrixtic là khoa học về các phương pháp và quy tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán học, quân sự… Do cách tiếp cận quá chung và chủ yếu do không có nhu cầu xã hội, Ơrixtic bị quên lãng cho đến thời gian gần đây. Cùng với cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, số lượng bài toán phức tạp mà loài người cần giải quyết tăng nhanh, đồng thời yêu cầu thời gian giải chúng phải rút ngắn lại. Trong khi đó không thể tăng mãi phương tiện và số lượng người làm công tác khoa học và kỹ thuật. Thêm nữa, cho đến nay và tương lai khá xa sẽ không có công cụ nào thay thế được bộ óc tư duy sáng tạo. Người ta đã nhớ lại Ơrixtic và đặt vào nó nhiều hy vọng tìm ra cách tổ chức hợp lý, nâng cao hiệu quả quá trình tư duy sáng tạo – công nghệ làm sáng chế, phát minh.

    Các nhà tâm lý, qua các nghiên cứu của mình cho thấy: Người ta thường giải bài toán (hiểu theo nghĩa rộng) bằng cách lựa chọn phương án – phương pháp thử và sai. Mỗi một phương án giúp người giải hiểu bài toán đúng hơn để cuối cùng đưa ra phương án may mắn là lời giải chính xác bài toán. Các nhà tâm lý cũng phát hiện ra vai trò quan trọng của liên tưởng, hình tượng, linh tính, ngữ nghĩa, ngữ cảnh, các gợi ý trong các tình huống có vấn đề… Quá trình giải bài toán phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm có trước đó của người giải. Cho nên tính ì tâm lý cản trở sự sáng tạo trong phần lớn các trường hợp. Phương pháp thử và sai có nhược điểm chính là tốn thời gian, sức lực và phương tiện vật chất do phải làm rất nhiều phép thử.

    Để cải tiến phương pháp thử và sai, người ta đưa ra các thủ thuật, gần 30 phương pháp tích cực hóa tư duy như: Não công (brainstorming), phương pháp đối tượng tiêu điểm (method of focal objects), phương pháp các câu hỏi kiểm tra, phương pháp phân tích hình thái (morphological method), Synectics… Các phương pháp này có tác dụng nhất định khi giải các bài toán sáng tạo. Tuy nhiên, chúng bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt đối với những bài toán có số các phép thử lớn.

    Một hướng khác trong Ơrixtic nghiên cứu các quy luật phát triển, tiến hóa của các hệ thống kỹ thuật nhằm đưa ra phương pháp luận mới, thay thế phương pháp thử và sai. Đó là lý thuyết giải các bài toán sáng chế (viết tắt và đọc theo tiếng Nga là TRIZ) với hạt nhân của nó là Algôrit giải các bài toán sáng chế (ARIZ). Tác giả của TRIZ là Genrikh Saulovich Altshuller (có thể đọc tiểu sử của ông trong tạp chí Liên Xô “Nhà sáng chế và hợp lý hóa”, trang 9, số 2/1990). Ông bắt đầu nghiên cứu, xây dựng lý thuyết này từ năm 1946. Tiền đề cơ bản của TRIZ là: Các hệ kỹ thuật phát triển tuân theo các quy luật khách quan, nhận thức được. Chúng cần được phát hiện và sử dụng để giải một cách có ý thức những bài toán sáng chế. TRIZ được xây dựng như một khoa học chính xác, có lĩnh vực nghiên cứu riêng, ngôn ngữ riêng, các công cụ riêng. Ý nghĩa của TRIZ là ở chỗ xây dựng tư duy định hướng nhằm đi đến lời giải bằng con đường ngắn nhất dựa trên các quy luật phát triển các hệ kỹ thuật và sử dụng chương trình tuần tự các bước, có kết hợp một cách hợp lý bốn yếu tố: Tâm lý, lôgích, kiến thức và trí tưởng tượng. Ở Liên Xô có khoảng 300 trường dạy TRIZ. Mới đây Hội TRIZ được thành lập và dự định sẽ ra tờ tạp chí riêng về hướng khoa học này. Theo thống kê chưa đầy đủ, trong vòng mười năm (1972-1981) đã có 7000 người tốt nghiệp các trường sáng tạo sáng chế. Họ đã gửi được 11000 đơn xin công nhận sáng chế và đã nhận được hơn 4000 bằng tác giả. Thành phần tham dự các trường, lớp này gồm từ sinh viên đến tiến sĩ khoa học, đôi khi cả học sinh trung học. Người ta cũng bắt đầu dạy thử cho các cháu mẫu giáo dưới hình thức các trò chơi, các bài toán đố. Thực tế cho thấy một rúp đầu tư vào các lớp học thu được 16,1 rúp tiền lãi do các sáng chế được áp dụng mang lại. Ở Ba Lan, Bungari… cũng mở các lớp tương tự. Tài liệu về TRIZ được dịch ở các nước tư bản như: Nhật, Mỹ, Phần Lan, Tây Đức… Ngoài ra TRIZ còn được dùng kết hợp với các phương pháp kinh tế – tổ chức (như phương pháp phân tích giá thành – chức năng, gọi tắt là FSA) tạo nên công cụ tổng hợp và có hiệu quả mạnh mẽ, tác động tốt đến sự phát triển công nghệ.

