【#1】Cách Làm Salad Rong Nho Đẹp Da, Giữ Dáng

Món salad rong nho là một trong những món ngon ngày hè lí tưởng giúp chị em phụ nữ giảm cân, đẹp da và khỏe dáng chuẩn thời đại mới.

Một số công dụng của rong nho

Rong nho được biết đến là loại thực phẩm chứa nhiều thành phần tốt cho cơ thể và đặc biệt có thể giúp bạn tránh được những căn bệnh nguy hiểm.

Giúp xương thêm chắc khoẻ

Sự giàu có protein, canxi và axit béo không bão hoà đa thuộc nhớm omega 3 có trong rong nho có tác dụng kháng viêm , giảm các triệu chứng của bệnh viêm khớ. Ăn rong nho thường xuyên sẽ giúp bạn có được khung xương dẻo dai và không còn những nỗi sợ với nguy cơ bị loãng xoang.

Tăng cường thị lực

Rong nho có nhiều vitamin A có tác dụng tăng cường hệ thần kinh thị giác, cải thiện thị lực và các bệnh về mắt như quáng gà, khô mắt,…

Tốt cho tim mạch

Các axit không bão hoà có trong rong nho có tác dụng giảm cholesterol, tăng tính co giãn mạch máu, ngăn ngừa oxy hoá, duy trỳ cấu trúc collagen của động mạch, có khả năng ngăn ngừa các bệnh tim mạch như xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ Tim,…

Làm đẹp da

Chất béo trong rong nho có khả năng bảo vệ màng tế bào, cải thiện tính đàn hồi của thành mạch máu, giảm triệu chứng khô da. Rong nho còn có thể sản xuất collagen và chất chống oxy hoá. Do đó, rong nho hoàn toàn có thể cải thiện da, tóc và làm chậm quá trình lão hoá.

Hạn chế táo bón

Rong nho chứa calo và đường thấm., giúp vi khuẩn dễ dàng tiêu hoá thức ăn và đào thải một cách nhanh chóng. Ăn rong nho sẽ có thể giải quyết tình trạng táo bón ở cả trẻ em và người lớn.

Tránh béo phì

Bởi chưa ít đường nhưng nhiều canxi, kẽm, sắt, protein thực vật, axit béo không bão hoà đa và vitamin C chính là lí do làm cho rong nho có khả ăn đánh bay mỡ thừa của bạn nếu bạn đang muốn có chế độ ăn kiêng hợp lí.

Phòng ngừa ung thư

Fucoidan trong rong nho chính là một chất được sử dụng chống ung thư tự nhiên. Theo các nghiên cứu Nhật Bản, Fucoidan có khả năng tăng cường miễn dịch đáng kể và giúp làm giảm mức cholesterol trong máu

Cách làm salad rong nho

Nguyên liệu để làm món salad rong nho

  • Cà chua bi: 100 gram
  • Bắp cải trắng, bắp cải tím: mỗi loại 1/3 củ
  • Cà rốt: 1 củ
  • Ngô ngọt: 1 củ
  • Rau răm: 1 ít
  • Thanh cua : 2 cây
  • Gia vị: Tương cà, tương ớt, ớt bột, mùi tạt và nước lọc

Cách làm salad rong nho tươi, ngon

Bước 1: Sơ chế

  • Cách làm rong nho biển: đầu tiên, cho tất cả rong nho ngâm nước lạnh từ 3 – 5 phút cho bớt đi vị mặn bên trong và tạo độ giòn. Saiu đó vớt rong ra để rổ cho ráo. Nếu là rong khô, bạn có thể ngân từ 5 – 10 phút cho rong nở ra hết, sau đó rửa sạch và ướp lạnh bằng cách cho vào đá lạnh.
  • Cà chua bị: cắt đôi
  • Với củ cà rốt: cạo sạch vọ, rửa sạch và bào thành sợi
  • Bắp cải trắng, bắp cải tím: rửa sạch, để ráo, thái thành sợi rồi ngăn nước muối pha loãng khoảng 5 phút. Sau đó vớt ra để ráo.
  • Ngô ngọt: rửa sạch, để ráo, tách hạt luột chín
  • Rău răm: rửa sạch, để ráo, băm nhỏ
  • Thanh cua: xé nhỏ

Bước 2: Làm nước sốt

Trộn lên tất cả hỗn hợp bao gồm: 1 thìa canh tương ớt, ½ thìa canh tương ca, 1 thìa cà phê mùi tạt, 1 thìa canh xốt mayonaise.

Bước 3: Trộn salad

Cho tất cả hỗn hợp bắp cải trắng, bắp cải tím, củ cà rốt, ngô ngọt và rau răm vào tô lớn. Sau đó, sử dụng hỗn hợp nước sốt đã pha chế rưới lên trên và trộn nhẹ nhàng.

Sau đó, cho hết phần rong nho cùng cà chua và một ít thanh cua vào, và nhẹ tay trộn đều hỗn hợp thêm một lần nữa là được.

Lưu ý cách chế biến rong nho

  • Có hai loại rong nho: rong nho tươi và rong nho tách nước. Nên lưu ý sử dụng rong nho tươi vì thế sẽ giúp món ăn tươi ngon, đậm vị hơn
  • Cách chọn rong nho: Vì rong nho để lâu sẽ bị sẫm màu, nên khi mua nên chọn lựa kĩ lưỡng. Sử dụng rong nho biển còn xanh tươi và dùng được trong ngày, không nên bảo quản trong tủ lạnh qua ngày hoặc đã để quá lâu.

  • Tránh để món salad quá lâu trong môi trường ngoài, nên ăn ngay sau khi để trong khoảng 30 phút
  • Không trộn rong nho quá mạnh tay (ở bước hai) vì sẽ làm rong nho mất nước.
  • Cách bảo quản rong nho: nên giữ rong nho trong túi nilong ở nhiệt độ lạnh từ 25 độ C – 30 độ C. Không được để rong nho trong tủ đông hoặc ngăn đá

Hạn chế ăn: Do trong rong nho có lượng i-ốt khá cao, nên người bình thường không nên ăn quá 1.1 mg i-ốt, tức là khoảng dưới 58 gram rong nho.

chúng tôi

【#2】Thế Nào Là Người Phụ Nữ Đẹp? 7 Tiêu Chí Ai Cũng Phải Nhớ Kỹ Khi Chọn Bạn Đời

Chuẩn mực của một người phụ nữ đẹp ở mỗi nền văn hóa lại có những thay đổi khác nhau. Tuy nhiên vẫn có những tiêu chuẩn chung luôn đúng ở bất kể thời đại nào.

Cái đẹp của một người phụ nữ chính là sự hài hòa giữa bề ngoài và nội tâm. Nhan sắc nổi trội nhưng nội tâm trống rỗng thì chỉ là cái đẹp khơi gợi dục vọng. Có một nội tâm phong phú, tốt lành, tự khắc người phụ nữ cũng trở nên duyên dáng, đằm thắm hơn. Bởi thế người xưa thường nói: “Tướng tại tâm sinh” là có ý như vậy.

Đối với người phụ nữ, thiện lương, hiền thục là tiêu chuẩn quan trọng nhất. Dù xinh đẹp, tài năng cỡ nào mà tính tình ích kỷ, tham lam thì cái đẹp ấy không được bền lâu, tương lại khó tránh u ám.

Phụ nữ có thể không xinh nhưng cần có giáo dưỡng. Vì thế cổ nhân mới đúc rút thành cái lý: ” Tốt gỗ hơn tốt nước sơn“, ý nói giá trị cốt lõi bên trong mới thực sự đáng trân quý hơn cả. Sự giáo dưỡng là giá trị nội tại, tự khiến người ta phải thấy hấp dẫn, chính là “hữu xạ tự nhiên hương “. Cuộc sống gia đình đều luôn cần những những người phụ nữ có giáo dưỡng như vậy.

Là phụ nữ không thể thiếu dịu dàng. Dịu dàng là bộ y phục mỹ lệ nhất của người phụ nữ. Khoác lên mình chiếc áo “dịu dàng”, người phụ nữ có thể đem đến một cảm giác hạnh phúc, êm ái, đem đến cho gia đình mật ngọt dù trải qua phong ba bão táp cuộc đời. Chẳng thế mà người xưa đã nói: “Yểu điệu thục nữ. Quân tử hảo cầu” (Người con gái yểu điệu, dịu dàng, có người quân tử tỏ lòng mến mộ).

Để làm tốt trách nhiệm là con, là vợ, là dâu, là mẹ, người phụ nữ cần phải học được cách nhẫn nại nếu không muốn mọi chuyện rối tinh. Cuộc đời người phụ nữ chính là có vai trò trung hòa các mối quan hệ ấy.

Nhẫn nại là đức tính mà người Á Đông rất coi trọng, vì nó nói lên rằng một người là có hàm dưỡng hay không. Không biết nhẫn nại, phụ nữ không thể quản trị gia đình, dạy dỗ con cái, điều hòa các mối quan hệ.

Trong cuộc sống chẳng tránh khỏi những va chạm, tổn thương, vậy nên sự bao dung, thông cảm, thấu hiểu chính là dòng suối mát xối chảy vào tâm hồn người, đánh tan mọi nóng giận, oán hận. Người phụ nữ chính là biểu tượng của bao dung, thấu hiểu.

Chức phận, vai trò của đàn ông và phụ nữ là hoàn toàn khác nhau nhưng không có sự phân biệt, đối xử. Ông bà ta nói: ” Chồng con cá, vợ lá rau “. Đàn ông nỗ lực phát triển sự nghiệp, vinh thân phì gia, đem lại của cải, phồn vinh cho xã hội. Phụ nữ lui lại một chút về phía sau, để tâm chăm sóc gia đình, nâng cao giá trị tinh thần xã hội. Hai vai trò đều quan trọng ngang nhau. Người phụ nữ vô tâm thì cửa nhà lạnh lẽo, gia đình chẳng còn là tổ ấm.

Ngày nay là thời đại của tri thức. Ai cũng mong tích lũy được nhiều tri thức để có được cuộc sống thoải mái, chất lượng hơn. Nhưng tri thức không phải chỉ từ sách vở, trường lớp mà còn là những kinh nghiệm tích lũy trong đời trải qua rèn luyện, hun đúc ngoài thực tế.

Một người phụ nữ có tri thức phong phú sẽ có chủ kiến, xử lý mọi việc một cách thông minh, khéo léo, đem lại hạnh phúc cho cuộc sống gia đình.

***

Giờ thì bạn đã thấy rồi, với người phụ nữ nhan sắc hoàn toàn không phải là yếu tố quá quan trọng như bạn nghĩ. Người xưa nói: ” Cái nết đánh chết cái đẹp “. Đương nhiên không ai ở đây đánh nhau, tranh chấp cả, ý tứ là đạo đức luôn phải xếp trên nhan sắc bề ngoài.

Xã hội hiện đại phát triển nhưng cũng theo đó mà nhiều loại quan niệm biến dị cũng xuất hiện ngày càng phổ biến. Ngày nay người ta thường đánh giá vẻ đẹp của người phụ nữ bằng nhan sắc, tiền bạc, danh vọng… đều là những thứ vỏ ngoài. Những giá trị cốt lõi nhất đã bị bỏ quên và bị khoác lên một lớp áo “cổ hủ, lạc hậu”. Đó chẳng phải thực sự là một điều đáng buồn hay sao?

【#3】Định Nghĩa Niềm Tin Là Gì? Làm Sao Để Bạn Sở Hữu Niềm Ti N? Update 2021

Ở thời đại hoà bình này, vũ khí lợi hại của con người chẳng phải là súng, đạn, hay bom nguyên tử nữa mà thay vào đó là những thứ nhẹ nhàng hơn nhưng vẫn không hề yếu thế – chính là niềm tin của con người.

Định nghĩa niềm tin là gì?

1. Những nét khái quát về niềm tin

1.1. Định nghĩa niềm tin là gì?

Không giống như các công thức toán học hay hoá học, niềm tin là một thứ cảm giác trừu tượng mà con người rất khó phân định. Nhiều sự việc hiện tượng hay thậm chí là con người được đánh giá tốt – xấu, đúng – sai đều tùy thuộc vào niềm tin ở nơi bạn đối với điều xảy ra đó.

Khái quát về niềm tin

Trong cuộc sống thường ngày, niềm tin xuất hiện là một điều cực kỳ cần thiết, bất kể mỗi chúng ta ai cũng tồn tại sẵn niềm tin chỉ có điều niềm tin ấy được biến hoá theo nhiều trường phái khác nhau, nhiều hướng khác nhau mà không có quy luật cố định nên sẽ gây ra khó khăn cho việc ra quyết định cuối cùng.

1.2. Phân loại niềm tin

Có hai loại niềm tin trái chiều nhau mà bạn cần hết sức chú ý đó là: Niềm tin tích cực và niềm tin tiêu cực. Tất cả chúng đều tồn tại trong con người bạn và trước mỗi sự việc hiện tượng bất kỳ bạn cần phải điều hướng niềm tin ấy sao cho đúng đắn nhất. Làm được điều đó thì ắt kết quả cuối cùng sẽ trở nên tốt đẹp muôn phần. Ngoài ra còn có thêm một loại niềm tin nữa cũng thường xuyên xuất hiện đó là niềm tin giới hạn. Vậy thì cụ thể từng loại thể hiện như thế nào mời bạn cùng theo dõi những nội dung sau đây:

Niềm tin tích cực

Niềm tin tích cực được đánh giá cao trong đời sống hay công việc hàng ngày mà bạn phải tiếp xúc. Đây là thứ cảm giác đặc biệt, giúp chúng ta có thêm động lực để tiếp tục phấn đấu và làm việc, hoàn thành các mục tiêu có sẵn mà mình vạch ra trước đó.

Niềm tin tích cực sẽ giúp bạn điều hướng tốt nhất theo hướng đi đúng đắn nhất để bạn đạt được thành công dù phía trước là nhiều chông gai và thử thách.

Hiện tại theo khảo sát thì bất cứ ai khi được hỏi đều mong muốn mình sở hữu được thứ niềm tin này và cũng mong muốn được người khác trao cho mình thứ niềm tin tích cực để mọi điều trong cuộc sống được diễn ra một cách tốt đẹp nhất.

Niềm tin tiêu cực

Phân loại niềm tin

Trái ngược hoàn toàn với thứ niềm tin tích cực là loại niềm tin tiêu cực, nó là thứ cảm giác yếu thế hơn khi mọi chuyện xuất hiện trong đầu bạn đều được đánh giá thấp. Chẳng phải ai áp đặt mà là tự bạn áp đặt như vậy, điều này là nguyên nhân chính dẫn đến việc bạn trở nên kém cỏi hơn so với người khác, trong khi cả thế giới đang tự thân vận động để tiến đến một vị trí cao hơn thì bạn lại cho rằng điều đó là vớ vẩn và chẳng có thứ gì là đáng để bạn tin tưởng.

Mọi thứ được diễn ra xung quanh bạn đều cảm thấy không có gì là điểm nhấn, không có gì đáng để bạn phải quan tâm và có thể trong con người bạn đang còn tồn tại sự tự ti to đùng nên việc đặt niềm tin cũng là rất khó.

Niềm tin giới hạn

Còn một thứ niềm tin khác mang tên là giới hạn, loại niềm tin này chỉ xuất hiện ở một cá nhân hay chủ thể nhất định và nó được sử dụng để chỉ những suy nghĩ hay định kiến khác nhau về sự vật, hiện tượng.

2. Vai trò quan trọng của niềm tin bạn đã biết?

Trong cuộc sống, không phải lúc nào bạn cũng cảm thấy hạnh phúc và vui vẻ bên những người thân yêu, bạn bè hay đồng nghiệp. Sẽ có rất nhiều thời điểm bạn cảm thấy suy sụp và tuyệt vọng vào một thứ gì đó xảy ra, sẽ có nhiều khi bạn sẽ cảm thấy chán nản và mất phương hướng trên con đường dang dở của mình. Vậy phải làm sao đây?

Vai trò quan trọng của niềm tin bạn đã biết?

2.1. Niềm tin là thứ tạo động lực

Thành công chính là sự kết tinh của nhiều yếu tố khác nhau trong đó niềm tin chiếm một phần khá lớn trong suốt chặng đường dài đó. Để có được thành công như mong muốn bạn cần phải sở hữu khối niềm tin khá lớn. Trong đó đặt niềm tin vào bản thân, niềm tin vào năng lực và trình độ làm việc, có niềm tin vào khả năng chinh phục thử thách của mình,… Niềm tin được xuất hiện càng nhiều đồng nghĩa với việc bạn sẽ có cơ hội thành công lớn hơn.

2.2. Niềm tin chính là cánh cửa mới

Tại sao nói niềm tin tạo ra cho bạn cánh cửa mới? Nhiều người có năng lực nhưng lại không có niềm tin trong cuộc sống nên mọi thứ mà họ suy nghĩ đều đang ở một giới hạn an toàn nhất định.

Niềm tin chính là cánh cửa mới

Có niềm tin sẽ giúp họ đủ dũng khí để bước chân ra khỏi vùng an toàn trước đây và tiến tới một cánh cửa mới, nơi đó chứa đầy những cơ hội mới, thành công mới. Nếu bạn không có niềm tin thì mãi mãi thành công của bạn sẽ ở sau cánh cửa mà bạn chẳng thể nhìn thấy.

2.3. Niềm tin là liều thuốc của ước mơ

Một trong những tiền đề quan trọng để tạo nên ước mơ đó chính là niềm tin. Niềm tin có thể được coi là liều thuốc bổ hữu hiệu để bạn với tới ước mơ của mình.

Chắc hẳn bạn đã từng được chứng kiến rất nhiều mảnh đời bất hạnh ở xung quanh, rất nhiều người có hoàn cảnh khó khăn thế nhưng họ vẫn đem về cho mình thành quả nổi trội. Đó là những tấm gương đáng để bạn học tập bởi trong những con người ấy họ phải có niềm tin mãnh liệt lắm mới có thể đem về cho mình những thành tích đáng tự hào như vậy.

Niềm tin có sức mạnh thật phi thường, bất kể ai từ một người bình thường cũng có thể trở nên giàu có và thành công ở bất kỳ thời điểm nào. Bạn cần có thứ niềm tin ấy để vượt qua những khó khăn hay rào cản phía trước.

2.4. Niềm tin là nguồn năng lượng tích cực

Chẳng phải những người thừa cân, bệnh tật nhiều tự dưng họ lại có thể tham gia đều đặn vào các buổi đi bộ hay tập thể dục buổi sáng sớm mặc dù trời lạnh căm căm. Cái gì cũng đều có nguyên do của nó cả.

Họ đặt ra mục tiêu là có một cơ thể khỏe hơn, chống lại bệnh tật hoặc giảm cân để cơ thể quyến rũ,… Quan trọng là họ có niềm tin rằng mình sẽ làm được và cứ thế kiên trì mỗi ngày.

Như vậy có thể thấy niềm tin có thể truyền cho mỗi chúng ta nguồn năng lượng tích cực để làm việc hiệu quả, một khi thứ niềm tin ấy đủ lớn thì thành công ắt sẽ tìm đến bạn sớm hơn.

Niềm tin là nguồn năng lượng tích cực

Như vậy, niềm tin có vai trò vô cùng lớn đối với cuộc sống hàng ngày và cả công việc. Nó không những giúp chúng ta có được một suy nghĩ tích cực mà còn giúp bạn hoàn thiện bản thân, niềm tin càng lớn thì thành công càng mau tới.

3. Để có niềm tin bạn sẽ làm gì?

Nhiều bạn trẻ thời nay có vẻ năng động và mạnh mẽ đấy thế nhưng đó chỉ là trạng thái khi bình thường, đến lúc gặp chuyện buồn, sự vô vọng vào một điều gì đó thì họ lại không thể tự mình đứng lên và bước tiếp.

3.1. Chấp nhận hoàn cảnh thực tiễn

Một người có niềm tin họ sẽ chẳng bao giờ hoài niệm lại quá khứ và nói ra hai từ “nếu như…”

Nếu muốn vực dậy niềm tin ở nơi mình, điều đầu tiên mà bạn không thể bỏ qua đó chính là chấp nhận sự thật ở hiện tại. Hãy coi nó như thể một điều tất yếu xảy ra và tìm cách vượt qua những ngày u ám tìm cho mình những ánh nắng chói cang để sưởi ấm. Nhiều khi biết chấp nhận, nhìn thẳng vào sự việc sẽ khiến bạn không bị u mê, không lầm tưởng và đủ tỉnh táo để tìm cách giải quyết.

3.2. Hãy nghĩ về những thành công trong quá khứ

Hãy nghĩ về những thành công trong quá khứ

Nếu như bạn đã từng có quá khứ huy hoàng vậy thì chứng tỏ bạn là người đủ khả năng để đạt được nó một lần nữa. Nhìn lại quá khứ tốt đẹp nhất và coi đó là một tấm gương để có động lực cho những bước đi tiếp theo.

Nhiều khi đó cũng là một niềm an ủi bản thân, là một thứ động lực hữu hiệu nhất giúp bạn vượt qua khó khăn trước mắt.

3.3. Tin tưởng tuyệt đối vào bản thân

Có một câu nói của Rumi mà tôi rất thích đó là “Mọi thứ trong vũ trụ đều có ở trong bạn. Hãy tự hỏi mình tất cả”

3.4. Không ngoảnh đầu lại phía sau sẽ khiến bạn run sợ

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chỉ cần là bạn không tàn tật thì bạn luôn phải dịch chuyển về phía trước, đừng đứng yên một chỗ.

Có thể trong cuộc sống mỗi chúng ta sẽ có vô số điều làm bạn thất vọng, mất niềm tin thế nhưng dù đó là chuyện gì thì bạn cũng không được phép dừng lại, ngã ở đâu đứng dậy ở đó, bạn không được phép dừng lại cho tới khi không còn chút sức lực nào trong người.

Sự dừng lại chỉ khiến bạn trở thành người kém cỏi, người khác coi thường và bạn sẽ càng cảm thấy tự tin sau những lời nói cười nhạo đó.

Không ngoảnh đầu lại phía sau sẽ khiến bạn run sợ

【#4】Mmo Là Gì? Cách Để Thu Lại Lợi Nhuận Khủng Từ Mmo

Nếu không phải là những người tiếp xúc thường xuyên với internet sẽ khó có thể biết được khái niệm chính xác về MMO. Vậy MMO là gì?

MMO hay Make Money Online được hiểu là các hình thức kiếm tiền online trên mạng Internet. Có nghĩa chỉ với những thiết bị kết nối Internet như thoại hoặc máy tính.

Bạn có thể triển khai Công việc để thu lại lợi nhuận thực. Một hình thức MMO yêu cầu người chơi phải bỏ vốn nhưng cũng có những hình thức không yêu vốn.

Tuy nhiên với bất kỳ hình thức kiếm tiền MMO sẽ đều yêu cầu bạn phải dành thời gian và tâm sức mới mong có được thu nhập ổn định.

Mặc làm việc hoàn toàn trên thế giới ảo nhưng số tiền bạn kiếm được lại hoàn thật nếu lựa chọn đúng hình thức và đầu tư một cách nghiêm túc cho MMO.

Thực tế, không ít người trẻ đã kiếm được hàng chục ngàn đô mỗi tháng nhờ vào MMO. Thế nhưng cũng không ít số khác lại tay trắng vẫn hoàn tay trắng.

Nhưng dù nói thế nào MMO chắc chắn vẫn là một trong những xu hướng kiếm tiền đầy triển vọng trong tương lai. Bởi mạng lưới internet toàn cầu vẫn không ngừng phát triển mạnh định hình lại xu hướng giải trí, mua sắm, giáo dục,..

Nói chung là mọi mặt trong đời sống. Từ đó các loại hình kiếm tiền từ MMO cũng mang tính đa dạng và thu hút thêm nhiều đối tượng hơn.

MMO có thực sự đáng tin?

Trước khi công nghệ được đề cao, internet được sử dụng phổ biến và rộng rãi. Người ta thường không đặt niềm tin vào các dịch vụ trên mạng xã hội.

MMO đã có khoảng thời gian bị cho là một loại hình thức kiếm tiền lừa đảo và chưa từng tồn tại. Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển, nó trở nên phổ biến và là hình thức thu lời vô cùng hữu hiệu.

Đã có rất nhiều người thử sức với công việc này và có kết quả là vô cùng khả quan. Các công ty có thể đem lại cho bạn mức thù lao hấp dẫn tùy thuộc vào trình độ mà bạn đang sở hữu.

Kiếm tiền từ MMO có vô số các hình thức. Trong đó, xây dựng website hay kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội đang là những loại hình mà dân MMO chuyên nghiệp rất ưa chuộng.

Chỉ cần có sẵn một website, bạn sẽ có khá nhiều cách để khai thác tiềm năng từ hệ sinh thái của website đó và biến chúng thành lợi nhuận.

Tuy nhiên nếu muốn duy trì lượng traffic ổn định trên website, bạn cần đầu tư cho phần nội và quy trình SEO. Có như vậy, website mới duy trì thứ hạng cao trên công cụ tìm kiếm.

Kinh doanh online ngay trên website

Một website cung giống như một shop online cung cấp mặt hàng mà khách hàng có nhu cầu. Khi đã một website hoàn thiện, bạn hãy tìm kiếm sản phẩm kinh doanh phù hợp sau đó đầu tư cho phần nội dung, SEO web để site đặt thứ hạng cao.

Muốn bán được hàng trên website ngoài chất lượng sản phẩm, bạn còn phải xây dựng các chiến quảng bá, khuyến mãi, hậu mãi đánh trúng tâm lý khách hàng.

Tiếp thị liên kết Affiliate Marketing

Hình thức tiếp thị liên kết không yêu cầu chủ website phải đầu tư cho sản phẩm nhưng vẫn thu lại lợi nhuận từ những mặt bán được.

Đó là phần hoa hồng từ mặt hàng bạn đã tiếp thị trên chính site đang quản lý. Sản phẩm đó là của một bên khác nhưng chính bạn mới là người có công quảng sản phẩm đó trên website.

Trong tương lai đây vẫn là một trong những hình thức marketing có đầy tiềm năng để phát triển, giúp mở thêm cơ hội kiếm tiền cho dân MMO.

Bán hàng online trên các nền tảng mạng xã hội hẳn không còn xa lạ với bất kỳ ai trong chúng ta. Kính online trên Facebook hay trang mạng xã hội khác không yêu về kỹ thuật lập trình, dựng website.

  • Bán hàng trên tài khoản Facebook cá nhân: Nick Facebook cá nhân cho phép kết nối với 5000 bạn bè. Bài đăng bán hàng trên nick cá nhân hoàn toàn không mất phí. Muốn bán được hàng, sản phẩm của bạn phải chất lượng đồng thời bạn cần tận dụng tốt các mối quan hệ bạn bè.

Môi trường làm ăn trên Facebook ngày càng có tính cạnh tranh quyết liệt hơn. Do đó muốn thành khi kinh doanh trên các trang mạng Facebook đòi hỏi bạn phải biết bắt kịp thời xu hướng khách hàng, tận dụng tốt mọi hình thức quảng bá.

Những sàn thương mại điện tử nổi tiếng tại Việt Nam như Shopee, Tiki, Lazada, Sendo,.. Đang thu hút hàng triệu lượt truy cập mỗi ngàn.

Kinh doanh trên những sàn thương mại điện tử không tính rủi ro như khi tự mình lập web. Bởi các khâu như quảng bá, tiếp thị sản phẩm đều do bên các sàn thực hiện. Họ sẵn sàng chi cả núi tiền cho khâu quảng để thay đổi thói quen mua sắm của người Việt.

Khi bán được một sản phẩm nào đó trên những sàn thương mại điện tử này, bạn phải trích ra một khoản hoa hồng nhỏ. Tiền hoa hồng thu từ người bán hàng chính là nguồn thu lớn nhất của mỗi sàn thương mại điện tử.

Khách hàng mỗi khi tìm đến những sàn thương mại điện tử chắc chắn có nhu cầu mua hàng cụ thể. Tỷ lệ chuyển đổi cũng cao hơn các trang xã hội hay website. Đặc biệt, mỗi sàn TMĐT còn hỗ trợ người bán cả khâu ship hàng hạn chế tối đa rủi ro khi giao nhận hàng.

Kiếm tiền từ Youtube chưa bao giờ hot như hiện nay, người người nhà nhà đều xô nhau đi làm Youtube. Sở hữu một kênh Youtube với đông đảo người đăng ký và lượng xem ổn định sẽ giúp bạn thu về lợi nhuận cực khủng.

Không hiếm những Vlogger tại Việt Nam thu về hàng triệu đô la từ chính nền tảng nội dung họ sản xuất và đăng tải lên Youtube.

Muốn thành công ở mảng Youtube đòi hỏi bạn phải là người biết sáng tạo content video, am hiểu chính sách và thuật của Youtube. Chính sách phát triển của Youtube vẫn không ngừng mở rộng đất sáng tạo cho người sản xuất nội dung.

Song song với đó những quy về bản quyền và tiêu chuẩn cộng đồng ngày một khắt khe hơn. Vậy nên, muốn đạt được chỗ đứng trên mảnh đất Youtube màu mỡ, bạn phải đầu tư nghiêm túc cho khâu nội dung và luôn cập nhật các chính sách mới nhất của mạng chia sẻ video này.

Amazon được biết đến như trang thương mại điện tử lớn nhất toàn cầu với lượng truy cập cực khủng 3 tỷ lượt mỗi tháng. Khách hàng khi mua hàng trên Amazon luôn có xu hướng đặt hàng số lượng lớn.

Amazon hiện hỗ trợ khách hàng mở shop trên sàn giao dịch này hầu hết các khâu kỹ thuật. Công việc chính mà bạn cần làm là tạo dựng content hấp dẫn cho sản phẩm. Vì khách hàng của Amazon đến từ rất nhiều quốc gia nên content cho sản phẩm nên viết bằng tiếng Anh.

Amazon sẽ hỗ trợ bạn tất cả các khâu như giao hàng, quảng bá tiếp thị, giải quyết vấn đề khiếu nại của khách hàng,.. Việc của bạn chỉ là tập trung cho khâu nâng cao chất lượng sản phẩm và mạng lưới content thu hút.

Ngoài 5 hình thức MMO phổ biến nhất kể trên, người tham gia kiếm tiền từ MMO vẫn còn vô số lựa chọn khác.

  • T-shirt Business: Người bán có cơ hội thu lại lợi nhuận từ 200.000VND đến 300.000VNĐ / chiếc áo bán ra. Người tham gia mô hình T-shirt Business không cần sản xuất hay vận chuyển mà chỉ cần thực hiện khâu tiếp thị trên các nền tảng trực tuyến. Shopify, Teechip, ViralStyle,.. Là một trong các nền tảng bán áo thun vẫn khá hot.
  • Dropshipping: Đây hình thức bán hàng mà bạn không cần đầu cho kho bãi sản phẩm hay khâu vận dụng. Có nghĩa khi có khách hàng đặt mua, bạn chỉ cần báo lại cho bên cung cấp chính. Họ sẽ có trách nhiệm giao hàng cho khách hàng. Lợi nhuận bạn thu được là khoản chênh lệch giữa giá từ phía nhà cung cấp và giá bán đến khách hàng.
  • Kiếm tiền bằng Lambo: Lambo cũng gần tương tự như hình thức Affiliate Marketing. Theo đó, bạn cần đăng ký tài khoản trên nền tảng dành cho MMO và bắt đầu kiếm tiền.

Môi trường MMO đầy hấp dẫn nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro nếu bạn không tỉnh táo trong việc lựa chọn hình thức kiếm tiền.

Sự phát triển bùng nổ của các loại hình MMO khiến nhiều chơi bị lóa mắt, lao vào kiếm tiền nhưng tay trắng vẫn hoàn tay trắng.

Khi upload tài liệu lên hệ thống mạng network bạn có cơ hội nhận lại khoản tiền nhỏ từ người tải về tài liệu đó. Thế nhưng hiện tại, hình thức này không còn tự ý kiếm tiền như trước bởi vì người trực tiếp soạn thảo tài liệu ngày càng ý thức hơn về vấn đề bản quyền tác giả.

Nếu upload tài liệu đã đăng ký tài liệu đăng bản quyền mà chưa được cấp phép, người khác hoàn toàn có quyền report. Tài liệu khi đó lập tức bị gỡ xuống khi bạn chưa kịp kiếm nổi bất kỳ xu nào.

Cờ bạc online chưa bao giờ được xếp vào hình thức MMO lành mạnh. Đây là kiểu kiếm tiền đầy tính rủi ro, bạn liên tục bỏ ra vốn nhưng tiền thu về không được bao nhiêu mà t hậm chí bù vào.

Các nhà cái hiện từ rất thông minh, họ tìm mọi cách để lôi kéo người chơi. Ngay cả khi không có tiền chơi, họ cũng vẫn sẵn sàng chấp nhận và dẫn dắt bạn đến các hình thức vay tiền lãi suất cao.

Không ít người chơi cờ bạc online đã phải rơi vào tình trạng tán gia bại sản khi vay tiền với lãi suất cao đổ vào được canh bạc hứa hẹn hào nhoáng. Nếu thực sự là dân MMO thông minh, bạn tốt nhất nên tránh xa các hình thức cờ bạc online.

Tại Mỹ người ta trả tiền để bạn thực hiện các khảo sát có nghĩa bạn sẽ giả danh họ kiếm từ 2 – 5 USD cho mỗi lượt khảo sát. Việc làm này không khác gì bạn mạo danh người khác để kiếm tiền.

Trong trường hợp họ phát triển được, tài khoản của bạn lại bị cấm. Kéo theo số tiền trước đó gần như mất hết bởi không được thanh toán.

HYIP đây là hình thức đầu tư siêu lợi nhuận dễ bị thu hút bởi người chưa hiểu biết về MMO. Có nghĩa là bạn chỉ cần nạp tiền và chờ lãi về, kiểu làm ăn này nghe thì có vẻ ngon ăn nhưng thực tế lại không hề dễ như vậy.

Bạn cần biết rằng một trang chuyên cung cấp dịch vụ đầu tư siêu lợi nhuận HYIP đừng có kiểu mô hình hoạt động tạo uy tín ban đầu để thu hút nhà đầu tư.

Khi số lượng nhà đầu tư đủ lớn, họ bắt đầu chơi thủ đoạn để bùng tiền. Tiền đầu tư khi đó của bạn có nguy cơ mất trắng.

Đối tượng tham gia MMO

MMO là hình thức thu lời không kén chọn đối tượng tham gia. Đây được xem là một lợi thế vô cùng lớn dành cho người dùng.

Từ những người chỉ nắm được kiến thức cơ bản về MMO cho đến những người sở hữu trình độ chuyên môn sâu rộng. Đương nhiên, mức thu nhập mà bạn kiếm được là tùy thuộc vào trình độ.

