Phản Ánh Của Hoạt Động, Phản Ánh Tâm Lý Và Triết Học

--- Bài mới hơn ---

  • Câu 35: Ý Thức Và Nguồn Gốc Ý Thức Theo Triết Học Mac
  • Có Chân Lý Khách Quan Không?
  • Một Biểu Tượng Là Gì? ·
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Khái Niệm Công Bằng Trong Triết Học Pháp Quyền Arthur Kaufmann
  • Phản ánh là một hình thức hoạt động lý thuyết của một cá nhân phản ánh một cái nhìn hoặc thể hiện sự đảo ngược thông qua sự hiểu biết về một hành động cá nhân của một người, cũng như luật pháp của họ. Sự phản ánh nội tâm của nhân cách phản ánh hoạt động của sự hiểu biết về bản thân, tiết lộ những đặc điểm của thế giới tâm linh của cá nhân. Nội dung của sự phản ánh được xác định bởi hoạt động cảm giác khách quan. Khái niệm về sự phản ánh bao gồm nhận thức về thế giới khách quan của văn hóa, và theo nghĩa này, sự phản chiếu là một phương pháp của triết học, và phép biện chứng là sự phản ánh của tâm trí.

    Phản ánh trong tâm lý học là sự hấp dẫn của chủ thể đối với bản thân anh ta, đối với ý thức của anh ta, đối với các sản phẩm của hoạt động của chính anh ta hoặc bất kỳ suy nghĩ lại. Khái niệm truyền thống bao gồm nội dung, cũng như các chức năng của ý thức của một người, là một phần của cấu trúc nhân cách (lợi ích, giá trị, động cơ), bao gồm suy nghĩ, mô hình hành vi, cơ chế ra quyết định, nhận thức và phản ứng cảm xúc.

    Các loại phản ánh

    A. Karpov, cũng như các nhà nghiên cứu khác đã xác định các loại phản xạ sau: tình huống, hồi cứu, triển vọng.

    Phản ánh tình huống là động lực và lòng tự trọng, đảm bảo sự tham gia của chủ thể vào tình huống, cũng như phân tích những gì đang xảy ra và hiểu về các yếu tố phân tích. Loại này được đặc trưng bởi khả năng tương quan với tình huống khách quan của hành động của chính nó, khả năng kiểm soát và phối hợp các yếu tố hoạt động tùy thuộc vào điều kiện thay đổi.

    Phản ánh hồi tưởng của một người là một phân tích về các sự kiện, hoạt động được thực hiện trong quá khứ.

    Phản ánh triển vọng là suy nghĩ về một hoạt động sắp tới, lập kế hoạch, trình bày quá trình hoạt động, chọn cách thức thực hiện hiệu quả nhất, dự báo kết quả có thể.

    Các nhà nghiên cứu khác phân biệt phản ánh cơ bản, khoa học, triết học, tâm lý, xã hội. Mục tiêu cơ bản là sự cân nhắc, cũng như phân tích tính cách của hành động và kiến ​​thức của chính họ. Loại này là đặc trưng của mỗi cá nhân, vì mỗi suy nghĩ về nguyên nhân của sai lầm và thất bại để thay đổi ý tưởng về môi trường và thế giới, để sửa chữa sai lầm, không cho phép chúng trong tương lai. Điều kiện này cho phép bạn học hỏi từ những sai lầm cá nhân.

    Phản ánh khoa học tập trung vào nghiên cứu quan trọng về phương pháp khoa học, nghiên cứu kiến ​​thức khoa học, phương pháp để đạt được kết quả khoa học và quy trình chứng minh các định luật và lý thuyết khoa học. Trạng thái này được thể hiện trong phương pháp của kiến ​​thức khoa học, logic, tâm lý của sáng tạo khoa học.

    Phản ánh xã hội là sự hiểu biết của một cá nhân khác thông qua sự phản ánh cho anh ta. Cô được phân loại là một sự phản bội nội bộ. Ý tưởng về những gì người khác nghĩ về cá nhân là quan trọng trong nhận thức xã hội. Đây là việc biết người khác (nhưng tôi nghĩ), khi họ nghĩ về tôi và biết chính mình có lẽ qua con mắt của người khác. Một nhóm bạn rộng cho phép một người biết nhiều về bản thân họ.

    Suy tư triết học

    Quan điểm cao nhất là sự phản ánh triết học, bao gồm những suy tư và lý luận về nền tảng của văn hóa con người, cũng như ý nghĩa của sự tồn tại của con người.

    Socrates coi trạng thái phản ánh là phương tiện quan trọng nhất để tự hiểu biết về tính cách, cũng như cơ sở của sự cải thiện tâm linh. Đó là khả năng của lòng tự trọng quan trọng đóng vai trò là đặc điểm phân biệt quan trọng nhất của cá nhân như một người có lý trí. Nhờ trạng thái này, những sai lầm của con người, những định kiến ​​được xóa bỏ, sự tiến bộ tâm linh của loài người trở thành hiện thực.

    Pierre Teilhard de Chardin lưu ý rằng trạng thái phản xạ phân biệt con người với động vật và cho phép cá nhân không chỉ biết điều gì đó, mà còn có thể biết về kiến ​​thức của mình.

    Ernst Cassirer tin rằng sự phản chiếu được thể hiện ở khả năng cách ly khỏi tất cả các hiện tượng cảm giác một số yếu tố ổn định để cô lập và tập trung sự chú ý vào chúng.

    Phản ánh tâm lý

    A. Buzeman là một trong những người đầu tiên trong tâm lý học xem xét trạng thái phản xạ, giải thích nó như một sự chuyển giao kinh nghiệm từ thế giới bên ngoài sang chính mình.

    Nghiên cứu tâm lý của sự phản ánh có hai mặt:

    – một cách để nhà nghiên cứu nhận ra các căn cứ, cũng như kết quả nghiên cứu;

    – tài sản cơ bản của chủ thể, trong đó có nhận thức, cũng như quy định về cuộc sống của họ.

    Phản ánh trong tâm lý học là một người suy nghĩ, mục đích của nó là xem xét, cũng như phân tích hoạt động của một người, chính mình, một trạng thái của riêng một người, sự kiện trong quá khứ và hành động.

    Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính cá nhân của cá nhân, trạng thái phản xạ, sự sáng tạo, cho phép chúng ta nói về các vấn đề về tính độc đáo sáng tạo của tính cách, cũng như sự phát triển của nó. E. Husserl, một tác phẩm kinh điển của tư tưởng triết học, lưu ý rằng một vị trí phản chiếu là một cách nhìn biến đổi từ hướng của đối tượng.

    Các đặc điểm tâm lý của tình trạng này bao gồm khả năng thay đổi nội dung của ý thức, cũng như thay đổi cấu trúc của ý thức.

    Hiểu về sự phản chiếu

    Tâm lý học Nga xác định bốn phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về sự hiểu biết về sự phản ánh: hợp tác, giao tiếp, trí tuệ (nhận thức), cá nhân (tâm lý học nói chung).

    Giao tiếp là một thành phần của giao tiếp phát triển, cũng như nhận thức giữa các cá nhân, như một chất lượng nhận thức cụ thể của một cá nhân bởi một cá nhân.

    Trí tuệ hay nhận thức là khả năng của chủ thể phân tích, cô lập, tương quan hành động của chính mình với tình huống khách quan và cũng xem xét nó tùy thuộc vào nghiên cứu các cơ chế tư duy.

    Cá nhân (tâm lý chung) là việc xây dựng một hình ảnh mới về bản thân, trong quá trình giao tiếp với các cá nhân khác, cũng như làm việc tích cực và phát triển kiến ​​thức mới về thế giới.

    Phản ánh cá nhân bao gồm một cơ chế tâm lý để thay đổi ý thức cá nhân. A.V. Rossokhin tin rằng khía cạnh này là một quá trình chủ động của việc tạo ra ý nghĩa, dựa trên sự độc đáo của người có khả năng nhận ra vô thức. Đây là một công việc nội bộ, dẫn đến việc hình thành các chiến lược mới, cách đối thoại nội bộ, để thay đổi giá trị – hình thành ngữ nghĩa, sự tích hợp tính cách trong một trạng thái mới, cũng như toàn diện.

