Chân Lý Là Gì Theo Triết Học Mác

--- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Chân Lý?
  • Bản Chất Của Chân Lý
  • Triết Học Về Vật Chất
  • Con Người Và Bản Chất Của Con Người
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chế Độ Dân Chủ Nhân Dân
  • Ngay từ thời cổ đại, con người đã luôn suy nghĩ tìm lời giải đáp cho câu hỏi chân lý là gì? Vấn đề chân lý là một trong những vấn đề cơ bản của lý luận .

    Chân lý là tri thức phù hợp với khách thể mà nó phản ánh và được kiểm nghiệm.

    + Sự phát triển của sự vật khách quan;

    + Điều kiện lịch sử – cụ thể của ;

    + Hoạt động thực tiễn, và

    + Hoạt động nhận thức của con người.

    Như Lênin đã nhận xét: Sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình. Tư tưởng (= con người) không nên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng im chết cứng, một bức tranh (hình ảnh) đơn giản, nhợt nhạt (lờ mờ), không khuynh hướng, không vận động.

    Mọi chân lý đều có tính khách quan, tính cụ thể, tính tuyệt đối và tính tương đối. Điều này thể hiện như sau:

    – Nghĩa là, tuy chân lý là nhận thức của con người nhưng nội dung của nó không phụ thuộc vào con người.

    + Trái đất xoay quanh mặt trời: Đây là chân lý khách quan dù con người đã nhận thức được hay chưa.

    + Khủng long là loài động vật xuất hiện trên trái đất trước loài người.

    – Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhấn mạnh tính khách quan của chân lý có nghĩa là thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và sự phản ánh thế giới đó vào trong bộ óc con người.

    Nội dung mà chân lý phản ánh thuộc về thế giới khách quan. Chân lý chỉ có ở con người, nhưng nội dung của chân lý lại không lệ thuộc vào con người mà chỉ lệ thuộc vào sự vật khách quan được chân lý đó phản ánh.

    – Điều này nghĩa là không có chân lý trừu tượng, mơ hồ.

    Chân lý đạt được trong quá trình nhận thức bao giờ cũng gắn liền với một lĩnh vực cụ thể của hiện thực, và được phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể đó.

    – Nguyên lý tính cụ thể của chân lý có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và thực tiễn.

    Nguyên lý này đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử – cụ thể khi xem xét, đánh giá sự vật, sự việc, con người.

    Do đó, Lênin đã khẳng định: “Bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể”.

    Quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải chú ý đến điều kiện lịch sử – cụ thể của từng quốc gia, dân tộc, từng địa phương khi vận dụng lý luận chung, sơ đồ chung, phải biết cụ thể hóa, cá biệt hóa vào cho cái riêng. Phải hết sức tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc.

    Đối với Việt Nam, chúng ta phải nghiên cứu, hiểu rõ điều kiện lịch sử – cụ thể của đất nước để vận dụng sáng tạo.

    Trung thành với chủ nghĩa mác – Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của nó và biết vận dụng đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta. Cả chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa dân tộc cực đoan đều xa lạ với chủ nghĩa Mác – Lênin.

    Như đã phân tích, con người đạt tới chân lý trong quá trình vận động vô tận của nhận thức thế giới khách quan với cả một chuỗi những sự trừu tượng, những sự hình thành các khái niệm, quy luật.

    Những khái niệm bao quát một cách tương đối, gần đúng những quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển, tạo nên một bức tranh khoa học về thế giới khách quan.

    Nhưng con người nhận thức chân lý khách quan như thế nào? Có thể nhận thức được một cách tức thời, toàn bộ, tuyệt đối, vô điều kiện hay chỉ gần đúng, có điều kiện?

    Trả lời câu hỏi đó tức là phải xem xét quan hệ giữa tính tuyệt đối và tính tương đối của chân lý. Ở đây, ta có chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối.

    Mối quan hệ giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa quá trình vô tận của sự nhận thức thế giới khách quan với khả năng, kết quả nhận thức có hạn ở từng thời điểm cụ thể của lịch sử nhận thức.

    Chân lý tương đối là tri thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan nhưng chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện, cần phải được bổ sung, điều chỉnh trong quá trình phát triển tiếp theo của nhận thức.

    Ở chân lý tương đối, sự phản ánh hiện thực khách quan bị giới hạn ở những mặt, những bộ phận nhất định và bị chế ước bởi điều kiện lịch sử.

    Chân lý tuyệt đối là tri thức hoàn toàn đầy đủ, hoàn chỉnh về thế giới khách quan.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì theo bản chất của nó, tư duy con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối.

    Sở dĩ như vậy vì thế giới khách quan là vô cùng tận, nó biến đổi, phát triển không ngừng, không có giới hạn tận cùng, còn nhận thức của từng con người, từng thế hệ lại luôn bị hạn chế bởi điều kiện lịch sử khách quan và bởi năng lực chủ quan.

    Việc thừa nhận tính tương đối của chân lý không loại trừ việc chấp nhận, dù là chút ít, chân lý tuyệt đối. Trong tính tương đối đó vẫn chứa đựng một phần, một yếu tố của chân lý tuyệt đối.

    Phải chăng sự phân biệt giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối là không xác định?

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó vừa đủ “không xác định” để ngăn ngừa khoa học trở thành một giáo điều theo nghĩa xấu của từ đó.

    Nhưng đồng thời lại vừa đủ “xác định” để phân rõ ranh giới dứt khoát với chủ nghĩa tín ngưỡng và thuyết bất khả tri, với chủ nghĩa duy tâm và thuyết ngụy biện.

    3.3. Quan hệ biện chứng giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối:

    – Chân lý tương đối bao giờ cũng chứa những yếu tố là chân lý tuyệt đối. Chân lý tuyệt đối được hình thành từ các chân lý tương đối, có sự bổ sung các chân lý tương đối.

    – Sự khác biệt giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối không phải ở bản chất mà là ở mức độ phù hợp của chúng với khách thể được phản ánh. Mức độ hay ranh giới giữa chúng bao giờ cũng tồn tại nhưng không ngừng được xóa bỏ và được xác lập.

    III. Tiêu chuẩn của chân lý là thực tiễn

    – Thực tiễn có vai trò như vậy vì nó có ưu điểm của “tính phổ biến” và là hiện thực trực tiếp. Nhờ đó, thực tiễn có thể “vật chất hóa” được tri thức, biến tri thức thành những khách thể xác định, cảm tính trong thế giới khách quan.

    – Tiêu chuẩn thực tiễn vừa mang tính tuyệt đối vừa mang tính tương đối. Tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất. Tương đối vì thực tiễn luôn luôn biến đổi, phát triển, do đó cần có sự bổ sung, phát triển những tri thức đã có trước đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tri Thức Và Tri Thức Phương Pháp
  • Và Tri Thức
  • Luận Án: Công Bằng Xã Hội Với Việc Phát Triển Con Người Việt Nam
  • Khái Niệm Công Bằng Trong Triết Học Pháp Quyền Arthur Kaufmann
  • Biện Chứng Là Gì? Phép Biện Chứng Là Gì? Có Những Hình Thức Lịch Sử Nào Của Phép Biện Chứng? Có Sự Đối Lập Căn Bản Nào Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Trong Nhận Thức?
  • Văn Hóa, Triết Lý Và Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giao Tiếp Liên Văn Hóa Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa: Một Số Vấn Đề Triết Học
  • Đôi Nét Về Văn Hóa Và Con Người Trong Triết Học Phương Tây Hiện Đại
  • Hiện Sinh Là Một Chủ Nghĩa Nhân Bản
  • Hiện Tượng Luận Về Hiện Sinh (Kỳ 1)
  • Sách Triết Học Về Theo Đuổi Hạnh Phúc
  • Bài viết góp phần luận giải mối quan hệ giữa văn hóa, triết lý và triết học. Văn hóa là nguồn nuôi dưỡng các triết lý, các tư tưởng và hệ thống triết học, là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển các hệ thống triết học. Các triết lý, các hệ thống triết học lại là những bộ phận cốt lõi nhất trong nền văn hóa của một dân tộc. Xét trên nhiều khía cạnh, triết lý luôn ở tầm thấp hơn so với các hệ thống triết học, song nó chính là chất liệu của các hệ thống triết học bác học. Theo tác giả, văn hóa, các triết lý và các hệ thống triết học chính là ba tầng bậc khác nhau của văn hóa theo nghĩa rộng.

    Văn hóa theo gốc tiếng Latinh (cultura) có nghĩa là canh tác, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển, tôn trọng. Trong lịch sử, ban đầu người ta thường đồng nhất văn hóa với tất cả những gì do con người tạo ra. Văn hóa là hệ thống các nguyên tắc, cách thức, chương trình, phương thức hoạt động sống thuộc tầng trên sinh học của con người. Hệ thống ấy được hình thành và phát triển qua quá trình lịch sử và giúp cho việc duy trì và cải biến đời sống xã hội. Các chương trình, phương thức hoạt động ấy được hợp thành bởi các tri thức, chuẩn mực, thói quen, lý tưởng, cách hành động, tư tưởng, học thuyết, lòng tin, mục trêu, định hướng giá trị… Những cái đó lại rất đa dạng, được tích luỹ lâu đời, tạo thành kinh nghiệm xã hội – một yếu tố cấu thành văn hóa, được di truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.

    Văn hóa gắn liền với phương thức hoạt động sống của con người, nhờ đó mà phân biệt được sự tồn tại của con vật với cuộc sống của con người. Có nhiều nhánh quan điểm khác nhau về văn hóa, song nó luôn được xem như quá trình phát triển lý trí và các hình thức sống cố lý trí của con người, trái ngược với tính chất hoang dại và man rợ ở thời kỳ trền sử. Văn hóa là đời sống trnh thần của con người được duy trì và phát triển trong trến trình lịch sử, là sự trến hóa của ý thức đạo đức, luân lý, tôn giáo triết học, khoa học, pháp luật và ý thức chính trị, thúc đẩy sự trến bộ của nhân loại. Mặt khác, người ta cũng xem văn hóa như những điểm đặc thù của một xã hội. Văn hóa là hệ thống các giá trị và tư tưởng quy định kiểu tổ chức xã hội ở những thời kỳ lịch sử khác nhau. Các hệ thống đó là khác nhau và tương đối độc lập với nhau, trong chúng bao gồm toàn bộ tài sản văn hóa vật chất, tập quán chủng tộc, các dạng ngôn ngữ và các hệ thống biểu trưng khác.

    Văn hóa chỉ là tính tích cực của con người trong hành vi, hoạt động và giao trếp nhằm tạo ra một thế giới mới – thế giới nhân tạo khác với giới tự nhiên. Văn hóa như là phương thức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động của con người, là phương diện đặc biệt của đời sống xã hội. Nó tạo ra và truyền tải từ thế hệ này đến thế hệ khác các nguyên tắc, cách thức, các chương trình trên sinh học về hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người. Như vậy, văn hóa không đồng nhất với xã hội mà chỉ là một phương diện đặc biệt của xã hội, hiện diện trong tất cả các trạng thái xã hội khác nhau và cũng không có một hiện tượng xã hội nào không chịu ảnh hưởng hoặc không mang dấu ấn của văn hóa.

    Văn hóa còn được xem là hệ thống mã code thông tin, mã hóa các kinh nghiệm xã hội của con người. Kinh nghiệm ấy thể hiện như những chương trình trên sinh học về hành vi, hoạt động và giao trếp. Nếu trong các hệ sinh học bao giờ cũng có những kết cấu thông tin đặc biệt đề quản lý và điều chỉnh hệ thống sinh học ấy (AND, ARN), được gọi là gen, thì trong các hệ thống xã hội gen di truyền ấy là văn hóa. Các dạng hành vi, hoạt động, giao tiếp được điều chỉnh bằng các “chương trình, mã văn hoá” nhằm tái sản xuất và phát triển các yếu tố, các trểu hệ thống xã hội và các quan hệ của chúng, các thiết chế xã hội, các loại nhân cách đặc trưng cho xã hội đó. Điều đó tương tự như mã di truyền sinh học điều khiển trao đổi chất để tạo nên các tế bào và các bộ phận của cơ thể sinh vật.

    Mã di truyền xã hội có chức năng chuyển tải từ người này qua người khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác toàn bộ các kinh nghiệm xã hội. Để có thể truyền tải, bảo tồn được thì khối các kinh nghiệm đó phải được thể hiện dưới dạng các loại ký hiệu khác nhau, như âm thanh, chữ viết, tiếng nói, điệu bộ, hình ảnh… Hệ thống các ký hiệu như vậy phải rất đa dạng, phong phú mới có thể ghi nhận được khối các kinh nghiệm xã hội vốn thường xuyên được đổi mới, bổ sung và phát triển. Hệ thống ký hiệu ấy cũng là một trong những yếu tố cấu thành của văn hóa.

    Trong giới tự nhiên thứ hai, các sản phẩm do con người tạo nên cũng là những ký hiệu dưới các dạng thức và ý nghĩa khác nhau. Các vật thể văn hóa vật chất đóng vai trò kép trong đời sống con người: một mặt, chúng phục vụ trực tiếp mục trêu thực tiễn, cụ thể cho các nhu cầu hàng ngày của con người, như ăn, mặc, ở, đi lại… Mặt khác, chúng lại là phương tiện bảo tồn, chuyển giao các chương trình (programs), ý nghĩa, nội dung, phương thức điều chỉnh hoạt động, hành vi, giao tiếp. Dưới góc độ ấy, giới tự nhiên thứ hai mang ý nghĩa và nội dung văn hóa sâu sắc.

    Các thành tố văn hóa trong hệ thống chỉnh thể bao hàm và gắn kết lẫn nhau tạo nên những cái chung, những triết lý mang tính thế giới quan, trong đó tích trữ những kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được. Chúng không phải là những phạm trù triết học dù chúng phản ánh hiện thực, thể hiện thành những quy tắc, chuẩn mực của hoạt động, thành những triết lý, thành các cái chung văn hóa. Các triết lý có thể hoạt động và phát triển cả ở bên ngoài các hệ thống triết học, nhưng chúng lại vốn có trong các nền văn hóa mà ở đó, chưa có những hình thức phát triển của các hệ thống triết học.