Thông thường, MMO phù hợp hơn với những người am hiểu về internet và máy tính. Cộng thêm vốn tiếng anh cơ bản, đây sẽ là một lợi thế vô cùng lớn.

MMO bao gồm tất cả các hình thức kiếm tiền qua mạng internet. Muốn thành công ở lĩnh vực MMO bạn phải bổ sung cho mình những kiến thức cơ bản về kinh doanh online, marketing online và kiến thức cơ bản về tài chính ngân hàng.

Kinh doanh online là một mảng tương đối quan trọng trong MMO. Để bán được hàng trên các sàn thương mại điện tử, website hai mạng xã hội đòi hỏi bạn phải có kiến thức cơ bản về xu hướng thị trường, đừng đánh giá đúng nhu cầu của khách hàng, phân tích chiến lược của đối thủ.

Bên cạnh đó là khả năng xây dựng chiến lược, tạo dựng bạn lưới content và kênh phân phối. Kinh doanh online không đơn thuần chỉ là bán được hàng mà còn phải xây dựng thương hiệu và định hướng lại hành vi mua sắm của khách hàng.

Muốn vậy, bạn nên tự trau dồi cho mình kiến thức vững chắc về về các loại hình kinh doanh online. Đó định hình và xây dựng một chiến lược khoa học bài bản nhất.

Marketing online là công cụ hữu hiệu để thúc đẩy các chiến dịch MMO đi đến thành công. Chỉ khi tiếp thị đúng phương pháp phẩm hay dịch vụ mới đến gần được khách hàng và kích thích hành vi mua hàng của.

Marketing online hay chính xác là Digital marketing rất cần thiết cho mọi hoạt động kinh doanh diễn ra trong thời đại 4.0 ngày nay. Bao gồm cả kinh doanh online (một phần của MMO).

Kiến thức về tài chính ngân hàng đặc biệt cần thiết với dân làm MMO. Trước tiên bạn cần tìm hiểu về các phương thức rút và chuyển tiền thông hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó là cách sử dụng các ứng dụng ví điện tử phổ thông.

Thanh toán và nhận tiền MMO

Thanh toán và nhận tiền cũng là một trong những vấn đề mà người dùng MMO cần phải nắm vững. Đương nhiên, phải nắm rõ được các bước cũng như cách thực hiện thanh toán qua ngân hàng.

Đối với những loại tài khoản trên đều không phải là tính theo đơn vị tiền Việt.

Do đó, bạn có 2 cách để sử dụng chúng. Thứ nhất là chuyển tất cả về tài khoản ngân hàng trong nước của mình. Cách 2 là bạn có thể bán lại với đúng giá tiền Việt dành cho những người có nhu cầu sử dụng chúng.

Đánh giá ưu, nhược điểm của kiếm tiền bằng MMO

Bất kỳ công việc nào cũng đều có 2 mặt trái và phải. Đương nhiên, MMO không phải là một trường hợp ngoại lệ. Dù vậy, các ưu nhược điểm của nó phải xét trên nhiều phương diện:

Về phần ưu điểm, dễ thấy được đây là hình thức công việc không mất nhiều sức lao động. Bạn không bị gò bó về thời gian địa điểm.

Hoàn toàn có thể làm khi ở nhà mà chỉ cần ngồi bên một chiếc máy tính có kết nối internet. Đây là công việc dành cho những người kiên trì và chịu khó.

Thời gian đầu sẽ khá vất vả khi lợi nhuận thu được không cao. Tuy nhiên, sau khi thành thạo và có kinh nghiệm, mức phí đem lại là xứng đáng.

Nếu xét về nhược điểm, những rắc rối mà nó mang lại cũng là không hề nhỏ.

Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển, lừa đảo đang là một trong những vấn đề được người dùng vô cùng cảnh giác.

Chính vì vậy, khi muốn hợp tác với bên thứ 2, bạn cần tìm kiếm thông tin và tra cứu thật rõ.

Tránh trường hợp chập chững bước vào nghề đã có thể bị lừa tiền. Đây là công việc mà thời gian đầu vô cùng khó khăn.

Nếu không là người kiên trì thì sẽ rất khó có thể thành công. Sẽ có thời điểm mà cả ngày bạn phải cúi gầm mặt bên chiếc máy tính.

Cùng tham gia kiếm tiền từ các hình thức MMO Nhưng tại sao lại có người thành công trong khi số khác lại thất bại? Câu hỏi này có lẽ được đang được rất nhiều người đặt ra.

Lý do chính khiến người tham gia MMO thất bại là bởi họ không đủ kiến thức, lựa chọn sai hình thức MMO, đòi ngồi không mà có tiền.

Tâm lý trung của người mới tìm hiểu về kiếm tiền online có lẽ đều cho rằng MMO rất dễ, chỉ cần ngồi lưới điện thoại hay máy tính là có tiền,.. Tham gia MMO mà không trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản dẫn đến hệ quả tất yếu chính là thất bại.

Xu hướng chung của dân MMO mới vào nghề là thấy người ta làm mình cũng làm. Chỉ biết copy trong vô thức mà không chịu đúc rút kinh nghiệm.

Kiếm tiền online không hề dễ như người ngoài nhìn vào vẫn nghĩ. Các kiến thức về kinh doanh online, marketing online, tài chính ngân hàng, kỹ năng sử dụng các công cụ đo lường thống kê rất quan trọng. Chúng là một phần hỗ trợ để chiến dịch MMO của bạn đi đúng hướng

Các hình thức kiếm tiền online hiện giờ rất đa dạng. Vậy nhưng, không phải hình thức nào cũng đem lại hiệu quả. Khi lựa chọn sai loại hình MMO dễ khiến bạn chán nản, làm hoài không thấy tiền thu về.

Đặc biệt là xu hướng làm theo phong trào, thấy người khác làm mình cũng làm đã khiến không biết bao dân MMO phải nếm trái đắng.

Những kênh YouTube dễ bị người xem lãng quên nhanh chóng. Thậm chí chưa chờ đến lúc bật nút kiếm tiền, chủ kênh đã không đủ lực để tiếp tục duy trì kênh.

Bạn cần nhớ rằng không có việc gì nhàn hạ, ngồi không mà có tiền. Kể cả MMO cũng vậy. Muốn kiếm được tiền từ bất kỳ hình thức MMO nào, bạn cũng phải cần phải bỏ ra thời gian và công sức nghiên cứu. Nếu có loại hình kiếm tiền mà không đòi hỏi đầu tư công sức và thời gian thì chắc chắn đó là lừa đảo.

Cũng bởi tâm lý không cần làm mà vẫn có tiền nên trong ít người đã rơi vào cạm bẫy lừa đảo với mô hình đầu tư siêu lợi nhuận.

MMO chân chính đòi hỏi người tham gia phải luôn cập nhật xu hướng, bắt những thay đổi trong thuật toán của các nền tảng số. Như vậy, bạn cần phải bỏ ra thời gian và trí lực mới hy vọng thu về thành công.

Kiên trì là đức tính cần thiết để thành công cho mọi lĩnh vực. Với MMO cũng không phải là ngoại lệ. Nếu như từng làm tiếp thị trực tuyến trong thời gian đầu, hẳn bạn không ít lần đặt ra câu hỏi kiểu như “sao tiền hoa hồng mình kiếm được ít thế? tại sao đã SEO các kiểu mà thứ hạng website vẫn lẹt đẹt, không ra đơn?”.

Nếu không kiên trì, bạn rất dễ tìm cách bỏ cuộc. Chính sự không kiên trì này khiến người tham gia MMO khó chạm đến thành công.

Làm MMO là cả một quá trình thử nghiệm và đúc rút kinh nghiệm. Thành công không thể đến trong một sớm một chiều mà cần phải có thời gian.

MMO vẫn luôn là mảnh đất đầy màu mỡ nhưng để đạt đến thành công đòi hỏi người tham gia phải nghiêm túc đầu tư. Trước tiên, bạn cần trang bị cho bản thân kiến thức cơ bản về marketing online, kinh doanh online và tài chính.

Trước khi tham gia bất kỳ lĩnh vực MMO nào đó, bạn nên tìm hiểu kỹ xem bản thân có phù hợp với lĩnh vực đó không. MMO đòi hỏi bạn phải phải thực hành, thực chiến liên tục.

Tựu chung lại chỉ cần có đam mê và đầu tư nghiêm túc, nhất định bạn sẽ đạt được ít nhiều thành tựu trong lĩnh vực MMO đã lựa chọn.

【#5】Doanh Số Là Gì? Làm Thế Nào Để Thúc Đẩy Doanh Số?

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều quan tâm đến doanh số, bởi lẽ đây là một trong những thước đo quan trọng để quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Vậy doanh số là gì và có những cách nào thường được các doanh nghiệp sử dụng để thúc đẩy doanh số? Bài viết này sẽ cho bạn câu trả lời thỏa đáng.

I. Định nghĩa doanh số là gì?

Theo kiến thức chuyên ngành về kinh doanh, doanh số được hiểu là tổng số tiền có được do hoạt động bán hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Doanh số bao gồm số tiền đã thu và số tiền chưa thu.

Doanh số cũng có thể được xem bao gồm cả tổng số tiền bán hàng và số tiền bán được nhưng không thuộc doanh thu. Ví dụ như là hàng nhận ký gửi nhờ bán.

Định nghĩa doanh số dễ hiểu chính là tích của tổng số lượng sản phẩm đã bán nhân với giá bán. Ví dụ: 1 cửa hàng bán cà phê đồng giá 10.000 đồng/ ly. Trong ngày 6/1/2020 cửa hàng đó bán được 200 ly cà phê, thì ta sẽ có doanh số:

10.000 x 200 = 2.000.000 ( đồng). Doanh thu của cửa hàng vào ngày 6/1/2020 là 2 triệu đồng.

1. Phân biệt doanh số và doanh thu

Doanh số và doanh thu là khai khái niệm dễ gây nhầm lẫn và về mặt bản chất, thậm chí không ít người đánh đồng 2 khái niệm này với nhau.

Doanh số là gì hẳn là chúng ta đã biết, vậy doanh thu thì sao?

Về mặt bản chất, doanh thu là tổng giá trị lợi ích kinh tế mà bản thân doanh nghiệp thu được trong một khoảng thời gian nhất định. Doanh thu có được nhờ các hoạt động sản xuất, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

2. Công thức tính doanh thu

Doanh thu được tính theo công thức: Doanh số – Chiết khấu/ giảm giá hoặc hàng bán trả lại,….

Doanh thu luôn luôn có phần thuế VAT.

Vì sao chúng ta lại phải phân biệt giữa doanh số và doanh thu? Bởi lẽ việc xác định 2 con số này sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh của mình.

Từ con số đó sẽ có những chiến lược cụ thể để doanh nghiệp phát triển nhiều hơn. Một doanh nhân thực thụ sẽ không bao giờ nhầm lẫn khái niệm doanh số và doanh thu.

II. Làm thế nào để tăng doanh số bán hàng?

1. Chiết khấu hàng hóa

Chiết khấu mang lại hiệu quả to lớn bởi nó xảy ra với tần suất không thường xuyên. Đừng bao giờ để hàng hóa của bạn luôn ở trong tình trạng ” đang giảm giá”. Bởi lẽ khách hàng sẽ có tâm lý không mua được hôm nay thì mai sẽ mua. Thậm chí khách hàng sẽ đặt ra câu hỏi vì sao hàng lúc nào cũng giảm giá, phải chăng là kém chất lượng.

Bạn nên chiết khấu hàng bằng cách tạo ra những coupon, voucher trong thời hạn nhất định. Cách tạo hành động mua sắm hiệu quả với thông điệp “chỉ một ngày duy nhất”,… Khách hàng sẽ cảm thấy tiếc mã voucher giảm giá 50% mà có thể mua ngay lập tức.

2. Cung cấp dịch vụ đi kèm

Đây là một chiêu thức không mấy xa lạ đối với doanh nghiệp trên toàn thế giới. Doanh nghiệp có thể cung cấp tặng dịch vụ gói quà khi khách mua hàng, hoặc tặng voucher giảm giá cho những lần mua hàng tiếp theo. Tuy nhiên đừng quên rằng quà tặng phải đi kèm với điều kiện. Ví dụ như mua sản phẩm trên 100 ngàn đồng sẽ được freeship hoặc tặng 10% cho lần mua tiếp theo. Mấu chốt của vấn đề là bạn thôi thúc được khách mua hàng của bạn và sẽ mua những lần tiếp theo.

3. Cung cấp sản phẩm / dịch vụ miễn phí trong một khoảng thời gian nhất định

Với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ sẽ khá quen thuộc với hình thức này. Đây là việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp miễn phí trong khoản thời gian cụ thể, giúp khách hàng có thể tiếp cận và trải nghiệm sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp một cách tốt hơn.

Ví dụ: với những đơn vị như phòng tập gym, spa, hay các trung tâm ngoại ngữ, … có thể cho khách hàng các buổi tập, buổi học miễn phí trong một khoảng thời gian nhất định. Việc sử dụng miễn phí dịch vụ giúp khách hàng có cơ hội trải nghiệm dịch vụ của bạn tốt hơn. Đây thực sự là hành động thú vị cho cả khách hàng và bản thân doanh nghiệp. Với những đơn vị cung cấp sản phẩm, có thể có sản phẩm dùng thử, sản phẩm mẫu miễn phí,… Ngoài việc quảng bá được sản phẩm còn giúp thương hiệu của bạn mở rộng tập khách hàng tiềm năng của mình trong tương lai.

Thêm vào đó, bạn có thể tham khảo việc tạo ra một cuộc thi, minigame nho nhỏ dành tặng cho các khách hàng tham gia sử dụng sản phẩm, dịch vụ bên bạn, như: bốc thăm may mắn, …. Đây cũng là cách giúp bạn gia tăng doanh số, đồng thời quảng bá, tạo hiệu ứng cho thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của mình.

【#6】Các Bài Thơ Một Thời Để Nhớ!

Chim nộc thua.

Không biết ngày xưa trẻ con nghe chim hót thế nào, với Lan, là một buổi trưa tan học về, vẩn vơ như không, lúc qua cầu Lan chợt dừng lại nghe thấy tiếng chim. “Thôi đúng, tiếng con chim nộc thua rồi. Nó đang đậu trên cành cây săng lẻ trước mặt, vươn chiếc cổ xanh biếc lên trời mà hót.”…

Tuổi thơ tôi bỗng nhiên từ đâu đâu đưa lại, như cái gió giao mùa, như một dòng sông lạ chảy ngược dòng… Tươi mát, trong xanh. Hình ảnh ngôi trường làng Hiếu Liêm dần hiện ra, sau một vùng mù mịt bụi vì đất đỏ, xe đạp xe máy chạy tấp nập… Lần giở một trang sách cũ, nhắc anh bạn đang gõ cửa sổ rủ rê cậu đi chơi, với cây súng cầm trên tay, bắn chim thật là thú vị, cánh rừng như vẫy gọi chào mời cái ham chơi đang nhảy nhót trong lòng chàng trai trẻ… Nhưng, chàng dứt khoát “mình bận học“, không đi được, “mình không học gạo mà là học, học không phải vì điểm, hiểu không?”…

Đương còn loay hoay với cái khái niệm lạ “học gạo” nghĩa là gì? Mình không hiểu. Mình không đem về hỏi bố mẹ, vì ngày ấy, mình cho rằng bố mẹ không biết (?!) hoặc không phải là đối tượng để hỏi chuyện này. Hỏi bạn thì nó cũng… ngơ. Hỏi cô thì rõ ràng không dám. Sợ cô còn hơn sợ ngáo ộp hay ba bị, sợ hơn cảm giác đi về nhà theo lối cũ ban đêm tối mịt không đèn đóm không tiếng người.

Ngày ấy…

Tôi còn bé lắm…

Tôi như “chú bò tìm bạn” cũng ngơ ngác khi “bóng bò chợt tan biến/ bò tưởng bạn đi đâu/ cứ ngoái trước nhìn sau/ Ậm… ò… tìm gọi mãi”

Ấy vậy mà người ta lại đã cho tôi học “Nhà bác học không ngừng học”… Ôi chao! Cái triết lí vỏn vẹn của Đác-Uyn khi trả lời con gái mình “bác học không có nghĩa là ngừng học” thời ấy, não phẳng lì ấy, làm sao tôi hiểu hết cái uyên thâm sâu hun hút của câu nói giản dị thì trang sách đã lại lôi tôi về với cái sân nhà, chuồng gà, ở đó có một… Chú trống choai.

“Các bạn có nghe thấy tiếng gì đó không? Chính là tiếng hát của Trống choai đấy. Chú ta đang ngất ngưởng trên đống củi góc sân kia kìa…”

Phải nói sách Tiếng Việt những năm cấp 1 hơi bị nhiều tiếng gà qué, trâu bò, lợn vịt… Cũng may, có khi vì như thế, trẻ con gần gụi với loài vật

Ai đã nhủ người trang trí sách giáo khoa hồi ấy cái màu vẽ lạ lùng, không sắc nét, không toàn bích như ngày nay, nó thô thô và quê kệch, nhưng đó lại là thức màu của quê hương đồng ruộng Việt Nam. Thô sơ, nhưng đậm chất làng mạc thôn xóm con người hồn hậu…

Ngày ấy chúng tôi còn viết bằng bút chấm mực, chưa có bút máy bơm mực như sau này , Thương ông, Trên hồ Ba Bể, Rừng cọ quê tôi…” phong cảnh được vẽ lên không tỉ mỉ, không hùng vĩ nhưng với tôi, chúng đẹp tuyệt trần!

Giữa trăm nghề chọn nghề thợ rèn

Ngồi xuống nhọ lưng, quệt ngang nhọ mũi

Suốt tám giờ chân than mặt bụi

Giữa trăm nghề chọn nghề thợ rèn.

Làm thợ rèn mùa hè có nực

Quai một trận nước tu ừng ực

Hai vai trần bóng nhẫy mồ hôi

Cũng có khi thấy thở qua tai

Làm thợ rèn vui như diễn kịch

Râu bằng than mọc lên bằng thích

Nghịch ở đây già trẻ như nhau

Nên nụ cười nào có tắt đâu.

Hahaha, ai thi đọc thơ nữa không?

Tớ là chiếc xe lu

Người tớ to lù lù

Con đường nào mới đắp

Tớ san bằng tăm tắp

Con đường nào trải nhựa

Tớ là phẳng như lụa

Trời nóng như lửa thiêu

Tớ vẫn lăn đều đều

Trời lạnh như ướp đá

Tớ càng lăn vội vã…

Ngày ấy học lớp 4, tớ tròn như quả bồ hòn, và từa tựa cái hình vẽ… bánh cán của em xe lu này, nên bạn bè cả lớp đều chọc tớ là “xe lu”… Hồi ấy có hơi cáu và hơi đỏ mặt. Nhưng lên lớp 5 người tớ “hẹp” hẳn lại nên tránh được… tai tiếng :”]

Cũng là một thời đầy lưu luyến buồn vui khóc cười mếu máo…

Ôi, bài này mới thật là vui, thật là phục, thật hóm hỉnh và tài tình chứ. Mình thích nhà nông học Lương Định Của bắt đầu từ bài này giở đi 🙂

Và câu nói để đời của các cô nông dân “Ối dào! Các ông ấy đi ô tô thì biết gì đến việc cày cấy! Việc ta ta làm” thế là “được” bác Của nhà ta thách thi cấy và bác thắng vẻ vang, vừa nhanh, vừa đều, vừa thẳng tắp, bỏ xa hẳn cô gái cấy nhanh nhất hội những mấy hàng ^^!

Em cầm tờ lịch cũ

– Ngày hôm qua đâu rồi?

Ra ngoài sân hỏi bố

Xoa đầu em, bố cười :

– Ngày hôm qua ở lại

Trên cành hoa trong vườn

Nụ hồng lớn lên mãi

Đợi đến ngày tỏa hương.

– Ngày hôm qua ở lại

Trong hạt lúa mẹ trồng

Cánh đồng chờ gặt hái

Chín vàng màu ước mong

– Ngày hôm qua ở lại

Trong vở hồng của con

Con học hành chăm chỉ

Là ngày qua vẫn còn…

Ngày hôm qua ở lại. Trong lòng mỗi chúng ta. Ở mãi tận khơi xa. Của cuộc đời dâu bể. Mỗi ngày ta lớn lên….

Một ngày ngồi lại, ngày nào đó bạn có từng nghĩ, mình muốn tìm về một lối cũ đã từng đi qua, từ rất lâu rất lâu. Một con đường nắng chói, nhạt nhòa dấu chân của chính mình be bé con con… Một đôi mắt biết hỏi. Một đôi môi biết cười. Từ những điều thật trẻ con?

【#7】Giới Tính Và Những Vấn Đề Liên Quan Đến Sức Khỏe , Sức Khỏe Sinh Sản

Đặc điểm giới không phải do bẩm sinh, có thể thay đổi và không giống nhau trên toàn thế giới. Ví dụ: không phải nam giới sinh ra đã mạnh mẽ, quyết đoán và không phải phụ nữ sinh ra đã dịu dàng, yếu đuối. Thực tế rất nhiều nam giới nội trợ giỏi, chăm sóc con cái chu toàn, nhiều phụ nữ quyết đoán, làm công tác xã hội có uy tín, hoặc biết uống bia rượu, kiếm được nhiều tiền nuôi gia đình.

b. Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản

  • Về thể chất: Có cấu tạo và hoạt động của bộ máy sinh sản bình th­ường, khoẻ mạnh để thực hiện chức năng sinh sản.

II. SỨC KHỎE TÌNH DỤC TRONG GIA ĐÌNH 1. Vai trò của tình dục trong gia đình

Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) là sự tổng hợp của các ph­ương pháp, kĩ thuật và dịch vụ dành cho SKSS để đạt đ­ược trạng thái khỏe mạnh bằng cách phòng và giải quyết các vấn đề SKSS.

b. Duy trì nòi giống

Trong cuộc sống hôn nhân, sinh hoạt tình dục không những duy trì nòi giống mà còn góp phần quan trọng trong việc gắn kết vợ chồng. Tình dục trong hôn nhân là chất keo gắn kết vợ chồng. Gia đình hạnh phúc chủ yếu do vợ chồng hòa hợp, chia sẻ với nhau trong đời sống vật chất, tinh thần và tình dục, chăm sóc cho tình yêu thuở ban đầu, để tình yêu ấy dần dần trở thành ân sâu nghĩa nặng, không bao giờ tàn phai.

c. Nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần của vợ – chồng

Trong xã hội truyền thống cũng như xã hội hiện đại, với thiên chức mang thai, sinh con và làm mẹ, người vợ trong gia đình đảm đương vai trò cao cả: nuôi lớn dần mầm sống. Người chồng có trách nhiệm chia sẻ, động viên, chăm sóc khi người vợ mang thai, sinh con và cùng nuôi dạy con cái trưởng thành. Duy trì nòi giống không chỉ là việc riêng của mỗi gia đình mà là nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia và toàn nhân loại. Chiến lược dân số hợp lý sẽ trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

2. Nội dung sức khỏe tình dục trong gia đình a. Thái độ và hành vi tình dục của vợ và chồng trong gia đình

Tình dục được xem là bài tập thể dục tốt nhất để giữ vóc dáng và đốt cháy calorier. Duy trì đời sống tình dục rất có ích trong việc cải thiện tình trạng thể chất và trí óc con người. Điều này rất cần thiết cho sự chung thủy của vợ – chồng và sự êm ấm của gia đình.

b. Nguyên tắc của sự hòa hợp tình dục trong đời sống vợ chồng

Để cải thiện tình trạng trên, vợ chồng nên dành thời gian chia sẻ, trao đổi về thái độ cũng như hành vi tình dục mong muốn ở nhau. Chỉ khi nào vợ chồng thật sự hiểu nhau, biểu đạt thái độ và hành vi thích ứng phù hợp khiến cả hai đều thoải mái, tự tin, hài lòng thì mới có thể đạt tới hạnh phúc viên mãn.

Muốn có sự hòa hợp tình dục, vợ chồng cùng tự nguyện thực hiện một số nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, vợ/chồng cần lắng nghe và hiểu rõ về nhu cầu, sở thích, ham muốn tình dục ở người bạn đời. Muốn vậy, vợ/chồng cần gạt bỏ những e ngại để chia sẻ thẳng thắn, cởi mở về những mong muốn nho nhỏ đến những ước mơ, hoài vọng lớn lao, từ điểm mạnh đến điểm yếu, những điều thích và không thích ở mỗi người. Điều đó, đòi hỏi cả hai cần dành thời gian trao đổi cũng như sự kiên nhẫn để hiểu và đồng điệu cùng nhau.

Thứ hai, vợ/chồng cần bày tỏ sự tôn trọng lẫn nhau trong cuộc sống và trong hoạt động tình dục. Sự tôn trọng thể hiện ở thái độ chia sẻ, quan tâm từ những việc nhỏ đến việc lớn, từ những điều mang tính riêng tư đến những vấn đề chung. Biết chia sẻ là biết tôn trọng nhau, nhưng cần bày tỏ tôn trọng một cách tế nhị. Trước hết vợ/chồng tôn trọng những khác biệt về cách suy nghĩ, cảm nhận… qua việc trao đổi, lắng nghe, để hiểu biết con người của nhau hơn, nhờ đó giúp nhau mỗi ngày một hoàn thiện. Sự tôn trọng được diễn tả qua cách cư xử, qua lời ăn tiếng nói hằng ngày. Không phải chỉ tôn trọng nhau trong lúc vui vẻ, khoẻ mạnh mà những lúc gian nan, bệnh tật lại cần phải tôn trọng và nâng đỡ nhau hơn. Tránh nói với nhau bằng những lời lẽ dằn dỗi, miệt thị hoặc tâm tình uẩn úc với người thứ ba. Ngược lại, vợ/chồng nên dành cho nhau những lời nói nhẹ nhàng âu yếm, những cử chỉ trân trọng, lịch sự, lễ độ, “tương kính như tân”.

Thứ ba, vợ/chồng cần tự điều chỉnh mình cho phù hợp với người bạn đời và cuộc sống gia đình. Đôi khi, vợ/chồng cũng cần nhắc nhở nhau về những bất hạnh có thể là những cơ may nhằm điều chỉnh một vài sự sai trái của bản thân và cũng có thể trở thành trường dạy của tình yêu, giúp khám phá ra những giá trị cao hơn của đời sống vợ chồng. Vợ/chồng không ngừng nỗ lực đem hết mọi cố gắng bảo vệ và duy trì hạnh phúc gia đình, ngay cả những khi gặp trục trặc. Sự nhường nhịn giữa vợ – chồng trong gia đình mới tạo nên sự êm ấm, hòa thuận. Nhường nhịn không có nghĩa là không bình đẳng, bởi đó là văn hóa truyền thống tốt đẹp trong gia đình “một sự nhịn là chín sự lành”. Dĩ nhiên có những điều không thể nhượng bộ, nhất là trong lĩnh vực luân lý hay đạo đức. Chấp nhận làm điều xấu để làm vui lòng chồng hay vợ không phải là hy sinh quên mình, mà là đồng loã với cái xấu và càng làm hại người kia hơn.

Thứ tư, vợ/chồng cần chung thuỷ và tin yêu nhau. Người xưa vẫn nói: “dấu ấn của tình yêu là lòng chung thủy.” Trong hôn nhân, chồng cũng như vợ phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết từ con người đến hành động. Sự liên kết mật thiết đi từ sự tự hiến của vợ chồng cho nhau, cũng như lợi ích của con cái để cùng hướng tới sự bất khả phân ly. Các chuyên gia tâm lý thường dùng hai từ “mật thiết” để nói về sự đồng lòng, sự hòa hợp chăn gối và chung sống hạnh phúc của các cặp vợ chồng. Sự mật thiết là thước đo đạt đến độ khoái cảm của tình dục. Nếu chỉ là tình dục vô cảm thì sẽ làm cho nỗi cô đơn của mỗi người ngày một tăng cao.

c. Hòa hợp trong quan hệ tình dục

Thế hệ trẻ có nhiều tự do trong việc chọn lựa cho mình một người bạn đời, so với bậc cha mẹ thuở xưa. Nhưng điều ấy cũng kèm theo sự gia tăng về trách nhiệm cá nhân. Ngày nay, thế hệ trẻ bước vào ngưỡng cửa hôn nhân muộn hơn, so với thời ông bà của chúng ta trước đây. Ở khía cạnh tích cực thì đó là sự trưởng thành trong quyết định của chính họ. Tuy vậy, họ cũng gặp rất nhiều khó khăn đang khi bước vào đời sống hôn nhân bởi sự ảnh hưởng những trào lưu tư tưởng hiện đại, coi nhẹ cái giá trị của đời sống gia đình và định chế hôn nhân. Nhiều bạn trẻ quan niệm rằng: Nếu thích thì ở với nhau, còn không thích nữa thì ra toà ly dị, rồi đường ai nấy đi, như vậy là êm xuôi, không phiền toái gì đến ai cả. Quan niệm ấy đặt giá trị hôn nhân như là một “hợp đồng” giữa hai người, mất đi cái ý nghĩa của hôn ước và giá trị của sự bất khả phân ly trong định chế hôn nhân.

Một cặp vợ chồng hòa hợp trong quan hệ tình dục là một cặp thực sự yêu nhau, chú ý đến khoái cảm của nhau và hứng thú trong quan hệ chăn gối. Sự hòa hợp còn thể hiện là họ sẵn sàng nói chuyện, bàn luận về tình dục và đáp ứng mong muốn của nhau. Họ cảm thấy niềm vui được san sẻ khi quan hệ tình dục.

– Do vợ/chồng dùng rượu, bia, thuốc lá, ma túy hoặc các chất kích thích khác quá liều;

– Do vợ/chồng mặc cảm, lo lắng và căng thẳng đối với vấn đề tình dục. Ví dụ một trong hai người bị đau đớn do bị bắt quan hệ tình dục trước đây, sợ bị bệnh lây truyền qua đường tình dục,…;

– Do mâu thuẫn trong cuộc sống thường ngày như cãi nhau, thiếu tin tưởng, thiếu tự trọng, không đáp ứng nhu cầu cho nhau;

– Do kém hiểu biểu, suy nghĩ sai lệch coi tình dục là xấu xa, ghê tởm hoặc đó là tội lỗi;

– Do không hòa nhịp được cùng nhau về thời gian, tần số, tư thế, đạt trạng thái khoái cảm cùng lúc…;

– Do sức khỏe yếu, bệnh tật chi phối và có thể do tuổi cao…;

III. NHỮNG VẤN ĐỀ SỨC KHOẺ SINH SẢN Ư­U TIÊN Ở VIỆT NAM 1. Quyền sinh sản

Để hòa hợp tình dục, cả vợ chồng đều phải nỗ lực cố gắng để điều chỉnh và cần có thời gian bên nhau. Điều đầu tiên đòi hỏi là cả hai, ngoài một tình yêu sâu sắc, chân thành còn phải hiểu biết, cởi mở, chia sẻ, sáng tạo và không ngừng khám phá lẫn nhau. Vợ chồng cần nắm được bí quyết hòa hợp tình dục để làm cho cuộc sống của nhau ngày càng hạnh phúc.

Quyền sinh sản của cá nhân bao gồm 3 thành tố sau: Quyền quyết định số con, khoảng cách giữa hai lần sinh, số lần sinh con phù hợp với lợi ích quốc gia; Quyền đ­ược tiếp cận đầy đủ thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản; Quyền đư­ợc cung ứng và lựa chọn các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản có chất l­ượng.

Quyền của khách hàng trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản gồm:

2. Kế hoạch hoá gia đình a. Khái niệm

  • Quyền đ­ược thông tin.
  • Quyền đ­ược tiếp cận dịch vụ.
  • Quyền đ­ược tự do lựa chọn biện pháp tránh thai và từ chối hoặc chấm dứt dịch vụ khi không mong muốn.
  • Quyền đ­ược nhận dịch vụ an toàn.
  • Quyền đ­ược đảm bảo bí mật.
  • Quyền đ­ược h­ưởng sự kín đáo, tế nhị.
  • Quyền đ­ược tôn trọng.
  • Quyền đ­ược thoải mái khi tiếp nhận dịch vụ.
  • Quyền đ­ược tiếp tục nhận dịch vụ.
  • Quyền đ­ược bày tỏ ý kiến.

b. Nội dung kế hoạch hoá gia đình

Kế hoạch hoá gia đình là chủ động sinh con, chủ động quyết định số con, khoảng cách giữa hai lần sinh và thời điểm sinh con bằng cách chủ động lựa chọn biện pháp tránh thai hiện đại, phù hợp.

Thực hiện quy mô gia đình ít con. Đó là quy mô từ 1- 2 con, chủ động sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại, phù hợp.

Thời điểm sinh con thích hợp là sau 20 tuổi đến tr­ước 35 tuổi để tránh các nguy cơ rủi ro cho sức khoẻ của cả mẹ và con.

Khoảng cách giữa hai lần sinh hợp lý là từ 3 đến 5 năm để đảm bảo sức khoẻ cho cả mẹ và con.

Không nên sinh nhiều lần vì rủi ro về sức khoẻ của ngư­ời mẹ, của thai nhi và trẻ sơ sinh sẽ tăng lên.

Trách nhiệm của nam giới trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình là chủ động bàn bạc với vợ/bạn tình để lựa chọn một biện pháp tránh thai hiện đại, phù hợp; Sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục.

c. Lợi ích của việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình

Nâng cao chất l­ượng dịch vụ kế hoạch hoá gia đình bằng cách cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và dịch vụ chăm sóc an toàn, thuận tiện.

Thực hiện kế hoạch hóa gia đình giúp người mẹ tránh được các tai biến sản khoa do mang thai, sinh con sớm, đẻ dày, đẻ nhiều hoặc sinh con khi đã cao tuổi. Khoảng cách giữa hai lần sinh hợp lý giúp cơ thể người mẹ có đủ thời gian phục hồi sức khoẻ, sẽ phòng tránh các bệnh tốt hơn cũng như tránh được việc phá thai ngoài ý muốn. Bên cạnh đó, kế hoạch hóa gia đình cũng giúp người mẹ giữ gìn được vẻ đẹp và hạnh phúc; có điều kiện chăm sóc bản thân, con cái và các thành viên trong gia đình, phòng tránh được các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS.

Thực hiện kế hoạch hóa gia đình giúp con trẻ được bú sữa mẹ lâu hơn; được cha mẹ chăm sóc nhiều hơn; được nuôi dạy ăn ở và học hành tốt hơn và có tương lai tốt đẹp hơn.

Thực hiện kế hoạch hóa gia đình giúp các thành viên gia đình có thêm thời gian tham gia các hoạt động kinh tế, góp phần tăng thu nhập cho gia đình. Đồng thời cũng giảm được các chi phí, gia đình có thể mua sắm các phương tiện cần thiết phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Gia đình yên ấm, hoà thuận, hạnh phúc; vợ chồng có thời gian nghỉ ngơi, giải trí, học tập.