    Phản ánh hoạt động

    Phản xạ được coi là một kỹ năng đặc biệt, bao gồm khả năng nhận ra trọng tâm của sự chú ý, cũng như theo dõi trạng thái tâm lý, suy nghĩ, cảm xúc. Nó thể hiện cơ hội để quan sát chính nó như thể từ phía người ngoài, nó cho phép bạn thấy chính xác sự tập trung chú ý và trọng tâm của nó. Tâm lý học hiện đại theo khái niệm này có nghĩa là bất kỳ suy nghĩ của một cá nhân, nhằm mục đích hướng nội. Đây là một đánh giá về tình trạng, hành động, suy ngẫm của anh ấy về bất kỳ sự kiện nào. Độ sâu của nội tâm phụ thuộc vào mức độ đạo đức, giáo dục của một người, khả năng kiểm soát bản thân.

    Sự phản ánh của hoạt động cho phép cá nhân nhận ra những gì người đó đang làm bây giờ, nơi anh ta và nơi anh ta cần di chuyển để phát triển. Một trạng thái phản xạ nhằm nhận ra nguyên nhân, cũng như nền tảng của các phán đoán cá nhân, thường được gọi là triết học.

    Phản ánh của hoạt động là quan trọng đối với một người tham gia vào công việc trí tuệ. Nó là cần thiết khi tương tác nhóm giữa các cá nhân là cần thiết. Ví dụ, quản lý đề cập đến trường hợp này. Phản ánh phải được phân biệt với tự nhận dạng .

    Mục tiêu phản ánh

    Không có suy tư thì không có học. Các cá nhân lặp lại các hoạt động được đề xuất trong một trăm lần một mẫu, nó có thể không bao giờ học được gì.

    Mục đích của sự phản ánh là xác định, nhớ lại và nhận ra các thành phần của hoạt động. Đây là các loại, ý nghĩa, phương pháp, giải pháp, vấn đề và kết quả. Không có nhận thức về cách học, cơ chế nhận thức, học viên không thể thích hợp với kiến ​​thức mà họ có được. Đào tạo diễn ra khi sự phản ánh có hướng dẫn được kết nối, do đó các sơ đồ hoạt động được phân biệt, cụ thể là, cách giải quyết các vấn đề thực tế.

    Phát triển sự phản ánh

    Sự phát triển của sự phản chiếu là vô cùng quan trọng để thay đổi một cá nhân có đầu óc tỉnh táo để tốt hơn. Phát triển bao gồm các phương pháp sau:

    – phân tích hành động cá nhân sau tất cả các sự kiện quan trọng, cũng như đưa ra quyết định khó khăn;

    – cố gắng đánh giá bản thân đầy đủ;

    – suy nghĩ về cách bạn hành động và cách hành động của bạn trong mắt người khác, đánh giá hành động của bạn về khả năng thay đổi điều gì đó, đánh giá kinh nghiệm thu được;

    – cố gắng kết thúc ngày làm việc của bạn bằng một phân tích về các sự kiện, tinh thần chạy qua tất cả các tập của ngày đi, đặc biệt tập trung vào những tập mà bạn không hài lòng và đánh giá tất cả những khoảnh khắc tồi tệ với cái nhìn của người quan sát bên ngoài;

    – định kỳ kiểm tra ý kiến ​​cá nhân của bạn về người khác, phân tích ý tưởng cá nhân sai hay đúng.

    – giao tiếp nhiều hơn với những người không giống bạn, tuân thủ một quan điểm khác với quan điểm của bạn, bởi vì mỗi nỗ lực để hiểu một người khác biệt đều có thể kích hoạt phản xạ.

    Đạt được thành công cho phép chúng ta nói về sự phát triển của một vị trí phản chiếu. Người ta không nên sợ hiểu một cá nhân khác, vì đây không phải là sự chấp nhận vị trí của anh ta. Tầm nhìn sâu và rộng về tình huống làm cho tâm trí của bạn linh hoạt nhất, cho phép bạn tìm ra giải pháp phối hợp và hiệu quả. Để phân tích hành động cá nhân, sử dụng các vấn đề phát sinh tại một thời điểm cụ thể. Trong những tình huống khó khăn nhất, có thể tìm thấy một phần của truyện tranh và nghịch lý. Nếu bạn nhìn vấn đề của mình từ một góc độ khác, bạn sẽ nhận thấy điều gì đó buồn cười trong đó. Kỹ năng này cho thấy mức độ cao của vị trí phản chiếu. Thật khó để tìm thấy một cái gì đó buồn cười trong vấn đề, nhưng điều này sẽ giúp giải quyết nó.

    Sáu tháng sau, phát triển khả năng phản xạ vị trí, bạn sẽ nhận thấy rằng bạn đã thành thạo khả năng hiểu con người, cũng như chính bản thân họ. Bạn sẽ ngạc nhiên khi bạn có thể dự đoán hành động của người khác, cũng như dự đoán suy nghĩ. Bạn sẽ cảm thấy một lực lượng mạnh mẽ và học cách hiểu chính mình.

    Phản xạ là một vũ khí hiệu quả và tinh tế. Hướng này có thể được phát triển vô tận, và sử dụng khả năng trong các lĩnh vực đa dạng nhất của cuộc sống.

    Sự phát triển của sự phản ánh tính cách không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Nếu khó khăn phát sinh, sau đó tăng kỹ năng giao tiếp của bạn để đảm bảo sự phát triển của một thái độ phản ánh.

    Lượt xem: 15 632

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác
  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phản Xạ Toàn Phần Là Gì? Ứng Dụng Của Hiện Tượng Phản Xạ Toàn Phần Và Bài Tập
  • Điện Công Nghiệp 5 Bgiangchuong5 Ppt
  • Trắc Nghiệm Sinh 11 Bài 26 (Có Đáp Án): Cảm Ứng Ở Động Vật.
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Sinh Học Lớp 11 Bài 26: Cảm Ứng Ở Động Vật
  • Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng Là Gì? là câu hỏi thường gặp nhất của các bạn học mới bắt đầu chương phản xạ ánh sáng. Phản xạ ánh sáng là hiện tượng thường xảy ra trong đời sống hằng ngày. Đây là một hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và nhờ cả nhân tạo, có sức ảnh hưởng lớn. Do đó, tìm ra quy luật của hiện tượng này là một điều rất quan trọng. Người ta dần khám phá ra quy luật của nó và sau đó triển khai có tên gọi là: “định luật phản xạ ánh sáng”.

    I. Định luật phản xạ ánh sáng là gì?

    – Thực hiện thí nghiệm chiếu tia sáng của đèn pin lên mặt phẳng trên bàn, ta thu được một vệt sáng trên tường. Đây là một trong những ví dụ điển hình cho sự phản xạ ánh sáng.

    – Vậy sự phản xạ ánh sáng được hiểu nôm na như sau: Khi ánh sáng chạm vào một bề mặt hoặc một ranh giới khác không hấp thụ năng lượng bức xạ và làm sóng ánh sáng bật khỏi bề mặt đó.

    II. Nội dung định luật phản xạ ánh sáng

    – Khi ánh sáng bị phản xạ, tia phản xạ sẽ nằm trong mặt phẳng chứa tia tới và pháp tuyến của gương ở điểm tới.

    – Góc phản xạ sẽ bằng góc tới.

    Chúng ta cùng xem hình vẽ sau để hiểu rõ hơn về định luật phản xạ ánh sáng là gì:

    III. Bài tập làm sáng tỏ định luật phản xạ ánh sáng là gì?

    Trước khi giải bài tập làm sáng tỏ định luật phản xạ ánh sáng là gì?, chúng ta hãy nắm vững một số kiến thức quan trọng sau đây:

    – Pháp tuyến sẽ vuông góc với mặt phẳng phản xạ (thường sẽ là mặt phẳng gương), do đó góc tạo bởi pháp tuyến với mặt phẳng phản xạ là góc vuông.