    Các triết lý xuất hiện, phát triển và hoạt động trong đời sống xã hội và cá nhân, mỗi yếu tố đều hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, liên hệ với nhau. Trong các triết lý đã có thể hiện những quan niệm khác nhau về các yếu tố cơ bản và các mặt của hoạt động sống của con người: vị trí con người, các quan hệ xã hội, đời sống tinh thần và các giá trị của cuộc sống con người. Những quan niệm ấy ẩn chứa bên trong các nội dung, chương trình phương thức hoạt động chung của xã hội và được cụ thể hóa bằng những quan niệm cụ thể hơn, định hướng cho hoạt động của các cá nhân và cộng đồng.

    Trong các triết lý mang tính thế giới quan có thể có những phương án sống và hoạt động riêng, đặc trưng cho những kiểu văn hóa khác nhau và ăn sâu trong ý thức con người. Đồng thời chúng cũng gắn liền với những nội dung, phương thức, chương trình hành động của quá khứ lẫn tương lai, thể hiện những đặc điểm của phương thức giao tiếp và hoạt động của con người, của việc bảo tồn, chuyển tải kinh nghiệm xã hội và thang bậc giá trị. Chúng mang đặc trưng dân tộc và chủng tộc trong mỗi nền văn hóa, xác định đặc điểm của các nền văn hóa khác nhau, ý nghĩa của những triết lý trong văn hóa sẽ được các cá nhân thận thức và chúng sẽ xác định tầm quan niệm về thế giới, hành động và cách xử thế của các cá nhân. Ý nghĩa của những triết lý ở tầm nhóm và cá nhân sẽ được hiệu chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của họ.

    Hoạt động của các chương trình sinh học (bản năng ăn uống, tự bảo vệ, tính dục .v.v.. ) ở con người trải qua quá trình xã hội hóa, giáo dục, được thực hiện dưới hình thức triết lý văn hóa xác định. Rất nhiều những biểu hiện có thể có của các chương trình sinh học bị cấm do văn hóa. Văn hóa “cấm kỵ” nhiều tham vọng, ước muốn thể hiện tự do các bản năng động vật thông qua việc giáo dục, rèn luyện con người ngay từ thời thơ ấu; văn hóa bao hàm cả cái vô thức xã hội, được di truyền giữa các thế hệ, giữa người này với người kia. ở góc độ này, văn hóa cũng như các triết lý nói chung mang ý nghĩa và giá trị xã hội rất to lớn (1)

    Tuy nhiên, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa của riêng mình. Trong văn hóa dân tộc có những định đề, nguyên tắc, cách hành xử được thể hiện theo cách riêng. Điều đó có nghĩa là dân tộc nào cũng có những triết lý điều chỉnh cuộc sống và hoạt động của mình. Dân tộc nào cũng có nền văn hóa của mình, có những tư tưởng triết học và đặc biệt, có rất nhiều những triết lý phong phú, đa dạng. Nhưng không phải dân tộc nào cũng có các hệ thống triết học bác học, hàn lâm riêng. Các hệ thống triết học bác học, hàn lâm được các nhà tư tưởng tổng kết từ sự phát triển của khoa học, thực tiễn và lịch sử xã hội, hay nói cách khác, là sự phát triển của văn hóa dân tộc, trong đó có cả các hệ thống triết học bác học đã được xây dựng trước đó.

    là nguồn nuôi dưỡng các hệ thống triết học, các tư tưởng triết học; là điều kiện, chất liệu và nguồn gốc cho sự phát triển của triết học. Một dân tộc có thể không có hệ thống triết học riêng nhưng không thể không có văn hóa riêng của mình. Không có văn hóa riêng của mình, dân tộc sẽ không thể tồn tại được. Văn hóa là điều kiện cần thiết, tất yếu của sự tồn tại của mỗi dân tộc cả về phương diện đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Theo nghĩa đó, văn hóa cũng là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của các hệ thống triết học.

    Trong mỗi một nền văn hóa dân tộc bao giờ cũng bao hàm những triết lý về con người, cuộc sống, xã hội và thế giới nói chung. Nhưng đó chưa phải là hệ thống triết học. Những cái chung, những triết lý đó có thể rời rạc, tản mạn, không liên kết chặt chẽ, lôgíc được với nhau, mặc dù chúng có thể là những triết lý sâu sắc. Chúng thể hiện sự suy tư, đúc kết kinh nghiệm, tri thức của con người về những mặt, những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ trong đời sống. Chúng có thể được thể hiện bằng ca dao, tục ngữ, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, cách hành xử trong cuộc đời. Đối với người Việt Nam, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” từ lâu đã là một triết lý sống, một cách hành xử trong quan hệ giữa người với người. Nhưng đó chưa phải là triết học, càng chưa phải là một hệ thống triết học.

    Khác với các hệ thống triết học bác học do các nhà tư tưởng, các nhà khoa học hoàn toàn xác định tạo ra, các triết lý, thường là Vô danh, xuất hiện và tồn tại trong các hình thức khác nhau: ca dao, tục ngữ, trong cuộc sống thường ngày, trong kiến trúc, v.v.. Không thể xác định được chính xác thời gian ra đời của một cái chung, một triết lý cụ thể nào đó. Nhưng có thể xác định được tác giả và thời gian xuất hiện của một hệ thống triết học cụ thể. Những triết lý, những cái chung phong phú và đa dạng đó tồn tại lâu đời trong cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc, nhưng chúng chỉ có thể tồn tại bên cạnh nhau, phản ánh các mặt, các quá trình cụ thể của đời sống xã hội mà không thể tạo thành một hệ thống triết học có kết cấu lôgíc bên trong, như một lý thuyết hay hệ thống lí luận triết học. Chúng không thể có tính khái quát cao và tính hệ thống chặt chẽ như các hệ thống triết học bác học.

    Các triết lý đó nằm ngay trong văn hóa dân tộc, chúng không tách rời mà gắn chặt với văn hóa theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp, trong cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần. Chúng hoà vào văn hóa dân tộc và là một yếu tố cấu thành căn bản có ý nghĩa quyết định chiều sâu của văn hóa dân tộc. Ở một góc độ nhất định, có thể nói, các triết lý ấy chính là lớp trầm tích cô đọng của văn hóa dân tộc. Tuy không phải là toàn bộ nền văn hóa, nhưng chúng là yếu tố cốt lõi tạo nên chất lượng của nền văn hóa, làm cho văn hóa phong phú và sâu sắc hơn.

    Mặt khác, chính văn hóa dân tộc là nguồn sữa bất tận nuôi dưỡng và phát triển các triết lý. Quy mô, cường độ và năng lực lao động của một dân tộc càng lớn, nền văn hóa càng phát triển thì càng làm cho các triết lý của họ phong phú, sâu sắc, đa dạng, toàn diện, thể hiện đời sống con người và xã hội đầy đủ hơn. Sự phát triển của văn hóa dân tộc cung cấp chất liệu cho sự xuất hiện, tồn tại và phát triển các triết lý. Theo chiều ngược lại, các triết lý lại có tác dụng định hướng và thúc đẩy các hoạt động, hành vi và giao tiếp của con người, theo hướng có văn hóa, sáng tạo, mở rộng và phát triển văn hóa. Các triết lý là những khuôn mẫu, định hướng và do vậy, là cơ sở trực trếp cho sự phát triển tiếp theo của văn hoá.

    Chính vì vậy, các triết lý là bộ phận cấu thành cốt lõi và quan trọng của văn hóa. Hơn nữa, trong mỗi nền văn hóa dân tộc, các triết lý thường gần gũi, gắn bó trực tiếp với đời sống thường ngày của con người, nó được truyền tải thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình; được con người tiếp thu qua kinh nghiệm, học hỏi ở bạn bè… Mặt khác, các triết lý mới đạt tầm kinh nghiệm chứ chưa phải ở tầm trình độ lý luận. Do vậy, chúng dễ hiểu, dễ vận dụng, sát hợp với tâm thức, bản sắc, tính cách của cộng đồng và dễ đi sâu vào con người, dễ tiếp thu và định hướng hoạt động, giao tiếp của con người nhẹ nhàng hơn so với các nguyên lý lý luận trong các hệ thống triết học.

    Thực tiễn cho thấy, mọi nền văn hóa dân tộc không thể thiếu vắng các triết lý, bởi đó chính là những định hướng hoạt động, giao tiếp và phát triển của họ. Một nền văn hóa càng phát triển thì số lượng và chiều sâu của các triết lý càng lớn. Càng gần với hiện đại thì số lượng và chiều sâu, tính đa dạng, đa diện của toàn bộ các triết lý càng lớn. Càng ngược về quá khứ xa xưa thì số lượng và chiều sâu, tính đa diện và đa dạng của tổng thể các triết lý càng nhỏ lại. Khi hệ thống các triết lý tăng thêm cả về số lượng lẫn chiều sâu thì những yếu tố khác của văn hóa dân tộc cũng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, bởi các triết lý phát triển và mở rộng đến đâu thì chúng mở đường, tạo hướng, dựng khuôn mẫu cho các hành vi, giao tiếp và hoạt động để tạo ra những giá trị văn hóa mới, môi trường văn hóa mới, sản phẩm văn hóa mới.

    Văn hóa dân tộc là môi trường sống, nguồn nuôi dưỡng các hệ thống triết học bác học. Các hệ thống triết học bác học là sản phẩm trước hết của nền văn hóa dân tộc, chúng được tích tụ, chưng cất và thăng hoa qua tài năng nhận thức, suy tư và bản lĩnh của các triết gia. Không chỉ chất liệu của các hệ thống triết học bác học được tích tụ và trầm lắng, tinh luyện từ văn hóa mà cả năng lực nhận thức, suy tư và bản lĩnh cùng những phẩm chất khác của các triết gia sáng tạo nên các hệ thống triết học bác học cũng đều được nẩy mầm, nuôi dưỡng trong nền văn hóa dân tộc.

    Bản thân các hệ thống triết học bác học cũng là một yếu tố cấu thành cơ bản và quan trọng của văn hóa dân tộc, nếu nền văn hóa dân tộc đó có các hệ thống triết học bác học. Không thể nói rằng phải có một nền văn hóa phát triển cao mới có thể có được các hệ thống triết học bác học. Nhưng không có một nền văn hóa dân tộc phát triển đến một mức độ nhất định thì không thể có các hệ thống triết học bác học. Trong lịch sử phát triển của các dân tộc trên thế giới từ thời cổ đại đến nay, các hệ thống triết học bác học đều được ra đời trong lòng những nền văn hóa phát triển sâu rộng và rực rỡ: Hy Lạp, La Mã cổ đại, Ấn Độ, Trung Hoa, Đức, Pháp, Anh, Nga… Mặt khác, cũng phải thấy một thực tế là mỗi một dân tộc đều có nền văn hóa riêng của mình bao chứa trong đó vô vàn các triết lý khác nhau.

    Trong nền văn hóa dân tộc, các triết lý là nguồn dinh dưỡng trực tiếp của các hệ thống triết học bác học, bởi chúng đã được chưng cất, gạn lọc, tồn tại dưới dạng những tri thức khái quát, những định hướng cho các hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người. Một nền văn hóa chưa phát triển đến mức có những triết lý thì chưa thể có được các hệ thống triết học bác học. Các yếu tố khác của nền văn hóa cũng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào sự hình thành và phát triển của tư duy triết học, và các tư tưởng triết học, các hệ thống triết học bác học. Nhưng tác động thông qua các triết lý là tác động cơ bản và quan trọng nhất. Giống như các tác phẩm văn học bác học, các hệ thống triết học bác học cũng được nuôi dưỡng từ chính nền văn hóa dân tộc.

    Các triết lý đơn lẻ thường không dựa trên lập luận lôgíc, mức độ khái quát thấp; do đó, tính hệ thống của chúng không cao như trong các hệ thống triết học bác học. Là kết quả của sự tổng kết, khái quát thành tựu phát triển của khoa học, của đời sống xã hội, của kinh nghiệm lịch sử và cá nhân, nói cách khác, là sự khái quát, tổng kết các bước phát triển của văn hoá; do đó, tính khái quát của các hệ thống triết học bác học cao hơn các triết lý và văn hóa nói chung. Các triết lý thường phản ánh các kinh nghiệm, sự việc, hành động đơn lẻ, tản mạn, rời rạc, không thể hiện được những quy luật chung hoặc bản chất sâu xa của hiện tượng, quá trình: Bởi vậy, nó không thể mang tính hệ thống, tính lập luận. Nhưng nó lại là chất liệu quan trọng cho các hệ thống triết học bác học, là khâu trung gian không thể thiếu giữa các yếu tố, bộ phận, tầng bậc khác của văn hóa với các hệ thống triết học của dân tộc đó. Cả hai dạng đặc biệt này (triết học và triết lý) trong văn hóa dân tộc bổ sung lẫn nhau tạo thành thế giới quan, nhân sinh quan chung của dân tộc đó, có tác dụng định hướng cho con người trong giao tiếp và hoạt động thực tiễn.

    Cùng với sự phát triển của văn hóa và đời sống dân tộc, các triết lý cũng như triết học biến đổi không ngừng. Có những triết lý sẽ mất tác dụng và bị quên lãng, có những triết lý mới nảy sinh phản ánh những hiện tượng, sự vật, quá trình mới, cũng như có hệ thống triết học sẽ đi dần vào quên lãng. Những hệ thống triết học mới đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của đời sống xã hội sẽ ra đời và phát triển. Những người của thời đại nguyên thuỷ hoặc thời đại nô lệ có những triết lý mà ngày nay con người hiện đại không có. Ngược lại, những người hiện đại đang có những triết lý mà người cổ đại không thể có. Chắc chắn là người nguyên thuỷ không nói “quý như vàng”, một triết lý mà người hiện đại vẫn thường dùng. Tình hình cũng tương tự như vậy trong các hệ thống triết học bác học. Những hệ thống triết học mới của thời đại sau bao giờ cũng kế thừa các triết lý, tư tưởng, lập luận, thành tựu của các hệ thống triết học trước đó, cải biến chúng cho phù hợp với hệ thống triết học mới, thu nhận các triết lý mới và những yếu tố mới khác của nền văn hoá.

