Logic Học (Logics) Là Gì? Đối Tượng, Phương Pháp Nghiên Cứu Của Logic Học

--- Bài mới hơn ---

  • C# Là Ngôn Ngữ Tuyệt Vời Nhất. Java, Php, C, C++, Ruby Chỉ Toàn Là Thứ Rẻ Tiền
  • Bài 1: Quy Nạp Và Diễn Dịch
  • Tìm Hiểu Logic Của Sự Hình Thành Khái Niệm
  • Tư Duy Logic Là Gì
  • Cách Hiểu Đơn Giản Về Logic Mờ (Fuzzy Logic)
  • Logic học trong tiếng Anh là Logics.

    Thuật ngữ logic được dùng với hai nghĩa chính:

    Logic khách quan, dùng để chỉ tính qui luật cụ thể là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng; hoặc mối liên hệ nội tại của mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan. Các khoa học cụ thể (như vật lí, hóa học, triết học) chủ yếu nghiên cứu logic khách quan – tìm ra các qui luật tất nhiên giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan.

    Logic chủ quan, dùng để chỉ mối liên hệ có tính tất yếu, có qui luật giữa các tư tưởng của con người, xem như phản ánh chân thực hiện thực khách quan. Logic chủ quan được các môn logic học và toán học nghiên cứu.

    Khoa học nghiên cứu logic chủ quan và sự chi phối giữa logic khách quan và chủ quan là logic học.

    Vì vậy có thể định nghĩa logic học như sau:

    Logic học là khoa học nghiên cứu những qui luật và hình thức cấu tạo chính xác của tư duy.

    Đối tượng của logic học

    Logic học nghiên cứu các hình thức logic của tư duy, vạch ra những qui tắc, qui luật của quá trình tư duy. Qua đó khẳng định tính đúng đắn của tư duy. Tuân theo các qui tắc, qui luật là điều kiện cần để đạt tới chân lí trong quá trình phản ánh hiện thực.

    Phương pháp nghiên cứu của logic học

    Đối tượng của logic học là nghiên cứu hình thức, qui luật, các qui tắc tư duy đúng đắn. Muốn hiểu biết đúng đắn các hình thức, các qui luật, các qui tắc của tư duy, chúng ta phải phân tích kết cấu logic của tư tưởng được thể hiện trong đó, nghĩa là phải chỉ ra được các bộ phận, các yếu tố cấu thành và các kiểu liên kết đúng của tư tưởng.

    Việc phân chia một sự vật phức tạp thành các mặt phải dùng các kí hiệu để chỉ các thành phần, các yếu tố và các kiểu liên kết. Việc kí hiệu hóa một quá trình tư tưởng phức tạp, làm rõ kết cấu của nó như vậy được gọi là sự hình thức hóa kết cấu logic của tư tưởng.

    Vậy phương pháp cơ bản mà người ta sử dụng trong logic học là phương pháp phân tích và hình thức hóa.

    Ngoài phương pháp trên, chúng ta còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa… thậm chí sử dụng cả những phương pháp của bản thân môn logic như diễn dịch, qui nạp…

    Ý nghĩa của việc học tập logic học

    Học tập và nghiên cứu logic học góp phần nâng cao trình độ tư duy của mỗi người. Logic rèn luyện tính hệ thống trong quá trình tư duy của mỗi người.

    Ngoài tính hệ thống nó rèn luyện cho chúng ta biết tư duy theo đúng những qui tắc, qui luật vốn có của tư duy, đồng thời nó còn rèn luyện tính chính xác của tư duy, giúp chúng ta có thói quen chính xác hóa các khái niệm, quan tâm tới ý nghĩa của các từ, các câu được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Duy Logic Là Gì? Cách Rèn Luyện Tư Duy Logic Hiệu Quả Như Thế Nào?
  • Combinational Logic Circuits Using Logic Gates
  • Circuit Là Gì, Nghĩa Của Từ Circuit
  • Các Loại Mã Độc Máy Tính
  • Logic Bomb Là Gì? Định Nghĩa Và Giải Thích Ý Nghĩa
  • Logic Học Là Gì? Tìm Hiểu Về Logic Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Toán Logic Là Gì? Hệ Thống Toán Logic
  • Toán Tư Duy Logic Là Gì?
  • Toán Tư Duy Logic Là Gì? Cách Cải Thiện Tư Duy Logic Toán Học
  • Tư Duy Phi Logic: Đừng Nói “không” Với Khách Hàng
  • Năng Lực Tư Duy Logic Là Gì? 5 Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Logic Hiệu Quả
  • 1 – Logic học là gì?

    “Logic học” là bộ ” môn khoa học nghiên cứu” một cách chính xác nhất về tất cả các quy luật và hình thức như ( phán đoán và suy luận vv) về tư duy trìu tượng một cách chính xác nhất.

    Hình 1: Khái niệm logic học là gì?

    2 – Sự phát triển và hình thành của môn logic học

    • Ở phương đông thì logic học được bắt nguồn từ Ấn độ, theo như nghiên cứu được phát hiện ra ngay từ thời kì cổ đại, xuất hiện hàng ngàn năm trở lại đây.
    • Còn ở phương tây thì logic học được bắt nguồn cũng chính từ thời kì cổ đại theo như nghiên cứu khoảng từ năm (560 đến 420 trước công nguyên).
      Logic học còn được nghiên cứu từ trên xuống dưới từ logic học truyền thống đến logic học hiện nay như ngày nay chúng ta đang nghiên cứu về logic học là gì.

    Hình 2: Sự phát triển và hình thành của môn logic học

    3 – Một số ý nghĩa nghiên cứu về logic học là gì?

    • Logic học được nghiên cứu nhằm phát triển trực tiếp tư duy của con người, nhằm hướng con người đến cái mới hơn. Tất nhiên là không phải những phải những ai không học logic là không có tư duy một cách chính xác nhất , bởi vì tư duy đúng đắn thì đều có thể hình thành bằng kinh nghiệm thực tiễn của con người vào cuộc sống, qua tất cả các quá trình như giao tiếp, ứng xử hay qua việc học tập.
    • Nhưng điều này thì không phải tư duy một cách tự giác nhất. Chính vì thế ta cũng có thể tư duy một cách sai lầm và thiếu chính xác. Chính vì thế môn logic học này luôn luôn cần thiết trong đời sống hiện nay.
    • Nhờ có logic học sẽ nâng cao trình độ tư duy, nhờ đó mà có thể tư duy khoa học một cách chính xác nhất, tự giác nhất, chính nhờ vấn logic cũng giúp con người ta tránh được những vấn đề sai lầm thường ngày trong cuộc sống.

    Hình 3: Ý nghĩa của logic học là gì?

    4 – Kết luận

    Logic học được nghiên cứu nhằm phát triển trực tiếp tư duy của con người, nhằm hướng con người đến cái mới hơn. Tất nhiên là không phải những phải những ai không học logic là không có tư duy một cách chính xác nhất , bởi vì tư duy đúng đắn thì đều có thể hình thành bằng kinh nghiệm thực tiễn của con người vào cuộc sống, qua tất cả các quá trình như giao tiếp, ứng xử hay qua việc học tập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Lực Là Gì? Vai Trò Của Nguồn Nhân Lực Với Doanh Nghiệp
  • Tìm Hiểu Áp Lực Là Gì? Áp Suất Là Gì? Công Thức Tính Của Các Loại Áp Suất
  • Bàn Về Năng Lực Nghề Nghiệp Là Gì Để Tự Đánh Giá Khả Năng Bản Thân
  • Lgbt Là Gì Trên Facebook, 7 Điều Thú Vị Về Cộng Đồng Lgbt
  • Lol Là Gì? Ý Nghĩa Của Từ Lol Trong Comment Facebook, Lmht, Tiếng Lóng
  • Khái Niệm Là Gì Logic Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Môn Logic Học
  • Đối Tượng Của Logic Học
  • Tư Duy Logic Là Gì? Các Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Logic ✅
  • 4 Phương Pháp Khoa Học Để Rèn Luyện Tư Duy Logic
  • Khái Quát Về Suy Luận
  • Khái Niệm Là Gì Logic Học, Logic Học Chương Khái Niệm, Logic, Bài Thi Logic, Logic Học, Bài Kiểm Tra Logic, Logic Seminar, Toán Logic, Bài Tập ôn Thi Môn Logic Học Đại Cương, Lý Luận Logic, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm P, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Phó Từ, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Oda, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm 4g, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm Xã Hội Học, Khái Niệm Xã Hội Hóa, Khái Niệm Xã Hội, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm Vô ơn, Khái Niệm Về Tục Ngữ, Khái Niệm Về Số 0, Khái Niệm Về 5s, Khái Niệm Xâu, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm 511, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Văn Hóa, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm ưu Thế Lai, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm Uml, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Url, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm ước, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm L/c, Khái Niệm 4r, Khái Niệm 5g, Khái Niệm 5m, Khái Niệm 5s, 5 Từ Chỉ Khái Niệm, Khái Niệm 5s 3d, Khái Niệm 5s Là Gì, Khái Niệm 632,