    – Góc tới sẽ bằng góc phản xạ

    – Ứng dụng hình học phẳng để giải bài tập

    Câu 1: Nội dung nào sau đây không đúng với định luật phản xạ ánh sáng:

    A. Tia phản xạ nằm trong mặt phẳng chứa tia tới và pháp tuyến của mặt phẳng gương.

    B. Tia phản xạ bằng tia tới

    C. Góc phản xạ bằng góc tới

    D. Góc hợp bởi tia tới và pháp tuyến bằng góc hợp bởi tia phản xạ và pháp tuyến

    Đáp án: B. Tia phản xạ sẽ bằng tia tới

    Giải thích: Không có sự so sánh về độ dài giữa các tia với nhau vì độ dài các tia là vô hạn.

    Câu 2: Chiếu một tia sáng đến một gương phẳng ta sẽ thu được một tia phản xạ và tạo với tia tới một góc 40 độ. Góc tới giá trị là? Chọn đáp án chính xác nhất và đưa ra cách làm:

    A. 20

    B. 80

    C. 40

    D. 20

    Đáp số: A. 20 độ

    Giải thích: Góc tới = góc phản xạ. Do đó pháp tuyến cũng là tia phân giác của góc tạo bởi tia phản xạ và tia tới.

    Câu 3: Chiếu 1 tia tới SI lên một gương phẳng hoặc 1 mặt phẳng phản xạ, ta thu được một tia phản xạ IR và tạo với tia tới SI một góc 60 độ. Tìm giá trị của góc phản xạ r và góc tới i. (lưu ý quy ước i là góc tới còn r là góc phản xạ)

    A.i = r = 80 độ

    B. i = r = 30 độ

    C. i = 30 độ, r = 40 độ

    D. i = r = 60 độ

    Đáp án: B: i = r =30 độ.

    Lời giải:

    Theo định luật phản xạ ánh sáng thì góc tới sẽ luôn bằng góc phản xạ tức i = r. Do đó ta loại trừ phương án C khi mà i # r.

    Câu 4: Chiếu một tia sáng SI lên 1 mặt phẳng gương, tia phản xạ IR của SI ta thu được nằm trên mặt phẳng nào?

    A. Mặt phẳng vuông góc với tia tới

    B. Mặt phẳng gương

    C. Mặt phẳng tạo bởi tia tới và mặt gương

    D. Mặt phẳng tạo bởi tia tới và pháp tuyến của gương ở điểm tới

    Đáp án: D. Mặt phẳng bởi tia tới và pháp tuyến gương

    Giải thích: Theo định luật phản xạ ánh sáng thì tia phản xạ sẽ nằm trong mặt phẳng chứa tia tới và pháp tuyến của gương ở ngay điểm tới. Do đó án án đúng của câu này sẽ là D.

    Vậy là sau khi đi qua bài viết các bạn đã phần nào trả lời được câu hỏi ” Định luật phản xạ ánh sáng là gì?” rồi phải không.

    Sự phản xạ ánh sáng này xung quanh chúng ta rất nhiều, như là một phần không thể thiếu trong đời sống của chúng ta vậy. Chúng ta có thể gặp nó ở khắp mọi nơi như một chiếc gương, một mặt hồ vắng lặng, một chiếc kính hiển vi, một chiếc gương cầu lồi trên đường, một bàn hình kính… và vô vàn những vật hay sự vật tự nhiên mà chúng ta có thể gặp lại sự phản xạ ánh sáng này.

    Hẹn gặp lại mọi người vào những bài viết bổ ích tiếp theo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Phản Xạ Toàn Phần
  • Bài 1. Các Khái Niệm Chung Về Ánh Sáng. Phản Xạ Ánh Sáng. Gương Phẳng
  • Giải Vở Bài Tập Vật Lí 7
  • Bài 29. Dẫn Truyền Xung Thần Kinh Trong Cung Phản Xạ
  • Khái Niệm Và Tính Chất Của Pxcđk Và Pxkđk? Ví Dụ Minh Họa. Giúp Mik Với Câu Hỏi 776647
  • Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Bài 46: Định Luật Sác
  • Định Luật Tre, Định Luật Của Sự Thành Công: Định Luật Đơn Giản Thay Đổi Cuộc Đời Hàng Triệu Người
  • 10 Định Luật Cuộc Sống Chuẩn Hơn Cả Phong Thủy
  • Định Luật Bảo Toàn Vật Chất: Ứng Dụng, Thí Nghiệm Và Ví Dụ
  • Các Định Luật Bảo Toàn Vĩ Đại
  • Khi ánh sáng tiếp xúc với một vật cản bất kỳ sẽ xuất hiện 2 trường hợp là khúc xạ ánh sáng và phản xạ ánh sáng. Trong bài viết này mình sẽ giới thiệu những nội dung chính trong định luật phản xạ ánh sáng.

    Phản xạ ánh sáng là gì?

    Khi một tia sáng chiếu vào bất kỳ vật thể nào, thì tia sáng đó bị chiếu ngược lại hoàn toàn, hiện tượng này được gọi là phản xạ ánh sáng. Các vật thể có bề mặt sáng bóng hoặc được đánh bóng phản chiếu nhiều ánh sáng hơn so với các vật thể có bề mặt xỉn màu hoặc không được đánh bóng. Bạc là kim loại phản xạ ánh sáng tốt nhất. Đây là lý do tại sao gương máy bay được tạo ra bằng cách đặt một lớp kim loại bạc mỏng ở một mặt của tấm kính phẳng.

    Phân loại phản xạ ánh sáng

    Có 2 loại phản xạ ánh sáng là phản xạ thường xuyên và phản xạ khuếch tán của ánh sáng.

    Phản xạ thường xuyên

    Một chùm ánh sáng tới song song được phản xạ ngược lại song song theo một hướng. Trong trường hợp này, các tia tới song song vẫn song song ngay cả sau khi phản xạ, chỉ đi theo một hướng và nó xuất hiện từ các bề mặt nhẵn như gương phẳng hoặc bề mặt kim loại có độ bóng cao. Do đó, một gương phẳng tạo ra sự phản xạ ánh sáng thường xuyên. Do góc tới và góc phản xạ là gần bằng hoặc bằng nhau, nên một chùm tia song song rơi trên một bề mặt nhẵn chỉ được phản xạ dưới dạng một chùm tia sáng song song theo một hướng.

    Phản xạ khuếch tán

    Một chùm ánh sáng tới song song được phản xạ theo các hướng khác nhau. Trong trường hợp này, các tia tới song song không tồn tại song song sau khi phản xạ, chúng bị tán xạ theo các hướng khác nhau. Nó còn được gọi là sự phản xạ hoặc tán xạ không đều. Thường thì các bề mặt gồ ghề như giấy, bìa cứng, phấn, bàn, ghế, tường và các vật kim loại chưa được đánh bóng. Vì, góc tới và góc phản xạ là khác nhau, các tia sáng song song rơi trên một bề mặt gồ ghề đi theo các hướng khác nhau.

    Định luật phản xạ ánh sáng

    Định luật phản xạ ánh sáng áp dụng cho cả gương phẳng cũng như gương cầu lồi, cầu lõm. Có 2 định luật phản xạ ánh sáng gồm:

    Định luật phản xạ thứ nhất: Theo định luật thứ nhất, tia tới, tia phản xạ tất cả đều nằm trong cùng một mặt phẳng.

    Định luật phản xạ thứ hai: Theo định luật thứ hai, góc phản xạ luôn bằng góc tới.

    Ngoài ra, điều quan trọng cần lưu ý là khi một tia sáng chiếu trên bề mặt gương thì góc tới và góc phản xạ của một tia sáng như vậy sẽ bằng không. Tia sáng này sẽ được phản xạ ngược lại bằng với vật.

