Những Nội Dung Chính Trong Hiệp Định Evfta

--- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Hiệp Định Thương Mại Tự Do Evfta?
  • Bài 14: Enzim Và Vai Trò Của Enzim Trong Quá Trình Chuyển Hóa Vật Chất
  • Lý Thuyết Sinh Học 10 Bài 14
  • Giải Bài Tập Sgk Sinh Học 10 Nâng Cao Bài 22: Enzim Và Vai Trò Của Enzim Trong Quá Trình Chuyển Hóa Vật Chất
  • Enzym 4Cac Enzym Va Vec To A Doc
  • EVFTA gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ. Nguồn: internet

    Việc Nghị viện châu Âu (EP) bỏ phiếu thông qua Hiệp định EVFTA chiều ngày 12/2/2020 là sự kiện đánh dấu một mốc mới trên chặng đường gần 30 năm hợp tác và phát triển giữa Việt Nam và EU.

    Theo Bộ Công Thương, Hiệp định EVFTA gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý – thể chế.

    Về thương mại hàng hóa

    Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 07 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.

    Như vậy, có thể nói, gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các hiệp định FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay.

    Đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu). Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu). Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, Việt Nam áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO.

    Về thương mại dịch vụ và đầu tư

    Trong EVFTA, cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên. Cam kết của Việt Nam có đi xa hơn cam kết trong WTO. Cam kết của EU cao hơn trong cam kết trong WTO và tương đương với mức cam kết cao nhất của EU trong những Hiệp định FTA gần đây của EU.

    Trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, hai bên cam kết, trong vòng 05 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cam kết sẽ xem xét thuận lợi việc cho phép các tổ chức tín dụng EU nâng mức nắm giữ của phía nước ngoài lên 49% vốn điều lệ trong 02 ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam. Tuy nhiên, cam kết này không áp dụng với 04 ngân hàng thương mại cổ phần mà nhà nước đang nắm cổ phần chi phối là BIDV, Vietinbank, Vietcombank và Agribank.

    Đối với lĩnh vực, dịch vụ bảo hiểm, Việt Nam cam kết cho phép nhượng tái bảo hiểm qua biên giới, cam kết dịch vụ bảo hiểm y tế tự nguyện theo luật Việt Nam. Riêng đối với yêu cầu cho phép thành lập chi nhánh công ty tái bảo hiểm, Việt Nam chỉ cho phép sau một giai đoạn quá độ.

    Về dịch vụ viễn thông, Việt Nam chấp nhận mức cam kết tương đương trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Đặc biệt, đối với dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng không có hạ tầng mạng, Việt Nam cho phép EU được lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sau một giai đoạn quá độ.

    Trong lĩnh vực dịch vụ phân phối, Việt Nam đồng ý bỏ yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế sau 05 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, tuy nhiên Việt Nam bảo lưu quyền thực hiện quy hoạch hệ thống phân phối trên cơ sở không phân biệt đối xử. Việt Nam cũng đồng ý không phân biệt đối xử trong sản xuất, nhập khẩu và phân phối rượu, cho phép các doanh nghiệp EU được bảo lưu điều kiện hoạt động theo các giấy phép hiện hành và chỉ cần một giấy phép để thực hiện các hoạt động nhập khẩu, phân phối, bán buôn và bán lẻ.

    Về mua sắm của Chính phủ

    Việt Nam và EU thống nhất các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm của Chính phủ (GPA) của WTO. Với một số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập cổng thông tin điện tử để đăng tải thông tin đấu thầu…, Việt Nam có lộ trình để thực hiện. EU cũng cam kết dành hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam để thực thi các nghĩa vụ này.

    Về diện cam kết, Việt Nam cam kết mở cửa mua sắm của các Bộ, ngành trung ương, một số đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng (đối với các hàng hóa và dịch vụ mua sắm thông thường không phục vụ mục tiêu an ninh – quốc phòng), TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Tập đoàn điện lực Việt Nam, Tổng công ty đường sắt Việt Nam, 34 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và một số Viện thuộc trung ương. Về ngưỡng mở cửa thị trường, Việt Nam có lộ trình 15 năm để mở cửa dần các hoạt động mua sắm.

    Gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các hiệp định FTA đã được ký kết.

    Việt Nam bảo lưu có thời hạn quyền dành riêng một tỷ lệ nhất định giá trị các gói thầu cho nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ và lao động trong nước trong vòng 18 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

    Đối với dược phẩm, Việt Nam cam kết cho phép các doanh nghiệp EU được tham gia đấu thầu mua sắm dược phẩm của Bộ Y tế và bệnh viện công trực thuộc Bộ Y tế với một số điều kiện và lộ trình nhất định.

    Về nhãn hiệu, hai bên cam kết áp dụng thủ tục đăng ký thuận lợi, minh bạch, bao gồm việc phải có cơ sở dữ liệu điện tử về đơn nhãn hiệu đã được công bố và nhãn hiệu đã được đăng ký để công chúng tiếp cận, đồng thời cho phép chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu đã đăng ký nhưng không sử dụng một cách thực sự trong vòng 5 năm.

    Về thực thi, Hiệp định có quy định về biện pháp kiểm soát tại biên giới đối với hàng xuất khẩu nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

    Về doanh nghiệp nhà nước

    EVFTA cũng quy định về doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Cam kết cũng tính đến vai trò quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu chính sách công, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an ninh – quốc phòng. Bởi vậy, Hiệp định EVFTA chỉ điều chỉnh hoạt động thương mại của các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát và doanh nghiệp độc quyền có quy mô hoạt động thương mại đủ lớn đến mức có ý nghĩa trong cạnh tranh.

    Các nghĩa vụ chính của doanh nghiệp nhà nước là: hoạt động theo cơ chế thị trường, nghĩa là doanh nghiệp có quyền tự quyết định trong hoạt động kinh doanh và không có sự can thiệp hành chính của Nhà nước, ngoại trừ trường hợp thực hiện mục tiêu chính sách công; không có sự phân biệt đối xử trong mua bán hàng hóa, dịch vụ đối với những ngành, lĩnh vực đã mở cửa; minh bạch hóa các thông tin cơ bản của doanh nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

    Về minh bạch hóa

    Xuất phát từ thực tiễn môi trường pháp lý trong nước có ảnh hưởng lớn đến thương mại, Hiệp định EVFTA dành một chương riêng về minh bạch hóa với các yêu cầu chung nhất để đảm bảo một môi trường pháp lý hiệu quả và có thể dự đoán được cho các chủ thể kinh tế, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

    Về thương mại và phát triển bền vững

    Hai bên khẳng định cam kết theo đuổi phát triển bền vững, bao gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Về vấn đề lao động, với tư cách là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hai bên cam kết tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện Tuyên bố 1998 của ILO về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, bao gồm việc thúc đẩy phê chuẩn và thực thi có hiệu quả các Công ước cơ bản của ILO.

    Ngoài ra, hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác thông qua cơ chế chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về thúc đẩy việc phê chuẩn và thực thi các công ước về lao động và môi trường trong một số lĩnh vực như biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản…

    Với EVFTA, Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có quan hệ thương mại tư do với EU. Đây là thông điệp tích cực về quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp và khó đoán định.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Nội Dung Chính Của Hiệp Định Evfta Và Evipa
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Có Đáp Án Về Khái Niệm, Đồng Phân, Danh Pháp Và Tính Chất Vật Lý Của Este
  • Giáo Án Môn Hóa Lớp 12
  • Giáo Án Hóa Học 12 Tiết 2: Chương I : Este
  • Giáo Án Môn Hóa Học Lớp 12 Năm Học 2022
  • Luật Phá Sản: Những Nội Dung Cần Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Thứ Tự Thanh Toán Khi Doanh Nghiệp Tuyên Bố Phá Sản
  • Pháp Luật Về Phá Sản Doanh Nghiệp
  • Doanh Nghiệp Bị Tuyên Bố Phá Sản Khi Nào?
  • Khái Niệm Về Bán Lẻ Và Cơ Sở Bán Lẻ Của Việt Nam Và Wto
  • Khái Niệm Bán Buôn / Bán Lẻ Theo Luật Thương Mại Việt Nam
  • Tình trạng doanh nghiệp (DN) sản xuất kinh doanh thua lỗ dẫn tới phá sản xảy ra phổ biến. Để bảo đảm quyền và lợi ích của DN và các chủ nợ, Luật Phá sản 2014 được ban hành và đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa những quy định này.

    1. Phá sản là gì?

    Theo khoản 2 Điều 4 Luật Phá sản 2014: Phá sản là tình trạng của DN, hợp tác xã (HTX) mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.

    Theo khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014: DN, HTX mất khả năng thanh toán là DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

    Như vậy, DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán bao gồm 02 trường hợp:

    Trường hợp 1: DN, HTX không có tài sản để thanh toán các khoản nợ;

    Trường hợp 2: DN, HXT có tài sản nhưng không thanh toán các khoản nợ.

    Theo Điều 5 Luật Phá sản 2014, người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu phá sản gồm:

    – Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

    – Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

    – Người đại diện theo pháp luật của DN, HTX có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi DN, HTX mất khả năng thanh toán.

    – Chủ DN tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên…có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi DN mất khả năng thanh toán.

    – Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán…

    – Thành viên HTX hoặc người đại diện theo pháp luật của HTX thành viên của liên hiệp HTX có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi HTX, liên hiệp HTX mất khả năng thanh toán.

    Căn cứ Luật Phá sản 2014, thủ tục phá sản DN, HTX được tiến hành qua các bước sau:

    Bước 1: Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

    Người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân và nộp tiền tạm ứng phí phá sản.

    Bước 2: Hòa giải và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

    Trường hợp 1: Tòa án trả lại đơn hoặc chuyển cho tòa án có thẩm quyền.

    Trường hợp 2: Tuyên bố DN, HTX bị phá sản trong trường hợp đặc biệt.

    Trường hợp 3: Tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.

    Bước 3: Mở thủ tục phá sản

    – Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản và ra thông báo.

    – Xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản: Kiểm kê tài sản; lập danh sách chủ nợ; lập danh sách người mắc nợ.

    Bước 4: Hội nghị chủ nợ

    Bước 5: Phục hồi DN

    Trường hợp 1: Sau khi áp dụng phương án sản xuất kinh doanh nếu DN được phục hồi thì ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản.

    Trường hợp 2: DN không phục hồi được thì đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.

    Bước 6: Ra quyết định tuyên bố DN, HTX bị phá sản

    Bước 7: Thi hành Quyết định tuyên bố DN, HTX bị phá sản

    Những trường hợp sau đây không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí Tòa án, không phải chịu lệ phí Tòa án:

    – Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn thanh toán.

    – Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà DN, HTX mất khả năng thanh toán không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản.

    Chi phí phá sản là khoản tiền phải chi trả cho việc giải quyết phá sản, bao gồm chi phí Quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản, chi phí kiểm toán, chi phí đăng báo và các chi phí khác theo quy định của pháp luật.

    Khoản 4 Điều Điều 21 Nghị định 22/2015/NĐ-CP mức thù lao Quản tài viên, DN quản lý, thanh lý tài sản đối với trường hợp DN, HTX bị tuyên bố phá sản theo quy định của Luật Phá sản 2014 được xác định như sau:

    – Chi phí phá sản;

    – Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;

    – Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX;

    – Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.

    Trường hợp giá trị tài sản của DN, HTX sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định trên mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về chủ DN, thành viên của DN hoặc HTX.

    – Thành viên HTX, HTX thành viên;

    – Chủ DN tư nhân;

    Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán các chi phí theo quy định thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

    – Giao dịch của DN, HTX mất khả năng thanh toán được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản:

    + Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của DN, HTX;

    + Thanh toán hoặc bù trừ có lợi cho một chủ nợ đối với khoản nợ chưa đến hạn hoặc với số tiền lớn hơn khoản nợ đến hạn;

    + Tặng cho tài sản;

    + Giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của DN, HTX…

    Khoản 7 Điều 4 Luật Phá sản 2014: Quản tài viên là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản.

    Theo quy định Điều 12 Luật Phá sản 2014 để trở hành nghề Quản tài viên cần đáp ứng những điều kiện sau:

    – Những người sau đây được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên: Luật sư; Kiểm toán viên; người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo.

    – Điều kiện được hành nghề Quản tài viên: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan; có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

    Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 22/2015/NĐ-CP, những hành vi Quản tài viên không được làm, cụ thể:

    – Cho thuê, cho mượn hoặc cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng chứng chỉ hành nghề Quản tài viên của mình để hành nghề quản lý, thanh lý tài sản;

    – Gợi ý hoặc nhận bất kỳ một khoản tiền hoặc lợi ích vật chất từ người tham gia thủ tục phá sản hoặc lợi dụng danh nghĩa Quản tài viên để thu lợi từ cá nhân, tổ chức ngoài chi phí Quản tài viên được nhận theo quy định của pháp luật;

    – Lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn để thông đồng với cá nhân, tổ chức nhằm mục đích vụ lợi…

    Luật Phá sản 2014 quy định người nào có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự…

    Theo đó, phạt tiền từ 30 – 40 triệu đồng đối với tổ chức tín dụng nơi DN, HTX có tài khoản kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án nhân dân áp dụng thủ tục thanh lý mà thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm bù trừ hoặc thanh toán các khoản DN, HTX vay của tổ chức tín dụng (khoản 2 Điều 59 Nghị định 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 67/2015/NĐ-CP).

    – Phạt tiền từ 0,5 – 01 triệu đồng đối với người có hành vi cản trở, gây khó khăn trong việc thực hiện quyền nộp đơn;

    – Phạt tiền từ 01 – 03 triệu đồng đối với người có hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ nộp đơn;

    – Phạt tiền từ 05 – 10 triệu đồng đối với người có hành vi vi phạm trách nhiệm thông báo DN, HTX mất khả năng thanh toán…

    Ngoài ra, cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi DN, HTX bị tuyên bố phá sản (Điều 130 Luật Phá sản 2014), cụ thể: Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở DN có vốn nhà nước mà DN đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ DN nào có vốn của Nhà nước…

    Lưu ý: Quy định về cấm đảm nhiệm chức vụ trên không áp dụng trong trường hợp DN, HTX phá sản với lý do bất khả kháng.

    LuatVietnam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tục Tuyên Bố Phá Sản Doanh Nghiệp ? Tư Vấn Quyền Lợi Khi Doanh Nghiệp Bị Phá Sản ?
  • Khái Niệm Phá Sản Doanh Nghiệp
  • Một Số Khái Niệm Luật Bảo Hiểm
  • Định Nghĩa & Các Nguyên Tắc Trong Bảo Hiểm
  • Doanh Nghiệp Bảo Hiểm Có Quyền Gì? Quyền Của Đại Lý Bảo Hiểm
  • Phân Tích Về Nội Dung Của Phiên Điều Trần Trong Pháp Luật Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Hóa 11 Bài 3: Sự Điện Li Của Nước. Ph. Chất Chỉ Thị Axit, Bazơ
  • Giáo Án Môn Hóa Học Lớp 11 Bài 3
  • Giải Bài Tập Trang 14 Sgk Hóa Học Lớp 11: Sự Điện Li Của Nước
  • Mậu Dịch Là Gì? Phi Mậu Dịch Là Gì? Những Cần Biết
  • Khái Niệm Hàng Nhập Khẩu Phi Mậu Dịch
  • Pháp luật cạnh tranh quy định tại Điều 54 Luật cạnh tranh 2022 (có hiệu lực ngày 01/7/2019) về nguyên tắc tố tụng cạnh tranh như sau:

    Nội dung của phiên điều trần

    Theo quy định tại Điều 101 Nghị định 116/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Cạnh tranh thì yêu cầu chung đối với phiên điều trần của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được quy định cụ thể như sau:

    – Phiên điều trần phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định mở phiên điều trần hoặc trong giấy báo mở lại phiên điều trần trong trường hợp phải hoãn phiên điều trần.