    Khái Niệm Là Gì Logic Học, Logic Học Chương Khái Niệm, Logic, Bài Thi Logic, Logic Học, Bài Kiểm Tra Logic, Logic Seminar, Toán Logic, Bài Tập ôn Thi Môn Logic Học Đại Cương, Lý Luận Logic, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm P, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Phó Từ, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Oda, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm 4g, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm Xã Hội Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trào Lưu Dụ ‘crush’ Tự Nói Ra 3 Từ ‘i Love You’ Và Những Cái Kết ‘cười Vỡ Bụng’
  • Công Chức Viên Chức Là Gì? Bạn Đã Hiểu Rõ Về Họ Hay Chưa?
  • Viên Chức Là Gì? Viên Chức Có Trở Thành Công Chức Được Hay Không?
  • Công Chức Là Gì ? Khái Niệm Công Chức Được Hiểu Như Thế Nào ?
  • Viên Chức, Công Chức Là Gì? Và Những Điều Bạn Cần Nên Biết
  • Định Nghĩa Judgemental Credit Analysis / Phân Tích Phán Đoán Tín Dụng Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Short-Term Investment Funds/ Quỹ Đầu Tư Ngắn Hạn Là Gì?
  • Định Nghĩa Jointly And Severally / Kết Hợp Và Riêng Rẽ Là Gì?
  • Định Nghĩa Joint Tenants With Right Of Supervivorship / Người Đồng Sử Dụng Có Quyền Thừa Hưởng Là Gì?
  • Định Nghĩa Certificate Of Indebtedness / Chứng Chỉ Nợ Là Gì?
  • Định Nghĩa Legal Reserves / Dự Trữ Pháp Định Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Sự chấp nhận hoặc từ chối đơn vay tín dụng, dựa vào sự phán đoán của bên cho vay về đơn vay tín dụng, và kinh nghiệm tín dụng với những người nộp đơn tương tự, thay cho mô hình Chấm điểm Tín dụng ước tính xác suất hoàn trả nợ. Theo định nghĩa bởi dự trữ liên bang xác định, thì một hệ thống phán đoán là bất kỳ phương pháp chấp nhận tín dụng nào, khác với mô hình chấm điểm dựa trên thống kê, dẫn xuất từ thực nghiệm. Ngay cả khi sử dụng các hệ thống chấm điểm, người cho vay thường bỏ qua mô hình này, khi họ chấp nhận một khoản vay mà hệ thống chấm điểm từ chối.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Short Date Forward / Hợp Đồng Tương Lai Ngắn Hạn Là Gì?
  • Định Nghĩa Short Coupon / Phiếu Lãi Ngắn Hạn Là Gì?
  • Định Nghĩa Cash Letter / Danh Sách Công Cụ Tiền Mặt Là Gì?
  • Định Nghĩa Cash Journal / Sổ Nhật Ký Tiền Mặt Là Gì?
  • Định Nghĩa Sheriff’S Sale / Bán Đấu Giá Theo Lệnh Tránh Án Là Gì?
  • Toán Tư Duy Logic Là Gì? Cách Cải Thiện Tư Duy Logic Toán Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Duy Phi Logic: Đừng Nói “không” Với Khách Hàng
  • Năng Lực Tư Duy Logic Là Gì? 5 Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Logic Hiệu Quả
  • Mlem Mlem Là Gì? Ý Nghĩa Của Meme Mlem Mlem Hót Trên Facebook
  • Mlem Mlem Là Gì? Tại Sao Lại Hot Trên Facebook Đến Vậy?
  • 4 Dấu Hiệu Nhận Biết Một Gã Trai ‘gu Mặn’
  • Tìm hiểu về toán tư duy logic cho trẻ

    Toán tư duy là phương pháp dạy học giúp các bé tiếp thu được kiến thức dễ dàng hơn. Không còn cảm thấy nhàm chán với những con số máy móc, khô khan. Các phép tính lẫn lộn, chồng chéo khó tính và khó nhớ, không hiểu được bản chất vấn đề.

    Toán tư duy là phương pháp học đơn giản thông qua các bài tập có đề tài thu hút, sống động để giúp cho các bé nhớ và thuộc các con số, phép tính nhanh hơn. Các bé sẽ vận dụng được khả năng tư duy, logic độc lập của mình mà không cần sự giúp đỡ hay hỗ trợ từ người khác.

    Cách cải thiện toán tư duy logic cho trẻ hiệu quả

    Khả năng tư duy logic không phải ai sinh ra cũng có mà phải trải qua sự rèn luyện, nỗ lực không ngừng. Trau dồi kiến thức bản thân liên tục, mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn. Vậy nên, các cách để cải thiện toán tư duy logic cho trẻ hiệu quả vô cùng đơn giản sau đây:

    Rèn luyện để cải thiện não bộ luôn khỏe mạnh

    Não bộ là bộ phận quan trọng vô cùng trong việc điều khiển. Và chỉ huy những bộ phận khác nhau trong cơ thể. Muốn có một bộ não thông minh, nhanh nhẹn, các bé cần phải luyện tập thường xuyên. Hàng ngày dành một chút ít thời gian để luyện tập, cải thiện cho bộ não không những giúp các em thông minh, nhanh nhạy mà trí nhớ vô cùng tốt.

    Có rất nhiều cách để cải thiện và rèn luyện cho não bộ khá đơn giản, phù hợp nhưng hiệu quả vô cùng. Ví dụ như học và rèn luyện não bộ phát triển toàn diện qua công cụ bàn tính thực hiện gảy các con số.

    Tạo nên một nền tảng vững chắc về toán học

    Ngay từ khi mới đi học, môn toán chính là môn học mà các bé sẽ được tiếp cận đầu tiên và thông thường các bài học lúc này khá dễ. Đến khi học những lớp cao hơn thì chương trình học sẽ khó dần lên. Các bé cần phải nắm vững những kiến thức cơ bản ban đầu để vận dụng cho các bài học cao hơn về sau.

    Nắm vững được kiến thức cơ bản là các bé đã có thể tạo cho mình một nền tảng vững chắc. Lúc này, trẻ sẽ tự xây dựng cho mình khả năng tư duy logic độc lập cho riêng mình. Khi gặp phải bất kỳ một bài toán hay phép tính nào cần giải quyết, phản xạ tư duy của các bé sẽ vô cùng nhanh nhạy, linh hoạt mà tìm cách giải đáp với độ chính xác cao.

    Cần có phương pháp học toán tư duy logic khoa học, hiệu quả

    Nhằm rèn luyện tư duy nhạy bén, logic hiệu quả, các bé nên có những phương pháp học toán phù hợp. Trên thực tế thì không riêng gì môn toán mà tất cả các bộ môn khác hay rèn luyện kỹ năng nào.

    Các bé cũng cần phải có phương pháp khoa học và hiệu quả, thời gian biểu học tập linh hoạt và phù hợp với các bé. Đồng thời, tìm ra các phương pháp học nhanh chóng và phù hợp với các bé sẽ giúp cải thiện việc học một cách nhanh chóng.