    Triết học mới ra đời lại bổ sung, khắc phục những thiếu sót nhất định của văn hóa dân tộc thúc đẩy nó phát triển lên một trình độ cao hơn. Triết học vừa thể hiện sự phản tư của văn hóa dân tộc, vừa là một mặt cơ bản, một khu vực trọng yếu của văn hóa dân tộc. Triết học chính là văn hóa dân tộc ở tầm lý luận cao nhất, là sự khái quát các thành tựu của văn hóa trong các lĩnh vực khác nhau từ khoa học đến thực tiễn, từ trí thức đến kinh nghiệm sống, từ quá khứ lịch sử đến hiện tại và tương lai. Chính vì vậy triết học có tác dụng định hướng thế giới quan cho sự phát triển trếp theo của văn hóa dân tộc, chỉ đạo hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người trong sáng tạo văn hóa mới, trong tiếp nhận và hưởng thụ các thành tựu văn hóa nói chung.

    Triết học muốn đạt đến đỉnh cao lý luận thì phải tổng kết và khái quát được sự phát triển của toàn bộ các lĩnh vực văn hóa. Điều đó đòi hỏi các nhà triết học phải có nhãn quan văn hóa rộng lớn, sự hiểu biết rộng và sâu sắc các lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hóa dân tộc. Triết học càng đứng ở đỉnh cao lý luận, phạm vi và mức độ khái quát, tổng kết càng sâu sắc sẽ càng có tác động định hướng lớn cho nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hóa. Sự tác động định hướng này có thể thông qua con đường trực tiếp bằng cách tiếp nhận các tri thức lý luận triết học, có thể bằng con đường gián tiếp, thông qua việc tiếp nhận các triết lý nằm trong chính hệ thống triết học hoặc được triết học cải biến, chỉnh sửa, chính xác hóa trong quá trình phát sinh và tồn tại. Mỗi con người sống, hoạt động và giao tiếp luôn được chỉ đạo bởi một số lý luận triết học và triết lý xác định.

    Trong ý thức và cuộc sống của mỗi người, dù tự giác hoặc không tự giác thì họ vẫn bị các triết lý và triết học chi phối. Toàn bộ văn hóa, trong đó cốt lõi là các triết lý và triết học tạo thành khung mẫu, chuẩn mực, giá trị, thước đo, định hướng của các hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người. Trong quan hệ với văn hóa, toàn bộ các triết lý và triết học lại tạo thành một hệ thống khung mẫu, chuẩn mực, giá trị, thước đo, định hướng, cơ sở, nền tảng cho sự sáng tạo, tiếp nhận và hưởng thụ văn hóa của con người. Mặt khác, đời sống văn hóa, trong quá trình phát triển lại góp phần làm bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, sai lầm của các triết lý và hệ thống triết học; từ đó, hoàn thiện, sửa chữa hoặc loại bỏ chúng ra khỏi ý thức và cuộc sống của con người.

    Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển, các triết lý và hệ thống triết học khi tạo thành khung mẫu, chuẩn mực, giá trị, thước đo, định hướng cho văn hóa thì chúng lại có thể trói buộc, kìm hãm sự phát triển của văn hóa, đặc biệt là kìm hãm tư duy và năng lực sáng tạo văn hóa của con người. Các triết lý, hệ thống triết học đã lạc hậu, lỗi thời, hoặc có sai lầm thường bắt đầu có tác dụng ngược bằng việc thể hiện những mâu thuẫn của chúng với các triết lý, hệ thống triết học và với văn hóa nói chung, thậm chí giữa chúng với văn hóa sẽ bắt đầu một thời kỳ xung đột. Trong quá trình xung đột văn hóa dần dần thể hiện nhu cầu đổi mới, thay thế các triết lý và triết học cũ bằng các triết lý và triết học mới. Đồng thời văn hóa sẽ tạo ra, bồi đắp và tích tụ dần các chất liệu cho sự ra đời các triết lý mới hoặc hệ thống triết học mới.

    Sự xung đột giữa triết học và văn hóa dần tạo nên những tiền đề văn hóa cho việc giải quyết cuộc xung đột ấy và sau đó là các phương tiện giúp cho việc giải quyết xung đột .Văn hóa sẽ tiến triển từng bước, giải quyết dần các vấn đề đơn lẻ, nhỏ bé và tiến tới những vấn đề lớn hơn, tạo ra những chất liệu văn hóa mới, đáp ứng những đòi hỏi mới của sự phát triển, bổ sung vào kho tàng văn hóa dân tộc những kiến thức mới, những triết lý mới, những giá trị văn hóa mới. Trên cơ sở tích tụ đó, văn hóa đẩy triết học làm nên những đột phá mới, tạo ra các hệ thống triết học mới hơn, phù hợp hơn với sự phát triển. Văn hóa tham gia sàng lọc, gạt bỏ, bảo tồn, phát huy và chuyển tải các giá trị của triết học cũ vào triết học mới.

    Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời cũng là nền tảng tinh thần của triết học. Văn hóa, theo nghĩa rộng, là nền tảng của sự sinh tồn của loài người, đồng thời cũng là nền tảng quyết định sự ra đời, tồn tại, phát triển và diệt vong của các hệ thống triết học. Văn hóa dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều là động lực của sự phát triển xã hội, trong đó có sự phát triển của triết học. Các dân tộc có thể vay mượn các hệ thống triết học nhưng không thể vay mượn các triết lý và càng không thể vay mượn nền văn hóa nói chung. Việc du nhập, vay mượn, cải biên, tiếp nhận các hệ thống triết học từ bên ngoài cũng bị quy định bởi văn hóa dân tộc nói chung và tổng thể các triết lý nói riêng.

    Không hoàn toàn đồng nhất, nhưng cũng có thể hình dung rằng triết học là ánh hào quang rực rỡ của quả cầu lửa văn hóa. Quả cầu ấy càng lớn, càng sáng thì ánh hào quang càng rực rỡ, càng tỏa xa. Văn hóa, các triết lý và các hệ thống triết học là ba tầng bậc khác nhau của văn hóa, đó chính là “ba trong một” – một nền văn hóa theo nghĩa rộng.

    (l) Xem: Lương Việt Hải. Lý luận và thực tiễn hiện đại hóa xã hội ở các nước Đông và Đông Nam Á, Mátxcơva, 998; L.I.Ionin. Xã hội học văn hóa, Mátxcơva. 996; V.X.Stepin. Thời đại của những biến đổi và kịch bản của tương lai. Mátxcơva,. 996; Văn hóa// Bách khoa triết học mới, Mátxcơva, 200; A. ra.Phlier. Di truyền văn hóa, Mátxcơva, 995, G.F.Mclean. Tự do, truyền thông văn hóa và trên bộ, CRVP, 2000; Lương Đình Hải. Toàn cầu hóa và văn hóa dân tộc, Istanbul, 2003;…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa, Nền Văn Hóa Và Nền Văn Hóa Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Những Giá Trị Nền Tảng Của Triết Học Phật Giáo
  • Những Vấn Đề Triết Học Phật Giáo
  • Phật Giáo Như Là Một Triết Học Hay Một Tôn Giáo
  • Triết Học Phân Tích Về Giáo Dục: Thịnh Và Suy
  • Văn Hóa, Triết Lý Và Triết Học*

    --- Bài mới hơn ---

  • Tình Mẹ Dưới Góc Nhìn Của Triết Học Con Người
  • Những Biến Đổi Của “Đạo Hiếu” Trong Gia Đình Việt Nam Hiện Nay
  • Tìm Hiểu Về Đạo Lão (Lão Giáo)
  • Mâu Thuẫn Biện Chứng – Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam
  • Quan Điểm Về Con Người Trong Triết Học Của Khổng Tử
  • PGS.TSKH. Lương Đình Hải, Viện Nghiên cứu Con người,

    Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

     

    Bài viết góp phần luận giải mối quan hệ giữa văn hóa, triết lý và triết học. Văn hóa là nguồn nuôi dưỡng các triết lý, các tư tưởng và hệ thống triết học, là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển các hệ thống triết học. Các triết lý, các hệ thống triết học lại là những bộ phận cốt lõi nhất trong nền văn hóa của một dân tộc. Xét trên nhiều khía cạnh, triết lý luôn ở tầm thấp hơn so với các hệ thống triết học, song nó chính là chất liệu của các hệ thống triết học bác học. Theo tác giả, văn hóa, các triết lý và các hệ thống triết học chính là ba tầng bậc khác nhau của văn hóa theo nghĩa rộng.

    Văn hoá theo gốc tiếng La tinh (cultura) có nghĩa là canh tác, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển, tôn trọng. Ở Việt Nam hiện nay, dù với các sắc thái khác nhau các nghĩa gốc như vậy cũng có mặt ở một mức độ nhất định trong khái niệm văn hoá với nghĩa rộng rãi của nó. Văn hoá là hệ thống các chương trình (programs), phương thức hoạt động sống trên sinh học của con người (gồm cả hành vi, hoạt động và giao tiếp). Hệ thống ấy được hình thành và phát triển qua quá trình lịch sử và giúp cho việc duy trì và cải biến đời sống xã hội trên tất cả mọi mặt của nó. Các chương trình, phương thức hoạt động ấy được hợp thành bởi các tri thức, chuẩn mực, thói quen, lý tưởng, cách hành động, tư tưởng, học thuyết, lòng tin, mục tiêu, định hướng giá trị… Những cái đó lại rất đa dạng, được tích luỹ lâu đời, tạo thành kinh nghiệm xã hội – một yếu tố cấu thành văn hoá. Văn hoá là cái được di truyền xã hội từ thế hệ này đến thế hệ khác.

    Trong quá trình lịch sử khái niệm văn hoá cũng thay đổi và phát triển. Ở giai đoạn đầu tiên văn hoá có nghĩa là canh tác đất đai, sau đó có nghĩa là các quá trình và các kết quả chế tác các vật liệu tự nhiên. Giai đoạn tiếp theo văn hóa lại bao hàm cả nghĩa là quá trình nuôi dưỡng và giáo dục con người. Nhà triết học La mã cổ đại, Xixeron là người đầu tiên sử dụng nghĩa mới này của khái niệm văn hóa. Từ nửa cuối thế kỷ XVIII khái niệm văn hóa được sử dụng rộng rãi trong triết học và các nghiên cứu xã hội khác. Văn hoá được xem như là khía cạnh quan trọng nhất của đời sống xã hội, gắn liền với phương thức hoạt động sống của con người, nhờ đó mà phân biệt được sự tồn tại của con vật với cuộc sống của con người. Từ sau đó bắt đầu xuất hiện các nhánh quan điểm khác nhau về văn hóa. Văn hóa được xem như quá trình phát triển lý trí và các hình thức sống có lý trí của con người, trái ngược với tính chất hoang dại và man rợ ở thời kỳ tiền sử. Văn hóa là đời sống tinh thần của con người được duy trì và phát triển trong tiến trình lịch sử, là sự tiến hóa của ý thức đạo đức, luân lý, tôn giáo, triết học, khoa học, pháp luật và ý thức chính trị, thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại.

    Mặt khác người ta cũng xem văn hoá như là những điểm đặc thù của một xã hội. Văn hoá là hệ thống các giá trị và tư tưởng quy định kiểu tổ chức xã hội ở những thời kỳ lịch sử khác nhau. Các hệ thống đó là khác nhau và tương đối độc lập với nhau, trong chúng bao gồm toàn bộ tài sản văn hoá vật chất, tập quán chủng tộc, các dạng ngôn ngữ và các hệ thống biểu trưng khác.

    Trong lịch sử, ban đầu người ta thường đồng nhất văn hoá với tất cả những gì do con người tạo ra. Sau đó người ta xem văn hoá chỉ là tính tích cực của con người trong hành vi, hoạt động và giao tiếp, nhằm tạo ra một thế giới mới – thế giới nhân tạo khác với giới tự nhiên. Văn hoá như là phương thức thực hiện và điều chỉnhcác hoạt động của con người, là phương diện đặc biệt của đời sống xã hội. Nó tạo ra và và truyền tải từ thế hệ này đến thế hệ khác các chương trình (programs) trên sinh học về hành vi, hoạt động và giao  tiếp của con người. Như vậy, văn hoá không đồng nhất với xã hội mà  chỉ là một phương diện đặc biệt của đời sống xã hội, hiện diện trong tất cả các trạng thái xã hội khác nhau và cũng không có một hiện tượng xã hội nào không chịu ảnh hưởng của văn hoá, hay không mang dấu ấn của văn hoá.

    Văn hoá như một hệ thống mã (code) thông tin, mã hoá các kinh nghiệm xã hội của con người. Kinh nghiệm ấy trong quan hệ với các dạng hành vi, hoạt động, giao tiếp, và do vậy, với toàn bộ cấu trúc và trạng thái xã hội do chúng tạo ra, thể hiện như là những chương trình trên sinh học về hành vi, hoạt động và giao tiếp. Nếu như trong các hệ sinh học bao giờ cũng có những kết cấu thông  tin đặc biệt để quản lý và điều chỉnh hệ thống sinh học ấy (AND, ARN), được gọi là gen, thì trong các hệ thống xã hội gen di truyền ấy là văn hoá. Các dạng hành vi, hoạt động, giao tiếp được điều chỉnh bằng các “mã văn hoá” nhằm sản xuất và phát triển các yếu tố, các tiểu hệ thống xã hội và các quan hệ của chúng, đặc trưng cho từng kiểu tổ chức xã hội cụ thể, (tức là đặc trưng cho giới tự nhiên thứ hai), các cộng đồng và các thiết chế xã hội, các loại nhân cách đặc trưng cho xã hội đó. Điều đó tương tự như mã di truyền sinh học điều khiển trao đổi chất để tạo nên các tế bào và các bộ phận của cơ thể sinh vật.

    Ở con người, ngoài mã di truyền sinh học còn một hệ thống mã di truyền khác. Đó là mã di truyền xã hội, có chức năng chuyển tải từ người này qua người khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác toàn bộ khối các kinh nghiệm xã hội. Để có thể truyền tải, bảo tồn được thì khối các kinh nghiệm đó phải được thể hiện dưới dạng các loại ký hiệu khác nhau như âm thanh, chữ viết, tiếng nói, điệu bộ, hình ảnh…. Hệ thống các ký hiệu như vậy rất đa dạng, phong phú mới có thể ghi nhận được khối các kinh nghiệm xã hội thường xuyên được đổi mới, bổ sung và phát triển. Hệ thống ký hiệu ấy cũng là một trong những yếu tố cấu thành của văn hóa.