    – Việc hỏi và tranh luận tại phiên điều trần phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải tham dự phiên điều trần từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 102 của Nghị định này.

    Trong trường hợp đặc biệt do Nghị định này quy định thì phiên điều trần có thể tạm ngừng không quá 05 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, phiên điều trần được tiếp tục.

    – Mỗi phiên điều trần phải có ít nhất một thành viên Hội đồng cạnh tranh không phải là thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh tham dự.

    Kết quả của phiên điều trần?

    Điều 92 Luật Cạnh tranh 2022

    1. Trước khi ra quyết định xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh phải mở phiên điều trần theo quy định tại Điều 93 của Luật này.

    Như vậy, tìm hiểu về nội dung và trình tự của phiên điều trần có ý nghĩa quan trọng không chỉ với chủ thể đang tham gia vào phiên điều trần mà còn có ý nghĩa với doanh nghiệp, thương nhân thành lập doanh nghiệp nhằm có tri thức tuân thủ pháp luật Cạnh tranh. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ về Công ty TNHH Tư vấn Luật LawKey Việt Nam để được giải đáp một cách nhanh nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘điều Trần Là Khái Niệm Mới Ở Vn…’
  • Điều Trần Là Gì? Phiên Điều Trần Trong Xử Lý Vụ Việc Cạnh Tranh
  • Phiên Điều Trần Là Gì? Phiên Điều Trần Trong Xử Lý Vụ Việc Cạnh Tranh?
  • Phiên Dịch Là Gì? 5 Cấp Độ Phiên Dịch Từ Cơ Bản Đến Đỉnh Cao Bạn Cần Biết
  • Dịch Thuật Là Gì? Về Ngành Dịch Thuật
  • Những Nội Dung Mới Của Luật Tố Tụng Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính
  • Nguồn Của Luật Hành Chính Là Gì? Phân Loại Nguồn Luật Hành Chính?
  • Khái Niệm Và Thành Phần Nguồn Của Luật Hành Chính?
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Năng Lực Chủ Thể Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính Và Chỉ Rõ Sự Khác Biệt Giữa Năng Lực Chủ Thể Của Cá Nhân Với Năng Lực Của Tổ Chức
  • Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính
    1. Mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo xây dựng luật;
    2. Những nội dung sửa đổi, bổ sung trong Luật và lý do của việc sửa đổi, bổ sung;
    3. Nội dung Nghị quyết thi hành luật và những vấn đề cần lưu ý.

    I. Mục đích, yêu cầu ban hành Luật TTHC 2022

    Tình hình trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, gây khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết, xét xử vụ án kể từ khi thụ lý cho đến khi thi hành bản án, quyết định của Toà án. Có thể khái quát như sau:

    – Về thẩm quyền xét xử của từng cấp Tòa án chưa thực sự hợp lý như Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện và đa số là khiếu kiện trong lĩnh vực quản lý đất đai, đây là loại việc khó, phức tạp nên chất lượng giải quyết các khiếu kiện này của Toà án nhân dân cấp huyện còn hạn chế, số vụ án bị huỷ, sửa vẫn còn cao.

    – Trong giai đoạn thụ lý vụ án, do quy định về nội dung, đặc điểm của quyết định hành chính chưa rõ ràng dẫn đến việc đánh giá, nhận diện quyết định hành chính có thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính hay không còn có những cách hiểu và vận dụng khác nhau dẫn đến việc thụ lý trong nhiều trường hợp không đúng quy định của pháp luật.

    – Về quyền và nghĩa vụ người tham gia tố tụng chưa đầy đủ, chặt chẽ, như về uỷ quyền trong tố tụng hành chính chưa bảo đảm hiệu quả dẫn đến nhiều trường hợp người bị kiện uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng nhưng người được uỷ quyền không được quyền quyết định đối với đối tượng bị khởi kiện dẫn đến việc phải hoãn phiên toà; chưa có quy định về quyền tiếp cận, trao đổi chứng cứ giữa các bên nên chưa bảo đảm cho việc thực hiện tranh tụng.

    – Việc giải quyết khiếu nại về việc Toà án trả lại đơn khởi kiện không thông qua phiên họp có sự tham gia của đương sự khiếu nại nên nhiều trường hợp khiếu nại kéo dài.

    – Về đối thoại, chưa có quy định việc ai có quyền yêu cầu đối thoại, trình tự, thủ tục và phương thức đối thoại; thành phần tham gia phiên đối thoại; xử lý kết quả đối thoại; do đó, việc đối thoại chưa được áp dụng một cách có hiệu quả trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án hành chính; chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra khi quy định cơ chế này trong Luật TTHC 2010.

    – Chưa có cơ chế công khai chứng cứ nên chưa bảo đảm cho việc thực hiện tranh tụng trong tố tụng hành chính.

    – Về chế định giám đốc thẩm, quy định chưa rõ ràng về quyền của đương sự trong việc đề nghị xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà vẫn coi là quyền khiếu nại của đương sự đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên Toà án phải thụ lý, giải quyết đơn, trong khi đó việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đã được bảo đảm, gây quá tải cho Toà án trong việc xem xét, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm

    Luật TTHC 2010 không cho phép Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên nhiều trường hợp việc giải quyết vụ án bị quay vòng nhiều lần, gây tốn kém về chi phí và thời gian của đương sự cũng như của Nhà nước; nhiều trường hợp việc giải quyết vụ án không có điểm dừng, xử đi xử lại nhiều lần, trong khi đó đòi hỏi việc giải quyết các khiếu kiện hành chính phải nhanh chóng, kịp thời nhằm ổn định quan hệ xã hội, quan hệ quản lý hành chính nhà nước để triển khai các chính sách, dự án của Nhà nước và địa phương.

    – Về thi hành án hành chính, chưa đề cao vai trò của Toà án trong thi hành án hành chính và việc giao cho cơ quan thi hành án dân sự đôn đốc trong thi hành án hành chính chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến nhiều bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính không được thi hành hoặc thi hành không đúng thời hạn.

    Ngày 28-11-2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp mới, trong đó quy định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”; “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Theo quy định của Hiến pháp 2013, nhiều nội dung quan trọng về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cũng đã được bổ sung, sửa đổi; cụ thể là: (1) Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; (2) Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm; (3) Tòa án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín; (4) Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn; (5) Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; (6) Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm; (7) Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm; (8) Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; (9) Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; (10) Tòa án nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp.

    Trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp và quy định của Hiến pháp 2013, theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng dự án Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi). Ngày 24-11-2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân (sửa đổi), theo đó nhiều nội dung quan trọng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân; về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của từng cấp Tòa án; về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm đã có những thay đổi căn bản. Theo quy định của Luật này, Toà án nhân dân được tổ chức thành 4 cấp bao gồm: Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; giám đốc việc xét xử của các Toà án khác, tổng kết thực tiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Toà án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng; Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ: sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật; phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩmcủa Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật; Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiệm vụ: sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.

    Để bảo đảm công lý và thực hiện quyền tư pháp, Luật tổ chức Toà án nhân dân quy định: Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Cũng theo quy định của Luật này thì trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án.

    Các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) nêu trên là những nội dung quan trọng cần được cụ thể hóa trong các luật tố tụng nói chung và Luật tố tụng hành chính nói riêng; đồng thời, cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật tố tụng hành chính hiện hành nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong công tác giải quyết, xét xử các khiếu kiện hành chính, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để Tòa án nhân dân thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

    Với những lý do trên, việc ban hành Luật TTHC 2022 là hết sức cần thiết.

    Việc soạn thảo dự án Luật tố tụng hành chính (sửa đổi) quán triệt những quan điểm chỉ đạo và yêu cầu sau đây:

    Ngoài việc sửa đổi, bổ sung một số khái niệm của Luật TTHC 2010 như: quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức, Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định việc giải thích một số khái niệm như “quyết định hành chính bị kiện”, “hành vi hành chính bị kiện”, “vụ án phức tạp”, “trở ngại khách quan”, sự kiện bất khả kháng. Các khái niệm cụ thể được quy định tại Điều 3 của Luật.

    Về “hành vi hành chính” thuộc đối tượng khởi kiện thì phải căn cứ vào quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 3 của Luật TTHC 2022, cụ thể: hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

    Luật TTHC 2022 bổ sung các quy định để cụ thể hoá nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm được quy định tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, như:

    – Quy định nguyên tắc về bảo đảm tranh tụng trong xét xử (Điều 18), so với Luật TTHC 2010, Luật TTHC 2022 bổ sung quy định Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; đương sự có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp

    – Bổ sung quyền, nghĩa vụ của đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ; bổ sung quy định trách nhiệm của Toà án trong việc hỗ trợ đương sự thu thập tài liệu, chứng cứ, tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng, như: đề nghị Tòa án buộc bên đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang lưu giữ, quản lý; đề nghị Tòa án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ…; Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ…

    – Bổ sung quy định mới về quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ của đương sự; cụ thể là:

    – Quy định về thủ tục hỏi, trình bày chứng cứ, tranh luận tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ để vừa bảo đảm thực hiện đúng, đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm tố tụng của Toà án, người tham gia tố tụng theo đúng nguyên tắc tranh tụng, vừa bảo đảm phán quyết của Toà án khách quan, chính xác, đúng pháp luật trên cơ sở xem xét đầy đủ chứng cứ và kết quả tranh tụng…

    3. Về bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

    Luật TTHC 2010 quy định trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án, có nghĩa là đối thoại không phải là thủ tục bắt buộc. Nay Luật TTHC 2022 quy định đối thoại là thủ tục bắt buộc và là nhiệm vụ của Thẩm phán khi được Chánh án Tòa án phân công giải quyết vụ án. Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định cụ thể về nguyên tắc đối thoại; về những vụ án không tiến hành đối thoại được; về thông báo phiên họp đối thoại; thành phần, thủ tục đối thoại; biên bản đối thoại và xử lý kết quả đối thoại (nội dung cụ thể được quy định tại các điều từ Điều 134 đến Điều 140).

    Ngoài việc kế thừa các quy định của Luật TTHC 2010 về những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì để bảo đảm tính khả thi, Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định là quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân và quyết định xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Toà án nhân dân không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính; đồng thời, bổ sung thêm đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là danh sách cử tri trưng cầu ý dân để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật trưng cầu ý dân cũng vừa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10.

    Ngoài việc sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền của từng cấp Toà án; phân định thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và phương thức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm để phù hợp với các quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 và bảo đảm hiệu quả của việc giải quyết khiếu kiện hành chính, Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định đối với khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thì việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh (khoản 4 Điều 32). Việc quy định giao cho Toà án cấp tỉnh thẩm quyền này nhằm khắc phục tồn tại, bất cập từ thực tiễn giải quyết các khiếu kiện hành chính trong thời gian vừa qua.

    Luật TTHC 2022 đã bổ sung hai chủ thể mới là người tiến hành tố tụng gồm Thẩm tra viên, Kiểm tra viên và quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm tra viên, Kiểm tra viên trong tố tụng hành chính. Việc bổ sung hai chủ thể mới này để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

    Thứ hai, sửa đổi, bổ sung quy định các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên trong tố tụng hành chính để phù hợp với quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (các điều 42, 43 và 44).

    Theo quy định của Luật TTHC 2010 thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Toà án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Việc được Tòa án chấp nhận ở đây được hiểu là bằng việc họ được cấp Giấy chứng nhận người bào chữa. Theo quy định của Luật TTHC 2022 thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự yêu cầu và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được quy định như sau:

    5. Sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận ðýợc ðề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị” (Điều 61).

    Luật TTHC 2022 bổ sung quy định người phiên dịch đối với trường hợp có người khuyết tật nhìn hoặc người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói; cụ thể là: “Người biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc người biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu của người khuyết tật nghe, người khuyết tật nói cũng được coi là người phiên dịch” (Điều 64).

    14. Về thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ

    – Luật TTHC 2022 ngoài việc sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể các biện pháp xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ thì còn bổ sung quy định về việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn giám đốc thẩm; cụ thể là: “Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này.

    Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án” (khoản 4 Điều 84).

    Luật TTHC 2022 bổ sung quy định mới về thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử, theo đó ” v iệc cấp, tống đạt hoặc thông báo bằng phương tiện điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử”. Đây là phương thức mới và Quốc hội đã giao Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn để thi hành. Vấn đề này thời gian tới Tòa án nhân dân tối cao sẽ có văn bản hướng dẫn cụ thể.

    Thứ nhất, để nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng hành chính, Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn hoặc không áp dụng mà gây thiệt hại cho người có yêu cầu; cụ thể là: Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại cho người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải bồi thường (Điều 72).

    Thứ hai, Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định mới về các trường hợp Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, gồm: người đã yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ; căn cứ của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn; vụ án đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định của Luật này hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định tại Điều 143 của Luật này” (khoản 2 Điều 74).

    Để khắc phục tình trạng người dân khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhưng người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết và không thông báo cho người khiếu nại dẫn đến nhiều trường hợp khi họ khởi kiện ra Tòa án thì thời hiệu khởi kiện đã hết vì thời hiệu tính từ ngày họ nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, Luật TTHC 2022 bổ sung quy định: ” Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:

    18. Về giải quyết khiếu nại, kiến nghị quyết định trả lại đơn

    khởi kiện

    Luật TTHC 2022 bổ sung thêm các trường hợp Tòa án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án gồm:

    – Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; c ần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;

    – Theo quy định của Luật TTHC 2010 thì trường hợp vắng mặt Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Nay Luật TTHC 2022 quy định nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử (Điều 156).

    – Về phát biểu của Kiểm sát viên, Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định về việc Kiểm sát viên được phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án; đồng thời, bổ sung quy định là ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án (Điều 190).

    Luật TTHC 2010 quy định trong trường hợp đặc biệt, việc xét xử có thể tạm ngừng nhưng không quá 05 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục. Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định cụ thể các căn cứ, thời hạn tạm ngừng phiên tòa, theo đó các căn cứ tạm ngừng phiên toà gồm:

    * Thời hạn tạm ngừng phiên tòa cũng được quy định tăng thêm là không quá 30 ngày kể từ ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa (Điều 187).

    Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định về những vấn đề phải quyết định khi nghị án; cụ thể là:

    (khoản 3 Điều 191) e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có) .

    Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày tuyên án; bổ sung quy định về thời điểm tính thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm trong trường hợp quyết định được niêm yết công khai; về ngày kháng cáo đối với trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giữ hoặc bị tạm giam ( Điều 206).

    Luật TTHC 2022 sửa đổi, bổ sung quy định chặt chẽ hơn về căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; cụ thể là:

    2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 260 của Luật này kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn của người đề nghị theo quy định tại Điều 257 và Điều 258 của Luật này, trừ trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần thiết phải có đơn đề nghị” (Điều 255).