    Bất cứ trò chơi nào cũng đều khiến cho các trẻ tò mò và hứng thú ngay từ lúc bắt đầu. Cho nên các bậc phụ huynh nên có phương pháp vừa dạy học vừa chơi để nâng cao hiệu quả tư duy của các bé.

    Các trò chơi như câu đố về trí não, về tư duy, câu đố ghép hình hay xếp hình….Đều có thể vận dụng để rèn luyện kỹ năng tư duy logic cho trẻ. Thông qua các trò chơi sẽ giúp cho trẻ vừa không có cảm giác nhàm chán, gò ép. Mà lại vô cùng hứng khởi khi học hỏi được nhiều điều lý thú.

    Rèn luyện tinh thần tập trung cho các bé

    Đây là một trong những phương pháp đơn giản mà cách cải thiện và rèn luyện khả năng tư duy logic hiệu quả. Sự tập trung là điều cần thiết trong tất cả mọi việc cần học hỏi, tìm tòi và khám phá. Các bé thường hay lãng quên một số việc, bị phân tán sự chú ý hoặc không để tâm.

    Đối với việc phải học, nhớ hoặc sử dụng trí tuệ sẽ khiến cho các bé khó tập trung. Các bé hay quên, môi trường xung quanh ồn ào, thu hút trẻ…. Là những điểm khiến cho các bé thiếu đi sự tập trung để tiếp thu kiến thức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Toán Tư Duy Logic Là Gì?
  • Toán Logic Là Gì? Hệ Thống Toán Logic
  • Logic Học Là Gì? Tìm Hiểu Về Logic Học Là Gì?
  • Nhân Lực Là Gì? Vai Trò Của Nguồn Nhân Lực Với Doanh Nghiệp
  • Tìm Hiểu Áp Lực Là Gì? Áp Suất Là Gì? Công Thức Tính Của Các Loại Áp Suất
  • Phán Đoán Đơn Trong Lôgíc Học Hình Thức Truyền Thống: Một Số Vấn Đề Cần Quan Tâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Logic Học Là Gì, Các Hình Thức Và Quy Luật Logic Của Tư Duy
  • Top 9 Cách Rèn Luyện Tư Duy Logic Hiệu Quả
  • Logic Bomb Là Gì? Định Nghĩa Và Giải Thích Ý Nghĩa
  • Các Loại Mã Độc Máy Tính
  • Circuit Là Gì, Nghĩa Của Từ Circuit
  • Phán đoán là một hình thức cơ bản của tư duy. Cụ thể hơn, chúng ta có thể hiểu phán đoán là “ý kiến được trình bày dưới dạng mệnh đề trần thuật khẳng định một điều gì đó về khách thể và, về khách quan, có thể là thật hoặc là sai”(1). Với cách hiểu này, phán đoán được chia thành 2 loại là phán đoán đơn và phán đoán phức; phán đoán đơn (cũng như phán đoán phức) lại có thể được chia tiếp thành nhiều loại khác nhau. Vậy, phán đoán đơn gồm những loại nào và lôgíc học hình thức truyền thống nghiên cứu loại phán đoán đơn nào?

    Có thể phân chia phán đoán đơn theo nhiều cách (căn cứ) khác nhau. Trước hết, chúng ta có thể phân chia phán đoán đơn căn cứ vào giá trị (chân lý) thành hai loại là phán đoán đã có giá trị phán đoán chưa có giá trị. Trong một thời điểm nào đó, một phán đoán có thể đã có giá trị hoặc chưa có giá trị. Ví dụ, “năm 2010, ở Việt Nam có bão lớn” là phán đoán hiện tại chưa có giá trị (đến năm 2010 phán đoán này mới là phán đoán đã có giá trị). Phán đoán “cách đây 100 triệu năm có thiên thạch lớn rơi xuống Quả đất” là phán đoán đã có giá trị (nhưng hiện tại con người chưa xác định được giá trị của phán đoán này là đúng hay sai). Trong hai loại phán đoán đơn nói trên thì lôgíc học hình thức truyền thống chỉ nghiên cứu phán đoán đã có giá trị.

    Giá trị của phán đoán có thể là đúng hoặc sai (sai = không đúng). Nếu một phán đoán có giá trị đúng thì phủ định phán đoán ấy cũng là một phán đoán và phán đoán phủ định này có giá trị sai. Ngược lại, nếu một phán đoán có giá trị sai thì phủ định phán đoán ấy cũng là một phán đoán và phán đoán phủ định này có giá trị đúng. Giá trị của phán đoán cũng có thể được chia thành nhiều loại (tương ứng với các số trong khoảng từ 1 đến 0) là đúng 100%, đúng 50%,…, đúng 0% (đúng 100% = sai 0%, đúng 0% = sai 100%, đúng 60% = sai 40%…). Ví dụ, nếu trong phòng A tại thời điểm T có 200 người thì phán đoán “trong phòng A tại thời điểm T có 200 người” có giá trị là đúng 100%, phán đoán “trong phòng A tại thời điểm T có 180 người” có giá trị là đúng 90%, phán đoán “trong phòng A tại thời điểm T có 0 người” có giá trị là đúng 0%. Lôgíc học hình thức truyền thống là lôgíc học lưỡng trị. Vì vậy, trong lôgíc học hình thức truyền thống, các loại giá trị nói trên được quy về 2 loại là đúng (= đúng 100%) và không đúng (= không đúng 100%).

    Phán đoán là sự phản ánh về các sự vật và thuộc tính tồn tại trong hiện thực khách khách quan. Tuy nhiên, sự hình thành phán đoán trong tư duy là một quá trình. Căn cứ vào đó, phán đoán có thể được chia thành hai loại là phán đoán không tất nhiên phán đoán tất nhiên. Đối với phán đoán không tất nhiên, người nêu phán đoán không khẳng định chắc chắn 100%. Trong phán đoán tất nhiên thì người nêu phán đoán khẳng định chắc chắn 100% (sự khẳng định này có thể sai). Ví dụ, các phán đoán ” hình như 2 triệu năm trước có thiên thạch lớn rơi xuống Quả đất”, ” có thể trên sao Hoả không có sự sống” là các phán đoán không tất nhiên. Phán đoán ” chắc chắn trên sao Hoả không có sự sống” là phán đoán tất nhiên. Để nói lên tính không tất nhiên của phán đoán, người nêu phán đoán thường thêm vào mệnh đề diễn đạt phán đoán các từ như: hình như là, có thể là, có lẽ là... Để nói lên tính tất nhiên của phán đoán, người nêu phán đoán thường thêm vào mệnh đề diễn đạt phán đoán các từ như: chắc chắc rằng, nhất định là, tất nhiên là… Tuy nhiên, chúng ta có thể lược bỏ các từ biểu thị tính tất nhiên. Chẳng hạn, có thể nói “trên sao Hoả không có sự sống” thay vì nói “chắc chắn là trên sao Hoả không có sự sống”. Trong hai loại phán đoán vừa nói trên, lôgíc học hình thức truyền thống chỉ nghiên cứu phán đoán tất nhiên.

