【#1】Rong Nho Ăn Với Gì Mới Ngon “nhức Răng”?

Rong nho ăn với gì là “chuẩn chỉnh”?

Ăn rong nho như rau sống

Nghĩa là thay vì dùng rau sống, bạn hãy thay thế hoặc bổ sung thêm rong nho. Chỉ cần sơ chế cho rong nho bớt mặn, ngâm trong nước đá lạnh để tăng độ giòn là đã có thể ăn liền. Ngoài ra, với cách ăn này bạn có dùng kèm các loại nước chấm như mù tạt, tương ớt, nước xốt… để tăng hương vị.

Làm món ăn kèm

Nếu ăn Dùng ăn kèm với các món nướng như thịt nướng, hải sản nướng như các món tôm nướng, mực nướng, nấu canh hải sản,…

Dùng để trình bày món ăn

Rong nho có hình thức đẹp mắt, tươi sáng và mang nhiều dưỡng chất nên được các đầu bếp lựa chọn để trang trí món ăn. Bạn có thể tùy ý sáng tạo dĩa thức ăn của mình với một chùm rong nho căng mọng, tươi mát để món ăn thêm phần hấp dẫn, sinh động.

Gợi ý một số món ăn làm từ rong nho

Salad rong nho biển

Cách thực hiện

Hành khô cắt lát, phi vàng. Rong nho sơ chế. Tôm nõn luộc hoặc hấp rồi bóc vỏ. Cà chua xắt hạt lựu. Các nguyên liệu còn lại sơ chế như bình thường. Sau đó làm nước xốt bằng cách trộn đường và giấm rồi thêm muối, hạt tiêu, cho lượng ớt quả vừa phải tùy theo bạn muốn ăn cay nhiều hay ít. Với phần nhân, bạn trộn tôm, thịt xông khói, các loại rau quả (cà chua, rau răm, hành tây) lại với nhau rồi tưới nước xốt lên trộn đều. Khi nào ăn, bạn hãy thêm rong nho vào sau cùng.

Chè táo đỏ rong nho

Cách thực hiện

Rong nho tươi rửa sạch và ngâm trong nước khoảng 15 phút rồi vớt ra, để ráo. Táo đỏ và nhãn nhục rửa sạch, ngâm nước (có thể ngâm nước ấm) khi thấy vừa nở thì vớt ra. Sau đó bạn đun nước rồi cho đường phèn vào. Khi nước sôi thả táo, nhãn nhục vào nồi, hãm lửa nhỏ, đun đến khi mềm vừa ăn rồi tắt bếp, cho thêm vani nếu muốn tăng hương vị. Chè sẽ ngon hơn nếu để lạnh, bạn có thể đợi nguội rồi cho vào ngăn mát tủ lạnh. Khi nào ăn chè hãy thêm rong nho vào. Đây là món ăn mát và rất bổ dưỡng.

Cơm cuộn rong nho

Cách thực hiện

Sơ chế rong nho bằng cách rửa và ngâm nước sạch trong khoảng 15 phút, có thể ngâm thêm nước đá lạnh để tăng độ giòn cho rong nho. Cơm nấu như bình thường, thêm vào một chút muối, đường và giấm. Cà rốt, dưa leo, xúc xích, trứng gà (đã rán) cắt thanh dài (theo chiều dài lá rong biển), độ dày vừa ăn. Sau đó, bạn trải đều cơm lên rong biển (nên trải lớp dày vừa đủ để còn thêm nhân) rồi cho cà rốt, xúc xích trứng rán, ruốc thịt và rong nho vào. Dùng mành được lót sẵn bên ngoài cuộn nhẹ nhàng và chẵ tay. Cuối cùng, bạn chỉ cần cắt kimbap thành từng khoanh tròn khoảng 2 – 2,5cm rồi thưởng thức. Để tăng hương vị, bạn có thể chấm cơm cuộn với tương ớt hoặc sốt mayonnaise tùy thích.

Rong nho nhúng bún, nhúng lẩu, nấu canh, nấu bột

Lưu ý khi chế biến rong nho

  • Cần lưu ý rằng có 2 loại rong nho chính: rong nho tươi và rong nho tách nước. Với rong nho tươi, hạn sử dụng thường chỉ trong 7 ngày, còn rong nho tách nước đã qua quy trình xử lý, thời gian bảo quản có thể lên đến hơn 6 tháng. Cách sơ chế của 2 loại này có một số điểm khác nhau. Với rong nho tươi, bạn chỉ cần rửa sạch rồi ngâm nước lạnh khoảng 15 phút hoặc ngâm nước đá lạnh trong 5 phút để khử mùi tanh và tăng độ giòn. Trong khi đó, với rong nho khô, bạn cần ngâm trong 3 phút để rong nở ra rồi sau đó ngâm đó lạnh như với rong nho tươi.
  • Với rong nho tươi, bạn hãy để ý lựa chọn loại còn tươi xanh màu ngọc, hạt căng mẩy là đạt chuẩn ngon, giòn.

Hy vọng qua bài viết trên, bạn đã biết rong nho ăn với g ì sẽ giúp tăng hương vị, tốt cho sức khỏe, đồng thời cũng có thêm gợi ý để thay đổi thực đơn khi có nguyên liệu là rong nho.

【#2】Mẹo Giảm Cân Với Rong Nho Biển Cực Hiệu Quả

Rong nho chứa rấy nhiều loại dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Trong rong nho chứa khoáng chất như canxi, kali, kẽm, sắt, protein thực vật, nhiều vitamin A, vitamin C, nhiều acid béo không no có lợi cho quá trình làm việc của hệ tiêu hóa giúp quá trình làm việc của hệ tiêu hóa tốt hơn, thúc đẩy quá trình trao đổi chất giúp cơ thể đốt cháy mỡ hiệu quả, tránh tình trạng tích mỡ thừa trong cơ thể.

Trong rong nho có rất nhiều axit béo no có lợi, chính những axit này hỗ trợ và thúc đẩy quá trình đốt cháy mỡ thừa. Không chỉ vậy loại thực phẩm này còn giúp giảm đáng kể lượng cholesterol trong máu – nguyên nhân chính gây ra bệnh béo phì.

Ngoài ra rong nho còn có chứa chất alginate và lượng chất xơ dồi dào sẽ giúp làm chậm quá trình tiêu hóa, khiến bạn cảm thấy no lâu, giảm cảm giác thèm ăn. Do đó, với hàm lượng calo thấp, ngon miệng nhưng lại giúp bạn gái giảm cân hiệu quả thì rong nho chính là sự lựa chọn an toàn và hoàn hảo nhất.

Từ rong nho bạn có thể chế biến thành nhiều món ăn, đồ uống cho thực đơn giảm cân của mình. Chỉ cần lự chọn đúng các loại rau củ quả để chế biến thì bạn sẽ có ngay món ăn hấp dẫn và lạ miệng giúp bạn giảm cân hiệu quả.

Thực đơn giảm cân với rong nho biển

1. Salad rong nho và tôm tươi

Salad rong nho là một thực đơn không thể thiếu trong quá trình giảm cân. Salad rong nho tôm tươi vừa giòn tươi vị rong biển vừa beo béo hấp dẫn vị tôm tươi. Món salad này sẽ rất thích hợp để bạn chế biến món ăn cho bữa trưa giảm cân với cả nhà.

  • 100 gram rong nho tươi
  • 400 gram tôm tươi
  • 1 củ cà rốt, 1 trái chanh để vắt làm nước cốt chanh
  • Một ít tỏi băm, ớt băm, hành tím
  • Các loại gia vị để nêm nếm như đường, nước mắm
    • Rửa sạch rong nho tươi sau đó ngâm trong nước khoảng 10 phút rồi vớt ra để ráo nước, chú ý là không để rong nho bị hở gió.
    • Củ cà rốt gọt vỏ, rửa sạch rồi cắt thành từng sợi. Tôm làm sạch, rút chỉ đen ở lưng rồi luộc chín, lột vỏ, giữ lại phần đuôi để trang trí cho đẹp.
    • Pha nước trộn gỏi: vắt nước cốt chanh hòa chung với nước mắm, tỏi băm, ớt băm, bột ngọt, đường.
    • Cho rong nho, tôm, củ cà rốt vào một tô to rồi rưới nước trộn gỏi đã pha sẵn lên trên, trộn đều lên, múc ra dĩa và thưởng thức. Có thể ăn kèm với bánh tráng mè nướng hoặc bánh phồng tôm.

    2. Salad rong nho và bắp cải tím

    Sự kết hợp của bắp cải tím và rong nho cùng với các loại nguyên liệu khác như cà chua bi, trứng cút sẽ giúp nên món ăn hấp dẫn cho bữa cơm của bạn.