    Trong giới tự nhiên thứ hai các sản phẩm do con người tạo nên cũng là những ký hiệu dưới các dạng thức và ý nghĩa khác nhau. Các vật thể văn hóa vật chất đóng vai trò kép trong đời sống con người: một mặt, chúng phục vụ trực tiếp mục tiêu thực tiễn, cụ thể, cho các nhu cầu hàng ngày của con người, như ăn, mặc, ở, đi lại… Mặt khác, chúng lại là phương tiện bảo tồn, chuyển giao các chương trình (programs), ý nghĩa, nội dung, phương thức điều chỉnh hoạt động, hành vi, giao tiếp. Chỉ trong phương diện thứ hai này giới tụ nhiên thứ hai mới mang ý nghĩa và nội dung văn hóa.

    Sự phát triển của văn hóa tạo ra các ý nghĩa, nội dung, các phương thức điều chỉnh các họat động của con người, tạo ra những hệ thống mã di truyền mới, để bảo tồn và di truyền các ý nghĩa, nội dung và phương thức điều chỉnh đó. Sự phát triển xã hội gắn liền với việc hình thành các dạng hoạt động mới, do đó làm xuất hiện các chương trình, phương thức mới cùng với những mã di truyền văn hóa mới. Trong quá trình phát triển cũng diễn ra sự phân rã, kết hợp, loại trừ, bổ sung lẫn nhau giữa các chương trình, phương thức mới và cũ, hiện đại và truyền thống.

    Sự chia tách các lĩnh vực hoạt động tinh thần dẫn đến phát sinh những nôị dung, ý nghĩa, phương thức điều chỉnh mới với tính cách là những cấu trúc gián tiếp và phái sinh trong quan hệ với các dạng cụ thể của thực tiễn. Theo sự vận động của lịch sử, các lĩnh vực độc lập của văn hóa tinh thần đã dần dần xuất hiện: tôn giáo, nghệ thuật, đạo đức, khoa học, ý thức chính trị và pháp quyền, … chúng tác động lẫn nhau và tham gia điều chính các hoạt động, các hành vi và giao tiếp trong đời sống hàng ngày của con người.

    Trong một giai đoạn phát triển xác định của xã hội các mã di truyền xã hội được hình thành, trực tiếp hoặc gián tiếp, điều chỉnh các hoạt động của con người, dần dần làm nên trật tự thứ bậc của chúng. Có thể phân chúng thành ba bậc: 1- Những tàn dư văn hóa quá khứ; 2- văn hóa đương đại (các chương trình, nội dung, phương thức điều chỉnh hoạt động đang tạo nên định dạng xác định của văn hóa hiện tồn; 3- Những yếu tố thuộc về nền văn hóa tương lai (những nguyên tắc đạo đức mới, những tư tưởng về xã hội tương lai,…). Ba trình độ thứ bậc, ba loại văn hóa đó có thể được cụ thể hóa, biến dạng và chuyển hóa để điều chỉnh hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người và có thể thống nhất để tạo thành một hệ thống chỉnh thể.

    Các thành tố văn hoá trong hệ thống chỉnh thể bao hàm và gắn kết lẫn nhau tạo nên những cái chung (universals), những triết lý mang tính thế giới quan, trong đó tích trữ những kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được. Nhưng chúng lại không phải là những phạm trù triết học mà là những phản tư (reflec) hiện thực, thể hiện thành các cái chung (universals) văn hoá, những quy tắc, chuẩn mực, những triết lý. Những cái chung mang tính thế giới quan, các triết lý có thể hoạt động và phát triển cả ở bên ngoài sự phản tư triết học. Chúng vốn có trong các nền văn hoá mà ở đó chưa có những hình thức phát triển của tri thức triết học.

    Có thể phân chia các cái chung của văn hoá thành hai khối lớn có quan hệ lẫn nhau. Khối thứ nhất ghi nhận những đặc điểm nền tảng, chung nhất  của các khách thể, gồm cả hoạt động của con người. Chúng là cấu trúc nền tảng của ý thức con người và mang tính chất phổ quát: không gian, thời gian, vận động, qâun hệ, chất lượng, nhân quả,… Khối thứ hai của những cái chung văn hoá là những loại phạm trù đặc biệt, xác định con người như là chủ thể của hoạt động, giao tiếp, quan hệ, như con người, xã hội, ý thức, thiện, ác, niềm tin, hy vong, … Khối những cái chung này ghi nhận kinh nghiệm đưa cá nhân vào hệ thống các quan hệ và giao tiếp xã hội.

    Các cái chung (universals) văn hoá, các triết lý xuất hiện, phát triển và hoạt động như là một hệ thống chỉnh thể, mỗi yếu tố hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, đều có liên hệ với nhau. Trong hệ thống cái chung văn hoá đã có thể hiện những quan niệm chung nhất về các yếu tố cơ bản và các mặt của hoạt động sống của con người: vị trí con người, các quan hệ xã hội, đời sống tinh thần và các giá trị của cuộc sống con người. Những quan niệm ấy ẩn chứa bên trong các nội dung, chương trình, phương thức hoạt động chung của xã hội và được cụ thể hoá bằng những quan niệm cụ thể hơn, đặc trưng cho một dạng tổ chức xã hội xác định.

    Trong các cái chung (universal) mang tính thế giới quan của văn hoá có thể có những phương án sống và hoạt động riêng, đặc trưng cho những kiểu văn hoá khác nhau và ăn sâu trong ý thức con người. Đồng thời chúng cũng gắn liền với những nội dung, phương thức, chương trình hành động của quá khứ lẫn tương lai, thể hiện những đặc điểm của phương thức giao tiếp và hoạt động của con người, của việc bảo tồn, chuyển tải kinh nghiệm xã hội và thang bậc giá trị. Chúng mang đặc trưng dân tộc và chủng tộc trong mỗi nền văn hoá, xác định đặc điểm của các nền văn hoá khác nhau.

    Các cái chung của văn hoá thực hiện đồng thời ít nhất ba chức năng trong hoạt động sống của con người: 1- Phân loại và sắp xếp kinh nghiệm xã hội đã và đang có theo kiểu “đóng gói” khái niệm để truyền cho các thế hệ, các cá nhân, các thời đại khác nhau; 2- Các cái chung văn hoá là cấu trúc cơ sở của ý thức con người ở một thời đại lịch sử cụ thể; 3- Các cái chung có liên hệ lẫn nhau tạo thành bức tranh khái quát về thế giới, tạo thành cái gọi là thế giới quan của thời đại, thể hiện quan niệm chung về con người và thế giới, thang bậc giá trị. Do đó, bức tranh ấy sẽ ấn định không chỉ tư duy mà cả xúc cảm của con người.

    Ý nghĩa của những cái chung (universals) văn hoá sẽ được các cá nhân nhận thức và chúng sẽ xác định tầm quan niệm về thế giới, hành động và cách xử thế của các cá nhân. Ý nghĩa của những cái chung văn hoá ở tầm nhóm và cá nhân sẽ được hiệu chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của họ.

    Nhiều học thuyết triết học trong lịch sử đã nhận thấy địa vị nền tảng của những cái chung văn hoá trong tồn tại người ở thời đại đã sản sinh ra học thuyết triết học đó. Ý nghĩa của những cái chung văn hoá nằm trong tất cả các lĩnh vực: trong ngôn ngữ thông thường, trong các hiện tượng của ý thức đạo đức, trong triết học, tôn giáo, nghệ thuật, kỹ thuật, pháp luật,v.v…

    Việc cải tạo xã hội luôn đòi hỏi phải có sự thay đổi những gía trị và ý nghĩa sâu xa của cuộc sống được ghi nhận trong các cái chung (universals) của văn hoá. Cải biến xã hội luôn gắn liền với cách mạng trong trí não, với việc phê phán những định hướng thế giới quan đang thống trị trước đó và vào thời điểm đó, với việc đề xuất những giá trị mới. Sẽ không có bất cứ thay đổi lớn nào trong xã hội nếu không có sự thay đổi trong văn hoá. Là chủ thể văn hoá, nhưng con người luôn là sự sáng tạo của văn hoá. Nó có nhân cách nhờ tiếp nhận các kinh nghiệm xã hội được chuyển tải trong văn hoá thông qua giáo dục, nuôi dưỡng, thông qua xã hội hoá, thông qua “di truyền xã hội”.

    Hoạt động của chương trình (program) sinh học (bản năng ăn uống, tự bảo vệ, tính dục, v.v…) ở con người trải qua quá trình xã hội hoá, giáo dục, được thực hiện dưới hình thức văn hoá xác định. Rất nhiều những biểu hiện có thể có của các chương trình sinh học bị cấm do văn hoá. Văn hoá “cấm kỵ” nhiều tham vọng, ước muốn thể hiện tự do các bản năng động vật thông qua việc giáo dục, rèn luyện con người ngay từ thời thơ ấu, văn hoá bao hàm cả cái vô thức – xã hội, được di truyền giữa các thế hệ, giữa người này với người kia.

    Mọi thay đổi trong văn hoá đều thông qua tính tích cực sáng tạo của cá nhân. Con người là sự sáng tạo của văn hoá, nhưng lại là chủ nhân sáng tạo ra nó. Mặc dù trong các nền văn hoá khác nhau khả năng và điều kiện cho sáng tạo là khác nhau. Sáng tạo trong các xã hội truyền thống rõ ràng là thua kém trong các xã hội công nghệ. Nếu trong xã hội truyền thống truyền thống được xếp lên trên thì trong xã hội công nghệ sáng tạo, đổi mới được xếp lên trên. Cũng như biến dị và di truyền đều quan trọng đối với sinh vật thì truyền thống và sáng tạo cũng quan trọng như nhau đối với xã hội và văn hoá. Văn hoá không chỉ sáng tạo, biến đổi cuộc sống mà còn bảo tồn những nền móng vững chắc của đời sống xã hội.

    Trong xã hội truyền thống các nền văn hoá giao lưu với nhau, vay mượn các thành quả của nhau, nhưng ít khi động chạm đến tầng sâu nền tảng của chúng.  Trong xã hội công nghệ sự tác động lẫn nhau giữa các nền văn hoá mạnh mẽ hơn. Các quá trình hiện đại hoá gắn liền với vay mượn, du nhập công nghệ mới, khoa học, hệ thống giáo dục đã làm thay đổi các giá trị cơ bản của văn hoá truyền thống. Hiện nay, với nhịp độ phát triển nhanh của công nghệ thì những biến đổi văn hoá càng lớn, vị trí, vai trò và quan hệ lẫn nhau giữa văn hoá bác học và văn hoá quần chúng cũng thay đổi mạnh mẽ. Đối thoại giữa các nền văn hoá là rất quan trọng. Tính chất đa dạng và sự tương tác lẫn nhau giữa các nền văn hoá là điều kiện cho sự phát triển của chúng.

    Tuy nhiên, dù tác động của công nghệ mạnh đến mức nào thì mỗi dân tộc vẫn có nền văn hoá của riêng mình. Trong văn hoá dân tộc có những định đề, nguyên tắc, cách hành xử được thể hiện theo cách riêng. Người phương Đông, người Việt Nam và người châu Âu đều sử dụng mâm cơm khi ăn, nhưng mâm cơm của người phương Đông khác của người châu Âu: Người châu Âu ăn theo suất riêng, còn người phương Đông cả nhà dung chung một mâm và dùng chung các món ăn, người Việt Nam dùng đũa khi ăn con người châu Âu thì dùng thìa, dĩa,…

    Dân tộc nào cũng có nền văn hoá của mình, nhưng không phải dân tộc nào cũng có các hệ thống triết học bác học, hàn lâm riêng của mình. Dân tộc nào cũng có những tư tưởng triết học của mình và đặc biệt có cả hệ thống những cái chung, những triết lý phong phú, đa dạng. Các hệ thống triết học bác học, hàn lâm được các nhà tư tưởng tổng kết từ sự phát triển của khoa học, thực tiễn và lịch sử xã hội, hay nói cách khác, là sự phát triển của văn hoá dân tộc, trong đó có cả các hệ thống triết học bác học đã được xây dựng trước đó.

    Văn hoá là nguồn nuôi dưỡng các hệ thống triết học, các tư tưởng triết học, là điều kiện và chất liệu, nguồn gốc và điều kiện cho sự phát triển của triết học. Một dân tộc có thể không có hệ thống triết học riêng nhưng lại không thể không có văn hoá riêng của mình. Không có văn hoá riêng của mình, dân tộc sẽ không thể tồn tại được. Văn hoá là điều kiện cần thiết, tất yếu của sự tồn tại của mỗi dân tộc cả về phương diện đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Theo nghĩa đó, văn hoá cũng là điều kiện tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của các hệ thống triết học.

    Từ thực tế lịch sử phát triển của các dân tộc trên thế giới và trong khu vực Đông Á có thể thấy trong mỗi một nền văn hoá dân tộc bao giờ cũng bao hàm những cái chung, những triết lý về con người, cuộc sống, xã hội và thế giới nói chung. Nhưng đó chưa phải là hệ thống triết học. Những cái chung, những triết lý đó có thể rời rạc, tản mạn, không liên kết chặt chẽ được với nhau mặc dù có thể đó là những cáichung, những triết lý sâu sắc. Chúng thể hiện sự suy tư, đúc kết kinh nghiệm, tri thức của con người về những mặt, những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ trong đời sống. Chúng có thể được thể hiện bằng ca dao, tục ngữ, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, cách hành xử trong cuộc đời. Đối với người Việt Nam: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” từ lâu đã là một triết lý sống một cách hành xử trong quan hệ giữa người với người. Nhưng đó chưa phải là triết học, càng chưa phải là một hệ thống triết học.