    Đối tượng và hình ảnh trong phản xạ ánh sáng

    Bất cứ thứ gì phát ra ánh sáng đều bị phản xạ bởi chính nó được gọi là một vật thể. Ví dụ, một bóng đèn, một ngọn nến, một cái cây, mặt trăng, ngôi sao…

    Khi các tia sáng phát ra từ một vật thể được phản chiếu từ gương thì hình dạng quang học được tạo ra được gọi là hình ảnh. Ví dụ, khi chúng ta nhìn vào gương, chúng ta thấy hình ảnh khuôn mặt của chúng ta. Hình ảnh có hai loại, ảnh thật và ảnh ảo.

    Hình ảnh thật: Hình ảnh có thể nhìn thấy trên màn hình được gọi là hình ảnh thực.

    Ảnh ảo: Hình ảnh không thể thu được trên màn hình được gọi là ảnh ảo.

    Đảo ngược phản xạ ánh sáng:

    Khi chúng ta đứng trước gương và nâng tay phải thì hình ảnh được hình thành sẽ nâng bàn tay trái. Do đó, bên phải của cơ thể chúng ta trở thành bên trái trong hình ảnh của nó và bên trái của cơ thể chúng ta trở thành bên phải trong hình ảnh của nó trong gương.

    Sự thay đổi các mặt của một đối tượng trong hình ảnh phản chiếu của nó được gọi là đảo ngược bên. Nó xảy ra do sự phản xạ của ánh sáng.

    Kết luận: Phản xạ ánh sáng là hiện tượng quen thuộc trong tự nhiên và nó được ứng dụng rất nhiều trong thực tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lực Quán Tính Là Gì? Lực Quán Tính Trong Các Hệ Quy Chiếu
  • Quán Tính Là Gì? Lực Quán Tính Là Gì Và Các Hệ Quy Chiếu?
  • Lixi88: Mạng Lưới Cá Cược Lớn Nhất Đông Nam Á
  • Quy Định Và Luật Lệ Của Lixi88 Giúp Bảo Mật Và An Toàn
  • Quy Định Và Luật Lệ Khi Sử Dụng Trên Website Ketqua247.com
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Ta Cần Triết Học Để Làm Gì?
  • Interferon Là Gì? Phân Loại, Tác Dụng Của Interferon?
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Tuyến Tụy
  • Nguồn Gốc Ung Thư Và Vai Trò Của Hệ Miễn Dịch
  • Cytokin Và Điều Hòa Miễn Dịch
  • Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Triết học là gì

    Định nghĩa Triết học là gì?

    • Triết học là một bộ môn chính thực hiện việc nghiên cứu về các vấn đề chung, cơ bản về con người – thế giới quan cũng như vị trí của con người ở trong thế giới quan – những vấn đề đó có kết nối lại với chân lý – sự tồn tại – kiến thức – giá trị – quy luật – ngôn ngữ. Dựa vào cách mà triết học giải quyết các vấn đề này, người ta sẽ phân biệt được nó với lại những môn khoa học khách. Trong đó, nó nổi bật nhất khi thể hiện rõ tính phê phán, các phương pháp tiếp cận vào hệ thống chung nhất, sự phụ thuộc của nó sẽ dựa vào tính duy lý ở việc lập luận.
    • Triết học có tên gọi tiếng Anh là Philosophy, từ này được xuất phát trong tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa dịch ra “tình yêu đối với sự thông thái”. Các thuật ngữ như là “triết học” hay “ triết gia” ra đời là gắn cùng với nhà tư tưởng người Hy Lạp Pythagoras.
    • Hiện nay, triết học cũng là một ngành khoa học được đào tạo riêng biệt dành cho sinh viên và triết học là môn học bắt buộc đối với tất cả các sinh viên trong trường Đại học – Cao đẳng. Để học ngành triết học, sinh viên sẽ phải thi khối C, học trong thời gian 4 năm. Hiện nay có một số trường đào tạo chuyên ngành triết học như: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc gia Hà Nội),…

    Nguồn gốc của triết học

    Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định.

    Nguồn gốc nhận thức:

    • + Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? … trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học.
    • + Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận.

    – Nguồn gốc xã hội:

    Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.

    Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia chúng chỉ có tính chất tương đối.

    Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử

    * Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên – bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học.

    * Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học. Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh. Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện.

    * Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập. Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học – Khoa học hậu vật lý. Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được.

    + Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph. Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    + Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen.

    + Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học.

    * Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học”. Triết học Mác – Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó. Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    * Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học. Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

    * Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới.

    *Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức.

    * Các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):

    +Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới.

    + Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người.

    + Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức. Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

    VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRIẾT HỌC.

    Vấn đề cơ bản của triết học

    Ăngghen định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học như sau: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học, đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    * Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

    • + Mặt thứ nhất: Giữa tư duy và tồn tại thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    • + Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thể giới hay không?

    * Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:

    + Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ý thức của chúng ta, không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy.

    + Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.

    + Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên.

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả tri hay bất khả tri.

    + Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người.

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn:

    • + Chủ nghĩa duy vật: Là những người cho rằng vật chất giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.
    • + Chủ nghĩa duy tâm: là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

    * Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của nó

    Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện triết học thì đã phân chia ra chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật từ đó đến nay luôn gắn với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có quan điểm thống nhất coi vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, đều xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới. Cụ thể:

    + Chủ nghĩa duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại:

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại mang tính trực quan nên ngây thơ và chất phác, tuy còn nhiều hạn chế nhưng với nguyên tắc cơ bản là đúng. Trường phái này giải thích giới tự nhiên từ chính bản thân tự nhiên, không viện dẫn thần linh hay thượng đế.

    + Chủ nghĩa duy vật máy móc siêu hình thế kỷ thứ XVII – XVIII.

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ sự phát triển rực rỡ của cơ học khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu máy móc chiếm vị trí thống trị và tác động mạnh mẽ đến các nhà duy vật.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Là kết quả nhận thức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa những tinh hoa của các học thuyết trước đó, đồng thời khắc phục những hạn chế, sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin mang tính chất cách mạng triệt để và biện chứng khoa học, không chỉ phản ánh hiện thực đúng như bản thân nó mà còn là công cụ hữu ích giúp con người cải tạo hiện thực đó.

    * Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của nó:

    + Duy tâm chủ quan thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực. Mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp cảm giác của cá nhân, của chủ thể.

    + Duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang tên gọi khác nhau như: ý niệm; tinh thần tuyệt đối; lý tính thế giới…

    Một hình thức biến tướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, với sự thừa nhận thượng đế; chúa trời sáng tạo thế giới. Tuy nhiên có sự khác nhau đó là, chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thì lòng tin là cơ sở chủ yếu, đóng vai trò chủ đạo; còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.

    Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm:

    +Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.

    * Triết học nhị nguyên: vật chất và ý thức song song tồn tại, không có cái nào có trước, cả hai đều là nguồn gốc tạo nên thế giới, triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Xét về thực chất, Triết học nhị nguyên thể hiện sự dao động ngả nghiêng, cuối cùng cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

    Thuyết khả tri; bất khả tri và hoài nghi luận

    – Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản “con người có nhận thức được thế giới không?”:

    + Thuyết khả tri( Thuyết có thể biết) là những nhà Triết học cả duy vật và duy tâm trả lời một cách khẳng định: Con người có khả năng nhận thức được thế giới

    +Hoài nghi luận xuất hiện từ thời Cổ đại (từ chữ Hy Lạp skeptikos và skiptomai có nghĩa là tôi thẩm tra) mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ đại). Họ là những người đã luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.

    Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấy tranh chống hệ tư tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.

    +Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): là sự phát triển mặt tiêu cực của trào lưu hoài nghi luận. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không bảo đảm tính chân thực, từ đó họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó.

    Đại biểu nổi tiếng nhất của “thuyết không thể biết” là Hium (nhà triết học Anh) và Cantơ (nhà triết học Đức). Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không. Còn Cantơ thì thừa kế nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “vật tự nó”; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là nhận thức những hiện tượng của nó mà thôi.