    Một số tác giả còn phân chia phán đoán đơn thành phán đoán thuộc tính, phán đoán quan hệ, phán đoán tồn tại. Chẳng hạn, theo họ, những phán đoán “sắt dẫn điện”, “cá sống dưới nước” là phán đoán thuộc tính; “Quả đất to hơn Mặt trăng”, “sắt nặng hơn gỗ” là phán đoán quan hệ; “trên Mặt trăng không có người”, “không có học sinh kém ở lớp 10 A” là phán đoán tồn tại. Mọi phán đoán đều phản ánh các sự vật – thuộc tính; bởi vì, trong hiện thực, không có cái gì khác ngoài các sự vật – thuộc tính. Chúng ta có thể diễn đạt phán đoán “Quả đất to hơn Mặt trăng” thành “Quả đất là thiên thể to hơn Mặt trăng”; một cách tương tự, phán đoán “sắt nặng hơn gỗ” thành “sắt là chất nặng hơn gỗ”, “trên Mặt trăng không có người” thành “Mặt trăng là thiên thể không có người” và “không có học sinh kém ở lớp 10 A” thành ” lớp 10 A là lớp không có học sinh kém”. Việc phân chia phán đoán đơn thành phán đoán thuộc tính, phán đoán quan hệ, phán đoán tồn tại chủ yếu căn cứ vào hình thức ngôn ngữ diễn đạt của phán đoán. Nhưng dù có phân chia như vậy thì cả ba loại phán đoán ấy cũng đều được quy thành 4 loại là phán đoán khẳng định toàn thể, phán đoán khẳng định bộ phận, phán đoán phủ định toàn thể, phán đoán phủ định bộ phận. Công thức của 4 loại này là: “SÎP, “SÏP, $SÎP và $SÏP. Khi thay S và P bằng những khái niệm cụ thể nào đó, chúng ta sẽ có được những phán đoán cụ thể. Những phán đoán cụ thể này là phán đoán tất nhiên chứ không thuộc loại phán đoán không tất nhiên; là phán đoán đúng hoặc phán đoán sai; là phán đoán thuộc tính, phán đoán quan hệ hoặc phán đoán tồn tại.

    2. Tính chu diên của các danh từ trong phán đoán đơn

    Xác định tính chu diên của các danh từ trong phán đoán đơn là xác định tính chu diên của S và P trong 4 công thức phán đoán đơn nói trên. Đây là một nội dung quan trọng của lôgíc học hình thức truyền thống, là điều kiện cần để xác định các quy tắc của suy luận. Tuy nhiên, vấn đề xác định tính chu diên của S và P trong 4 công thức phán đoán đơn cho đến nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất. Hiện tại, đang có hai ý kiến khác nhau sau đây:

    Hai ý kiến nói trên rõ ràng là khác nhau. Sự khác nhau giữa chúng là đáng kể. Đương nhiên, chúng ta cần phải lựa chọn chỉ một trong hai ý kiến ấy. Nhưng cần lựa chọn ý kiến nào?

    Để xác định ý kiến nào là đúng, theo chúng tôi, chúng ta cần phải làm sáng tỏ các vấn đề sau: thế nào là một công thức suy luận diễn dịch đúng và thế nào là một công thức suy luận diễn dịch sai? Trong phép đổi chỗ của loại suy luận diễn dịch trực tiếp từ tiền đề là hai phán đoán đơn (đổi chỗ nhưng không đổi chất) và trong loại suy luận diễn dịch gián tiếp từ tiền đề là hai phán đoán đơn (tam đoạn luận), các công thức nào đúng và các công thức nào sai?

    Như chúng ta đã biết, lôgíc học hình thức truyền thống không nghiên cứu nội dung của các phán đoán cụ thể, mà nghiên cứu hình thức lôgíc (hay công thức) của các phán đoán và suy luận (trong đó có suy luận diễn dịch trực tiếp từ tiền đề là một phán đoán đơn và suy luận diễn dịch gián tiếp từ tiền đề là hai phán đoán đơn); trên cơ sở đó, nó chỉ ra các công thức (các cách) suy luận đúng và sai. Với một công thức suy luận diễn dịch đúng, nếu các ký hiệu S, P, M được thay bằng bất kỳ khái niệm cụ thể nào sao cho các phán đoán tiền đề có giá trị đúng thì phán đoán kết luận tất nhiên có giá trị đúng. Với một công thức suy luận sai, nếu các ký hiệu S, P, M được thay bằng bất kỳ khái niệm cụ thể nào sao cho các phán đoán tiền đề có giá trị đúng thì phán đoán kết luận không tất nhiên có giá trị đúng (kết luận có thể đúng và cũng có thể sai). Nếu một công thức suy luận có một (và chỉ cần một) trường hợp mà ở đó, các ký hiệu S, P, M được thay bằng các khái niệm cụ thể sao cho các phán đoán tiền đề có giá trị đúng trong khi phán đoán kết luận lại có giá trị sai, thì công thức suy luận ấy là sai. Đối với một công thức suy luận sai, chúng ta vẫn có thể tìm được nhiều trường hợp mà ở đó, các ký hiệu S, P, M được thay bằng các khái niệm cụ thể sao cho các phán đoán tiền đề có giá trị đúng và phán đoán kết luận có giá trị đúng, nhưng sự đúng ấy của kết luận chỉ là ngẫu nhiên.

    Khi thừa nhận (và cần phải thừa nhận) như trên về công thức suy luận diễn dịch đúng và công thức suy luận diễn dịch sai thì chúng ta cũng đồng thời phải thừa nhận rằng, trong phép đổi chỗ (phép đảo ngược) của suy luận diễn dịch trực tiếp từ tiền đề là một phán đoán đơn (đổi chỗ nhưng không đổi chất), có 4 công thức đúng và 4 công thức sai là :

    Với 4 công thức đúng, nếu các ký hiệu S, P được thay bằng bất kỳ khái niệm cụ thể nào sao cho phán đoán tiền đề có giá trị đúng thì phán đoán kết luận chắc chắn sẽ có giá trị đúng. Sở dĩ các công thức còn lại sai vì với mỗi công thức ấy, chúng ta có thể tìm một (và chỉ cần có một) trường hợp mà ở đó, S và P được thay bằng 2 khái niệm cụ thể sao cho tiền đề là phán đoán đúng nhưng kết luận lại là phán đoán sai. Ví dụ, với công thức (“SÎP à”PÎS ), chúng ta thay S bằng “tam giác đều”, P bằng “tam giác cân”, chúng ta có phán đoán tiền đề là đúng (“tam giác đều là tam giác cân”) nhưng phán đoán kết luận (“tam giác cân là tam giác đều”) là sai. Với công thức này, nếu chúng ta thay S bằng “tam giác đều”, P bằng “tam giác có 3 cạnh bằng nhau”, chúng ta sẽ có phán đoán tiền đề (“tam giác đều là tam giác có 3 cạnh bằng nhau”) là đúng và phán đoán kết luận (“tam giác có 3 cạnh bằng nhau là tam giác đều”) là đúng. Tuy nhiên, sự đúng đắn của kết luận chỉ là ngẫu nhiên, điều đó không chứng tỏ rằng công thức (“SÎP à “PÎS) là đúng.

    Nếu thừa nhận (và cần phải thừa nhận) như trên về công thức suy luận diễn dịch đúng và công thức suy luận diễn dịch sai thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, trong phép suy luận diễn dịch gián tiếp từ tiền đề là hai phán đoán đơn (tam đoạn luận) có 256 công thức (mỗi loại hình có 64 công thức), nhưng chỉ có 24 công thức sau là đúng (mỗi loại hình có 6 công thức đúng):

    Ngoài 24 công thức trên, các công thức còn lại (232 công thức) là sai. Với mỗi công thức trong 24 công thức đúng, nếu chúng ta thay các ký hiệu S, P, M bằng bất kỳ khái niệm cụ thể nào sao cho các phán đoán tiền đề có giá trị đúng thì phán đoán kết luận chắc chắn sẽ có giá trị đúng. Với mỗi công thức trong 232 công thức sai, chúng ta đều tìm được ít nhất một trường hợp mà ở đó S, P, M được thay bằng 3 khái niệm cụ thể sao cho tiền đề là phán đoán đúng nhưng kết luận lại là phán đoán sai. Vi dụ, chúng ta hãy thay S, P, M của công thức A E E của loại hình I bằng 3 khái niệm tương ứng là “số 15”, “số chia hết cho 5”, “số chia hết cho 10”. Khi đó, chúng ta sẽ có một suy luận cụ thể như sau: vì “mọi số chia hết cho 10 đều là số chia hết cho 5” và “số 15 không phải là số chia hết cho 10”, nên “số 15 không phải là số chia hết cho 5”.