    31. Về người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

    Để phù hợp với quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật TTHC 2022 đã sửa đổi, bổ sung quy định về người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; cụ thể là:

    2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ” (Điều 260).

    Quy định về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như Luật TTHC 2010 là thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm không bị giới hạn trong trường hợp đương sự có đơn đề nghị giám đốc thẩm trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quy định như vậy là không phù hợp với đặc thù của việc giải quyết khiếu kiện hành chính. Vì vậy, Luật TTHC 2022 đã sửa đổi quy định về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, theo đó thời hạn này là 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật (Điều 263).

    – Luật TTHC 2022 quy định cụ thể hóa thẩm quyền giám đốc thẩm của từng cấp theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; cụ thể là: Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh, Tòa án cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị;Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị; đồng thời, quy định cụ thể những trường hợp Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 03 Thẩm phán và toàn thể Ủy ban Thẩm phán; những trường hợp Hội đồng Thẩm phán xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán và toàn thể Hội đồng Thẩm phán.

    – Sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm phù hợp với việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    Để khắc phục những bất cập trong thực tiễn giải quyết các khiếu kiện hành chính theo thủ tục giám đốc thẩm, Luật TTHC 2022 quy định Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền sửa bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; cụ thể là:

    Việc bổ sung thẩm quyền này của Hội đồng giám đốc thẩm sẽ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án không bị kéo dài, gây tốn kém thời gian và chi phí cho các đương sự và Tòa án; bảo đảm giải quyết vụ án hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí một cách hợp lý; kịp thời khắc phục những sai sót trong xét xử, qua đó nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án hành chính tại Tòa án.

    Luật TTHC 2022 bổ sung quy định về thi hành án hành chính để bảo đảm hiệu lực và tính khả thi trong việc thi hành các phán quyết về vụ án hành chính của Toà án, theo đó thời hạn tự nguyện thi hành án là30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án. Quá thời hạn này mà người phải thi hành án không thi hành thì người được thi hành án có quyền gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản án, quyết định của Tòa án; đồng thời, Luật quy định cụ thể về yêu cầu, quyết định buộc thi hành bản án, quyết định của Toà án (Điều 312).

    Đây là quy định mới được bổ sung, theo đó khi được Chánh án Toà án phân công giải quyết vụ án, Thẩm phán có nhiệm vụ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, trừ vụ án theo thủ tục rút gọn và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri. Việc tổ chức phiên họp này tạo điều kiện cho các đương sự tiếp cận tài liệu, chứng cứ của nhau và yêu cầu, phạm vi khởi kiện, yêu cầu độc lập, việc bổ sung tài liệu, chứng cứ, đề nghị Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ, triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa… (các điều 136, 137, 138 và 139).

    Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định về địa điểm tổ chức phiên tòa, hình thức bố trí phòng xử án, theo đó phiên tòa được tổ chức tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm và hình thức bố trí phòng xử án là Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được treo chính giữa phía trên phòng xử án và phía trên chỗ ngồi của Hội đồng xét xử; phòng xử án phải có các khu vực được bố trí riêng cho Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, những người tham gia tố tụng khác và người tham dự phiên tòa (Điều 150 và Điều 151).

    Luật TTHC 2022 bổ sung một điều quy định về thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng (Điều 168).

    Luật TTHC 2022 bổ sung quy định giải quyết đối với trường hợp trong giai đoạn phúc thẩm, người bị kiện sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện (

    Luật TTHC 2022 đã bổ sung quy định quy định mới về thủ tục rút gọn giải quyết vụ án hành chính, theo đó vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây: vụ án có tình tiết đơn giản, tài liệu, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, bảo đảm đủ căn cứ giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ; các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng; không có đương sự cư trú ở nước ngoài,trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài có thỏa thuận với đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn. Việc xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán thực hiện. Ngoài quy định về điều kiện, thành phần giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn nêu trên, Luật cũng quy định cụ thể về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn, về quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn; về khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra giải quyết theo thủ tục rút gọn; về phiên tòa theo thủ tục rút gọn; về việc chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường trong quá trình Toà án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn; về phiên toà theo thủ tục rút gọn và hiệu lực của bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục rút gọn; đồng thời, Luật cũng quy định về việc giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại Toà án cấp phúc thẩm.

    Đây là những quy định mới được bổ sung để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013, bảo đảm giải quyết nhanh gọn, kịp thời những vụ án đơn giản, chứng cứ đã rõ ràng, tránh việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây tốn kém thời gian, công sức, chi phí của đương sự và của Toà án trong việc giải quyết vụ án.

    Luật TTHC 2022 bổ sung một chương (Chương XVIII) quy định về thủ tục giải quyết vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài. Đây là quy định mới so với Luật TTHC 2010 để phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế, tạo cơ chế pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài, quyền, lợi ích hợp của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

    Luật TTHC 2022 bổ sung một chương (Chương XXII) quy định về án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác. Đây là chương mới nhằm luật hoá quy định về án phí, lệ phí, chi phí tố tụng khác trong tố tụng hành chính.

    (Ths. Bùi Ngọc Hòa-Phó Chánh án thường trựcTòa án nhân dân tối cao)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Loại Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính
  • Các Nguyên Tắc Của Luật Tố Tụng Hành Chính Việt Nam
  • Luật Tố Tụng Hành Chính 2022
  • Khái Niệm, Đối Tượng Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Tố Tụng Hành Chính
  • #1 Các Hình Thức Thực Hiện Quy Phạm Pháp Luật Hành Chính Ở Nước Ta
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Của Luật Hành Chính Là Gì? Phân Loại Nguồn Luật Hành Chính?
  • Khái Niệm Và Thành Phần Nguồn Của Luật Hành Chính?
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Năng Lực Chủ Thể Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính Và Chỉ Rõ Sự Khác Biệt Giữa Năng Lực Chủ Thể Của Cá Nhân Với Năng Lực Của Tổ Chức
  • Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Năng Lực Chủ Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính Và Chỉ Rõ Sự Khác Biệt Giữa Năng Lực Chủ Thể Của Cá Nhân Với Năng Lực Chủ Thể Của Cán Bộ Công Chức
  • Ngày 24/11/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khóa XII, kì họp thứ 8 đã thông qua LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH và NQ số 56/2010/QH12 về việc thi hành Luật TTHC, Chủ tịch nước ký lệnh số 22/2010/L.CTN ngày 07/12/2010 về việc công bố Luật TTHC và kể từ 01/7/2011 Luật này sẽ có hiệu lực. Để nhận thức và thực hiện đúng đắn và đầy đủ các quy định của Luật Tố tụng Hành chính chúng ta cần nghiên cứu các vấn đề sau đây

    Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và các Pháp lệnh sửa đổi bổ sung đã tạo điều kiện cho việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính trong gần 15 năm qua cho thấy những quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác (Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, tố cáo…), có những quy định thiếu rõ ràng và chưa đầy đủ, đặc biệt là các vấn đề về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án, điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, vấn đề chứng minh và chứng cứ, nhất là quy định chưa rõ ràng đầy đủ về việc thi hành bản án, quyết định hành chính – một khâu rất quan trọng, có ý nghĩa đảm bảo tính hiệu lực của các phán quyết của Tòa án trên thực tế, cũng như đảm bảo thiết thực quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.

    Với chính sách mở cửa và trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của nhiều điều ước quốc tế và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), thì việc pháp điển hoá các quy định của pháp luật về tố tụng để giải quyết các khiếu kiện hành chính, cụ thể hoá các cam kết của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế là rất cần thiết.

    Ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022, trong đó, xác định: “Mớ rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính; đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án”. Cộng với việc mở rộng quyền khiếu kiện, Nghị quyết 49/NQ-TW đặt ra yêu cầu “xây dựng cơ chế bảo đảm cho mọi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Toà án phải nghiêm minh chấp hành” .

    Với tính chất phức tạp của các khiếu kiện hành chính, việc xây dựng và ban hành Luật Tố tụng Hành chính, văn.bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, nhằm đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật, góp phần bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích chính đáng của người dân là hết sức cần thiết.

    2. Quan điểm chỉ đạo và các yêu cầu của việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính

    Việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính đã quán triệt những quan điểm chỉ đạo và các yêu cầu sau đây:

    a) Thể chế hoá các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp đã được xác định trong các Nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022” như đã trình bày ở trên.

    b) Bảo đảm tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của Luật Tố tụng Hành chính trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của Luật Tố tụng Hành chính.

    c) Bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng hành chính phải dân chủ, công khai, đơn giản, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tồ chức trong hoạt động tố tụng hành chính.

    d) Trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định của pháp Luật Tố tụng Hành chính hiện hành, kế thừa kinh nghiệm giải quyết các vụ án hành chính từ thực tiễn xét xử của Toà án và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội và của quá trình hội nhập quốc tế của nước ta.

    đ) Bảo đảm các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh và kịp thời.

    e) Bảo đảm các quy định của Luật Tố tụng Hành chính không làm cản trở việc thực hiện các cam kết, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tham gia.

    II. KẾT CẤU CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

    Luật Tố tụng Hành chính 2010 (Luật TTHC) gồm 18 chương với 265 Điều, cụ thể như sau:

    Chương I: “Những quy đinh chung” (27 Điều từ Điều 1 đến Điều 27); Chương II: “Thẩm quyền của Tòa án” (6 Điều từ Điều 28 đến Điều 33); Chương III: “Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiên hành tố tụng”, (13 Điều từ Điều 34 đến Điều 46); Chương IV: “Người tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng” (13 Điều từ Điều 47 đến Điều 59); Chương V: “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” (12 Điều từ Điều 60 đến Điều 71); Chương VI: “Chứng minh và chứng cứ” (20 Điều từ Điều 72 đến Điều 91); Chương VII: “Cấp tống đạt thông báo văn bản tố tụng” (11 Điều từ Điều 92 đến Điều l02); Chương VIII: “Khởi kiện, thụ lý vụ án” (1 4 Điều từ Điều 103 đến Điều 116); Chương IX: “Chuẩn bị xét xử” (8 Điều từ Điều 117 đến Điều 124); Chương X: “Phiên tòa sơ thẩm” (43 Điều từ Điều 125 đến Điều 167); Chương XI: “Thủ tục giải quyết kiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân” (5 Điều từ Điều 168 đến Điều 172); Chương XII: “Thủ tục phúc thẩm” (36 Điều từ Điều 173 đến Điều 208); Chương XIII: “Thủ tục giám đốc thẩm” (23 Điều từ Điều 209 đến Điều 231); Chương XIV: “Thủ tục tái thẩm” (7 Điều từ Điêu 232 đến Điều 238); Chương XV: “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” (2 Điều – Điều 239 và Điều 240); Chương XVI: “Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” (8 Điều từ Điều 241 đến Điều 248); Chương XVII: “Khiếu nạt, tố cáo trong tố tụng hành chính” (14 Điều từ Điều 249 đến Điều 262); Chương XVIII “Điều khoản thi hành” (3 Điều từ Điều 263 đến Điều 265).

    Như vậy, so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996, sửa đối bổ sung năm 1998, 2006 (11 Chương với 76 Điều), Luật TTHC đã có sự thay đổi lớn về mặt kết cấu cũng như số lượng các chương, điều. Cụ thể:

    Các Điều của Luật TTHC đều có tên gọi chứ không chỉ đơn thuần đánh số như Pháp lệnh. So với Pháp lệnh, Luật TTHC có thêm 189 Điều (từ 76 Điều lên 265 Điều).

    Luật TTHC có 7 chương mới hoàn toàn: Chương V “Các biện phẩm khẩn cấp lạm thời”, Chương VI “Chứng minh và chứng cứ”, Chương VII “Cấp, tống đạt thông báo văn bản tổ tụng”, Chương XI “Thủ tục giải quyết khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biếu Hội đồng nhân dân”, Chương XV “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”, Chương XVI “Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” và Chương XVII “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính”.

    – Ngoài ra, Luật TTHC còn có một số nội dung khác so với Pháp lệnh:

    + Tách Chương X- “Thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm” thành 2 chương: Chương XIII “Thủ tục giám đốc thẩm” và Chương XIV “Thủ tục tái thẩm”.

    III. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

    Có thể nói 265 Điều của Luật TTHC so với 76 Điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là một sự chênh lệch rất lớn. Con số đó phần nào đã phản ánh quy mô của kết quả pháp điển hóa lĩnh vực pháp luật tố tụng này. Với dung lượng như vậy, Luật TTHC đã điều chỉnh đầy đủ những nội dung cần thiết của đạo luật tố tụng. Trong đó có cả những vấn đề mới hoàn toàn và cà những vấn đề “kinh điển” của TTHC nhưng đã có sự sửa đổi, bổ sung quan trọng theo tinh thần, đường lối cải cách tư pháp của Đảng và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không đề cập tất cả nội dung của Luật TTHC mà chỉ đề cập đến một số vấn đề như sau: Những khiếu.kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án; điều kiện khởi kiện; thời hiệu khởi kiện; vấn đề thi hành bán án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính, thủ tục đặc biệt; vị trí, vai trò của VKS trong TTHC, Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật TTHC.

    1. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

    Trong quá trình xây dựng Luật Tố tụng Hành chính vấn đề các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án luôn được các cơ quan chức năng và Quốc hội quan tâm đặc biệt. Quán triệt một trong những nội dung của Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022, là “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính, đổi mới mạnh mẽ các thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đắng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án…” . Luật Tố tụng Hành chính xác định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền xét xứ của Toà án theo phương pháp loại trừ.

    Thực tiễn cho thấy, việc quy định theo phương pháp liệt kê các khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Toà án như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã hạn chế quyền khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với một số loại việc, đặc biệt là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. Việc quy định theo phương pháp liệt kê như Pháp lệnh trong một số trường hợp dẫn đến việc tranh luận không đáng có hoặc bỏ sót loại việc lẽ ra cần được giải quyết tại Toà án.

    Quy định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo phương pháp loại trừ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc xác định quyền khởi kiện các vụ án hành chính, đảm bảo sự công bằng cho người dân và đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Về mặt kỹ thuật lập pháp, việc quy định theo phương pháp loại trừ là tiến bộ và bảo đảm tính ổn định của điều luật.

    Tại điều 28, Luật Tố tụng Hành chính quy định những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án như sau:

    2. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại hiểu Hội đồng nhân dân.

    3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

    Như vậy, phạm vi thẩm quyền của Tòa án đã được làm rõ bằng việc loại trừ khỏi đối tượng khởi kiện vụ án hành chính các “quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức” và “các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao”. Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức được giải thích tại khoản 4 Điều 3, như sau: “Là những quyết định, hành vi quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó”.

    Các quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh ngoại giao mang tính chất bí mật nhà nước sẽ do Chính phủ quy định cũng nằm ngoài phạm vi thẩm quyền xét xử án hành chính của Toà án nhân dân.

    Về việc quy định thẩm quyền của Toà án giải quyết các khiếu kiện hành chính trong quân đội. Vấn đề này đã được đề cập khi xây dựng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây nhưng đa số ý kiến của các cơ quan chức năng và đại biểu Quốc hội đều thống nhất là chưa cần thiết quy định Toà án quân sự các cấp có thẩm quyền xét xử các khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính do các cấp chỉ huy hoặc cơ quan quân sự thực hiện.