    Thuyết không thể biết đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph. Ăngghen đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết không thể biết một cách triệt để nhất. “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp. Nếu chúng ta có thể chứng minh được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”.

    SIÊU HÌNH VÀ BIỆN CHỨNG

    Trong lịch sử triết học không những có sự đối lập giữa CNDV và CNDT khi tìm hiểu bản chất của thế giới, mà đồng thời còn phải trả lời các câu hỏi: thế giới là bất động, đứng im hay là không ngừng vận động và phát triển? Các sự vật, hiện tượng của thế giới ở trạng thái cô lập, tách rời nhau hay có liên hệ với nhau, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau.

    Lịch sử đã biết đến hai quan điểm, hai cách xem xét nhìn nhận trái ngược nhau trong khi giải đáp những câu hỏi trên. Đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    Phương pháp siêu hình

    Phương pháp biện chứng

    +Thừa nhận đối tượng ở trạng thái cô lập,tách rời với các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối

    +Thừa nhận đối tượng qua các mối liên hệ của nó với các đối tượng khác và sự ảnh hưởng ràng buộc lẫn nhau giữa chúng

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đấy chỉ là biến đổi về mặt số lượng, nguyên nhân của mọi sự biến đổi nằm ngoài đối tượng.

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi có khuynh hướng chung là phát triển, có sự thay đổi về chất, mà nguyên nhân của mọi sự biến đổi ấy là do nguồn gốc bên trong đối tượng. Đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập.

    – Phương pháp siêu hình chỉ nhìn thấysự vật riêng biệt mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa chúng; chỉ thấy sự tồn tại mà không thấy quá trình sự phát sinh và tiêu vong .(Về bản chất là không hiểu được mối quan hệ giữa vận động và đứng im, hay đứng im chỉ là một hình thức vận động đặc biệt).– Tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung nhau được, họ nói có là có, không là không. Đối với họ, một sự vật hoặc tồn tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, v.v…Nguồn gốc của phương pháp siêu hình: Là bắt nguồn từ việc muốn nhận thức đối tượng, trước hết con người phải tách đối tượng ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Tuy phương pháp đó là cần thiết và có tác dụng trong một phạm vi nhất định, nhưng thực tế thì hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    – Phương pháp biện chứng không chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối quan hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong của sự vật.– Phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt trong sự phản ánh hiện thực,– Phương pháp biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “ hoặc là.. hoặc là” còn có cái “vừa là… vừa là”; đối tượng hay chỉnh thể trong lúc tồn tại là nó thì cũng đồng thời bao hàm sự tồn tại không là nó; cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa gắn bó nhau. Do đó, nó phản ánh hiện thực ngày càng chân thực chính xác, và nó trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem sét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương pháp biện chứng là phương pháp xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với tư duy mềm dẻo, linh hoạt.

    Các giai đoạn phát triển cơ bản của phương pháp biện chứng

    * Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời Cổ đại. thể hiện rõ nét trong “thuyết Âm – Dương” của triết học Trung Quốc, đặc biệt là trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học đều thấy các sự vật hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hoá trong những mối liên hệ vô cùng tận. Cách nhận xét thế giới như vậy, theo Ăngghen, là một cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng và là kết quả của một trực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả cuả những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. Chính vì hạn chế này mà phép biện chứng Cổ đại phải nhường bước cho phép siêu hình, phương pháp thống trị trong tư duy triết học ở thế kỷ XVIII là điều không thể tránh khỏi. Đây là giai đoạn khám phá kết cấu, thuộc tính của đối tượng.

    * Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, bắt đầu từ Cantơ và hoàn chỉnh ở Hêghen. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển tư duy nhân loại, các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung của phép biện chứng. Tuy nhiên, đây mới chỉ dừng lại ở biện chứng của khái niệm, của tinh thần, và tai hại hơn là họ cho rằng giới hiện thực chỉ là sự sao chép của tinh thần, bởi vậy phép biện chứng cổ điển Đức là có tính chất duy tâm.

    * Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng duy tâm, sau khi gạt bỏ tính chất duy tâm thần bí của nó, Mác – Ăng ghen xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

    Vai trò thế giới quan và phương pháp luận

    Vai trò thế giới quan của triết học

    * Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.

    * Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.

    * Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.

    * Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

    + Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập.

    Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.

    Do vậy:

    + Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.

    + Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động. + Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.

    Vai trò phương pháp luận của triết học

    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    * Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất

    + Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.

    Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.

    Vai trò của triết học Mác – Lê nin

    Triết học Mác – Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.

    * Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.

    + Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.

    + Nắm vững triết học triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.

    * Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.

    Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.

    Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.

    Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.

    Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:

    + Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;

    + Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị vấp váp, thất bại.

    Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vài Trò Và Ý Nghĩa Giao Tiếp Mà Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Đời Sống Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Tìm Hiểu Về Giới Tính Và Giới
  • Liên Minh Châu Âu Và Tầm Quan Trọng Trên Toàn Thế Giới
  • Trí Tuệ Cảm Xúc: Tầm Quan Trọng Của Eq Đối Với Thành Công
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Triết Học Là Gì? Đối Tượng Của Triết Học Là Gì? Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Hàm Vlookup Trong Excel, Cách Dùng Hàm Vlookup Trong Excel, Hàm Tìm Ki
  • =)), :)), :3, :v, ^^, :, @@, 3:), V/v, Vc, Vs Nghĩa Là Gì?
  • Iphone Bypass Là Gì? Có Nên Mua Iphone Bypass
  • Info Là Gì? Xin Info Là Gì? Ý Nghĩa Của Info Được Dùng Trên Mạng Xã Hội
  • Khi học triết học, chúng ta thường xuyên đặt câu hỏi triết học là gì? Đối tượng của triết học và vấn đề cơ bản khoa học này là gì? Bài viết này sẽ cung cấp giải đáp cho những câu hỏi đó.

    – Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    Ở Trung Quốc, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar’sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    – Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau:

    Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu:

    “Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy”.

    – Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    – Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của ; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

    Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng.

    Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại.

    Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu.

    Ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học.

    Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập.

    Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.

    Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác.

    “Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.”

    Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.

    Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó.

    Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa học”, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.

    Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản…

    Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.

    Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Homestay Là Gì? 6 Đặc Trưng Làm Nên Loại Hình Homestay
  • Homestay Là Gì? Những Điều Cần “nằm Lòng” Nếu Muốn Đầu Tư Homestay
  • Hợp Âm Là Gì? Cách Sử Dụng Hợp Âm Chuẩn
  • Gdp Là Gì, Ý Nghĩa Và 3 Cách Tính Gdp Danh Nghĩa Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Du Lịch La Gi, Bình Thuận (Cập Nhật 12/2020)
  • Bài 4. Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bầu Trời Chiều Ẩn Giấu
  • Chiêm Nghiệm: 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • Vũ Trụ Và Các Định Luật
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ
  • 7 Định Luật Lớn Của Vũ Trụ Cần Khắc Cốt Ghi Tâm
  • [Vật lí 7] Bài 4. Định luật phản xạ ánh sáng

    4.1 Trên hình 4.1 vẽ tia sáng SI chiếu lên một gương phẳng. Góc tạo bởi tia SI với mặt gương bằng 30o. Hãy vẽ tiếp tia phản xạ và tính góc phản xạ.

    4.3 Chiếu một tia sáng SI lên một gương phẳng (hình 4.2)

    a) Vẽ tia phản xạ

    b) Vẽ một ví trí đặt gương để thu được tia phản xạ theo phương nằm ngang, chiều từ trái sang phải

    4.4 Một gương phẳng đặt trên mặt bàn nằm ngang, gần một bức tường thẳng đứng (hình 4.3). dùng đèn pin chiếu một tia sáng lên gương (lấy một miếng bìa khoét 1 lỗ nhỏ rồi dán lên mặt kính của đèn để tạo tia sáng), sao cho tia phản xạ gặp bức tường. Hãy vẽ hai tia tới cho hai tia phản xạ gặp bức tường ở một điểm M.