    Trong suy luận cụ thể này, hai phán đoán tiền đề là đúng, còn phán đoán kết luận là sai. Chỉ cần một ví dụ như vậy cũng đủ để chứng tỏ rằng công thức A E E của loại hình I là sai. Đối với công thức này, chúng ta có thể tìm được nhiều ví dụ mà ở đó, hai phán đoán tiền đề là đúng và phán đoán kết luận là đúng. Nhưng sự đúng đắn của kết luận chỉ là ngẫu nhiên, điều đó không chứng tỏ rằng công thức A E E của loại hình I là đúng. Một tam đoạn luận cụ thể nào đó chỉ đúng khi tiền đề đúng và cách suy luận đúng (kết cấu của nó phải thuộc 1 trong 24 công thức nói trên). Một tam đoạn luận cụ thể nào đó cho dù cả tiền đề và kết luận đều đúng nhưng cách suy luận không đúng (kết cấu của nó không thuộc 1 trong 24 công thức nói trên) thì vẫn không phải là một tam đoạn luận đúng.

    Tóm lại, theo chúng tôi, cần thừa nhận rằng, trong phép đổi chỗ (đảo ngược) của suy luận diễn dịch trực tiếp từ tiền đề là một phán đoán đơn có 4 công thức đúng và 4 công thức sai, trong suy luận diễn dịch gián tiếp từ tiền đề là hai phán đoán đơn có 24 công thức đúng và 232 công thức sai. Sự thừa nhận này đòi hỏi chúng ta phải thừa nhận ý kiến thứ hai nói trên về tính chu diên của S và P trong 4 công thức của phán đoán đơn, đồng thời thừa nhận các quy tắc suy luận. Đối với phép đổi chỗ có quy tắc là: “danh từ S và danh từ P nếu không chu diên ở tiền đề thì không được chu diên ở kết luận”. Đối với tam đoạn luận có 8 quy tắc là: “trong một tam đoạn luận chỉ có 3 danh từ”, “danh từ M phải chu diên ít nhất một lần”, “danh từ S và danh từ P nếu không chu diên ở tiền đề thì không được chu diên ở kết luận”, “nếu hai phán đoán tiền đề đều là phán đoán phủ định thì không thể suy ra được kết luận”, “nếu một trong hai phán đoán tiền đề là phán đoán phủ định thì kết luận phải là phán đoán phủ định”, “nếu hai phán đoán tiền đề là phán đoán bộ phận thì không thể suy ra được kết luận”, “nếu một trong hai phán đoán tiền đề là phán đoán bộ phận thì kết luận phải là phán đoán bộ phận”, “nếu hai phán đoán tiền đề đều là phán đoán khẳng định thì kết luận phải là phán đoán khẳng định”. Ngược lại, nếu không đồng thời thừa nhận ý kiến thứ hai nói trên về tính chu diên của S và P trong 4 công thức của phán đoán đơn và các quy tắc suy luận, chúng ta có thể sẽ xa rời quan niệm coi đối tượng nghiên cứu của lôgíc học hình thức là các công thức suy luận chứ không phải là các suy luận cụ thể(4).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yêu Là Gì? Thích Là Gì? Thương Là Gì? Chúng Khác Nhau Thế Nào?
  • Cán Bộ Công Chức Là Gì? Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Viên Chức Là Gì? Công Chức Là Gì? Tư Vấn Viên Chức, Công Chức 2022
  • Ui Là Gì? Ux Là Gì? 3 Điều Cần Biết Về Ui, Ux
  • Tỳ Vị: Dấu Hiệu Triệu Chứng, Chẩn Đoán Điều Trị Y Học Cổ Truyền
  • Bài 1: Logic Học Là Gì, Các Hình Thức Và Quy Luật Logic Của Tư Duy

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 9 Cách Rèn Luyện Tư Duy Logic Hiệu Quả
  • Logic Bomb Là Gì? Định Nghĩa Và Giải Thích Ý Nghĩa
  • Các Loại Mã Độc Máy Tính
  • Circuit Là Gì, Nghĩa Của Từ Circuit
  • Combinational Logic Circuits Using Logic Gates
  • Tóm tắt lý thuyết

    Thuật ngữ “lôgíc” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “logos”.

    Thuật ngữ này được sử dụng để biểu thị tính quy luật của thế giới khách quan, chẳng hạn “lôgíc của sự vật”, “lôgíc của sự kiện…”, “lôgíc của sự phát triển xã hội”. Theo nghĩa đó, lôgíc được hiểu là “lôgíc khách quan”: “lôgíc” còn được hiểu là “từ”, “tư tưởng”, “trí tuệ”, Theo nghĩa này, lôgíc được hiểu là “lôgíc chủ quan”, thể hiện sự hiểu biết của con người về các sự vật hiện tượng, tức phản ánh “lôgíc khách quan”. Sự phản ánh đó có thể chân thực hoặc xuyên tạc “lôgíc khách quan”. Lôgíc học là một khoa học nghiên cứu về tư duy. Có nhiều khoa học khác nhau nghiên cứu tư duy, như tâm lý học, sư phạm học, điều khiến học… Mỗi khoa học nghiên cứu vể tư duy ở một mặt xác định. Lôgíc học là khoa học nghiên cứu về các quỵ luật và hình thức phổ biến của tư duy nhằm nhận thức đúng đắn thế giới khách quan. Nhiệm vụ cơ bản của logic học là làm sáng tỏ những điều kiện đạt tới tri thức chân thực, phân tích kết cấu của quá trình tư duy, vạch ra thao tác logic của tư duy và phương pháp nhận thức lý tính chuẩn xác, Chính vì vậy, vấn đề cơ bản của logic học chính là vấn để tính chân lý của các tư tưởng.

    Nhận thức là quá trình ý thức của con người phản ánh thế giối xung quanh, tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào ý thức. Thừa nhận thế giới thực tại và sự phản ánh thế giới đó vào đầu óc con người là cơ sỏ lý luận của nhận thức luận theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Quá trình đó hình thành và phát triển trên cơ sở hoạt động của con người và thực tiễn lịch sử xã hội. V.I.Lênin chỉ rõ: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”.

    Như vậy nhận thức nói chung bắt đầu từ sự phản ánh thế giới xung quanh bằng các cơ quan cảm thụ do tác động trực tiếp của thế giới đó vào các cơ quan ấy.

    Nhận thức có hai trình độ: trình độ nhận thức cảm tính và trình độ nhận thức lý tính.

    • Nhận thức cảm tính (hay trực quan sinh động) gồm các hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng.
      • Cảm giác là sự phản ánh trực tiếp vào từng giác quan các thuộc tính riêng biệt của sự vật. Thí dụ: cảm giác ngọt, cay, lạnh, nóng… Khi sự vật thôi tác động vào cơ quan cảm giác thì cảm giác không còn nữa.
      • Tri giác là sự phản ánh trọn vẹn, trực tiếp các thuộc tính của sự vật thông qua các giác quan và nhờ sự kết hợp của những giác quan ấy. Thí dụ: hình ảnh quả mít, đoàn tàu hỏa, v,v…
      • Biểu tượng là hình ảnh của sự vật sau tri giác được giữ lại hoặc tái hiện trong óc, mặc dù sự vật không tồn tại trực tiếp trước con người. Biểu tượng là hình thức cao nhất của nhận thức cảm tính và nó mang tính chất gián tiếp.
    • Nhận thức lý tính (hay tư duy trừu tượng) gồm các hình thức: khái niệm, phán đoán và lập luận.
      • Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, trong đó phản ánh các dấu hiệu cơ bản khác biệt của sự vật đơn nhất hay lớp các hiện tượng, sự vật nhất định. Khái niệm được biểu đạt bằng từ hoặc cụm từ. Thí dụ: hình tam giác, cái bàn, chớp.
      • Lập luận là một hình thức cơ bản của tư duy dạng nhận thức. Có hai cách lập luận cơ bản: suy luận hoặc luận chứng. Suy luận là quá trình tư duy xuất phát từ những phán đoán đã biết, gọi là tiền đề để rút ra những phán đoán mới, gọi là kết luận. Thí dụ: suy luận ba đoạn (tam đoạn luận): Mọi kim loại đều là chất dẫn điện. Nhôm là kim loại. Vậy nhôm là chất dẫn điện.