    Việc giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật TTHC đã góp phần làm rõ thêm thế nào là “quyết định hành chính”, “hành vi hành chính” với tư cách là đối tượng khởi kiện được quy định tại Điều 28 Luật TTHC. Tại Khoản 1 Điều 3 giải thích như sau: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tô chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

    Như vậy theo khái niệm này, quyết định hành chính là đối tượng xét xử của Toà án khi nó thoả mãn những điều kiện sau đây:

    – Quyết định hành chính đó phải là quyết định cá biệt;

    – Quyết định đó phải tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân cơ quan, tổ chức, làm phát sinh tranh chấp giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong thực tế có những văn bản hành chính không đúng về mặt hình thức của một quyết định hành chính nhưng lại có đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng nên cũng có thể coi là quyết định hành chính và có thể bị khởi kiện.

    Tuy cùng là đối tượng xét xừ của Toà án nhưng hành vi hành chính không được thể hiện bằng văn bản mà chỉ biểu hiện dưới dạng không làm đúng hoặc làm trái các quy định của pháp luật, hay im lặng tức là không thực hiện một trách nhiệm, một nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đáng lẽ phải làm. Hành vi hành chính là đối tượng xét xử của Toà án theo Luật Tố tụng Hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức và giữa chúng có mối quan hệ nhân quả. Ví dụ: Công ty A đã hoàn tất các thủ tục bổ sung hoặc sửa đổi giải pháp kinh doanh nhưng quá thời hạn do luật định mà cơ quan B hay công chức C vẫn không giải quyết và cũng không trả lời cho Công ty A lý do hợp lý. Trong trường hợp này sự im lặng là hành vi hành chính của cơ quan B hoặc công chức C có thể bị khởi kiện và thuộc thẩm quyền của Toà án hành chính giải quyết.

    2- Về điều kiện khởi kiện hành chính:

    Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi bổ sung năm 2006 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính nếu đã thực hiện thủ tục khiếu nại (lần đầu hoặc lần thứ hai) đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định mà không được giải quyết hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại. Đối với một số lĩnh vực như: Quản lý đất đai, kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức thì yêu cầu phải có quyết định giải quyết khiếu nại rồi mới có quyền khởi kiện ra Toà án (Điều 2- Pháp lệnh). Việc quy định như vậy chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, tổ chức trong việc khởi kiện vụ án hành chính, thủ tục còn rườm rà và trong một số trường hợp còn không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của họ, không phù hợp với thoả thuận của Việt Nam khỉ gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

    Khắc phục nhược điểm này của Pháp lệnh, tại Điều 103 Luật TTHC đã quy định theo hướng đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Theo đó, cá nhân cơ quan tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó, hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với kết quả giải quyết đó. Như vậy, thủ tục “tiền tố tụng” đã không còn là yếu tố bắt buộc đối với hầu hết các khiếu kiện hành chính nữa.

    Với quy định này, cá nhân, cơ quan, tổ chức hoàn toàn có quyền lựa chọn giải pháp hành chính (khiếu nại đến cơ quan hành chính hoặc người đã ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính) hay giải pháp tư pháp (khởi kiện ra Toà án) khi có tranh chấp hành chính. Họ cũng đồng thời không phải tuần tự qua các bước: Khiếu nại lần đầu, khiếu nại lần hai, khởi kiện.

    Quy định theo hướng đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính như trên cũng chính là một trong các yếu tố để công dân, cơ quan tổ chức tiếp cận với Toà án được dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ- TW của Bộ Chính trị “đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải các khiếu kiện hành chính tại Tòa án, tạo điều kiện thuận lơi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án …”

    Theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh thì thời hiệu khởi kiện là 30 ngày hoặc 45 ngày tùy vào từng trường hợp cụ thể. Sở dĩ thời hiệu ngắn như vậy là vì tất cả các khiếu kiện đều đã qua “thủ tục khiếu nại”, các bên tranh chấp đều đã “theo đuổi” vụ việc trong một thời gian nhất định, đều biết về nội dung tranh chấp, đều đã có thời gian chuẩn bị tài liệu, chứng cứ hay lựa chọn, nhờ tư vấn trước khi khởi kiện. Quy định thời hiệu như vậy là phù hợp với điều kiện khởi kiện tương ứng trong Pháp lệnh. Hiện nay, Luật TTHC thủ tục “tiền tố tụng” không bắt buộc đối với cơ quan tổ chức, công dân khi khởi kiện hành chính, nên Luật cũng có sự điều chỉnh thời hiệu khởi kiện cho phù hợp. Theo đó, thời hiệu khởi kiện được xác định tại Điều 104 như sau:

    – 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

    – Đối với vụ việc cạnh tranh và khiếu kiện về danh sách cử tri thì Luật TTHC vẫn giữ quy định như trong Pháp lệnh là 30 ngày (đối với vụ việc cạnh tranh) vả 5 ngày (đối với danh sách cử tri).

    Như vậy, thời hiệu khởi kiện được quy định tương đối dài (l năm) với các loại tranh chấp hành chính nói chung. Trường hợp quy định ngắn hơn là 30 ngày, 5 ngày đối với loại khởi kiện vụ án hành chính có tính đặc thù. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện (Khoản 3 Điều l04). Ngoài ra, các quy định của Bộ luật Dân sự về cách tính thời hạn, thời hiệu cũng được áp dụng trong tố tụng hành chính (Khoản 4, Điều 104). Có thể nói, việc quy định thời hiệu khởi kiện như Luật TTHC đã tạo điều kiện tốt nhất cho đương sự trong việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    4- Về thủ tục đặc biệt xem xét 1ại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, Hội đồng Thẩm phán ( HĐTP)- Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) là cơ quan xét xử cao nhất nên không một thiết chế nào có thẩm quyền xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử giám đốc thẩm của HĐTP- TANDTC thời gian qua ở một số loại án cho thấy có trường hợp quyết định giám đốc thẩm của HĐTP có sai lầm nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi nội dung cơ bản quyết định mà HĐTP, các đương sự không biết được khi ra quyết định đó nhưng không có cơ chế để giải quyết lại, gây ra sự bức xúc cho đương sự và dư luận xã hội cũng như tình trạng khiếu kiện kéo dài.

    Đây là quy định đặc biệt, có tính cách mạng trong hệ thống pháp luật tố tụng nước ta, được quy định lần đầu tiên trong pháp luật TTHC. Với thủ tục rất chặt chẽ, nó sẽ tạo điều kiện khắc phục sai sót của quyết định HĐTP Toà án nhân dân tối cao mà trước đây pháp luật chưa quy định. Đồng thời, nó cũng sẽ góp phần tăng cường niềm tin của nhân dân với nền công lý.

    5- Về thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính:

    Trước đây, Pháp lệnh chưa quy định thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính mà mới chỉ có quy định mang tính nguyên tắc “Bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu tục pháp luật về vụ án hành chính phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi người tôn trọng. Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành phải nghiêm chỉnh chấp hành. Cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó”. (Điều 9- Pháp lệnh).

    Do thiếu vắng những quy định cụ thể về cơ chế đảm bảo thi hành bản án quyết định của Tòa án về vụ án hành chính nên trong thực tế, việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án chưa được đảm bảo, nhiều bản án, quyết định không được thi hành hoặc thi hành không đúng, ảnh hưởng đến lợi ích của người được thi hành cũng như không đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định trong thực tế.

    6 – Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính:

    Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam nói chung cũng như của pháp luật TTHC nói riêng, đó là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là nguyên tắc mang tính hiến định. Nó yêu cầu mọi chủ thể phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đảm bảo tính thống nhất và thượng tôn của pháp luật. Thiết chế để đảm bảo cho các yêu cầu trên vận hành trong thực tiễn áp dụng pháp luật chính là Viện kiểm sát (VKS). Trong tố tụng hành chính, VKS đóng vai trò rất quan trọng bởi tranh chấp hành chính là tranh chấp giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước với cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do vậy, sự tham gia của VKS trong TTHC để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, sự công bằng, bình đẳng, sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể là rất cần thiết.

    Điều 23- Luật TTHC ghi nhận vai trò của VKS như sau : “VKSND kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật…”. Theo quy định tại Điều 34, VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng và Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên VKS là người tiến hành tố tụng với nhiệm vụ quyền hạn được quy định tại Điều 39 và 40- Luật TTHC. Theo quy định tại Khoản 2- Điều 23, VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc vụ án:

    + VKS đảm bảo việc thụ lý hay không thụ lý vụ án của TAND có căn cứ và đúng pháp luật. Khoản 2- Điều 109 Luật TTHC quy định: “Khi trả đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn được gửi ngay cho VKS cùng cấp”. Đây là quy định mới của Luật TTHC so với Pháp lệnh trước đây. Quy định này đã loại trừ sự tùy tiện của đương sự trong việc khởi kiện cũng như của Tòa án trong việc xem xét trả lại đơn khởi kiện.

    – Vi trí, vai trò của VKS được thể hiện tập trung nhất trong công tác kiểm sát xét xử vụ án hành chính. Theo quy định của Luật TTHC, VKS tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, các phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm. Tại các phiên tòa, phiên họp này, Kiểm sát viên phát biểu về việc “tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án” (Khoản 1 – Điều 1 60) hoặc “trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị” (Đoạn 3, Điểm a, Khoản 1 – Điều 204), “phát biểu ý kiến của VKS về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm” (Khoản 3 Điều 204). Tại giai đoạn giám đốc thẩm và tái thẩm “Đại diện VKS phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết vụ án” (Khoản 3- Điều 223 và Điều 238).Trong quá trình thực hiện thủ tục đặc biệt xem xét lại QĐ của HĐTP TANDTC, vị trí vai trò của VKS tiếp tục khẳng định bằng việc kiến nghị và tham gia các phiên họp của HĐTP TANDTC. Như vậy, sự tham gia của VKS trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án là một hoạt động quan trọng đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng.

    Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính từ khi thụ lý cho đến khi thi hành phán quyết của Tòa án, không một khâu tố tụng nào thiếu vắng vai trò của VKS. Để VKS thực hiện tốt chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình, Luật TTHC đã trao cho VKS những quyền năng nhất định:

    Quyền yêu cầu, kiến nghị: Đây là một trong những quyền quan trọng của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp nói chung cũng như khi thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC nói riêng. Khoản 2 Điều 23 đã ghi nhận quyền này như sau: “VKSND… thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị… theo quy định của pháp luật”. Bên cạnh đó, VKS sử dụng quyền năng này, trong một số trường hợp cụ thể tùy thuộc vào yêu cầu kiểm sát ở từng giai đoạn tố tụng khác nhau:

    + “VKS có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời…” (Khoản 1- Điều 70).

    + “VKS có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ; đúng pháp luật” (Điều 262).

    Quyền kháng nghị: Đây là quyền năng đặc trưng và quan trọng nhất của VKS khi thực hiện chức năng kiềm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC. Theo quy định của Luật TTHC, “Viện trưởng VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” (Điều 181), “Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân các cấp trừ quyết định của HĐTP Toà án nhân dân tối cao” (Khoản 1 Điều 212). “Viện trưởng VKS cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thú tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Toà án cấp huyện” (Khoản 2 Điều 212). “Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bán án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án các cấp, trừ quyết định của HĐTP Toà án nhân dân tối cao” (Khoản 1 Điều 235). “Viện trướng VKS cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thấm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện” (Khoản 2 Điều 235). Như vậy, khi bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, cũng như khi bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hay tình tiết mới có thể làm thay đổi bản chất vụ án, VKS sẽ thực hiện quyền kháng nghị để đảm bảo việc xét xử của Tòa án tuân thủ đúng pháp luật, tránh oan sai, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

    Thông qua những quy định của Luật TTHC, chúng ta thấy VKS tiếp tục được khẳng định là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật quá trình giải quyết vụ án hành chính. Vị trí, vai trò của VKS được thế hiện xuyên suốt quá trình này với tư cách là định chế đảm bảo tính nghiêm mình của pháp luật, tính đúng đắn của hoạt động xét xử của Tòa án, góp phần nâng cao hiệu quà quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành chính.

    7 – Về Nghị quyết số 56/2010/QH12 về việc thi hành luật TTHC:

    Cùng với việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 Về việc thi hành Luật tố tụng hành chính.

    Tại Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết vụ án hành chính theo trình tự giám đốc thẩm; Cụ thể như sau:

    “1. Kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố đến ngày Luật này có hiệu lực:

    a) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố thì áp dụng theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 69 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

    b) Thời hạn đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố thì áp dụng theo quy định tại các điều 211, 215 và 236 của Luật Tố tụng Hành chính;

    c) Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án quyết định nêu tại Điểm a và Điểm b Khoản này được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh thú tục giải quyết các vụ án hành chính”.

    Quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 nêu trên đã tạo thuận lợi cho đương sự khi áp dụng Khoản 2 Điều 215 Luật TTHC để đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật TTHC được công bố mà đương sự đã có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, nhưng quá thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 215 Luật TTHC mới phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

    Tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính đối với những trường hợp vụ án hành chính đã được Tòa án thụ lý giải quyết trước khi Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực; Cụ thể như sau:

    “2. Kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực:

    a) Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án thụ lý trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, nhưng kể từ ngày Luật lố tụng hành chính có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết,

    b) Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án xét xử sơ thẩm trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mà có kháng cáo kháng nghị, nhưng kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết;

    c) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị giám đốc thấm, tái thẩm trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực nhưng kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết;

    d) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có đơn đề nghị giám đốc thẩm tái thẩm trong thời gian kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố cho đến ngày Luật này có hiệu lực mà chưa có kháng nghị của người có thẩm quyền, thì việc kháng nghị được thực hiện theo Luật Tố tụng Hành chính;

    đ) Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án xét xử và bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mà kể từ ngày Luật này có hiệu lực mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

    3. Đối với các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, nhưng đến ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực vẫn chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì được thi hành theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính”.

    Tại Điều 3 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để hồi tố giải quyết những trường hợp khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai mà trước đây Tòa án không thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 136 và Điều 138 của Luật Đất đai năm 2003, cụ thế là:

    “Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành ví hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính”.

    Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đang cùng các ngành xây đựng Nghị quyết để hướng dẫn quy định tại Điều 3 Nghị quyết 56/2010 nêu trên.

    Ngày 15/2/2011 Viện trưởng VKSTC đã ban hành Chỉ thị số 03/2011/CT – VKSTC “Về việc triển khai thi hành Luật TTHC trong ngành KSND”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nội Dung Mới Của Luật Tố Tụng Hành Chính
  • Phân Loại Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính
  • Các Nguyên Tắc Của Luật Tố Tụng Hành Chính Việt Nam
  • Luật Tố Tụng Hành Chính 2022
  • Khái Niệm, Đối Tượng Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Tố Tụng Hành Chính
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Du Lịch Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững
  • Du Lịch Chữa Bệnh Tại Việt Nam: Đánh Thức Tiềm Năng
  • Khái Niệm Chung Về Phát Triển Bền Vững
  • Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Biển Đảo Cù Lao Chàm Tỉnh Quảng Nam
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Luật Du lịch năm 2022 có 09 chương, 78 điều, giảm 2 chương, 10 điều so với Luật Du lịch năm 2005 với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung nhằm thúc đẩy du lịch phát triển; nâng cao chất lượng hoạt động du lịch; tạo điều kiện thuận lợi, môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp du lịch; tăng cường tính chuyên nghiệp của hoạt động hướng dẫn; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách du lịch, cụ thể:

    Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

    Về đối tượng áp dụng (Điều 2)

    Điều này sửa đổi Điều 2 Luật Du lịch năm 2005, sắp xếp lại quy định về đối tượng áp dụng, bổ sung quy định về hoạt động du lịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoạt động du lịch ở nước ngoài. Việc sửa đổi bổ sung điều này để phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế về du lịch và đáp ứng thực tế ngày càng có nhiều người Việt Nam ra nước ngoài du lịch.