    4.5 Chiếu một tia sáng SI lên một gương phẳng ta thu được một tia phản xạ IR tạo với một tia tới một góc 60 độ (hình 4.4). Tìm giá trị của góc tới i và góc phản xạ r.

    4.6 Chiếu một tia sáng vuông góc với mặt một gương phẳng. Góc phản xạ r có giá trị nào sau đây ?

    4.7 Chiếu một tia sáng SI theo phương nằm ngang trên một gương phẳng như hình 4.5, ta thu được tia phản xạ theo phương thẳng đứng. Góc SIM tạo bởi tia SI và mặt gương có giá trị nào sau đây?

    4.8 Chiếu một tia sáng SI lên một gương phẳng, tia phản xạ thu được nằm trong mặt phẳng nào?

    A. Mặt gương

    B. Mặt phẳng tạo bởi tia tới và mặt gương

    C. Mặt phẳng vuông góc tia tới

    D. Mặt phẳng tạo bởi tia tới và pháp tuyến với gương ở điểm tới

    4.9 Một tia tới tạo với mặt gương một góc 120 độ như ở hình 4.6. Góc phản xạ r có giá trị nào sau đây?

    4.10 Hai gương phẳng G1 và G2 đặt song song với nhau, mặt phản xạ quay vào nhau. Tia tới SI được chiếu lên gương G1 phản xạ một lần trên gương G1 và một lần trên gương G2(hình 4.7). Góc tạo bởi tia tới SI và tia phản xạ cuối cùng trên gương G2 có giá trị nào sau đây?

    4.11 Hai gương phẳng G1 và G2 đặt vuông góc với nhau, mặt phản xạ quay vào nhau. Tia tới SI chiếu lên gương G1 (hình 4.8) lần lượt phản xạ trên gương G1 rồi trên gương G2. Góc tạo bởi tia tới SI và tia phản xạ cuối cùng trên gương G2 có giá trị nào sau đây?

    4.12 Hai gương phẳng G1 và G2 có mặt phản xạ quay vào nhau va tạo với nhau một góc a (hình 4.9). Tia tới SI được chiếu lên gương G1 lần lượt phản xạ một lần trên gương G1rồi một lần trên gương G2. Biết góc tới trên gương G1 bằng 30 độ. Tìm góc α để cho tia tới trên gương G1 và tia phản xạ trên gương G2 vuông góc với nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Cầu Phá Vỡ Định Luật Vật Lý, Trở Thành Kiệt Tác Khiến Cả Thế Giới Thán Phục
  • Cây Cầu Nước ‘phá Vỡ Mọi Định Luật Vật Lý’ Ở Hà Lan
  • 5 Khám Phá Khoa Học ‘đi Ngược Lại’ Các Định Luật Vật Lý Hiện Nay (+Video)
  • Hòn Đá Nặng 250 Tấn Nằm Trên Sườn Dốc Hàng Nghìn Năm, Thách Thức Các Định Luật Vật Lý
  • Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn Là Gì? Bài Tập Áp Dụng Lý Thuyết Định Luật
  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Phản Ánh Của Hoạt Động, Phản Ánh Tâm Lý Và Triết Học
  • Câu 35: Ý Thức Và Nguồn Gốc Ý Thức Theo Triết Học Mac
  • Có Chân Lý Khách Quan Không?
  • Một Biểu Tượng Là Gì? ·
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Sự phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn, về mặt bản chất, ý thức xã hội là sự phản ánh của sự tồn tại xã hội, song sự phản ánh ấy không phải bao giờ cũng đon giản, một chiều mà còn có những biểu hiện khá đa dạng, phong phú. Sự phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể đúng, có thể sai; phản ánh mang tính chất trực tiếp hoặc gián tiếp; ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội hoặc lạc hậu hơn tồn tại xã hội; trong quá trình phản ánh ý thức xã hội còn có sự kế thừa ý thức xã hội của các thời đại trước đó và giữa các hình thái ý thức xã hội còn có mối quan hệ gắn bó với nhau. Đặc điểm phản ánh của ý thức xã hội thể hiện rõ ở tính độc lập tương đối của ý thức xã hội. Tính độc lập tương đối đó có những nguyên nhân lịch sử: do trong xã hội có sự phân chia giai cấp, do quy luật trong sự phát triển của bản thân ý thức, do tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội.

    Những hình thức biểu hiện cụ thể của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội hết sức phong phú. về cơ bản, có năm hình thức biểu hiện sau đây:

    1. Ý thức xã hội thường lạc hậu so vói tồn tại xã hội

    Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội. Lịch sử phát triển xã hội đã chứng tỏ rằng nhiều khi chế độ cũ đã mất đi, thậm chí đã mất đi rất lâu, nhung ý thức xã hội do chế độ đó sinh ra vẫn còn tồn tại. Tính chất lạc hậu của ý thức xã hội so với sự tồn tại vật chất của xã hội thể hiện đặc biệt rõ trong lĩnh vực tâm lý xã hội (trong truyền thống, tập quán, thói quen, tình cảm, dư luận, V. V.). Đây là lĩnh vực bền vững và bảo thủ nhất của ý thức xã hội. Khi nói về sự trì trệ của tâm lý sản xuất nhỏ được tạo nên qua bao thế kỷ, Lênin đã viết: “Sức mạnh của tập quán ở hàng triệu và hàng chục triệu người, đó là sức mạnh ghê gớm nhất”.

    Dưới chủ nghĩa xã hội, tuy cơ sở kinh tế của xã hội cũ đã bị thủ tiêu, nhưng những tàn dư tư tưởng tâm lý của nó vẫn tồn tại dai dẳng trong ý thức của một bộ phận thành viên của xã hội xã hội chủ nghĩa như thói tham lam, trục lợi, tư tưởng ăn bám, lười lao động, tệ quan liêu, cửa quyền, ăn hối lộ,-

    Sự lạc hậu của ý íhức xã hội so vứi sự tồn tại xã hội do những nguyên nhân sau đây:

    Một là, sự biến đổi của tồn tại xã hội do tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp của những hoạt động thực tiễn của con người, thường diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội có thể không phản ánh kịp và trở nên lạc hậu. Hơn nữa, ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội nên nói chung chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn tại xã hội.

    Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội (đặc biệt trong tâm lý xã hội).

    Ba là, ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người, những giai cấp nhất định trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được các lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ.

    Những hiện tượng ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Vì vậy, trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống lại những âm mưu và hành động phá hoại của những thế lực thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ, đồng thời ra sức phát huy những truyền thống tư tưởng tốt đẹp.

    2. Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội

    Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, triết học Mác đồng thời thừa nhận rằng trong những điều kiện nhất định, tư tưởng con người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người, hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự phát triển chín muồi của đời sổng vật chất của xã hội đặt ra.

    Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp cách mạng nhất của thời đại – giai cấp công nhân, tuy ra đời vào thế kỷ XIX trong lòng chủ nghĩa tư bản, nhưng đã chỉ ra được những quy luật vận động tất yếu của xã hội loài người nói chung, của xã hội tư bản nói riêng, qua đó chỉ ra rằng xã hội tư bản nhất định sẽ bị thay thế bằng xã hội cộng sản. Học thuyết đó trang bị cho giai cấp công nhân và chính đảng cộng sản vũ khí lý luận sắc bén để giải phóng mình và giải phóng nhân dân lao động, các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới thoát khỏi ách nô dịch, bóc lột, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp.

    Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất cho nhận thức và cải tạo thế giới trên mọi lĩnh vực, vẫn là cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Khi nói tư tưởng tiên tiến có thể đi trước tồn tại xã hội, dự kiến được quá trình khách quan của sự phát triển xã hội thì không có nghĩa nói rằng trong trường họp này ý thức xã hội không còn bị tồn tại xã hội quyết định nữa. Tư tưởng khoa học tiên tiến không thoát ly tồn tại xã hội mà phản ánh chín h xác, sâu sắc tồn tại xã hội.