Thực hiện kế hoạch hóa gia đình mang lại lợi ích đối với cả cộng đồng. Cộng đồng sẽ phát triển tốt hơn, tài nguyên không bị cạn kiệt, kinh tế phát triển vững chắc. Mọi thành viên trong xã hội thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình sẽ giảm sự căng thẳng và tăng cường chất lượng các dịch vụ xã hội như chăm sóc y tế, giáo dục.

Muốn thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình, mỗi thành viên cần chủ động lựa chọn và áp dụng một trong những biện pháp tránh thai phù hợp, hiệu quả. Có 3 nhóm biện pháp tránh thai phổ biến:

Thứ nhất là biện pháp tránh thai tạm thời, hiệu quả cao gồm: Thuốc tránh thai (thuốc uống, thuốc cấy, thuốc tiêm và thuốc đặt tránh thai), vòng tránh thai và bao cao su.

Thứ hai là biện pháp tránh thai tạm thời, hiệu quả thấp gồm: tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo.

3. Làm mẹ an toàn a. Khái niệm

Thứ ba là biện pháp tránh thai vĩnh viễn gồm: triệt sản nam và triệt sản nữ.

b. Nội dung làm mẹ an toàn bao gồm:

Làm mẹ an toàn là những chăm sóc cần thiết cho người mẹ trước khi sinh, khi mang thai, khi đẻ, sau đẻ và những chăm sóc cần thiết cho trẻ sơ sinh để đảm bảo “mẹ khoẻ, con khoẻ” sau mỗi lần sinh.

Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trước khi mang thai là những chăm sóc từ khi còn nhỏ, không để xảy ra hiện tượng suy dinh dưỡng hoặc viêm nhiễm bộ phận sinh dục. Khi trẻ dậy thì, phải chăm sóc để bảo vệ trẻ em gái không bị xâm hại tình dục. Trước khi kết hôn, phải trang bị các kiến thức và kỹ năng về sức khoẻ sinh sản tiền hôn nhân.

Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ khi mang thai phải chú ý đến việc khám thai. Bà mẹ mang thai cần đi khám thai ít nhất 5 lần trong suốt thai kỳ (3 tháng đầu/1 lần, 3 tháng giữa/1lần, 3 tháng cuối mỗi tháng 1lần). Ngoài ra, khi có những biểu hiện bất thường, bà mẹ cũng cần đi khám thai để theo dõi kịp thời. Phụ nữ có thai cần tiêm phòng 2 mũi uốn ván: mũi 2 chậm nhất vào tháng thứ 7 và cách mũi 1 ít nhất 1 tháng (nếu mang thai lần thứ 2 thì chỉ cần tiêm 1 mũi).

Phụ nữ mang thai cũng cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng. Khi mang thai, người mẹ phải ăn đủ lượng đạm, sinh tố, khoáng chất. Các loại thức ăn tốt nhất cho bà mẹ mang thai là: sữa, rau quả, thịt, cá, trứng, gạo, đỗ… Phụ nữ khi mang thai phải ăn nhiều bữa, mỗi bữa ăn nhiều hơn bình thường, uống nước nhiều hơn để giúp thai nhi phát triển tốt (đủ dinh dưỡng, đủ nước ối). Uống viên sắt để phòng chống thiếu máu. Các bà mẹ cần theo dõi cân nặng trong suốt thời gian mang thai (3 tháng đầu tăng mỗi tháng 0.5kg; 3 tháng giữa tăng mỗi tháng 1 kg; 3 tháng cuối tăng mỗi tháng 2 kg; trong suốt thời gian thai nghén tăng từ 10 – 12 kg). Đảm bảo chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý: không làm việc ở nơi phải trèo cao, ngâm mình sâu dưới nước; không làm việc quá sức; tránh mang nặng, nâng vật nặng, đi bộ nhiều tiếng đồng hồ. Nghỉ ngơi nhiều hơn, đặc biệt là 3 tháng cuối trước khi sinh.

Phụ nữ mang thai chú ý vệ sinh thân thể. Nơi ở thoáng mát, sạch sẽ, không khí trong lành. Vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài hàng ngày bằng nước sạch. Mặc quần áo rộng rãi, thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Chăm sóc vú, lau vú hàng ngày vì tuyến vú đã phát triển chuẩn bị cung cấp bầu sữa cho bé ra đời. Tránh tiếp xúc với người ốm. Quan hệ tình dục nên hạn chế, nhẹ nhàng và vệ sinh.

Phụ nữ khi mang thai cần tránh kiêng khem quá mức; tránh tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm, không ăn thức ăn sống, thức ăn thiếu vệ sinh, tránh cảm lạnh; tránh các chất độc hại như thuốc lá, rượu bia, thuốc trừ sâu, thuốc nhuộm tóc; tránh tự ý uống thuốc mà không có ý kiến của nhân viên y tế; không nên đi xa vào tháng cuối khi sắp đẻ.

Cần đến ngay cơ sở y tế khi có các dấu hiệu báo động sự tai biến như: sốt cao; đau bụng dữ dội; chảy máu âm đạo; chân, tay, mặt bị phù; đau đầu, hoa mắt, chóng mặt hay ngất xỉu; bị vàng da, mắt có màu vàng nhạt; dịch âm đạo có mùi hôi, màu hơi xanh hoặc có bọt; mất các dấu hiệu thai nghén.

Chăm sóc bà mẹ khi sinh, trước hết chú ý đến các dấu hiệu bắt đầu chuyển dạ như đau bụng từng cơn tăng dần. Đó là lúc tử cung co bóp càng chốc càng trở lên tích cực. Sản phụ ra chất nhầy màu hồng ở âm đạo. Đây chính là nút chất nhầy đóng kín cổ tử cung trong những tháng mang thai, khi chuyển dạ nó rơi ra cùng với vài giọt máu từ mao mạch cổ tử cung đang mở nên có màu hồng. Nhiều bà mẹ vỡ ối khi chuyển dạ, âm đạo ra nước, có thể nước ào ra nhiều, cũng có thể rỉ nước nhẹ nhàng. Ngoài ra cũng có thể thấy đau, mỏi nhừ vùng thắt lưng

Phụ nữ có thai và người nhà đều phải hiểu biết về các dấu hiệu chuyển dạ để kịp thời đưa đến cơ sở y tế. Hãy khích lệ sản phụ khi đang chờ đẻ. Hãy quạt mát, lấy nước, xúc cơm, vỗ về, xoa lưng, làm mọi việc để sản phụ cảm thấy dễ chịu. Hãy nhắc nhở sản phụ nghỉ ngơi, đi tiểu thường xuyên. Liên hệ với các cán bộ y tế nếu sản phụ cần giúp đỡ. Nếu sinh tại nhà, người nhà cần hỗ trợ bà đỡ trong việc đỡ đẻ. Khi sản phụ sinh nở, vai trò của người chồng, người cha là chủ đạo trong chăm sóc hai mẹ con.

Sau khi sinh sản phụ cần được nghỉ ngơi và chăm sóc đặc biệt để phục hồi sức khoẻ. Người mẹ cần ngủ thật nhiều cho lại sức. Việc thức trông con nên để người nhà hoặc chồng giúp đỡ. Sản phụ cần được ăn đủ chất để phục hồi sức khoẻ và có sữa cho con bú. Cần duy trì chế độ dinh dưỡng như khi đang mang thai, nhưng nên ăn nhiều hơn. Sau khi sinh nên sớm tắm bằng nước nóng cho sạch sẽ. Sản dịch còn tiếp tục ra, mới đầu nhiều và chủ yếu là máu tươi, sau đó giảm dần và chuyển sang màu nâu, rồi nhạt dần và hết hẳn (thường khoảng 4 tuần sau đẻ). Cần rửa âm hộ bằng nước sạch đã đun sôi, cũng có thể pha nước rửa vệ sinh phụ nữ. Không nên rửa bên trong âm đạo, dùng băng đặt trong âm đạo.

Hai vợ chồng cần phải kiêng quan hệ tình dục trong sáu tuần để tránh nhiễm trùng. Cần lưu ý rằng việc quan hệ tình dục phụ thuộc vào sự phục hồi của cơ thể người vợ, chính người vợ là người quyết định đã đến lúc hay chưa. Nếu quan hệ tình dục trở lại, hai vợ chồng cần thực hiện các biện pháp tránh thai, có thai lúc này rất có hại cho sức khoẻ người vợ.

Sau khi sinh, nếu thấy các biểu hiện như ra máu nhiều, sản dịch có mùi hôi, sốt 38 độ trở lên, đau bụng dưới nhiều hoặc dữ dội cùng với các biểu hiện bất thường khác như: nôn, tiêu chảy, đau ngực, chảy mủ ở vết khâu, nước tiểu hoặc phân rò rỉ từ âm đạo, sản phụ cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được theo dõi và điều trị kịp thời.

4. Phòng tránh phá thai, hoặc đảm bảo phá thai an toàn

Khi trẻ ra đời, cho trẻ bú ngay sau sinh từ 1- 4 giờ, cứ 3 giờ cho bú một lần kể cả ban đêm. Sau bú, cho trẻ tráng miệng bằng n­ước sôi nguội phòng tư­a l­ưỡi. Nhỏ thuốc mắt cho trẻ hàng ngày và sau khi tắm. Theo dõi phân và số lần đi tiểu. Theo dõi vàng da sinh lý xuất hiện vào ngày thứ 2 sau sinh và kéo dài 1 tuần. Giữ rốn khô sạch, hàng ngày lau rốn bằng cồn iôt 1% rốn sẽ khô và dễ rụng (bình thư­ờng sau 7 ngày thì rụng rốn). Tắm cho trẻ ngày một lần trong phòng kín gió, chuẩn bị nư­ớc ấm, khăn tắm, tã lót… Đư­a trẻ đi tiêm chủng đầy đủ.

Để phòng tránh phá thai chỉ có cách là không để có thai ngoài ý muốn. Mỗi cá nhân và cặp vợ chồng cần chủ động lựa chọn và sử dụng một biện pháp tránh thai hiện đại, phù hợp để tránh mang thai ngoài ý muốn dẫn đến phải phá thai.

Vị thành niên nên tránh quan hệ tình dục sớm, biết từ chối quan hệ tình dục khi bạn tình đòi hỏi; nếu không từ chối đư­ợc thì thuyết phục bạn tình sử dụng bao cao su đúng cách để tránh có thai ngoài ý muốn.

5. Phòng tránh các bệnh lây truyền qua đư­ờng tình dục và HIV/AIDS a. Khái niệm

Muốn phá thai an toàn phải nhận biết các dấu hiệu mang thai (tắt kinh, nghén) để phát hiện có thai sớm. Trong trường hợp bắt buộc, khi có quyết định cần phá thai sớm. Tới bệnh viện hoặc cơ sở y tế được phép hành nghề có đầy đủ phương tiện và điều kiện để được cán bộ y tế có chuyên môn tư vấn và tiến hành phá thai, đảm bảo phá thai an toàn.

b. Đường lây truyền bệnh

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục là những bệnh lây chủ yếu theo đường quan hệ tình dục; ngoài ra còn có thể lây theo đường máu và từ mẹ sang con. Tác nhân gây bệnh có thể do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc nấm.

Lây truyền qua quan hệ tình dục với người mắc bệnh không sử dụng bao cao su đúng cách khi quan hệ.

Lây truyền từ mẹ sang con lúc mang thai, khi sinh đẻ: như HIV, Viêm gan B, lậu, giang mai…

c. Các biểu hiện khi mắc bệnh

Tiếp xúc trực tiếp với máu, tinh dịch, dịch âm đạo, dịch tủy hay những vết loét của người bệnh khi vị trí tiếp xúc đó bị tổn thương.

  • Tiết dịch niệu đạo nam giới: Do vi khuẩn gây viêm niệu đạo Chlamydia hoặc do vi khuẩn lậu.
  • Tiết dịch ở âm đạo nữ giới: Do vi khuẩn gây viêm niệu đạo Chlamydia hoặc do vi khuẩn lậu, do nấm, do trùng roi.
  • Loét sinh dục: Do giang mai, ét péc, hạ cam.
  • Sùi bộ phận sinh dục: Vi rút gây sùi mào gà.
  • Sưng hạch bẹn: Gặp trong bệnh giang mai, hạ cam và có thể do vi khuẩn chlammydia.
  • Đau bụng dưới.

d. Hậu quả của mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Tuy nhiên có một số bệnh không có biểu hiện gì trong một thời gian dài kể từ khi lây nhiễm và khi có biểu hiện bệnh thì đã muộn như nhiễm HIV, viêm gan B.

Với nữ giới: Đau bụng mãn tính, viêm hố chậu, chửa ngoài tử cung, thai chết lưu, đẻ non hoặc vô sinh. Có thể người mắc bị viêm gan, xơ gan, bệnh ở tim, ở não và hệ thần kinh, viêm loét bộ phận sinh dục sẽ dẫn đến ung thư cổ tử cung.

Với nam giới: Viêm nhiễm hệ thống sinh dục dẫn đến hẹp niệu đạo, vô sinh sau này. Có thể cũng bị tổn thương ở tim, não, xương (bệnh giang mai).

e. Phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Với trẻ em: Có thể bị viêm mắt do lậu gây mù, dị dạng, quái thai (trong giang mai), viêm gan B.

6. Sức khoẻ sinh sản vị thành niên a. Khái niệm vị thành niên

Bệnh lây truyền qua đ­ường tình dục, HIV/AIDS không phải là tệ nạn xã hội. Ai cũng có thể bị nhiễm nếu không biết cách phòng tránh, bởi vậy mọi người phải: Thực hiện tình dục an toàn; Chung thuỷ một vợ một chồng; Sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục; Phát hiện sớm các biểu hiện của bệnh để điều trị kịp thời; Thông báo cho vợ/bạn tình biết tình trạng bệnh và điều trị cả hai người; Không phân biệt kỳ thị đối với người mắc bệnh.

b. Khái niệm sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Vị thành niên (VTN) là những em ở độ tuổi 10-19 nghĩa là các em trong độ tuổi thiếu niên và trước tuổi trưởng thành (Quy định của Tổ chức y tế thế giới).

So sánh sự thay đổi về thể chất ở tuổi dậy thì

Tuổi vị thành niên là thời kỳ phát triển đặc biệt, là sự lớn lên của trẻ em để trở thành người lớn. Đây là thời kỳ xảy ra hàng loạt những thay đổi như sự lớn lên của cơ thể, sự biến đổi và tâm lý và các mối quan hệ xã hội:

Những biến đổi tâm lý ở tuổi vị thành niên cũng song song cùng vói những thay đổi về thể chất:

+ Các em ý thức rằng mình không phải là trẻ con nữa. Các em muốn được người lớn tôn trọng, muốn được đối xử bình đẳng như với người lớn, muốn được độc lập trong suy nghĩ và hành động, muốn thử sức mình và khám phá những cái mới. Tuy nhiên tuổi này vẫn còn mang nhiều đặc trưng của đứa trẻ, phụ thuộc nhiều vào gia đình.

+ Các em quan tâm nhiều đến những thay đổi của cơ thể, hay suy tư về hình ảnh của cơ thể, dễ băn khoăn lo lắng, buồn rầu về những nhược điểm của cơ thể.

+ Bắt đầu quan tâm đến bạn bè: Tìm kiếm những quan hệ ngoài gia đình, hướng tới những người bạn đồng lứa, nhu cầu tình bạn trở thành cấp thiết và quan trọng nhất, đặc biệt là nhu cầu về bạn khác giới, dễ nhầm lẫn tình bạn và tình yêu.

+ Muốn khám phá năng lực trong quan hệ tình dục.

+ Có suy nghĩ cho kế hoạch tương lai về lựa chọn nghề nghiệp rõ ràng hơn và thực tế hơn.

d. Các nội dung chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên

+ Ở giai đoạn này các em thường gặp những khó khăn không thể tự mình giải quyết được do vậy rất cần sự hỗ trợ giúp đỡ của người lớn để vượt qua.

7. Bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS a. Khái niệm

  • Giúp con (em) hiểu rõ rằng kinh nguyệt và mộng tinh là hai hiện tượng phát triển bình thường của cơ thể.
  • Hướng dẫn các em biết vệ sinh cơ thể đúng cách.
  • Hiểu được những khó khăn về tâm lý của con tuổi vị thành niên để tìm biện pháp giúp đỡ.
  • Dạy cho con kỹ năng ứng xử đúng đắn và có trách nhiệm với bạn khác giới.
  • Trao đổi với con về tác hại của phá thai tuổi vị thành niên và tình dục an toàn.
  • Khuyến khích con tham gia các hoạt động tập thể lành mạnh như: sinh hoạt Đoàn, Hội, chơi thể thao.

b. Nội dung thúc đẩy bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS

Bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS có nghĩa phụ nữ/nam giới đều có cơ hội như nhau, có các điều kiện phù hợp để tiếp nhận thông tin, tiếp nhận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, đảm bảo cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén, sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng có cơ may tốt nhất để sinh được đứa con khoẻ mạnh.

    Tăng cường trách nhiệm thu hút sự tham gia của nam giới vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ sinh sản:

+ Nam giới cần chia sẻ thông tin với vợ về sức khoẻ sinh sản và tình dục;

+ Chủ động bàn bạc với vợ lựa chọn biện pháp tránh thai hiện đại, phù hợp; Có thể chủ động sử dụng biện pháp tránh thai cho mình (bao cao su) để giữ gìn sức khoẻ cho vợ/bạn tình;

+ Sinh hoạt tình dục lành mạnh;

+ Động viên vợ đi khám thai định kỳ; chăm sóc vợ khi mang thai, khi sinh và sau khi sinh;

+ Không bạo hành trong quan hệ tình dục (Không cưỡng bức thô bạo trong quan hệ tình dục).

    Bình đẳng trong chăm sóc và nuôi dạy con trai và con gái:

+ Cha mẹ và các thành viên trong gia đình cần chuẩn bị tốt cho đứa con chào đời và nuôi dạy con khoẻ mạnh, tạo điều kiện và cơ hội cho con phát triển về thể lực, trí tuệ, không phân biệt đó là con trai hay con gái.

+ Không được xác định giới tính thai nhi và không phá thai vì lí do thai nhi là con gái.

+ Không cố đẻ con trai khi đã có đủ số con theo qui định của pháp lệnh dân số.

+ Phụ nữ/nam giới có quyền chủ động gặp cán bộ y tế, tuyên truyền viên dân số để có đầy đủ các thông tin cần thiết về sức khoẻ sinh sản, đồng thời có quyền đến các điểm cung cấp dịch vụ để được nhận các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình.

【#8】Nêu Khái Niệm Giới. Xác Định Đơn Vị Phân Loại Thế Giới Sinh Vật Từ Lớn Đến Nhỏ

Bài 5

1. Giới Khởi sinh (Monera)

Giới Khởi sinh gồm những loài vi khuẩn là những sinh vật nhân sơ rất bé nhỏ, phần lớn có kích thước khoảng 1-5 um. Chúng xuất hiện khoảng 3.5 tỉ năm trước đây. 

Vi khuẩn sống khắp nơi : trong đất, nước, không khí, trên cơ thể sinh vật khác. Vi khuẩn có phương thức sinh sống rất đa dạng, một số sống hoại sinh, một số có khả năng tự tổng hợp chất hữu cơ nhờ năng lượng ánh sáng mặt trời hoặc từ quá trình phân giải các chất hữu cơ và một số sống kí sinh.

2. Giới Nguyên sinh (Protista)

Giới nguyên sinh gồm có :

– Tảo : Tảo là những sinh vật nhân thực, đơn bào hay đa bào, có sắc tố quang tự dưỡng, sống trong nước.

– Nấm nhầy là những sinh vật nhân thực, cơ thể tồn tại ở hai pha :pha đơn bào giống (trùng amip và pha hợp bào là khối chất nguyên sinh nhầy chứa nhiều nhân. Chúng là sinh vật dị dưỡng, sống hoại sinh.

– Động vật nguyên sinh : Động vật nguyên sinh rất đa dạng, cơ thể gồm một tế bào có nhân thực. Chúng là sinh vật dị dưỡng hoặc tự dưỡng.

3. Giới Nấm (Fungi)

Đặc điểm chung của giới Nấm : Giới Nấm gồm những sinh vật nhân thực, cơ thể đơn bào hoặc đa bào, cấu trúc dạng sợi, phần lớn có thành tế bào chứa kitin, không có lục lạp. Nấm có hình thức sinh sản hữu tính và vô tính nhờ bào tử.Nấm là sinh vật dị dưỡng : hoại sinh, kí sinh hoặc cộng sinh.

Các dạng nấm gồm có : nấm men, nấm sợi, nấm đảm, chúng có nhiều đặc điểm khác nhau. Người ta cũng xếp địa y (được hình thành do sự cộng sinh giữa nấm và tảo hoặc vi khuẩn lam) vào giới Nấm.

4. Giới Thực vật (Plantae)

Giới thực vật gồm những sinh vật đa bào, nhân thực, có khả năng quang hợp và là sinh vật tự dưỡng, thành tế bào được cấu tạo bằng xenlulôzơ. Phần lớn sống cố định có khả năng cảm ứng chậm.

Giới Thực vật được phân thành các ngành chính : Rêu, Quyết, Hạt trần, Hạt kín. Chúng đều có chung một nguồn gốc là Tảo lục đa bào nguyên thủy.

Khi chuyển lên đời sống trên cạn, tổ tiên của giới Thực vật đã tiến hóa theo hai dạng khác nhau. Một dòng hình thành Rêu (thể giao tử chiếm ưu thế), dòng còn lại hình thành Quyết, Hạt trần, Hạt kín (thể bào tử chiếm ưu thế).

Giới thực vật cung cấp thức ăn cho giới Động vật, điều hòa khí hậu, hạn chế xói mòn, sụt lở, lũ lụt, hạn hán, giữ nguồn nước ngầm và có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái.

Giới Thực vật cung cấp lương thực, thực phẩm, gỗ, dược liệu cho con người. 

5. Giới Động vật (Animalia)

Giới Động vật gồm những sinh vật đa bào, nhân thực, dị dưỡng, có khả năng di chuyển nhờ có cơ quan vận động), có khả năng phản ứng nhanh.

Giới Động vật được chia thành các ngành chính sau : Thân lỗ, Ruột khoang, Giun dẹp, Giun tròn, Giun đốt, Thân mềm, Chân khớp, Da gai và Động vật có dây sống.

Giới Động vật rất đa dạng và phong phú, cơ thể có cấu trúc phức tạp với các cơ quan và hệ cơ quan chuyên hóa cao.

Động vật có vai trò quan trọng đối với tự nhiên (góp phần làm cân bằng hệ sinh thái) và con người (cung cấp nguyên liệu, thức ăn …).

【#9】5 Bước Cơ Bản Để Nâng Cao Đạo Đức Làm Việc Cho Đội Nhóm

Base Resources – Đạo đức làm việc mạnh mẽ có phải là câu chuyện cổ tích đối với mọi đội nhóm?

Đôi khi có vẻ như vậy.

Bạn thường xuyên nghe được những lời tâm sự hay đọc thấy trên báo chuyện các nhà tuyển dụng đang phàn nàn về đạo đức công việc. Bởi vậy, không hề khó hiểu với định kiến trong tâm trí bạn: Liệu đó có phải là thứ hão huyền thực sự và dù cố gắng đến đâu thì bạn cũng luôn phải chịu đựng sự kém đạo đức?

May mắn thay, bạn có được những kinh nghiệm quý giá sau để đảm bảo đạo đức làm việc của đội nhóm ở mức cơ bản, và hơn thế nữa là nâng cao nó thành một khái niệm vĩ mô hơn: văn hoá doanh nghiệp.

5 bước cơ bản để bạn nâng cao đạo đức làm việc trong đội nhóm

Đừng quá trông mong vào việc mọi thành viên trong nhóm đều có sẵn một đạo đức làm việc xuất sắc, bởi điều đó thường không xảy ra.

Ngay cả khi mỗi người đã sở hữu những gì họ coi là đạo đức công việc và nghĩ rằng bản thân đang làm đúng, thì sự khác biệt trong văn hóa và trình độ hiểu biết vẫn tạo ra rào cản giữa họ. Kết cục, bạn có được một nhóm với 5 người là 5 chiếc xe di chuyển theo 5 tốc độ và 5 hướng khác nhau.

Bởi vậy, việc nâng cao đạo đức làm việc cho từng cá nhân trong đội nhóm cần thực hiện theo đúng chiến lược, đồng thời với việc điều hướng để mọi người có sự phát triển chung hướng với nhau.

1. Bắt đầu với khái niệm “đạo đức”

Những người có đạo đức làm việc mạnh mẽ luôn là người có tính cách tốt. Họ tuân thủ và giữ gìn đạo đức cả trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày chứ không giới hạn chúng trong môi trường doanh nghiệp.

Mỗi người đều có quan niệm khác nhau về đúng hay sai của một sự việc. Vì vậy, điều quan trọng là bạn phải minh bạch với đội nhóm ngay từ đầu: khi mọi người làm việc cùng nhau, đâu là điều xứng đáng được coi là đạo đức làm việc và đâu là điều bạn không mong muốn gặp phải.

Sự quy ước đúng – sai này ở mỗi đội nhóm là khác nhau, bởi vậy mà khái niệm đạo đức làm việc của mỗi đội nhóm cũng gần như là duy nhất.

    Giả lập các tình huống khó xử về đạo đức

Các nhà tâm lý học thường sử dụng các kịch bản (đến từ cảnh quay trong phim, clip có thực, câu chuyện kể,…) để giúp mọi người mường tượng được rõ nhất về các hành vi đạo đức ngoài đời thực.

    Chú ý đến những đối tượng bị ảnh hưởng

Đạo đức thường được coi là phần ” what” của luân thường đạo lý, hay nói cách khác là các hành vi thích hợp được đám đông mong đợi. Nhưng nhóm của bạn cũng phải nhận thức rõ hơn về phần ” whom ” – những người xuất hiện trong bối cảnh và có khả năng lớn bị tác động bởi các hành vi đó.

Những gì đội nhóm của bạn cần lúc này không đơn thuần chỉ là danh sách công việc nên làm và nên tránh, mà cần có sự linh hoạt và đồng cảm. Những hành động xuất phát từ động lực tốt sẽ luôn được chào đón.

    Chỉ ra những quan điểm đạo đức sai lầm

Có thể bạn đã biết tới mâu thuẫn này: Nỗ lực tuyệt vời đối với một thành viên trong nhóm có thể chỉ đơn giản là tình trạng mệt mỏi vật lộn tầm thường trong mắt những đồng nghiệp khác?

Bởi vì sao? Bởi lẽ suy nghĩ của họ vốn dĩ đã sai lầm như thế. Sai giống như cách nhiều người vẫn tin rằng đa tác vụ (multitask) là phương pháp làm việc mang lại hiệu quả, trong khi khoa học đã chứng minh đó chỉ là cảm giác tự hài lòng “ảo” mà thôi.

Trước khi nâng cao đạo đức làm việc cho đội nhóm, cần làm rõ khái niệm đạo đức và tính chất đúng-sai của hành vi

2. Đưa ra phần thưởng xứng đáng cho những người làm việc chăm chỉ

Mặc dù bạn không muốn biến sự nỗ lực công việc thành thứ bị thể chế hoá và đem ra so sánh trong đội nhóm, nhưng rất rõ ràng, bạn cần một phần thưởng nào đó để làm động lực cho đạo đức làm việc.

Bạn có thể công bố rộng rãi về một mức lương cao hơn, một cơ hội thăng tiến hoặc giải thưởng vinh danh nào đó dành cho người có cố gắng làm việc nhất trong nhóm. Lúc này, các thước đo cho đạo đức làm việc là năng suất, doanh số, thời gian hoàn thành dự án, phản hồi từ khách hàng,…

Không phải mọi thành viên trong nhóm đều được thúc đẩy (ít nhất là ngay từ đầu) bởi niềm đam mê công việc; nhưng phần thưởng xứng đáng từ phía công ty lại khác – đó là sự ghi nhận rất đáng tự hào.

3. Nhấn mạnh vào tính chuyên nghiệp

Doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh và có quy mô khác nhau sẽ có thước đo khác nhau về tính chuyên nghiệp. Nhưng cho dù đội nhóm của bạn đang ở bất cứ đâu, luôn có những chuẩn mực nhất định thuộc phạm trù đạo đức làm việc.

Hãy trân trọng những thành viên trong nhóm xuất hiện đúng giờ. Luôn có những trở ngại trong cuộc sống sẵn sàng làm cái cớ cho việc chậm trễ, nhưng chúng chỉ làm nổi bật hơn những cá nhân luôn tôn trọng nội quy và lời hứa hẹn mà thôi.

Một phần quan trọng của đạo đức công việc tốt là tôn trọng người khác, bao gồm đồng nghiệp, khách hàng và chính bản thân nhân viên. Hầu như mọi doanh nghiệp đều có xu hướng kêu gọi nhân viên đề cao sự tôn trọng, nhưng thực tế lại rất ít nơi làm được điều này.

Trở nên đáng tin cậy là điều mà nhân viên của bạn nên hướng tới – làm được những gì đã hứa hẹn hoặc những gì được kỳ vọng. Danh hiệu đạo đức làm việc sẽ bị mờ đi ngay khi có tình trạng chậm trễ deadline của nhân viên hoặc một dấu hiệu cho thấy quản lý thiếu minh bạch.

Tham khảo trọn bộ “TOÀN TẬP TỪ ĐIỂN NĂNG LỰC” bao gồm mô tả 30+ kỹ năng, kiến thức và thái độ cần thiết của nhân viên trong doanh nghiệp.

4. Rèn cho đội nhóm của bạn các thói quen đúng đắn

Phần lớn đạo đức công việc tốt xoay quanh thói quen.

Nền tảng của bất kỳ thói quen nào cũng là thực hiện nó một cách nhất quán trong khoảng 30 ngày. Bởi vậy, bạn hoàn toàn có thể rèn cho đội nhóm của mình những thói quen tích cực bạn mong muốn.

Lấy một ví dụ điển hình, văn hoá làm việc tốt luôn bắt đầu với sự kiên trì. Mỗi thành viên đều cần hết sức tập trung cho công việc và gắn bó với nó tới cùng. Vậy điều bạn có thể làm là gì? Cùng đồng hành với nhân viên, là một tấm gương kiên trì, cải thiện môi trường làm việc không gây xao nhãng,… hoặc đơn giản hơn là đưa ra những lời khích lệ.

Thói quen làm việc “nói không với sự chần chừ” cũng là ý tưởng thú vị cho đạo đức làm việc.

Thay vì bỏ qua không làm hoặc trễ deadline vì lý do ngần ngại, hãy giúp nhân viên của bạn phân biệt rõ 3 loại công việc: phải được thực hiện, nên được thực hiện, có thể được thực hiện. Ưu tiên công việc theo thứ tự của danh sách đó và không né tránh các việc bắt buộc có thể khiến nhân viên của bạn khó chịu lúc đầu, nhưng guồng công việc thuận lợi sau đó chính là thành quả tuyệt vời nhất.

Các thói quen giúp định hình rõ hơn đạo đức làm việc của một đội nhóm

5. Chấm dứt các trải nghiệm thụ động

Trong đội nhóm của bạn, sẽ có những trải nghiệm mà thành viên nghĩ rằng họ không thể can thiệp vào ngoại cảnh, đồng thời cũng không cần chịu trách nhiệm cho điều đang diễn ra xung quanh.

Bạn có thể nhận thấy sự thụ động này qua các câu nói điển hình như:

– “Bạn không thể tin được những gì tôi vừa trải qua đâu!” – “Tôi không thể giúp được.” – “Nó thật không công bằng!” – “Đó không phải lỗi của tôi!”

Nói một cách đơn giản, họ không đủ tự tin vào khả năng của bản thân nên chọn cách không làm gì cả. Nhưng trên thực tế, đạo đức làm việc trong tập thể cần có sự phản hồi tích cực tới công việc của họ chứ không phải thụ động bị kiểm soát bởi công việc.

Đã đến lúc bạn nói với nhân viên rằng dự án các bạn đang làm không phải là thất bại hiển nhiên. Hãy xem đó luôn là cơ hội để thử thách, nhận lỗi, phân tích sai lầm và rút ra kinh nghiệm cho những thành công sắp tới.

Phải làm gì khi thành viên trong nhóm có đạo đức công việc kém?

Khi bạn phát hiện ra một cá nhân có đạo đức làm việc kém, cách giải quyết lý tưởng nhất là sử dụng các mẹo đã liệt kê ở trên. Trong trường hợp chúng không phát huy tác dụng, hãy bắt đầu dùng tới chiến lược sử dụng con người.

Nói chuyện với thành viên tiêu cực trong nhóm và cho họ thấy rằng hành vi thiếu đạo đức làm việc của họ đang ảnh hưởng đến tập thể chung như thế nào. Kiên nhẫn lắng nghe gốc rễ của vấn đề trước khi bạn quyết định nói ra điều bạn mong đợi ở nhân viên đó.

Với tư cách cấp trên, đừng đặt các mục tiêu nằm ngoài khả năng của nhân viên, bởi điều này dù vô tình hay cố ý thì đều thúc đẩy sự chán nản và tự ti. Khi nhân viên chưa tự dự tính được điều đó, hãy giúp họ.

Bạn đang coi trọng đạo đức công việc bản thân tới đâu? Bạn có luôn nỗ lực làm việc, đáp ứng thời hạn và lời hứa hằng ngày?

Nếu khách quan cho thấy đạo đức công việc của một nhân viên không thể được cải thiện, bạn cần để nhân viên đó ra đi và giữ lại sự tích cực cho toàn đội nhóm.

Tạm kết

【#10】Đề Cương Chi Tiết Môn Triết Học

I. CHƯƠNG TRÌNH MÔN TRIẾT HỌC Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học

Ban hành theo Quyết định số 33/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/9/2004

của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

II. ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN TRIẾT HỌC

(Biên soạn theo Giáo trình Triết học dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học của Bộ Giáo dục và Đào tạo

do Nxb, Lý luận Chính trị, Hà Nội, ấn hành năm 2006)

– Khái niệm triết học.

2. Đối tượng nghiên cứu của triết học

+ NgườiHy Lạp cổ đại gọi triết học là philosophia, ghép từ hai từ philos- tình yêu và sophia- sự thông thái. Như vậy, theo nghĩa đen, triết học là tình yêu sự thông thái. Nhà triết học là nhà thông thái bởi nó có khả năng làm sáng tỏ bản chất của sự vật, hiện tượng bằng hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật.

+ Triết học xuất hiện cả ở phương Đông và phương Tây vào khoảng từ thế kỷ VIII – VI trước Công nguyên (tr.c.n) tại một số nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, trung Đông v.v, nhưng triết học kinh điển chỉ phát triển ở Hy Lạp cổ đại.