  • 100 gram rong nho
  • ½ bắp cải tím
  • ¼ bắp cải trắng
  • 1 củ cà rốt
  • 50 gram cà chua bi
  • 5 quả trứng cút
  • Chanh, đường, nước mắm
    • Rong nho tươi đem rửa sạch rồi ngâm trong nước khoảng 5 phút, vớt ra, để ráo nước, để nơi kín gió.
    • Bắp cải tím, bắp cải trắng, rửa sạch cắt sợi mỏng ngâm qua nước muối pha loãng rồi vớt ra để ráo nước.
    • Cà rốt gọt vỏ rửa sạch rồi cắt sợi mỏng. Trứng cút luộc chín lột vỏ rồi cắt đôi.
    • Pha nước trộn salad: Cho nước chanh đã vắt sẵn, đường, mắm, bột ngọt vào một chén, cho thêm một ít nước sôi để nguội vào rồi đánh đều lên cho tan ra. Nêm nếm theo tỷ lệ vừa ăn.
    • Cho bắp cải trắng, bắp cải tím, cà rốt cho vào tô, rưới nước trộn salad lên, cho rong nho, cà chua và trứng vào, trộn nhẹ tay. Múc ra dĩa, trang trí cho đẹp rồi thưởng thức.

    3. Nước ép rong nho

    • 20g rong nho tươi
    • 1 trái cam vắt nước
    • 1 của cà rốt gọt vỏ ép lấy nước , một ít đường, đá bào.
    • Lần lượt cho rong nho, nước cam, đá bào, đường cho vào máy để xay lấy nước.
    • Sau đó hòa cùng với nước ép cà rốt.

    4. Chè rong nho, táo đỏ

    • 30g rong nho tươi
    • 8 trái táo đỏ, 500ml nước
    • 20g nhãn nhục, đường phèn.

    Cách làm :

    • Nhãn nhục và táo đỏ ngâm trong nước ấm 5 phút cho nở.
    • Cho nước vào nồi cùng đường phèn nấu sôi.
    • Sau đó cho táo, nhãn nhục ,rong nho vào nấu với lửa nhỏ, đến khi mềm thì tắt bếp.

    5. Ăn rong nho Sabudo giảm cân

    Rong nho Sabudo là một loại rong nho, mọc và được trồng chủ yếu ở Nhật Bản, xung quanh đảo Okinawa. Loại rong này có kích thước to hơn so với rong nho thông thường và rất khó kiếm trong tự nhiên. Khi mọc, rong nho sẽ dính trực tiếp vào đá hay nền cát, thông qua một rễ nhỏ màu trắng. Từ phần thân, nhánh sẽ mọc các “lá” có chất dịch, dạng gel, tròn tròn giống quả nho.

    Cách sử dụng rong nho Sabudo:

    Những lưu ý khi sử dụng rong nho giảm cân

    • Không nên xào, nấu rong nho trên lửa lớn, tránh tình trạng rong bị teo nhỏ lại và làm giảm thành phần dinh dưỡng của rong nho.
    • Rong nho có mùi tanh nên có thể kết hợp với nhiều loại hoa quả, rau củ để có thể dễ dùng hơn
    • Đối với những người bị bệnh tuyến giáp, bạn nên hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng

    【#3】Rong Nho Ăn Với Nước Chấm Gì? Thử 7 Loại Nước Sốt Siêu Ngon

    Có rất nhiều loại nước chấm ngon, nhưng rong nho sẽ ngon hơn khi ăn với 7 loại nước chấm sau đây:

    1 loại nước chấm rong nho ngon mà hầu như nhà nào cũng có đó là nước tương.

    Khi ăn với loại nước chấm này bạn sẽ khử đi được mùi tanh của rong nho.

    Vị rong nho vừa giòn, mát, các hạt rong mọng nước tan vỡ trong miệng tạo cảm giác thanh mát, vừa ăn.

    Tuy nhiên vì rong có vị mặn sẳn nên khi chấm nước tương sẽ làm tăng độ mặn.

    Đây được xem như 1 loại nước sốt đặc trưng giành riêng cho loại rong biển này vậy.

    Độ giòn, tan trong rong nho kết hợp với mùi vị chua nhẹ, béo và hơi mặn làm nên món ăn tuyệt vời.

    Ngoài ra mùi thơm từ hạt mè rang chín kết hợp với tiếng lộp bộp khi hạt rong nho nứt vỡ trong miệng.

    Điều này kích thích vị giác làm chúng ta ăn ngon hơn, thích hơn và nghiện ăn hơn đấy.

    Rong nho ăn với nước chấm gì ngon? thật thiếu xót nếu không kể ra mayonnaise.

    Đây là nước sốt chấm rong nho rất ngon, thích hợp cho những ai mê mùi vị béo ngậy.

    Khi chấm với sốt này, mùi vị béo ngậy sẽ khử đi mùi tanh của rong nho.

    Ăn với mayonnaise sẽ ít vị chua hơn mè rang, có vị hơi mặn nhẹ và béo ngậy.

    Nếu bạn là người thích ăn béo, thì mayonanaise là giành cho bạn.

    Thêm 1 loại nước chấm rong nho ngon đó là nước mắm tỏi ớt.

    Vị hơi mặn kết hợp độ cay cay, nồng nồng của ớt và tỏi làm cho rong nho thêm phần đậm đà so với sốt mayonnaise.

    Nhất là vị cay nhẹ của ớt làm cho khi ăn rong được ngon hơn, kích thích vị giác hơn.

    Ngon nhất vẫn là ăn kèm cơm trắng.

    Tuy nhiên bạn nên rửa rong nho kỹ để rong bớt độ mặn thì khi chấm nước mắm sẽ ngon hơn.

    Xem Thêm: ” Cách làm 7 loại nước sốt chấm rong nho cực ngon ”

    Tương cà thường có vị khá chua và ngọt nhẹ. Điều này sẽ khử đi mùi tanh của rong nho rất hiệu quả.

    Đây cũng là loại tương được ăn khá nhiều với rau xanh, salad.

    Và cũng khá là ngon khi ăn với rong nho. Theo mình thấy thì vị nó ngon hơn so với nước tương.

    Các bạn có thể thử nếu thích

    Sự đặc biệt của nước chấm này nằm ở chỗ sự kết hợp hài hòa giữa độ chua và ngọt, kết hợp vị cay nhẹ.

    Nhưng vị đặc biệt này hòa huyện vào nhau tạo nên 1 nước sốt ngon, nhất là chấm với rong nho.

    Tuy nhiên cũng tùy sở thích của bạn nhưng với mình thì thấy nó ngon hơn mayonnaise và tương cà nhiều.

    Vì có vị chua ngọt, mặn, cay kết hợp với nhau 1 cách hợp lý.

    Một loại nước chấm yêu thích của mình nữa là muối tiêu xanh.

    Đây cũng là nước chấm thường hay được sử dụng khi ăn với hải sản.

    Vì độ ngon của nó thì không cần phải bàn cãi thêm gì nữa.

    Chính vì thế khi chấm với rong nho cũng ngon không kém các nước sốt khác.

    Mình lại rất thích loại nước chấm này, độ chua ngọt mặn vừa phải, lại kết hợp độ cay nhẹ.

    Đây là nước chấm mình ăn với rong nho cảm thấy ngon vô cùng.

    Trước khi tìm hiểu rong nho ăn với nước chấm gì ngon thì việc cần làm là phải sơ chế thật kỹ rong nho.

    Vì nếu làm kỹ khâu này là bạn đã loại bở được hầu hết độ mặn và tanh của loại rong này.

    Có khi không còn chút mùi tanh và mặn nào luôn nữa đó chứ.

    Sơ chế cũng khá đơn giản:

    • Đầu tiên chúng ta ngâm và rửa rong nho thật sạch trong 3 – 5 phút. Để rong bớt mặn
    • Sau đó lại tiếp tục ngâm trong nước đá lạnh ít nhất từ 1 – 3 phút.
    • Rửa lại nhiều lần sẽ khử đi mùi tanh của rong nho.
    • Ngoài ra khi ngâm đá rong nho sẽ giữ được độ giòn và tươi ngon.
    • Ngâm lượng vừa đủ để dùng, không ngâm quá nhiều. Vì rong nho rất nhanh sẽ teo lại sau 30 phút.
    • Sơ chế thật kỹ để rong không tanh và bớt mặn
    • Đối với rong tươi, bạn nên bảo quản nơi thoáng mát, tránh nắng trực tiếp và không để tủ lạnh rong sẽ teo lại.

    Như vậy là qua bài viết chúng ta đã biết được Rong nho ăn với nước chấm gì ngon rồi phải không nào. Hãy mua ngay về và cùng gia đình thưởng thức món ăn tuyệt vời được ví như món ăn hoàng gia của Nhật. Nó rất là ngon đó các bạn, nếu bạn không thử thì thật là rất tiếc cho bạn đấy.