    1. Giới thiệu bằng các bài báo ngắn trên các báo Trung ương như “Nhân Dân”, “Khoa học và đời sống”, trên các báo của thành phố Hồ Chí Minh, bằng các buổi nói chuyện tại cơ quan, xí nghiệp, trường học, trên “màn ảnh nhỏ”. Hình thức này mới mang tính chất “đánh động” đông đảo quần chúng về môn khoa học còn ít người biết đến nhưng khá gần gũi, thiết thực với mọi người.
    2. Xuất bản những tài liệu chi tiết hơn về môn khoa học tư duy sáng tạo.Ví dụ cuốn sách “Algôrit sáng chế” (Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1983) hoặc đăng thường kỳ trong tạp chí “Sáng tạo” của Ủy ban khoa học và kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Hình thức này đã có bề sâu hơn và được những người quan tâm hưởng ứng.
    3. Dạy và học những phương pháp tư duy sáng tạo. Cho đến nay đã mở được một số lớp tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Qua kinh nghiệm của các nước tiên tiến và kinh nghiệm thực tế ở nước ta thì hình thức này là hình thức tốt nhất để lĩnh hội và áp dụng vào cuộc sống, công tác.

    Khoa học về tư duy sáng tạo mới du nhập vào nước ta, mới làm được một số việc như vừa nêu, còn trong giai đoạn gây dựng. Để khoa học này thực sự phát huy tác dụng (mà tác dụng chắc chắn là to lớn) cần phát triển nó thành hệ thống với ba chức năng: Đào tạo, áp dụng và nghiên cứu. Ở đây, Nhà nước, trước hết là Bộ giáo dục và đào tạo, Ủy ban khoa học Nhà nước cần có sự đầu tư cần thiết, nhất là giai đoạn đầu. Về lâu dài, ngành này có thể tiến tới chỗ tự trang trải và tự phát triển nhờ hiệu quả kinh tế do các ý tưởng mới, các sáng kiến cải tiến, các sáng chế, các hàng hóa mới mang lại. Khoa học về tư duy sáng tạo sẽ giúp ích thiết thực việc phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi người, do đó, của toàn dân tộc.

    (Tạp chí “Hoạt động khoa học” số 10/1990, Ủy ban khoa học Nhà nước)

    Một ngành khoa học mới mẻ

    Người viết: Tấn Phong

    Làm việc cho một cơ sở sản xuất của tư nhân ở quận 5, kỹ sư Lê Văn K. là người có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, làm lợi cho cơ sở hàng triệu đồng. Có lần, anh được giao đúc một chi tiết cao su rỗng, bên trong có áp suất và mặt ngoài phải bóng láng. Anh hiểu trong kỹ thuật đúc cao su, muốn chi tiết đúc sao chép chính xác bề mặt khuôn, người ta phải khoan thủng nhiều lỗ nhỏ xuyên qua vỏ khuôn để “đuổi” lớp không khí giữa chi tiết đúc và bề mặt khuôn ra ngoài. Những lỗ thủng này chắc chắn sẽ để lại trên bề mặt chi tiết những sợi “râu” cao su. Làm thế nào để khuôn đúc của anh vừa có lỗ cho không khí thoát ra, vừa không có lỗ để chi tiết khỏi “mọc râu” khi định hình? Suy nghĩ kỹ, anh thấy cách tốt nhất là phải tạo ra vô số những lỗ nhỏ li ti trên bề mặt khuôn. Điều này có thể thực hiện dễ dàng bằng cách dùng vật liệu xốp làm vỏ khuôn, nhưng ở xưởng không có loại vật liệu này. Cái khó ló cái khôn, anh đã nghĩ ra cách quét một lớp mỏng bột lưu huỳnh lên bề mặt khuôn đúc bằng thép. Quả thật, không khí dễ dàng thoát ra ngoài qua lớp bột này. Và, khi chi tiết sắp định hình, bột lưu huỳnh tác dụng với cao su, biến bề mặt chi tiết thành một lớp bóng láng.

    Đó chỉ là một việc nhỏ trong rất nhiều việc kỹ sư Lê Văn K. đã làm được trong quá trình sản xuất. Anh tiết lộ: “Nhờ nắm vững Algôrit giải các bài toán sáng chế (ARIZ) nên khi gặp bài toán kỹ thuật, tôi đã nhanh chóng xác định được mâu thuẫn kỹ thuật, mâu thuẫn lý học, cương quyết đẩy các mâu thuẫn đó đến tột cùng để có được lời giải gần với kết quả lý tưởng cuối cùng (KLC)”.