    Khác với các hệ thống triết học bác học do các nhà tư tưởng, các nhà khoa học hoàn toàn xác định tạo ra các triết lý, các cái chung thường là vô danh, xuất hiện và tồn tại trong các hình thức khác nhau: ca dao, tục ngữ, trong cuộc sống thường ngày, trong kiến trúc, v.v… Không thể xác định được chính xác thời gian ra đời của một cái chung, một triết lý cụ thể nào đó. Nhưng có thể xác định được tác giả và thời gian xuất hiện của một hệ thống triết học cụ thể. Các triết lý, các cái chung phong phú và đa dạng đó tồn tại lâu đời trong cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc, nhưng chúng chỉ có thể tồn tại bên cạnh nhau, phản ánh các mặt, các quá trình cụ thể của đời sống xã hội mà không thể tạo thành một hệ thống triết học có kết cấu bên trong, một hệ thống lí luận. Mức độ khái quát của chúng không thể cao và có tính hệ thống chặt chẽ như các hệ thống triết học bác học.

    Các triết lý, các cái chung đó nằm ngay trong văn hoá dân tộc, chúng không tách rời mà gắn chặt với văn hoá theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp, trong cả văn hoá vật chất lẫn văn hoá tinh thần. Chúng hoà lẫn vào trong văn hoá dân tộc và là những hạt cát nhỏ trong bãi cát văn hoá dân tộc, là một yếu tố cấu thành căn bản có ý nghĩa quyết định đến chiều sâu của văn hoá dân tộc. Ở một góc độ nhất định, có thể nói, các triết lý, các cái chung ấy chính là lớp trầm tích cô đọng của văn hoá dân tộc. Nó không phải là toàn bộ nền văn hoá, nhưng nó là yếu tố cốt lõi tạo nên chất lượng của nền văn hoá, làm cho văn hoá phong phú và sâu sắc hơn. Nó giống như những hạt thịt đã xay nhỏ trong một nồi xúp hay nồi cháo chúng ta vẫn ăn hàng ngày.

    Mặt khác, chính văn hoá dân tộc lại cũng là nguồn sữa bất tận nuôi dưỡng và phát triển các triết lý, các cái chung. Quy mô, cường độ và năng lực lao động của một dân tộc càng lớn, nền văn hoá càng phát triển thì càng làm cho các triết lý, các cái chung của họ phong phú, sâu sắc, đa dạng toàn diện, thể hiện đời sống con người và xã hội đầy đủ hơn. Sự phát triển của văn hoá dân tộc cung cấp chất liệu cho sự xuất hiện, tồn tại và phát triển các triết lý, các cái chung. Theo chiều ngược lạ, các triết lý, các cái chung lại có tác dụng định hướng và thúc đẩy các hoạt động và giao tiếp của con người, các hành vi của họ theo hướng có văn hoá, sáng tạo, mở rộng và phát triển văn hoá. Các triết lý là những khuôn mẫu, định hướng cho sự phát triển tiếp theo của văn hoá. Điều đó cũng có nghĩa rằng nó là cơ sở trực tiếp cho sự phát triển tiếp theo của văn hoá.

    Chính vì vậy là một bộ phận cấu thành của văn hoá nhưng nó là bộ phận cốt lõi và quan trọng. Hơn nữa triết lý trong mỗi nền văn hoá dân tộc thường là gần gũi, gắn bó trực tiếp với đời sống thường ngày của con người, nó được truyền tải thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, tiếp thu qua kinh nghiệm, học hỏi ở bạn bè… Các triết lý, các cai chung lại ở tầm kinh nghiệm hoặc kinh nghiệm chứ chưa phải nằm ở trình độ lý luận. Do vậy chúng dễ hiểu, dễ vận dụng, sát hợp với tâm thức, bản sắc, tính cách của cộng đồng nên chúng dễ dàng đi sâu vào con người, dễ tiếp thu và định hướng hoạt động, giao tiếp của con người nhẹ nhàng hơn so với các nguyên lý lý luận trong các hệ thống triết học.

    Thực tiễn cuộc sống của các dân tộc cho thấy các nền văn hoá dân tộc không thể thiếu vắng các triết lý, các cái chung bởi đó chính là những định hướng hoạt động, giao tiếp và phát triển của họ. Một nền văn hoá càng phát triển thì số lượng và chiều sâu của các triết lý càng lớn. Càng đi xa về hiện đại số lượng và chiều sâu và tính đa dạng đa diện của toàn bộ các triết lý càng lớn. Càng ngược về quá khứ xa xưa số lượng và chiều sâu, tính đa diện và đa dạng của tổng thể các triết lý càng bé lại. Điều quan trọng là khi hệ thống các triết lý tăng thêm cả về số lượng lẫn chiều sâu thì những yếu tố khác trong văn hoá dân tộc cũng phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu theo hướng phát triển của hệ thống các triết lý, bởi các triết lý phát triển và mở rộng đến đâu thì chúng mở đường, tạo hướng, dựng khuôn mẫu cho các hành vi, giao tiếp và hoạt động để tạo ra nhưng giá trị văn hoá mới, môi trường văn hoá mới, sản phẩm văn hoá mới.

    Bản thân các hệ thống triết học bác học cũng là một yếu tố cấu thành cơ bản và quan trọng của văn hoá dân tộc, nếu nền văn hoá dân tộc đó có các hệ thống triết học bác học. Khó có thể nói được rằng có một nền văn hoá phát triển cao mới có thể có được các hệ thống triết học bác học. Nhưng rõ ràng là trong lịch sử phát triển của các dân tộc trên thế giới, từ thời cổ đại đến nay, các hệ thống triết học bác học đều được ra đời trong các nền văn hoá phát triển sâu rộng và rực rỡ: Hy Lạp, La Mã cổ đại, Ấn Độ, Trung Hoa, Đức, Pháp, Anh…

    Văn hoá dân tộc là môi trường sống của các hệ thống triết học bác học, là nơi cung cấp thức ăn, nước uống, dưỡng khí và ánh sáng mặt trời cho các hệ thống triết học bác học đó. Giống như những cây ăn quả trong vườn được trồng trên những vườn văn hoá dân tộc càng màu mỡ, phì nhiêu, có nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng thích hợp thì cây càng phát triển, nhiều hoa trái. Các hệ thống triết học bác học là sản phẩm trước hết của nền văn hoá dân tộc được tích tụ, chưng cất và thăng hoa qua tài năng nhận thức, suy tư và bản lĩnh của các triết gia. Không chỉ chất liệu của các hệ thống triết học bác học được tích tụ và trầm lắng, tinh luyện từ văn hoá mà cả năng lực nhận thức, suy tư và bản lĩnh cùng tất cả những phẩm chất khác của các triết gia sáng tạo nên các hệ thống triết học bác học cũng đều được nẩy mầm, nuôi dưỡng trong nền văn hoá dân tộc. Có thể nói không có một nền văn hoá dân tộc phát triển đến một mức độ nhất định thì không thể có các hệ thống triết học bác học.

    Trong nền văn hoá dân tộc các triết lý là nguồn dinh dưỡng trực tiếp của các hệ thống triết học, bởi nó đã được chưng cất, gạn lọc, tồn tại dưới dạng những tri thức khái quát, những định hướng cho các hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người. Một nền văn hoá chưa phát triển đến mức có những triết lý thì chưa thể có được các hệ thống triết học bác học. Các yếu tố khác của nền văn hoá cũng có thể trực tiếp, có thể gián tiếp tác động vào sự hình thành và phát triển của tư duy triết học, của lịch sử hình thành, phát triển của tư tưởng triết học, của các hệ thống triết học bác học. Nhưng tác động thông qua các triết lý là tác động cơ bản và quan trọng nhất. Giống như văn hoá dân tộc là dòng sữa mẹ của các tác phẩm văn học bác học, văn hoá dân tộc cũng là nguồn sữa mẹ bất tận nuôi dưỡng các lý luận triết học, các hệ thống triết học bác học.

    Trong thực tiễn không có sự tách rời giữa văn hoá dân tộc và toàn bộ các triết lý của dân tộc tồn tại trong nền văn hoá đó. Các hệ thống triết học bác học cũng vậy, nhưng khác với hệ thống các triết lý, các hệ thống triết học bác học thuộc một tầng bậc khác về mức độ khái quát, về lập luận lôgíc và về tính hệ thống. Các triết lý đơn lẻ thường không dựa trên lập luận lôgíc, mức độ khái quát thấp, do đó tính hệ thống không cao như trong các hệ thống triết học bác học. Các hệ thống triết học bác học là kết quả của sự tổng kết, khái quát kết quả phát triển của khoa học, của đời sống xã hội, của kinh nghiệm lịch sử và cá nhân, có nghĩa là: nó là sự khái quát, tổng kết các bước phát triển của văn hoá, do đó, tính khái quát của nó cao hơn các triết lý và văn hoá nói chung. Các triết lý thường phản ánh các kinh nghiệm, sự việc, hành động đơn lẻ, tản mạn, rời rạc, không thể hiện được những quy luật chung hoặc bản chất sâu xa của hiện tượng, quá trình. Bởi vậy, nó không thể mang tính hệ thống, tính lập luận. Nhưng nó lại là chất liệu quan trọng cho các hệ thống triết học bác học, là khâu trung gian không thể thiếu giữa các yếu tố, bộ phận, tầng bậc khác của văn hoá với các hệ thống triết học của dân tộc đó. Cả hai dạng đặc biệt này trong toàn bộ nền văn hoá dân tộc bổ sung lẫn nhau tạo thành thế giới quan, nhân sinh quan chung của dân tộc đó có tác dụng định hướng chung cho con người hành động, giao tiếp và hoạt động trong đời sống hàng ngày.

    Với sự phát triển lịch sử của văn hoá và đời sống dân tộc nói chung, các triết lý cũng như triết học có sự biến đổi không ngừng. Có những triết lý sẽ mất tác dụng và bị quên lãng, có những triết lý mới nảy sinh phản ánh những hiện tượng, sự vật, quá trình mới cũng như có hệ thống triết học sẽ đi dần vào quên lãng. Những hệ thống triết học mới đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của đời sống xã hội và cá nhân sẽ ra đời và phát triển. Những người của thời đại nguyên thuỷ hoặc thời đại nô lệ có những triết lý mà ngày nay con người hiện đại không có. Ngược lại, những người hiện đại đang có những triết lý mà người cổ đại không thể có. Chắc chắn rằng người nguyên thuỷ sẽ không thể nói “Quý như vàng”, thứ triết lý mà người hiện đại vẫn thường hay dùng. Tình hình tương tự cũng có trong các hệ thống triết học bác học. Những hệ thống triết học mới của thời đại sau bao giờ cũng kế thừa các triết lý, tư tưởng, lập luận, thành tựu của các hệ thống triết học trước đó, cải biên chúng cho phù hợp với hệ thống triết học mới, thu nhận các triết lý mới và những yếu tố mới khác của nền văn hoá.

    Triết học mới ra đời lại thúc đẩy văn hoá dân tộc phát triển lên một bậc mới, thúc đẩy sự vận động của văn hoá dân tộc, bổ sung, khắc phục những thiếu sót nhất định của văn hoá dân tộc. Triết học vừa thể hiện sự phản tư của văn hoá dân tộc, vừa là một mặt cơ bản, một khu vực trọng yếu của văn hoá dân tộc. Triết học chính là văn hoá dân tộc ở tầm lý luận cao nhất, là sự khái quát các thành tựu của văn hoá trong các lĩnh vực khác nhau từ khoa học đến thực tiễn, từ tri thức đến kinh nghiệm sống, từ quá khứ lịch sử đến hiện tại và tương lai. Chính vì vậy, triết học có tác dụng định hướng thế giới quan cho sự phát triển tiếp theo của văn hoá dân tộc, chỉ đạo hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người trong sáng tạo văn hoá mới, trong tiếp nhận và hưởng thụ các thành tựu văn hoá nói chung.

    Triết học muốn ở đỉnh cao lý luận thì phải tổng kết và khái quát được sự phát triển của toàn bộ các lĩnh vực văn hoá. Điều đó đòi hỏi các nhà triết học phải có nhãn quan văn hoá rộng lớn, sự hiểu biết rộng và sâu sắc các lĩnh vực khác nhau của đời sống văn hoá dân tộc. Triết học càng đứng ở đỉnh cao lý luận, phạm vi và mức độ khái quát, tổng kết càng sâu sắc, nó càng ở tầm cao hơn so với các triết lý và do đó, nó càng có tác động định hướng lớn cho nhiều lĩnh vực khác nhau của văn hoá. Sự tác động định hướng này có thể thông qua con đường trực tiếp bằng cách tiếp nhận các tri thức lý luận triết học, có thể bằng con đường gián tiếp, thông qua việc tiếp nhận các triết lý nằm trong chính hệ thống triết học hoặc được triết học cải biến, chỉnh sửa, chính xác hoá trong quá trình phát sinh và tồn tại. Mỗi con người sống, hoạt động và giao tiếp luôn được chỉ đạo bởi một số các lý luận triết học và triết lý xác định.

    Trong ý thức và cuộc sống của mỗi người, dù tự giác hoặc không tự giác thì họ vẫn bị các triết lý và triết học chi phối. Toàn bộ văn hoá, nhưng cốt lõi là các triết lý và triết học tạo thành khung mẫu (paradigm), hành lang, ống dẫn của các hành vi, hoạt động và giao tiếp của con người. Trong quan hệ với văn hoá thì toàn bộ các triết lý và triết học lại tạo thành một hệ thống khung mẫu, hành lang, ống dẫn cho sự sáng tạo, tiếp nhận và hưởng thụ văn hoá của con người. Mặt khác, đời sống văn hoá trong quá trình phát triển lại góp phần làm bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, sai lầm của các triết lý và hệ thống triết học, từ đó, hoàn thiện, sửa chữa hoặc loại bỏ chúng ra khỏi ý thức và cuộc sống của con người.

    Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển các triết lý và hệ thống triết học khi tạo thành khung mẫu, hành lang, ống dẫn cho văn hoá thì chúng lại có thể trói buộc, kìm hãm sự phát triển của văn hoá, đặc biệt là kìm hãm tư duy và năng lực sáng tạo văn hoá của con người. Các triết lý, hệ thống triết học đã lạc hậu, lỗi thời, hoặc có sai lầm thường bắt đầu có tác dụng ngược bằng việc thể hiện những mâu thuẫn của chúng với các triết lý, hệ thống triết học và với văn hoá nói chung, thậm chí giữa chúng với văn hoá sẽ bắt đầu một thời kỳ xung đột. Trong quá trình xung đột văn hoá dần dần thể hiện nhu cầu đổi mới, thay thế các triết lý và triết học cũ bằng các triết lý và triết học mới. Đồng thời văn hoá sẽ tạo ra, bồi đắp và tích tụ dần các chất liệu cho sự ra đời các triết lý mới hoặc hệ thống triết học mới. Sự xung đột giữa triết học và văn hoá dần dần tạo nên những tiền đề văn hoá cho việc giải quyết cuộc xung đột ấy và sau đó là các phương tiện giúp cho việc giải quyết xung đột. Văn hoá sẽ tiến triển từng bước, giải quyết dần các vấn đề đơn lẻ, nhỏ bé đi dần đến những vấn đề lớn hơn, tạo ra những chất liệu văn hóa mới, đáp ứng những đòi hỏi mới của sự phát triển, bổ sung dần vào kho tàng văn hóa dân tộc những kiến thức mới, những triết lý mới, những giá trị văn hóa mới. Trên cơ sở tích tụ đó văn hóa đẩy triết học làm nên những đột phá mới, tạo ra các hệ thống triết học mới hơn, phù hợp hơn với sự phát triển. Văn hóa tham gia sàng lọc, gạt bỏ, bảo tồn, phát huy và chuyển tải các giá trị của triết học cũ vào triết học mới.

    Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời cũng là nền tảng tinh thần của triết học. Văn hoá theo nghĩa rộng là nền tảng của sự sinh tồn của loài người, đồng thời cũng là nền tảng quyết định sự ra đời, tồn tại, phát triển và diệt vong của các hệ thống triết học. Văn hoá dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều là động lực của sự phát triển xã hội nói chung trong đó có sự phát triển của triết học. Một dân tộc không có một nền văn hoá phát triển thì chưa thể có các triết lý phong phú, đa dạng càng chưa thể có các hệ thống triết học. Một dân tộc có thể bị nô dịch hàng ngàn năm nhưng chưa đánh mất, chưa bị xoá bỏ nền văn hoá của mình thì dân tộc đó còn tồn tại. Nhưng khi bị đánh mất, bị xoá bỏ, bị đồng hoá về mặt văn hoá thì dân tộc đó không thể tồn tại với tư cách là một dân tộc độc lập. Các dân tộc có thể vay mượn các hệ thống triết học nhưng không thể vay mượn các triết lý và càng không thể vay mượn nền văn hoá nói chung. Đó chính là tính độc lập tương đối của triết học với văn hoá và vai trò của văn hoá đối với triết học.

    Không hoàn toàn đồng nhất, nhưng cũng có thể hình dung rằng triết học là ánh hào quang rực rỡ của quả cầu lửa văn hóa. Quả cầu ấy càng lớn, càng sáng thì ánh hào quang càng rực rỡ, càng tỏa xa, màu sắc càng đẹp. Văn hóa, các triết lý và các hệ thống triết học là ba tầng bậc khác nhau của chính văn hóa theo nghĩa rộng, nhưng đó chính là ba trong một – một nền văn hóa theo nghĩa rộng./.

    Nguồn: Bài do tác giả cung cấp

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Nguyên Lý, 3 Quy Luật, 6 Cặp Phạm Trù
  • Thời Khai Sáng Ở Pháp
  • Khai Sáng Và Trưởng Thành
  • Khai Sáng Và Tiến Bộ
  • Bài Giảng Hay Về Chủ Nghĩa Khắc Kỷ Stoicism Của Giáo Sư Michael Sugrue
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Vật Lý Và Vật Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Khoa Học Máy Tính
  • Tổng Quan Ngành Khoa Học Máy Tính
  • Bộ Môn Khoa Học Máy Tính
  • Khoa Học Mở Là Gì
  • Phương Pháp Chọn Mẫu Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khoa học và Công nghệ

    -

    Cao Chi

    Liệu có đúng như Stephen Hawking đã tuyên bố rằng “triết học đã chết -Philosophy is dead” trong cuốn sách “The grand Design” hay không?

    Trong cuốn sách “Philosophy of Physics” (Robert P Crease)1 tác giả muốn chứng minh rằng không phải như vậy. Không những triết học không chết mà trái lại còn vô số vấn đề triết học vật lý phải làm song hành với vật lý.

    Các nhà khoa học tại Cỗ máy gia tốc hạt lớn LHC sử dụng dữ liệu năng lượng cao mới của họ để nghiên cứu về Higgs boson.

    Có những vấn đề mà bản thân vật lý không trả lời được: Vì sao Lý thuyết dây là lý thuyết khoa học mặc dầu Lý thuyết dây không tiên đoán được điều thực nghiệm gì? Bản chất cơ học lượng tử là gì? Bản chất không gian, thời gian là gì? Điều gì cấu tạo nên vật lý cơ bản?…

    Hiện nay, triết học vật lý đi theo ba khuynh hướng truyền thống:

    Analytic – phân tích hay còn gọi là Anglo-American vì được phát triển bởi các nhà triết học Anh và Mỹ

    Pragmatic – thực dụng.

    Hermeneutic – chú giải văn bản (thông diễn học).

    Triết học phân tích dường như lấn áp các triết học khác.

    Để hiểu vấn đề ta hình dung một workshop – một phân xưởng, một hội thảo – một môi trường trong đó người ta tạo nên và nghiên cứu mọi hiện tượng và sự cố – Higgs boson, đồng vị phóng xạ hiếm, siêu chảy,… – những điều mà trong thường nhật không xuất hiện hoặc hi hữu xuất hiện hoặc xuất hiện một cách không tường minh.

    Trong workshop người ta thu được những kết quả tổng quát không phụ thuộc với thế giới bên ngoài.

    Trong workshop người ta đặt câu hỏi cho thiên nhiên (Galileo) hoặc hỏi thiên nhiên như một chứng nhân tại tòa án (Immanuel Kant).

    Trong workshop khi cần người ta lại đưa vào nhiều khái niệm mới (như hạt Higgs) làm nhiễu loạn không khí truyền thống.

    Các nhà triết học vật lý quan tâm đến hành động tương tác của workshop nhưng theo một kiểu cách khác các nhà vật lý. Các nhà triết học tìm hiểu không phải những điều nhà vật lý biết mà là làm thế nào mà họ biết được những điều đó.   

    Điều này làm cho giữa vật  lý và triết học vật lý có sự khác biệt và đảm bảo rằng triết học vật lý cũng sôi động như bản thân vật lý.

    Ba khuynh hướng

    Analytic

    Những người đi theo khuynh hướng này gồm các nhà logic, vật lý và toán học như Rudolf Carnap, Hans Reichenbach và Bertrand Russell, chú tâm vào logic của khoa học và ý nghĩa của những khái niệm cơ bản. Các chương quan trọng trong analytic là: diễn giải, nhân quả, lý thuyết, phương pháp,… Họ giống như những người quan sát ngay trong lòng workshop. Họ xem việc thử nghiệm như một hoạt động trước đột sinh của lý thuyết. Họ tập trung vào nhận thức luận (epistemology) của khoa học.

    Cuốn sách Philosophy of Physics và tác giả Robert P Crease.    

    Có thể nói các nhà triết học phân tích xem các nhà vật lý là những nhà logic học của vũ trụ.

    Pragmatic

    Những người đi theo khuynh hướng này có cả Charles Peirce William James và John Dewey, họ quan tâm đến việc các nhà vật lý đã tiếp cận như thế nào, giải nghiệm các bí ẩn vũ trụ và những hệ quả. Họ như đứng ngoài workshop. Họ đi theo khẩu hiệu “chân lý là điều gì hoạt động-the truth is what works”. Họ quan tâm đến hiệu quả hơn là sự mô tả.

    Tóm lại các nhà triết học thực dụng xem các nhà vật lý như những người giải thích được các bí ẩn của vũ trụ.

    Hermeneutics

    Gồm các nhà triết học như Edmund Husserl, Martin Heidegger và Maurice Merleau-Ponty xem các hoạt động của workshop như một cách thức (mode) tồn tại của con người và tri thức khoa học như một con đường để con người tiếp cận được với vũ trụ.

    Nhân loại phải được luyện tập về mặt khoa học để tiếp cận với vũ trụ. Họ cho rằng sai lầm nếu quên rằng khoa học có nguồn gốc từ một môi trường rộng lớn hơn là vũ trụ sống (lifeworld).

    Tóm lại các nhà triết học continental xem các nhà vật lý như những người khai phá vũ trụ vì vũ trụ là hiểu được và điều khiển được.

    Trong thực tế có thể quan sát được hiện tượng pha trộn các triết học nói trên. Nói chung ba triết học trên nhằm ba khuynh hướng: logic, giải các bí ẩn và diễn dịch (the logic, the puzzle-solving, and the interptative  and selfinterptative activity).

    Những vấn đề hiện tại

    Các nhà triết học vật lý sẽ xét các vấn đề trên không như những đối tượng vật lý mà là một đối tượng rộng hơn trên cơ sở tư duy cơ bản hơn về một đối tượng như vậy (ví dụ vấn đề thời gian).

    Thế nào là vật lý cơ bản

    Chúng ta thấy có những chồng chéo trong các nghành vật lý, ví dụ đầu thế kỷ 20 người ta xem vật lý hạt nhân như một vật lý bức xạ hoặc muộn hơn xem vật lý hạt nhân trộn lẫn với vật lý các hạt cơ bản. Cần phân biệt đâu là vật lý cơ bản hơn? Nhiệt động học có quy về vật lý thống kê? Vật lý môi trường đông đặc là cơ bản hay chỉ là một amalgam, một hỗn hợp của vật lý và hóa học?

    Các nhà triết học vật lý xem đây là một vấn đề quy nạp (reduction) để xác định đâu là vật lý cơ bản. Ở đây cần chú ý đến hiện tượng đột sinh, là hiện tượng xuất hiện những tính chất của một hệ lớn không suy diễn được từ các định luật ở mức thấp hơn.

    Thế nào là thời gian và không gian

    Thời gian và không gian được hiểu khác nhau ở trong và ngoài workshop

    Thời gian

    Có thể nói vấn đề thời gian phát sinh mạnh mẽ từ sự va chạm giữa Albert Einstein và Henri Bergson (nhà triết học nổi tiếng châu Âu – thuộc phái Continental) năm 1922.

    Bergson cho rằng thời gian có những khía cạnh không bắt được bởi những biểu diễn khoa học. Những khía cạnh đó chỉ bắt được nhờ những trải nghiệm của chúng ta trong đời sống và cho rằng thời gian không phải là của các nhà vật lý (time is not just for physicists).

    Ở đây ta có thể nhắc đến các câu thơ mang dáng dấp Bergson:

    “Tôi từ – phút ấy sang tôi phút – này” (Đi thuyền – Xuân Diệu)

    “Ngày vui ngắn chẳng tày gang!” (Nguyễn Du)

    “Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê!” (Tản Đà)

    Ngược lại, Einstein cho rằng không tồn tại một thời gian như vậy cho các nhà triết học chỉ có một thời gian khách quan, một thời gian vật lý.

    Trong một bài viết trên tạp chí Journal of Philosophy (1967), Hilary Putman từ chối mọi thời gian triết học bởi theo ông chỉ có một thời gian trong hình học vật lý của continuum bốn chiều.

    Các nhà triết học chắc không hẳn đồng ý như vậy về vấn đề thời gian.

    Không gian

    Ở đây ta cũng gặp một va chạm giống như va chạm giữa Einstein và Bergson trong vấn đề thời gian.

    Như ta biết trong cơ học lượng tử không tồn tại một vị trí xác định, trong Lý thuyết trường ta lại có một bọt thăng giáng không thời gian, trong Hấp dẫn lượng tử vòng (Loop Quantum gravity) không gian bị lượng tử hóa, trong Lý thuyết dây không thời gian có thể có đến 10, 11 hoặc 26 chiều.

    Các nhà triết học vật lý lại quan tâm đến các khía cạnh của không gian: vị trí xác định như trong GPS, vị trí dùng tọa độ (Kant) hoặc sự cảm nhận cơ thể của chúng ta khi chuyển động (đây không là một ý nghĩa toán học), không gian này đi song song với thời gian ta sống.

    Các nhà triết học cũng cho rằng không gian không phải của riêng các nhà vật lý (Space, in short, is not just for physicists).

    Phải diễn dịch cơ học lượng tử như thế nào

    Ngay từ đầu, đặc biệt Niels Bohr và Werner Heisenberg đã hiểu rằng Cơ học lượng tử có nhiều khái niệm và giả định cần bàn cãi. Heisenberg tìm ra hệ thức bất định Heisenberg. Bohr đưa ra khái niệm “bổ sung – complementarity” (Lối diễn dịch cơ học lượng tử của trường phái Copenhague).

    Cơ học lượng tử quả là khó diễn dịch: trong cơ học lượng tử có hàm sóng dẫn đến xác suất. Một điều khó hiểu là tồn tại những xác suất khác không thể hiện ra nhưng nằm song song trong những vũ trụ khác (Đa vũ trụ) và dẫn đến khái niệm triết học về thực tại.

    Để tránh một số điều khó hiểu của cơ học lượng tử, các nhà vật lý phát triển Qbism tức lượng tử Bayesian biến tri thức thành xác suất.

    Nhà triết học Heelan đặt câu hỏi: liệu một thực thể khó hiểu bằng trực giác (nonintuitable) lại có thể “quan sát” được bằng những phép đo trong phòng thí nghiệm và biến thành một thực tế hiện thực tại trong ý nghĩa bản thể học – ontological? (Heelan: ‘Can a quantum entity that is ‘nonintuitable’ but nevertheless ‘observed’ in a laboratory measurement be ‘real’ in the ‘ontological’ sense?’)

    Bản thân các nhà vật lý cũng chưa đồng thuận trong việc diễn dịch cơ học lượng tử cho nên giữa các nhà vậy lý và triết gia vật lý còn rất nhiều việc phải làm.

    Lý thuyết dây có là khoa học hay không?

    Theo một số nhà triết học thì vì Lý thuyết dây không thỏa mãn tiêu chí Popper cho nên không phải là một khoa học.

    Song ý kiến của nhiều người khác như Richard Dawid chủ trương một tiếp cận được chú ý đến nhiều là phương pháp đánh giá không thực nghiệm (non-empirical assessment).