    Về giải thích từ ngữ (Điều 3)

    Điều này sửa đổi nội dung giải thích các từ ngữ: Du lịch, Khách du lịch, tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, chương trình du lịch, hướng dẫn du lịch, cơ sở lưu trú du lịch, xúc tiến du lịch, du lịch bền vững, du lịch sinh thái, môi trường du lịch, du lịch văn hóa. Nội dung giải thích từ ngữ này được sửa đổi để đảm bảo sự rõ ràng, chính xác và phù hợp với quy định của Tổ chức du lịch thế giới, thông lệ quốc tế, tạo sự dễ hiểu, minh bạch khi thực hiện.

    Bỏ giải thích các từ ngữ: Tham quan, đô thị du lịch, tuyến du lịch, dịch vụ du lịch, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, phương tiện chuyên vận chuyển khách du lịch, lữ hành. Những từ ngữ này không được đưa vào phần quy định ở những chương kế tiếp hoặc trong quá trình thi hành Luật những từ ngữ này được đa số chủ thể hiểu thống nhất, không sai lệch.

    Bổ sung giải thích các từ ngữ: Hướng dẫn viên du lịch, du lịch cộng đồng vì những từ ngữ này phát sinh trong quá trình thi hành Luật cần được giải thích để các chủ thể hiểu, thống nhất áp dụng. Theo đó, Hướng dẫn viên du lịch là người được cấp thẻ để hành nghề hướng dẫn du lịch; du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi.

    Về nguyên tắc phát triển du lịch (Điều 4)

    Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 5 Luật Du lịch năm 2005, từ 6 khoản được thiết kế thành 5 khoản nhưng được viết khái quát hơn thể hiện các quan điểm, định hướng phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước thành các nguyên tắc, theo đó, nguyên tắc phát triển du lịch được quy định như sau: (1). Phát triển du lịch bền vững, theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm. (2). Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế của từng địa phương và tăng cường liên kết vùng. (3). Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. (4). Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. (5). Phát triển đồng thời du lịch nội địa và du lịch quốc tế; tôn trọng và đối xử bình đẳng đối với khách du lịch.

    Về chính sách phát triển du lịch (Điều 5)

    Điều 5 Luật Du lịch năm 2022 sửa đổ, bổ sung Điều 6 Luật Du lịch năm 2005, theo đó loại bỏ những chính sách phát triển du lịch không còn phù hợp, không tương thích với quy định của Luật Đầu tư 2014 như: Chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào một số lĩnh vực. Đồng thời quy định Nhà nước ưu tiên bố trí kinh phí cho các hoạt động Điều tra, đánh giá, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch; lập quy hoạch về du lịch; xúc tiến du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch quốc gia, địa phương; xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch. Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các hoạt động: Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch chất lượng cao; nghiên cứu, định hướng phát triển sản phẩm du lịch; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; đầu tư phát triển sản phẩm du lịch mới có tác động tích cực tới môi trường, thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư; đầu tư phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch đặc thù khác; ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại phục vụ quản lý và phát triển du lịch; phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch; sử dụng nhân lực du lịch tại địa phương; đầu tư hình thành khu dịch vụ du lịch phức hợp, có quy mô lớn; hệ thống cửa hàng miễn thuế, trung tâm mua sắm phục vụ khách du lịch.

    Về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch (Điều 6)

    Trên cơ sở nội dung cơ bản quy định tại Điều 7 Luật Du lịch năm 2005, Điều 6 Luật Du lịch năm 2022 quy định theo nhóm quyền và nghĩa vụ, đồng thời, chỉnh từ ngữ cho rõ nghĩa, bảo đảm rõ ràng và chính xác hơn.

    Luật Du lịch năm 2022 bổ sung điều quy định về tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch, cụ thể như sau: (1). Tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hội. (2). Tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch có trách nhiệm sau đây: tuân thủ pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; tham gia xây dựng, phổ biến, giáo dục, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật, chính sách về du lịch; tham gia xúc tiến du lịch, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về du lịch; đánh giá, tư vấn, thẩm định tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng dịch vụ cho doanh nghiệp và lao động trong ngành du lịch; xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh cho các hội viên; huy động các nguồn lực xã hội để triển khai hoạt động du lịch theo quy định của pháp luật; tổ chức triển khai việc thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp, vận động hội viên kinh doanh du lịch bảo đảm chất lượng dịch vụ; phát hiện và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về du lịch, bảo vệ môi trường.

    Về bảo vệ môi trường du lịch (Điều 8)

    Điều này xây dựng trên cơ sở kế thừa Điều 9 Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên có chỉnh lý từ ngữ cho rõ nghĩa và chính xác hơn, theo đó Điều 8 Luật Du lịch năm 2022 quy định như sau: (1). Môi trường du lịch phải được bảo vệ, tôn tạo và phát triển theo hướng xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh. (2). Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, ban hành quy định nhằm bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch. (3). Chính quyền địa phương các cấp có biện pháp bảo vệ, tôn tạo và phát triển môi trường du lịch phù hợp với thực tế của địa phương. (4). Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong hoạt động kinh doanh của mình. (5). Khách du lịch, cộng đồng dân cư và tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam.

    – Về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động du lịch (Điều 9)

    – Luật Du lịch năm 2022 bỏ quy định về áp dụng pháp luật về du lịch quy định tại Điều 3 Luật Du lịch năm 2005 vì nội dung này đã được quy định trong Luật Điều ước quốc tế 2022.

    Quy định về khách du lịch được chuyển từ Chương V Luật Du lịch năm 2005 lên Chương II Luật Du lịch năm 2022 thể hiện tính nhân văn của hệ thống pháp luật Nhà nước ta đối với hoạt động du lịch – ngành kinh tế phục vụ con người, vì vậy quy định về khách du lịch được đặt ở vị trí quan trọng trong Luật.

    Về các loại khách du lịch (Điều 10)

    Điều này sửa đổi, bổ sung trên cơ sở quy định tại Điều 34 Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên nếu Luật Du lịch năm 2005 chỉ quy định Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế thì Luật Du lịch năm 2022 đã tách khách du lịch quốc tế thành 02 loại là khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài, theo đó, Luật Du lịch năm 2022 quy định 03 loại khách du lịch gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. Việc sửa đổi như trên làm cơ sở cho việc đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách, đồng thời làm cơ sở phân loại, quản lý hoạt động kinh doanh lữ hành, hành nghề hướng dẫn du lịch và phục vụ công tác thống kê.

    Về quyền của khách du lịch (Điều 11), nghĩa vụ của khách du lịch (Điều 12), bảo đảm an toàn cho khách du lịch (Điều 13) về cơ bản giữ nguyên các nội dung được quy định tại các Điều 35, 36, 37 Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên chỉnh lý từ ngữ cho rõ nghĩa và chính xác hơn.

    Về giải quyết kiến nghị của khách du lịch (Điều 14)

    Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 86 Luật Du lịch 2005, đưa về cùng nhóm quan hệ xã hội được điều chỉnh trong Luật Du lịch năm 2022. Luật Du lịch năm 2022 sửa đổi bổ sung theo hướng đã phân công trách nhiệm cho cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết kịp thời kiến nghị của khách du lịch cụ thể như sau: (1). Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, quản lý khu du lịch, điểm du lịch tổ chức tiếp nhận và giải quyết kịp thời kiến nghị của khách du lịch trong phạm vi quản lý; (2). Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức tiếp nhận, giải quyết kiến nghị của khách du lịch trên địa bàn. (3). Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tiếp nhận, giải quyết hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết kiến nghị của khách du lịch.

      Tài nguyên du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và quy hoạch về du lịch (Chương III)

    Về các loại tài nguyên du lịch (Điều 15)

    Điều này xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 13 Luật Du lịch năm 2005, được cơ cấu lại rõ hơn về 02 loại tài nguyên du lịch gồm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và Tài nguyên du lịch văn hóa đồng thời bỏ quy định không phù hợp về sở hữu tài nguyên du lịch quy định “Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân” tại khoản 2 Điều 13 Luật Du lịch năm 2005.

    Về điều tra tài nguyên du lịch (Điều 16)

    Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 14 Du lịch năm 2005, chỉnh lý từ ngữ bảo đảm rõ nghĩa và chính xác hơn đồng thời bổ sung nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.

    Về trách nhiệm quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch (Điều 17).

    Kế thừa các quy định tại Điều 16 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 bổ sung nội dung khẳng định Nhà nước có chính sách quản lý, bảo vệ, tôn tạo, khai thác hợp lý, phát huy giá trị tài nguyên du lịch trong phạm vi cả nước để phát triển du lịch bền vững, đồng thời sắp xếp lại quy định rõ hơn về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch cho phù hợp.

    – Luật Du lịch năm 2022 bỏ nội dung quy định về Nguyên tắc bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch tại Điều 15 Luật Du lịch năm 2005 vì đã được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường.

    3.2. Phát triển sản phẩm du lịch (mục 2)

    Về xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch (Điều 18)

    Đây là quy định mới của Luật Du lịch năm 2022, quy định riêng về việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch, cụ thể như sau: (1). Tổ chức, cá nhân có quyền sáng tạo, phát triển, kinh doanh các sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và phù hợp với quy định của pháp luật. (2). Chính phủ có chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm du lịch chủ đạo đối với từng vùng và trong phạm vi toàn quốc theo từng giai đoạn, đáp ứng nhu cầu của thị trường trên cơ sở đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch. (3). Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm an toàn cho khách du lịch đối với những sản phẩm du lịch có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của khách du lịch.

    Về phát triển du lịch cộng đồng (Điều 19)

    Đây là quy định mới của Luật Du lịch 2022, quy định về phát triển du lịch cộng đồng, cụ thể như sau: (1). Cá nhân, hộ gia đình nơi phát triển du lịch cộng đồng được ưu đãi, khuyến khích cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống; hướng dẫn khách du lịch tham quan, trải nghiệm văn hóa, nếp sống tại cộng đồng; sản xuất hàng hóa, hàng thủ công truyền thống và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch. (2). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức nghiên cứu, khảo sát, lựa chọn địa điểm có tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng; có chính sách hỗ trợ về trang thiết bị cần thiết ban đầu và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phục vụ khách du lịch cho cá nhân, hộ gia đình trong cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ du lịch; hỗ trợ xúc tiến sản phẩm du lịch cộng đồng. (3). Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát triển du lịch cộng đồng tổ chức tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của cộng đồng; chủ trì xây dựng cam kết của cộng đồng nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, ứng xử văn minh đối với khách du lịch. (4). Tổ chức, cá nhân khai thác, phát triển du lịch cộng đồng có trách nhiệm tôn trọng văn hóa, nếp sống và chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch với cộng đồng.

    3.2. Quy hoạch về du lịch (mục 3)

    Về nguyên tắc lập quy hoạch về du lịch (Điều 20) và nội dung quy hoạch về du lịch (Điều 21) được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 18 và Điều 19 Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên có sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung cho phù hợp với Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch và Luật Bảo vệ môi trường.

    Chương IV Luật Du lịch năm 2022 được xây dựng trên cơ sở Chương IV Luật Du lịch năm 2005, trong quá trình thực hiện các nội dung này của Luật Du lịch năm 2005 có một số khó khăn, bất cập như sau:

    Việc xác định các tiêu chí đánh giá, xếp loại các khu, điểm du lịch còn mang tính chủ quan, định tính; thiếu các tiêu chí định lượng, do vậy việc xác định ranh giới giữa khu du lịch quốc gia và khu du lịch địa phương, cũng như giữa điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương còn bất cập. Việc phân loại khu, điểm du lịch quốc gia và địa phương đã tạo ra xu thế nhiều tỉnh, thành phố đề nghị nâng cấp các khu, điểm du lịch của mình trở thành khu, điểm du lịch quốc gia.

    Tuyến du lịch, thực chất là các tuyến giao thông (đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy) nối liền các khu, điểm du lịch. Trong thực tế, việc tiếp cận các khu, điểm du lịch bằng nhiều cách khác nhau, các doanh nghiệp du lịch tổ chức, xây dựng các tuyến du lịch linh hoạt, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Vì vậy, không cần thiết quy định tuyến du lịch trong Luật Du lịch năm 2022. Về đô thị du lịch, hiện nay chưa có tiêu chí đánh giá để công nhận và xếp loại đô thị du lịch, vì vậy việc công nhận, xếp hạng đô thị du lịch trong thực tiễn chưa mang lại hiệu quả. Bên cạnh đó, đô thị nói chung (bao gồm đô thị du lịch) đã được quy định trong Luật Quy hoạch, Luật Đô thị.

    Với những bất cập và hạn chế nêu trên, Luật Du lịch năm 2022 đã bỏ một số nội dung không còn phù hợp tại một số điều của Luật Du lịch năm 2005, cụ thể: quy định về Khu du lịch địa phương, Tuyến du lịch và Đô thị du lịch. Ngoài ra, kế thừa các quy định của Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 quy định về điều kiện công nhận điểm du lịch tại Điều 23; hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận điểm du lịch tại Điều 24; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân quản lý điểm du lịch tại Điều 25; điều kiện công nhận khu du lịch tại Điều 26; hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận khu du lịch cấp tỉnh tại Điều 27; hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận khu du lịch quốc gia tại Điều 28; quản lý khu du lịch tại Điều 29.

    So với Chương VI của Luật Du lịch năm 2005 về kinh doanh du lịch, Chương V của Luật Du lịch năm 2022 đã được thiết kế lại, bỏ mục quy định chung về kinh doanh du lịch, theo đó, bỏ Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41 Luật Du lịch năm 2005. Chương V Luật Du lịch năm 2022 quy định như sau:

    5.1. Dịch vụ lữ hành (mục 1)

    Về phạm vi kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 30)

    Kế thừa các quy định của Điều 43 và Điều 47 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 quy định phạm vi kinh doanh dịch vụ lữ hành như sau: (1). Kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa phục vụ khách du lịch nội địa. (2). Kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài. (3). Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế được kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế và dịch vụ lữ hành nội địa, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 30 Luật Du lịch năm 2022. (4). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    Về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 31)

    Trên cơ sở các quy định của Luật Đầu tư, Điều 43 và Điều 46 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa, điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, chuyên nghiệp hóa hoạt động kinh doanh lữ hành bằng việc quy định về trình độ chuyên môn của người phụ trách hoạt động kinh doanh lữ hành, bỏ quy định doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành phải có hợp đồng lao động với 03 hướng dẫn viên có thẻ vì quy định này trên thực tế chỉ mang tính hình thức, số lượng hướng dẫn viên phụ thuộc vào thị trường, có tính mùa vụ. Luật Du lịch năm 2022 quy định doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Du lịch năm 2022 được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa; đáp ứng các điều kiện kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều 31 Luật Du lịch năm 2022 được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế. Phí thẩm định cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. Ngoài ra Luật Du lịch năm 2022 cũng giao Chính phủ quy định chi tiết về việc ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 31 Luật Du lịch năm 2022; Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành; nội dung đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thi, cấp chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch nội địa và nghiệp vụ điều hành du lịch quốc tế.