    ARIZ là một nội dung quan trọng của môn phương pháp luận sáng tạo KHKT mà mấy năm trước, anh Lê Văn K. được học tại Trung tâm Sáng tạo KHKT (Trường đại học Tổng hợp). Ghé Trung tâm vào một buổi sáng đầu Xuân, chúng tôi gặp anh Hà Văn Luân, giáo viên của một trường cấp 2 ở Thủ Đức, đến ghi danh theo học lớp đêm. Anh thành thật kể: “Khi tôi giảng bài, học sinh thường kêu khó hiểu. Nghe đồn ở trung tâm này có lớp dạy cách suy nghĩ để đạt hiệu quả cao trong công việc nên tôi theo học. Chưa biết hiệu quả ra sao nhưng cái tên môn học nghe dội quá”. Khoa học về tư duy sáng tạo đúng là ngành khoa học còn quá mới mẻ ở nước ta. Tiến sĩ Phan Dũng, giám đốc Trung tâm, là một trong số rất ít nhà khoa học Việt Nam được tiếp cận với khoa học này ở một trường đại học của Liên Xô (cũ). Trung tâm Sáng tạo KHKT chỉ mới có tên gọi chính thức từ cuối tháng 4/1991, nhưng môn khoa học về tư duy sáng tạo được tiến sĩ Phan Dũng tổ chức giảng dạy ở thành phố suốt từ năm 1977 đến nay. Gần 900 học viên của 22 khóa học bước đầu được trang bị hệ thống những thủ thuật và phương pháp tích cực hóa tư duy. Nghề nghiệp và trình độ khác nhau, nhưng mỗi người học đều tìm thấy từ môn học này những cách thức tốt nhất để khắc phục tính ì tâm lý, đánh thức tiềm năng sáng tạo của mình trong từng công việc cụ thể. Phương pháp phân tích hình thái đã giúp anh Đặng Quốc Trí, huấn luyện viên võ thuật, thành lập được nhiều đòn thế tấn công có thể có trong môn Việt Võ Đạo; chị thợ may Nguyễn Thị Mai Diễm thiết kế được nhiều kiểu áo mới lạ, ưng ý. Phương pháp đối tượng tiêu điểm được anh Phạm Văn Thu, cán bộ giảng dạy Đại học Y-Dược, vận dụng vào việc liên kết những kiến thức rời rạc, hình thành nên một hệ thống kiến thức hoàn chỉnh trong bài giảng, giúp sinh viên dễ hiểu bài hơn. Anh Hồng Tuấn Minh, sinh viên Đại học Tổng hợp, thấy rõ việc học tập môn tiếng Anh của mình có kết quả hơn khi học theo phương pháp các câu hỏi kiểm tra. Tư duy sáng tạo, nếu được hiểu như là những suy tưởng khoa học nhằm đạt tới cái mới, cái có ích cho cuộc sống thì không chỉ nhờ những tư chất trời phú, mà mọi người đều có khả năng sáng tạo. Nhưng việc biến những khả năng ấy thành hiện thực lại phụ thuộc nhiều vào phương pháp tư duy của mỗi người. Kiên trì “thử và sai” đến một lúc nào đó, có thể đạt được kết quả gần với KLC, song phải tốn rất nhiều thời gian, công sức, vật tư… Khoa học về tư duy sáng tạo chỉ ra cho người học con đường ngắn nhất đi đến kết quả công việc.

    Cuối năm 1990, một nhóm học viên dưới sự hướng dẫn của tiến sĩ Phan Dũng, đã nghiên cứu thành công giải pháp “Cơ cấu kẹp các tờ giấy rời”, được Cục sáng chế cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích số HI-0049. Anh Phùng Hữu Hạt, người đại diện nhóm đứng tên chủ bằng, cho biết toàn bộ chi phí cho việc nghiên cứu thành công giải pháp này chưa đến 2 triệu đồng. Không thể đòi hỏi kết quả nhiều hơn ở một lớp sơ cấp với 60 tiết học. Thu hoạch lớn nhất, phổ biến nhất của những người theo học lớp này là thái độ tự tin, chủ động và cách giải quyết khá hợp lý những bài toán trong cuộc sống. Tiến sĩ Phan Dũng cho biết: “Từ những kết quả ban đầu, tôi dự định sẽ phổ biến môn học này cho nhiều người hơn, ở trình độ cao hơn, để từng bước đưa môn học này vào nhà trường”. Thiết nghĩ, Nhà nước cần tạo điều kiện cho ý tưởng khoa học và tâm huyết này sớm biến thành hiện thực.

    (Báo “Sài Gòn Giải Phóng”, ra ngày 21/02/1992)

    Một khoa học dành cho sự cất cánh

    Người viết: Lê Vinh Quốc

    “Thật là một điều kỳ diệu!” – anh Quách Thụy Môn, cử nhân hóa học 42 tuổi thốt lên – “Chỉ sáu chục giờ học mà tôi thấy quý vô cùng, vì từ nay cách nhìn của tôi, suy nghĩ của tôi, tư duy của tôi mới thật sự trả về đúng tên gọi của nó… Tôi có thể chắc chắn nói rằng: Tôi sẽ sáng tạo được!”. Đó là cảm tưởng của anh sau khi học hết chương trình sơ cấp của bộ môn “Phương pháp luận sáng tạo khoa học kỹ thuật”.