    Quá trình nhận thức bao gồm cả nhận thức cảm tính hoặc cung cấp tài liệu ban đầu cho tư duy trừu tượng hoặc kiểm nghiệm các kết quả của tư duy trừu tượng. Tư duy trừu tượng dựa vào các tài liệu để so sánh, phân tích. Tổng hợp đi sâu vào bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng. Song, nhận thức không dừng lại ở tư duy trừu tượng. Chính thực tiễn đóng vai trò quyết định của quá trình nhận thức. Thực tiễn chính là cơ sơ, động lực, mục đích và tiêu chuẩn cao nhất của chân lý.

    Hình thức logic của một tư tưởng nào đó là cấu trúc chung của tư tưởng đó, hay nói một cách khác là phương thức chung liên kết giữa các thành phần của tư tưởng với nhau. Hình thức lôgic của một tư tưởng xác định là sự phản ánh cấu trúc chung của các mối liên hệ các quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với thuộc tính của chúng

    Thí dụ:

    • Mọi kim loại đều dẫn điện. (1)
    • Một số người là bác sĩ. (2)
    • Nếu hai tam giác có ba cạnh bằng nhau thì chúng bằng nhau. (3)

    Tuy nội dung các tư tưởng (1) và (2) này rất khác nhau nhưng cấu trúc của chúng-tức hình thức logic của chúng là giống nhau, theo công thức:

    Tất cả S là P (1) Một số S là P (2)

    Trong đó,

    • S gọi là chủ từ chỉ đối tượng dưới phản ánh.
    • P gọi là vị từ chỉ thuộc tính của đối tượng được phản ánh

    Từ nối “là” khẳng định có P ở S với lượng từ toàn thư “tất cả” hay lượng từ bộ phận “một số”

    Trong thí dụ (3) hình thức logic của tư duy là: nếu S là P thì S là P 1” hay một cách khái quát hơn: nếu A thì B với A là ký hiệu tượng trung của “nếu 2 tam giác có ba cạnh bằng nhau” và B là ký hiện tượng trưng của “chúng bằng nhau”.

    Trong quá trình tư duy hình thức và nội dung của tư duy liên kết ít nhiều chặt chẽ với nhau. Không có hình thức logic thuần túy phi nội dung và không có nội dung nằm ngoài hình thức lôgíc. Tùy theo nội dung cụ thể của một tư tưởng xác định, chúng ta sẽ có hình thức lôgíc cụ thể biểu thị nội dung đó. Từ đó hoạt động tư duy của con người phải dựa vào hình thức lôgíc của các tư tưởng với các tư tưởng có chung một hình thức lôgíc, chúng ta sẽ xây dựng các quy tắc lôgíc áp dụng chung cho chúng.

    Là những mối liên hệ bản chất, tất yếu, lặp đi lặp lại của các bộ phận cấu thành tư tương hoặc giữa các tư tưởng trong quá trình tư duy. Các quy luật lôgíc phản ánh các mối liên hệ và quan hệ khách quan, không phụ thuộc vào ý chí và nguyện vọng của con người, được hình thành nên trong hoạt động thực tiễn của con người. Chúng mang tính toàn nhân loại, chứ không mang tính dân tộc và tính giai cấp, càng không mang tính cá nhân.

    Trong lôgíc hình thức truyền thông có bốn quy luật cơ bản, gồm;

    • Quy luật đồng nhất;
    • Quy luật phi mâu thuẫn;
    • Quy luật loại trừ cái thứ ba (hay quy luật bài trung);
    • Quy luật lý do đầy đủ. Những quy luật này sẽ được trình bày ở một chương riêng.

    Ngoài các quy luật của lôgíc hình thức, tư duy đúng đắn còn phụ thuộc vào các quy luật của lôgíc biện chứng.

    Thí dụ:

    Một số trí thức là nhà thơ – đây là phán đoán chân thực.

    Gà là động vật có vú – đây là phán đoán giả dối.

    Để đạt tới chân lý, quá trình vận động của tư duy phải có hai điều kiện:

    • Các tư tưởng dùng làm tiền để lập luận phải chân thực.
    • Sử dụng chính xác các quy luật và quy tắc logic của tư duy.

    Thí dụ: Tất cả động vật ăn cỏ đều là động vật.

    Hổ không ăn cỏ.

    Hổ không phải là động vật.

    ⇒ Kết luận này không đúng, mặc dù hai tiền đề đều chân thực. Lập luận đã vi phạm quy tắc logic hình thức (sẽ đề cập ở phần sau).

    Thí dụ: Mọi số chẵn đều là số chia hết cho 2.

    Số 524 là số chẵn.

    Cho nên, số 524 là số chia hết cho 2.

    ⇒ Kết luận này là chân thực, vì cả hai tiền đề có nội dung chân thực và kết luận rút ra đúng quy luật logic hình thức.

    Như vậy, tính chân thực của tư tưởng là sự phù hợp của nó với thực tế, còn tính đúng đắn của tư duy là sự tuân thủ các quy luật và quy tắc của logic học. Cần phân biệt các khái niệm “tính chân thực” với “tính đúng đắn”, cũng như các khái niệm “tính giả dối” với “tính không đúng đắn”. Tính đúng đắn của tư duy chỉ là điều kiện cần để đạt tới chân lý khách quan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phán Đoán Đơn Trong Lôgíc Học Hình Thức Truyền Thống: Một Số Vấn Đề Cần Quan Tâm
  • Yêu Là Gì? Thích Là Gì? Thương Là Gì? Chúng Khác Nhau Thế Nào?
  • Cán Bộ Công Chức Là Gì? Phân Biệt Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Viên Chức Là Gì? Công Chức Là Gì? Tư Vấn Viên Chức, Công Chức 2022
  • Ui Là Gì? Ux Là Gì? 3 Điều Cần Biết Về Ui, Ux
  • Sự Khác Biệt Giữa Logic Và Toán Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Tư Duy Toán Học Logic Với Phương Pháp Toán Học Của Các Nước Tiên Tiến.
  • Logic Toán Và Cơ Sở Toán Học
  • Tư Duy Logic Là Nền Tảng Của Mọi Thành Công
  • Xóa Vật Lý So Với Logic/mềm Của Bản Ghi Cơ Sở Dữ Liệu?
  • Mức Lương Gross Là Gì? Lương Gross & Lương Net Khác Nhau Thế Nào?
  • Sự khác biệt giữa logic và toán học là gì?

    Trong khi tất cả toán học bị loại bỏ dựa trên cơ sở logic, tôi nghĩ chúng thực sự là những công cụ rất khác nhau với những mục đích rất khác nhau. Trong thực tế tôi sẽ nói rằng toán học và logic là đối lập bổ sung.

    Nói một cách đơn giản, Math định lượng trong khi Logic làm rõ.

    Toán học cung cấp kết quả số chính xác, nhưng ít hiểu biết trực quan về nguyên nhân và kết quả.

    Logic cung cấp một sự hiểu biết lớn hơn về nguyên nhân và kết quả, nhưng thường chỉ ước tính thứ tự đầu tiên của kết quả định lượng.

    Logic dễ bị lỗi do tiền đề sai trực quan, trong khi toán học dễ bị lỗi kết luận sai trực quan.

    Hình thức toán học là một quá trình từng bước nghiêm ngặt mà chỉ có thể tiến lên phía trước.

    Logic bao gồm quá trình khấu trừ (chuyển tiếp) và quá trình cảm ứng (ngược). Do đó, nó có thể giải quyết các vấn đề trong hindsite như điều tra tội phạm hoặc các vấn đề về bắn súng. Nó cũng có thể giải quyết các miền ẩn như kỹ thuật đảo ngược một Mạch tích hợp.

    Toán học được tích lũy trong đó các phương pháp có thể được phát triển hơn nữa thành các phương pháp tiên tiến hơn và thường yêu cầu một danh sách các điều kiện tiên quyết, làm cho nó phù hợp hơn để học thông qua giáo dục và ít phù hợp hơn để học theo kiểu từng phần. vd: arithmatic, đại số, tính toán, phương trình vi phân, đốt

    Logic ít kết nối với các học giả và kết nối nhiều hơn với kinh nghiệm. Vì đó là một quá trình sáng tạo và phụ thuộc vào cơ sở hoàn cảnh rộng hơn nên nó phải linh hoạt hơn. Nó trả lời nhiều hơn bao nhiêu hoặc bao lâu, nhưng nó trả lời bất kỳ câu hỏi nào, chẳng hạn như tại sao hoặc làm thế nào nó làm những gì nó làm.