    Về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa (Điều 32)

    So với Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 đã chú trọng hơn đến việc đảm bảo chất lượng dịch vụ du lịch thông qua việc quy định cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa, cụ thể Luật Du lịch năm 2022 quy định: (1). Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa bao gồm: đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Giấy chứng nhận ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành; bản sao có chứng thực quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành với người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành; bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ của người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 của Luật. (2). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa được quy định như sau: Doanh nghiệp đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở; Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định và cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa cho doanh nghiệp; trường hợp từ chối, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. (3). Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa.

    Về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế (Điều 33)

    Kế thừa quy định của Điều 48 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 quy định: (1). Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế bao gồm: đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; giấy chứng nhận ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành; bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ của người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại điểm c khoản 2 Điều 31 của Luật này; bản sao có chứng thực quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành với người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành. (2). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế được quy định như sau: Doanh nghiệp đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế nộp 01 bộ hồ sơ đến Tổng cục Du lịch; trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Tổng cục Du lịch thẩm định, cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế cho doanh nghiệp và thông báo cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở; trường hợp từ chối, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. (3). Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế.

    Về cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 34)

    Luật Du lịch năm 2005 không có quy định về việc cấp lại giấy phép kinh doanh lữ hành. Việc bổ sung nội dung này vào Luật Du lịch năm 2022 để đảm bảo công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bị mất hoặc hư hỏng giấy phép. Điều này được thiết kế thành 2 khoản, quy định như sau: (1). Doanh nghiệp đề nghị cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành trong trường hợp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành bị mất hoặc bị hư hỏng. (2). Trình tự, thủ tục cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành được quy định như sau: Doanh nghiệp gửi đơn đề nghị cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép có trách nhiệm cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành cho doanh nghiệp; trường hợp từ chối, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Tổng cục Du lịch thông báo cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở khi cấp lại Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế.

    Về cấp đổi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 35)

    Điều này được xây dựng trên cơ sở Điều 49 Luật Du lịch năm 2005, trong đó điểm mới đáng chú ý nhất là cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính từ 10 ngày làm việc xuống 5 ngày làm việc, cụ thể điểm b khoản 3 Điều 35 Luật Du lịch năm 2022 quy định: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép có trách nhiệm cấp đổi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành cho doanh nghiệp; trường hợp từ chối, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do”.

    Về thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành (Điều 36)

    Điều này được xây dựng mới trên cơ sở quy định của Điều 12, khoản 3 Điều 47 Luật Du lịch năm 2005, thiết kế thành 3 khoản quy định 08 trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành, cụ thể: “1. Doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành trong các trường hợp sau đây: a) Chấm dứt hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành, giải thể hoặc phá sản; b) Không đáp ứng một trong các điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này; c) Không đổi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật này; d) Làm phương hại đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh; đ) Lợi dụng hoạt động du lịch để đưa người từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam trái pháp luật; e) Cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành của doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh; g) Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 37 của Luật này, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch; h) Giả mạo hồ sơ đề nghị cấp, cấp đổi, cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành. 2. Doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này chỉ được đề nghị cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành sau 06 tháng kể từ ngày quyết định thu hồi giấy phép có hiệu lực. Doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành theo quy định tại các điểm d, đ, e, g và h khoản 1 Điều này chỉ được đề nghị cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành sau 12 tháng kể từ ngày quyết định thu hồi giấy phép có hiệu lực. 3. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình tự, thủ tục thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành”.

    – Trên cơ sở các kế thừa các quy định của Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 sửa đổi, bổ sung và quy định các nội dung về Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành tại Điều 37; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ lữ hành tại Điều 38; hợp đồng lữ hành tại Điều 39; kinh doanh đại lý lữ hành tại Điều 40; hợp đồng đại lý lữ hành tại Điều 41; trách nhiệm của đại lý lữ hành tại Điều 43; văn phòng đại diện tại Việt Nam của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nước ngoài tại Điều 44. Tuy nhiên, nội dung quy định trách nhiệm của bên giao đại lý lữ hành Điều 42 được giữ nguyên theo quy định của Điều 55 của Luật Du lịch năm 2005.

    5.2. Vận tải khách du lịch (mục 2)

    – Luật Du lịch năm 2022 đã sửa đổi từ ngữ “kinh doanh vận chuyển khách du lịch” quy định tại Luật Du lịch năm 2005 thành “kinh doanh vận tải khách du lịch” để phù hợp với quy định tại Luật Giao thông đường bộ, đồng thời bỏ 01 điều quy định về điều kiện kinh doanh vận chuyển khách du lịch (Điều 58 Luật Du lịch năm 2005), tuy nhiên trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 57, 58 Luật Du lịch năm 2005, Điều 45 Luật Du lịch năm 2022 quy định: (1). Kinh doanh vận tải khách du lịch là việc cung cấp dịch vụ vận tải đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt, đường bộ chuyên phục vụ khách du lịch theo chương trình du lịch, tại khu du lịch, điểm du lịch. (2). Tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải khách du lịch quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Du lịch năm 2022 phải đáp ứng điều kiện kinh doanh vận tải; quy chuẩn kỹ thuật, bảo vệ môi trường của phương tiện vận tải; điều kiện của người điều khiển phương tiện vận tải, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên từng loại phương tiện vận tải theo quy định của pháp luật. (3). Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định điều kiện của người điều khiển phương tiện, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, chất lượng dịch vụ trên phương tiện vận tải khách du lịch sau khi có ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

    – Trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 59, Điều 60 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 quy định về cấp biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch tại Điều 46 và Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải khách du lịch tại Điều 47.

    5.3. Lưu trú du lịch (mục 3)

    Về các loại cơ sở lưu trú du lịch (Điều 48)

    Luật Du lịch năm 2022 đã bỏ quy định về Làng du lịch quy định tại Điều 62 Luật Du lịch năm 2005, vì trên thực tế Làng du lịch chỉ tồn tại theo cách đặt tên mà không đúng bản chất, nhu cầu xây dựng và phát triển ít; bổ sung quy định về Tàu thủy lưu trú du lịch, loại hình lưu trú đang phát triển tại các khu du lịch biển, cần quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh phát triển.

    Về điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch (Điều 49)

    Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 64 Luật Du lịch năm 2005, được chỉnh lý, sắp xếp lại quy định theo hướng đơn giản hơn, dẫn chiếu đến các quy định khác của pháp luật về điều kiện an ninh, trật tự an toàn, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; bỏ quy định về các điều kiện cụ thể vì những điều kiện này không còn phù hợp với thực tế phát triển hiện nay, hơn nữa, nhiều điều kiện đã được chi tiết hóa trong tiêu chuẩn thẩm định, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

    Về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch (Điều 50)

    Điều này xây dựng trên cơ sở Điều 63 Luật Du lịch năm 2005, thiết kế từ 5 khoản thành 8 khoản. Trên tinh thần cải cách, tháo gỡ rào cản, trao quyền chủ động cho cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch được tự nguyện đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sửa đổi quy định chỉ xếp hạng đối với một số loại hình cơ sở lưu trú du lịch phổ biến, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng phục vụ khách du lịch. Theo đó, cơ sở lưu trú du lịch gồm khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch được xếp hạng theo tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch. Hạng cơ sở lưu trú du lịch bao gồm 01 sao, 02 sao, 03 sao, 04 sao và 05 sao.

    + Về thẩm quyền công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch: Từ thực tiễn công tác quản lý cơ sở lưu trú du lịch; theo đề xuất của nhiều địa phương, doanh nghiệp, điều này sửa đổi, mở rộng phân cấp thẩm quyền cho cơ quan quản lý du lịch ở địa phương thẩm định, công nhận cơ sở lưu trú du lịch hạng 1 sao, hạng 2 sao, hạng 3 sao, đây là điểm mới của Luật Du lịch năm 2022, bởi vì Luật Du lịch năm 2005 quy định thẩm định, công nhận hạng 3 sao thuộc thẩm quyền của Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương.

    + Luật Du lịch năm 2022 cũng bổ sung quy định mới về hồ sơ đăng ký công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch và trình tự, thủ tục công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được quy định như sau để tạo sự minh bạch, rõ ràng trong thẩm định, xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch. Hồ sơ đăng ký công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch bao gồm: Đơn đề nghị công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; bản tự đánh giá chất lượng của cơ sở lưu trú du lịch theo quy định trong tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch; danh sách người quản lý và nhân viên trong cơ sở lưu trú du lịch; bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ và giấy chứng nhận thời gian làm việc trong lĩnh vực du lịch của người quản lý, trưởng bộ phận trong cơ sở lưu trú du lịch. Trình tự, thủ tục công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được quy định như sau: Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 50 Luật Du lịch năm 2022. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ yêu cầu sửa đổi, bổ sung; trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chủ trì, phối hợp với tổ chức xã hội – nghề nghiệp về du lịch thẩm định và ra quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch; trường hợp không công nhận, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Một trong những điểm mới của nội dung này là quy định “Quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch có thời hạn 05 năm”, trong khi đó khoản 5 Điều 63 Luật Du lịch năm 2005 quy định: “Sau ba năm được xếp hạng, cơ sở lưu trú du lịch được thẩm định để công nhận lại hạng phù hợp với thực trạng cơ sở vật chất và dịch vụ của cơ sở lưu trú du lịch”. Ngoài ra Luật Du lịch năm 2022 cũng quy định biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được gắn ở khu vực cửa chính của cơ sở lưu trú du lịch cho phù hợp với thực tiễn công tác quản lý cơ sở lưu trú du lịch, đồng thời giao Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch.

    Về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch (Điều 53)

    – Luật Du lịch năm 2022 bỏ quy định về tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch quy định tại Điều 61 Luật Du lịch năm 2005 điều này nhằm tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh lưu trú du lịch; đồng thời, bổ sung nội dung mới về công bố, kiểm tra chất lượng cơ sở lưu trú du lịch tại Điều 51 và thu hồi quyết định công nhận hạng, thay đổi hạng cơ sở lưu trú du lịch tại Điều 52.

    5.4. Dịch vụ du lịch khác (mục 4)

    Mục này được xây dựng trên cơ sở quy định của Mục 6 về kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch, Chương VI Luật Du lịch năm 2005, tuy nhiên có sửa đổi, bổ sung về cơ bản, cụ thể như sau:

    – Điều 56 Luật Du lịch năm 2022 quy định về công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch như sau: (1). Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch khác được tự nguyện đăng ký công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. (2). Hồ sơ đăng ký công nhận bao gồm: Đơn đề nghị theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; bản thuyết minh đáp ứng các tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch. (3). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận được quy định như sau: Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch khác nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi đặt cơ sở kinh doanh; trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định và công nhận; trường hợp không công nhận, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. (4). Phí thẩm định công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. (5). Quyết định công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch có thời hạn 03 năm. Sau khi hết thời hạn, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch khác có nhu cầu đăng ký công nhận lại cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 56 Luật Du lịch năm 2022. (6). Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thanh tra, kiểm tra chất lượng cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đã được công nhận đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch trên địa bàn; thu hồi quyết định công nhận trong trường hợp cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch không bảo đảm các tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch theo quy định của pháp luật. (7). Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tiêu chuẩn và mẫu biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác.

    Về Hướng dẫn viên du lịch, thẻ Hướng dẫn viên du lịch (Điều 58)

    Luật Du lịch năm 2022 quy định Hướng dẫn viên du lịch bao gồm Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, Hướng dẫn viên du lịch nội địa và Hướng dẫn viên du lịch tại điểm, như vậy so với Luật Du lịch năm 2005 đã bỏ quy định về thuyết minh viên thay bằng Hướng dẫn viên du lịch tại điểm. Phạm vi hành nghề của Hướng dẫn viên du lịch cũng có những sửa đổi bổ sung so với Luật Du lịch năm 2005 cụ thể quy định như sau: Hướng dẫn viên du lịch quốc tế được hướng dẫn cho khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong phạm vi toàn quốc và đưa khách du lịch ra nước ngoài; Hướng dẫn viên du lịch nội địa được hướng dẫn cho khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam trong phạm vi toàn quốc; Hướng dẫn viên du lịch tại điểm được hướng dẫn cho khách du lịch trong phạm vi khu du lịch, điểm du lịch. Điều kiện hành nghề của Hướng dẫn viên du lịch được quy định chặt chẽ nhưng vẫn đảm bảo tính linh hoạt nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động hành nghề hướng dẫn.

    Luật Du lịch năm 2022 quy định về thẻ Hướng dẫn viên du lịch bao gồm thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa và thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm. Thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế và thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa có thời hạn 05 năm, trong khi đó Luật Du lịch năm 2005 quy định thẻ hướng dẫn viên nội địa, thẻ hướng dẫn viên quốc tế có thời hạn 03 năm. Ngoài ra Luật Du lịch năm 2022 cũng bổ sung quy định người đề nghị cấp thẻ phải nộp phí thẩm định cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

    Về điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch (Điều 59)

    Luật Du lịch năm 2022 quy định cụ thể về điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa, điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm trong đó điểm mới nổi bật là điều kiện về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Hướng dẫn viên du lịch quốc tế được điều chỉnh từ trình độ cử nhân thành trình độ cao đẳng để phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

    Về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa (Điều 60)

    Kế thừa quy định của Điều 74 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 quy định (1). Hồ sơ đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa bao gồm: Đơn đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú; bản sao có chứng thực các văn bằng, chứng chỉ tương ứng với điều kiện quy định tại điểm d khoản 1 hoặc điểm b và điểm c khoản 2 Điều 59 của Luật Du lịch năm 2022; giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền cấp trong thời hạn không quá 06 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ; 02 ảnh chân dung màu cỡ 3cm x 4cm. (2). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, thẻ Hướng dẫn viên du lịch nội địa được quy định như sau: Người đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch cho người đề nghị; trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    Về hồ sơ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm (Điều 61)

    Luật Du lịch năm 2022 quy định: (1). Hồ sơ đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm bao gồm: Đơn đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; giấy tờ quy định tại các điểm b, d và đ khoản 1 Điều 60 của Luật Du lịch năm 2022. (2). Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm được quy định như sau: Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh định kỳ hằng năm công bố kế hoạch tổ chức kiểm tra nghiệp vụ hướng dẫn du lịch tại điểm; người đề nghị cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh; cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh tổ chức kiểm tra và cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại điểm đối với người đã đạt yêu cầu kiểm tra nghiệp vụ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có kết quả kiểm tra.