    Ở Việt Nam, môn khoa học mới mẻ này lần đầu tiên xuất hiện tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ 2 năm sau đại thắng mùa xuân 1975. Nhờ miền Nam được giải phóng, nhà vật lý trẻ tuổi Phan Dũng tốt nghiệp ở Liên Xô được điều động vào công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong khi còn theo học ngành vật lý, chàng sinh viên Phan Dũng đã không bỏ lỡ cơ hội theo học khóa đầu tiên của trường đại học đầu tiên ở Liên Xô giảng dạy bộ môn “Phương pháp luận sáng tạo” vào năm 1971, do chính người đề xướng khoa học đó ở Liên Xô là Genrikh Saulovich Altshuller hướng dẫn. Hiểu rõ tầm quan trọng của khoa học này đối với tương lai phát triển của đất nước, anh luôn mơ ước đến ngày đem các hạt giống của nó gieo trồng trên đất nước quê hương. Chính tiềm năng, phong cách và điều kiện của thành phố mang tên Bác đã giúp anh biến ước mơ thành hiện thực.

    Kể từ khi lớp học đầu tiên về “Phương pháp luận sáng tạo” được mở vào năm 1977 cho đến nay, 26 khóa với gần 1.000 học viên đã được học khoa học này (đến năm 1987, ở Hà Nội mới khai giảng khóa đầu tiên của khoa học về sáng tạo). Nhưng mãi đến tháng 4/1991, Trung tâm Sáng tạo Khoa học-kỹ thuật do giáo sư tiến sĩ Phan Dũng làm giám đốc mới chính thức được thành lập tại Trường đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến sâu rộng khoa học này.

    Khoa học về tư duy sáng tạo đã được đề cập đến từ đầu Công nguyên, và người Hy Lạp cổ gọi nó là Ơ-ri-xtic (Heuristics) có gốc là từ Ơ-ri-ca (Eureka). Nhưng do cách tiếp cận quá chung và chủ yếu do không có nhu cầu xã hội nên Ơ-ri-xtic bị nhân loại lãng quên. Mãi đến gần đây, nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, do nhu cầu bức bách của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đặt ra, người ta phải nhớ lại Ơ-ri-xtic và đặt vào nó những hy vọng tìm ra cách tổ chức hợp lý, nâng cao hiệu quả quá trình tư duy sáng tạo – công nghệ làm sáng chế, phát minh. Nhằm mục đích đó, khoa học về tư duy sáng tạo được nghiên cứu ở cả Liên Xô (trước đây) và phương Tây theo những phương hướng không hoàn toàn giống nhau. Ở Liên Xô (trước đây), khoa học này được coi là “Lý thuyết giải các bài toán sáng chế” (viết tắt theo tiếng Nga là TRIZ) với hạt nhân của nó là “Algorit giải các bài toán sáng chế” (ARIZ).

    Ở nước ngoài cũng có dạy môn này nhưng học phí quá cao ít ai theo nổi. Ở Mỹ, khoa học này gọi là Synectics. Mỗi nhóm theo học môn này tại Cambridge (Massachusetts) phải trả hàng trăm ngàn đô-la. Tại một trung tâm giảng dạy Phương pháp luận sáng tạo ở Singapore do người Mỹ tổ chức, học viên phải trả 2.000 đô-la Mỹ cho 3 ngày học. Tại Trung tâm Sáng tạo ở thành phố Hồ Chí Minh, học phí cho 1 khóa 60 tiết kéo dài trong 2 tháng là một số tiền Việt Nam nhỉnh hơn… 5 đô-la một chút!

    Kết thúc mỗi khóa học, hầu hết học viên đều thu hoạch được nhiều điều như một nhà hóa học đã phát biểu ở đầu bài viết này. Học viên Ngô Thị Thu Tâm, 23 tuổi với trình độ văn hóa lớp 12, đã bộc bạch: “Trước kia tôi thiếu tự tin, lười suy nghĩ. Giờ đây tôi lạc quan hơn và thích quan sát, ham tìm tòi, suy nghĩ, đầu óc trở nên sắc sảo, nhạy bén hơn, giải quyết vấn đề nhanh hơn, hiệu quả hơn và ít tốn kém hơn”. Các học viên thường lấy làm tiếc rằng họ được học môn này quá muộn; nếu sớm hơn thì sự nghiệp mà họ đang phục vụ sẽ có thể thành đạt sớm hơn và to lớn hơn nhiều. Dĩ nhiên ý kiến của các học viên vẫn chỉ là cảm tưởng. Nhưng cảm tưởng của những người trong cuộc ấy chứa đựng hạt nhân chân lý.