    Sự phản ánh vượt trước sẽ là sáng tạo khi ý thức xã hội phản ánh đúng được mối liên hệ tất yếu, bản chất của tồn tại xã hội. Nói cách khác, ý thức xã hội phản ánh được cái lôgíc khách quan của tồn tại xã hội.

    2. Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội

    Kế thừa là một trong những tính quy luật của sự phát triển ý thức xã hội. Kế thừa là tất yếu khách quan và thừa kế phải qua “lọc bỏ”, đó là biện chứng của sự phát triển. Một tư tưởng mới, một ý thức mới ra đời bao giờ cũng biết chọn lọc, tiếp thu những tinh hoa của quá khứ. Quan hệ kế thừa làm cho sự phát triển diễn ra trong lĩnh vực ý thức như là lịch sử phát triển tự nhiên, như một quá trình nối tiếp liên tục của tư duy giữa các thế ho. Chính điều này làm cho ngựời ta lầm tưởng rằng tư tưởng dường như là sản phẩm của tư duy “thuần tuý” hoàn toàn độc lập với tồn tại xã hội. Thật ra tồn tại xã hội, xét đến cùng bao giờ cũng là cái quyết định ý thức xã hội – quy định cả nội dung, bản chất và khuynh hướng kế thừa trong quá trình phát triển của ý thức xã hội.

    Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng những quan điểm ỉý luận của mỗi thời đại ìthông xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế íhừa những thành tựu lý luận của các thời đại trước. Ví dụ, chủ nghĩa Mác đã kế thừa và phát triển những tinh hoa tư tưởng của loài người mà trực tiếp là nền triết học cổ điến Đức, kinh tế học chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.

    Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên không thể giải thích được một tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có, không chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó. Lịch sử phát triển của tư tưởng cho thấy những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của triết học, văn học, nghệ thuật nhiều khi không phù họp hoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của kinh tế. Thừa nhận tính kế thừa trong sự phát triển của tư tưởng giúp chúng ta giải thích hiện tượng vì sao một nước có trình độ phát triển tương đối kém về kinh tế nhưng tư tưởng lại ở trình độ phát triển cao. Ví dụ, nước Pháp thế kỷ XVIII có nền kinh tế phát triển kém nước Anh, nhưng tư tưởng thì lại tiên tiến hơn nước Anh; so với Anh, Pháp thì nước Đức ở nửa đầu thế kỷ XIX lạc hậu về kinh tế, nhung đã đứng ở trình độ cao hơn về triết học.

    Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó. Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước. Các giai cấp tiên tiến tiếp nhận những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại. Ví dụ, khi làm cách mạng tư sản chống phong kiến, các nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản đã khôi phục những tư tưởng duy vật và nhân bản của thời cổ đại. Ngược lại, những giai cấp lỗi thời và các nhà tư tưởng của nó thì tiếp thu, khôi phục những tư tưởng, những lý thuyết xã hội phản tiến bộ của những thời kỳ lịch sử trước đó. Giai cấp phong kiên các nước Tây Âu trung cổ vào thời kỳ suy thoái đã ra sức khai thác triết học của Platôn và những yếu tố duy tâm trong hệ thống ừiết học của Aristổt thời kỳ cổ Hy Lạp, biển chúng thành cơ sở triết học của giáo lý đạo Thiên chúa; hoặc như, vào nửa sau thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX các thế lực tư sản phản động đã phục hồi và phát triển những trào lưu triết học duy tâm, tôn giáo dưới những cái tên mới của chủ nghĩa Cantơ mới, chủ nghĩa Tômat mới, v.v. để chống lại phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và hệ tư tưởng của nó là chủ nghĩa Mác.

    Quan điểm của triết học Mác-Lênin về tính kế thừa của ý thức xã hội có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tinh thần của xã hội xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, văn hoá xã hội chủ nghĩa cần phải phát huy những thành tựu và truyền thống tốt đẹp nhất của nền văn hoá nhân loại từ cổ chí kim trên cơ sở thế giới quan mácxít. Người viết: “Văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng sổ những kiến thức mà loài người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu” 7.

    4. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong phát triển của ý thức xã hội

    Các hình thái ý thức xã hội không chỉ chịu sự tác động của tồn tại xã hội, của điều kiện vật chất, mà còn chịu sự tác động lẫn nhau. Mối liên hệ và tác động đó làm cho mỗi hình thái ý thức có những tính chất và những mặt không thể giải thích được một cách trực tiếp bằng tồn tại xã hội hay bằng các điều kiện vật chất.

    Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy: thông thường ở mỗi thời đại, tuỳ theo nhũng hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và tác động mạnh, đến các hình thái ý thức khác. Ở Hy Lạp cổ đại, triết học và nghệ thuật đóng vai trò đặc biệt to lớn; còn ở Tây Âu thời trung cổ thì tôn giáo ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt tinh thần của xã hội như triết học, đạo đức, nghệ thuật, chính trị, pháp quyền. Ở giai đoạn lịch sử sau này thì ý thức chính trị lại đóng vai trò to lớn tác động đến các hình thái ý thức xã hội khác. Ở Pháp nửa sau thế kỷ XVIII và ở Đức cuối thế kỷ XIX, triết học và văn học là công cụ quan trọng để tuyên truyền những tư tưởng chính trị, là vũ đài của cuộc đấu tranh chính trị của các lực lượng xã hội tiên tiến. Trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội thì ý thức chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng, ý thức chính trị của giai cấp cách mạng định hướng cho sự phát triển theo chiều hướng tiến bộ của các hình thái ý thức khác.

    Trong xã hội có giai cấp tư tưởng chính trị trực tiếp phản ánh cơ sở kinh tế và gắn liền với cơ sở kinh tế, với lợi ích của giai cấp, nên nó có tác dụng chi phối mọi mặt đời sống tinh thần của xã hội. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, những hoạt động tư tưởng như triết học, văn học, nghệ thuật mà tách rời đường lối chính trị đổi mới đúng đắn của Đảng sẽ không tránh khỏi rơi vào những quan điểm sai lầm, không thể đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân.

    5. Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội

    Đây là biểu hiện quan trọng nhất của tính độc lập tựơng đối của ý thức xã hội. Vai trò của ý thức xã hội đối với đời sống xã hội thể hiện rõ nhất ở điểm này. Trong những điều kiện nhất định, ý thức xã hội có khả năng tố chức hướng dẫn hoạt động thực tiễn của con người và có vai trò cải tạo hiện thực.

    Sự tác động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có ý nghĩa khác nhau. Nó có thể thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển (trong trường hợp nhận thức đúng và có khả năng vận dụng được những quy luật khách quan). Nhưng nó cũng có thể kìm hãm tiến bộ xã hội khi ý thức xã hội phản ánh xuyên tạc tồn tại xã hội và hướng con người vào những hành động đối lập với lôgic khách quan của lịch sử.

    Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy tâm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức xã hội, mà còn bác bỏ quan niệm duy vật tầm thường (hay chủ nghĩa duy vật kinh tế) phủ nhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội trong đời sống xã hội.

    Chủ nghĩa duy vật tầm thường (hay chủ nghĩa duy vật kinh tế) quan niệm một cách sai lầm về vai trò của những điều kiện kinh tế, phủ nhận tác dụng tích cực của ý thức xã hội, của kiến trúc thượng tầng nói chung trong đời sống xã hội. Quan điểm đó đã thể hiện trong hàng loạt lý luận phản mácxít như chủ nghĩa khách quan đã tôn sùng “tính tất yếu thép”, lý luận cơ hội chủ nghĩa về tính tự phát đã hạ thấp hoặc phủ nhận hoàn toàn vai trò của lý luận cách mạng.

    Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã lý giải một cách khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, chỉ ra vai trò và tác dụng to lớn của ý thức tư tưởng đối với sự phát triển của xã hội. Ý thức xã hội tuy là cái có tính thứ hai trong mối quan hệ với tồn tại xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, song không phải là cái phụ thuộc hoàn toàn vào tồn tại xã hội, mà có tác động mạnh mẽ đến tồn tại xã hội.