    Nguồn: BFYhealth thực phẩm tốt cho sức khỏe

    【#4】Khái Niệm Và Vai Trò Của Prebiotic Đối Với Hệ Tiêu Hóa

    Prebiotic là nguồn thức ăn cho probiotic (vi sinh vật sống hữu ích trong đường ruột vật chủ). Nhờ có pbiotic mà vi sinh hữu ích có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, do đó cải thiện hệ tiêu hóa cho vật chủ. Prebiotic chủ yếu là oligosaccharides. Các pbiotic được nghiên cứu nhiều nhất là Inulin/Fructo-oligosaccharides (FOS) và Galacto-oligosaccharides (GOS). Prebiotic có nhiều trong sữa mẹ (Sữa mẹ có 15-23g/l pbiotic trong sữa non và 8-12g/l pbiotic trong sữa thường). Những nguồn thức ăn có chứa pbiotic thường gặp là đậu nành, yến mạch thô, lúa mì nguyên cám và lúa mạch nguyên cám, hành, chuối,tỏi, a-ti-sô, nho…

    GOS: là một pbiotic có nguồn gốc từ động vật. GOS được chiết xuất từ lactose có trong sữa bò, dê… Cấu trúc hóa học của GOS bao gồm galactose và lactose liên kết với nhau.

    FOS: là một pbiotic có nguồn gốc từ thực vật. FOS hiện diện trong nhiều loại thực phẩm như măng tây, chuối, yến mạch, tỏi, atisô và rau diếp xoăn nhưng hàm lượng lại khá thấp. Cấu trúc hóa học của FOS bao gồm glucose và fructose liên kết với nhau. Tùy vào độ dài của mạch liên kết này mà FOS được chia thành 2 loại:

    – FOS có cấu trúc mạch ngắn được gọi là oligofructose.

    – FOS có cấu trúc mạch dài được gọi là inulin.

    Prebiotic kích thích sự tăng trưởng của vi khuẩn hữu ích đã hiện diện trong đường ruột. Prebiotic ít bị tiêu hóa ở dạ dày và ruột non và trở thành nguồn thức ăn cho vi sinh vật có lợi của ruột già. Prebiotic còn có vai trò như một chất xơ trong tiêu hóa.

    Mặt khác, pbiotic đóng vai trò như một cái bẫy đối với vi khuẩn gây hại. Nhiều vi khuẩn gây hại có cơ chế sử dụng thụ thể (receptor) oligosaccharide trong ruột để liên kết với bề mặt niêm mạc ruột và gây nên các bệnh về dạ dày. Các pbiotic có thể mô phỏng các thụ thể ở ruột và do đó, các vi khuẩn gây hại sẽ liên kết với pbiotic thay vì niêm mạc ruột. Điều này giải thích tại sao trẻ bú mẹ thường ít bị tiêu chảy hơn so với trẻ bú sữa (công thức sữa bột được pha trộn theo tỉ lệ nhất định để đạt được thành phần dinh dưỡng khá giống sữa mẹ). Trong sữa mẹ có chứa tới 130 loại oligosaccharides khác nhau.

    – Giảm khả năng ung thư ruột kết (Colorectal cancer-CRC): nghiên cứu chế độ ăn uống của động vật thí nghiệm có bổ sung inulin hoặc oligofructose cho thấy các khối u giảm. Tuy nhiên, cơ chế chính xác tại sao các pbiotic này có thể giảm các khối u vẫn còn chưa rõ.

    – Giảm cholesterol trong máu: pbiotics có thể gián tiếp ảnh hưởng đến mức cholesterol trong máu bằng cách thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn axit lactic. Vi khuẩn này có thể làm giảm giảm mật độ cholesterol trong máu. Ngoài ra nghiên cứu trên chuột cho thấy những con chuột tiêu thụ FOS có mức cholesterol thấp hơn so với những con đối chứng.

    – Tăng cường hấp thu khoáng chất: một số nghiên cứu trên động vật cho thấy pbiotic giúp tăng hấp thu canxi tại ruột kết. Ở chuột, FOS tăng cường hấp thu canxi, magiê, sắt, đồng và kích thích các vi khuẩn thủy phân acid phytic giúp nâng cao sự hấp thụ khoáng chất. Với GOS, quá trình hấp thu khoáng chất cũng tăng lên.

    – Cải thiện bệnh viêm ruột (Inflammatory Bowel Disease-IBD): chuột có chế độ ăn gồm oligosaccharides chiết xuất từ sữa dê có những cải thiện về triệu chứng bệnh so với chuột đối chứng. Inulin và oligofructose cũng được báo cáo là hiệu quả trong điều trị IBD.

    – Giảm dị ứng: phản ứng dị ứng lần đầu tiên trong đời thường biểu hiện dưới hình thức viêm phong da (Atopic Dermatitis) ở trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh đã phát triển viêm phong da thường có nguy cơ cao bị dị ứng sau này. Prebiotics có hiệu quả tích cực làm giảm sự phát triển của viêm phong da ở trẻ sơ sinh.

    – Dùng FOS, GOS (Prebiotics) mỗi ngày giúp nhuận tràng, chống táo bón. Những người tham gia thử nghiệm sử dụng pbiotic đi vệ sinh dễ dàng hơn và phân nhiều hơn.

    – Prebiotic có tác dụng khác nhau lên các đối tượng khác nhau : Ví dụ FOS không làm tăng sự hấp thu canxi ở thanh niên nhưng lại kích thích sự hấp thu này ở tuổi thiếu niên trở xuống.

    Prebiotic chỉ tác động tích cực khi cơ thể đã có sẵn các vi sinh vật hữu ích, bản thân pbiotic không sản sinh ra các vi sinh vật này.

    Một số loại dược phẩm, thực phẩm chức năng, thực phẩm trên thị trường có chứa chất xơ hòa tan dạng dạng Fructose-Oligosaccharide, còn gọi là FOS (pbiotic).

    Prebiotic có ích cho sức khỏe nhưng không phải là chất thiết yếu nên không có khái niệm “thiếu pbiotic” trong cơ thể. Lưu ý, nếu dùng quá nhiều pbiotic có thể gây ra tiêu chảy. Chế độ ăn bình thường với đầy đủ chất dinh dưỡng đảm bảo cơ thể được cung cấp đầy đủ pbiotic.

    【#5】Giáo Dục: Tích “sạn” Thành Sỏi Và Chuyện … “ngáo Chữ”

    Kể từ sau ngày thống nhất đất nước, mỗi chu kỳ đổi mới giáo dục diễn ra trong vòng 20 năm. Từ năm 1980 đến nay đã trải qua 2 chu kỳ kéo dài 40 năm.

    40 năm là khoảng thời gian đủ dài để rút ra kết luận thành bại của đổi mới giáo dục.

    Lớp người chịu tác động trực tiếp của kỳ đổi mới giáo dục năm 1980, tính từ trẻ em học lớp 1 (6-7 tuổi) giờ đây ở độ tuổi khoảng 45-50 và đó chính là lớp người đang nắm giữ nhiều vị trí chủ chốt trong hệ thống, lãnh đạo mọi mặt hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,…, hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại quốc gia.

    Chuyện mấy chục năm trước người ta học tiếng Việt thế nào bây giờ khó có thể nói rõ, tuy nhiên việc lớp người của 40 năm trước vận dụng tiếng Việt đã được học vào hoạt động tại các cơ quan công quyền thì không khó đánh giá.

    Gần đây xuất hiện một số ý kiến xoay quanh ba cụm từ: “Chơi chữ”, “Ngộ chữ” và “Ngáo chữ”.

    “Chơi chữ” thể hiện sự uyên thâm của người chơi với chữ viết, các phim cổ trang bên Tàu giới thiệu nhà của các bậc vương giả trên tường toàn tranh chữ.

    Ngày tết, không ít người Việt xin chữ Nhẫn, chữ Phúc, chữ Học,… về dán trên tường. Có người cầu kỳ mua chữ nho vàng chóe, đóng khung bán trong các cửa hàng, có người mua chữ “Học” (学) treo trên tường nhưng bảo viết lại trên giấy thì không viết được.

    Với những người ấy, không biết họ đang “chơi chữ” hay “ngộ chữ”?

    Có lẽ cần phải giải thích, rằng đây không phải chữ “ngộ” trong cụm từ “giác ngộ” mà trong “ngồ ngộ” hoặc “ngộ độc”.

    “Ngồ ngộ” ít thì người ta thương, người ta cười, ngồ ngộ quá thì người ta bảo dở hơi, người ta ghét, còn “ngộ độc chữ” có khi lại bị mắng vì không biết thì đừng dại mà nuốt vào rồi lại … “khẩu thải” khiến người nghe nhiễm lây.

    Về chuyện “chơi chữ” (hay là ngộ chữ?) xin dẫn “Dự thảo Luật Giao thông đường bộ sửa đổi” (Dự thảo):

    “Đường giao thông nông thôn là đường huyện, đường xã, đường thôn xóm;

    Đường địa phương là đường tỉnh, đường đô thị, đường huyện, đường xã, đường thôn xóm;…”.

    Ngoài ra còn định nghĩa về “Đường cao tốc”, “Đường chính”, “Đường nhánh”, “Đường phố”, “Đường ưu tiên”,…

    Từ xưa đến nay, người Việt đã quen với khái niệm “Quốc lộ”, chẳng hạn Quốc lộ 1A, Quốc lộ 5,… nhưng tìm trong Dự thảo không thấy định nghĩa Quốc lộ trong khi có “đường tỉnh, đường huyện, đường xã,…”.