    Ngày nay ai cũng biết rằng, mặc dù tài nguyên và nguồn vốn đầu tư là rất quan trọng, yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước vẫn là khả năng sáng tạo của con người. Lịch sử đã khẳng định rằng tầm cao của tiến bộ và thành đạt của một dân tộc bao giờ cũng quan hệ mật thiết với sức sáng tạo và sức sản xuất của dân tộc đó. Chính vì vậy mà khoa học về sáng tạo ngày càng trở nên đắt giá trên thế giới. Cũng như đa số các dân tộc châu Á, người Việt Nam không thua sút ai về sự cần cù, thông minh, nhưng lại yếu kém về hơn về khả năng sáng tạo. Bởi thế, phương pháp luận sáng tạo lại càng quan trọng đối với nước ta trên con đường cất cánh. Lẽ dĩ nhiên, như tiến sĩ Phan Dũng thường nói, chỉ một ngành khoa học không thôi, không làm gì được. Vấn đề là ở sự đồng bộ và tính hệ thống của mọi lĩnh vực. Tuy vậy, vai trò thúc đẩy và tác dụng thiết thực của phương pháp luận sáng tạo là hết sức rõ ràng. Giúp con người khắc phục “sức ì tâm lý”, gạt bỏ những nhầm lẫn quanh co của “phương pháp thử và sai”, nó góp phần làm cho tốc độ phát triển trong sự nghiệp của mỗi người và của toàn dân tộc tăng lên.

    Trong chuyến đến thăm Trung tâm Sáng tạo Khoa học – kỹ thuật của Trường đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ngày 19/12/1992, các chuyên viên giám định sáng chế thuộc Cục sáng chế Nhật Bản là các ông Mitsuharu Oda và Yoshiaki Kawasaki đã phát biểu: “Chúng tôi tin tưởng rằng sự phát triển sau này của Việt Nam rất nhanh, nhờ vào Trung tâm đáng chú ý như thế này”.

    Tuy vậy, phương thức hoạt động chủ yếu của trung tâm vẫn là tự trang trải kinh phí theo cơ chế thị trường. Với phương thức này, trung tâm đã và sẽ có khả năng phát triển. Nhưng nếu không được Nhà nước đầu tư một cách thích đáng, thì dù là một Trung tâm sáng tạo khoa học-kỹ thuật đi nữa, cũng khó làm nên những điều kỳ diệu.

    (Báo “Sài Gòn Giải Phóng”, ra ngày 06/05/1992)

    Có gì thú vị như phương pháp luận sáng tạo?

    Người viết: Hữu Thiện

    Tiếng sét ái tình với anh giáo viên trẻ

    Từ Tân Phú (An Giang), anh giáo viên trẻ Trịnh Xuân Khanh quyết định kết thúc chặng đường tám năm làm thầy giáo của mình để về Sài Gòn học đại học và luyện thi lấy bằng C Anh ngữ. Một trong những địa chỉ đầu tiên anh tìm tới để ghi danh: Trung tâm Sáng tạo Khoa học-kỹ thuật (viết tắt là TSK) thuộc Đại học tổng hợp TPHCM. Môn học: Phương pháp luận sáng tạo (PPLST).

    Buổi học đầu tiên, Khanh gặp một cú sét ái tình! Qua phần giới thiệu và phân tích của tiến sĩ Phan Dũng – giám đốc kiêm giảng viên… duy nhất của TSK, anh chợt phát hiện được sự tồn tại của tính ì tâm lý trong con người và ngay trong chính mình, lực cản trong mọi hoạt động sáng tạo. Sự cuốn hút của môn PPLST từ đó cứ tăng dần lên. Khanh về nhà nhất định kéo chị, em và các cháu phải đi học môn này bằng được. Hiện, nhà anh đã có tới sáu người gồm ba sinh viên, hai bác sĩ và một kỹ sư địa chất đang học các lớp về tư duy sáng tạo. Học về các thủ thuật (nguyên tắc sáng tạo), về các phương pháp tích cực hóa tư duy… Không chỉ theo học, họ còn tham dự thường xuyên vào nhóm Chủ nhật, một loại Câu lạc bộ tự nguyện gồm hơn 30 cựu học viên về PPLST. Nhóm tự thành lập từ tháng 10/1992, sinh hoạt thường kỳ vào mỗi chiều chủ nhật để giúp nhau tìm hiểu thêm về lịch sử môn học. Để làm giàu quỹ bài tập của nhóm bằng cách hàng tuần, mỗi người nộp một bài tập chọn từ cuộc sống, từ những tình huống có vấn đề trong học tập, trong lao động sản xuất, kinh doanh… và cả trong… chuyện tình yêu của mình (!) để cùng nhau phân tích, rèn luyện các thao tác sáng tạo. Hướng xa hơn: Nhóm sẽ tìm nhận hợp đồng sáng tạo các mẫu mã mới, đưa ra các giải pháp mới, ý tưởng mới… theo đơn đặt hàng của các công ty, xí nghiệp. Tất cả đều mong ước tự hình thành nên một nhóm Synectics chuyên nghiệp, đầu tiên của thành phố – bao gồm những nhà sáng tạo thuộc những ngành nghề khác nhau, tập hợp lại để cố gắng giải một cách sáng tạo các bài toán thiết kế kỹ thuật và quản lý hành chính, xã hội…