– Định nghĩa triết học. Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

– Triết học thời cổ đại được gọi là khoa học của mọi khoa học. Triết học tự nhiên là hình thức đầu tiên của triết học.

– Triết học thời Trung cổđược gọi là triết học Kinh viện với nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của các giáo điều Kinh Thánh.

– Triết học thời Phục hưng và Cận đại được gọi là siêu hình học với nghĩa là nền tảng thế giới quan của con người.

– Triết học Mác-Lênin là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất về sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; đồng thời tiếp tục làm rõ vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại.

II. TÍNH QUY LUẬT VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC

III. VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 1. Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học

Sự hình thành, phát triển của triết học gắn với tiền đề kinh tế – xã hội và tiền đề nhận thức.

1. Tiền đề kinh tế – xã hội. Triết học ra đời khi xã hội đã có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay; gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp.

2. Tiền đề nhận thức. Triết học ra đời khi tư duy con người đã đạt đến trình độ khái quát nhất định để đáp ứng nhu cầu nhận thức tổng thể về thế giới và con người; khi các thành tựu của khoa học chuyên ngành đã có vai trò nhất định đối với nội dung các tư tưởng và học thuyết triết học. Có thể khẳng định rằng, triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn quy định.

– Vai trò thế giới quan của triết học.

+ Định nghĩa. Thế giới quan là quan niệm của con người về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó.

+ Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, bởi triết học mô tả những vấn đề của thế giới quan bằng hệ thống các khái niệm và phạm trù, quy luật. Hơn nữa, triết học không chỉ nêu ra các quan điểm của mình mà còn chứng minh cho các quan điểm đó bằng lý tính. Thông qua thế giới quan triết học, thế giới quan sẽ được thể hiện qua các quan điểm về kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật, tôn giáo v…v

+ Các cấp độ thế giới quan.

Thế giới quan có nhiều cấp độ khác nhau như thế giới quan huyền thoại; thế giới quan tôn giáo; thế giới quan triết học (thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm); thế giới quan khoa học và thế giới quan không khoa học v.v. Việc xác định cấp độ, nội dung thế giới quan phụ thuộc vào vấn đề, liệu lợi ích giai cấp có phù hợp khách quan đối với xu hướng của sự phát triển lịch sử, với khoa học và với thực tiễn xã hội hay không.

+ Vai trò của thế giới quan triết học đối với nhận thức và thực tiễn.

Bản chất của thế giới quan là sự thống nhất biện chứng giữa nhận thức – đánh giá với thực tiễn – cải tạo; đưa lại cho con người khả năng tạo ra cácmục đíchxác định, đưa ra kế hoạch, lý tưởng chung của cuộc sống, làm cho thế giới quan có sức mạnh hiện thực.

– Vai trò phương pháp luận của triết học.

+ Định nghĩa. Phương pháp luận là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như xác định phạm vi, khả năng áp dụng phương pháp hợp lý, có hiệu quả tối đa.

+ Các cấp độ phương pháp luận.

2. Vai trò của triết học đối với các khoa học chuyên ngành và tư duy lý luận

Phương pháp luận có nhiều cấp độ khác nhau như phương pháp luận ngành là phương pháp luận của các ngành khoa học cụ thể; phương pháp luận chung là các quan điểm, nguyên tắc chung hơn cấp độ ngành, dùng để xác định phương pháp hay phương pháp luận của nhóm ngành có đối tượng nghiên cứu chung nào đó; phương pháp luận chung nhất (phương pháp luận triết học) khái quát các quan điểm, nguyên tắc chung nhất làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp luận ngành, chung và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn.

+ Vai trò của phương pháp luận triết học đối với nhận thức và thực tiễn thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng; lựa chọn và vận dụng các phương pháp để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn; đóng vai trò định hướng trong quá trình tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp.

1. Điều kiện ra đời, phát triển và đặc thù của triết học Ấn Độ cổ, trung đại a. Điều kiện ra đời của triết học Ấn Độ cổ, trung đại

– Triết học có vai trò to lớn đối với việc rèn luyện năng lực tư duy lý luận của con người, bởi “một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”./.

I. TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ, TRUNG ĐẠI

– Điều kiện tự nhiên.

Ấn Độlà bán đảo lớn ở nam Á, có điều kiện tự nhiên và khí hậu rất phức tạp, địa hình có nhiều núi (Hymalaya ở phía Bắc quanh năm tuyết phủ), nhiều sông (sông Hằng chảy về phía Đông, sông Ấn chảy về phía Tây) với những đồng bằng trù phú; có vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có vùng sa mạc khô cằn, nóng nực. Tính khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực đè nặng lên cuộc sống và ghi dấu ấn đậm nét lên tâm trí người Ấn Độcổ, trung đại.

– Điều kiện kinh tế – xã hội và văn hoá. Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông nghiệp với sự phân chia đẳng cấp hết sức nghiệt ngã. Nền văn hoá Ấn Độ cổ, trung đại thường được chia thành ba giai đoạn chính.

– Giai đoạn từ thế kỷ XV – VIII tr.c.n gọi là nền văn minh sông Ấn hay còn gọi là nền văn minh Vệđà (Véda).

+ Đây là nền văn minh đồ đồng mang tính chất đô thị của một xã hội đã vượt qua trình độ nguyên thuỷ, đang tiến vào giai đoạn đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ, trong đó nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp đã đạt tới một trình độ nhất định. Kinh tế bao gồm nông nghiệp, thương nghiệp; nghề dệt bông len, đúc đồng, điêu khắc, gốm sứ tráng men, làm đồ nữ trang phát triển. Thành phố được xây bằng gạch nung. Xã hội đã phân chia giàu, nghèo; xuất hiện chữ viết; thờ Thần Shiva. Đầu thiên niên kỷ II tr.c.n, nền văn minh này lụi tàn nhưng chưa rõ nguyên nhân.

+ Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của người Arya ở phía Bắc và cũng là thời kỳ rực rỡ nhất của nền văn minh Ấn Độ cổ đại. Bộ lạc Arya tràn xuống châu thổ sông Hằng. Hình thành nhiều tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của xã hội Ấn Độ cổ đại. Xuất hiện chế độ đẳng cấp dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tập tục hôn nhân v.v. Tiêu biểu về mặt tư tưởng cho sự phân chia đẳng cấp xã hội là đạo Bàlamôn, quy định cơ cấu xã hội và có ảnh hưởng lớn đến hình thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại. Việc phân chia xã hội thành những đẳng cấp với những tính chất khắt khe, nghiệt ngã đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của nông dân, thương nhân, thợ thủ công thành thị, ngăn cản sự phát triển của sản xuất xã hội; dẫn xã hội đến sự bất bình đẳng, tự do gây nên cuộc đấu tranh của các tôn giáo chống lại sự thống trị của Đạo Bàlamôn và Kinh Vệđà.

– Giai đoạn từ thế kỷ VI tr.c.n – VI, là thời kỳ cổ điển, hay còn gọi là thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo. Đây là thời kỳ hình thành các trào lưu triết học tôn giáo lớn của Ấn Độ, gồm hai trường phái lớn đối lập nhau. Trường phái triết học chính thống (thừa nhận uy quyền tuyệt đối của kinh Véda) gồm 6 phái là Sámkhuya, Mimànsa, Vedànta, Yoga, Nyanya và Vaisésika. Trường phái triết học không chính thống (không thừa nhận uy quyền của kinh Véda) gồm 3 trường phái là Jaina giáo, đạo Phật và Lokayàta.

Sự phát triển của các tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại không chỉ gắn liền với việc giải quyết những vấn đề do đời sống xã hội đặt ra mà còn luôn gắn liền với những tiến bộ của khoa học. Ngay từ thời Vệđà khoa học tự nhiên bắt đầu xuất hiện như Thiên văn học (tạo ra lịch pháp, phỏng đoán trái Đất hình cầu và tự quay quanh trục của nó); cuối thế kỷ V tr.c.n đã giải thích được hiện tượng nhật, nguyệt thực; phát minh ra chữ số thập phân; tính được số p; biết được những định luật cơ bản về quan hệ giữa cạnh với đường huyền của tam giác vuông, giải được phương trình bậc 2, 3; y học phát triển (trong kinh Vệđà người ta thấy tên và cách sử dụng nhiều cây thuốc để chữa bệnh); nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ để lại phong cách độc đáo, đặc biệt là lối xây dựng Chùa, tháp Phật vừa có ý nghĩa triết học, tôn giáo vừa biểu hiện ý chí, vương quyền. Những năm đầu công nguyên, văn hoá Ấn Độ đã phát triển lên một bước mới do sự giao lưu với Hy Lạp – La Mã và với các nước khác trên thế giới.

– Giai đoạn từ thế kỷ VII – XVIII, là thời kỳ sau cổ điển hay còn gọi là thời kỳ xâm nhập của Hồi giáo.

2. Một số nội dung triết học Ấn Độ cổ, trung đại a. Tư tưởng bản thể luận

+ Từ thế kỷ VII, Đạo Hồi xâm nhập vào Ấn Độ, tạo nên cuộc cạnh tranh ảnh hưởng quyết liệt giữa đạo Phật, đạo Bàlamôn và đạo Hồi.

+ Đạo Phật suy yếu dần, còn đạo Bàlamôn chuyển thành đạo Hinđu vào thế kỷ XII.

– Bản thể luận thần thoại, tôn giáo.

+ Người Ấn Độ cổ đại tạo nên các vị thần có tính tự nhiên. Có những vị tượng trưng cho sức mạnh của lực lượng tự nhiên; có những vị dùng các vị thần để lý giải các hiện tượng xã hội, luân lý, đạo đức. Trong vũ trụ tồn tại thiên giới, trần thế và địa ngục, giữa chúng có mối liên hệ với nhau. Các thần khác nhau là sự thể hiện khác nhau của một Thượng Đế toàn năng duy nhất. Người Ấn Độ cổ đại cúng thần không chỉ vì mê tín, mà còn vì lòng tin; qua biểu tượng các vị thần họ phân tích, lý giải các hiện tượng tự nhiên, sự thay đổi của vũ trụ theo nguyên lý thích hợp (rita) do các thần chi phối.

+ Về sau, quan niệm về các vị thần có tính chất tự nhiên được thay thế bằng Thần sáng tạo tối cao (Brahman) và Tinh thần tối cao (Bahman). Brahman đối lập với thần huỷ diệt Shiva. Shiva đối lập với thần bảo vệ Vishnu. Sáng tạo, huỷ diệt và bảo tồn là ba mặt thống nhất trong quá trình biến hoá của vũ trụ. Như vậy, quá trình hình thành, phát triển tư tưởng triết học tôn giáo đi từ sự giải thích các sự vật, hiện tượng tự nhiên thông qua các vị thần cụ thể tới cái chung, cái bản chất là Thần sáng tạo tối cao hay Tinh thần tối cao và đó là bước chuyển thế giới quan, từ thần thoại tôn giáo sang triết học.

– Tư duy triết học về bản thể luận.

+ Nội dung cơ bản của kinh Upanisad (có tài liệu viết Upanishad có nghĩa là ngồi nghiêm trang để cùng giảng giải lý thuyết cao siêu, huyền bí với thầy) là cơ sở triết lý cho đa số các hệ thống triết học tôn giáo Ấn Độ. Theo đó, Brahman là thực tại đầu tiên, tối cao nhất; là bản nguyên, căn nguyên, là linh hồn, là nguồn sống, là bản chất nội tại của mọi cái. Sự vật, hiện tượng dù đa dạng, phong phú đến mấy, kể cả con người, đều là các dạng của Brahman. Linh hồn con người (Atman) cũng là một bộ phận của Brahman, còn cơ thể (nhục thể) con người là vỏ bọc của linh hồn, nhưng do con người lầm tưởng linh hồn là cái khác với Linh hồn tối cao nên ham muốn dục vọng và hành động để thoả mãn dục vọng đó, gây ra hậu quả, gieo đâu khổ cho kiếp này và kiếp sau (gọi là nghiệp báo). Do vậy, linh hồn cứ bị giam hãm hết trong thể xác này rồi trong thể xác kia, luân hồi mãi mà không trở về với mình là Brahman được. Muốn linh hồn được giải thoát khỏi nghiệp báo, luân hồi; thoát khỏi đời sống nhục dục để quay về với mình là Brahman, con người phải toàn tâm, toàn ý tu luyện hành động và tu luyện tri thức để siêu thoát.

+ Kinh Upanisad chia nhận thức Bản thể tuyệt đối tối cao của vũ trụ thành trình độ nhận thức hạ trí gồm các tri thức khoa học thực nghiệm, ngữ pháp, luật học, bốn tập kinh Vệđà dùng để phản ánh sự vật, hiện tượng hữu hình, hữu hạn; trình độ nhận thức này là phương tiện để đạt tới trình độ nhận thức thượng trí. Trình độ nhận thức thượng trí có thể nhận biết được Brahman và khi đã nhận biết được Brahman, nhận thức được chân tướng của các sự vật, hiện tượng và chân tính của mình thì con người đạt đến giác ngộ, giải thoát

b. Tư tưởng giải thoát của triết học tôn giáo Ấn Độ

Vấn đề cơ bản nhất trong triết học Ấn Độcổ, trung đại là bản chất, ý nghĩa cuộc sống; là nguồn gốc nỗi khổ của con người và con đường, cách thức giải thoát con người khỏi bể khổ. Giải thoát là giải thoát trạng thái tinh thần, tâm lý, đạo đức của con người thoát khỏi sự ràng buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ của cuộc đời; giải thoát khỏi luân hồi- nghiệp chướng của con người.

– Cội nguồn của tư tưởng giải thoát là do điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế – xã hội quy định; do tính hướng nội, đi sâu khái quát đời sống tâm linh của con người của các nhà tư tưởng Ấn Độcổ, trung đại.

– Trong các trường phái triết học khác nhau, phương tiện, con đường, cách thức có thể khác nhau, nhưng đều có mục đích chung là giải thoát con người khỏi luân hồi- nghiệp chướng.

3. Đặc điểm cơ bản của triết học Ấn Độ cổ, trung đại

+ Tư tưởng giải thoát manh nha từ thời Rig Vệđà (1500 – 1000 tr.c.n) đến Brahman (1000 – 800 tr.c.n) và phát triển trong kinh Upanisad (800 – 500 tr.c.n) và được các trường phái triết học thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo (VI tr.c.n – VI) khai thác. Nội dung triết lý, khuynh hướng giáo lý và quan điểm đạo đức nhân sinh khác nhau, nhưng dường như tất cả các trường phái đều tìm kiếm, phát hiện và trở về với bản chất và lương tâm của chính mình khi con người lãng quên chúng bởi còn vô minh, tham dục.

+ Cách thức và con đường giải thoát của các trường phái triết học khác nhau; Kinh Vệđà tôn thờ và cầu xin sự phù hộ của thần linh; kinh Upanisad đồng nhất giữa linh hồn con người (Atman) với vũ trụ (Brahman); Mimànsa giải thoát bằng nghi thức tế tự và chấp hành nghĩa vụ xã hội, tôn giáo; Yôga giải thoát bằng tu luyện về thể xác; Jaina giải thoát bằng tu luyện đạo đức (không sát sinh, không ăn cắp, không nói dối, không dâm dục, không tham lam); Lokayàta giải thoát bằng cách phủ nhận quan điểm linh hồn bất tử, nghiệp chướng luân hồi, chấp nhận cuộc sống có hạnh phúc và có đau khổ; đạo Phật giải thoát bằng tu luyện trí tuệ, thiền định và tu luyện đạo đức theo giới luật để diệt trừ tham dục, tâm hồn thanh tịnh, hoà nhập vào niết bàn.

Như vậy, tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độcổ, trung đại thể hiện tính nhân văn sâu sắc. Tuy mới chỉ giải thoát về mặt tư tưỏng nhưng tư tưởng giải thoát đó đã phản ánh những yêu cầu của đời sống xã hội Ấn Độđương thời.

– Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã lý giải căn nguyên của vũ trụ; các học thuyết kế thừa tư tưởng của nhau, tạo nên những khái niệm, phạm trù triết học – tôn giáo cơ bản, mang tính truyền thống, chịu sự chi phối mạnh mẽ của kinh Vệđà và các tôn giáo lớn của Ấn Độ cổ, trung đại.

– Triết học Ấn Độ cổ, trung đại có nội dung tư tưởng và hình thức đa dạng, phản ánh đời sống xã hội Ấn Độ đương thời; hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ cổ, trung đại đều tập trung lý giải bản chất đời sống tâm linh; tìm căn nguyên nỗi khổ của cuộc đời, chỉ ra cách thức, con đường để giải thoát khỏi những nỗi khổ đó.

1. Điều kiện ra đời và phát triển của triết học Trung Quốc cổ, trung đại

– Triết học Ấn Độ cổ, trung đại được nhân dân Ấn Độ vận dụng và được truyền bá rộng rãi tới nhiều quốc gia trên thế giới.

II. TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ, TRUNG ĐẠI

Trung Quốc là một trong những chiếc nôi văn minh của nhân loại, là trung tâm văn hoá và triết học rực rỡ, phong phú của phương Đông. Sự hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại gắn liền với quá trình biến đổi của điều kiện kinh tế – xã hội, văn hoá và sự phát triển của những mầm mống khoa học tự nhiên trong xã hội Trung Quốc qua từng thời kỳ.

Điều kiện tự nhiên. Trung Quốc cổ, trung đại là một quốc gia rộng lớn, phía Bắc xa biển, khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn; phía Nam có sông Hoàng Hà, Dương Tử, khí hậu thuận lợi; phía Đông là biển với địa hình phức tạp; phía Tây là các dãy núi cao.

– Điều kiện kinh tế – xã hội và văn hoá.

+ Thời Xuân thu (770 – 475 tr.c.n), công cụ lao động và sự phân công lao động đã phát triển khá mạnh; có lưỡi cày bằng sắt và đã dùng bò kéo, thuỷ nông góp phần nâng cao năng suất lao động, chăn nuôi đã tách khỏi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, xuất hiện các nghề mới như luyện kim, đúc, rèn sắt, nhôm, đồ gốm; nông dân vỡ hoang tạo ra nhiều số lượng ruộng tư, quý tộc phong kiến chiếm đoạt đất công tạo ra chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất. Trung Quốc cổ, trung đại bị chia ra thành các nước Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống và về sau thêm Ngô, Việt. Người dân càng đói khổ hơn vì các cuộc chiến tranh đó.

+ Thời Chiến quốc (475 – 221 tr.c.n), công cụ và sự phân công lao động phát triển mạnh hơn. Nghề luyện sắt hưng thịnh; buôn bán phát triển tạo nên những đô thị và các làng xóm bên các bờ sông; các nghề thủ công như đồ gốm, chạm bạc, ươm tơ, dệt lụa và đúc tiền ra đời; các công trình thuỷ lợi được xây dựng nhiều tại các lưu vực sông Hoàng Hà đến Dương Tử. Chế độ tự do mua, bán ruộng đất tạo ra hình thức bóc lột phát canh, thu tô, quan hệ sản xuất nông nô xuất hiện và dần chiếm ưu thế trong đời sống xã hội. Trong giai đoạn đầy biến động đó của lịch sử Trung Quốc cổ, trung đại, xuất hiện một loạt những vấn đề đặt ra cho các nhà tư tưởng lớn.

b. Quá trình hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc cổ, trung đại

– Mầm mống tư tưởng triết học Trung Quốc. Triết học Trung Quốc cổ đại ra đời từ cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I tr.c.n khi xã hội đánh dấu sự tan rã của chế độ nô lệ và bắt đầu hình thành các quan hệ xã hội phong kiến phức tạp. Tính chất phức tạp đó của xã hội được phản ánh trong tính phức tạp của triết học Trung Quốc.

2. Một số nội dung triết học Trung Quốc cổ, trung đại a. Tư tưởng bản thể luận

+ Vào thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu, từ thiên niên kỷ II – I tr.c.n), những biểu tượng tôn giáo – triết học xuất hiện với những biểu tượng về Đế, Thượng Đế, Thiên mệnh, Quỷ thần v.v.

+ Đầu thiên niên kỷ I xuất hiện thêm những biểu tượng về Âm dương – Ngũ hành. Cuộc đấu tranh giữa các quan điểm của các trường phái diễn ra xung quanh các biểu tượng đó và diễn ra quanh vấn đề khởi nguyên của thế giới, người sáng lập triết học duy vật Anh), ông coi thế giới vật chất tồn tại khách quan và cho rằng, con người cần phải thống trị, làm chủ tự nhiên với sức mạnh tri thức; coi nhiệm vụ của triết học là nhận thức tự nhiên với các mối liên hệ phức tạp của nó và phê phán chủ nghĩa Kinh viện xa rời cuộc sống, chỉ dựa vào những lập luận tuỳ tiện.

Hốpxơ(1588 – 1679, đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa duy vật Anh) là người chia triết học thành triết học tự nhiên, nghiên cứu các vật thể thiên nhiên và triết học thông thường, nghiên cứu những vật thể nhân tạo (xã hội loài người). Giới tự nhiên là tổng số các vật có quảng tính với những khác biệt về kích thước, hình dáng, vị trí và vận động; trong đó, vận động là sự thay đổi vị trí của vật thể với nguồn gốc là sự tác động của vật thể này lên vật thể khác qua va chạm đầu tiên.

Đềcáctơ(1596 – 1650, nhà toán học và khoa học tự nhiên Pháp, một trong những người sáng lập triết học Cận đại) lại cho rằng có hai loại sự vật được sinh ra từ hai thực thể khác nhau là thực thể tinh thầngồm các ý niệm, tư tưởng, các ý thức cá nhân con người và thực thể vật chất gồm các sự vật trong không gian, thời gian. Con người là một sự vật đặc biệt được tạo ra từ hai thực thể là vật chất (cơ thể) và ý thức (linh hồn). Cả thực thể vật chất và thực thể tinh thần đều do thực thể thứ ba là Thượng Đế sinh ra.

Xpinôda(1632 – 1677, nhà triết học duy vật xuất sắc Hà Lan) cho rằng, giới tự nhiên là Thượng Đế, tự sinh ra có đặc tính tồn tại, có nguồn gốc từ thực thể duy nhất dù thực thể đó là sự vật vật chất hay hiện tượng tinh thần; giữa thực thể với các sự vật có mối quan hệ hữu cơ là tính thống nhất với tính nhiều vẻ của của giới tự nhiên. Thực thể là vô cùng tận về không gian và vĩnh hằng về thời gian; sự vật luôn vận động, biến đổi có sinh ra và mất đi; trong sự tồn tại đã chứa đựng tất yếu suy vong.

Béccly (1685 – 1753, nhà triết học người Anh, đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan) cho rằng, chúng ta có thể nhận thức được sự vật, vì chúng tương đồng với con người. Sự vật có nguồn gốc chủ quan, là hiện thân của cảm tính con người; giới tự nhiên được Béccơly coi là tổ hợp cảm giác của con người. Với luận điểm tồn tại nghĩa là được cảm giác, ông phê phán mọi quan niệm duy vật và cho rằng, tất cả mọi sự vật tạo nên vũ trụ không tồn tại ngoài tinh thần của con người.

– Lý luận nhận thức.

+ Nghi ngờ là xuất phát điểm của triết học Đềcáctơ, ông phê phán tư tưởng của Giáo hội và chủ nghĩa Kinh viện coi toàn bộ các tri thức của con người đã đạt được từ trước tới giờ là hoàn toàn đúng, mà cho rằng phải coi trí tuệ con người là toà án thẩm định lại các tri thức. Nghi ngờ là xuất phát của mọi nhận thức, nghi ngờ để kiểm tra lại, nhận thức lại tri thức để có cơ sở tin tưởng, bởi vậy nghi ngờ cũng là tư duy, suy nghĩ. Luận điểm tôi tư duy vậy là tôi tồn tại của ông chống lại tư tưởng giáo điều, chống giáo lý của Nhà thờ; đề cao vai trò trí tuệ của con người.

+ Xpinôda lại đề cao vai trò của kinh nghiệm bởi cho rằng, kinh nghiệm đem lại sự cảm thụ tính sinh động và đa dạng của các sự vật, đem lại hiểu biết về sự vật đơn lẻ. Ông đánh giá cao vai trò của trực giác bởi nó giúp con người nhận thức được bản chất đích thực của thực thể và coi trực giác là cái khả năng khám phá chân lý và là tiêu chuẩn của nhận thức. Quá trình nhận thức giúp con người khám phá và tuân theo các quy luật của tự nhiên và con người nhờ đó, ngày càng tự do.

+ Béccly coi thế giới là tổ hợp các cảm giác của con người. Sự tồn tại của linh hồn là sự cảm nhận và linh hồn chỉ tồn tại khi nó cảm nhận các sự vật khác. Quá đề cao cảm giác, ông đã đồng nhất toàn bộ các ý niệm của con người với cảm giác; còn chân lý là sự phù hợp của suy diễn về sự vật.

+ Hium cho rằng quá trình nhận thức không phải là nhận thức thế giới, mà là nhận thức những quá trình tâm lý xảy ra trong con người mà ông gọi là những cảm xúc. Nghi ngờ sự tồn tại của thế giới bên ngoài, ông phê phán quan niệm coi vật chất là thực thể của mọi vật mà cho rằng bản thân vật chất, thực thể v.v là tổng thể các ý niệm đơn giản liên kết lại với nhau nhờ sự tưởng tượng. Thực thể, sự vật không tồn tại khách quan, chúng tồn tại trong hư cấu của con người và khoa học là sự mô tả cảm xúc và trạng thái tâm lý của con người.

– Tư tưởng về con người và bản tính con người.

Tiếp tục phát triển tư tưởng nhân đạo thời Phục hưng, các nhà triết học Khai sáng lấy việc truyền bá tri thức tốt đẹp rộng rãi cho mọi người làm nhiệm vụ chính của mình.

+ Đềcáctơ đề cao vai trò của triết học đối với đời sống con người. Theo ông, trình độ phát triển tư duy triết học là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá mức độ văn minh của con người và sự ưu việt của dân tộc này đối với dân tộc khác. Ông cho rằng triết học theo nghĩa rộng là tổng thể tri thức của con người về nhiều lĩnh vực; theo nghĩa hẹp là siêu hình học được coi như nền tảng của hệ thống thế giới quan. Triết học có hai nhiệm vụ 1) Xây dựng những nguyên lý, phương pháp luận cơ bản làm cơ sở cho các khoa học khám phá ra chân lý và 2) Giúp con người làm chủ và thống trị giới tự nhiên trên cơ sở nhận thức các quy luật của nó.

+ Xpinôda cho rằng con người là một dạng thức bao gồm hai thuộc tính thể xác (quảng tính) linh hồn (ý thức). Con người là một dạng thức của thực thể, là sản phẩm của tự nhiên, mọi hoạt động của con người phải tuân theo quy luật của giới tự nhiên. Linh hồn và thể xác là hai hình thức thể hiện của một thực thể, là hai cách thể hiện nội dung của một thể thống nhất; mọi quan niệm tách rời linh hồn khỏi thể xác và coi linh hồn có nguồn gốc siêu nhiên là sai lầm, là duy tâm.

+ Beccơly cho rằng con người là kết quả kết hợp giữa linh hồn với thể xác. Thể xác thuộc về tự nhiên và tồn tại là nhờ linh hồn cảm nhận; coi sự hoàn thiện tối cao của bản chất con người ở chỗ nhận thức và thực hiện các giáo lý. Béccơly là đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan thời Cận đại có đóng góp lớn trong phê phán sự hạn chế và bất lực của triết học và khoa học cuối thế kỷ XVII đầu XVIII ở tây Âu.

+ Hium phê phán các quan niệm coi linh hồn con người là một thực thể mà coi con người là sự liên kết hay một chùm các giá trị khác nhau, cái này kế tiếp cái kia nằm trong quá trình biến đổi. Hium nghi ngờ mọi cái mà nhân loại đã đạt được, không tin vào các chuẩn mực đạo đức, truyền thống và nhấn mạnh phải giữ gìn tính hoài nghi luận của mình trong mọi trường hợp của cuộc sống.

– Tư tưởng về đạo đức.

+ Đặc điểm chung của tư tưởng về đạo đức thời Cận đại là dường như quay lại với tư tưởng về đạo đức trong triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học thời Cận đại mong muốn xây dựng mô hình tư tưởng, trong đó liên hiệp và hệ thống hoá những tư tưởng về đạo đức đã có từ thời Cổ đại và Trung cổ.

c. Đặc điểm cơ bản của triết học tây Âu thời Cận đại

+ Tư tưởng về đạo đức của một số nhà triết học tiêu biểu

Hốpxơ gắn đạo đức học với đạo đức về nhà nước và pháp quyền, theo đó con người phải chuyển từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái xã hội hay trạng thái nhà nước với lý do là sự ích kỷ và đấu tranh lẫn nhau là là những đặc điểm phổ biến của bản chất con người. Xpinôda coi nhiệm vụ của đạo đức là giúp con người thắng được những lỗi lầm do ham muốn và sùng bái tôn giáo gây ra, theo đó nhiệm vụ của đạo đức là khắc phục được sự nô lệ (những ham muốn), làm chủ được tình cảm, điều khiển được ham muốn để phát triển lành mạnh và có hạnh phúc chân chính.

Các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII (còn được gọi là phái Bách khoa toàn thư) chống lại đạo đức tôn giáo và cho rằng, đạo đức không sinh ra cùng với con người mà sinh ra do sự tác động của môi trường xã hội, mà trước hết là môi trường chính trị và pháp luật; do vậy nếu con người muốn đạt đến đạo đức cao cả thì cần thay đổi điều kiện xã hội. Điđrô (1713 – 1784) coi sự thiết tha muốn sống đạo đức là nguyên tắc đạo đức của con người; gắn đạo đức với khoa học tự nhiên, đối lập đạo đức với tôn giáo; lợi ích cá nhân phải được kết hợp hợp lý với lợi ích xã hội. Henvêtiúyt (1715 – 1771) đề xướng thuyết đạo đức trần thế, theo đó hạnh phúc chung là nguồn gốc của đức hạnh, là mục tiêu của luật lệ, phong tục, tập quán; hạnh phúc cá nhân phải kết hợp với hạnh phúc chung. Hônbách (1723 – 1789) khẳng định con người sinh ra vốn không thiện, không ác; mọi lỗi lầm của con người đều do điều kiện xung quanh, chủ yếu là điều kiện chính trị gây nên; sự hiểu biết đúng đắn về lợi ích cá nhân dẫn tới đức hạnh; nhiệm vụ của đạo đức là chỉ ra những điều kiện, trong đó lợi ích cá nhân là cơ sở tất yếu để dung hoà với lợi ích xã hội.

1. Điều kiện ra đời và phát triển của triết học cổ điển Đức

– Triết học tây Âu thời Cận đại được coi là thế giới quan của giai cấp tư sản đang còn cách mạng, tiến bộ. Nhiều luận điểm triết học duy vật được chứng minh bằng các thành tựu của khoa học thực nghiệm (chuyên ngành) tạo nên vị thế của phương pháp siêu hình- là phương pháp chủ yếu trong nhận thức luận triết học thời bấy giờ.

2. Một số nội dung triết học cổ điển Đức a. Tư tưởng về nguồn gốc thế giới

– Triết học tây Âu thời Cận đại đi sâu nghiên cứu vấn đề con người và đã nghiên cứu trong cả mối quan hệ với tự nhiên và cả với chính mình.

IV. TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

Triết học cổ điển Đức ra đời cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX trong một liên bang phong kiến cát cứ có 360 quốc gia, lạc hậu về kinh tế và chính trị với sự phản kháng của giai cấp tư sản Đức và muốn làm cách mạng tư sản như Hà Lan, Anh, Pháp. Nhưng do nhỏ bé về số lượng, yếu kém về kinh tế và chính trị nên giai cấp tư sản Đức vừa muốn làm cách mạng vừa muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến nên có lập trường cải lương.

Tư tưởng về nguồn gốc thế giới trong triết học cổ điển Đức đầy mâu thuẫn thể hiện ở tính duy tâm, duy vật và nhị nguyên của các nhà triết học tiêu biểu.

– Trong triết học duy tâm khách quan của Hêghen (1770 – 1831), ý niệm tuyệt đối là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội.

– Trong triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc (1804 – 1872), thế giới là thế giới vật chất, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào bất kỳ học thuyết triết học nào, do vậy cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm trong giới tự nhiên.

c. Tư tưởng về con người

Ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khởi đầu từ Cantơ qua Phíctơ, Sêlinh và phát triển đến đỉnh cao ở Hêghen, đây là hình thức thứ hai của phép biện chứng, hình thức quen thuộc nhất với các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức.

– Là người sáng lập phép biện chứng cổ điển Đức, những quan điểm biện chứng của Cantơ thể hiện rõ nét ngay từ thời kỳ tiền phê phán (1746 – 1770), theo đó phát triển không những chỉ là trạng thái tự nhiên, mà còn là nguyên lý quan trọng để nhận thức tự nhiên và nguyên lý này phải được vận dụng trong mọi khoa học chuyên ngành.

– Trái lại, phép biện chứng duy tâm của Hêghen thể hiện trong quan điểm của ông về mâu thuẫn; về quy luật lượng – chất; về các phạm trù riêng – chung, bản chất – hiện tượng, nguyên nhân – kết quả v.v. Đặc biệt là quan niệm về sự phát triển, theo đó phát triển được coi là sự tự phát triển của ý niệm tuyệt đối, từ tồn tại đến bản chất, từ bản chất đến khái niệm, trong đó khái niệm vừa là chủ thể, vừa là khách thể, đồng thời là ý niệm tuyệt đối. Hêghen coi phát triển là nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng với phạm trù trung tâm là tha hoá và khẳng định tha hoá diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trong cả tự nhiên, xã hội và tinh thần.

Trong triết học cổ điển Đức, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình hoạt động của mình và có bản chất xã hội.

d. Tư tưởng về đạo đức

– Tư tưởng về con người trong triết học Cantơ bắt đầu tư tưởng về sự thống nhất của loài người. Sự phát triển của loài người dược ông phân chia thành bốn bước 1) chuyển từ trạng thái động vật sang trạng thái có tính người; từ lệ thuộc vào bản năng sang sự chỉ đạo của lý trí. 2) khi lý trí đã đóng vai trò chủ yếu- mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội đã do lý trí chỉ đạo; ở con người đã xuất hiện nhu cầu giáo dục. 3) hãy sống cho thế hệ mai sau, tức là sự phát triển hướng tới tương lai. 4) bước phát triển được thực hiện bằng lý trí và từ đây, con người vượt lên con vật. Bản chất hoạt động của con người được thể hiện trong triết học thực tiễn, theo đó con người trong triết học thực tiễn chính là con người đã được bàn tới trong triết học lý luận, bây giờ được nghiên cứu trong trong hoạt động thực tiễn (nghĩa hẹp là hoạt động đạo đức, nghĩa rộng là hoạt động chính trị, lịch sử, pháp luật, văn hoá v.v).