    Đây là phương pháp do Richard Dawid, một nhà vật lý lý thuyết sau chuyển thành nhà triết học vật lý (LMU), tác giả cuốn sách nổi tiếng Lý thuyết dây và phương pháp khoa học” (String Theory and the Scientific Method  – Cambridge Univ. Press, 2013). Dawid quan tâm đến việc tại sao các nhà Lý thuyết dây rất tin tưởng ở Lý thuyết dây mặc dầu Lý thuyết dây thiếu cơ sở thực nghiệm “Tại sao họ tin tưởng lý thuyết này?” (Why do they trust the theory?). Lý thuyết dây chứa hạt graviton, như vậy Lý thuyết dây thống nhất được hấp dẫn của Einstein. Song Lý thuyết dây chưa đưa ra được một tiên đoán nào khả dĩ kiểm nghiệm được.

    Vấn đề thời gian phát sinh mạnh mẽ từ sự va chạm giữa Albert Einstein và Henri Bergson vào năm 1922.

    Năm 2000, Dawid đưa ra ba lý lẽ không – thực nghiệm (non-empirical arguments) mang tính triết học tạo nên sự tin tưởng vào Lý thuyết dây.

    1. Lý thuyết dây hiện nay là lý thuyết độc nhất có khả năng thống nhất các tương tác theo một cách thích hợp nhất (mặc dầu trong Lý thuyết dây có nhiều biểu diễn toán học).

    Lý lẽ này có tên là “lý lẽ về không có khả năng nào khác – no alternatives argument NAA”.

    Một lý thuyết cạnh tranh là Hấp dẫn lượng tử vòng song Hấp dẫn lượng tử vòng không có mục tiêu thống nhất các tương tác.

    2. Lý thuyết dây phát triển từ Mô hình Chuẩn (Standard Model) vốn cũng không có khả năng nào khác trong quá trình hình thành và đã được kiểm nghiệm bằng thực nghiệm. Lý lẽ này Dawid gọi là “lý lẽ siêu –quy nạp-meta-inductive argument MIA”. Dawid tin ở khả năng có thể xảy ra là các nhà vật lý không đủ trí lực  để tìm ra những khả năng tồn tại khác (physicists simply aren’t clever enough to find the alternatives that exist ).

    3. Lý lẽ thứ ba là Lý thuyết dây đã bất ngờ đưa ra những giải thích đối với nhiều bài toán bên ngoài bài toán thống nhất vốn là mục tiêu chính của Lý thuyết dây. Joe Polchinski (Đại học California, Santa Barbara) đã đưa ra nhiều ví dụ về những “mối liên thông giải thích không ngờ-unexpected explanatory interconnections” này. Lý lẽ này gọi là “lý lẽ các liên thông giải thích bất ngờ – unexpected explanatory interconnections UEA”.Lý thuyết dây đã giải thích được entropy của lỗ đen, điều này lại gắn liền với vật lý hạt cơ bản (nhờ đối ngẫu AdS/CFT).

    Polchinski đã phát biểu rằng “Lý thuyết dây đã tồn tại, chúng ta chỉ phát hiện ra thôi”.  Polchinski đã sử dụng các lý lẽ không thực nghiệm của Dawid để tính xác suất Bayesianism (Bayesianism odds) để Đa vũ trụ tồn tại là 90%.

    Lý thuyết dây là khoa học vì có một tác động biến đổi lên giới khoa học.

    Hiện không có sự đồng thuận của các nhà triết học vật lý về vấn đề này (hội thảo Munich).

    Kết luận

    Qua một số vấn đề nêu trên (còn nhiều vấn đề khác) chúng ta thấy rằng  có nhiều vấn đề mà triết học vật lý phải nghiên cứu tiếp tục, như vậy triết học đã không chết như Stephen Hawking nói. Triết học vật lý tồn tại song song với vật lý và tương hỗ trong việc tìm hiểu vũ trụ và tương tác giữa vũ trụ và con người.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Robert P Crease,Philosophy of PhysicsRobert P Crease

    Stony Brook University, New York, US

    2. Matin Durrani,Discover why the philosophy of physics is vital

    http://blog.physicsworld.com/2017/11/16/discover-why-the-philosophy-of-physics-is-vital/

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Cuộc Cách Mạng Khoa Học Kỹ Thuật Lần 3 2022
  • Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Chuyển Giao Tiến Bộ Kỹ Thuật Vào Sản Xuất Nông Nghiệp Cho Đồng Bào Dân Tộc Cơ Tu
  • Cuộc Cách Mạng Khoa Học Kỹ Thuật Trong Lịch Sử
  • Cách Mạng Khoa Học Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm
  • Bản Chất Của Hoạt Động Điều Tra Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Triết Học Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Ta Cần Triết Học Để Làm Gì?
  • Interferon Là Gì? Phân Loại, Tác Dụng Của Interferon?
  • Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Tuyến Tụy
  • Nguồn Gốc Ung Thư Và Vai Trò Của Hệ Miễn Dịch
  • Cytokin Và Điều Hòa Miễn Dịch
  • Blog chúng tôi giải đáp ý nghĩa Triết học là gì

    Định nghĩa Triết học là gì?

    • Triết học là một bộ môn chính thực hiện việc nghiên cứu về các vấn đề chung, cơ bản về con người – thế giới quan cũng như vị trí của con người ở trong thế giới quan – những vấn đề đó có kết nối lại với chân lý – sự tồn tại – kiến thức – giá trị – quy luật – ngôn ngữ. Dựa vào cách mà triết học giải quyết các vấn đề này, người ta sẽ phân biệt được nó với lại những môn khoa học khách. Trong đó, nó nổi bật nhất khi thể hiện rõ tính phê phán, các phương pháp tiếp cận vào hệ thống chung nhất, sự phụ thuộc của nó sẽ dựa vào tính duy lý ở việc lập luận.
    • Triết học có tên gọi tiếng Anh là Philosophy, từ này được xuất phát trong tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa dịch ra “tình yêu đối với sự thông thái”. Các thuật ngữ như là “triết học” hay “ triết gia” ra đời là gắn cùng với nhà tư tưởng người Hy Lạp Pythagoras.
    • Hiện nay, triết học cũng là một ngành khoa học được đào tạo riêng biệt dành cho sinh viên và triết học là môn học bắt buộc đối với tất cả các sinh viên trong trường Đại học – Cao đẳng. Để học ngành triết học, sinh viên sẽ phải thi khối C, học trong thời gian 4 năm. Hiện nay có một số trường đào tạo chuyên ngành triết học như: Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc gia Hà Nội),…

    Nguồn gốc của triết học

    Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định.

    Nguồn gốc nhận thức:

    • + Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? … trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học.
    • + Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận.

    – Nguồn gốc xã hội:

    Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.

    Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia chúng chỉ có tính chất tương đối.

    Đối tượng của Triết học; Sự biến đổi đối tượng triết học qua các giai đoạn lịch sử

    * Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên – bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng. Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học.

    * Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học. Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh. Triết học tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện.

    * Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là các khoa học độc lập. Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học – Khoa học hậu vật lý. Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được.

    + Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph. Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    + Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen.

    + Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó. Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học.

    * Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học”. Triết học Mác – Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó. Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    * Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học. Cho nên, vấn đề tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Triết học – hạt nhân lý luận của thế giới quan

    * Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới.

    *Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức.

    * Các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):

    +Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới.

    + Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người.

    + Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức. Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

    VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRIẾT HỌC.

    Vấn đề cơ bản của triết học

    Ăngghen định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học như sau: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học, đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    * Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

    • + Mặt thứ nhất: Giữa tư duy và tồn tại thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
    • + Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thể giới hay không?

    * Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:

    + Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ý thức của chúng ta, không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy.

    + Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.

    + Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên.

    – Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả tri hay bất khả tri.

    + Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người.

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

    Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn:

    • + Chủ nghĩa duy vật: Là những người cho rằng vật chất giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.
    • + Chủ nghĩa duy tâm: là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

    * Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của nó

    Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện triết học thì đã phân chia ra chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Lịch sử phát triển của chủ nghĩa duy vật từ đó đến nay luôn gắn với lịch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có quan điểm thống nhất coi vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, đều xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới. Cụ thể:

    + Chủ nghĩa duy vật chất phác ngây thơ thời cổ đại:

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại mang tính trực quan nên ngây thơ và chất phác, tuy còn nhiều hạn chế nhưng với nguyên tắc cơ bản là đúng. Trường phái này giải thích giới tự nhiên từ chính bản thân tự nhiên, không viện dẫn thần linh hay thượng đế.

    + Chủ nghĩa duy vật máy móc siêu hình thế kỷ thứ XVII – XVIII.

    Là kết quả nhận thức của các nhà triết học từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ sự phát triển rực rỡ của cơ học khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu máy móc chiếm vị trí thống trị và tác động mạnh mẽ đến các nhà duy vật.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

    Là kết quả nhận thức của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác. Mác, Ăngghen, Lênin đã kế thừa những tinh hoa của các học thuyết trước đó, đồng thời khắc phục những hạn chế, sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác Lênin mang tính chất cách mạng triệt để và biện chứng khoa học, không chỉ phản ánh hiện thực đúng như bản thân nó mà còn là công cụ hữu ích giúp con người cải tạo hiện thực đó.

    * Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của nó:

    + Duy tâm chủ quan thừa nhận ý thức là tính thứ nhất, phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực. Mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp cảm giác của cá nhân, của chủ thể.

    + Duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đó là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người. Thực thể tinh thần khách quan này thường mang tên gọi khác nhau như: ý niệm; tinh thần tuyệt đối; lý tính thế giới…

    Một hình thức biến tướng của chủ nghĩa duy tâm khách quan là chủ nghĩa duy tâm tôn giáo, với sự thừa nhận thượng đế; chúa trời sáng tạo thế giới. Tuy nhiên có sự khác nhau đó là, chủ nghĩa duy tâm tôn giáo thì lòng tin là cơ sở chủ yếu, đóng vai trò chủ đạo; còn chủ nghĩa duy tâm triết học lại là sản phẩm của tư duy lý tính dựa trên cơ sở tri thức và lý trí.

    Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm:

    +Về phương diện nhận thức luận, sai lầm của chủ nghĩa duy tâm bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hoá, thần thánh hoá một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.

    * Triết học nhị nguyên: vật chất và ý thức song song tồn tại, không có cái nào có trước, cả hai đều là nguồn gốc tạo nên thế giới, triết học nhị nguyên có khuynh hướng điều hoà chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Xét về thực chất, Triết học nhị nguyên thể hiện sự dao động ngả nghiêng, cuối cùng cũng rơi vào chủ nghĩa duy tâm.

    Thuyết khả tri; bất khả tri và hoài nghi luận

    – Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản “con người có nhận thức được thế giới không?”:

    + Thuyết khả tri( Thuyết có thể biết) là những nhà Triết học cả duy vật và duy tâm trả lời một cách khẳng định: Con người có khả năng nhận thức được thế giới

    +Hoài nghi luận xuất hiện từ thời Cổ đại (từ chữ Hy Lạp skeptikos và skiptomai có nghĩa là tôi thẩm tra) mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ đại). Họ là những người đã luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.

    Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấy tranh chống hệ tư tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo.

    +Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): là sự phát triển mặt tiêu cực của trào lưu hoài nghi luận. Theo thuyết này, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không bảo đảm tính chân thực, từ đó họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó.

    Đại biểu nổi tiếng nhất của “thuyết không thể biết” là Hium (nhà triết học Anh) và Cantơ (nhà triết học Đức). Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không. Còn Cantơ thì thừa kế nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “vật tự nó”; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là nhận thức những hiện tượng của nó mà thôi.

    Thuyết không thể biết đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán gay gắt. Song, đúng như Ph. Ăngghen đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết không thể biết một cách triệt để nhất. “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp. Nếu chúng ta có thể chứng minh được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”.

    SIÊU HÌNH VÀ BIỆN CHỨNG

    Trong lịch sử triết học không những có sự đối lập giữa CNDV và CNDT khi tìm hiểu bản chất của thế giới, mà đồng thời còn phải trả lời các câu hỏi: thế giới là bất động, đứng im hay là không ngừng vận động và phát triển? Các sự vật, hiện tượng của thế giới ở trạng thái cô lập, tách rời nhau hay có liên hệ với nhau, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau.

    Lịch sử đã biết đến hai quan điểm, hai cách xem xét nhìn nhận trái ngược nhau trong khi giải đáp những câu hỏi trên. Đó là phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình

    Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

    Phương pháp siêu hình

    Phương pháp biện chứng

    +Thừa nhận đối tượng ở trạng thái cô lập,tách rời với các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối

    +Thừa nhận đối tượng qua các mối liên hệ của nó với các đối tượng khác và sự ảnh hưởng ràng buộc lẫn nhau giữa chúng

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đấy chỉ là biến đổi về mặt số lượng, nguyên nhân của mọi sự biến đổi nằm ngoài đối tượng.

    + Thừa nhận đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi có khuynh hướng chung là phát triển, có sự thay đổi về chất, mà nguyên nhân của mọi sự biến đổi ấy là do nguồn gốc bên trong đối tượng. Đó là sự đấu tranh của các mặt đối lập.

    – Phương pháp siêu hình chỉ nhìn thấysự vật riêng biệt mà không thấy mối liên hệ qua lại giữa chúng; chỉ thấy sự tồn tại mà không thấy quá trình sự phát sinh và tiêu vong .(Về bản chất là không hiểu được mối quan hệ giữa vận động và đứng im, hay đứng im chỉ là một hình thức vận động đặc biệt).– Tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không thể dung nhau được, họ nói có là có, không là không. Đối với họ, một sự vật hoặc tồn tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó lại vừa là cái khác, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau, v.v…Nguồn gốc của phương pháp siêu hình: Là bắt nguồn từ việc muốn nhận thức đối tượng, trước hết con người phải tách đối tượng ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian và thời gian xác định. Tuy phương pháp đó là cần thiết và có tác dụng trong một phạm vi nhất định, nhưng thực tế thì hiện thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm.

    – Phương pháp biện chứng không chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối quan hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong của sự vật.– Phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt trong sự phản ánh hiện thực,– Phương pháp biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “ hoặc là.. hoặc là” còn có cái “vừa là… vừa là”; đối tượng hay chỉnh thể trong lúc tồn tại là nó thì cũng đồng thời bao hàm sự tồn tại không là nó; cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau vừa gắn bó nhau. Do đó, nó phản ánh hiện thực ngày càng chân thực chính xác, và nó trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

    Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem sét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương pháp biện chứng là phương pháp xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng với tư duy mềm dẻo, linh hoạt.