    Về quyền và nghĩa vụ của Hướng dẫn viên du lịch (Điều 65)

    Kế thừa các quy đinh của Điều 76 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 quy định: (1). Hướng dẫn viên du lịch có quyền sau đây: Tham gia tổ chức xã hội – nghề nghiệp về hướng dẫn du lịch; nhận tiền lương và khoản thù lao khác theo hợp đồng; tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề hướng dẫn du lịch; trong trường hợp khẩn cấp hoặc bất khả kháng, được quyền thay đổi chương trình du lịch, điều chỉnh tiêu chuẩn, dịch vụ của khách du lịch. (2). Hướng dẫn viên du lịch có nghĩa vụ sau đây: Hướng dẫn khách du lịch theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng hướng dẫn; tuân thủ, hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật Việt Nam, pháp luật nơi đến du lịch, nội quy nơi đến tham quan; tôn trọng phong tục, tập quán của địa phương; thông tin cho khách du lịch về chương trình du lịch, dịch vụ và các quyền, lợi ích hợp pháp của khách du lịch; hướng dẫn khách du lịch theo đúng chương trình du lịch, có thái độ văn minh, tận tình và chu đáo với khách du lịch; báo cáo người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quyết định thay đổi chương trình du lịch trong trường hợp khách du lịch có yêu cầu; có trách nhiệm hỗ trợ trong việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch; tham gia khóa cập nhật kiến thức theo quy định tại khoản 4 Điều 62 của Luật này; đeo thẻ Hướng dẫn viên du lịch trong khi hành nghề hướng dẫn du lịch; Hướng dẫn viên du lịch quốc tế và Hướng dẫn viên du lịch nội địa phải mang theo giấy tờ phân công nhiệm vụ của doanh nghiệp tổ chức chương trình du lịch và chương trình du lịch bằng tiếng Việt trong khi hành nghề. Trường hợp hướng dẫn khách du lịch quốc tế thì Hướng dẫn viên du lịch phải mang theo chương trình du lịch bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài.

    Về trách nhiệm quản lý Hướng dẫn viên du lịch (Điều 66)

    Đây là nội dung mới của Luật Du lịch năm 2022, theo đó Luật quy định: (1). Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và hoạt động hướng dẫn du lịch trên phạm vi toàn quốc. (2). Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và hoạt động hướng dẫn du lịch trên địa bàn. (3). Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hướng dẫn du lịch có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của Hướng dẫn viên du lịch trong việc tuân thủ pháp luật và hợp đồng đã ký với doanh nghiệp và bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề hướng dẫn du lịch.

    – Kế thừa các quy định của Điều 75 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 quy định về cấp đổi thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại Điều 62, cấp lại thẻ Hướng dẫn viên du lịch Điều 63; thu hồi thẻ Hướng dẫn viên du lịch tại Điều 64. Trong đó có một số điểm mới nổi bật là đã rút ngắn thời gian cấp đổi thẻ và cấp lại thẻ Hướng dẫn viên du lịch khi nhận được hồ sơ hợp lệ từ 15 ngày xuống 10 ngày; bổ sung quy định thu hồi thẻ Hướng dẫn viên du lịch trong trường hợp không bảo đảm điều kiện hành nghề, điều kiện cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch theo quy định của Luật Du lịch năm 2022; tăng thời gian xem xét cấp thẻ mới từ 6 tháng thành 12 tháng kể từ ngày bị thu hồi thẻ.

      Xúc tiến du lịch, quỹ hỗ trợ phát triển du lịch (Chương VII)

    7.1. Xúc tiến du lịch (mục 1)

    Về Nội dung xúc tiến du lịch (Điều 67), kế thừa các quy định của Điều 79 Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2022 bổ sung nội dung xây dựng, phát triển thương hiệu du lịch quốc gia, vùng, địa phương, doanh nghiệp.

    Về thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực (Điều 69)

    Điều này quy định mới trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 84 Luật Du lịch năm 2005, cụ thể quy định: (1). Cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực được thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. (2). Hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng đại diện phải được hợp pháp hóa lãnh sự, bao gồm: Đơn đề nghị thành lập văn phòng đại diện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; quyết định thành lập cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực; quyết định thành lập văn phòng đại diện của cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực; quyết định bổ nhiệm người đứng đầu văn phòng đại diện. (3). Trình tự, thủ tục thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam được quy định như sau: Người đứng đầu văn phòng đại diện nộp 01 bộ hồ sơ đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu văn phòng đại diện.

    7.2. Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch (mục 2)

    Nội dung này được quy định mới trên cơ sở cụ thể hóa quy định tại khoản 6 Điều 6 Luật Du lịch năm 2005, đây là nội dung bổ sung quan trọng, tạo cơ sở pháp lý và đảm bảo tính khả thi trong việc thành lập Quỹ trong thời gian tới. Việc thành lập Quỹ sẽ tạo ra nguồn kinh phí lớn hơn cho các hoạt động xúc tiến du lịch, tạo cơ chế chủ động hơn trong việc quản lý, sử dụng kinh phí này, cụ thể Luật Du lịch năm 2022 quy định như sau:

    Về mục đích của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, Điều 71 Luật Du lịch năm 2022 quy định: (1). Xúc tiến du lịch trong nước và nước ngoài. (2). Hỗ trợ nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm du lịch. (3). Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực du lịch. (4). Hỗ trợ hoạt động truyền thông du lịch trong cộng đồng.

    – Về nguyên tắc hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, Điều 72 Luật Du lịch năm 2022 quy định: (1). Không vì mục đích lợi nhuận; bảo toàn vốn điều lệ và tự bù đắp chi phí quản lý. (2). Thực hiện thu, chi, quyết toán, công khai tài chính, tài sản và công tác kế toán theo quy định của pháp luật. (3). Chịu sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của cơ quan quản lý nhà nước về tài chính và kiểm toán nhà nước về các hoạt động tài chính của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch. (4). Bảo đảm công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả, sử dụng đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật. (5). Số dư kinh phí năm trước của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng.

      Quản lý nhà nước về du lịch (Chương VIII)

    Về hiệu lực thi hành: Điều 77 Luật Du lịch năm 2022 quy định Luật Du lịch năm 2022 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018; Luật Du lịch năm 2022 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Du lịch năm 2022 có hiệu lực thi hành.

    Về quy định chuyển: Điều 78 Luật Du lịch năm 2022 quy định: (1). Doanh nghiệp đã được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành không phải làm thủ tục đổi giấy phép, nhưng phải bảo đảm đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Du lịch năm 2022 trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật Du lịch năm 2022 có hiệu lực thi hành. (2). Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa phải làm thủ tục đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Sau thời hạn trên, nếu không có giấy phép thì doanh nghiệp không được kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa. (3). Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, Hướng dẫn viên du lịch nội địa đã được cấp thẻ Hướng dẫn viên du lịch trước ngày Luật Du lịch năm 2022 có hiệu lực thi hành được tiếp tục hành nghề cho đến hết thời hạn ghi trên thẻ. (4). Cơ sở lưu trú du lịch đã được công nhận hạng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày Luật Du lịch năm 2022 có hiệu lực được tiếp tục sử dụng hạng đã được công nhận cho đến hết thời hạn theo quyết định./.

    Tiêu Dao

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Về Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Giới Thiệu Luật Du Lịch 2022
  • Du Lịch Bền Vững Là Gì?
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Biển Đảo Phú Yên
  • Du Lịch Sinh Thái Không Đơn Thuần Là Du Lịch Thiên Nhiên
  • Định Luật Raoult 1: Nội Dung, Hệ Thức Và Ứng Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Salty Penguins Filter Salt Out Their Nose
  • Luật Số Lượng Lớn Và Định Lý Giới Hạn. Luật Số Lượng Lớn
  • Định Luật Truyền Thẳng Ánh Sáng
  • Chương 2. Bảng Tuần Hoàn Các Nguyên Tố Hóa Học & Định Luật Tuần Hoàn
  • Dương Mịch Và Hứa Khải Đóng Chính Trong ‘định Luật 80/20 Của Tình Yêu’
    • 1 Nội dung và hệ thức của định luật Raoult 1
      • 1.1 Nội dung định luật Raoult 1 là gì?
      • 1.2 Công thức định luật Raoult 1
    • 3 Ứng dụng của định luật Raoult 1

    Nội dung và hệ thức của định luật Raoult 1

    Do đó, theo định luật thì áp suất của dung môi trong dung dịch tỷ lệ thuận với phần mol của dung môi trong dung dịch. Từ đây, ta có thể suy ra công thức của định luật này.

    (P_{1}= P_{0}.left ( 1-N_{2} right ))

    • (P_{0}) là áp suất hơi của dung môi
    • (P_{1}) là áp suất hơi của dung dịch
    • (N_{1}) là phần mol của dung môi
    • (N_{2}) là phần mol của chất tan trong dung dịch

    Công thức của định luật Raoult hay còn được biết tới với tên gọi khác là công thức tính áp suất hơi bão hòa.

    Bên cạnh định luật Raoult 1 thì ta cần lưu ý những định luật nào khi nhắc tới áp suất hơi bão hòa?

    Khác với định luật Raoult 1, định luật Raoult 2 cho biết áp suất hơi bão hòa phụ thuộc nhiệt độ. Định luật được phát biểu như sau: độ tăng nhiệt độ và độ hạ của nhiệt độ đông đặc của dung dịch tỉ lệ thuận với nồng độ chất tan trong dung dịch.

    Công thức của định luật Raoult 2:

    (Delta t_{s} = t_{sleft ( DD right )}^{0} – t_{sleft ( Dm right )}^{0} = K_{s}C_{m})

    • (Delta t_{s}) là độ tăng của nhiệt độ sôi so với dung môi nguyên chất.
    • (t_{sleft ( DD right )}^{0}): nhiệt độ sôi của dung dịch
    • (t_{sleft ( Dm right )}^{0}): nhiệt độ sôi của dung môi
    • (K_{s}): Hằng số nghiệm sôi, hằng số này phụ thuộc vào bản chất của dung môi
    • (C_{m}): nồng độ mol của chất tan trong dung dịch

    Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ dừng lại ở định luật Raoult 2 và chưa có định luật Raoult 3 . Do đó, khi nhắc đến định luật Raoult, chúng ta sẽ nghĩ tới định luật Raoult 1 và 2, nói về mối quan hệ giữa áp suất hơi bão hòa với nồng độ và nhiệt độ của chất lỏng.

    Khác với định luật Raoult, định luật Van Hoff cho chúng ta biết về mối quan hệ giữa áp suất thẩm thấu và hiện tượng thẩm thấu.

    Công thức của định luật Van Hoff: (pi = R.C.V) hay (pi V = nRT)

    Định luật Van Hoff có vai trò vô cùng quan trọng trong sinh học. Định luật này cũng được áp dụng nhiều vào trong cuộc sống thường ngày. Chẳng hạn như dựa vào định luật này, người ta có thể biết cách dùng muối để bảo quản thịt, cá…

    Tuy nhiên, có một điểm chúng ta cần lưu ý, đó là định luật Raoult và Van Hoff chỉ đúng với dung dịch loãng đối với các chất không bay hơi và không điện ly.

    Định luật Henry là một định luật tương tự như định luật Raoult nhưng được áp dụng ở trường hợp nhiệt độ cao.

    Công thức của định luật Henry:

    • (H_{ij}) là hệ số Henry cấu tử i trong dung môi j, giá trị của nó phụ thuộc vào tính chất của khí cũng như nhiệt độ .
    • P: áp suất của phần cấu tử phân bổ trong pha
    • X: nồng độ mol của cấu tử phân bổ trong pha.

    Định luật này có thể được phát biểu như sau: áp suất riêng của phần cấu tử trong pha khí tồn tại cân bằng với pha lỏng, luôn tỷ lệ với nồng độ mol của nó trong pha lỏng.

    Ứng dụng của định luật Raoult 1

    Từ định luật Raoult, chúng ta có thể biết được mối quan hệ giữa độ giảm áp suất và nồng độ chất lỏng. Từ đó, các nhà khoa học có thể biết được áp suất hơi bão hòa của dung dịch đó.

    Định luật Raoult được ứng dụng để làm thay đổi nhiệt độ đông đặc của nước. Chẳng hạn như việc sử dụng các chất phụ gia trong nước để làm nguội động cơ ô tô vào mùa động. Đồng thời, tìm ra các giải pháp chống đóng băng tuyết trên đường vào mùa đông.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Định Môn Luật Thương Mại Quốc Tế Có Đáp Án
  • Câu Hỏi Nhận Định Môn Luật Quốc Tế
  • Quả Bóng Chuyền Tiêu Chuẩn Tập Luyện Và Thi Đấu Giá Rẻ Nhất !
  • Quy Luật Pareto 80:20 Trong Quản Trị
  • Định Luật Bức Xạ Planck Bị Vi Phạm Ở Cấp Nano
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Áp Suất Là Gì? Đơn Vị, Công Thức Tính Áp Suất Khí Như Thế Nào?
  • Bài 2: Khái Niệm Bit Và Byte – Baolan2005
  • Về Khái Niệm “Đạo Đức Cách Mạng” Và Việc Nghiên Cứu, Học Tập Đạo Đức Trong Đảng Hiện Nay
  • Hệ Thống E Learning Là Gì ?
  • Gia Tốc Là Gì? Công Thức Tính & Phân Loại Các Loại Gia Tốc
  • Phổ biến giáo dục pháp luật

    Những nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng

    Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2022 với tỷ lệ 86.86% số đại biểu tán thành, với số ký hiệu là Luật số 24/2018/QH14. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022, quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng; triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cụ thể là:

    Thứ nhất, quy định các khái niệm cơ bản và chính sách của Nhà nước về an ninh mạng; nguyên tắc và biện pháp bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ không gian mạng quốc gia; hợp tác quốc tế về an ninh mạng; các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng; xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng. Đây là cơ sở để xác định phạm vi đấu tranh, biện pháp áp dụng, các hành vi vi phạm và cách thức phòng ngừa, xử lý các hành vi này cũng như triển khai công tác nghiên cứu, hoàn thiện lý luận về an ninh mạng.

    Thứ hai, quy định đầy đủ các hoạt động bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Với các quy định về thẩm định, kiểm tra, đánh giá điều kiện, ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng được quy định tại Chương II, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ chặt chẽ từ bên trong. Với các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, xử lý các hành vi tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt thông tin thuộc bí mật nhà nước, các hành vi chống, phá Nhà nước được quy định tại Chương I, Chương III, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được bảo vệ từ bên ngoài. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, thể hiện sự bảo vệ tương xứng với vai trò của hệ thống thông tin an ninh quốc gia.

    Thứ ba, đưa ra các quy định nhằm tạo nền tảng pháp lý trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức cá nhân trên không gian mạng, như soạn thảo, đăng tải thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng, làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; sử dụng không gian mạng để tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, chiếm đoạt bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; tấn công mạng… Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm kết bạn, trao đổi, buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng.

    Thứ tư, tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Kết cấu hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ cùng sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ bị xử lý nghiêm minh; hành vi xâm phạm an ninh mạng sẽ được phát hiện, cảnh báo kịp thời. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết, là nền tảng pháp lý quan trọng triển khai công tác an ninh mạng hiện tại và tương lai.

    Thứ năm, tạo cơ sở pháp lý quan trọng thực thi chính sách của Nhà nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân, dữ liệu quốc gia trên không gian mạng. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định các doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ Việt Nam. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đấu tranh phòng, chống tội phạm trước các diễn biến phức tạp của hoạt động cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, thương mại điện tử, kinh doanh tiền ảo, tiền điện tử thời gian qua.