– Hêghen lại coi thế giới vật chất là con người vô cơ, ở giai đoạn chưa hình thành; còn con người bằng xương, bằng thịt là con người đã phát triển đầy đủ, là con người đã trở về với bản thân mình với tất cả những đặc tính vốn có. Con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình; tư duy, trí tuệ con người được hình thành và phát triển khi con người nhận thức và cải biến thế giới đối lập với mình thành thế giới của mình; hoạt động càng phát triển thì ý thức càng mang bản chất xã hội.

– Tư tưởng về con người trong triết học nhân bản của Phoiơbắc được bắt đầu từ quan điểm coi con người là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên và nhận thức con người là nền tảng để nhận thức thế giới và giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Con người là sự thống nhất giữa vật chất và tinh thần; con người sáng tạo ra Thượng Đế; thần thánh là bản chất con người được tinh chế, khách quan hoá, tách rời con người hiện thực, tôn giáo là bản chất con người đã bị tha hoá. Phoiơbắc cho rằng bản chất tự nhiên của con người là hướng tới cái chân, cái thiện, hướng tới cái gì đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người; những điều kiện , môi trường và hoàn cảnh sốngcó tác động to lớn đối với tư duy và ý thức con người. ở trong cung điện người ta suy nghĩ khác trong túp lều tranh; các thời đại khác nhau là do sự khác nhau của các tôn giáo, muốn thay đổi xã hội cũ bằng một xã hội mới chỉ cần thay đổi tôn giáo cũ bằng tôn giáo mới.

Bước phát triển mới của đạo đức học được thể hiện trong học thuyết đạo đức của các nhà triết học cổ điển Đức.

3. Đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức

– Cantơ coi lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý, chuẩn mực đạo đức; còn các khát vọng cảm tính đưa con người đến hưởng thụ cá nhân, ích kỷ, phi đạo đức. Nguyên tắc cơ bản của đạo đức là tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối và chỉ khi hành động phù hợp với mệnh lệnh tuyệt đối thì mới được coi là có đạo đức; theo đó mệnh lệnh tuyệt đối là quy định đạo đức chung mà mọi người đều phải thực hiện để tôn trọng mình, tôn trọng người, tôn trọng lẽ phải, tôn trọng sự thật và tiêu chuẩn đánh giá giá trị đạo đức là có lợi cho công dân và xã hội. Phạm trù trung tâm của đạo đức Cantơ là tự do với quan niệm ý chí tự do và ý chí tuân theo các quy luật đạo đức là như nhau.

– Tư tưởng về đạo đức của Hêghen gắn liền với tư tưởng về pháp quyền, đạo đức, gia đình, xã hội công dân và nhà nước trong sự tha hoá của tinh thần đạo đức khách quan. Trong đạo đức học của Hêghen, phạm trù cái thiện và cái ác tồn tại trong những mâu thuẫn nội tại và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng trong những điều kiện cụ thể của quá trình lịch sử. Hai phạm trù ấy thể hiện trọn vẹn ý chí của con người đối với cái toàn năng, thể hiện sự thống nhất giữa đạo đức cá nhân với các quyền lợi chung; nghĩa vụ của đạo đức cao cả là yêu nước, phục tùng nhà nước.

– Tư tưởng về đạo đức của Phơibắc thể hiện trong việc xác định được sự hài hoà giữa nghĩa vụ với hạnh phúc, với các lợi ích của con người. Nguyên tắc cơ bản của đạo đức là sự yêu thương lẫn nhau giữa con người và nguyện vọng tự nhiên muốn có hạnh phúc của nó, trong đó tình yêu có thể khắc phục được bất công xã hội, đau khổ của con người.

1. Điều kiện ra đời và phát triển của triết học phương Tây hiện đại

– Triết học cổ điển Đức có nội dung cách mạng trong hình thức duy tâm, bảo thủ; đề cao vai trò tích cực của tư duy con người; coi con người là th���c thể hoạt động và là nền tảng, điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học.

– Phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức trở thành phương pháp đối lập với phương pháp siêu hình trong việc nghiên cứu các sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội.

2. Một số nội dung triết học phương Tây hiện đại a. Triết học duy khoa học

V. MỘT SỐ TRÀO LƯU TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI

b. Triết học nhân bản phi lý tính

– Triết học phương Tây hiện đại là các học trường phái triết học xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Ba khuynh hướng chủ yếu là chủ nghĩa duy khoa học, chủ nghĩa nhân bản phi lý tính và triết học tôn giáo mà chủ nghĩa Tômát mới là tiêu biểu.

c. Triết học tôn giáo

– Triết học phương Tây hiện đại có xu hướng điều hoà mâu thuẫn giữa khoa học với tôn giáo; điều hoà sự tách biệt đối lập giữa chủ nghĩa duy lý với chủ nghĩa nhân bản.

Người sáng lập là Côngtơ, triết học duy khoa học ra đời từ thế kỷ XIX, vào đầu thế kỷ XX. Triết học duy khoa học tồn tại trong hai hình thức là chủ nghĩa thực chứng, hậu thực chứng và chủ nghĩa thực chứng mới.

Người sáng lập là Sôpenhauơ. Triết học nhân bản tồn tại trong ba hình thức là triết học cuộc sống, triết học hiện sinh và triết học Phơrớt.

Điển hình của triết học tôn giáo là chủ nghĩa Tômát mới.

3. Đặc điểm của triết học phương Tây hiện đại

1. Điều kiện kinh tế – xã hội

– Thâm nhập hoặc hoà nhập lẫn nhau giữa các trường phái.

– Thâm nhập vào triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung./.

I. ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC

2. Tiền đề lý luận

– Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất do tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thể hiện tính hơn hẳn so với phương thức sản xuất phong kiến. Đồng thời với sự phát triển đó, mâu thuẫn vốn có, nội tại nằm trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên sâu sắc và gay gắt hơn. Đó là mâu thuẫn giữa tính xã hội của quá trình sản xuất và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất với hình thức sở hữu tư liệu sản xuất tư nhân; tổ chức, quản lý, phân công lao động và hưởng thụ sản phẩm lao động xã hội bất bình đẳng. Sản phẩm xã hội tăng lên nhưng lý tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái không được thực hiện. Bất công xã hội tăng, đối kháng xã hội thêm sâu sắc. Giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai cấp cách mạng trong xã hội.

– Mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản, vốn mang tính đối kháng, đã biểu hiện thành đấu tranh giai cấp. Khởi nguồn là cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Lyông (1831 và 1834) “đã vạch ra một điều bí mật quan trọng- đó là cuộc đấu tranh bên trong, diễn ra trong xã hội, giữa giai cấp những người có của và giai cấp những kẻ không có gì hết; phong trào Hiến chương ở Anh (1830-1840) là phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên, thật sự có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị. Giai cấp vô sản xuất hiện với tư cách là một lực lượng chính trị – xã hội với sứ mệnh tiên phong, đã ý thức được những lợi ích cơ bản của mình và tiến hành đấu tranh tự giác chống giai cấp tư sản.

– Thực tiễn cách mạng vô sản nảy sinh nhu cầu khách quan là những vấn đề mà thời đại đặt ra cần phải được soi sáng bằng lý luận khoa học trên lập trường của giai cấp vô sản để giải đáp những vấn đề thực tiễn của thời đại đặt ra. Chủ nghĩa Mác xuất hiện với tính cách là hệ tư tưởng khoa học của giai cấp công nhân, đưa phong trào công nhân từ tự phát lên tự giác vì có lý luận khoa học của mình dẫn đường.

Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. Học thuyết của ông ra đời là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội.

3. Tiền đề khoa học tự nhiên

– Phép biện chứng duy tâm của Hêghen là sự phát triển cao với hình thức và nội dung phong phú. Về hình thức, phép biện chứng đó bao quát cả ba lĩnh vực, bắt đầu từ các phạm trù lôgíc thuần tuý đến lĩnh vực tự nhiên, tinh thần và kết thúc bằng biện chứng của toàn bộ quá trình lịch sử. Về nội dung, phép biện chứng đó được chia thành tồn tại, bản chất và khái niệm. Trong đó, Hêghen coi phát triển là nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng với phạm trù trung tâm là tha hoá và khẳng định tha hoá được diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trong cả tự nhiên, xã hội và tinh thần.

– Phoiơbắc là một trong những nhà duy vật lớn, ông đã chứng minh thế giới là thế giới vật chất; cơ sở tồn tại của giới tự nhiên chính là giới tự nhiên không do ai sáng tạo ra và tồn tại độc lập với ý thức. Tư duy, ý thức con người là sự phản ánh của dạng vật chất tổ chức cao về thế giới. Khi phát triển lý luận nhận thức duy vật, Phoiơbắc đã dựa vào thực tiễn để xem xét mọi hiện tượng thuộc về con người và xã hội. Con người trong quan niệm của Phoiơbắc là con người trừu tượng, phi lịch sử, mang những thuộc tính sinh học bẩm sinh nên chứa đựng nhiều yếu tố của chủ nghĩa duy tâm.

– C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa bằng cách cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí để xây dựng nên phép biện chứng duy vật. Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi tính siêu hình, các ông đã làm cho nó trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng nhân loại.

Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh với nhiều phát minh quan trọng và với những phát minh đó, khoa học đã cung cấp cơ sở tri thức khoa học để tư duy biện chứng vượt lên tính tự phát của phép biện chứng cổ đại, thoát khỏi tính thần bí của phép biện chứng duy tâm và trở thành khoa học.

– Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượngcủa các nhà khoa học tự nhiên chứng tỏ lực cơ học, nhiệt, ánh sáng, điện tử, các quá trình hoá học không tách rời nhau, mà liên hệ với nhau và hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định, chúng chuyển hoá cho nhau mà không mất đi, chỉ có sự chuyển hoá không ngừng của năng lượng từ dạng này sang dạng khác. Định luật đã dẫn đến kết luận triết học là sự phát triển của vật chất là một quá trình vô tận của sự chuyển hoá những hình thức vận động của chúng.

1. Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen a. Quá trình chuyển biến tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và lập trường cộng sản chủ nghĩa (1842 – 1844)

– Thuyết tế bào chứng minh rằng, tế bào là cơ sở của kết cấu và sự phát triển chung của thực vật và động vật. Bản chất sự phát triển của chúng đều nằm trong sự hình thành và phát triển của tế bào. Thuyết tế bào xác định sự thống nhất về mặt nguồn gốc và hình thức giữa động vật và thực vật; giải thích quá trình phát triển của chúng; đặt cơ sở cho sự phát triển của toàn bộ nền sinh học; phá bỏ quan niệm siêu hình về mặt nguồn gốc và hình thức giữa giới thực vật với động vật.

II. NHỮNG GIAI ĐOẠN CHỦ YẾU TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

– Giới thiệu C.Mác và Ph.Ăngghen. C.Mác là con một nhà quý phái, Ph.Ăngghen là con một nhà tư bản, nhưng hai ông đã hoàn toàn dâng mình cho cách mạng và trở thành những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản.

+ Tên đầy đủ của C.Mác là Karl Henrix Marx, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 tại Tơria, tỉnh Ranh, nước Đức trong một gia đình luật sư người Do thái có tư tưởng khai sáng và tự do; từ trần ngày 14 tháng 3 năm 1883, an táng tại nghĩa trang Khaighết, Luân Đôn, Anh.

+ Ph.Ăngghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 tại Bácmen, tỉnh Ranh, nướcĐức trong một gia đình tư bản công nghiệp dệt bảo thủ về tư tưởng; từ trần ngày mùng 5 tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Anh. Theo nguyện vọng của Ph.Ăngghen, sau khi hoả táng, tro thi hài được thả xuống eo biển gần Ixtôbôrn, phía Nam bờ nước Anh.

– Giới thiệu bước đầu hoạt động chính trị – xã hội và khoa học của C.Mác và Ph. Ăngghen.

Khuynh hướng tư tưởng, chính trị của C.Mác thời niên thiếu chịu ảnh hưởng của môi trường sống, tư tưởng duy lý và chủ nghĩa tự do về tôn giáo; hoạt động chính trị của người cha và ảnh hưởng của một số giáo viên có tư tưởng dân chủ. Năm 1837, C.Mác làm quen với triết học Hêghen, tham gia phái Hêghen trẻ. Năm 1841, C.Mác nhận học vị tiến sỹ triết học với luận án Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Êpiquya với triết học tự nhiên của Đêmôcrít tại trường Đại học Tổng hợp Iêna.

Sự chuyển biến tư tưởng có nội dung hơn và sự chuyển biến thế giới quan triết học ở C.Mác bước đầu chỉ thực sự diễn ratrong thực tiễn đấu tranh thông qua báo chí, trong thời kỳ ông làm việc ở báo Sông Ranh (5/1842-4/1843). Chính trong thực tiễn này mà C.Mác nhận thức được những mối quan hệ vật chất của đời sống xã hội, tạo ra sự chú ý đến vai trò của lợi ích kinh tế và sở hữu; nhận thức đầy đủ hơn về những hạn chế của triết học Hêghen, tính phản động, bảo thủ của nhà nước Phổ. Đụng chạm đến những mâu thuẫn thực tế của xã hội, với những vấn đề về kinh tế, C.Mác viết những bài báo như Nhận xét bản chỉ thị mới nhất về chế độ kiểm duyệt của Phổ, Tuyên ngôn triết học của trường phái lịch sử pháp quyền, Những cuộc tranh luận về luật cấm trộm củi rừng, mà ngược lại, xã hội công dân quy định nhà nước. Việc làm nổi bật vai trò quyết định của mối quan hệ vật chất đối với sự phát triển của lịch sử đã mở ra con đường khắc phục quan niệm duy tâm của Hêghen về xã hội, làm tăng xu hướng duy vật trong tư tưởng và là điểm xuất phát nhận thức duy vật về lịch sử của C.Mác trong tương lai.

Tháng 9 năm 1841, trong thời gian làm nghĩa vụ quân sự tại Béclinh, Ph.Ăngghen tự học ở các trường đại học và tham gia phái Hêghen trẻ, chịu ảnh hưởng sâu sắc Bản chất đạo Cơ đốc của Phoiơbắc. Những tác phẩm của Ph.Ăngghen thời kỳ 1841 – 1842 như Sêlinh nói về Hêghen (1841), Sêlinh- nhà triết học trong Kitô, hoặc việc cải biến đạo lý thế tục thành đạo lý thần thánh (1842) v.v, cho thấy tuy vẫn đứng trên lập trường duy tâm của triết học Hêghen, nhưng ông đã nhận ra mâu thuẫn giữa tính cách mạng với tính bảo thủ trong triết học ấy, đồng thời thấy tính triệt để hơn trong triết học Phoiơbắc. Từ mùa Thu 1842, trong thời gian sống gần hai năm ở Mansextơ (Anh), việc nghiên cứu đời sống kinh tế và sự phát triển chính trị của nước Anh, nhất là việc trực tiếp tham gia phong trào công nhân mới dẫn ông đến bước chuyển biến căn bản trong thế giới quan và lập trường chính trị.

– Giới thiệu sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng và từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa của C.Mác và Ph.Ăngghen.

Các tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen; Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Lời nói đầu; Lập trường của các chính đảng; Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh; Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị đánh dấu sự chuyển biến hoàn toàn từ chủ nghĩa duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và lập trường cộng sản chủ nghĩa của C.Mác và Ph.Ăngghen.

b. Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (1844-1848)

Các tác phẩm Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844; Gia đình thần thánh; Luận cương về Phoiơbắc; Hệ tư tưởng Đức; Sự khốn cùng của triết học và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu chủ nghĩa Mác đã được trình bày chỉnh thể với các quan điểm lý luận nền tảng của ba bộ phận hợp thành, thể hiện từng bước sự đề xuất, khẳng định vai trò của triết học trong đời sống xã hội.

c. Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung, phát triển lý luận triết học (1848-1895)

– Các tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp; Ngày 18 tháng S­ương mù của Lui Bônapáctơ; Cách mạng và phản cách mạng ở Đức; Tư bản; Nội chiến ở Pháp; Phê phán Cương lĩnh Gôta; Chống Đuyrinh; Biện chứng của tự nhiên; Nguồn gốc và gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước; Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức thể hiện sự bổ sung và phát triển toàn diện những vấn đề triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen, tạo nên chủ nghĩa Mác hoàn chỉnh.

– Giới thiệu khái quát tác phẩm Chống Đuyrinh.

+ Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Chống Đuyrinh là tên gọi đã đi vào lịch sử các tác phẩm kinh điển chủ nghĩa Mác của Cuộc đảo lộn trong khoa học do Ngài Ơghênhi Đuyrinh thực hiện của Ph.Ăngghen và C.Mác. Tác phẩm được viết không chỉ vì sự cấp bách về lý luận, mà còn vì sự cấp bách về chính trị. Năm 1875, Đuyrinh đã viết một loạt bài công kích gay gắt chủ nghĩa Mác. Sự công kích đó đã làm ảnh hưởng tới niềm tin của một bộ phận thành viên của đảng xã hội – dân chủ Đức. Tác phẩm chống lại những tư tưởng tầm thường, hỗn độn và chiết trung trong triết học duy vật siêu hình, thực chứng và duy tâm, thể hiện trong các hình thức khác nhau của chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của Đuyrinh. Đó là hoàn cảnh ra đời của một tác phẩm bút chiến mãnh liệt về hình thức, có tính từ điển bách khoa về nội dung.

Năm 1880, theo đề nghị của Lapharg, Ph.Ăngghen chỉnh lý lại 3 chương của Chống Đuyrinh và phổ biến dưới dạng bản thảo Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học. Đây là một trong những tác phẩm được phổ biến rộng rãi nhất trong những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác. Năm 1892, Ph.Ăngghen viết Lời mở đầu cho lần xuất bản bằng tiếng Anh và bằng tiếng Đức, xuất bản dưới tên gọi Về chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Cấu trúc của tác phẩm. Tương xứng với ba thành phần cấu thành chủ nghĩa Mác, Chống Đuyrinh được cấu thành, ngoài Lời nói đầu, từ ba bộ phận chính gồm Triết học; Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học.

+ Nội dung cơ bản của tác phẩm

Tư tưởng chính của tác phẩm là cuộc đấu tranh vì sự triệt để của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Theo V.L.Lênin, hoặc là chủ nghĩa duy vật đến cùng, hoặc là sự dối trá và sự lộn xộn của triết học chủ nghĩa duy tâm,- đó là vấn đề được đưa ra trong từng mục của Chống Đuyrinh.

* Vấn đề về thế giới quan duy vật trong tác phẩm. Giải quyết biện chứng và duy vật triệt để vấn đề cơ bản của triết học.

# Phê phán quan điểm duy tâm của Đuyrinh cho rằng những nguyên lý được rút ra từ tư duy chứ không phải được từ thế giới khách quan; những nguyên lý hình thức phải được ứng dụng vào giới tự nhiên và loài người và do vậy, giới tự nhiên và loài người phải phù hợp với chúng. Ph.Ăngghen khẳng định ý thức là sản phẩm của não người, còn con người lại là sản phẩm của tự nhiên. Tư duy là sự phản ánh của tồn tại. Bởi vậy, những quy luật của tư duy và những quy luật của tự nhiên phối hợp, điều hoà với nhau. Ngay cả những định lý và các khái niệm của toán học cũng được trừu tượng hoá từ thế giới hiện thực (chương 3). Khả năng của nhận thức thì không có giới hạn, chính quá trình nhận thức cũng vô hạn; chân lý tuyệt đối có được nhờ thực hiện một loạt chân lý tương đối không giới hạn (chương 3 và 9).

# Phê phán tư tưởng của Đuyrinh quy tính tồn tại của thế giới vào tính thống nhất của thế giới, Ph.Ăngghen cho rằng sự thống nhất của thế giới nằm ở tính vật chất của nó, còn tính tồn tại là tiền đề của tính vật chất (chương 4). Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó và tính chất này được chứng minh không phải chỉ bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên.

# Phê phán quan điểm siêu hình quy vận động vào lực cơ học và coi đó là hình thức cơ bản của vận động của Đuyrinh, Ph.Ăngghen cho rằng, vật chất không có vận động thì cũng không có ý nghĩa như vận động không có vật chất. Bởi vậy, vận động không thể mất đi và cũng không thể bị triệt tiêu- giống như vật chất (chương 6). Các hình thức khác nhau của vận động (cơ học, vật lý, hoá học, sinh học) là đối tượng nghiên cứu của các môn khoa học khác nhau (chương 6-7).

# Ph.Ăngghen khẳng định vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất; không gian và thời gian gắn liền với vật chất vận động và cũng vô cùng, vô tận như vật chất vận động. Thế giới là vô cùng vô tận trong không gian và thời gian và không gian và thời gian là những hình thức chính của tồn tại (chương 5). Cái vĩnh viễn trong thời gian, cái vô tận trong không gian … là ở chỗ, … không có điểm tận cùng về một phía nào cả, cả ở đằng trước lẫn đằng sau, cả ở trên lẫn ở dưới, cả ở bên phải lẫn bên trái.

* Tư tưởng về phép biện chứng duy vật trong tác phẩm.

# Phép biện chứng duy vật hình thành và phát triển từ giới tự nhiên và lịch sử và trở thành công cụ để nhận thức giới tự nhiên và lịch sử.

# Bản chất của phép biện chứng.

Định nghĩa phép biện chứng. Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến … là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy

Bản chất của phép biện chứng thể hiện ở chỗ, nó nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ và sự phát triển trong tính hệ thống, trong quá trình vận động theo khuynh hướng tiến lên.

Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình (xem chương VI).

# Hệ thống các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.

Sự phát triển của tư duy trong việc phản ánh hiện thực khách quan được thể hiện thông qua hệ thống các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.

Quy luật quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân của sự vận động là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập; giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sự vận động, phát triển.

Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Bản chất của quy luật thể hiện trong mối quan hệ giữa chất với lượng trong thế giới khách quan.

Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng, hình thức và kết quả phát triển của sự vật, hiện tượng. Trải qua một số lần phủ định, sự vật, hiện tượng dường như lặp lại những giai đoạn đã qua trên cơ sở mới, cao hơn và như vậy, phát triển không theo đường thẳng, mà theo đường xoáy ốc, mỗi vòng tròn kế tiếp dường như lặp lại vòng tròn trước đó, nhưng trên cơ sở cao hơn.

* Vấn đề về nhận thức luận trong tác phẩm.

# Định nghĩa tư duy. Tư duy con người là sự phản ánh của thế giới khách quan vào bộ não con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

# Quá trình tương đối và tuyệt đối của tư duy; nhận thức vừa vô hạn, vừa có hạn. Tuyệt đối (tối cao) và vô hạn của tư duy khi xét theo bản tính, khả năng và mục đích cuối cùng; tương đối (không tuyệt đối) và có hạn của tư duy khi xét theo sự thực hiện riêng biệt và thực tế trong mỗi thời điểm nhất định.

# Nhận thức chân lý là một quá trình lịch sử từ thấp đến cao, từ đơn giải đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chủ thể với khách thể nhận thức và vào điều kiện, hoàn cảnh mà chủ thể nhận thức chụi ảnh hưởng; vì vậy không thể có chân lý bất biến, tuyệt đỉnh cuối cùng như Đuyrinh quan niệm và quan niệm đó của Đuyrinh chỉ dẫn đến chủ nghĩa duy tâm và siêu hình về nhận thức.

* Quan điểm duy vật về lịch sử và tư tưởng về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm.

# Bác bỏ quan điểm của Đuyrinh coi bạo lực và chiến tranh là cơ sở hình thành các giai cấp trong xã hội, Ph.Ăngghen cho rằng điều kiện kinh tế – xã hội, sự phát triển của lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu mới là cơ sở trong việc hình thành các giai cấp.

# Thông qua việc phê phán chủ nghĩa xã hội không tưởng của Ximông và Phuriê đã không dựa vào điều kiện kinh tế – xã hội, mà chỉ dựa vào ý thức xã hội, lịch sử và pháp quyền để xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội, Ph.Ăngghen bác bỏ quan điểm của Đuyrinh về chân lý đạo đức và pháp quyền vĩnh cửu vượt qua mọi giai đoạn lịch sử của mỗi dân tộc và thời đại khác nhau.

# Đánh giá sự phát triển của triết học trong mối liên hệ thống nhất giữa triết học với khoa học. Ph.Ăngghen cho rằng, khi đó, triết học trở thành thế giới quan và thế giới quan đó không cần phải được chứng thực và thể hiện trong một khoa học đặc biệt nào đó, đứng trên các khoa học, mà được chứng thực và thể hiện trong các khoa học hiện thực.

– Ý nghĩa của tác phẩm

+ Chống Đuyrinh là tác phẩm tổng kết toàn diện sự phát triển của chủ nghĩa Mác; trình bày hoàn chỉnh thế giới quan duy vật biện chứng về triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học; đấu tranh chống lại các quan điểm đối lập.

+ Với Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã tham gia trực tiếp vào các cuộc tranh luận về thế giới quan và chính trị trong phong trào công nhân Đức lúc bấy giờ và góp phần quyết định vào thắng lợi của chủ nghĩa Mác trong phong trào công nhân.

– Giới thiệu khái quát tác phẩm Biện chứng của tự nhiên

+ Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

* Là tác phẩm của Ph.Ăngghen, viết gián đoạn trong 13 năm, từ 1873 đến 1886, trong đó ông nêu quan niệm nhận thức duy vật biện chứng về giới tự nhiên và những vấn đề quan trọng nhất của lý luận khoa học tự nhiên. Biện chứng của tự nhiên là tác phẩm chưa hoàn thành, chúng ta có được tác phẩm này chỉ trong dạng 2 bản thảo với trên dưới 10 chương riêng rẽ; các bài viết và 185 ghi chép, đoạn trích. Biện chứng của tự nhiên lần đầu tiên được xuất bản bằng tiếng Đức và tiếng Nga tại Liênxô năm 1925.

* Cấu trúc của tác phẩm dựa vào 2 bản thảo do Ph.Ăngghen viết tháng 8 năm 1878 và được chia thành 11 vấn đề; tập hợp thành 3 nhóm. 1) Triết học trong khoa học tự nhiên (vấn đề 1-3). 2) Phân chia khoa học và nội dung biện chứng của các khoa học chuyên ngành (vấn đề 4-5). 3) Phê phán thuyết bất khả tri, chủ nghĩa duy tâm và siêu hình trong khoa học tự nhiên (vấn đề 6-11).

Nội dung thực tế của tác phẩm không hoàn toàn trùng khớp với các nhóm, tuy vậy, về tổng thể, phù hợp với thiết kế nội dung, đặc biệt là các trích dẫn ở phần cuối. Lần xuất bản mới nhất, miêu tả chính xác theo trật tự thời gian tất cả các phần của bản thảo được in bằng tiếng Nga trong tập 26, Phần 1 của C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập vào năm 1985, ngôn ngữ MEGA.

– Nội dung cơ bản của tác phẩm

+ Tư tưởng tập trung của tác phẩm là vật chất và vận động của vật chất.

* Tác phẩm chỉ ra tính thống nhất vật chất của thế giới trong sự đa dạng và khác biệt về chất và lượng thông qua mối liên hệ, chuyển hoá trong quá trình vận động đi lên đa dạng và phong phú trong tính hệ thống và chỉnh thể.

* Định nghĩa vận động của vật chất. Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kwr từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.

* Phân loại các hình thức vận động cơ bản của vật chất, trong đó đứng im là vận động trong cân bằng, là tương đối và tạm thời của một tổ chức cụ thể nào đó.

# Các hình thức vận động cơ bản của vật chất đều do bản chất của những vật thể đang vận động mà ra; gồm vận động cơ giới của các khối lượng, vận động vật lý của các phân tử, vận động hoá học của các nguyên tử và dự đoán về sự vận động của trường điện tử (về sau trong các hình thức vận động còn bổ sung thêm hình thức vận động sinh học và vận động xã hội).

# Mối quan hệ giữa các hình thức vận động cơ bản của vật chất là mối quan hệ biện chứng, theo đó trong những điều kiện nhất định, các hình thức vận động cơ bản có thể chuyển hoá cho nhau, từ hình thức này sang hình thức khác và trong quá trình đó, lượng của một hình thái vận động bao giờ cũng tương ứng với một lượng chính xác nhất định của hình thái vận động khác. Như vậy, muốn nhận thức được vật chất thì phải thông qua sự vận động của nó bởi thuộc tính của vật chất chỉ thể hiện qua vận động.

+ Tư tưởng về phép biện chứng trong tác phẩm.

* Về vai trò đối với tư duy lý luận của lịch sử phép biện chứng, Ph.Ăngghen cho rằng chỉ có phép biện chứng mới có thể đem lại sự tương đồng và do đó đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong tự nhiên, giải thích những mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh vực nghiên cứu này sang một lĩnh vực nghiên cứu khác. Tuy vậy, trong lịch sử triết học chỉ có Arítxtốt và Hêghen là đã nghiên cứu chính xác về phép biện chứng.

* Hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen thể hiện ở chỗ, ông là người đầu tiên trình bày bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng; chỉ có điều, phép biện chứng của Hêghen bị lộn ngược đầu xuống đất, chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó.

* Biện chứng khách quan của giới tự nhiên đóng vai trò quy định đối với biện chứng chủ quan của tư duy con người.

* Vai trò của tư duy biện chứng đối với khoa học; và vai trò đó làm nên mối liên hệ thống nhất giữa triết học với khoa học tự nhiên.

# Khoa học tự nhiên đặt cơ sở cho những khái quát phổ biến của triết học, còn những khái quát triết học lại trở thành phương pháp luận cho khoa học tự nhiên đi sâu nghiên cứu thế giới khách quan.

# Mối liên hệ giữa các hình thức vận động của vật chất với khoa học tự nhiên.

+ Tư tưởng về sự sống và nguồn gốc con người trong tác phẩm.

* Quá trình phát triển của thế giới tự nhiên là nguồn gốc của sự sống, nguồn gốc của sự hình thành con người và lịch sử xã hội loài người.

* Quá trình phát triển đạt đến mức cao nhất của thế giới tự nhiên là sự hình thành con người và xã hội loài người.

# Nguồn gốc của sự sống bắt nguồn từ các quá trình hoá học và sinh học.

# Vai trò quyết định của lao động trong quá trình chuyển hoá từ vượn thành người.

– ý nghĩa của tác phẩm

+ Biện chứng của tự nhiên là thí dụ điển hình về sự vận dụng phương pháp biện chứng duy vật vào việc giải quyết những vấn đề của tự nhiên và lịch sử; là thí dụ điển hình về sự khái quát triết học những thành tựu của khoa học tự nhiên.

a. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng

+ Biện chứng của tự nhiên thể hiện phép biện chứng duy vật và những quy luật cơ bản của nó có giá trị phổ biến; là cơ sở lý luận và phương pháp nhận thức của các ngành khoa học.

2. Thực chất cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện

b. Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử

Sự ra đời của triết học Mác là cuộc cách mạng trong triết học, thể hiện ở

– Trong lịch sử triết học duy vật, chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng tách rời nhau; chủ nghĩa duy vật trước Mác bị hạn chế bởi tính trực quan và siêu hình; phép biện chứng trước Mác bị hạn chế bởi tính siêu hình và duy tâm.

c. Sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn

– Trong triết học Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau tạo nên học thuyết hoàn chỉnh.Học thuyết đó cung cấp cho loài người công cụ nhận thức vĩ đại, làm cho chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ dừng lại ở phương pháp giải thích, nhận thức thế giới, mà còn trở thành phương pháp cải tạo thế giới.

d. Sự thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng mở rộng nhận thức từ giới tự nhiên sang nhận thức xã hội loài người, làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để.

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, là một tổ chức vật chất trong trạng thái biến đổi và phát triển không ngừng từ hình thái thấp lên hình thái cao hơn; sự phát triển đó tuân theo quy luật khách quan như một quá trình lịch sử – tự nhiên và trong sự phát triển đó, quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết định.

Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của triết học Mác – Lênin (xem chương VII); nguyên tắc đó đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn của con người.

đ. Xác định đúng mối quan hệ giữa triết học với các khoa học chuyên ngành

Bản chất khoa học đã bao hàm tính cách mạng của triết học Mác, phản ánh bản chất của giai cấp công nhân.

– Tính khoa học của triết học Mác thể hiện ở chỗ, triết học đó đã xây dựng nên thế giới quan duy vật biện chứng khoa học và triệt để. Với tư cách là thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, tính khoa học của triết học Mác còn thể hiện ở khả năng khái quát sáng tạo những hiện tượng mới nẩy sinh trong quá trình cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và do vậy, triết học Mác có khả năng phát triển vô tận.

3. Ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện

– Tính cách mạng của triết học Mác thể hiện ở chỗ, khi đưa ra quan niệm về tính hợp lý của hiện thực đang tồn tại đã bao hàm cả quan niệm về sự diệt vong tất yếu của nó do nguyên nhân giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng; quá trình tích luỹ dần về lượng khi đến độ, gặp điều kiện chín muồi, tất yếu sẽ dẫn đến sự tự phủ định, làm cho sự vật, hiện tượng phát triển theo đường xoáy ốc lên giai đoạn mới, tiến bộ hơn về chất.

– Ph.Ăngghen cho rằng, cứ mỗi lần có một phát minh vạch thời đại, ngay cả trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, thì chủ nghĩa duy vật phải thay đổi hình thức của nó. Những phát minh của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XIX là một trong những tiền đề cho sự ra đời của triết học Mác và triết học Mác đã làm biến đổi căn bản tính chất, đối tượng của triết học và mối quan hệ của nó đối với các khoa học chuyên ngành.

4. V.I.Lênin phát triển triết học Mác a. Hoàn cảnh lịch sử

– C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định đúng giới hạn và mối quan hệ mới giữa triết học với các khoa học chuyên ngành. Triết học Mác không nghiên cứu những vấn đề cụ thể và cũng không đóng vai trò khoa học của mọi khoa học, mà là thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung nhất cho sự phát triển của các khoa học đó.

– Làm cho chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học.

– Vai trò xã hội của triết học cũng như vị trí, chức năng của triết học trong hệ thống tri thức khoa học cũng thay đổi. Triết học Mác trở thành công cụ giải thích, nhận thức và cải tạo thế giới.

– Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa làm tăng thêm khả năng kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa; mặt khác sự áp bức, bóc lột biểu hiện gay gắt hơn. Xu hướng thống nhất giữa phong trào giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản; giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp công nhân ở chính quốc thể hiện trong các hình thức và mức độ khác nhau.

b. Nội dung cơ bản của quá trình V.I.Lênin phát triển triết học Mác

– Khoa học tự nhiên phát triển mạnh với những thành tựu mới, nhưng những khái quát triết học về chúng chưa dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, tạo nên sự đối lập giữa các dữ liệu của khoa học tự nhiên với các khái quát triết học, điển hình là cuộc khủng hoảng vật lý đầu thế kỷ XX.