    Ở đâu lại chẳng cần sáng tạo

    Trong 1.294 học viên của 31 khóa PPLST tại TSK, Dương Ngọc Thạch là một học viên khá… đặc biệt: Anh đã vận dụng thành công môn học này từ trước khi là học viên của TSK.

    Năm 1987, tình cờ Thạch mua được cuốn sách Algôrit sáng chế. Lúc đó, anh vẫn còn là một thanh niên đang vất vả kiếm sống bằng đủ thứ việc linh tinh: Sửa ống nước, sửa điện nhà, vẽ chân dung, vẽ trang trí bảng hiệu… Quan sát cuộc sống của trẻ trong các trường mẫu giáo, anh phát hiện một điều: Các cháu quá thiếu đồ chơi, trong khi những mẫu mã do Bộ giáo dục-đào tạo hướng dẫn thực hiện lại quá đơn điệu và thô sơ. Thiên hướng yêu trẻ kết hợp với việc ngẫm nghĩ và vận dụng triệt để các thủ thuật sáng tạo cơ bản từ cuốn sách gối đầu giường vừa nêu đã đưa anh vào một bước ngoặt mới trong cuộc đời: Trở thành nhà thiết kế mẫu đồ chơi trẻ em.

    Vận dụng nguyên tắc đổi chiều, Thạch đã sáng tạo từ chiếc xích đu bình thường theo kiểu ngang thành xích đu chiều dọc, từ đó cải tiến thành xích đu xe buýt với nhiều chỗ ngồi hơn, thú vị hơn với trẻ. Cuộc sáng tạo vẫn chưa chịu ngừng lại: Vận dụng thêm nguyên tắc cầu hóa (làm tròn), Thạch làm tiếp kiểu xích đu tự xoay theo đủ mọi chiều. Rồi lại cải tiến loại đu quay bình thường thành đu quay xe đạp (lắp bánh xe) nhờ áp dụng nguyên tắc chuyển sang chiều khác và nguyên tắc kết hợp…

    Từ năm 1987 tới năm 1992, Thạch đã có hơn 40 mẫu đồ chơi sáng tạo như thế, giúp các cô mẫu giáo-nhà trẻ thực hiện được rất nhiều yêu cầu giáo dục, rèn luyện trẻ em theo yêu cầu của Bộ. Từ một thanh niên nghèo và nặng nợ vợ con, nay Thạch đã là ông chủ trẻ mới 30 tuổi của một cơ sở sản xuất đồ chơi nổi tiếng khắp từ Bắc vào Nam.

    Nhớ lại những buổi đầu theo học TSK, Thạch cảm thấy như tìm được một kho báu quý giá hơn mọi của cải vật chất, cảm thấy từ nay mình có thể bay bổng với nhiều suy nghĩ mới lạ trên một hướng đi mới mà biết chắc sẽ thành công lớn hơn. Được thầy giúp đỡ, Thạch phát hiện được ngay tính ì tâm lý của chính mình ngay trong những hoạt động sáng tạo đúng bài bản sách vở! Từ nay, anh đã biết nhìn nhiều chiều hơn, nhìn rộng hơn và rộng lượng hơn, biết biến hại thành lợi ngay cả trong hoạt động quản lý sản xuất, kinh doanh…

    Phương pháp luận sáng tạo cho trẻ em – sao lại không?

    Trong 1.294 học viên của TSK, hơn 40% là học sinh, sinh viên đã đến với PPLST ở các lớp đêm. Số học viên còn lại thì đa dạng hơn: Giáo viên, giáo sư đại học, bác sĩ, dược sĩ, tiến sĩ, kỹ sư… bên cạnh những cán bộ Đảng, công nhân, thợ may, huấn luyện viên thể thao, tiểu thương… Có dịp đọc gần 1.000 bài thu hoạch cuối khóa của 32 khóa PPLST, phóng viên ghi nhận: Tất cả học viên đều khẳng định họ đã biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác để chắt lọc những yếu tố có giá trị, biết nhìn một vấn đề theo nhiều chiều và lại quen tìm ra cái mới trong mỗi chiều nhìn, biết tự tin hơn… để vươn tới một nhân cách sáng tạo! Đúng như cô bạn Diễm Linh – giáo viên Trường thực nghiệm quận 1, học viên khóa 28 PPLST nói: “Khát vọng sáng tạo là nhân bản!”. Trong khi đó, cô thợ may Mai Diễm – một cựu học viên đã biết vận dụng các thủ thuật sáng tạo để thiết kế nhiều kiểu áo mới, lạ thì tâm sự: “Giá như tôi biết tới môn PPLST từ khi mới thôi học phổ thông thì có lẽ nghề nghiệp của mình đã khác nhiều! Vì vậy, tôi quyết định khi con mình đủ tuổi sẽ cho tới học môn PPLST…”