    Vì sao luật đưa vào khái niệm “đường tỉnh, đường đô thị, đường huyện,…” nhưng lại ngại không nêu khái niệm “Đường nước”, “Đường quốc gia” hay “Đường tổ quốc”?

    Không dùng tiếng Tàu “quốc lộ” mà dùng tiếng thuần việt “Đường nước” thì dễ bị hiểu lầm là đường ống cấp nước sinh hoạt tại đô thị, còn dùng “đường quốc gia, đường tổ quốc” thì rườm rà quá nên tốt nhất là bỏ quách đi, ai muốn gọi thế nào thì gọi?

    Thế còn vì sao và dựa vào tiêu chí nào mà “đường huyện, đường xã, đường thôn xóm” lúc là “Đường giao thông nông thôn”, lúc lại là “Đường địa phương”?

    Liệu “địa phương” có bao gồm cả “nông thôn” hay đã nói đến “nông thôn” tức là cái gì đó “dị dạng” không thể “chung mâm” với địa phương, phải tách riêng ra để “địa phương” đỡ xấu hổ?

    Cách dự thảo từ trong luật như vậy liệu mới chỉ “ngồ ngộ” hay thực sự là “ngộ”?

    Giả sử các nhà làm luật kiên quyết bỏ đi khái niệm “Đường giao thông nông thôn” liệu bà con nông dân có bất bình giống như dân chúng Sóc Sơn – Hà Nội chặn đường không cho xe chở rác vào bãi rác Nam Sơn bởi một khi đã là đường nông thôn, không phải đường địa phương thì huyện, tỉnh/thành phố làm gì có quyền can thiệp, đường ta, ta cứ chặn!!!

    “Ngáo” trong từ “ngáo ộp” thường được người lớn dùng để dọa trẻ con khóc nhè, cũng được sử dụng trong nhiều bài viết của các tờ báo nổi tiếng, chẳng hạn “B52 – con ngáo ộp của Hoa Kỳ”; “Nga lại viện trợ Venezuela: Ai đang là ngáo ộp?”

    “Ngáo đá” là nói về những kẻ nghiện ngập không còn ý thức được hành vi của mình, chúng thường có hành động gây nguy hiểm cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

    Ngày nay, hình như có chuyện người ta tìm cách phù phép biến chữ viết thành thứ để dọa người dân, thậm chí còn dọa cả nhà sản xuất, người tiêu dùng, người kinh doanh,…

    Nói tóm lại là dọa cả xã hội.

    Trường hợp này có lẽ không khác “định nghĩa” ngáo đá nêu phía trên nhưng có gọi là “ngáo chữ” hay không thì người viết tuyệt đối không dám khẳng định.

    “61. Xe chở người bốn bánh có gắn động cơ là phương tiện có hai trục, ít nhất bốn bánh xe chạy bằng động cơ được thiết kế, chế tạo để hoạt động trên đường bộ trong phạm vi hạn chế, có kết cấu để chở người, vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 30 km/h, số chỗ ngồi tối đa không quá 15 chỗ (kể cả chỗ ngồi của người lái)”.

    Chỉ mấy dòng chữ thế thôi nhưng nếu được phê duyệt thì chắc chắn cả bốn biển năm châu đều phải “dựng tóc gáy” vì lo sợ, tại sao?

    Trước hết, “Xe chở người bốn bánh có gắn động cơ là phương tiện có hai trục, ít nhất bốn bánh xe…”.

    Nếu có ai đó căn cứ vào tiêu chí “ít nhất bốn bánh xe” độ thêm vài bánh xe nữa thì chiếc xe đó vẫn gọi là “Xe chở người bốn bánh” hay phải sửa luật?

    Tiếp theo, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách như các chủ xe Ford Transit hoán cải thành kiểu xe Limousine 9 chỗ, muốn được coi là “Xe chở người bốn bánh có gắn động cơ” để kinh doanh thì bắt buộc phải thay đổi động cơ và hộp số sao cho “vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 30 km/h”???

    Nên nhớ đây là “vận tốc thiết kế” chứ không phải vận tốc chạy trên đường!

    Được biết trên đường cao tốc, rất nhiều đoạn quy định tốc độ thấp nhất là 60 km/h, điều này có nghĩa là chạy với tốc độ dưới 60 km/h là vi phạm và có thể bị phạt. Vậy bao nhiêu “xe chở người bốn bánh có gắn động cơ” sẽ phải “đắp chiếu” nếu luật được thông qua?

    Với các nhà thiết kế, sản xuất ô tô trên toàn thế giới, họ phải hiểu thế nào về quy định “xe chở người bốn bánh có gắn động là phương tiện có hai trục,…”?

    “Hai trục” đó là những trục nào và chúng được dùng để làm gì?

    Điều gì sẽ xảy ra nếu xe chở người bốn bánh có nhiều hơn “hai trục”?

    Nếu hai trục đã được sử dụng để nối bánh xe (hai bánh xe một trục) thì phải chăng toàn bộ xe bốn bánh dẫn động bằng “trục các-đăng” (trục nối từ hộp số đến cầu xe) sẽ bắt buộc phải bỏ loại trục này để đảm bảo tiêu chí xe chỉ có “hai trục”?

    Tóm lại là từ nay trở đi, các hãng xe Việt Nam, Nhật, Hàn, Pháp, Mỹ, Anh,… muốn bán xe tại Việt Nam thì phải thực hiện một trong các phương án:

    Hoặc là tổ chức đại hội toàn thế giới thống nhất không sử dụng cụm từ kỹ thuật “trục các-đăng” mà thay thế bằng “ống các-đăng”, “đòn các-đăng”, “thanh các-đăng”, “que các-đăng”,… miễn là bỏ đi chữ “trục”.

    Nếu một hãng nào đó vẫn muốn giữ “trục các-đăng” thì phải bỏ bớt trục nối hai bánh trước (hoặc trục nối hai bánh sau), hoặc là bỏ cả hai trục, lắp ván trượt cho “xe chở người 4 bánh”.

    Cách thứ ba để bỏ “trục các-đăng” là tìm trong vốn cổ, học cách truyền động trên xe máy Solex của người Pháp, bốn bánh xe ô tô mỗi bánh lắp một động cơ.

    Cách cuối cùng là “chào thua” Luật Giao thông của Việt Nam (nếu được thông qua), hẹn khi nào có luật mới sẽ đưa xe đến bán.

    Và những tín đồ của “xe chở người bốn bánh có gắn động cơ” hoặc là chuyển sang loại “xe thương binh” ba bánh, hoặc là liên hệ với bên Mông Cổ mua loại ngựa lùn về xài tạm?

    Nếu trẻ con lớp 1 từ năm 2021 của thế kỷ thứ 21 vẫn phải học Tiếng Việt đầy “sạn” do các vị tiếng nổi như cồn biên soạn, thẩm định thì kiểu gì mấy chục năm nữa cũng sẽ thấy đầy “sỏi” trong các văn bản quy phạm, giống như sỏi thận, sỏi mật tích lũy trong cơ thể vậy.

    Luật nhân quả là như vậy, nuốt vội dễ bị nghẹn lắm.

    [2]https://anninhthudo.vn/my-van-la-con-ngao-op-doi-voi-trung-quoc-post205411.antd

    【#6】Sự Cần Thiết Phân Biệt Các Khái Niệm Từ Gốc, Từ Mượn, Từ Ngoại Lai Và Từ Ngoại Trong Nghiên Cứu Từ Vựng Tiếng Việt

    Thực tế trong những năm gần đây khi phân tích từ vựng tiếng Việt về mặt nguồn gốc, nhiều luận văn cao học và luận án tiến sĩ thường phân biệt từ thuần Việt với từ Hán Việt như là sự đối lập giữa một bên là từ bản ngữ và một bên là từ ngoại lai. Nhưng vì các khái niệm từ thuần Việt và từ ngoại lai chưa được xác định rõ ràng nên các số liệu thống kê thường ít có giá trị.

    Về lí luận, có thể hiểu từ vựng thuần Việt là những từ ngữ vốn có của tiếng Việt, còn từ vựng ngoại lai là những từ ngữ mà tiếng Việt mượn của các ngôn ngữ khác. Tuy nhiên, trong thực tế việc nhận diện đâu là từ thuần Việt, đâu là từ ngoại lai không phải dễ dàng.

    Hiện nay, đa số các nhà ngôn ngữ học quan niệm tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt – Mường, tiểu chi Việt – Chứt, nằm trong khối Việt Katu, thuộc khu vực phía đông của ngành Mon – Khơ-me, họ Nam Á. Nếu chỉ coi những từ gốc Nam Á trong tiếng Việt mới là các từ thuần Việt thì số lượng các từ thuần Việt chẳng đáng là bao. Công trình sưu tập được nhiều nhất những từ gốc Nam Á trong tiếng Việt là cuốn Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt của Vũ Đức Nghiệu .