– Nhiều khuynh hướng triết học như chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại trong Quốc tế Cộng sản II v.v tấn công nhằm phủ định chủ nghĩa Mác để quay lại với chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo.

– Chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực ở nước Nga. Trải qua các cuộc cách mạng dân chủ – tư sản 1905 – 1907 và cách mạng Tháng Hai năm 1917, vào tháng 10 (Nga) năm 1917, Cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, tạo nên nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới; mở ra thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

– Giai đoạn từ 1893 đến 1907, V.I.Lênin nghiên cứu thể chế xã hội Nga và vai trò của các giai cấp khác nhau trong cuộc cách mạng đang tới gần; phê phán mọi hệ thống quan điểm duy tâm và phương pháp siêu hình của những người dân tuý.

+ Plêkhanốp và nhóm Giải phóng lao động, tuy truyền bá chủ nghĩa Mác vào nước Nga nhưng mắc sai lầm trong đấu tranh chống phái dân tuý; coi giai cấp tư sản tự do là giai cấp cách mạng.

+ Để đấu tranh chống lại quan điểm đó, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, V.I. Lênin viết một số tác phẩm như Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ – xã hội ra sao? Nội dung kinh tế của chủ nghĩa dân tuý và sự phê phán trong cuốn sách của ông Xtơruvê về nội dung đó; Làm gì? Hai sách lược của đảng dân chủ – xã hội trong cách mạng dân chủ v.v.

– Giai đoạn từ 1907 đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

+ Tiếp tục đấu tranh chống các tư tưởng đối lập, bảo vệ và phát triển triết học Mác; xác lập thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật cho giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản.

+ Các tác phẩm Một bước tiến hai bước lùi; Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán với định nghĩa về vật chất; Bút ký triết học với sự phát triển nội dung của triết học duy vật biện chứng, đặc biệt là phép biện chứng duy vật; Nhà nước và cách mạng với vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là nhà nước và nêu ra con đường để giai cấp vô sản xác lập nhà nước chuyên chính vô sản. Trong những năm 1914 – 1916, V.I.Lênin tóm tắt tác phẩm Khoa học Lôgíc và phần một của Từ điển bách khoa toàn thư về khoa học triết học, Những bài giảng về lịch sử triết học và Những bài giảng về triết học lịch sử của Hêghen, một số tác phẩm của Phoiơbắc và Lắcxan, Siêu hình học của Arítxtốt và các tác phẩm khác theo chuyên ngành triết học và khoa học tự nhiên vào 8 quyển và đặt tên là Bút ký triết học.

5. Triết học Mác – Lênin trong thời đại ngày nay a. Những biến đổi của thời đại

– Giai đoạn sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga từ 1917 đến 1924.

+ V.I.Lênin tiếp tục phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thông qua các tác phẩm cơ bản như Sáng kiến vĩ đại; Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản; Về Chính sách kinh tế mới; Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu v.v. Sáng kiến vĩ đại với định nghĩa về giai cấp; Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu v.v.

+ Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin không chỉ phê phán đối với kẻ thù, mà còn kịch liệt phê phán những người nhân danh lý luận Mác trên lời nói, nhưng trên thực tế là chủ nghĩa xét lại, hoặc đã xa rời chủ nghĩa Mác. Để bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng và dựa vào những thành quả mới của khoa học, tạo nên giai đoạn Lênin trong lịch sử triết học mácxít. Di sản triết học của V.I.Lênin trở thành cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn; thiên tài về lý luận và thực tiễn của V.I.Lênin được những người cộng sản đánh giá cao. Họ đặt tên cho chủ nghĩa của mình là chủ nghĩa Mác – Lênin.

– Thời đại ngày nay được xác định từ Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 đến nay, trong thời đại này lịch sử thế giới đã xẩy ra những thay đổi lớn lao trên tất cả các mặt kinh tế – chính trị, văn hoá – xã hội.

– Sự tác động giữa hai quá trình cách mạng xã hội và cách mạng khoa học, công nghệ tạo nên sự biến đổi nhanh chóng và phức tạp.

b. Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác – Lênin trong thời đại ngày nay

CHƯƠNG V. CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC PGS. TS. Vũ Tình, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

– Thể hiện trong vai trò thế giới quan khoa học và phương pháp luận cách mạng của triết học Mác – Lênin trong việc vận dụng và phát triển chúng của các đảng cộng sản với các bổ sung từ điều kiện lịch sử của thời đại.

1. Thế giới quan và các hình thức cơ bản của thế giới quan a. Khái niệm thế giới quan

– Thể hiện trong vai trò định hướng nhận thức và thực tiễn mục tiêu của xã hội loài người; giải quyết theo quy luật những vấn đề do thời đại đặt ra.

– Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận./.

I. THẾ GIỚI QUAN VÀ THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC

– Định nghĩa. Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới ấy.

– Nguồn gốc của thế giới quan. Thế giới quan ra đời từ thực tiễn cuộc sống; là kết quả trực tiếp của quá trình nhận thức, nhưng suy đến cùng, thế giới quan là kết quả của cả hoạt động thực tiễn với hoạt động nhận thức, của mối quan hệ giữa khách thể nhận thức với chủ thể nhận thức.

– Nội dung phản ánh của thế giới quan. Thế giới quan phản ánh thế giới từ ba góc độ 1) Các khách thể nhận thức. 2) Bản thân chủ thể nhận thức. 3) Mối quan hệ giữa khách thể với chủ thể nhận thức. Ba góc độ này của thế giới quan vừa thể hiện ý thức của con người về thế giới, vừa thể hiện ý thức của con người về chính bản thân mình.

– Hình thức biểu hiện của thế giới quan có thể là các quan điểm, quan niệm rời rạc, cũng có thể là hệ thống lý luận chặt chẽ.

b. Những hình thức cơ bản của thế giới quan

– Cấu trúc của thế giới quan gồm hai yếu tố cơ bản là và , trong đó tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; song tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi đã trở thành niềm tin để hình thành lý tưởng, động cơ hoạt động của con người.

– Một thế giới quan thống nhất giữa tri thức với niềm tin có vai trò là cơ sở để con người xác định những vấn đề then chốt của cuộc sống như tiếp tục tìm hiểu thế giới; xác định thái độ, cách thức hoạt động, lối sống nói riêng và nhân sinh quan nói chung.

– Các chức năng cơ bản của thế giới quan là chức năng nhận thức; chức năng nhận định, đánh giá; chức năng xác lập giá trị và chức năng điều chỉnh hành vi v.v thể hiện chức năng cơ bản nhất của thế giới quan là chức năng định hướng cho mọi hoạt động sống của con người.

– Thế giới quan huyền thoại có nội dung pha trộn giữa thực với ảo, giữa người với thần đặc trưng cho tư duy nguyên thuỷ giải thích các lực lượng tự nhiên trong tưởng tượng và nhờ trí tưởng tượng.

– Thế giới quan tôn giáo có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lực lượng siêu nhiên đối với thế giới, đối với con người, được thể hiện qua các hoạt động có tổ chức để suy tôn, sùng bái lực lượng siêu nhiên ấy. Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế. Đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin vào một thế giới khác hoàn mỹ làm giảm nỗi khổ trần gian.

2. Thế giới quan duy vật và lịch sử phát triển của thế giới quan duy vật a. Thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật

– Thế giới quan triết học thể hiện bằng hệ thống lý luận thông qua các khái niệm, phạm trù, quy luật. Thế giới quan triết học không chỉ nêu ra các quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, mà còn chứng minh chúng bằng lý luận. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là bộ phận quan trọng nhất của triết học bởi vì nó chi phối các quan điểm, quan niệm còn lại của thế giới quan như quan điểm, quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế, chính trị, văn hoá v.v.

– Thế giới quan duy vật triết học và thế giới quan duy tâm triết học là hai hình thức của thế giới quan triết học (xem cách giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học).

– Thế giới quan khoa học và thế giới quan phản khoa học. Thế giới quan khoa học phản ánh thế giới và định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người trên cơ sở tổng kết những thành tựu của nghiên cứu, thực nghiệm và dự báo khoa học. Thế giới quan khoa học không ngừng được bổ sung và hoàn thiện và phát triển; thông qua hoạt động thực tiễn của con người, thế giới quan khoa học được hiện thực hoá, trở thành sức mạnh vật chất. Thế giới quan phản khoa học, ngược lại do không phản ánh đúng bản chất của thế giới nên dễ làm cho con người rơi và thế giới quan duy tâm.

– Thế giới quan duy tâm.

+ Định nghĩa. Thế giới quan duy tâm thừa nhận bản chất thế giới là tinh thần và thừa nhận vai trò quy định của các yếu tố tinh thần đối với thế giới vật chất nói chung, đối với con người và xã hội loài người nói riêng.

+ Các hình thức của thế giới quan duy tâm được hình thành bởi các quan niệm khác nhau về tinh thần, ý thức của những người có thế giới quan này; nếu tinh thần, ý thức của con người tạo nên thế giới quan duy tâm chủ quan, còn tinh thần, ý thức ở bên ngoài con người tạo nên thế giới quan duy tâm chủ quan. Cấp độ của thế giới quan duy tâm phụ thuộc vào trình độ nhận thức của con người; có cấp độ thế giới quan thô sơ, tôn giáo hay triết học.

+ Giá trị và hạn chế của thế giới quan duy tâm.

– Thế giới quan duy vật.

+ Định nghĩa. Thế giới quan duy vật thừa nhận bản chất thế giới là vật chất và thừa nhận vai trò quy định của các vật chất đối với tinh thần, ý thức nói chung, đối với con người và xã hội loài người nói riêng.

b. Lịch sử phát triển của thế giới quan duy vật

– Giá trị của thế giới quan duy vật.

– Cơ sở để phân biệt giữa thế giới quan duy tâm với thế giới quan duy vật là xem thế giới quan đó quan niệm về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng như thế nào.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

– Thế giới quan duy vật chất phác.

+ Thừa nhận bản chất của thế giới là vật chất, nhưng quy vật chất nói chung vào một hay một số dạng cụ thể đầu tiên sản sinh ra vũ trụ. Trong triết học phương Đông và phương Tây, chất đầu tiên ấy là những vật thể cụ thể như ngũ hành Trung Quốc), Anu (Nyaya), đất, nước, lửa, không khí v.v (Lokayata), nước (Talét), apeyrôn (Anaximan), lửa (Hêraclít), nguyên tử (Đêmôcrít, Lơxíp) v.v. Con người được tạo nên từ âm dương, ngũ hành, là sản phẩm của khí, là sự kết hợp của các nguyên tử v.v.

+ Hạn chế và giá trị của thế giới quan duy vật chất phác.

Nhận thức mang nặng tính trực quan, phỏng đoán. Đồng nhất chất hay một số chất với vật chất. Duy vật không triệt để. Chỉ giải thích thế giới mà chưa cải tạo thế giới.

Thế giới quan duy vật cổ đại đánh dấu bước chuyển từ dựa vào thần linh sang dựa vào tự nhiên để giải thích thế giới. Là cơ sở và đã đặt ra nhiều vấn đề để thế giới quan duy vật ở các giai đoạn sau tiếp tục hoàn thiện, phát triển.

– Thế giới quan duy vật siêu hình.

+ Thế giới quan duy vật siêu hình xuất hiện từ thời cổ đại với đặc điểm tuyệt đối hoá mặt vận động, phát triển hay tuyệt đối hoá mặt tĩnh tại, đứng im của sự vật, hiện tượng trong thế giới.

+ Thế giới quan duy vật siêu hình thể hiện rõ nét vào thế kỷ XVII – XVIII. Do sự phát triển của khoa học chuyên ngành còn hạn chế; chỉ coi các định luật cơ học là duy nhất đúng với hoạt động nhận thức; tuyệt đối hoá phương pháp phân tích để tách cái toàn thể thành cái bộ phận để nghiên cứu và chính phương pháp đó đã mang lại những thành tựu to lớn trong những lĩnh vực cụ thể nên hầu hết các nhà triết học tây Âu thời kỳ này chịu ảnh hưởng của phương phán tư duy này. Thế giới quan duy vật siêu hình coi thế giới do vô số những sự vật cụ thể tồn tại cạnh nhau trong không gian trống rỗng, vô tận.

+ Hạn chế và giá trị của thế giới quan duy vật siêu hình.

Tư duy máy móc, không nhận thức được thế giới là kết quả của quá trình phát triển của vật chất trong các mối liên hệ phức tạp, đa dạng và trong trạng thái vận động không ngừng. Chống thế giới quan duy tâm, tôn giáo. Trong những lĩnh vực hẹp, cụ thể thế giới quan duy vật siêu hình góp phần giúp đạt hiệu quả cao.

– Thế giới quan duy vật biện chứng

+ Nguồn gốc của thế giới quan duy vật biện chứng

1. Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Kế thừa tinh hoa các quan điểm duy vật về thế giới trong các học thuyết triết học trước đó. Sử dụng các thành tựu khoa học tự nhiên để chứng minh những mối liên hệ tồn tại trong bản thân giới tự nhiên; chuyển khoa học từ kinh nghiệm sang khoa học lý luận. Tổng kết các sự kiện diễn ra ở các nước tây Âu, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phát triển và bộc lộ những mặt mạnh, mặt hạn chế của nó.

a. Quan điểm duy vật về thế giới

+ Nội dung, bản chất của thế giới quan duy vật biện chứng đem lại bức tranh trung thực về thế giới; giúp định hướng, tạo phương pháp tư duy khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới

II. NỘI DUNG, BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỚI TƯ CÁCH LÀ HẠT NHÂN CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC

Nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng có thể tóm tắt vào tư tưởng cơ bản là chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất; trong thế giới ấy, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quy định ý thức, nhưng ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

– Bản chất của thế giới là vật chất; thế giới thống nhất ở tính vật chất và vật chất là thực tại khách quan, tồn tại độc lập, quy định ý thức và được ý thức phản ánh.

– Thế giới thống nhất ở tính vật chất.

+ Vật chất là thực tại khách quan; tồn tại độc lập với ý thức, quy định ý thức và được ý thức phản ánh. Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Thế giới đó tồn tại khách quan, vĩnh viễn và vô tận.

b. Quan điểm duy vật về xã hội

+ Mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều là những dạng cụ thể, hoặc là các tính chất của vật chất. Thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động.

+ Các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất thống nhất với nhau; vận động và phát triển theo các quy luật khách quan, chuyển hoá lẫn nhau; là nguồn gốc và là nguyên nhân và kết quả của nhau.

+ Ý thức là đặc tính, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người.

Xã hội là tổng hợp những con người hiện thực cùng tất cả các hoạt động, các quan hệ của họ. Sự phát triển của xã hội loài người do sự phát triển của vật chất quy định.

– Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên. Sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên dẫn đến sự ra đời của con người và xã hội loài người. Tính đặc thù của xã hội thể hiện ở chỗ, xã hội vận động, phát triển tuân theo những quy luật tự nhiên nhưng phải thông qua hoạt động có ý thức của con người đang theo đuổi những mục đích nhất định.

– Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội. Xã hội loài người không chỉ sử dụng những thứ đã có sẵn trong tự nhiên, mà còn tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất nhằm tồn tại và phát triển. Lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của sản xuất vật chất.

– Sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử được tiến hành theo phương thức nhất định. Phương thức sản xuất (lĩnh vực sản xuất vật chất của đời sống xã hội) quy định và sự thay đổi phương thức sản xuất dẫn đến sự thay đổi các lĩnh vực khác (lĩnh vực xã hội; lĩnh vực chính trị; lĩnh vực tinh thần) của đời sống xã hội.

– Tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát triển, mọi hoạt động của con người gắn với phương thức sản xuất; điều kiện tự nhiên; môi trường địa lý; dân số và mật độ dân số v.v tạo nên điều kiện sinh hoạt vật chất (tồn tại xã hội). Với tính cách là cái thứ nhất, tồn tại xã hội quy định cái thứ hai, mặt tinh thần của quá trình lịch sử. Ý thức xã hội là hiện tượng tinh thần có cấu trúc gồm các cấp độ khác nhau (ý thức bình thường và ý thức lý luận, hệ tư tưởng và tâm lý xã hội) và các hình thái của ý thức xã hội (chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học và khoa học v.v).

– Sự phát triển của xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên.

+ Mỗi xã hội cụ thể trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể là mỗi hình thái kinh tế – xã hội; mỗi hình thái kinh tế – xã hội gồm ba mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất (tạo nên cơ sở hạ tầng) và kiến trúc thượng tầng.

+ Trong quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất thường phát triển; đến mức độ nhất định, quan hệ sản xuất phải thay đổi cho phù hợp với sự phát triển mới của lực lượng sản xuất; lúc này cơ sở hạ tầng (mặt vật chất, kinh tế) của xã hội sẽ thay đổi theo dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng (mặt tư tưởng, chính trị). Đến đây, tất cả các mặt cơ bản của hình thái kinh tế – xã hội đã thay đổi, hình thái kinh tế – xã hội này đã chuyển sang hình thái kinh tế – xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn.

+ Như vậy, là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên (thế giới vật chất), sự vận động, phát triển của xã hội vừa chịu sự chi phối của của các quy luật chung nhất, vừa chịu sự chi phối của các quy luật của riêng mình mà trước hết và quan trọng nhất là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng. Những quy luật đó làm sự thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế-xã hội là quá trình lịch sử-tự nhiên.

– Quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.

2. Bản chất của thế giới quan duy vật biện chứng

+ Khẳng định sản xuất vật chất là yếu tố quy định sự tồn tại và phát triển của xã hội; phương thức sản xuất quy định dời sống tinh thần và sự phát triển của xã hội loài người là quá trình lịch sử – tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đồng thời đã khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử.

+ Vai trò đó của quần chúng nhân dân thể hiện ở 1) quần chúng nhân dân là lực lượng trực tiếp của sản xuất vật chất. 2) quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. 3) quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra các giá trị văn hoá tinh thần.

+ Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng đánh giá cao vai trò của lãnh tụ trong 1) nắm bắt xu thế của thời đại. 2) định hướng chiến lược, sách lược cho hành động cách mạng. 3) tổ chức, thuyết phục, giáo dục, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng để giải quyết những vấn đề mà thời đại đặt ra.

a. Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn

– Trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất với ý thức, chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối hoá ý thức, khẳng định ý thức sinh ra và quy định vật chất, còn chủ nghĩa duy vật trước Mác tuy khẳng định bản chất thế giới là vật chất, nhưng mắc hai hạn chế cơ bản là duy vật không triệt để (duy vật về tự nhiên, duy tâm về xã hội) và cũng không thấy được sự tác động ngược trở lại của ý thức đối với vật chất. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên, nhưng nguyên nhân cơ bản và chủ yếu là thiếu quan điểm thực tiễn.

b. Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng với việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất với ý thức.

+ Vật chất là cái thứ nhất, ý thức là cái thứ hai; vật chất quy định ý thức. Ý thức không chỉ phản ánh thế giới vật chất, mà còn sáng tạo ra thế giới vật chất; ý thức có tác động ngược lại, trở thành lực lượng vật chất khi thâm nhập vào quần chúng.

+ Thực tiễn, là mắt khâu trung gian trong mối quan hệ giữa ý thức với vật chất. Thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức được vật chất hoá; tư tưởng trở thành hiện thực.

c. Quan niệm duy vật triệt để

– Việc tách rời thế giới quan duy vật với phép biện chứng làm cho các nhà triết học trước Mác không nhận thức được mối liên hệ phổ biến; không nhận thức sự thống nhất và nối tiếp nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất.

– Kế thừa những hạt nhân hợp lý của các học thuyết triết học trước đó; tổng kết những thành tựu của khoa học đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi tính siêu hình; giải thoát phép biện chứng khỏi tính duy tâm, tư biện để sáng lập nên chủ nghĩa duy vật biện chứng- kết quả của sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng.

– Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng đã đem lại quan niệm mới về thế giới- thế giới luôn vận động, biến đổi, chuyển hoá và phát triển không ngừng.

d. Tính thực tiễn – cách mạng

– Hạn chế của các nhà duy vật trước Mác về lịch sử tạo nên tính không triệt để của các học thuyết triết học duy vật trước Mác.

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng khắc phục hạn chế về tính không triệt để của các học thuyết triết học duy vật trước Mác bằng cách khẳng định nguồn gốc vật chất của xã hội (xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên); sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội; phương thức sản xuất quy định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung; tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội; sự phát triển của xã hội là quá trình lịch sử – tự nhiên; quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng v.v.

– Do vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứng là thành tựu vĩ đại của tư tưởng khoa học; là cuộc cách mạng trong quan niệm về xã hội; là công cụ vĩ đại trong nhận thức và cải tạo thế giới.

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản, là công cụ định hướng cho hành động, là vũ khí lý luận tạo bước chuyển biến mới về chất của phong trào công nhân từ trình độ tự phát lên trình độ tự giác.

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới, mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới.

+ Bất kỳ học thuyết triết học nào cũng không trực tiếp làm thay đổi được thế giới, mà phải thông qua tri thức của mình về thế giới, con người hình thành mục đích, phương hướng, biện pháp v.v chỉ đạo hoạt động tác động vào thế giới.

+ Bất kỳ học thuyết triết học nào cũng giải thích thế giới, nhưng để thực hiện vai trò cải tạo thế giới, triết học phải phản ánh đúng thế giới, phải định hướng cho hoạt động của con người hợp quy luật khách quan và phải được quần chúng tin và hành động theo.

+ Sức mạnh cải tạo thế giới của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện trong sự định hướng cho hoạt động của quần chúng được quần chúng hành động theo.

– Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định sự tất thắng của cái mới.

Tôn trọng quy luật khách quan; phát huy tính năng động chủ quan

+ Trong tính hợp lý của cái đang tồn tại đã bao hàm cả quan niệm về sự diệt vong tất yếu của nó. Tính cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện qua sự phản ánh đúng đắn các quy luật chi phối sự vận động và phát triển; qua đó khẳng định tính tất yếu của quá trình xoá bỏ cái lỗi thời, xác lập cái mới cao hơn, tiến bộ hơn.

+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là giáo điều mà là sự định hư��ng cho mọi hoạt động. Là hệ thống mở, nên chủ nghĩa duy vật biện chứng cần được bổ sung, phát triển trên nền tảng của hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức để tạo ra những nguyên tắc phương pháp luận mà sự vận dụng sáng tạo trong những hoàn cảnh cụ thể là yêu cầu số một của những nguyên tắc ấy.

III. NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG NÓ VÀO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

CHƯƠNG VI. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT – PHƯƠNG PHÁP LUẬN NHẬN THỨC KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN TS. Nguyễn Thái Sơn, Đại học Quốc gia Hà Nội

– Mục đích, đường lối, chủ trương đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể. Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng; phải tổ chức lực lượng vật chất để thực hiện nó.

1. Siêu hình và biện chứng; khái quát lịch sử phát triển của biện chứng a. Siêu hình và biện chứng

– Nguyên tắc khách quan đòi hỏi phát huy tính năng động chủ quan, tính sáng tạo của ý thức, của con người. Tôn trọng tri thức khoa học, lý luận phản ánh đúng thế giới khách quan, từ đó tạo khả năng xác định và hình thành được mục đích, phương hướng, biện pháp và ý chí cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người. Chống thái độ thụ động, ỷ lại và bảo thủ, trì trệ; và chú ý vai trò của lợi ích bởi nếu phù hợp sẽ thúc đẩy, ngược lại, sẽ cản trở thậm chí cố tình bóp méo, xuyên tạc chân lý. Chống bệnh chủ quan, duy ý chí, lối nghĩ đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan. Căn bệnh này xuất hiện chủ yếu là do thiếu kiến thức, lý luận hoặc kém, hoặc lạc hậu; ít kinh nghiệm.

Tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan vừa có ý nghĩa phương pháp luận cơ bản, vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc trong hoạt động thực tiễn./.

I. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

– Thuật ngữ siêu hình

+ Nguồn gốc của phép siêu hình. Thuật ngữ Siêu hình có gốc từ tiếng Hy Lạp metaphysique (với nghĩa là những gì theo sau vật lý học). Trong triết học Mác – Lênin, phép siêu hình được dùng theo nghĩa là phương pháp xem xét sự vật, hiện tượng và sự phản ánh chúng tồn tại trong trạng thái biệt lập, nằm ngoài mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và không biến đổi. Phép siêu hình xuất phát từ chỗ, muốn nhận thức được một sự vật, hiện tượng, trước hết phải tách sự vật, hiện tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ của nó khỏi các sự vật, hiện tượng khác và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định.

+ Đặc điểm của phép siêu hình là tính một chiều, tuyệt đối hoá mặt này hay mặt kia, coi thế giới thống nhất là bức tranh không vận động, không phát triển. Các nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung hoà được; có là có, không là không; hoặc tồn tại hoặc không tồn tại; sự vật, hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác nó; cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau.

+ Giá trị, hạn chế của phép siêu hình. Do quan niệm như vậy nên phép siêu hình chỉ có khả năng nghiên cứu cái riêng, nghiên cứu từng lĩnh vực biệt lập; phủ nhận các khâu trung gian, chuyển hoá; do đó kết quả nghiên cứu chỉ đi tới kết luận hoặc là thế này, hoặc là thế kia, phiến diện, không phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; không có khả năng phát hiện cái chung, cái có tính quy luật tác động trong các lĩnh vực mà các môn khoa học độc lập đã nghiên cứu. Từ giữa thế kỷ XVIII, cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên và nhận thức của con người, việc nghiên cứu thế giới từ giai đoạn sưu tầm, phân tích, thu thập tri thức về các sự vật, hiện tượng riêng lẻ, tách rời, không vận động chuyển sang giai đoạn tổng quát, nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của sự vật, hiện tượng thì phép siêu hình không còn đáp ứng được yêu cầu của nhận thức khoa học và bị phép biện chứng phủ định.

b. Khái quát lịch sử phát triển của phép biện chứng

– Thuật ngữ biện chứng

+ Thuật ngữ Biện chứng có gốc từ tiếng Hy Lạp dialektikê (với nghĩa là nghệ thuật đàm thoại, tranh luận); theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý bằng cách phát hiện các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương, bảo vệ lập luận của mình. Trong lịch sử triết học đã tồn tại ba hình thức của phép biện chứng là phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật.

+ Đặc điểm của phép biện chứng duy vật là khẳng định các sự vật, hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau, do đó tư duy biện chứng không chỉ thấy các sự vật, hiện tượng cá biệt, mà còn thấy những các mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại, mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong, không chỉ thấy trạng thái tĩnh, mà còn thấy cả trạng thái động của chúng; không chỉ thấy cây, mà còn thấy cả rừng. Phép biện chứng duy vật mềm dẻo, linh hoạt, thừa nhận trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái hoặc là … hoặc là, còn có cả cái vừa là … vừa là. Do vậy, phép biện chứng duy vật là bước nhảy mới về chất trong lĩnh vực nhận thức; khắc phục được những hạn chế của phép biện chứng cổ đại, đẩy lùi phép siêu hình, cải tạo phép biện chứng duy tâm và trở thành phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

– Phép biện chứng mộc mạc, chất phác thời cổ đại.

+ Phép biện chứng trong triết học Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại.

Trong Đạo Phật những quan niệm duy vật và biện chứng thể hiện trong quan niệm về tính tự thân sinh thành, biến đổi của vạn vật tuân theo tính tất định và phổ biến của luật nhân – quả. Trong triết học Trung Quốc cổ, trung đại, những quan niệm biện chứng được thể hiện trong thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Đạo gia v.v. Các nhà biện chứng Hêraclít, Xôcrát, Platôn, Arixtốt với những tư tưởng vận động, biến đổi của thế giới vật chất đều là những nhà biện chứng bẩm sinh, tự phát tiêu biểu của triết học Hy Lạp cổ đại.

+ Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng cổ đại là tính tự phát, ngây thơ; mới chỉ là những quan điểm biện chứng mang tính suy luận, phỏng đoán trên cơ sở những kinh nghiệm trực giác nên chưa trở thành hệ thống lý luận nhận thức, mà mới chỉ dừng lại ở sự mô tả tính biện chứng của thế giới. Cho dù còn hạn chế, nhưng phép biện chứng cổ đại coi thế giới là một chỉnh thể thống nhất; giữa các bộ phận của thế giới có mối liên hệ qua lại, thâm nhập, tác động và quy định lẫn nhau và đó là cơ sở để phép biện chứng phát triển.

– Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức.

+ Tư tưởng biện chứng cơ bản trong triết học Cantơ, Phíchtơ, Sêlinh.

Ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức là hình thức thứ hai của phép biện chứng.

Trong triết học nhị nguyên của Cantơ, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về sự thống nhất giữa các mặt đối lập, theo đó, sự thống nhất và thâm nhập lẫn nhau của các mặt đối lập (lực hút và lực đẩy) là động lực của sự vận động, phát triển và động lực đó có trước vật chất; vận động tách rời vật chất. Trong triết học duy tâm chủ quan của Phíchtơ, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng cho rằng, mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển. Mâu thuẫn và phát triển chỉ tồn tại trong ý thức, mâu thuẫn thể hiện sự vận động tiến bộ của tư duy trong quá trình nhận thức. Trong triết học duy tâm khách quan của Sêlinh, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và về sự phát triển; tư tưởng về sự thống nhất biện chứng của tự nhiên, về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong tự nhiên.

+ Phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Trong triết học Hêghen, phép biện chứng duy tâm được phát triển đến đỉnh cao với hình thức và nội dung phong phú.

Về hình thức, phép biện chứng của Hêghen đã bao quát cả ba lĩnh vực, bắt đầu từ các phạm trù lôgíc đến lĩnh vực tự nhiên, tinh thần và kết thúc bằng biện chứng của toàn bộ quá trình lịch sử.

Về nội dung, Hêghen chia phép biện chứng thành tồn tại, bản chất và khái niệm. 1) Tồn tại là cái vỏ bên ngoài, trực tiếp, nông nhất mà con người có thể cảm giác và được cụ thể hoá trong các phạm trù chất, lượng và độ. 2) Bản chất là tầng gián tiếp của thế giới, không thể nhận biết được bằng cảm giác, tồn tại trong mâu thuẫn đối lập với chính mình và được thể hiện trong các phạm trù hiện tượng – bản chất, hình thức – nội dung, ngẫu nhiên – tất yếu, khả năng – hiện thức v.v. 3) Còn khái niệm (mà hiện thân của nó là giới hữu cơ, sự sống) là sự thống nhất giữa tồn tại với bản chất, là cái vừa trực tiếp (có thể cảm giác được), vừa gián tiếp (không thể cảm giác được) và được thể hiện trong các phạm trù cái phổ quát, cái đặc thù, cái đơn nhất. Phép biện chứng trong giai đoạn này là sự phát triển; là sự chuyển hoá từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, từ chất này sang chất khác được thực hiện nhờ giải quyết mâu thuẫn. Phát triển được coi là sự tự phát triển của ý niệm tuyệt đối, từ tồn tại đến bản chất, từ bản chất đến khái niệm, trong đó khái niệm vừa là chủ thể, vừa là khách thể, đồng thời là ý niệm tuyệt đối. Hêghen coi phát triển là nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng với phạm trù trung tâm là tha hoá và khẳng định tha hoá được diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trong cả tự nhiên, xã hội và tinh thần.

+ Hạn chế của phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức là nó còn mắc phải hạn chế vì đó là biện chứng của cái phi vật chất, là biện chứng của khái niệm, của tư duy thuần tuý, phản ánh một lực lượng thần bí nào đó ở bên ngoài thế giới vật chất.

+ Cống hiến của phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức là họ đã áp dụng phép biện chứng vào nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và qua đó đã xây dựng được hệ thống phạm trù, quy luật có lôgíc chặt chẽ của nhận thức tinh thần, và trong một ý nghĩa nào đó, là của cả hiện thực vật chất. Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức đã tạo ra bước quá độ chuyển biến về thế giới quan và lập trường từ chủ nghĩa duy vật siêu hình sang thế giới quan khoa học duy vật biện chứng.

Tuy nhiên, với những hạn chế của phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức, khi khoa học tự nhiên phát triển sang giai đoạn tổng quát, nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của sự vật, hiện tượng trên quan điểm duy vật, thì tất yếu nó sẽ bị phủ định và thay thế bằng phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

2. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật a. Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật – Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật

– Phép biện chứng duy vật.

+ Định nghĩa phép biện chứng duy vật. phép biện chứng (…) là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy. Có thể hiểu phép biện chứng duy vật là học thuyết về các quy luật chung nhất của mối liên hệ hình thành, phát triển của tồn tại (tính thứ nhất) với tư duy của con người (tính thứ hai). Lý luận về phương pháp tư duy được xây dựng trên học thuyết đó

+ Đặc điểm và khái quát vai trò của phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp biện chứng; giữa lý luận nhận thức với lôgíc biện chứng. Mỗi nguyên lý của phép biện chứng duy vật đều được xây dựng trên lập trường duy vật; mỗi luận điểm của phép biện chứng duy vật là kết quả của sự nghiên cứu, được rút ra từ giới tự nhiên và trong lịch sử xã hội loài người; mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đều được luận giải trên cơ sở khoa học và được chuẩn bị bằng toàn bộ sự phát triển của tự nhiên học trước đó. Chính vì vậy, phép biện chứng duy vật đã đưa phép biện chứng từ tự phát đến tự giác, tạo ra chức năng phương pháp luận chung nhất, định hướng hoạt động lý luận và thực tiễn, giúp con người đề ra những nguyên tắc tương ứng và là một hình thức tư duy quan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên hiện đại, bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sự loại suy (analogie) và do đó đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong thế giới tự nhiên, giải thích những mối quan hệ chung, những bước quá độ từ một lĩnh vực nghiên cứu này sang một lĩnh vực nghiên cứu khác.

+ Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến là phạm trù triết học dùng để khái quát sự quy định, tác động qua lại, chuyển hoá và tách biệt nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới.

+ Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới, theo đó, các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù đa dạng, khác nhau đến thế nào đi chăng nữa, thì chúng cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất. Ngay cả ý thức của con người cũng chỉ là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao và nội dung của ý thức cũng chỉ là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người.

– Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật.

+ Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến nói lên rằng, các sự vật, hiện tượng hay các mặt, bộ phận trong một sự vật, hiện tượng tồn tại trong mối quan hệ quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau và bản chất của sự vật, hiện tượng thể hiện qua mối liên hệ đó. Do vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát được toàn cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó. Tính vô hạn của thế giới khách quan, tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều mối liên hệ có hình thức, vai trò khác nhau.

+ Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, phong phú. Các tính chất đó của mối liên hệ phổ biến phản ánh tính chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới đa dạng.

+ Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, rút ra nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn (xem nguyên tắc toàn diện ở cuối chương).

b. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

+ Khái niệm sự phát triển. Phát triển là quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng và giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của sự phát triển; phát triển vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt đi theo đường xoáy ốc, dường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển.

+ Tính chất của sự phát triển. Phát triển có tính khách quan; tính phổ biến; tính kế thừa và tính đa dạng, phong phú. Các tính chất đó của sự phát triển phản ánh tính chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới đa dạng.

+ Từ nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật, rút ra nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn (xem nguyên tắc phát triển ở cuối chương).

– Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất.

+ Các phạm trù cái riêng, cái chung và cái đơn nhất.

+ Mối liên hệ giữa các phạm trù cái riêng, cái chung và cái đơn nhất.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ giữa các phạm trù cái riêng, cái chung và cái đơn nhất.

– Nguyên nhân và kết quả.

+ Các phạm trù nguyên nhân và kết quả.

+ Mối liên hệ giữa các phạm trù nguyên nhân và kết quả.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ giữa các phạm trù nguyên nhân và kết quả.

– Tất nhiên và ngẫu nhiên

+ Các phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên.

+ Mối liên hệ giữa các phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ giữa các phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên.

– Nội dung và hình thức

+ Các phạm trù nội dung và hình thức.

+ Mối liên hệ giữa các phạm trù nội dung và hình thức.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ giữa các phạm trù nội dung và hình thức.

– Bản chất và hiện tượng

+ Các phạm trù bản chất và hiện tượng.

+ Mối liên hệ giữa các phạm trù bản chất và hiện tượng.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ giữa các phạm trù bản chất và hiện tượng.

– Khả năng và hiện thực

c. Một số quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

+ Các phạm trù khả năng và hiện thực.

+ Mối liên hệ giữa các phạm trù khả năng và hiện thực.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ giữa các phạm trù khả năng và hiện thực.

Trong phép biện chứng duy vật, quy luật mâu thuẫn chỉ ra nguyên nhân, động lực của sự phát triển; quy luật lượng đổi chất đổi chỉ ra tính chất và cách thức của sự phát triển; quy luật phủ định của phủ định chỉ ra xu hướng, hình thức và kết quả của sự phát triển đó.

– Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại (quy luật lượng đổi – chất đổi)

+ Các khái niệm chất; lượng; độ; điểm nút; bước nhảy.

+ Nội dung quy luật (Mối liên hệ giữa các khái niệm của quy luật).

+ Vị trí, vai trò của quy luật trong phép biện chứng duy vật.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ biện chứng giữa các khái niệm của quy luật.

– Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)

+ Các khái niệm mặt đối lập; thống nhất; đồng nhất; mâu thuẫn biện chứng; đấu tranh giữa các mặt đối lập.

+ Nội dung quy luật (Mối liên hệ giữa các khái niệm của quy luật).

+ Vị trí, vai trò của quy luật trong phép biện chứng duy vật.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ biện chứng giữa các khái niệm của quy luật.

– Quy luật phủ định của phủ định

+ Các khái niệm phủ định siêu hình, phủ định biện chứng; kế thừa biện chứng; vòng xoáy ốc.

+ Nội dung quy luật (Mối liên hệ giữa các khái niệm của quy luật).

1. Phương pháp và phương pháp luận a. Khái niệm phương pháp và các cấp độ phương pháp

+ Vị trí, vai trò của quy luật trong phép biện chứng duy vật.

+ Một số quan điểm và nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ mối liên hệ biện chứng giữa các khái niệm của quy luật.

III. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN. MỘT SỐ NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

– Thuật ngữ Phương pháp có gốc từ tiếng Hy Lạp cổ methodos với nghĩa là con đường nghiên cứu hay con đường nhận thức, lý luận, học thuyết v.v. Nhưng chỉ từ thời Cận đại, khi khoa học thực nghiệm xuất hiện thì khả năng hệ thống phương pháp nhận thức và phương pháp nghiên cứu mới bắt đầu và từ đó, sự phát triển, hoàn thiện phương pháp mới trở thành một bộ phận quan trọng trong sự tiến bộ của khoa học.

– Định nghĩa phương pháp. Phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu nhất định; là cách thức xây dựng và tạo lập cơ sở cho các hệ thống triết học và tri thức khoa học; là tổng số cách tiếp nhận và các hành động chinh phục thế giới hiện thực bằng lý luận hay thực tiễn.

– Nguồn gốc của phương pháp. Cơ sở lý luận trực tiếp của phương pháp là các quy luật khách quan đã được con người nhận thức và diễn đạt bằng lý luận và lý luận đó là hạt nhân, là cốt lõi để từ đó các nguyên tắc tạo nên nội dung của phương pháp được xây dựng.

Trước khi hành động, con người thường phân tích hoàn cảnh; đề ra mục tiêu tương ứng; xác định cách thức và phương tiện để đạt được mục tiêu đó rồi mới tác động lên sự vật, hiện tượng theo hệ thống những nguyên tắc nhất định. Hệ thống những nguyên tắc được hình thành trong quá trình tác động qua lại giữa con người với tự nhiên; chỉ rõ phải hoạt động thế nào để đạt được mục tiêu đó tạo nên phương pháp. Những phương pháp đạt hiệu quả cao nhất được lựa chọn và bảo tồn trong hoạt động thực tiễn và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nhờ ngôn ngữ. Như vậy, phương pháp bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh những quy luật khách quan đã được nhận thức để định hướng các hoạt động có mục đích của con người.

b. Khái niệm phương pháp luận và các cấp độ của phương pháp luận

– Vai trò của phương pháp. Kinh nghiệm cho thấy rằng, sau khi đã xác định được mục tiêu thì phương pháp trở thành yếu tố góp phần quyết định thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu đó. Phương pháp càng đúng đắn thì hiệu quả của hoạt động càng cao và ngược lại. Bêcơn ví phương pháp như ngọn đuốc soi đường cho người đi trong đêm tối. Hêghen ví phương pháp là linh hồn của đối tượng. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đặc biệt coi trọng vai trò của phương pháp, nhất là trong hoạt động cách mạng.

– Các cấp độ của phương pháp. Sự đa dạng của đối tượng dẫn đến sự đa dạng của phương pháp. Các khoa học nghiên cứu những đối tượng khác nhau thì có những phương pháp khác nhau phù hợp với mục tiêu mà khoa học đó nghiên cứu. Các phương pháp, do sự quy định đó và tuỳ thuộc vào các tiêu chí khác nhau, được chia thành các nhóm có quan hệ tác động qua lại với nhau là phương pháp riêng, phương pháp chung, phương pháp phổ biến và phương pháp nhận thức, phương pháp thực tiễn.

– Phương pháp biện chứng duy vật là hệ thống các nguyên tắc được hình thành trên cơ sở các nguyên lý, quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật. Những nguyên tắc này tác động, liên hệ qua lại, bổ sung cho nhau tạo thành công cụ trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. Phương pháp biện chứng duy vật được sử dụng trong mọi ngành khoa học khác nhau, trong mọi lĩnh vực của thực tiễn và có vai trò quyết định trong việc xác định kết quả nghiên cứu và cải tạo sự vật, hiện tượng vì vậy, nó được gọi là phương pháp phổ biến bởi, phép biện chứng duy vật không chỉ đưa ra hướng nghiên cứu chung, đưa ra các nguyên tắc tiếp cận sự vật, hiện tượng nghiên cứu, mà còn là điểm xuất phát dưới góc độ đánh giá thế giới quan đối với những kết quả đạt được. Tuân thủ và thực hiện nhất quán, đồng bộ những nguyên tắc này là đòi hỏi bắt buộc đối với việc nghiên cứu lý luận cũng như đối với thực tiễn.

– Định nghĩa. Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả tối đa.

– Nguồn gốc, vai trò của phương pháp luận. Trong thực tiễn, để đạt được mục đích đề ra con người có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết một công việc nào đó, gọi là sự lựa chọn phương pháp. Sự lựa chọn này phải trải qua một hoặc nhiều quá trình và phương pháp được lựa chọn có thể đúng, có thể sai. Xuất hiện vấn đề xác định được phương pháp đúng, khoa học và phương pháp sai, chưa khoa học, từ đây xuất hiện nhu cầu tri thức đúng về phương pháp và đó cũng là lý do để khoa học về phương pháp, tức là lý luận về phương pháp hay còn gọi là phương pháp luận ra đời. Như vậy, phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là khoa học về phương pháp. Nhiệm vụ của phương pháp luận là giải quyết những vấn đề như phương pháp là gì? Bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp ra sao? Phân loại phương pháp cần dựa vào những tiêu chí gì? Vai trò của phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn? v.v. Điều này chứng tỏ vai trò tiền đề của phương pháp luận, cho phép đánh giá các phương pháp từ góc độ tính chân thực, tính hiệu quả của chúng.

– Các cấp độ của phương pháp luận. Phương pháp luận được phân chia thành các cấp độ khác nhau gồm phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất (phương pháp luận triết học). Các hình thức phương pháp luận trên hợp thành một hệ thống khoa học về phương pháp chỉ đạo nhằm xác định các phương pháp cụ thể một cách đúng đắn. Bởi các hình thức phương pháp luận vừa độc lập tương đối với nhau, vừa bổ sung, xâm nhập vào nhau, do đó, phải biết vận dụng tổng hợp các hình thức phương pháp luận trong các hoạt động.

2. Một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật a. Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn

– Phương pháp luận biện chứng duy vật là hệ thống các nguyên tắc, các phương pháp tổ chức và xây dựng hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn, đồng thời cũng chính là học thuyết về hệ thống đó; là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và của các khoa học chuyên ngành. Phương pháp luận biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất, là sự thống nhất biện chứng giữa các phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận chung đã được cụ thể hoá trong các lĩnh vực của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

– Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và về vai trò, vị trí của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất. Mỗi luận điểm của triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp. Những chức năng nói trên của triết học tạo ra khả năng cải tạo thế giới của triết học, trở thành công cụ hữu hiệu trong hoạt động chinh phục tự nhiên và trong sự nghiệp giải phóng con người của các lực lượng tiến bộ.

Phương pháp và phương pháp luận vừa độc lập vừa thống nhất với nhau. Phương pháp là cách thức hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cụ thể của con người còn phương pháp luận là những quan điểm, nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp một cách đúng đắn; phương pháp luận, tuy nghiên cứu về phương pháp, nhưng không nhằm mục đích xác định phương pháp cụ thể mà chỉ nhằm rút ra những quan điểm, những nguyên tắc chung cho việc xác định và áp dụng phương pháp. Như vậy, phương pháp luận- thuần tuý lý luận còn phương pháp gồm cả lý luận và thực tiễn. Bởi vậy, không nên nhầm phương pháp với phương pháp luận và cũng phải coi phương pháp thống nhất với phương pháp luận ở chỗ phương pháp luận là cơ sở để nghiên cứu các phương pháp cụ thể, còn phương pháp cụ thể phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận.

– Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, theo đó, các sự vật, hiện tượng tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau và tách biệt nhau.

– Nội dung của nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn.

+ Nguyên tắc toàn diện phản ánh mối liên hệ chỉnh thể, tức nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó, nghiên cứu mối tổng hoà những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với các sự vật khác.

+ Nguyên tắc toàn diện trong sự đối lập với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện, phản ánh mối liên hệ chủ yếu để rút ra những mặt, những mối liên hệ tất yếu của sự vật, hiện tượng đó; nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ nhất sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của các khách thể nhận thức.

b. Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn

+ Nguyên tắc toàn diện xem xét mối liên hệ gắn với nhu cầu thực tiễn; không viển vông, ảo tưởng bởi mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng, trong mỗi hoàn cảnh, chỉ phản ánh được mối liên hệ nào đó phù hợp với nhu cầu của con người nên nhận thức về sự vật, hiện tượng cũng mang tính tương đối, không đầy đủ, không trọn vẹn. Nắm được điều đó, sẽ tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có, xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối mà không bổ sung, không phát triển. Chỉ có như vậy mới thấy được vai trò của các mặt trong từng giai đoạn cũng như của toàn bộ quá trình vận động, phát triển của từng mối quan hệ cụ thể của sự vật, hiện tượng.

+ Nguyên tắc toàn diện xem xét mối liên hệ đồng bộ; không cục bộ, phiến diện; nghĩa là trong thực tiễn, phải áp dụng đồng bộ một hệ thống các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động làm thay đổi các mặt, các mối liên hệ tương ứng của sự vật, hiện tượng. Song trong từng bước, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu trọng tâm, then chốt để tập trung lực lượng giải quyết, tránh dàn trải.

+ Nguyên tắc toàn diện dự báo được khả năng vận động, phát triển; tránh trì trệ, bảo thủ.

– Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật. Theo đó, phát triển là một phạm trù dùng để khái quát quá trình vận động đi lên; là một hình thức của vận động và trong sự phát triển, sẽ nảy sinh những tính quy định mới, cao hơn về chất, nhờ đó làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật, hiện tượng cùng chức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn.

– Nội dung của nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn.

c. Nguyên tắc lịch sử – cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

+ Nguyên tắc phát triển yêu cầu, khi xem xét sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong trạng thái vận động, biến đổi, chuyển hoá để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng trong trạng thái hiện tại, mà còn phải thấy được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai. Cần chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn, còn động lực của sự phát triển là đấu tranh giữa các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng đó.

+ Nguyên tắc phát triển yêu cầu, phải nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Mỗi giai đoạn phát triển lại có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau; bởi vậy, phải phân tích cụ thể để tìm ra những hình thức hoạt động, phương pháp tác động phù hợp để hoặc, thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển đó.

– Cơ sở lý luận của nguyên tắc lịch sử – cụ thể là toàn bộ nội dung phép biện chứng duy vật và nguyên tắc chân lý là cụ thể của lý luận nhận thức duy vật biện chứng.

– Bản chất của nguyên tắc này nằm ở chỗ, trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng, trong sự vận động, trong sự chuyển hoá qua lại của nó, phải tái tạo lại được sự phát triển của sự vật, hiện tượng ấy, sự vận động của chính nó, đời sống của chính nó. Đặc trưng cơ bản của nguyên tắc này là xem xét sự hình thành, tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng trong lịch sử, trong điều kiện, môi trường, hoàn cảnh v.v cụ thể.

– Nội dung của nguyên tắc lịch sử – cụ thể trong nhận thức và thực tiễn được V.I.Lênin nêu rõ là phải xem xét mỗi vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xét xem hiện nay nó đã trở thành như thế nào. Như vậy, nguyên tắc lịch sử – cụ thể tái tạo lại sự vật, hiện tượng thông qua lăng kính của những ngẫu nhiên, những bước quanh co, những gián đoạn theo tình tự không gian và thời gian, theo trình tự của sự hình thành sự vật, hiện tượng; nhờ đó mà có thể phản ánh được sự vận động đa dạng và nhiều vẻ của các hình thức biểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng để qua đó, nhận thức được bản chất của nó.

+ Nguyên tắc lịch sử – cụ thể yêu cầu phải nhận thức được vận động có tính phổ biến, là phương thức tồn tại của vật chất; nghĩa là phải nhận thức được rằng, vận động làm cho sự vật, hiện tượng xuất hiện, phát triển theo những quy luật nhất định và hình thức của vận động quyết định bản chất của nó.

d. Mối liên hệ giữa các nguyên tắc phương pháp luận trên

+ Nguyên tắc lịch sử – cụ thể yêu cầu phải chỉ rõ được những giai đoạn mà nó đã trải qua trong quá trình phát triển của mình; phải biết phân tích mỗi tình hình cụ thể trong nhận thức và thực tiễn, để nhận thức và giải thích được những thuộc tính, những mối liên hệ tất yếu đặc trưng, những chất và lượng vốn có của sự vật, hiện tượng.

+ Nguyên tắc lịch sử – cụ thể còn yêu cầu chỉ ra được mối liên hệ khách quan; chỉ ra được các quy luật khách quan quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, quy định sự tồn tại hiện thời và khả năng chuyển hoá thành sự vật, hiện tượng mới thông qua sự phủ định; chỉ ra được rằng, thông qua phủ định của phủ định, sự vật, hiện tượng phủ định là sự kế tục sự vật, hiện tượng bị phủ định, là sự bảo tồn sự vật, hiện tượng bị phủ định trong dạng đã được cải tạo cho phù hợp với sự vật, hiện tượng phủ định.

+ Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn luôn quán triệt nguyên tắc lịch sử – cụ thể để nhận thức sự vật, hiện tượng với đầy đủ các mối liên hệ trong sự tồn tại khách quan vốn có của nó, để nhận thức được vị trí, vai trò của từng mối liên hệ quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

CHƯƠNG VII. NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TS. Lê Văn Lực, Đại học Quốc gia Hà Nội

– Sự thống nhất giữa các nguyên tắc phương pháp luận trên.

1. Phạm trù thực tiễn

– Sự khác nhau giữa các nguyên tắc phương pháp luận trên.

– Vận dụng đồng bộ các nguyên tắc phương pháp luận vào nhận thức và thực tiễn./.

I. PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ PHẠM TRÙ LÝ LUẬN

– Vấn đề thực tiễn trong triết học trước Mác.

+ Đa số các nhà triết học duy vật trước Mác chưa có quan điểm đúng đắn về thực tiễn, chưa đặt ra vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, mà chỉ nêu vai trò của thực nghiệm khoa học, do vậy chưa thấy vai trò của thực tiễn đối với nhận thức nói chung, với lý luận nói riêng. Đó là những nguyên nhân chủ yếu lý giải chủ nghĩa duy vật trước Mác đã không làm sáng tỏ được vai trò năng động, sáng tạo và tính tích cực của tư duy con người. Bêcơn là nhà triết học đầu tiên nhận thấy vai trò của thực nghiệm trong quá trình nhận thức, hình thành tri thức khoa học; theo đó nhận thức phải xuất phát từ giới tự nhiên và thực nghiệm để tìm ra mối quan hệ nhân – quả, phát hiện và kiểm tra chân lý. Phoiơbắc coi thực tiễn là hoạt động của con người, nhưng chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người. Khuyết điểm chủ yếu của các nhà triết học duy vật trước Mác trong vấn đề thực tiễn là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức trong hình thức khách thể hay hình thức trực quan chứ không được coi là hoạt động cảm giác của con người, của thực tiễn. Tuy vậy, quan điểm về vai trò của thực nghiệm khoa học trong quá trình nhận thức, trong sự hình thành tri thức khoa học vẫn là một trong những tiền đề cho quan niệm về thực tiễn trong triết học Mác.

+ Các nhà triết học duy tâm, tuy thấy được mặt năng động của tư duy, nhưng lại tuyệt đối hoá vai trò của nó, làm cho tư duy trở nên thần bí. Hêghen cho rằng, bằng thực tiễn, chủ thể tự nhân đôi mình, đối tượng hoá bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài và tuy đó không phải là hoạt động vật chất của con người mà của ý niệm tuyệt đối nhưng vẫn là ý tưởng sâu sắc về thực tiễn.

– Phạm trù thực tiễn trong triết học Mác – Lênin.

2. Phạm trù lý luận

+ Định nghĩa. Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình.

+ Tính chất của thực tiễn. Thực tiễn là hoạt động vật chất, có tính lịch sử – cụ thể; có tính xã hội; có tính tất yếu; phong phú và đa dạng.

+ Các hình thức thực tiễn cơ bản. Để hiểu được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức nói chung, lý luận nói riêng, cần phải thấy thực tiễn là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới xung quanh, là phương thức tồn tại của con người và xã hội loài người. Các hình thức thực tiễn cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học và một số lĩnh vực của thực tiễn như hoạt động giáo dục, nghệ thuật, y tế v.v, trong đó hoạt động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản, quy định các hình thức và lĩnh vực còn lại.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, con người tự làm ra lịch sử của mình bằng hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới hiện thực chứ không phải bắt đầu từ những lý luận nào đó. Đó cũng là cách hiểu về vai trò của hoạt động thực tiễn như là điểm xuất phát của quan niệm duy vật về lịch sử, của lý luận duy vật biện chứng về nhận thức.

– Định nghĩa. Lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng; là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử.

– Nguồn gốc của lý luận. Lý luận hình thành nhờ quá trình nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận do các thế hệ trước để lại.

+ Nhận thức kinh nghiệm được hình thành nhờ quá trình quan sát những diễn biến xẩy ra của các sự vật, hiện tượng. Nhận thức kinh nghiệm gồm tri thức kinh nghiệm thông thường, là tri thức có được nhờ hoạt động hàng ngày giúp con người giải quyết những vấn đề đơn giản, cụ thể; còn tri thức kinh nghiệm khoa học là tri thức thu được nhờ tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức thu được trong quá trình thực nghiệm khoa học, loại tri thức này là tiên đề trực tiếp để hình thành lý luận khoa học.

+ Nhận thức lý luận được hình thành nhờ tri thức kinh nghiệm khoa học và lý luận do các thế hệ trước để lại.

– Các cấp độ lý luận. Lý luận ngành và lý luận triết học.

+ Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một ngành; có vai trò là cơ sở lý luận để sáng tạo, đông thời là phương pháp luận của ngành đó (lý luận văn học, nghệ thuật v.v).

+ Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới, về vị trí và vai trò của con người trong thế giới ấy, đồng thời là thế giới quan và phương pháp luận của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

– Các chức năng cơ bản của lý luận. Chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chức năng phương pháp luận cho hoạt động thực tiễn.

1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

+ Chức năng phản ánh hiện thực khách quan của lý luận thể hiện qua những quy luật chung nhất.

+ Chức năng phương pháp luận cho hoạt động thực tiễn (xem phương pháp luận).

II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN

– Thực tiễn là cơ sở của lý luận.

+ Thực tiễn là cơ sở của nhận thức là do nhu cầu của hoạt động thực tiễn buộc con người phải nhận thức thế giới.

+ Thực tiễn là cơ sở của nhận thức là vì nhờ hoạt động thực tiễn, các giác quan và bộ não của con người không ngừng được hoàn thiện và phát triển, tạo ra năng lực tư duy trừu tượng ngày càng cao.

+ Thực tiễn là cơ sở của nhận thức là vì nhờ thông qua lao động, thực tiễn trang bị cho con người công cụ, phương tiện nhận thức ngày càng tinh vi hơn, giúp con người đẩy nhanh quá trình tìm hiểu bản chất sự vật, hiện tượng, mở rộng tầm bao quát những quá trình đang diễn ra trong thế giới.

– Thực tiễn là động lực của lý luận.

+ Hoạt đ��ng thực tiễn là nguồn gốc để con người hoàn thiện mình và hoàn thiện các mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội.

+ Hoạt động thực tiễn tạo cơ sở để con người khái quát tri thức thành lý luận, làm lý luận phản ánh hiện thực ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn.

+ Nhờ vậy, thực tiễn thúc đẩy sự hình thành khoa học lý luận.

– Thực tiễn là mục đích của lý luận.

Mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của con người và mục đích đó chỉ được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn tạo vai trò đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của lý luận.

2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn

– Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận.

+ Tính chân lý của lý luận là sự phản ánh phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan mà nó phản ánh và đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Giá trị của lý luận phải được thực tiễn chứng minh.

+ Không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của lý luận, bởi thực tiễn cũng vận động, phát triển và chuyển hoá. Nếu lý luận chỉ phản ánh một trong những giai đoạn nào đó của thực tiễn, thì lý luận chỉ mới chỉ là tương đối; chỉ có những lý luận nào phản ánh được thực tiễn trong tính toàn vẹn của nó mới đạt đến chân lý.

– Lý luận có khả năng soi đường cho thực tiễn bằng các chức năng định hướng mục đích; xác định lực lượng, phương pháp và biện pháp thực hiện mục đích.

+ Lý luận định hướng mục đích. Ban đầu, hoạt động chỉ để đáp ứng nhu cầu tồn tại và thông qua đó, khái quát thành lý luận; về sau hoạt động muốn có hiệu quả cần có lý luận soi đường, hoạt động từ bản năng chuyển sang tự giác.

+ Lý luận có khả năng xác định lực lượng, phương pháp và biện pháp thực hiện mục đích.

– Lý luận dự báo khả năng phát triển, những khả năng có thể xẩy ra trong quá trình hoạt động, bởi vậy lý luận không những giúp hoạt động hiệu quả, mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng cường năng lực hoạt động của con người.

1. Lý luận phải luôn bám sát thực tiễn; phản ánh được yêu cầu của thực tiễn; khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn

– Lý luận có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng; liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo ra sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, xã hội.

– Lý luận phải trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn và tiếp tục bổ sung, phát triển trong thực tiễn; chống lý luận suông và sự lạc hậu của lý luận so với thực tiễn.

2. Hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo; khi vận dụng lý luận phải phù hợp với điều kiện lịch sử – cụ thể

III. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

– Thực tiễn luôn vận động, phát triển và biến đổi nên nhận thức phải bám sát để phản ánh quá trình đó; so sánh, đối chiếu, phân tích để chọn lọc những thực tiễn có tính quy luật làm cơ sở cho quá trình hình thành lý luận.

3. Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều

– Lý luận phải khái quát được kinh nghiệm của nhân loại; tổng kết được thực tiễn mới có tính khoa học và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

– Lý luận là sự tổng kết thực tiễn và là mục đích cho hoạt động thực tiễn tiếp theo.

– Lý luận phản ánh thực tiễn trong dạng quy luật nên lý luận có khả năng trở thành phương pháp luận cho thực tiễn.

1. Những tiền đề xuất phát để xây dựng lý luận hình thái kinh tế – xã hội

– Bệnh kinh nghiệm, nguyên nhân và con đường khắc phục. Bệnh kinh nghiệm xuất hiện do tuyệt đối hoá những kinh nghiệm đã có và áp dụng chúng vào hiện tại mặc đù điều kiện đã thay đổi. Muốn khắc phục bệnh này, cần quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, luôn bám sát thực tiễn, nâng cao trình độ lý luận; bổ sung, vận dụng lý luận phù hợp với thực tiễn.

– Bệnh giáo điều, nguyên nhân và con đường khắc phục. Bệnh giáo điều xuất hiện do nắm lý luận còn nông cạn, tuyệt đối hoá lý luận, vận dụng máy móc những kiến thức đã có trong sách vở mà coi nhẹ kinh nghiệm. Muốn khắc phục bệnh này, cần quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, luôn gắn lý luận với thực tiễn, kiểm tra lý luận trong thực tiễn và phát triển lý luận cùng với sự phát triển của thực tiễn./.

I. LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA LÝ LUẬN ĐÓ

– Quan điểm duy tâm về lĩnh vực xã hội.

+ Xuất phát từ ý thức, tư tưởng, tôn giáo, chính trị để giải thích đời sống xã hội.

+ Quan hệ thống trị là quan hệ tôn giáo, pháp luật, chính trị.

2. Cấu trúc xã hội, phạm trù hình thái kinh tế – xã hội

– Tiền đề xuất phát để xây dựng quan điểm duy vật về xã hội.

+ Phê phán quan điểm duy tâm về lĩnh vực xã hội.

+ Xuất phát từ đời sống hiện thực của con người, bắt đầu từ sự khẳng định sản xuất vật chất với hai mặt là quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, C.Mác đã phát hiện ra cơ sở vật chất, kinh tế quy định tư tưởng, chính trị và điều kiện sinh hoạt vật chất quy định ý thức của con người; khẳng định sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo quy luật khách quan, nhưng cũng nêu cao vai trò của nhân tố chủ quan. Từ đó, C.Mác đưa ra khái quát khoa học về lý luận hình thái kinh tế – xã hội.

– Cấu trúc xã hội gồm các lĩnh vực kinh tế; lĩnh vực chính trị; lĩnh vực ý thức, tư tưởng; lĩnh vực các quan hệ xã hội về gia đình, giai cấp, dân tộc; các lĩnh vực đó thống nhất biện chứng với nhau, trong đó lĩnh vực kinh tế quy định các lĩnh vực còn lại.

– Phạm trù hình thái kinh tế – xã hội.

+ Định nghĩa phạm trù hình thái kinh tế – xã hội. Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.

+ Các thành phần của hình thái kinh tế – xã hội. Là hệ thống hoàn chỉnh, phức tạp, hình thái kinh tế – xã hội gồm các mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế – xã hội vừa tồn tại độc lập, vừa tác động qua lại, vừa thống nhất với nhau.

– Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất – kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế – xã hội. Sự phát triển của lực lượng sản xuất quy định sự hình thành, tồn tại và chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế – xã hội, từ hình thái thấp, ít tiến bộ lên hình thái cao hơn, tiến bộ hơn.

3. Phép biện chứng về sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội

– Quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quy định mọi quan hệ xã hội khác, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội. Quan hệ sản xuất còn là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.

– Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển trên cơ sở hạ tầng và là công cụ bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.

– Ngoài lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, hình thái kinh tế – xã hội còn bao gồm các yếu tố như quan hệ gia đình, giai cấp, dân tộc v.v. Chúng gắn bó với quan hệ sản xuất và cùng biến đổi với sự biến đổi của quan hệ sản xuất.

– Biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.

Sự liên hệ, tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất (cái thứ hai) với lực lượng sản xuất (cái thứ nhất) tạo nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

+ Các khái niệm.

1) Phương thức sản xuất. Sản xuất vật chất được tiến hành trong điều kiện tự nhiên, môi trường địa lý; dân số, mật độ dân số và phương thức sản xuất vật chất. Trong các yếu tố đó, phương thức sản xuất là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện để sản xuất vật chất, là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất ở những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người. Mỗi phương thức sản xuất thể hiện sự thống nhất cụ thể giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng. Trong lịch sử xã hội loài người đã tồn tại hình thái kinh tế-xã hội nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản và cộng sản. Chúng là những nấc thang chính trong sự phát triển của xã hội loài người.

2) Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất – kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế – xã hội; là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất, thể hiện năng lực thực tế chinh phục giới tự nhiên bằng sức mạnh tổng hợp của con người trong quá trình đó. Sự phát triển của lực lượng sản xuất quy định sự hình thành, tồn tại và chuyển hoá giữa các hình thái kinh tế-xã hội, từ hình thái thấp, ít tiến bộ lên hình thái tiến bộ hơn. Các yếu tố của lực lượng sản xuất là tư liệu sản xuất, người lao động và khoa học.

3) Quan hệ sản xuất là quan hệ vật chất, kinh tế cơ bản nhất của hình thái kinh tế – xã hội, quy định mọi quan hệ xã hội khác và mỗi kiểu quan hệ sản xuất tiêu biểu cho bản chất kinh tế của mỗi hình thái kinh tế -xã hội nhất định, thể hiện mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất; phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội. Tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ, nó tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người. Tuy vậy, trong quy luật này, quan hệ sản xuất mang tính thứ hai, do lực lượng sản xuất quy định.

+ Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.

1) Lực lượng sản xuất quy định quan hệ sản xuất. Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động mới nhằm đạt năng suất, hiệu quả cao hơn; kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, tri thức khoa học cũng tiến bộ và phát triển hơn. Nhưng trong quá trình đó, quan hệ sản xuất thường chậm phát triển hơn nên sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuấtkhông là vĩnh viễn trong sự vận động, phát triển của xã hội. Khi phát triển tới trình độ mới, tình trạng phù hợp trên sẽ bị phá vỡ, xuất hiện mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất cũ với trình độ mới của lực lượng sản xuất và khi đến trình độ nào đó, quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất, níu kéo sự phát triển tiếp theo của lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng.

Mâu thuẫn biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính quy luật và thể hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người. Vì vậy, việc giải quyết mâu thuẫn đó còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan. Con người phát hiện những yếu tố không phù hợp của quan hệ sản xuất; phủ định chúng và thay thế bằng những yếu tố phù hợp; đem lại sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển c���a lực lượng sản xuất. Nhưng rồi sự phù hợp đó không chống lại được sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất lên trình độ mới tiếp theo dẫn đến sự phát triển biện chứng của sản xuất vật chất tuân theo chuỗi xích phù hợp, không phù hợp.

2) Quan hệ sản xuất tồn tại độc lập tương đối và tác động ngược trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ tạo địa bàn, mở đường và trở thành động lực cơ bản thúc đẩy và ngược lại, sẽ trở thành xiềng xích trói buộc, kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất quy định mục đích sản xuất; tác động lên thái độ người lao động; lên tổ chức phân công lao động xã hội; lên khuynh hướng phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ để từ đó hình thành một hệ thống những yếu tố hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất bao giờ cũng thông qua các quy luật kinh tế xã hội, đặc biệt là các quy luật kinh tế c�� bản. Thực tiễn cho thấy, lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có quan hệ sản xuất hợp lý, đồng bộ, phù hợp với nó.

– Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng.

Mỗi xã hội cụ thể đều có một kiểu quan hệ vật chất, kinh tế nhất định và phù hợp với nó là quan hệ tư tưởng, chính trị v.v. Những quan hệ này được thể hiện qua những tổ chức xã hội tương ứng (nhà nước, đảng phái chính trị, toà án, giáo hội và các tổ chức xã hội khác). Mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa quan hệ vật chất, kinh tế (cái thứ nhất) với quan hệ tư tưởng, tinh thần (cái thứ hai) được chủ nghĩa duy vật biện chứng phản ánh trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng.

+ Các khái niệm.

* Cơ sở hạ tầng (hạ tầng các mối quan hệ vật chất, kinh tế) dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất tạo nên cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định. Các thành phần cơ bản của một cơ sở hạ tầng cụ thể gồm quan hệ sản xuất thống trị trong phương thức sản xuất; quan hệ sản xuất tàn dư của phương thức sản xuất trước đó; quan hệ sản xuất mầm mống của phương thức sản xuất tương lai và những kiểu quan hệ kinh tế khác, trong đó quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế và các kiểu quan hệ sản xuất khác và quy định tính chất của cơ sở hạ tầng. Sự đối kháng giai cấp và tính chất của sự đối kháng đó bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng.

* Kiến trúc thượng tầng (thượng tầng các mối quan hệ tư tưởng, chính trị) là toàn bộ những quan điểm xã hội (chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học v.v) với những thiết chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội v.v) và những mối quan hệ nội tại giữa các yếu tố đó của kiến trúc thượng tầng. Các thành phần cơ bản của một kiến trúc thượng tầng cụ thểgồm những quan điểm xã hội và thiết chế tương ứng của giai cấp thống trị; tàn dư những quan điểm xã hội của xã hội trước; quan điểm và tổ chức xã hội của các giai cấp mới ra đời; quan điểm và tổ chức xã hội của các tầng lớp trung gian. Trong đó, những quan điểm xã hội và thiết chế tương ứng của giai cấp thống trị quy định tính chất kiến trúc thượng tầng. Bộ phận có quyền lực mạnh nhất của kiến trúc thượng tầng là nhà nước- công cụ vật chất của giai cấp thống trị về mặt kinh tế, chính trị và pháp luật. Nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được xã hội. Giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế và nắm chính quyền nhà nước thì tư tưởng và các thể chế giai cấp đó cũng giữ địa vị thống trị trong xã hội.

+ Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.

* Cơ sở hạ tầng quy định kiến trúc thượng tầng thông qua 1) Tính chất của kiến trúc thượng tầng do tính chất của cơ sở hạ tầng quy định. 2) Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng sẽ dẫn đến những biến đổi trong kiến trúc thượng tầng. 3) Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng thể hiện phong phú và phức tạp.

* Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng thông qua 1) Trong mỗi kiến trúc thượng tầng còn kế thừa một số yếu tố của kiến trúc thượng tầng trước. 2) Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố vật chất có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ tầng. 3) Các yếu tố tinh thần của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật tác động trực tiếp, còn triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học v.v tác động gián tiếp đối với cơ sở hạ tầng, bị các yếu tố chính trị, pháp luật chi phối. 4) Sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ. Trong đó, nhà nước, dựa trên hệ tư tưởng để kiểm soát xã hội và dùng bạo lực để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị. 5) Tác dụng những tác động của kiến trúc thượng tầng lên cơ sở hạ tầng sẽ là tích cực khi tác động đó cùng chiều với sự vận động của các quy luật kinh tế khách quan, nếu trái lại, sẽ gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất, cản đường phát triển của xã hội. Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh, nhưng không thể thay thế được yếu tố vật chất, kinh tế. Nếu kiến trúc thượng tầng kìm hãm sự phát triển của kinh tế – xã hội, sớm hay muộn, bằng cách này hay cách khác, kiến trúc thượng tầng đó sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới, thúc đẩy kinh tế – xã hội tiếp tục phát triển.

– Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên.

4. Tính khoa học và vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế-xã hội

+ Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội vừa tuân theo quy luật khách quan phổ biến, vừa chịu sự chi phối của các quy luật riêng, đặc thù.

+ Nguồn gốc sâu xa của sự thay thế nhau theo khuynh hướng phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là do sự phát triển của lực lượng sản xuất.

+ Quá trình thay thế nhau của các hình thái kinh tế – xã hội vừa diễn ra tuần tự, vừa bao hàm cả sự bỏ qua một vài hình thái kinh tế – xã hội nào đó.

– Tính khoa học của lý luận hình thái kinh tế – xã hội.

– Vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế – xã hội.

+ Đời sống xã hội phải được giải thích từ sản xuất, từ phương thức sản xuất.

+ Xã hội là một tổ chức sống; các yếu tố của nó thống nhất, tác động lẫn nhau.

1. Dự báo của C.Mác và V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội

+ Sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên.

+ Quy luật phát triển chung của xã hội loài người và quy luật riêng, đặc thù của mỗi dân tộc.

II. NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

– C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo về sự ra đời của hình thái cộng sản chủ nghĩa.

+ Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí và giai cấp vô sản cách mạng- những yếu tố xoá bỏ chủ nghĩa tư bản để xây dựng xã hội mới.

+ Để đi đến xã hội cộng sản, phải trải qua cách mạng vô sản; cuộc cách mạng đó sẽ đồng thời xẩy ra ở trong các nước tư bản phát triển (Anh, Mỹ, Pháp, Đức).

– V.I.Lênin kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác trong việc phân tích xã hội tư bản và dự báo về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

+ Quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, nên chủ nghĩa xã hội có thể thắng lợi, trước hết trong một số ít nước, thậm chí trong một nước tư bản.

2. Chủ nghĩa xã hội theo mô hình kế hoạch hoá tập trung và vai trò lịch sử của nó

+ Hai con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

* Quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước tư bản phát triển.

* Quá độ gián tiếp thông qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ đối với các nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển.

– Đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội theo mô hình hoá kế hoạch hoá tập trung.

+ Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chủ yếu trong hình thức toàn dân và tập thể.

+ Nhà nước quyết định và quyết định có tính pháp lệnh về sản xuất gì, như thế nào, phân phối cho ai những sản phẩm đó.

+ Phân phối bình quân, trực tiếp bằng hiện vật; coi nhẹ quan hệ hàng hoá – tiền tệ.

+ Nhà nước quản lý bằng mệnh lệnh hành chính; coi nhẹ các biện pháp kinh tế.

3. Những biến đổi của thời đại và vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội

– Vai trò lịch sử của mô hình kế hoạch hoá tập trung.

+ Vai trò tích cực. Trong điều kiện bị bao vây, cô lập, mô hình kế hoạch hoá tập trung có vai trò tích cực trong việc huy động sức người, sức của vào sự nghiệp xây dựng đất nước và chống lại sự tấn công của kẻ thù.

4. Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam a. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

+ Hạn chế. Không khai thác được năng lực sản xuất; không phát huy được sự nhiệt tình và tính chủ động sáng tạo của sản xuất; không đẩy nhanh được sự tiến bộ của khoa học, công nghệ v.v. Đẻ ra bộ máy hành chính quan liêu, chủ quan duy ý chí.

– Chủ nghĩa xã hội theo mô hình kế hoạch hoá tập trung sụp đổ; chủ nghĩa tư bản đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, khoa học và công nghệ.

– Nhận thức lại về chủ nghĩa xã hội không tách rời với nhận thức về sự phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản cùng với những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ.

b. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

– Vận dụng sáng tạo lý luận hình thái kinh tế – xã hội vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.

+ Lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu hướng của thời đại. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, mặc dù có những vấp váp, nhưng đã đem lại nhiều thành tựu về mọi mặt.

+ Bỏ qua tư bản chủ nghĩa, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ.

c. Kết hợp giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

– Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

– Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt.

d. Kết hợp giữa kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội

– Công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn có ý nghĩa chống lại nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới.

– Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối.

CHƯƠNG IX. GIAI CẤP, DÂN TỘC, NHÂN LOẠI TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY VÀ VẬN DỤNG VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TS. Dương Văn Thịnh, Đại học Quốc gia Hà Nội

– Xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

1. Khái quát các quan điểm ngoài mácxít về giai cấp và đấu tranh giai cấp a. Quan điểm của các nhà tư tưởng trước Mác về giai cấp, đấu tranh giai cấp

– Mối liên hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay.

– Mối liên hệ giữa đổi mới kinh tế, chính trị với đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội./.

I. GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP

b. Quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp của các nhà tư tưởng tư sản hiện đại

– Quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong triết học phương Đông: Trung Quốc và Ấn Độ cổ, trung đại.

– Quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong triết học phương Tây: Hy Lạp cổ đại.

– Quan điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp của các nhà tư tưởng tư sản Trung cổ và Cận đại: Morơ (1478 – 1535, Anh), Campanenla (1568 – 1639, Italia), Rútxô (1712 – 1778, Pháp), Ximông (1760 – 1825, Pháp), trong đó các nhà lịch sử Pháp như Ghidô (1778 – 1874), Chiery (1795 – 1856), Minhe (1796 – 1884) là những người phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp.

2. Quan điểm mácxít về giai cấp và đấu tranh giai cấp a. Quan điểm khoa học về giai cấp

– Giai cấp không phải là hiện tượng phổ biến; đấu tranh giai cấp không phải là quy luật chung cho mọi xã hội.

– Giai cấp xuất hiện từ cơ sở sinh học; trạng thái tâm lý, khả năng trí tuệ, nghề nghiệp; thu nhập.

– Trong phong trào cộng sản quốc tế cũng có những quan niệm sai trái như thừa nhận cơ sở kinh tế của giai cấp nhưng giải quyết mâu thuẫn giai cấp bằng đấu tranh kinh tế (Cauxki và Bécxtanh ở Đức trước đây); quan niệm về đấu tranh giai cấp cực đoan, phiêu lưu, mạo hiểm, dễ bị tổn thất lớn v.v.

– Giai cấp là một phạm trù kinh tế – xã hội có tính lịch sử; biến đổi cùng với sự biến đổi của lịch sử. C.Mác là người đầu tiên đưa ra phương pháp luận nghiên cứu giai cấp, theo đó, 1) sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất. 2) đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến chuyên chính vô sản. 3) bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu tất cả mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp. Như vậy, sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển cụ thể của lịch sử, với mỗi phương thức sản xuất cụ thể.

– Năm 1883, trong Lời tựa viết cho bản tiếng Đức tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Ph.Ăngghen viết “do đó (từ khi chế độ công hữu ruông đất nguyên thuỷ tan rã) toàn bộ lịch sử là lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp” (…) “nhưng cuộc đấu tranh ấy hiện nay đã đến một giai đoạn mà giai cấp bị bóc lột và bị áp bức (tức là giai cấp vô sản) không còn có thể tự giải phóng khỏi tay giai cấp bóc lột và áp bức mình (tức là giai cấp tư sản) được nữa, nếu không đồng thời và vĩnh viễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bức và khỏi cuộc đấu tranh giai cấp”.

– Năm 1919, trong tác phẩm Sáng kiến vĩ đại viết về Ngày thứ bảy cộng sản của công nhân ga xe lửa Cadan (Mátxcơva), V.I.Lênin đưa ra định nghĩa “Người ta gọi là giai cấp những tập đoàn người to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế – xã hội nhất định”.

b. Quan điểm về đấu tranh giai cấp và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội có giai cấp đối kháng

– Lịch sử loài người từ khi có giai cấp đối kháng tới nay là lịch sử đấu tranh giai cấp. Nguyên nhân khách quan của đấu tranh giai cấp là do mâu thuẫn bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. “Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống lại bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động chống lại bọn có đặc quyền, đặc lợi và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”. Như vậy, thực chất đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp có địa vị kinh tế và lợi ích cơ bản đối lập nhau (lợi ích cơ bản là những giá trị vật chất và tinh thần cơ bản để thoả mãn nhu cầu nhất định của một giai cấp). Do sự đối lập mang tính đối kháng như vậy giữa các giai cấp nên đấu tranh giai cấp là tất yếu.

c. Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trong điều kiện hiện nay

– Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xã hội để thay thế chủ nghĩa tư bản bằng xã hội xã hội chủ nghĩa.

– Chuyên chính vô sản (Hệ thống chính trị) không phải là mục tiêu cuối cùng của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, mà chỉ là công cụ, phương tiện để thực hiện giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột bằng cách xây dựng liên hiệp, trong đó tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của mọi người.

Như vậy, sự xuất hiện của giai cấp, sự đấu tranh giữa các giai cấp và sự xoá bỏ giai cấp đều là tất yếu khách quan. Điều kiện khách quan đó bắt nguồn từ trong quá trình phát triển của sản xuất xã hội.

– Điều kiện hiện nay của đấu tranh giai cấp.

+ Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liênxô và Đông Âu sụp đổ, so sánh lực lượng tạm thời có lợi cho các lực lượng phản cách mạng và bất lợi cho lực lượng cách mạng.

+ Chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng phát triển, có những điều chỉnh, thay đổi khá sâu sắc để thích nghi với điều kiện mới, tạm thời xoa dịu mâu thuẫn giữa tư bản với vô sản.

+ Cách mạng khoa học, công nghệ làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh. Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có nhiều biểu hiện mới, gay gắt nhưng phức tạp, không dễ nhận thức như trước.

– Nhận định về tình hình hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội IX).

+ Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới, biểu hiện dưới những hình thái và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn.

+ Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, lúc hoà hoãn, lúc gay gắt.

+ Chủ nghĩa tư bản còn tiếp tục tự điều chỉnh, nắm và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ để phát triển, song vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công, vì vậy không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có của nó.

3. Vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

+ Các quốc gia độc lập ngày càng tăng cường đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển của mình, chống lại sự áp đặt, can thiệp của nước ngoài.

+ Chủ nghĩa xã hội thế giới tạm thời lâm vào thoái trào nhưng vẫn có điều kiện và khả năng phục hồi và phát triển.

+ Tính chất của thời đại vẫn không thay đổi- là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

a. Đặc điểm giai cấp và quan hệ giai cấp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

– Hiện nay và cả trong thời kỳ quá độ ở nước ta vẫn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới với những nội dung và bằng những hình thức mới.

– Điều kiện mới của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay có nhiều thay đổi do cơ cấu, vị trí, mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội không còn giống với thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ cũng như không còn giống với thời kỳ đầu mới bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bởi lợi ích cơ bản, lâu dài của các giai cấp thống nhất với lợi ích dân tộc; cuộc đấu tranh giai cấp, giữa hai con đường gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chống nghèo nàn, lạc hậu chậm phát triển.

b. Nội dung và hình thức đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

– Đấu tranh nhằm xây dựng Việt Nam thành dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh mà cơ bản là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chống lại khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa; xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc; chống các nguy cơ đang làm ảnh hưởng tới sự tồn vong của chế độ.

1. Dân tộc và quan hệ giai cấp với dân tộc a. Khái niệm dân tộc và sự hình thành dân tộc

– Để thực hiện được mục tiêu đó, phải sử dụng nhiều hình thức đấu tranh khác nhau; tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân lao động chống lại các thế lực thù địch.

Trong giai đoạn hiện nay cần nhận thức rõ tính chất gay go, phức tạp của đấu tranh giai cấp. Tránh cả hai thái cực hoặc cường điệu giai cấp, hoặc phủ định đấu tranh giai cấp.

II. QUAN HỆ GIAI CẤP VỚI DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

– Khái niệm dân tộc.

+ Theo nghĩa rộng.

+ Theo nghĩa hẹp.

– Định nghĩa dân tộc.

– Đặc trưng dân tộc.

+ Cộng đồng về ngôn ngữ.

b. Quan hệ giữa giai cấp với dân tộc trong lịch sử

+ Cộng đồng về lãnh thổ.

+ Cộng đồng về kinh tế.

+ Cộng đồng về văn hoá, tâm lý, tính cách.

– Quan hệ mật thiết, không tách rời nhau và cũng không thay thế được cho nhau

– Giai cấp cơ bản là sản phẩm trực tiếp của phương thức sản xuất đang tồn tại; giai cấp không cơ bản và các tầng lớp trung gian.

– Giai cấp cơ bản giữ vai trò quy định tính chất, xu hướng mối quan hệ giữa các dân tộc và xu hướng phát triển của dân tộc.

c. Vấn đề dân tộc và quan hệ giữa giai cấp với dân tộc trong thời đại ngày nay

– Lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc không hoàn toàn đồng nhất với nhau.

– Vấn đề dân tộc còn tồn tại lâu dài và vấn đề giai cấp được giải quyết theo quan điểm của một giai cấp nhất định.

– Vai trò to lớn của vấn đề dân tộc trong sự phát triển của lịch sử và vai trò của cách mạng giải phóng dân tộc đối với cách mạng giải phóng giai cấp vô sản.

– Những biến đổi nổi bật trong thời đại ngày nay

+ Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển tạo ra những bước nhảy vọt về chất của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình xã hội hoá, quốc tế hoá các kết cấu giai cấp; các quan hệ giai cấp – dân tộc – nhân loại.

+ Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản đang ở thế có lợi, có ưu thế hơn chủ nghĩa xã hội

+ Chế độ xã hội chủ nghĩa tiếp tục tồn tại; tuy bị suy yếu nhưng tiếp tục thích nghi, đổi mới để phát triển.

+ Ưu thế của cơ chế thị trường trên toàn thế giới và sự phát triển nhanh của quá trình toàn cầu hoá.

– Nội dung vấn đề giai cấp hiện nay quan hệ chặt chẽ với vấn đề độc lập dân tộc; ngược lại, vấn đề xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc, vấn đề giải phóng dân tộc tác động mạnh mẽ đến cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trên thế giới.

2. Nhân loại và quan hệ giai cấp với nhân loại

– Trong thời đại ngày nay, yếu tố dân tộc trong sự phát triển xã hội và trong quan hệ dân tộc – giai cấp vận động theo hai xu hướng

+ Xu hướng giảm tương đối vai trò yếu tố dân tộc và sự khác biệt giữa các dân tộc; tăng sự phụ thuộc, giao lưu lẫn nhau giữa các dân tộc.

+ Xu hướng khẳng định và tăng cường yếu tố dân tộc, bản sắc dân tộc.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giai cấp, nhân loại trong cách mạng Việt Nam

– Khái niệm nhân loại và lợi ích nhân loại

– Mối quan hệ giữa giai cấp với nhân loại trong lịch sử

4. Quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân loại trong cách mạng Việt Nam hiện nay

– Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.

– Giải phóng giai cấp phải gắn liền với giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

– Phát huy khối đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

CHƯƠNG X. LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TS. Phạm Văn Sinh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

– Phát huy khối đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh công – nông – trí dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1. Nguồn gốc, bản chất và đặc trưng của nhà nước a. Nguồn gốc nhà nước

– Giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với đại đoàn kết dân tộc.

– Giải quyết tốt mối quan hệ giữa giữ vững độc lập tự chủ với mở rộng quan hệ quốc tế, phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc với tranh thủ sức mạnh của thời đại./.

I. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC

– Hệ thống quản lý xã hội trong các bộ lạc nguyên thuỷ là chế độ tự quản của nhân dâ thường bao gồm

+ Hội đồng bộ lạc, là cơ quan quyền lực thường trực.

+ Đại hội nhân dân, do Hội đồng bộ lạc triệu tập để quyết định những công việc quan trọng.

+ Thủ lĩnh quân sự chuyên đảm nhận công việc bảo vệ bộ lạc.

– Nhà nước ra đời do các nguyên nhân

+ Sự dư thừa tương đối của cải xã hội là cơ sở khách quan làm nảy sinh khát vọng chiếm đoạt ở những thủ lĩnh thị tộc, bộ lạc.

+ Các thủ lĩnh thị tộc, bộ lạc sử dụng quyền lực để chiếm đoạt của cải đã thúc đẩy sự phân hoá giai cấp trong xã hội.

b. Bản chất của nhà nước

+ Chiến tranh làm tăng quyền lực của các thủ lĩnh quân sự và do đó làm tăng thêm mâu thuẫn xã hội.

+ Các tổ chức lãnh đạo thị tộc, bộ lạc dần thoát khỏi gốc rễ trong nhân dân; từ chỗ là công cụ của nhân dân trở thành đối lập với nhân dân.

– Luận điểm của V.I.Lênin về nguyên nhân xuất hiện của nhà nước.

– Nhà nước là yếu tố đặc biệt quan trọng trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp đối kháng.

c. Đặc trưng của nhà nước

– Nhà nước là hệ thống tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt; thường có cấu trúc gồm bộ phận quyền lực, thực thi quyền lực và giám sát quyền lực.

– Nhà nước là một bộ máy quyền lực của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác; dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác; là cơ quan quyền lực của một giai cấp đối với toàn thể xã hội; là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị xã hội

Như vậy, nhà nước là công cụ chuyên chính giai cấp của giai cấp thống trị; là công cụ thực hiện quyền lực giai cấp và quyền lực xã hội của giai cấp đó.

2. Chức năng cơ bản và vai trò kinh tế của nhà nước a. Chức năng cơ bản của nhà nước

– Nhà nước là một bộ máy tổ chức quyền lực thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ quốc gia; đồng thời trong phạm vi lãnh thổ đó, nhà nước quản lý dân cư theo các khu vực địa lý hành chính để thực hiện sự thống nhất quyền lực cai trị.

– Nhà nước là một bộ máy tổ chức quyền lực đặc biệt; quyền lực đó được đảm bảo bằng sức mạnh của hệ thống tổ chức- thiết chế quyền lực chuyên nghiệp.

– Nhà nước xác lập chế độ thuế khoá để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị.

– Chức năng chính trị và chức năng xã hội của nhà nước. Mối quan hệ giữa chúng.

+ Chức năng chính trị của nhà nước là chức năng bảo vệ và thực hiện lợi ích của giai cấp thống trị.

+ Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng bảo vệ và thực hiện lợi ích chung của cộng đồng quốc gia, trong đó có lợi ích của giai cấp thống trị.

+ Mối quan hệ giữa hai chức năng chính trị và xã hội của nhà nước là mối quan hệ biện chứng. Chức năng chính trị quy định tính chất, phạm vi, hiệu quả việc thực hiện chức năng xã hội. Chức năng xã hội giữ vai trò là cơ sở cho việc thực hiện chức năng chính trị; đảm bảo cho việc thực hiện chức năng chính trị có hiệu quả.

– Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của nhà nước. Mối quan hệ giữa chúng.

b. Vai trò kinh tế của nhà nước

+ Chức năng đối nội của nhà nước là chức năng xây dựng, củng cố, phát triển và bảo vệ chế độ kinh tế – xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.

+ Chức năng đối ngoại của nhà nước là chức năng bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác. Thực chất của chức năng này là thực hiện lợi ích giữa các giai cấp thống trị trong các quốc gia khác nhau

+ Mối quan hệ giữa hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước thể hiện ở chỗ chúng thống nhất với nhau, trong đó chức năng đối nội quy định chức năng đối ngoại; ngược lại chức năng đối ngoại có tác động mạnh lên chức năng đối nội.

– Với tư cách là một trong những yếu tố của kiến trúc thượng tầng, nhà nước có tác động mạnh, toàn diện lên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

+ Xét trong tổng thể của cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội, vai trò của nhà nước đối với kinh tế thuộc phạm vi mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với thiết chế chính trị, pháp luật của kiến trúc thượng tầng.

+ Sự tác động của nhà nước đối với kinh tế có thể theo hai chiều hướng, hoặc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, hoặc kìm hãm sự phát triển ấy.

– Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, sự tác động của nhà nước đối với kinh tế thể hiện ở

3. Các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử a. Các kiểu và hình thức nhà nước dựa trên sự đối kháng giai cấp

+ Nhà nước tư bản điều tiết các quan hệ kinh tế sao cho ít khả năng xẩy ra khủng hoảng nhất.

+ Nhà nước tư bản tập trung vào các khu vực kinh tế công, là những lĩnh vực kinh tế cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội nhưng ít có lợi nhuận.

+ Nhà nước tập trung ổn định môi trường chính trị (đối nội, đối ngoại) để tăng trưởng kinh tế.

Lịch sử nhân loại đã trải qua ba hình thái kinh tế – xã hội dựa trên sự đối kháng giai cấp. Tương ứng với ba hình thái kinh tế – xã hội đó là ba kiểu nhà nước của các giai cấp bóc lột.

– Nhà nước chủ nô thực hiện sự chuyên chính của giai cấp chủ nô đối với giai cấp nô lệ và tầng lớp tự do. Hình thức cơ bản của nhà nước chủ nô là nhà nước quân chủ và nhà nước cộng hoà.

– Nhà nước phong kiến thực hiện sự chuyên chính của giai cấp phong kiến đối với giai cấp nông dân và những người lao động khác. Hình thức cơ bản của nhà nước phong kiến phương Tây là nhà nước phong kiến phân quyền. Hình thức cơ bản của nhà nước phong kiến phương Đông là nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền dựa trên chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất.

Nhà nước phong kiến Việt Nam tồn tại phổ biến trong hình thức nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền suốt trong gần 10 thế kỷ (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX).

– Nhà nước tư bản thực hiện sự chuyên chính của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động nói chung. Hình thức cơ bản của nhà nước tư bản là hình thức nhà nước cộng hoà và hình thức nhà nước quân chủ lập hiến.

Tuy khác nhau về hình thức cụ thể, nhưng chung quy lại thì tất cả các nhà nước tư bản đều là nền chuyên chính tư sản.

b. Kiểu nhà nước chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

– Kiểu nhà nước chuyên chính vô sản

+ Là kiểu nhà nước thích ứng với thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhà nước chuyên chính vô sản được xác lập khi cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động xoá bỏ nhà nước của các giai cấp bóc lột và tự tiêu vong khi xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản.

+ Là kiểu nhà nước mang bản chất giai cấp vô sản; được xây dựng và hoàn thiện theo mục tiêu xây dựng và quản lý kinh tế – xã hội; tổ chức nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở liên minh giai cấp công nông và tầng lớp trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng giai cấp vô sản.

+ Là kiểu nhà nước có chức năng trấn áp và chức năng tổ chức xây dựng nền kinh tế mới, xã hội mới.

– Hình thức của nhà nước chuyên chính vô sản

+ Công xã Pari (1871).

1. Khái niệm nhà nươc pháp quyền và lịch sử tư tưởng triết học về nhà nước pháp quyền a. Khái niệm nhà nước pháp quyền

+ Liên bang Xô viết (1917 – 1991).

– Hình thức nhà nước Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là Dân chủ cộng hoà và nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa.

II. NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

– Định nghĩa.

– Đặc điểm.

+ Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước, trong đó pháp luật có vai trò tuyệt đối.

b. Tư tưởng triết học về nhà nước pháp quyền trong lịch sử

+ Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước, trong đó quyền lực nhà nước thể hiện được lợi ích và ý chí của đại đa số nhân dân.

+ Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước, trong đó có sự đảm bảo thực tế mối quan hệ hữu cơ về trách nhiệm và quyền hạn giữa nhà nước với công dân.

+ Cũng có quan niệm cho rằng, ngoài ba đặc trưng chung của mọi nhà nước pháp quyền đã nêu ở trên, nguyên tắc tam quyền phân lập phân quyền lực nhà nước thành ba nhánh quyền lực (quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp) đối lập, chi phối nhau trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước.

– Tư tưởng coi trọng pháp luật trong cai trị và quản lý xã hội thời cổ đại.

– Tư tưởng về nhà nước và pháp quyền thời trung cổ.

2. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam a. Bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

– Lý luận về nhà nước pháp quyền thời cận đại ở tây Âu

Khái quát một số tư tưởng triết học về nhà nước pháp quyền thời cận đại tây Âu và cổ điển Đức (Lý thuyết pháp quyền tự nhiên của Xpinôda; lý thuyết về tự do của Lốccơ; lý thuyết về tam quyền phân lập của Môngtexkiơ; lý thuyết về chủ quyền nhân dân và khế ước xã hội của Rútxô; lý thuyết về triết học pháp quyền của Cantơ và Hêghen).

– Khái quát chung về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền tư sản. Nhà nước pháp quyền tư sản với kinh tế thị trường.

– Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở liên minh công – nông – trí; là công cụ quyền lực chủ yếu để nhân dân xây dựng một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.

– Trong tổ chức và hoạt động của mình, nhà nước được tổ chức trên nguyên tắc thống nhất; có sự phân công và phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

b. Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

– Tính tất yếu phải xây dựng nhà nước pháp quyền mà biểu hiện rõ nét của nó là tính tối thượng của pháp luật trong điều hành và quản lý kinh tế – xã hội.

– Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay cần phải thự hiện những điểm cơ bản sau

+ Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

+ Tiến hành cải cách thể chế và phương thức hoạt động của nhà nước.

CHƯƠNG XI. QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY PGS. TS. Vũ Tình, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Tiếp tục phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương tăng cường pháp chế.

1. Quan điểm về con người trong triết học phương Đông

+ Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực.

+ Tiếp tục kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước và trong hệ thống chính trị./.

I. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC NGOÀI MÁCXÍT VỀ CON NGƯỜI

– Quan điểm về con người trong triết học Phật giáo.

+ Phật giáo phủ nhận vai trò của Đấng sáng tạo, phủ nhận cái Tôi của con người.

+ Trong quá trình tồn tại, con người có trần tục tính và phật tính. Bản tính con người vốn tự có cái ác và cái thiện. Cuộc đời con người do chính con người quyết định qua quá trình tạo nghiệp.

+ Con đường tu nghiệp để trở thành La Hán, Bồ tát hay Phật được coi là đạo làm người.

2. Quan điểm về con người trong triết học phương Tây a. Thời cổ đại

– Quan điểm về con người trong triết học Nho gia.

+ Con người và vạn vật được tạo nên từ sự hỗn hợp giữa Trời với Đất trong khoảng giữa âm – dương và do bẩm thụ tính Trời nên bản tính con người vốn thiện.

+ Bản chất con ng­ười bị quy định bởi Mệnh Trời “Nhân giã kỹ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi trí khí giã- Con người là cái đức của Trời Đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”.

b. Thời Trung cổ

– Quan điểm về con người trong triết học duy vật Hy Lạp cổ đại (Empêđôclơ, Lơxíp, Đêmôcrít v.v).

– Quan điểm về con người trong triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại (Xôcrát và Platôn v.v).

c. Thời Phục hưng và Cận đại

– Quan điểm về con người trong triết học Arítxtốt.

– Quan điểm về con người của Cơ đốc giáo.

– Quan điểm về con người trong triết học Tômát Đacanh.

Triết học phương Tây thời nào cũng có tư tưởng duy vật gắn với thực tiễn xã hội; tuy nhiên, ở bất kỳ thời nào quan điểm duy tâm về con người vẫn là tư tưởng thống trị.

Cho đến khi “Thuyết tiến hoá của các loài” của Đácuyn ra đời, các nhà triết học duy vật mới có căn cứ khoa học để chỉ ra nguồn gốc phi thần thánh của con người “Không phải Chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa mà chính con người đã tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người” (Phoiơbắc). Tuy vậy, do chịu ảnh hư­ởng bởi phư­ơng pháp tư­ duy siêu hình nên đã giải thích sai lệch về nguồn gốc và bản chất con ng­ười. Còn các nhà duy vật thế kỷ XVII-XVIII (Hốpxơ) coi con ngư­ời khi sinh ra đã mang sẵn bản chất tự nhiên (tính đồng loại).

Phái nhân bản học sinh vật (Phoiơbắc, Phờrớt v.v) cho con người là một thực thể tự nhiên, sinh vật; con người sinh vật thuần tuý; con người nhân bản, tuyệt đối hoá yếu tố sinh vậtcủa con người, quy bản chất của con người vào tính tự nhiên của nó. Ở Phoiơbắc, bản chất của con người nằm ở tính tộc loại được thể hiện ra trong tình cảm, đạo đức, tôn giáo và tình yêu.

Đây là quan điểm triết học đã tuyệt đối hoá mặt tự nhiên của con người, tách con người ra khỏi các hoạt động (thực tiễn) của họ, làm hoà tan bản chất con người vào bản chất tôn giáo.

c. Thời hiện đại

– Quan điểm về con người trong triết học Italia.

– Quan điểm về con người trong triết học Anh (Ph.Bêcơn).

1. Quan điểm triết học Mác – Lênin về bản chất con người

– Quan điểm về con người trong triết học Hà Lan (Xpinôda)

– Quan điểm về con người trong triết học phương Tây hiện đại thể hiện rõ nét qua các quan điểm của phân tâm học, chủ nghĩa nhân vị, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa phê phán, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc v.v, trong đó các quan điểm về con người của chủ nghĩa hiện sinh giữ vai trò chủ yếu.

II. QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI

2. Quan điểm triết học Mác – Lênin về giải phóng con người

a. Con người là thực thể sinh vật – xã hội

b. Con người là chủ thể của lịch sử

c. Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội

– Vị trí vấn đề giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin

– Thực chất quan điểm giải phóng con người trong triết học Mác – Lênin

– Quan điểm triết học Mác về phương thức và lực lượng thực hiện việc giải phóng con người

Bất kỳ sự giải phóng nào cũng bao hàm ở chỗ là nó trả thế giới con người, những quan hệ của con người về với bản thân con người; là giải phóng người lao động thoát khỏi lao động bị tha hoá.

+ Lao động bị tha hoá là lao động làm người lao động đánh mất mình trong hoạt động người, nhưng lại tìm thấy mình trong hoạt động vật.

1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

+ Lao động bị tha hoá là lao động làm đảo lộn các quan hệ của người lao động.

+ Lao động bị tha hoá là lao động làm người lao động bị phát triển què quặt.

III. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO

2. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

– Nhu cầu khách quan của lịch sử – xã hội.

– Văn hoá và truyền thống của người Việt Nam.

– Tinh hoa văn hoá của nhân loại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là tư tưởng về cả cá nhân, cộng đồng, giai cấp, dân tộc và về cả nhân loại.

a. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động là tư tưởng về sự kết hợp giữa dân tộc với giai cấp, dân tộc với quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội

– Độc lập, tự do là quyền bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.

– Giải phóng dân tộc trước hết phải do chính các dân tộc thực hiện.

– Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động.

b. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng là tư tưởng sự nghiệp cách mạng, thành quả cách mạng của dân, do dân và vì dân

– Độc lập, tự do gắn với xã hội của dân, vì dân.

c. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người còn là tư tưởng về phát triển con người toàn diện

– Quyền dân chủ của nhân dân.

– Giải phóng con người bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

– Trách nhiệm, công việc, chính quyền, đoàn thể, quyền hành của dân.

Xây dựng con người phát triển toàn diện, tức là quá trình làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của con người

1. Con người Việt Nam trong lịch sử a. Điều kiện lịch sử hình thành con người Việt Nam

– Tiêu chuẩn cơ bản hàng đầu của con người toàn diện là đức và tài, trong đó đức là gốc.

– Nguyên tắc cơ bản để xây dựng con người toàn diện là tu dưỡng, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn, thực hiện đồng bộ quá trình giáo dục và tự giáo dục

IV. VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

– Sự tác động của môi trường – địa lý.

b. Mặt tích cực và mặt hạn chế của con người Việt Nam

– Đời sống kinh tế.

– Lịch sử giữ nước.

– Môi trường văn hoá.

– Mặt tích cực.

+ Lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc.

+ Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – tổ quốc.

+ Lòng nhân ái, khoa dung, trọng nghĩa tình, đạo lý.

+ Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động.

+ Tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống.

– Mặt hạn chế.

2. Con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

+ Hạn chế của truyền thống dân chủ làng xã.

+ Tập quán sản xuất tiểu nông; Quá đề cao vai trò của kinh nghiệm.

+ Tính hai mặt của một số truyền thống.

b. Xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng hiện nay

a. Cách mạng Việt Nam giai đoạn hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với con người Việt Nam

– Tình hình thế giới với cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và quá trình toàn cầu hoá. Hoà bình, hợp tác, phát triển đang trở thành xu thế lớn của giai đoạn hiện nay.

– Tình hình trong nước với quá trình đổi mới; cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường; chính trị, xã hội ổn định cùng với các nguy cơ vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau.

– Hình thành và phát triển ở con người Việt Nam những đức tính cơ bản sau

+ Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

+ Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung. Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội. Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.

– Để đạt được những đức tính cơ bản trên, người Việt Nam tập trung đầu tư phát triển vào những lĩnh vực chủ yếu sau

+ Lĩnh vực kinh tế.

+ Lĩnh vực chính trị.

III. TÀI LIỆU

+ Lĩnh vực xã hội.

+ Lĩnh vực giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ.

+ Lĩnh vực văn hoá./.

I. Giáo trình

Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học). Nxb, Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2006.

II. Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Triết học (Dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học) 3 tập. Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 1997.

2. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

( MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)