    Ph.Ăngghen viết: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học nghệ thuật đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế”.

    Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội diễn ra theo nhiều chiều (tích cực, tiêu cực), phương thức tác động trở lại là phức tạp. Song nhìn chung, sự tác động trở lại lệ thuộc vào các yếu tố: mức độ phù họp của tư tưởng với hiện thực; sự xâm nhập của ý thức vào quần chúng nhân dân (hay sự mở rộng của tư tưởng trong quần chúng); năng lực hiện thực hoá ý thức của các giai cấp và chính đảng.

    Vai trò của những tư tưởng phản động và những tư tưởng tiên tiến trong đời sống xã hội hoàn toàn khác nhau. Những tư tưởng và lý thuyết xã hội phản động, phản ánh lợi ích của các giai cấp đã lỗi thời, hết vai trò lịch sử. Những tư tưởng tiên tiến phản ánh lợi ích của các giai cấp tiến bộ, thúc đẩy quá trình phát triển. Trong thời kỳ của những cuộc cách mạng xã hội, tư tưởng tiên tiến có sức mạnh đặc biệt to lớn, có tác dụng thống nhất, động viên quần chúng chuyển hoạt động có tính tự phát của quần chúng thành hành động tự giác.

    Ra đời trong thực tiễn đẩu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, chủ nghĩa Mác – Lênin đã thấm sâu vào ý thức của hàng triệu người trên Trái Đất và trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng bị áp bức trên toàn thế giới.

    Tóm lại, ý thức xã hội với tất cả các bộ phận họp thành của nó (tâm lý xã hội và hệ tư tưởng) có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội, trong đó hệ tư tưởng đóng vai trò đặc biệt to lớn. Với tư cách là vũ khí lý luận hệ tư tưởng lập luận cho lợi ích của giai cấp, đem lại cho giai cấp một “tình cảm cộng đồng”, đoàn kết giai cấp trên cơ sở những giá trị tinh thần chung, giúp cho giai cấp có cương lĩnh hoạt động và chỉ ra mục đích, phương tiện của cuộc đấu tranh.

    Nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đã vạch ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển nền văn hoá tinh thần của xã hội, loại bỏ quan niệm máy móc, tầm thường về lịch sử phát triển của ý thức xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác
  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Quan Niệm Về Vật Chất Trong Lịch Sử Triết Học
  • Bài 1. Các Khái Niệm Chung Về Ánh Sáng. Phản Xạ Ánh Sáng. Gương Phẳng

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Thuyết Phản Xạ Toàn Phần
  • Định Luật Phản Xạ Ánh Sáng Là Gì?
  • Phản Xạ Toàn Phần Là Gì? Ứng Dụng Của Hiện Tượng Phản Xạ Toàn Phần Và Bài Tập
  • Điện Công Nghiệp 5 Bgiangchuong5 Ppt
  • Trắc Nghiệm Sinh 11 Bài 26 (Có Đáp Án): Cảm Ứng Ở Động Vật.
  • – Nguồn sáng là những vật tự phát ra ánh sáng. Ví dụ: Bóng đèn neon, bếp lửa, mặt trời, các vì sao vv…

    – Vật sáng là những vật mà từ đó có ánh sáng phát ra. Vật sáng bao gồm nguồn sáng và những vật phản xạ ánh sáng.

    – Vật trong suốt là vật cho ánh sáng truyền qua gần như hoàn toàn và không để lại dấu vết.

    – Vật chắn sáng là vật không cho ánh sáng truyền qua

    – Tia sáng là đường truyền của ánh sáng là đường mà năng lượng ánh sáng được truyền đi(Tia sáng là một khái niệm toán học do con người nghỉ ra nhằm mô tả ánh sáng)

    – Chùm sáng là tập hợp của vô số các tia sáng. Có ba loại chùm sáng: Phân kỳ, Hội tụ, song song

    + Chùm phân kỳ là chùm mà đường kéo dài của các tia sáng theo chiều ngược chiều truyền ánh sáng đồng quy tại một điểm(HV1a,b)

    + Chùm song song là chùm mà các tia sáng song song với nhau(HV3).

    Nội dung định luật: “Trong một môi trường trong suốt và đồng tính ánh sáng truyền đi theo một đường thẳng”.

    Nếu ánh sáng truyền được từ A qua B đến C thì nó cũng truyền ngược lại được từ C qua B đến A(HV 4)

    – Góc phản xạ bằng góc tới

    Chú ý: Mặt phẳng tới là mặt phẳng chứa tia tới và tia pháp tuyến

    Gương phẳng là một mặt phẳng nhẵn có khả năng phản xạ gần như hoàn toàn ánh sáng chiếu tới.

    – Xét một nguồn sáng điểm S, phát ra một chùm sáng phân kỳ chiếu tới mặt phản xạ của một gương phẳng(HV6). Dựa vào định luật phản xạ ánh sáng ta chứng minh được chùm phản xạ cũng là một chùm phân kỳ. Đặt mắt sao cho chùm phản xạ từ gương lọt vào mắt ngắm ta thấy chùm sáng này dường như được phát ra từ một điểm S’ trong gương, về mặt hình học S’ là điểm đồng quy của tất cả các đuờng kéo dài của chùm tia phản xạ . S’ gọi là ảnh của S qua gương phẳng.

    – Nếu vật tạo ảnh là một vật sáng có kích thước thì ảnh của vật chính là tập hợp của tất cả các điểm ảnh của các điểm trên vật qua gương phẳng.

    b./ Ảnh thật qua gương phẳng

    Giả sử tồn tại một chùm hội tụ chiếu tới bề mặt của một gương phẳng(Chú ý: điểm hội tụ S chỉ là tưởng tượng nằm trong gương nó là điểm đồng quy của các tia tới theo chiều truyền ánh sáng – Điểm này gọi là vật ảo đối với gương). Dùng định luật phản xạ ánh sáng ta có thể chứng minh được rằng chùm tia phản xạ cũng là một chùm hội tụ.

    Ảnh qua gương phẳng có những tính chất sau đây:

    Ảnh và vật luôn luôn trái bản chất(Vật thật cho ảnh ảo, vật ảo cho ảnh thật)

    Ảnh luôn đối xứng với vật qua gương

    Ảnh có hình dạng và kích thước giống hệt vật

    Xét một điểm sáng M đặt trước một gương phẳng (G). Chùm tia tới phát ra từ M chiếu tới gương cho chùm phản xạ la chùm phân kỳ có dạng hình nón cụt. Ta thấy nếu đặt mắt ở bất kỳ vị trí nào trong vùng nón của chùm phản xạ từ gương ta luôn nhìn thấy ảnh của M qua gương(HV8).

    Nếu gọi d là khoảng cách từ vật tới gương, d’ là khoảng cách từ ảnh của vật tới gương thì ta có:

    d’ = -d

    Dấu “-” thể hiện sự trái bản chất của ảnh với vật

    Quy dước:

    Nếu vật dịch lại gần hay ra xa fương một đoạn L thì ảnh cũng dịch lại gần hay ra xa gương một đoạn L

    Khi vật dịch lại gần hay ra xa gương một đoạn L thì khoảng cách giữa chúng sẽ giảm hoặc tăng một lượng 2L.

    Nguyễn Ngọc Tuấn @ 23:27 26/07/2009

    Số lượt xem: 19697

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vở Bài Tập Vật Lí 7
  • Bài 29. Dẫn Truyền Xung Thần Kinh Trong Cung Phản Xạ
  • Khái Niệm Và Tính Chất Của Pxcđk Và Pxkđk? Ví Dụ Minh Họa. Giúp Mik Với Câu Hỏi 776647
  • Nêu Khái Niệm Và Thành Phần Của Cung Phản Xạ
  • Lý Thuyết Phản Xạ Sinh 8
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100