    THƯ MỤC THAM KHẢO

    1. Trần Trí Dõi, Khái niệm từ thuần Việt và từ ngoại lai từ góc nhìn của lịch sử tiếng Việt hiện nay, Ngôn ngữ, số 11, 2011.

    2. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985.

    3. Nguyễn Thiện Giáp, Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996.

    4. Nguyễn Thiện Giáp, Từ và từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014.

    5. Nguyễn Văn Khang, Từ ngoại lai trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007.

    6. Vũ Đức Nghiệu, Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2011

    NGUYỄN THIỆN GIÁP 1

    【#7】Hướng Dẫn Học Piano Đệm Hát: Tiết Tấu Cơ Bản

    Học Piano đệm hát sau khi nắm được các hợp âm Piano cơ bản, nói chung chỉ khó trong việc chơi các nốt nhạc trên đàn – với tiết tấu đúng. Điều này bắt nguồn từ việc hiểu được các kiến thức cơ bản về trường độ, tiết điệu. Bài viết này hướng đến việc đưa ra 5 bài học để giúp bạn chơi các nốt nhạc “đúng thời điểm”.

    Bài học Piano đệm hát 1: Khái niệm Tiết tấu

    Trong dàn nhạc nhẹ, khái niệm tiết tấu (Rhymth) được hiểu là sự chuyển động có quy luật, có chu kì của bộ gõ (các loại trống phách) kết hợp cùng các loại nhạc cụ khác như: guitar lead, guitar chant, guitar bass, đàn phím điện tử, kèn saxophone… Như vậy, bộ gõ đóng vai trò rất quan trọng để tạo nên một phong cách âm nhạc. Trong quá trình phát triển của nhạc nhẹ, đã có nhiều trào lưu âm nhạc được định hình về phong cách như: Ballad, Pop, Rock, Jazz, Rap, Hip-hop, Dance… Sự giao lưu tiếp biến giữa các phong cách âm nhạc đã tạo ra sự đa dạng về tiết tấu, chẳng hạn như sự kết hợp giữa phong cách Rock và Ballad tạo ra tiết tấu Rock Ballad. Và để định nghĩa hoặc miêu tả thế nào là tiết tấu Rock, thế nào là tiết tấu Ballad cũng rất khó huống chi chúng lại pha trộn với nhau, đó là chưa kể tiết tấu còn phụ thuộc vào cảm xúc và sự sáng tạo của người phối khí hay người chơi nhạc. Trong một số tài liệu, người ta còn dùng các từ “phong cách”, “kiểu cách” (Style), “nhịp điệu”, “điệu nhạc” để chỉ tiết tấu nhạc nhẹ

    Như vậy, một phong cách âm nhạc được tạo nên bởi sự kết hợp của cả dàn nhạc. Một cây đàn Piano dùng để đệm hát chỉ giúp chúng ta mô phỏng phần nào phong cách của tiết tấu âm nhạc ấy. Việc học đệm của chúng ta ở đây là khéo léo bắt chước các tiết tấu âm nhạc để sao cho một cây đàn Piano có thể thay thế một cách tốt nhất chức năng cơ bản của dàn nhạc. Khi đã thuần thục, bạn có thể sáng tạo thêm để phần đệm đạt hiệu quả nhất.

    Bài học Piano đệm hát 2: Hình nốt khác nhau có độ dài khác nhau.

    Trường độ là một trong 4 yếu tố cấu thành nên âm thanh âm nhạc, bên cạnh cao độ, cường độ và âm sắc, nói đến độ dài của âm thanh âm nhạc đó. Ví dụ: một nốt Đô kéo dài 1s sẽ có trường độ khác với nốt Đô kéo dài 2s. Để kí hiệu sự khác biệt về trường độ của các nốt nhạc trên bản nhạc, người ta sử dụng các hình nốt khác nhau, tương ứng với các trường độ khác nhau. Với cùng một bản nhạc, người ta cũng sử dụng máy đập phách, để tạo ra các âm thanh đều đặn theo thời gian như kim đồng hồ, làm đơn vị đo cho các nốt nhạc. Một nốt nhạc lúc đó có thể có độ dài bằng 1 phách, 2 phách, nửa phách…

    Ở trình độ cơ bản, bạn cần biết rằng mỗi nốt nhạc có thể có độ dài bằng một số phách, và bạn cần phải giữa nốt nhạc cho đến khi bạn đếm hết số phách đó. Ví dụ: một nốt tròn thường bao gồm 4 phách. Điều này có nghĩa là bạn cần phải giữ nốt đó cùng lúc với việc đếm “1, 2, 3, 4” trước khi chuyển sang nốt khác. Mặt khác, một nốt đen chỉ thường dài bằng 1 phách. Điều này nghĩa là bạn chỉ cần đếm hết “1”. Lưu ý rằng các số đếm này cần phải đều đặn theo thời gian, giống như tiếng tick tắc của kim đồng hồ vậy.

    Để ý sự khác biệt giữa 2 hình nốt trong 2 hình sau:

    Nốt tròn Nốt đen

    Bài học Piano Đệm hát 3: Số chỉ nhịp

    Số chỉ nhịp được sử dụng để xác định nhịp của bài hát. Chính xác hơn, số chỉ nhịp cho người ta biết có bao nhiêu phách trong mỗi ô nhịp và giá trị nốt nhạc nào được gán cho mỗi phách. Số chỉ nhịp xuất hiện ở đầu bản nhạc và trông như sau:

    Số chỉ nhịp bao gồm 2 số thường xuất hiện ở sau khóa Sol và khóa Fa.

    Ví dụ: Nhịp 4/4 là nhịp phổ biến nhất. Số 4 ở trên nghĩa là có 4 phách trong 1 ô nhịp. Một ô nhịp là khoảng cách giữa 2 gạch sổ dọc (vạch nhịp) trong bản nhạc. Số 4 ở dưới thể hiện độ dài một phách bằng 1/4 nốt tròn (bằng một nốt đen). Vậy bản nhạc bắt đầu với nhịp 4/4 nghĩa là có 4 phách trong 1 ô nhịp và mỗi nốt đen có độ dài bằng một phách.

    Ngoài ra, bạn cũng có thể thấy số chỉ nhịp có số 2 hoặc 8 ở dưới, nghĩa là một nốt trắng hoặc một nốt móc đơn cũng có thể đếm là một phách, tuy nhiên các trường hợp này hiếm gặp. Ở trình độ cơ bản, bạn có thể tạm hiểu nốt đen bằng 1 phách, nốt trắng bằng 2 phách… để dễ nhớ!

    Số ở trên cũng có thể thay đổi. Điều này chỉ có ý nghĩa là thay vì 4, có thể có 3, 6 hoặc một số phách nào đó trong một ô nhịp. ¾ nghĩa là có 3 phách trong một ô nhịp và mỗi nốt đen có độ dài bằng một phách.

    Bài học Piano đệm hát 4: Chơi các nốt nhạc đúng lúc

    Giờ bạn đã hiểu các hình nốt nhạc khác nhau có các số đếm khác nhau, và các số đếm này được quy định bởi số chỉ nhịp. Tiếp theo bạn cần phải chơi được từng nốt nhạc đúng lúc.

    Khi chơi từng nốt nhạc, hãy tưởng tượng về một nhịp trống đập đều (phách). Nhịp trống rất đều, không tăng hay giảm tốc độ. Nếu số chỉ nhịp là 4/4, mỗi nốt đen sẽ là một nhịp trống đều. Điều này không có nghĩa chúng ta sẽ chơi nốt đen, mà đây chỉ là cách để chúng ta giữ được nhịp đều trong đầu mình.

    Giờ đây với nhịp đập đều trong đầu mình, chúng ta cần phải chơi nốt đen, cùng lúc với nhịp đập trong đầu. Nếu chúng ta chơi nốt trắng (dài bằng 2 phách), chúng ta chỉ chơi một nốt nhạc cho mỗi 2 nhịp đập. Và chúng ta cần giữ nốt nhạc kéo dài đến hết 2 nhịp. Và tương tự như vậy.

    Và đó, về cơ bản, chính là cách nhịp phách hoạt động trong âm nhạc.

    Bài học Piano đệm hát 5: Thực hành nhịp phách qua bài Một con vịt!

    Dễ dàng học Piano Đệm hát với Giáo viên hướng dẫn bạn thích nhất!