    Tại sao lại không? Tại sao lại không nghĩ tới chuyện dạy trẻ em VN về tư duy sáng tạo, theo những hình thức phù hợp với tâm sinh lý của các em? Liệu có thể đưa môn PPLST vào các trường phổ thông, xem như một môn học chính khóa? Tại sao trong lĩnh vực mới mẻ và rất quan trọng này, dường như chỉ mới có bàn tay của tiến sĩ Phan Dũng?

    (Báo “Tuổi Trẻ”, ra ngày 3/12/1992)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Luận Về Các Khái Niệm
  • Năng Động, Sáng Tạo Là Gì? Làm Gì Để Năng Động Sáng Tạo
  • Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Tiền Tệ Phải Chăng Là Hàng Hoá?
  • # Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Sáng Tạo Là Gì Và Tại Sao Lại Cần Đến Sáng Tạo?

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Về Các Khoa Học
  • Chế Độ Ăn Uống Khoa Học Hợp Lý Hằng Ngày Giúp Bạn Có Sức Khỏe Tốt
  • Như Thế Nào Là Chế Độ Ăn Uống Khoa Học?
  • Một Cách Tiếp Cận Khoa Học Trường Địa Thi Học
  • Giáo Án Hình Học 12: Khối Đa Diện Lồi – Khối Đa Diện Đều
  •  

    Sáng tạo là gì?

    Steve Jobs từng nói “Sáng tạo chỉ là kết nối nhiều thứ lại với nhau. Khi bạn hỏi những người sáng tạo về cách họ thực hiện một việc gì đó, họ sẽ cảm thấy ngượng ngùng một chút vì họ không thực sự làm gì cả. Qua thời gian, những ý tưởng ban đầu dần trở nên rõ ràng hơn mà thôi.” 

    Thực ra không có một khái niệm cố định nào cho sáng tạo. Nhưng nhiều tài liệu và các học giả nghiên cứu về lĩnh vực này. Tất cả đều có những quan điểm khá tương đồng: sáng tạo là đưa những ý tưởng, sáng kiến ứng dụng vào thực tế.

    Sáng tạo là gì? Đó là bao gồm sự nhìn nhận thế giới xung quanh theo góc nhìn mới. Và nó tìm cách kết nối các sự vật, hiện tượng tưởng chừng như rời rạc. Để từ đó nảy sinh ra những sáng kiến độc đáo, hữu ích.

    Theo quan điểm trên có thể thấy hai thành tố chính của sáng tạo. Đó là tính độc đáo – ý tưởng mới mẻ và tính chức năng – ý tưởng hữu dụng. Rõ ràng, sáng tạo chính là phương tiện giúp cho cuộc sống của con người tiện nghi, tiến bộ hơn.

    Những phát minh kịp thời này ra đời chính từ việc quan sát cuộc sống xung quanh. Nó giúp kết nối những kiến thức học được, những sự vật sẵn có để phục vụ lợi ích cộng đồng.

    Vậy sáng tạo có tầm quan trọng ra sao?

    Sau khi tìm hiểu định nghĩa về sáng tạo. Chúng ta có thể thấy sáng tạo đóng vai trò vô cùng hữu ích, to lớn đối với đối với quá trình vận động của xã hội. Đặc biệt là trong cuộc sống của chúng ta hiện nay.

    Những thay đổi nhanh chóng, những vấn đề cấp bách đó. Chúng luôn đòi hỏi chúng ta phải sớm có những phương án giải quyết nhanh chóng, hiệu quả. 

    Những kiến thức chúng ta học được không giải quyết được vấn đề. Nhưng sáng tạo là gì thì nó thực sự là vận dụng những kiến thức đó thành những sáng chế hữu ích. Hay là những biện pháp thực tiễn để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.

    Vấn đề dịch bệnh là ví dụ điển hình. Những phát minh kể trên thực sự hữu ích, chúng góp phần giải quyết bài toán làm cách nào để giảm thiểu sự lây lan dịch bệnh.

    Làm thế nào để phát triển khả năng sáng tạo?

    Hoạt động sáng tạo không phải là quyền riêng biệt của một nhóm người thiểu số có năng lực thiên phú. Cũng có những người được trao tặng năng khiếu đặc biệt về tư duy sáng tạo. Thế nhưng sáng tạo là kỹ năng mà mỗi người cũng có thể học tập và rèn luyện được. Điều cần thiết là họ phải thật kiên nhẫn và rèn luyện nhiều. 