    Các giai đoạn phát triển cơ bản của phương pháp biện chứng

    * Hình thức thứ nhất là phép biện chứng tự phát thời Cổ đại. thể hiện rõ nét trong “thuyết Âm – Dương” của triết học Trung Quốc, đặc biệt là trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học đều thấy các sự vật hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hoá trong những mối liên hệ vô cùng tận. Cách nhận xét thế giới như vậy, theo Ăngghen, là một cách nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng và là kết quả của một trực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả cuả những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học. Chính vì hạn chế này mà phép biện chứng Cổ đại phải nhường bước cho phép siêu hình, phương pháp thống trị trong tư duy triết học ở thế kỷ XVIII là điều không thể tránh khỏi. Đây là giai đoạn khám phá kết cấu, thuộc tính của đối tượng.

    * Hình thức thứ hai là phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, bắt đầu từ Cantơ và hoàn chỉnh ở Hêghen. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển tư duy nhân loại, các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung của phép biện chứng. Tuy nhiên, đây mới chỉ dừng lại ở biện chứng của khái niệm, của tinh thần, và tai hại hơn là họ cho rằng giới hiện thực chỉ là sự sao chép của tinh thần, bởi vậy phép biện chứng cổ điển Đức là có tính chất duy tâm.

    * Hình thức thứ ba là phép biện chứng duy vật. Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng duy tâm, sau khi gạt bỏ tính chất duy tâm thần bí của nó, Mác – Ăng ghen xây dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.

    VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

    Vai trò thế giới quan và phương pháp luận

    Vai trò thế giới quan của triết học

    * Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.

    * Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.

    * Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.

    * Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

    + Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập.

    Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.

    Do vậy:

    + Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.

    + Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động. + Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.

    Vai trò phương pháp luận của triết học

    Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.

    * Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất

    + Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

    + Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.

    Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung.

    Vai trò của triết học Mác – Lê nin

    Triết học Mác – Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biên chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.

    * Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: “Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” và “là một công cụ nhận thức vĩ đại”, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.

    + Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.

    + Nắm vững triết học triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.

    * Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.

    Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.

    Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.

    Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.

    Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:

    + Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;

    + Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả là dễ bị vấp váp, thất bại.

    Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng.

    Kết luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vài Trò Và Ý Nghĩa Giao Tiếp Mà Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Đời Sống Mà Bạn Cần Phải Biết
  • Tìm Hiểu Về Giới Tính Và Giới
  • Liên Minh Châu Âu Và Tầm Quan Trọng Trên Toàn Thế Giới
  • Trí Tuệ Cảm Xúc: Tầm Quan Trọng Của Eq Đối Với Thành Công
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Đi Tìm Triết Lý Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Lí Giáo Dục Của Bạn Là Gì?
  • Triết Học Pháp Luật Trong Hệ Thống Các Khoa Học Pháp Lý
  • Là Giáo Viên, Triết Lí Giáo Dục Của Bạn Là Gì?
  • Báo Hiếu Cha Mẹ Theo Phật Dạy
  • Đề Cương Triết Học Mác Lê Nin
  • Xa lạ …

    Đưa ra nhận định trên, ThS Trương Thanh Tòng – Nghiên cứu sinh về chương trình THPT tại ĐH Nhật Bản đồng thời cho rằng, tâm lý ngại tiếp thu với cái mới đã chi phối rất sâu đến nhận thức của một bộ phận giáo viên hiện nay.

    Không ít giáo viên, trong đó có giáo viên Văn vẫn lệ thuộc quá nhiều vào sách giáo khoa và sách giáo viên; cố gắng giảng giải hết những nội dung kiến thức có trong sách giáo viên, yêu cầu học sinh học thuộc, nhớ máy móc.

    Giáo viên trẻ lúng túng, giáo viên có kinh nghiệm thì sức”ì” lại quá lớn. Và dĩ nhiên, điểm đến của giáo viên không phải là kiểm chứng lại triết lý dạy học của mình qua từng giờ dạy mà đơn giản chỉ là hệ thống một cách xơ cứng kiến thức cần “mớm” cho học sinh. Bởi thế mà cánh cửa bước vào thế giới văn chương với HS vẫn luôn đóng kín.

    Cũng theo ThS Trương Thanh Tòng, giáo viên chưa xâu chuỗi, hệ thống và khái quát hóa các đơn vị kiến thức qua những tác phẩm để hướng đến triết lý dạy học của mình. Bởi lẽ, nếu quá trình dạy học chỉ gắn với từng tác phẩm riêng lẻ thì không thể nào bao quát hết triết lý dạy học bộ môn.

    Cùng với đó, chưa phối hợp đồng bộ giữa triết lý dạy học, kế hoạch bộ môn, và việc cụ thể hóa các khía cạnh của nó qua hoạt động dạy và học của thầy và trò. Vì thế, giáo viên không thể điều chỉnh hoạt động kiểm tra – đánh giá theo hướng phát triển năng lực cho học sinh một cách hiệu quả.

    “Điều này cho thấy cho vai trò cốt yếu của triết lý dạy học đối với giáo viên Ngữ văn trung học ở Việt Nam hiện nay” – ThS Trương Thanh Tòng khẳng định.

    “Nuôi dưỡng” – Triết lý dạy học Ngữ văn

    Nhật Bản là quốc gia đầu tiên ở châu Á đã xây dựng được triết lý dạy học. Điều mà giáo viên ở Nhật Bản trăn trở là giúp học sinh nhận ra chính mình trong cuộc sống thường nhật.

    Những triết lý dạy học cơ bản mà giáo viên Nhật Bản quan tâm là hình thành và hoàn thiện nhân cách cho học sinh – yếu tố làm nên giá trị văn hóa của quốc gia (học để khẳng định mình);

    Tôn trọng giá trị nhân văn (học để khẳng định mình); dạy học theo năng lực đáp ứng nhu cầu xã hội (học để làm); hợp tác, hiểu biết lẫn nhau (học để biết và để chung sống); giải phóng và phát triển con người cá nhân (học để tự khẳng định mình); và hòa hợp giữa tâm hồn và cuộc sống (học để tồn tại).Như một lẽ đương nhiên là họ luôn phấn đấu không ngừng để hoàn thiện triết lý dạy học này.

    Để xác định được triết lý dạy học bộ môn Ngữ văn trong trường trung học hiện nay, ThS Trương Thanh Tòng cho rằng, giáo viên cần đặt ra và trả lời các câu hỏi:

    Mục đích của giáo dục…? Tại sao bạn dạy Ngữ văn?…Cách học hiệu quả nhất cho học sinh là gì? Mục tiêu dạy học Ngữ văn của bạn là gì? Phương pháp dạy học hiệu quả nhất là …? Tôi biết điều này là bởi… Khía cạnh quan trọng nhất của việc dạy học Ngữ văn là…

    Điều quan trọng là triết lý phải xuất phát từ đặc thù của văn bản tác phẩm và mục tiêu của chương trình Ngữ văn trung học. Nếu xem triết lý dạy học là vạch xuất phát điểm thì giáo viên sẽ dễ dàng nhận ra “diện” và “điểm” trong vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường trung học hiện nay.

    Nếu xem triết lý dạy học là định hướng cho chiến lược dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh thì giáo viên lưu tâm hơn đến việc sử dụng những phương pháp và kỹ thuật dạy học như thế nào để nâng cao hiệu quả giờ học.

    Và, nếu xem triết lý dạy học là một trong những yếu tố then chốt trong quá trình dạy học thì giáo viên sẽ có cơ hội khơi gợi tính sáng tạo nơi học sinh.

    Chính vì thế, theo Ths Trương Thanh Tòng, triết lý dạy học Ngữ văn mà người giáo viên cần xây dựng cho mình để đáp ứng được mục tiêu dạy học trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông sau năm 2022 không thể thiếu tiêu chí dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh; hình thành năng lực kiến tạo nghĩa cho học sinh; khơi gợi niềm hứng khởi khám phá vẻ đẹp văn chương cho học sinh và đẩy mạnh việc tích hợp tri thức cho học sinh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

    “Với riêng mình, tôi nghĩ triết lý dạy Ngữ văn của tôi sẽ gói gọn trong một từ: Nuôi dưỡng. Nuôi dưỡng cho học sinh tâm hồn, nhân cách; tư duy phán đoán; nuôi dưỡng niềm say mê văn chương; nuôi dưỡng tư duy sáng tạo; nuôi dưỡng năng lực đọc hiểu và tạo lập văn bản và nuôi dưỡng kỹ năng sống….” – ThS Trương Thanh Tòng bày tỏ.

    Triết lý dạy học Ngữ văn của cô giáo Stluka (Mỹ):

    1. Bạn sẽ ghi nhớ các nghệ thuật tu từ nhưng quan trọng hơn, bạn sẽ biết làm thế nào để xác định việc sử dụng và mục đích của chúng trong văn chương và sử dụng thường xuyên hơn trong việc tạo lập văn bản. Có rất nhiều cách sử dụng, nhưng bạn có thể làm điều đó!

    – Không nói điều gì đó không phù hợp chỉ để có được một nụ cười.

    – Nói để mọi người trong phòng có thể nghe bạn.

    – Không phán xét.

    – Bạn có thể phản bác ý kiến nhưng không được đánh giá người nói lên chủ kiến ấy. Không được phân biệt, kì thị chủng tộc, tôn giáo, giới tính. Ngược lại sẽ không được dung thứ. Những gì được nói trong lớp nên dừng lại phạm vi của lớp.

    Chúng ta cần hiểu rằng chúng ta là một cộng đồng và chúng ta có thể tin tưởng lẫn nhau.

    – Hãy chân tình. Nếu ai đó nói điều gì gây tổn thương bạn, hãy nói với tôi.

    – Bỏ lại những bất đồng nơi cửa lớp.

    4. Sức mạnh của văn chương ảnh hưởng tích cực đến con người cá nhân và cải tạo xã hội. Tôi hy vọng rằng bạn sẽ được thay đổi.

    ThS Trương Thanh Tòng giới thiệu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chân Lý Là Gì? Chân Lý Có Những Tính Chất Chung Nào? Thế Nào Là Chân Lý Tương Đối Và Chân Lý Tuyệt Đối? Chân Lý Có Vai Trò Gì Đối Với Thực Tiễn?
  • Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất: Quy Luật Mối Quan Hệ Biện Chứng
  • Lực Lượng Sản Xuất Là Gì? Quan Hệ Sản Xuất Là Gì? Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất Có Mối Quan Hệ Như Thế Nào? Từ Việc Hiểu Biết Mối Quan Hệ Đó Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Nào? Cho Ví
  • Chủ Nghĩa Khắc Kỷ, William B. Irvine
  • Chủ Nghĩa Khắc Kỷ (Stoicism) Là Gì?
  • Triết Học Là Gì? Đối Tượng Của Triết Học Là Gì? Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản Chủ Nghĩa Mac
  • Hàm Vlookup Trong Excel, Cách Dùng Hàm Vlookup Trong Excel, Hàm Tìm Ki
  • =)), :)), :3, :v, ^^, :, @@, 3:), V/v, Vc, Vs Nghĩa Là Gì?
  • Iphone Bypass Là Gì? Có Nên Mua Iphone Bypass
  • Info Là Gì? Xin Info Là Gì? Ý Nghĩa Của Info Được Dùng Trên Mạng Xã Hội
  • Khi học triết học, chúng ta thường xuyên đặt câu hỏi triết học là gì? Đối tượng của triết học và vấn đề cơ bản khoa học này là gì? Bài viết này sẽ cung cấp giải đáp cho những câu hỏi đó.

    – Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    Ở Trung Quốc, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar’sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    – Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau:

    Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu:

    “Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy”.

    – Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    – Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của ; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

    Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực không có đối tượng riêng.

    Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy sinh quan niệm cho rằng, triết học là khoa học của mọi khoa học, đặc biệt là ở triết học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại.

    Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối với sự phát triển của tư tưởng triết học ở Tây Âu.

    Ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì triết học trở thành nô lệ của thần học.

    Nền triết học tự nhiên bị thay bằng nền triết học kinh viện. Triết học lúc này phát triển một cách chậm chạp trong môi trường chật hẹp của đêm trường trung cổ.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo một cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là các khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập.

    Sự phát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển triết học.

    Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo và đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan, với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtiuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)…

    V.I.Lênin đặc biệt đánh giá cao công lao của các nhà duy vật Pháp thời kỳ này đối với sự phát triển chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học trước Mác.

    “Trong suốt cả lịch sử hiện đại của châu Âu và nhất là vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Pháp, nơi đã diễn ra một cuộc quyết chiến chống tất cả những rác rưởi của thời trung cổ, chống chế độ phong kiến trong các thiết chế và tư tưởng, chỉ có chủ nghĩa duy vật là triết học duy nhất triệt để, trung thành với tất cả mọi học thuyết của khoa học tự nhiên, thù địch với mê tín, với thói đạo đức giả, v.v.”

    Mặt khác, tư duy triết học cũng được phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức.

    Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của các khoa học”. Triết học Hêghen là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó.

    Hêghen tự coi triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    Hoàn cảnh kinh tế – xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa học”, triết học mácxít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể. Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.

    Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó đã gây ra những cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay.

    Nhiều học thuyết triết học hiện đại ở phương Tây muốn từ bỏ quan niệm truyền thống về triết học, xác định đối tượng nghiên cứu riêng cho mình như mô tả những hiện tượng tinh thần, phân tích ngữ nghĩa, chú giải văn bản…

    Mặc dù vậy, cái chung trong các học thuyết triết học là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh.

    Theo Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”.

    Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học mà nó còn là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ.

    Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn.

    Mặt thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

    Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Homestay Là Gì? 6 Đặc Trưng Làm Nên Loại Hình Homestay
  • Homestay Là Gì? Những Điều Cần “nằm Lòng” Nếu Muốn Đầu Tư Homestay
  • Hợp Âm Là Gì? Cách Sử Dụng Hợp Âm Chuẩn
  • Gdp Là Gì, Ý Nghĩa Và 3 Cách Tính Gdp Danh Nghĩa Hiện Nay
  • Kinh Nghiệm Du Lịch La Gi, Bình Thuận (Cập Nhật 12/2020)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100