    Thứ sáu, tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xây dựng và hình thành lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao. Chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân với mục tiêu tham gia không gian mạng an toàn, lành mạnh, hạn chế tối đa nguy cơ, tác động tiêu cực, phát huy tối đa hiệu quả.

    Thứ bảy, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động trên không gian mạng, tập trung vào việc xác định trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

     

    Phan Minh Thuận

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Chiếc Mũ Tư Duy Là Gì?
  • 6 Chiếc Mũ Tư Duy: Phương Pháp Xem Xét Quyết Định Từ Mọi Quan Điểm
  • 6 Chiếc Mũ Tư Duy: Ví Dụ Và Ứng Dụng
  • 6 Chiếc Mũ Tư Duy – “Chìa Khóa” Giải Quyết Vấn Đề Dẫn Lối Thành Công
  • 6 Chiếc Mũ Tư Duy
  • C&f Là Gì? Nội Dung Của Điều Kiện C&f Và Nghĩa Vụ Của Các Bên

    --- Bài mới hơn ---

  • C&f Là Gì? Những Điều Mà Bạn Cần Biết Về C&f
  • Sự Khác Biệt Giữa% F Và% Lf Trong C Là Gì?
  • Đọc Ghi File Cơ Bản Với Fstream
  • 24 Hợp Âm Guitar Cơ Bản Cho Người Mới Học
  • Danh Sách Các Hợp Âm Guitar Cơ Bản Cho Người Mới Học?
    • C&F là gì? Nó là viết tắt của từ Cost and Freight (có thể viết tắt là CIF) mang nghĩa là “Giá thành và cước phí” đây là một thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực thương mại quốc tế, được sử dụng rộng rãi trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi sử dụng hình thức vận tải đường biển.
    • Giá thành và cước phí là một điều kiện thuộc International Commercial Terms (Incoterm – Các điều khoản thương mại quốc tế) – một bộ quy tắc về thương mại quốc tế được ghi nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới.
    • “Giá thành và cước phí” có nghĩa là người bán thực hiện việc giao hàng khi hàng hóa đã qua lan can tàu tại cảng gửi hàng. Người bán chịu trách nhiệm chi trả các phí tổn và cước vận tải cần thiết để đưa hàng tới cảng đến quy định; tuy nhiên, những rủi ro, hư hỏng đối với hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua khi hàng hóa qua lan can tại tại cảng gửi hàng.

    Những lưu ý trong điều kiện C&F là gì?

    • Sau khi đã nắm được khái niệm C&F là gì, chúng ta cũng cần ghi nhớ một số lưu ý như sau. Điều kiện C&F có hai điểm tới hạn, bởi vì rủi ro di chuyển và chi phí được phân chia ở các nơi khác nhau. Trong hợp đồng luôn luôn thể hiện rõ cảng đến nhưng có thể không chỉ rõ cảng xếp hàng – là địa điểm mà rủi ro di chuyển từ người bán sang người mua. Nếu hàng gửi có ý nghĩa quan trọng với người mua thì trong hợp đồng cần quy định càng cụ thể các tốt
    • Người bán phải giao hàng lên tàu hoặc mua hàng đã giao để gửi đến cảng đến. Ngoài ra, người bán phải ký hợp đồng vận tải hàng hóa hoặc “mua” một hợp đồng như vậy. Trường hợp “mua” hợp đồng vận tải hàng hóa áp dụng cho việc bán hàng nhiều lần trong quá trình vận chuyển (hàng bán theo lô).
    • Trường hợp hàng hóa được giao cho người chuyên chở trước khi hàng được giao lên tàu )hàng đóng trong Container) mà thường là giao hàng tại bến, bãi thì không nên sử dụng điều kiện C&F nên sử dụng điều kiện CPT.
    • Điều kiện C&F đòi hỏi người bán thông quan xuất khẩu cho hàng hóa. Tuy nhiên, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu cho hàng hóa hoặc trả bất kỳ loại thuế nhập khẩu nào, làm bất kỳ thủ tục hải quan nhập khẩu nào.

    Nội dung của điều kiện C&F

    Nghĩa vụ của người bán trong C&F là gì?

    • A1: Cung cấp đầy đủ hàng hóa và hóa đơn, chứng từ phù hợp đồng.
    • A2: Người bán phải chịu toàn bộ rủi ro và chi phí để lấy giấy phép nhập khẩu hoặc giấy phép chính thức khác và thực hiện tất cả các thủ tục hải quan để xuất khẩu hàng.
    • A3: Người bán phải ký hợp đồng vận tải để vận chuyển hàng hóa và chi trả chi phí cho hợp đồng này và phải vận chuyển hàng hóa theo tuyến đường thông thường bằng con tàu thuộc loại chuyên dụng để vận chuyển mặt hàng đó. Người bán không có nghĩa vụ đối với người mua về ký kết hợp đồng bảo hiểm nhưng người bán phải cung cấp thông tin người mua cần để mua bảo hiểm.
    • A4: Người bán phải giao hàng lên tàu tại cảng gửi theo cách thức thông thường tại cảng. Thời hạn giao: trong ngày hoặc hai bên có thỏa thuận khác.
    • A5: người bán phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro của hàng hóa cho đến khi hàng hóa được giao theo mục A4, trừ trường hợp quy định tại mục B5.
    • A7: Người bán phải thông báo cho người mua những thông tin cần thiết để người mua áp dụng các biện pháp phù hợp khi nhận hàng.
    • A8: Bằng chi phí của mình người bán phải cung cấp kịp thời chứng từ vận tải thường lệ đến các đến như đã thỏa thuận.
    • A9: Người bán phải chịu mọi chi phí về việc kiểm tra (chất lượng, cân, đếm) và đóng gói hàng hóa nếu có để giao hàng theo quy định tại mục A4. Bao bì hàng hóa phải ghi ký mã hiệu thích hợp.
    • A10: Người bán phải giúp người mua lấy các chứng từ và cung cấp thông tin mà người mua cần để nhập khẩu hàng hóa hoặc vận chuyển hàng hóa đến điểm cuối cùng. Trong trường hợp người mua đã chi để lấy được những chứng từ và thông tin theo mục B10 thì người bán phải hoàn trả chi phí cho người mua.
    • B1: Người mua có trách nhiệm thanh toán đủ số tiền đã thỏa thuận cho người bán.
    • B2: Nếu có quy định, người mua phải chịu rủi ro và phí tổn để lấy được giấy phép nhập khẩu hoặc các giấy tờ khác và làm thủ tục hải quan để nhập khẩu và vận tải hàng hóa qua nước khác.
    • B3: Người mua không có nghĩa với người bán về hợp đồng vận tải và hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, người mua có nghĩa vụ cung cấp cho người bán những thông tin cần thiết cho việc mua bảo hiểm nếu người bán yêu cầu.
    • B4: Nhận hàng khi hàng hóa đã được giao theo mục A4 và nhận hàng từ người chuyên chở tại địa điểm chỉ định của cảng đến.
    • B5: kể từ khi hàng hóa đã được giao theo mục A4, người mua phải chịu mọi rủi ro về hàng hóa. Nếu người mua không thông báo theo quy định tại mục B7, thì phải chịu mọi rủi ro về hàng hóa kể từ ngày giao hàng thỏa thuận hoặc kể từ ngày cuối cùng của thời hạn giao hàng thỏa thuận, với điều kiện là hàng đã được phân biệt rõ ràng là hàng của hợp đồng.
    • B7: thông báo cho người bán về thời gian gửi hàng, địa điểm nhận nhận hàng tại cảng đến quy định.
    • B8: chấp nhận chứng từ vận tải theo mục A8 nếu chứng từ đó phù hợp với hợp đồng.
    • B9: Trừ việc kiểm tra hàng hóa theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu, thì người mua phải chịu các chi phí cho việc kiểm tra bắt buộc trước khi gửi hàng.
    • B10: Phải thông báo kịp thời cho người bán để người bán có thể thực hiện mục A10. Hoàn trả chi phí mà người bán đã chi để lấy được thông tin theo mục A10. Nếu có quy định, người mua phải giúp người bán kịp thời lấu những thông tin mà người bán cần để vận tải, xuất khẩu hàng hóa.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Thành Phần Cơ Bản Của Ngôn Ngữ C
  • Các Kỹ Thuật Lập Trình Căn Bản
  • Enum Trong Lập Trình C#
  • Cơ Bản Debug Trong Visual Studio
  • Kỹ Thuật Debug Trong Lập Trình C++
  • Định Luật 1 Newton: Nội Dung, Công Thức Và Ý Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Vật Lí 10
  • Bài 15: Định Luật Ii Newton
  • Các Định Luật Của Newton Về Chuyển Động
  • Ứng Dụng 3 Định Luật Newton Để Tăng Năng Suất Công Việc
  • Chương Ii: Định Luật I Newton, Quán Tính, Hệ Qui Chiếu Quán Tính
  • Số lượt đọc bài viết: 8.061

    • 1 Nội dung và công thức định luật 1 Newton
      • 1.1 Nội dung của định luật 1 Newton
      • 1.2 Công thức của định luật 1 Newton
    • 2 Nội dung và công thức định luật 2 Newton
      • 2.1 Nội dung và công thức định luật 2 Newton
      • 2.2 Bài tập ví dụ về định luật 2 Newton
    • 3 Ý nghĩa định luật 1 và 2 Newton
      • 3.1 Ý nghĩa định luật 1 niu tơn
      • 3.2 Ý nghĩa định luật 2 niu tơn

    Nội dung và công thức định luật 1 Newton

    Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton đã quá quen thuộc và có ý nghĩa to lớn trong cuộc sống. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng không thể bỏ qua định luật 1 và 2 Newton. Vậy định luật 1 có nội dung và công thức thế nào?

    Định luật 1 Newton nói về sự chuyển động của vật hay còn được gọi là định luật quán tính. Nội dung của định luật được phát biểu như sau: Nếu một vật không chịu tác dụng của bất cứ lực nào hoặc chịu tác dụng của nhiều lực nhưng hợp lực của các lực này bằng không thì nó giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều.

    Có thể hiểu, nếu một vật không chịu tác dụng bởi lực nào hoặc chịu lực tác dụng có hợp lực bằng 0 thì nếu vật đó đang đứng yên sẽ đứng yên mãi mãi, còn nếu vật đó đang chuyển động thì sẽ chuyển động thẳng đều mãi mãi. Trạng thái ở trong trường hợp này được đặc trưng bởi vận tốc của chuyển động.

    Định luật 1 của Newton hay còn được biết đến với tên gọi khác là định luật quán tính. Từ nội dung của định luật, ta có thể suy ra công thức của nó.

    Vectơ vận tốc của một vật tự do là: (overrightarrow{v} = 0) (không đổi)

    Do đó, vectơ gia tốc của một vật chuyển động tự do là: (overrightarrow{a} = frac{doverrightarrow{v}}{doverrightarrow{t}}=overrightarrow{0})

    Nội dung và công thức định luật 2 Newton

    Bên cạnh định luật 1, chúng ta cũng không thể bỏ qua định luật 2 Newton. Nhiều người thường thắc mắc, định luật 2 Newton của ai? Định luật 2 do Newton phát hiện ra và được chia thành định luật 2 trong thuyết cơ học cổ điển và định luật 2 trong vật lý thông thường.

    Định luật 2 Newton được phát biểu như sau Gia tốc của một vật sẽ cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của gia tốc luôn tỉ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật đó

    Từ phát biểu này, ta có công thức : (overrightarrow{a} = frac{overrightarrow{Fhl}}{m})

    • m là khối lượng của vật
    • (overrightarrow{a}) là gia tốc của vật và đo bằng đơn vị (m/s^{2})

    Đây là công thức định luật 2 niu tơn lớp 10 đã được học. Tuy nhiên, với định luật này, ta còn có thể hiểu như sau:

    (overrightarrow{F} = frac{doverrightarrow{p}}{dt}) với F là tổng ngoại lực tác dụng lên vật, (overrightarrow{p}) là động lượng của vật, đơn vị đo là kgm/s và t là thời gian, được đo bằng s.

    Cách hiểu này đã đưa ra định nghĩa cho lực. Có thể hiểu, lực là sự thay đổi của động lực theo thời gian. Và lực của vật sẽ tỉ lệ thuận với động lực. Nếu động lực của vật biến đổi càng nhanh thì ngoại lực tác dụng lên vật sẽ càng lớn và ngược lại.

    Ví dụ: một chiếc xe có khối lượng là m. Chiếc xe này đang chuyển động trên con người nằm ngang với vận tốc là v = 30km/h. Đang chuyển động thì chiếc xe bị tắt máy đột ngột. Tính thời gian chiếc xe bị dừng lại dưới tác dụng của lực ma sát giữa xe và mặt đường. Biết hệ số ma sát của xe với mặt đường là (mu =0,13) và gia tốc (g=9,81m/s^{2}).

    Trước tiên ta cần đổi 30km/h = 8,33m/s.

    Khi xe bị tắt máy đột ngột, lực tác dụng lên xe là lực ma sát. Áp dụng định luật 2 Newton ta có: (F_{ms}= m.a = mu P)

    Vậy (a = frac{mu P}{g}= frac{mgmu}{m} = mu .g)

    Có phương trình vận tốc: (v = v_{o}-at)

    Chiếc xe bị dừng lại đột ngột, suy ra lực ma sát tác dụng lên chiếc xe sẽ có giá trị âm, vecto F ngược chiều chuyển động. Khi chiếc xe dừng lại, ta có v = 0, lúc đó t = T.

    Suy ra: (0 = v_{o}-aT) nên: (v_{o}=aT)

    Thay số, ta có thể dễ dàng tính được giá trị T.

    Ý nghĩa định luật 1 và 2 Newton

    Định luật 1 Newton nói lên tính chất quán tính của một vật. Đó là tính chất bảo toàn trạng thái khi chuyển động. Định luật này được áp dụng khá nhiều trong thực tế. Chẳng hạn như khi bạn đang ngồi trên một xe ôtô. Khi chiếc xe bắt đầu chạy, bạn và những hành khách theo quán tính sẽ bị ngã về phía sau. Ngược lại, khi xe đột ngột dừng lại thì mọi người lại bị chúi về phía trước. Tương tự như khi xe quành sang phải hay sang trái.

    Giải thích hiện tượng này, định luật 1 Newton chỉ ra đó là do bạn và những người khác đều có quán tính do đó mọi người vẫn sẽ giữ nguyên trạng thái chuyển động cũ.

    Chẳng hạn như đối với xe đua, các nhà sản xuất sẽ tính toán cách làm giảm khối lượng để xe có thể tăng tốc nhanh hơn.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Vấn Hợp Đồng Quốc Tế
  • Change To Be Rich : Định Luật Murphy Là Gì ? ( Chi Tiết )
  • Kiến Thức Kỹ Thuật Điện Cơ Bản Về Mạch Điện, Các Định Luật
  • Understanding The U.s. Foreign Agents Registration Act (Fara) Part 2: The Registration Criteria
  • Phân Tích Định Luật “vạn Vật Hấp Dẫn” Của Newton Dưới Góc Độ “tư Duy Thành Công”.
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100