    Tích lũy kiến thức, nâng cao chuyên môn 

    Hãy đọc sách, báo, tiếp cận những nguồn kiến thức, thông tin để có cho mình vốn kiến thức nền tảng ban đầu. Để sáng tạo cái mới, tiên tiến hơn, bắt buộc bạn cần có những kiến thức nền tảng và nâng cao.

    Hãy nên nhớ rằng,bạn không thể sáng tác ra một bài hát. Nếu bạn không có hiểu biết chuyên môn về nhạc lý. Hay đó là việc sáng chế ra khẩu trang kháng khuẩn mà không hiểu biết gì về sinh, hóa

    Học cách đặt câu hỏi đúng và tìm hướng giải quyết cho một vấn đề. Bạn cũng có thể hỏi những người giỏi hơn. Hoặc là những người đi trước có kinh nghiệm. Từ đó học hỏi họ hướng giải quyết, cách làm. Điều này sẽ kích thích bộ não bạn luôn hoạt động, tìm tòi. Và đích đến, chúng giúp bạn hiểu hơn về sáng tạo là gì.

    Không ngừng quan sát 

    Hãy quan sát, để ý thế giới con người xung quanh. Và cố gắng nhìn nhận theo nhiều hướng, tự học hỏi từ những hướng tích cực lẫn tiêu cực.

    Quan sát là cách giúp bản thân nhìn nhận vấn đề từ đó tìm ra hướng giải quyết hiệu quả. Hoặc bạn cũng có thể quan sát và học hỏi cách làm của người khác và tìm hướng giải quyết riêng.

    Bỏ qua những lối mòn, thử những điều mới, trải nghiệm những cảm xúc mới, gặp gỡ những con người mới, tiếp xúc với thiên nhiên. Hay đơn giản là ăn món ăn mà bạn ít có dịp ăn, xem phim, nghe nhạc, đọc cuốn sách mới. Điều đó sẽ kích thích các giác quan và óc sáng tạo của bạn

    Kiên trì

    Đừng nản lòng khi ý tưởng của bạn bị chê hay không được công nhận. Rất ít người có thể làm tốt ngay từ những bước đầu. Vì vậy hãy vượt qua nỗi sợ thất bại, tiếp tục suy nghĩ và cho ra đời những ý tưởng, giải pháp mới.

    Kết luận

    Sáng tạo, thực sự quan trọng trong cuộc sống hiện đại ngày. Nó không hẳn là khả năng xa vời chỉ dành cho những nhà khoa học, nghệ thuật. Mà nó có thể học tập và rèn luyện được. Học hỏi và phát triển khả năng sáng tạo để ứng dụng vào những vấn đề nhỏ thực tiễn trong cuộc sống. Đó mới chính là sáng tạo thực thụ 

    Sáng tạo là gì và tại sao lại cần đến sáng tạo?

    5

    (100%)

    1

    vote

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Cơ Sở Khoa Học Và Ý Nghĩa Thực Tiễn Của “Xét Nghiệm Gộp Mẫu” Trong Xét Nghiệm Sàng Lọc Sars
  • Cơ Sở Khoa Học Của Nghiên Cứu
  • Thế Giới Quan Là Gì, Phân Loại Và Vai Trò Của Các Thế Giới Quan
  • Các Chất Chữa Cháy – Tác Dụng Chữa Cháy Của Nước
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Pccc Trong Nghiệp Vụ Bảo Vệ
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Triết Học Là Gì? Đối Tượng Của Triết Học Là Gì? Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Hàm Vlookup Trong Excel, Cách Dùng Hàm Vlookup Trong Excel, Hàm Tìm Ki
  • =)), :)), :3, :v, ^^, :, @@, 3:), V/v, Vc, Vs Nghĩa Là Gì?
  • Iphone Bypass Là Gì? Có Nên Mua Iphone Bypass
  • Info Là Gì? Xin Info Là Gì? Ý Nghĩa Của Info Được Dùng Trên Mạng Xã Hội
  • Khi học triết học, chúng ta thường xuyên đặt câu hỏi triết học là gì? Đối tượng của triết học và vấn đề cơ bản khoa học này là gì? Bài viết này sẽ cung cấp giải đáp cho những câu hỏi đó.

    – Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    Ở Trung Quốc, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar’sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    – Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau:

    Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu:

    “Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy”.

    – Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    – Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của ; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

    Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng.

    Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại.

    Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu.

    Ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học.

    Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập.

    Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.

    Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác.

    “Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.”

    Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.

    Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó.

    Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa học”, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.

    Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản…

    Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.

    Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Homestay Là Gì? 6 Đặc Trưng Làm Nên Loại Hình Homestay
  • Homestay Là Gì? Những Điều Cần “nằm Lòng” Nếu Muốn Đầu Tư Homestay
  • Hợp Âm Là Gì? Cách Sử Dụng Hợp Âm Chuẩn
  • Gdp Là Gì, Ý Nghĩa Và 3 Cách Tính Gdp Danh Nghĩa Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Du Lịch La Gi, Bình Thuận (Cập Nhật 12/2020)
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50