    Càng nhiều toán học mà bạn cần áp dụng để giải quyết vấn đề, giải pháp sẽ càng phức tạp hơn.

    Càng nhiều logic mà bạn áp dụng để giải quyết vấn đề, giải pháp sẽ càng đơn giản.

    Nhiều vấn đề có thể được giải quyết bằng cả logic và toán học. khá thường xuyên logic có thể tạo ra một lối tắt cho một vấn đề toán học rất khó khăn.

    thí dụ:

    Giả sử tất cả các hồ sơ đều có sẵn, tỷ lệ thắng trung bình cho tất cả người chơi poker chơi ở một mức cược nhất định trong một câu lạc bộ thẻ nhất định khi loại trừ bất kỳ khoản phí cào hoặc thời gian nào.

    Một nhà toán học có thể sẽ không thử một vấn đề khó khăn như vậy ngay cả với tất cả các hồ sơ có sẵn trích dẫn các vấn đề với phương sai và cỡ mẫu

    Một nhà logic học sẽ cho bạn biết đó là 0, tiền nào mất cũng là tiền thắng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 9 Cách Học Toán Tư Duy Suy Luận Logic
  • Propositional Logic In Artificial Intelligence
  • Nói Thêm Về Cách Hiểu Một Số Thành Ngữ ‘phi Logic’
  • Lvm Là Gì? Tạo Vào Quản Lý Logical Volume Manager (Lvm)
  • Phân Tích Thiết Kế Hệ Thống Thông Tin
  • Toán Logic Là Gì? Hệ Thống Toán Logic

    --- Bài mới hơn ---

  • Toán Tư Duy Logic Là Gì?
  • Toán Tư Duy Logic Là Gì? Cách Cải Thiện Tư Duy Logic Toán Học
  • Tư Duy Phi Logic: Đừng Nói “không” Với Khách Hàng
  • Năng Lực Tư Duy Logic Là Gì? 5 Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Logic Hiệu Quả
  • Mlem Mlem Là Gì? Ý Nghĩa Của Meme Mlem Mlem Hót Trên Facebook
  • Logic toán học thường được chia thành các lĩnh vực của lý thuyết tập hợp, lý thuyết mô hình, lý thuyết đệ quy và lý thuyết chứng minh. Những lĩnh vực này chia sẻ kết quả cơ bản về logic, đặc biệt là logic thứ nhất và tính xác định.

    Hệ thống toán logic

    Logic cổ điển khác

    Nhiều logic ngoài logic thứ nhất được nghiên cứu. Chúng bao gồm các logic vô hạn, cho phép các công thức cung cấp một lượng thông tin vô hạn và các logic thứ tự cao hơn, bao gồm một phần của lý thuyết tập hợp trực tiếp trong ngữ nghĩa của chúng.

    Logic phi phân loại và phương thức

    Logic phương thức bao gồm các toán tử phương thức bổ sung, chẳng hạn như toán tử nói rằng một công thức cụ thể không chỉ đúng mà còn nhất thiết đúng. Mặc dù logic phương thức không thường được sử dụng để tiên đề toán học, nhưng nó đã được sử dụng để nghiên cứu các tính chất của chứng minh bậc nhất (Solovay 1976) và lý thuyết tập hợp (Hamkins và Löwe 2007).

    Logic trực giác được Heyting phát triển để nghiên cứu chương trình trực giác của Brouwer, trong đó bản thân Brouwer tránh chính thức hóa. Logic trực giác đặc biệt không bao gồm luật trung gian bị loại trừ, trong đó tuyên bố rằng mỗi câu là đúng hoặc phủ định của nó là đúng. Công trình của Kleene với lý thuyết bằng chứng về logic trực giác cho thấy thông tin mang tính xây dựng có thể được phục hồi từ các bằng chứng trực giác. Ví dụ, bất kỳ hàm tổng có thể chứng minh nào trong số học trực giác đều có thể tính toán được; điều này không đúng trong các lý thuyết cổ điển về số học như số học Peano.

    Logic đại số

    Logic đại số sử dụng các phương pháp của đại số trừu tượng để nghiên cứu ngữ nghĩa của logic học chính thức. Một ví dụ cơ bản là việc sử dụng đại số Boolean để biểu diễn các giá trị chân lý trong logic mệnh đề cổ điển và sử dụng đại số Heyting để biểu diễn các giá trị chân lý trong logic mệnh đề trực giác. Logic mạnh hơn, chẳng hạn như logic thứ nhất và logic bậc cao hơn, được nghiên cứu bằng cách sử dụng các cấu trúc đại số phức tạp hơn như đại số hình trụ.

    Toán logic đã được áp dụng thành công không chỉ cho toán học và nền tảng của nó mà còn đến vật lý, đến sinh học, đến tâm lý học, theo luật pháp và đạo đức, đến kinh tế học, cho những câu hỏi thực tế và thậm chí là siêu hình học. Các ứng dụng của nó vào lịch sử logic đã được chứng minh là vô cùng hiệu quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Logic Học Là Gì? Tìm Hiểu Về Logic Học Là Gì?
  • Nhân Lực Là Gì? Vai Trò Của Nguồn Nhân Lực Với Doanh Nghiệp
  • Tìm Hiểu Áp Lực Là Gì? Áp Suất Là Gì? Công Thức Tính Của Các Loại Áp Suất
  • Bàn Về Năng Lực Nghề Nghiệp Là Gì Để Tự Đánh Giá Khả Năng Bản Thân
  • Lgbt Là Gì Trên Facebook, 7 Điều Thú Vị Về Cộng Đồng Lgbt
  • Tư Duy Phê Phán Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cctst: Kiểm Tra Kỹ Năng Tư Duy Phê Phán California
  • Tư Duy Phê Phán Là Gì ?
  • Luận Án: Kỹ Năng Viết Tiếng Anh Và Tư Duy Phê Phán Của Sinh Viên
  • Kĩ Năng Tư Duy Là Gì?
  • Tư Duy Là Gì Và Tầm Quan Trọng Của Tư Duy Đối Với Con Người
  • Sơ lược về quá trình phát triển kỹ năng tư duy phê phán

    Cách đây gần 2500 năm tại Hy-lạp, những trường phái triết học đã phát triển rất mạnh mẽ. Những triết gia và biện sĩ đi rao truyền và giảng dạy triết thuyết của mình, nào là những triết phái khắc kỷ (stoicism), hưởng lạc (epicureanism), hoài nghi, thần bí, vân vân. Trong số những triết gia này, ngoài những triết gia lỗi lạc, còn có những kẻ mệnh danh là “triết gia.” Tại Hy-lạp có một ngôi đền ở Delphi, tương truyền là nơi mà Chúa Tể vũ trụ (Zeus) cư ngụ. Thần thánh vẫn thường giáng cơ tại ngôi đền này để trả lời những câu hỏi của thế nhân. Để trả lời câu hỏi “Ai là người thông thái nhất Hy-lạp?”, cơ đã giáng câu trả lời: “Socrates là người thông thái nhất Hy-lạp.” Những nhà thông thái, triết gia khác đến hỏi Socrates có phải ông là người thông thái nhất không, thì Socrates trả lời: “Tôi không biết gì hết. Tôi chỉ biết là tôi không biết.” Và đó chính là sự khởi đầu của tư duy phê phán, khi Socrates tự đặt cho mình những câu hỏi để bảo đảm là mình đã hiểu thấu đáo vấn đề, hay có những vấn đề mà chính mình còn hồ nghi, không chắc chắn. Socrates đã áp dụng phương pháp “vấn-đáp” với những thức giả mà ông gặp để thỉnh ý họ về những điều ông còn không rõ, và kết quả là những người đó cũng không thật sự là hiểu biết đến nơi đến chốn. Kết quả này đương nhiên làm cho nhiều người khó chịu, vì họ không chịu nhận là mình “dốt,” và sự căm ghét này là nguyên nhân đưa đến việc kết án tử hình Socrates vào năm 339 TCN, vì tội đầu độc tư tưởng thanh niên. người sinh viên đại học năm đầu tiên chỉ có thể được “giới thiệu” đến những khái niệm về tư duy phê phán chứ đừng nói đến thực hành và đạt được khả năng phân tích, lý luận, cùng nhận định những sự ngụy biện; đó là chưa kể đến việc đa số sinh viên năm đầu chưa được học qua về luận lý học hình thức hay phi-hình thức. để hướng dẫn hành động và sự tin tưởng.