    【#8】Định Nghĩa Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng

    Định Nghĩa Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng, Giải Bài Tập Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng, Bài Tập Chuyên Đề Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng, Chuyên Đề Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng, Định Nghĩa Góc Giữa Đường Thẳng Và Mặt Phẳng, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Vuông Góc, Định Nghĩa 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Định Lý 2 Đường Thẳng Vuông Góc, Định Lý 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Định Nghĩa Đường Thẳng, Định Nghĩa 3 Đường Thẳng Đồng Quy, Phương Trình 2 Đường Thẳng Vuông Góc, Trắc Nghiệm 2 Đường Thẳng Vuông Góc, 2 Phương Trình Đường Thẳng Vuông Góc, Công Thức 2 Đường Thẳng Vuông Góc, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Chéo Nhau, Chuyên Đề Chứng Minh Hai Đường Thẳng Vuông Góc, Định Nghĩa Mặt Phẳng, Bài Giảng 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Chuyên Đề 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Giáo án 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Bài Giảng Hai Mặt Phẳng Vuông Góc, Phương Trình 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Công Thức 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Khái Niệm 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Định Nghĩa 3 Vecto Đồng Phẳng, Định Nghĩa Góc Vuông, Định Nghĩa M Vuông, Định Lý Ba Đường Vuông Góc, Định Lý 3 Đường Vuông Góc, Định Nghĩa Hình Vuông, Định Lý Đường Cao Tam Giác Vuông, Định Luật 3 Đường Vuông Góc, Định Lý Đảo Của Định Lý Đường Trung Tuyến Trong Vuông, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Song Song, Định Lý 3 Đường Vuông Góc Trong Tam Giác, Định Lý Đường Trung Tuyến Trong Tam Giác Vuông, Định Nghĩa 2 Mặt Phẳng Song Song, Giải Bài Tập Quan Hệ Giữa Đường Vuông Góc Và Đường Xiên Đường Xiên Và Hình Chiếu Lớp 7, Biển Nào Báo Hiệu Nơi Đường Sắt Giao Vuông Góc Với Đường Bộ, Định Nghĩa 8 Tháng 3, Định Nghĩa Giá Trị Thặng Dư, Dương Đình Thắng , Cho Đường Tròn Tâm O, Bán Kính 4cm. Vẽ Hình Vuông Nội Tiếp Đường Tròn Trên. Tính Độ Dài Cạnh Của Hìn, Cho Đường Tròn Tâm O, Bán Kính 4cm. Vẽ Hình Vuông Nội Tiếp Đường Tròn Trên. Tính Độ Dài Cạnh Của Hìn, Định Nghĩa Hình Thang, Định Nghĩa Đoạn Thẳng, Định Lý 3 Đường Thẳng Đồng Quy, Định Nghĩa 3 Điểm Thẳng Hàng, Định Nghĩa Lề Đường, Định Nghĩa Đường 0, Định Nghĩa Đường Sức Từ, Định Nghĩa âm Dương, Định Nghĩa Thế Nào Là Đường Đôi, Định Nghĩa Đường Cao, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Địa Chỉ Trường An Dương Vương, Mot Hinh Thang Co Day Lon 24cm Đay Nho Bang 2phan 3 Day Lon Leu Leo Dai Day Lon Them 30 Cm Vuong Tin, Định Nghĩa Đường Tròn Lớp 9, Định Nghĩa Đường Tròn, Định Nghĩa Đường Gấp Khúc, Truyện Cổ Tích An Dương Vương, ý Nghĩa Khái Niệm Tròn Và Vuông, Định Nghĩa 3 Đường Cao Trong Tam Giác, Định Nghĩa 3 Đường Trung Tuyến, Định Nghĩa Đường Trung Trực, Định Nghĩa Đường Trung Tuyến, Tóm Tắt Văn Bản An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy, Không Định Nghĩa Được Đường Đồng Mức, Định Nghĩa 2 Phương Trình Tương Đương, Định Nghĩa Phương Trình Tương Đương, Nhận Định Nào Sau Đây Về Thời Cơ Tổng Khởi Nghĩa Tháng Tám Không Đúng, Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Đường Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, Định Lý 2 Đường Thẳng Song Song, Định Lý Về Tam Giác Vuông, Định Lý Tam Giác Vuông, Báo Cáo Vương Gia Vương Phi Là Một Con Mèo Tập 1 Thuyết Minh, Báo Cáo Vương Gia Vương Phi Là Một Con Mèo Diễn Viên, 4 Định Lý Trong Tam Giác Vuông, Định Nghĩa âm Tính Và Dương Tính, Định Lý 2 Tam Giác Vuông Bằng Nhau, Quy Định Số 104 Của Quân ủy Trung ương Ngày 16 Tháng 2 Năm 2021, Quy Định 104 Ngày 16 Tháng 2 Năm 20, Quy Định Số 104 Của Quân ủy Trung ương Ngày 16 Tháng 2 Năm 2021, Quy Định 104 Ngày 16 Tháng 2 Năm 20, ý Nghĩa Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư, ý Nghĩa Của Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư, ý Nghĩa Kỹ Năng ứng Phó Với Căng Thẳng, ý Nghĩa Của Cách Mạng Tháng 8, Học Thuyết Giá Trị Thặng Dư Và ý Nghĩa Thời Đại, Kế Hoạch Y Tế Học Đường Tháng 4, Phân Tích Xuân Đương Tới Nghĩa Là Xuân Đương Qua, Định Lý 2 Mặt Phẳng Song Song, ý Nghĩa To Lớn Của Cách Mạng Tháng 8 Năm 1945, Tóm Tắt ý Nghĩa Lịch Sử Cách Mạng Tháng 8, ý Nghĩa Cương Lĩnh Tháng 2 Năm 1930, Mẫu Bản Kiểm Điểm Thăng Cấp Bậc Hàm Của Chiến Sĩ Nghĩa Vụ, Tóm Tắt ý Nghĩa Chiến Thắng Điện Biên Phủ, Phương Trình Đường Thẳng Lớp 9, Bài 1 Phương Trình Đường Thẳng Lớp 10, Phương Trình Đường Thẳng, Phương Trình Đường Thẳng Lớp 10,

    Định Nghĩa Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng, Giải Bài Tập Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng, Bài Tập Chuyên Đề Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng, Chuyên Đề Đường Thẳng Vuông Góc Với Mặt Phẳng, Định Nghĩa Góc Giữa Đường Thẳng Và Mặt Phẳng, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Vuông Góc, Định Nghĩa 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Định Lý 2 Đường Thẳng Vuông Góc, Định Lý 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Định Nghĩa Đường Thẳng, Định Nghĩa 3 Đường Thẳng Đồng Quy, Phương Trình 2 Đường Thẳng Vuông Góc, Trắc Nghiệm 2 Đường Thẳng Vuông Góc, 2 Phương Trình Đường Thẳng Vuông Góc, Công Thức 2 Đường Thẳng Vuông Góc, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Chéo Nhau, Chuyên Đề Chứng Minh Hai Đường Thẳng Vuông Góc, Định Nghĩa Mặt Phẳng, Bài Giảng 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Chuyên Đề 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Giáo án 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Bài Giảng Hai Mặt Phẳng Vuông Góc, Phương Trình 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Công Thức 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Khái Niệm 2 Mặt Phẳng Vuông Góc, Định Nghĩa 3 Vecto Đồng Phẳng, Định Nghĩa Góc Vuông, Định Nghĩa M Vuông, Định Lý Ba Đường Vuông Góc, Định Lý 3 Đường Vuông Góc, Định Nghĩa Hình Vuông, Định Lý Đường Cao Tam Giác Vuông, Định Luật 3 Đường Vuông Góc, Định Lý Đảo Của Định Lý Đường Trung Tuyến Trong Vuông, Định Nghĩa 2 Đường Thẳng Song Song, Định Lý 3 Đường Vuông Góc Trong Tam Giác, Định Lý Đường Trung Tuyến Trong Tam Giác Vuông, Định Nghĩa 2 Mặt Phẳng Song Song, Giải Bài Tập Quan Hệ Giữa Đường Vuông Góc Và Đường Xiên Đường Xiên Và Hình Chiếu Lớp 7, Biển Nào Báo Hiệu Nơi Đường Sắt Giao Vuông Góc Với Đường Bộ, Định Nghĩa 8 Tháng 3, Định Nghĩa Giá Trị Thặng Dư, Dương Đình Thắng , Cho Đường Tròn Tâm O, Bán Kính 4cm. Vẽ Hình Vuông Nội Tiếp Đường Tròn Trên. Tính Độ Dài Cạnh Của Hìn, Cho Đường Tròn Tâm O, Bán Kính 4cm. Vẽ Hình Vuông Nội Tiếp Đường Tròn Trên. Tính Độ Dài Cạnh Của Hìn, Định Nghĩa Hình Thang, Định Nghĩa Đoạn Thẳng, Định Lý 3 Đường Thẳng Đồng Quy, Định Nghĩa 3 Điểm Thẳng Hàng, Định Nghĩa Lề Đường,

    【#9】Nghệ Thuật Giao Tiếp Đỉnh Cao Với 3 Kỹ Thuật Mềm Dịu

    1. Mỉm cười và nghiêng người về phía trước

    Mỉm cười trong lúc trò chuyện, bạn sẽ tạo được nơi người đối diện cảm giác thân ái, cởi mở và và sẵn lòng giao tiếp.

    Tuy nhiên, dù là đứng hay ngồi, sẽ là khôn ngoan hơn nếu như bạn xoay người trực diện với người cùng trò chuyện.