    Từ định nghĩa này, Richard Paul và Linda Elder, một nhà tâm lý học, đề ra một cấu trúc cơ bản vẫn thường được gọi chung là cấu trúc Paul-Elder, cho việc giảng dạy và đào tạo kỹ năng tư duy phê phán, gồm có ba phần: (a) phân tích tư duy, (b) đánh giá tư duy, và (c) cải thiện tư duy. Thêm vào đó, Đại học Quản trị Tham mưu của Lục quân Mỹ (Army Management Staff College-AMSC) đưa ra định nghĩa dựa theo những nguồn tài liệu trên, như sau (Eichhorn, 2014):

    Tư duy phê phán được AMSC định nghĩa là một sự tư duy có kỷ luật, tự định hướng, phản ảnh một trình độ cao về kỹ năng và khả năng tư duy-tư duy về sự tư duy của chính mình trong lúc suy tư để làm cho sự tư duy của mình trở nên tốt hơn.

    Người viết sẽ dùng khái niệm sau đây của Paul-Elder làm định nghĩa cho tư duy phê phán: “tư duy phê phán là khả năng suy tư về chính sự suy nghĩ của mình, nhằm nhận ra điểm mạnh cũng như yếu trong tư tưởng của mình và qua đó cải thiện sự suy nghĩ của mình cho tốt hơn.”

    Ai cũng có khả năng tư duy, nhưng không hẳn ai cũng có kỹ năng phê phán. Tư duy phê phán là những kỹ năng cần phải được đào luyện và thực tập nhuần nhuyễn thì mới trở nên điêu luyện được. Những kỹ năng đó là: phân tích, tổng hợp, và đánh giá, không những về tư duy của người khác mà còn của chính mình. Nói một cách khác những kỹ năng phân tích, tổng hợp, và đánh giá là những kỹ năng cần được phát triển và đào luyện cho thành thục.

    Nếu ta đơn giản hóa những từ ngữ phức tạp trong những định nghĩa hàn lâm của tư duy phê phán, thì còn lại là những kỹ năng mà ai cũng có thể học và tập được từ khi còn học tiểu học, và điều này dẫn ta trở lại với bảng phân loại trình độ tư duy của Benjamin Bloom, một trong những nhà giáo dục hàng đầu của Mỹ, đề ra từ năm 1956.

    Kỹ năng Tư duy Phê phán & Trình độ Tư duy theo Benjamin Bloom

    Theo Bloom, những mục tiêu giáo dục của con người có thể được phân loại thành ba lãnh vực: nhận thức (cognitive), tình cảm (affective), và tâm-thể (psychomotor); những lãnh vực này vẫn thường được mô tả nôm na là “biết/đầu”, “cảm/tim”, và “làm/tay.” Trong ba lãnh vực này có sáu mức độ tư duy từ thấp đến cao, đánh số từ 1 đến 6: (1) Kiến thức (biết); (2) Thông hiểu; (3) Áp dụng; (4) Phân tích; (5) Tổng hợp; và (6) Đánh giá. Đến thập niên 1990s, Lorin Anderson (một sinh viên của Bloom) cùng một số nhà tâm lý học về nhận thức, đề nghị một bảng phân loại mới cũng tương tự như của Bloom, nhưng dùng động từ thay vì danh từ (xem biều đồ bên dưới). Theo bản phân loại mới thì trình độ 5 “tổng hợp” của bản cũ trở thành trình độ 6 “sáng tạo,” và trình độ 6 (cũ), trở thành trình độ 5 (mới).

    Toàn bộ bảng phân loại trình độ của Bloom, như đã trình bày, hệ thống hóa tiến trình tư duy của con người từ thấp tới cao, và những kỹ năng này có thể, và phải, được giảng dạy cho học sinh từ cấp tiểu học cho đến trung học trong tất cả mọi môn học. Tại Mỹ các môn học của học sinh từ tiểu học đến trung học được chia thành ba ngành chính: ngôn ngữ (language arts) bao gồm ngôn ngữ và văn chương; khoa học nhân văn/xã hội (social studies) bao gồm các môn như lịch sử, địa lý, chính trị, xã hội, công dân; và toán/khoa học tự nhiên. Trong tất cả những môn học này, tùy theo cấp lớp của học sinh, thầy/cô đều có thể dạy ở “trình độ cao” (bốn, năm và sáu).

    Thêm vào đó, học sinh, từ cấp trung học đệ nhị cấp (cấp 3 bây giờ), nên được dạy về luận lý học. Người viết còn nhớ khi lên đến lớp 12 (trước 1975), học sinh bắt đầu được học về triết học. Ban B (ban Toán) được học các môn luận lý học và đạo đức học. Ở trình độ này học sinh có thể tiếp thu được căn bản của luận lý học hình thức, thí dụ, mệnh đề, tiền đề, giả thuyết, kết luận, luật suy diễn và quy nạp, v.v…Tất cả những kiến thức về luận lý học giúp học sinh lớp 12 nhận diện được những gì là hợp lý và những gì là ngụy biện, dĩ nhiên chỉ ở trình độ sơ cấp. Xin được mở một dấu ngặc ở đây là chương trình trung học của Mỹ không dạy môn triết học và lên đại học, thì môn này lại là môn nhiệm ý (elective). Sinh viên có thể tùy ý chọn môn nào mà họ thích để học cho đủ tín chỉ.

    Tại sao phải cần có tư duy phê phán?

    Ta có thể liệt kê vài lý do chính về sự quan trọng và cần thiết của tư duy phê phán:

    Thứ nhất, trong học đường. Học không phải chỉ để biết. Biết là tầng thấp nhất của sự học. Đó chỉ là những kiến thức chết, và nếu học chỉ để biết thì đó là “học vẹt.” Khổng Tử đã đề ra những bước cần thiết trong việc học cách đây cả hàng ngàn năm, như sau: “Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi,” Vụ xử án Socrates được Plato thuật lại trong “Biện giải” (Apology) Khoá học ba-tín-chỉ có nghĩa là một tuần học ba giờ, tức là một giờ vào những ngày thứ Hai, thứ Tư, và thứ Sáu, hay một giờ 30 phút vào những ngày thứ Ba và thứ Năm trong tuần (trong suốt học kỳ).

    Tư duy phản tư (reflective thinking) là một khái niệm và thuật ngữ do John Dewey đề xướng gồm có những đặc tính sau đây: (a) một tiến trình tìm ý nghĩa và quan hệ giữa những ý tưởng và kinh nghiệm từ cá nhân đến xã hội; (b) một sự suy tư có hệ thống, phương pháp, nghiêm túc và khoa học; (c) sự suy tư trong mối tương quan và tương tác với người khác; và (d) thái độ trọng thị trước sự phát triển tri thức của chính mình và người khác.

    [5] Đoàn Trung Còn (2006). Tứ Thư: Trung Dung, Chương 20, Nhà xuất bản Thuận Hoá, 2006.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa, Kỹ Năng Và Ví Dụ Tư Duy Phê Phán
  • Cts: Kỹ Năng Tư Duy Phê Phán
  • Tư Duy Phê Phán Và Phát Triển Tư Duy Phê Phán Cho Học Sinh
  • Cách Rèn Luyện Kỹ Năng Tư Duy Sáng Tạo
  • Tư Duy Sáng Tạo Là Gì? Các Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Sáng Tạo
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100