    Quay lưng hoặc nhìn nghiêng chỗ khác là dấu hiệu cho thấy bạn sẵn sàng ra đi ngay khi có cơ hội, và người khác sẽ không có ấn tượng tốt về bạn.

    Hơi nghiêng người về phía trước là một bí quyết giao tiếp hữu dụng. Nó đưa ra thông điệp sau đây: “Tôi rất quan tâm những điều bạn đang nói với tôi”. Kỹ thuật này có thể tăng phần hữu ích, nếu như bạn muốn người đối diện nhắc lại những điều họ vừa nói xong.

    Thế nhưng, sau khi đã áp dụng hết tất cả những cách nói chuyện hay lẫn nụ cười thân ái rồi, mà tại sao người đối diện vẫn tỏ ra “đóng băng” trước bạn? Trước tiên, hãy kiểm tra lại bạn có đứng quá gần họ không? Ai cũng cần một không gian cá nhân. Hãy lui về sau, chừa một khoảng cách độ ba bước chân với họ, và duy trì giao tiếp qua ánh mắt trong lúc trò chuyện.

    2. Chiến thuật “vuốt đuôi” trong nghệ thuật giao tiếp

    Nếu chẳng còn gì để nói, hãy thử áp dụng một trong những chiến thuật dễ nhất là ” vuốt đuôi” – tức là nhắc lại một vài từ cuối câu nói của người khác, để cho thấy là bạn đang quan tâm sát sao đến đâu. Chẳng hạn như khi có người nói với bạn: ” Khó khăn lắm tôi mới đến được đây. Xe của tôi bị hỏng nặng!”, thì bạn có thể nhắc lại: “Xe của bạn bị hỏng nặng ư? “. Động tác này thường khuyến khích họ cung cấp thêm nhiều thông tin về đề tài.

    Một số người – đặc biệt là những người sống tự nhiên và có thói quen nói chuyện hài hước – có khuynh hướng hay chạm vào người khác trong lúc trò chuyện, để chứng tỏ mối quan tâm của mình, đặc biệt là khi người khác tỏ ra buồn bã hay hoang mang. Tuy nhiên, đây có thể là một sai lầm. tiếp xúc do và chạm – ngoại trừ lần bắt tay đầu tiên mà bạn có thể là người chìa tay ra trước – nên được tránh tối đa.

    Chuyên gia tâm lý Gay Gooer giải thích: ” Va chạm vào cơ thể người khác sẽ đóng lại mọi tiếp xúc, bởi vì bạn đang xâm lấn vào không gian cá nhân của họ. Nếu họ là người sống hướng nội, nhút nhát, thì bạn có thể đã xóa bỏ hết tác động của những gì mình vừa nói với họ. Bạn có thể bị hiểu lầm theo nghĩa tiêu cực “.

    Khi trò chuyện, người ta thường có khuynh hướng cao giọng, đặc biệt là khi nóng nảy, bồn chồn, lo sợ. Không ai có thể nghe những âm thanh ấy được lâu mà không cảm thấy bực bội. để hạ giọng xuống và cải thiện ngữ điệu cũng như độ biến thiên của tình tiết, bạn hãy tập thở từ cơ hoành, hít sâu và dài hơi. Bạn sẽ bớt căng thẳng và diễn đạt tư tưởng tốt hơn, đồng thời cũng nắm được một bí quyết quan trọng trong nghệ thuật giao tiếp.

    3. Gật đầu khi trò chuyện

    Trong lúc người khác nói, hãy áp dụng “kỹ thuật mềm dịu” cuối cùng là gật đầu. Đấy không những là sự diễn đạt cởi mở, rằng bạn đang nghe, mà còn thể hiện kỹ năng giao tiếp tốt, là bạn đang hiểu những gì người khác nói. Nếu vừa gật đầu vừa nhoẻn miệng cười thân ái, tức là bạn đã đồng ý! Thậm chí, bạn còn có thể dùng kỹ thuật này nếu như bạn là người đang nói.

    Hãy gật đầu trong lúc đặt câu hỏi: ” Mình nghĩ rằng điều này rất quan trọng, cậu có đồng ý không nào? “. Thông thường thì người khác sẽ gật đầu theo, và mở ra kênh giao tiếp giữa hai người.

    Để bảo đảm thành công khi trò chuyện, hãy nhớ tên người mình vừa tiếp xúc. Họ sẽ rất vui khi được nhớ tên, được để lại ấn tượng tốt trong bạn. Điều này thật khác hẳn với cảnh lúng túng, gãi đầu gãi tai vì không thể nhớ được cái tên cần nhớ.

    Ngoài việc nói và đặt câu hỏi, bạn cũng đừng quên lắng nghe, một nghệ thuật giao tiếp quan trọng. Nếu có thể, hãy cố gắng hòa hợp những gì bạn đã biết về họ với những thông tin mà họ đang cung cấp. Hãy để họ hoàn tất những gì đang nói dở, đừng vội vàng “lấp vào chỗ trống” bằng những suy nghĩ cá nhân của mình.

    Khi tham gia vào một câu chuyện diễn ra từ trước, bạn hãy cẩn thận đừng xen vào giữa họ. Hãy đứng ở ngoài vòng, hướng người đối diện về phía “diễn giả” đang nói. Cuối cùng, khi có một người mời gọi tham dự thì bạn hãy bước vào. Nếu đây là chuyện riêng tư, làm ăn của họ, tốt nhất là bạn không nên xâm phạm vào.

    Nghệ thuật giao tiếp để thành công chính là khi bạn trò chuyện một cách rôm rả, thân quen làm cho người khác lầm tưởng bạn đã quen họ từ lâu, nhưng thật ra thì bạn vừa mới làm quen họ cách đây vài phút trước đây.

    Đừng quên việc tập trung vào tình huống. Trò chuyện với người khác mà đầu óc lơ mơ, nghĩ về những chuyện xa xôi đâu đâu, thì bạn rất dễ làm họ buồn lòng, tủi thân!

    【#10】Tính Từ Trong Tiếng Anh: Phân Loại Và Cách Dùng

    Định nghĩa, phân loại, ví trí và cách sử dụng tính từ sở hữu, tính từ miêu tả, tính từ chỉ thị….trong tiếng anh cũng như các giới từ đi kèm với tính từ đầy đủ nhất.

    Tính từ trong tiếng anh là gì?

    Tính từ (Adjective) là từ bổ trợ cho danh từhoặc đại từ, nó giúp miêu tả các đặc tính của sự vật, hiện tượng mà danh từ đó đại diện. Tính từ là những từ chỉ màu sắc, trạng thái, tính chất… Các tính từ này thường đứng trước danh từ để bổ nghĩa cho danh từ, làm cho ta hiểu thêm về danh từ.

    Tính từ cũng thường đi sau một vài động từ như động từ “to be” hay “look”, “seem”, “appear”, “turn”…

    VD: – We can’t go out because of the heavy rain.

    – He is kind to us.

    Một tính từ có thể đứng trước hoặc đứng sau danh từ hay đại từ mà nó mô tả.

    Nhiều tính từ có thể được dùng để mô tả cho cùng một danh từ (khi có nhiều tính từ đứng trước và miêu tả về cùng 1 danh từ thì các tính từ sẽ sắp xếp theo trật tự là: opinion – size – shape – age – color – origin – material: quan điểm nhận xét về đối tượng danh từ – kích thước – hình dáng – tuổi tác – màu sắc – xuất xứ – chất liệu danh từ).

    Nếu có nhiều tính từ miêu tả thì tính từ ngắn đứng trước tính từ dài, tính từ chỉ tinh thần trước tính từ chỉ vật chất.

    Thứ tự sắp xếp của tính từ trong tiếng anh

    Trật từ của tính từ trong tiếng anh được sắp xếp theo các vị trí như sau:

    ( be và các động từ như seem, look, feel..) She is tired. Jack is hungry. John is very tall.

    * Sau danh từ: Tính từ có thể đi sau danh từ nó bổ trợ trong các trường hợp sau đây:

      Khi tính từ được dùng để phẩm chất/tính chất các đại từ bất định:

    There is nothing interesting.

      Khi hai hay nhiều tính từ được nối với nhau bằng “and” hoặc “but”, ý tưởng diễn tả bởi tính từ được nhấn mạnh:

    The writer is both clever and wise. The old man, poor but proud, refused my offer.

      Khi tính từ được dùng trong các cụm từ diễn tả sự đo lường:

    The road is 5 kms long A building is ten storeys high

      Khi tính từ ở dạng so sánh:

    They have a house bigger than yours The boys easiest to teach were in the classroom

      Khi các quá khứ phân từ là thành phần của mệnh đề được rút gọn:

    The glass broken yesterday was very expensive

      Một số quá khứ phân từ (P2) như: involved, mentioned, indicated:

    The court asked the people involved Look at the notes mentioned/indicated hereafter

    * Hậu tố (đuôi) của tính từ trong tiếng anh

    Thông thường các hậu tố thường gặp ở tính từ là: -able, -ible, -al, -tial, -ic, -y, -ful, -ous, -ive, -less, -ish, -ent, -ary VD: honorable, possible, national, economic, funny, useful, dangerous, expensive, colorless, childish, independent, necessary… Tính từ kết thúc là -ing và -ed:

      Loại tính từ này thường được cấu tạo từ động từ và sau đó thêm -ing và -ed

    VD: surprise (v) à surprising (adj) – surprised (adj)

      Tuy nhiên có sự khác nhau giữa adj -ing và adj -ed

    – ing adj: thường mang nghĩa chủ động (tác động tới cái gì đó, ai đó, có ảnh hưởng này), chỉ tính chất, bản chất, dùng để miêu tả nơi chốn, sự vật, sự việc, hành động. VD: She has an interesting film. – ed adj: thường mang nghĩa bị động (bị cái gì đó tác động lên, bị ảnh hưởng theo cách này), thường dùng để chỉ cảm xúc. VD: I feel bored when I listen to classical music.

    Phân loại và cách sử dụng các loại tính từ trong tiếng anh

    Tính từ trong ngữ pháp tiếng anh thường được phân thành 2 loại, tính từ theo chức năng và tính từ theo vị trí.

    Phân loại và cách dùng tính từ theo chức năng

    * Tính từ riêng: xuất phát từ một danh từ riêng

    VD: Vietnam à Vietnamese France à French England à English Japan à Japanese

    Lưu ý: những tính từ riêng phải viết hoa

    * Tính từ miêu tả: những từ miêu tả hoặc định phẩm một danh từ Phần lớn tính từ đều thuộc loại này

    VD: – a tall boy: một đứa trẻ cao

    – a round ball: một quả bóng tròn

    – a ptty girl: một em bé xinh

    Các tính từ miêu tả thường được sắp xếp như sau: sự miêu tả tổng quát (bao gồm những tính từ chỉ cá tính và sự xúc cảm) – kích thước – hình dáng – màu sắc – nguồn gốc – chất liệu – mục đích (những từ này là danh động từ được dùng để hình thành danh từ kép: fishing rod (cần câu cá), sleeping bag (túi ngủ)…)

    VD: – a small round bath: một cái chậu tắm tròn nhỏ

    – a long sharp knife: một con dao sắc dài

    – blue velvet curtains: những tấm màn nhung xanh

    * Tính từ sở hữu: dùng để chỉ danh từ đó thuộc về ai

    VD: – my house: ngôi nhà của tôi

    – our garden: khu vườn của chúng tôi

    – their grandparents: ông bà của họ

    Lưu ý: khi chủ sở hữu là một đại từ bất định: one à hình thức sở hữu tính từ là one’s Chủ sở hữu là những từ như “everyone” hay những danh từ tập hợp thì tính từ sở hữu ở hình thức ngôi thứ ba số nhiều “their”

    * Tính từ số mục: từ chỉ số đếm hoặc số thứ tự

    VD:- one, two, three…: một, hai, ba

    – first, second, third…: thứ nhất, thứ hai, thứ ba

    – I am the second daughter in the family.

    * Tính từ phân phối: từ không chỉ rõ các vật

    VD:

    – all: tất cả

    – every: mọi – some: một vài, ít nhiều

    – many, much: nhiều

    – Each và every: đều đi với động từ ở ngôi số ít. Every chỉ một tập thể, Each chỉ cá thể.

    VD: – Each student must try his best.

    – Every man knows what to do.

    – Both: cả hai, dùng với động từ ở số nhiều.

    VD: – Both the children play in the garden.

    – Both his legs were broken.

    – Either và Neither: đều đi với động từ ở ngôi số ít. Either nghĩa là cái này hoặc cái kia trong số hai. Neither nghĩa là không cái này cũng không cái kia trong số hai.

    VD: – Hedges ran on either side. (hàng rào chạy dài ở mỗi một bên đường.)

    – Other, another : khác

    – Neither answer is correct. (cả hai câu trả lời đều không đúng.)

    VD: – You have to learn many other things. – Another boy has taken my

    *Tính từ chỉ thị: từ đi với danh từ để chỉ cái này, cái kia Đây là loại tính từ duy nhất thay đối theo số của danh từ. This, That thay đổi thành These, Those khi đi trước danh từ số nhiều. This, vàThese được dùng cho các đối tượng, vật và người ở gần trong khi That và Those dùng cho các đối tượng ở xa hơn.

    VD:

    – this chair: cái ghế này;

    – these chairs: những cái ghế này

    – that child: đứa trẻ đó; those children: những đứa trẻ đó

    * Tính từ liên hệ: từ có hình thức như đại từ liên hệ

    VD: whichever, whatever

    * Tính từ nghi vấn: từ dùng để hỏi

    Tính từ nghi vấn chỉ có hai hình thức:

    – In what place were you born?

      What (gì, nào) (nói chung) đi với danh từ chỉ người cũng như chỉ vật, ở số ít cũng như ở số nhiều, làm bổ túc từ cũng như chủ từ.

    VD: – What boy beats you? (đứa trẻ nào đánh bạn?) – What books have you read? (những cuốn sách nào bạn đã đọc?)

      Which (gì, nào) (ngụ ý lựa chọn) đi với danh từ chỉ người cũng như chỉ vật ở số ít cũng như ở số nhiều, làm bổ túc từ cũng như chủ từ.

    VD: – Which book do you like best? (cuốn sách nào bạn thích nhất?) – Which friend do you pfer? (người bạn nào anh ưa hơn?)

    Cách sử dụng và phân loại tính từ theo cách thành lập

    * Tính từ phát sinh

    * Tính từ đơn: long, blue, good, bad

    – Thêm tiền tố: unhappy, inexpensive, impatient, irregular, asleep, illegal…

    – Thêm hậu tố: thường cấu tạo từ một danh từ thêm các đuôi như y, ly, ful, less, en, like, able, al, an, ian, ical, ish, some, một động từ thêm đuôi ing, ed

    VD: rainy, friendly, careful, wooden, musical, atomic, republican, honorable, troublesome, weekly, dreamlike, fairylike, quarrelsome, Southern, Northern, lovely, amazed, amazing…

    * Tính từ ghép Tính từ ghép là sự kết hợp của hai hay nhiều từ lại với nhau và được dùng như một tính từ duy nhất. Khi các từ được kết hợp lại với nhau để tạo thành tính từ ghép, chúng có thể được viết:

    VD: – life + long = lifelong – car + sick = carsick

      thành hai từ có dấu “-” ở giữa

    VD: – world + famous = world-famous

    Tính từ ghép thành lập theo những thể thức sau:

    Cách viết tính từ ghép được phân loại như trên chỉ có tính tương đối.

    VD: – dark-blue: xanh thẫm, xanh đậm

    – wordly-wise: từng trải

    VD: – coal-black: đen như than

    – snow-white: trắng như tuyết

    VD: – dark-eyed: có mắt huyền

    – round-faced: có khuôn mặt tròn

    VD: – snow-covered: có tuyết phủ

    – handmade: làm bằng tay

    VD: – newly-born: sơ sinh

    – white-washed: quét vôi trắng

    VD: – good-looking: trông đẹp mắt, ưa nhìn

    – heart-breaking: làm tan nát cõi lòng

    Ngoài ra còn có nhiều tính từ ghép được thành lập không theo một thể thức nào nhất định

    VD:

    – a heart-to-heart talk: một cuộc nói chuyện tâm sự

    – a never-can-be-finished task: một việc không bao giờ làm xong

    – a need-to-do list: một danh sách những việc cần làm

    Các giới từ đi kèm với tính từ trong tiếng anh

    Đi kèm theo cấu trúc: S + be + adj + giới từ + N / Ving (doing something)

    VD: I am excited about the film. We are interested in learning English. Tùy từng tính từ sẽ có giới từ đi kèm cụ thể. Một số ví dụ về tính từ đi kèm với giới từ:

    Afraid ofAware of Bad at / to Capable of Confident of Fit for Fond of Frightened at / of Good at / to Interested in Keen on Pleased with Prepared for Proud of Ready for Responsible for / to Sorry for / about Successful in Tired of

    e ngại, lấy làm tiếcý thức được tồi, dở về / không tốt với có khả năng về tin chắc về thích hợp với thích khiếp đảm về giỏi về / tốt với quan tâm đến mê thích về hài lòng với sửa soạn cho tự hào về sẵn sàng để có trách nhiệm về/ với xin lỗi vì thành công về chán nản, mệt mỏi về

    • Cách dùng tính từ trong tiếng anh
    • danh sách tính từ trong tiếng anh
    • tính từ trong tiếng anh là gì
    • bài tập về trật tự tính từ trong tiếng anh
    • vị trí của tính từ trong tiếng anh
    • phân loại tính từ trong tiếng anh
    • trật từ tính từ trong tiếng anh
    • cách sắp xếp thứ tự tính từ trong tiếng anh