Nêu Khái Niệm Truyện Cổ Tích

--- Bài mới hơn ---

  • Em Hãy Nêu Định Nghĩa Truyện Cổ Tích? Qua Đó, Em Hãy Làm Rõ Thể Loại Của Tác Phẩm Sọ Dừa.
  • Sự Khác Nhau Giữa Hai Khái Niệm Truyện Cổ Dân Gian Và Truyện Cổ Tích
  • Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Truyện cổ tích là một loại truyện dân gian phản ánh cuộc sống hằng ngày của nhân dân ta. Trong truyện có một số kiểu nhân vật chính: nhân vật bất hạnh (người mồ côi, con riêng, người em út, người có hình dạng xấu xí,…), nhân vật có tài năng kì lạ, nhân vật thông minh, nhân vật ngốc nghếch, nhân vật là động vật (các con vật biết nói năng, có hoạt đông và tính cách như con người,…)’ Trong truyện cổ tích thường có những yếu tố hoang đường, kì ảo, đóng vai trò cán cân công lí, thể hiện khát vọng công bằng, mơ ước và niềm tin của nhân dân về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt với cái xấu.

    Ý nghĩa truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh

    – Giải thích nguyên nhân cũa hiện tượng lũ lụt hàng năm xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ

    – Thể hiện sức mạnh và ước mơ chiến thắng thiên nhiên cũa ngươi Việt Cổ

    – Suy tôn ca ngợi công lao dựng nước cũa các vua hùng

    – Xây dựng được những hình tượng nghệ thuật kì ảo mang ý nghĩa tượng trưng và khái quát cao

    Kể tóm tắt chuyện thánh gióng bằng lời văn của em

    Từ thuở còn trong nôi, em đã được bà kể cho nghe nhiều câu chuyện lắm. Nhưng câu chuyện mà em nhớ nhất là truyện Thánh Gióng.

    Truyện kể rằng: Đời Hùng Vương thứ sáu, ở một làng kia có hai vợ chồng ông lão, chăm chỉ làm ăn lại có tiếng là phúc đức. Nhưng đến lúc sắp già mà vẫn chứa có nấy một mụn con. Một ngày kia bà vợ ra đồng trông thấy một bước chân to, bèn đặt chân mình vào ướm thử. Về nhà bà mang thai. Nhưng không ngờ, khác với người thường, đến mười hai tháng sau bà mới sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô. Cậu bé ra đời là niềm mơ ước cả đời của hai vợ chồng nên ông bà mừng lắm. Nhưng chẳng biết làm sao, dù đã ba tuổi nhưng cậu bé Gióng (tên cậu do ông bà đặt) vẫn chẳng biết nói, biết cười, cứ đặt đâu nằm đó. Ông bà buồn lắm.

    Cũng năm ấy, giặc Ân sang xâm lược bờ cõi nước ta. Chúng gây bao nhiêu tội ác khiến dân chúng vô cùng khổ sở. Thế giặc mạnh, nhà vua bèn sai người đi khắp nước cầu hiền tài. Đi đến đâu sứ giả cũng rao:

    – Ai có tài, có sức xin hãy ra giúp vua cứu nước.

    Nghe tiếng rao, cậu Gióng đang nằm trên giường bèn cất tiếng:

    – Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con.

    (Ngày xưa khi để cho em nghe đến chỗ này, bao giờ bà cũng thêm vào: Tiếng nói đầu tiên của cậu Gióng là tiếng nói yêu nước đấy. Phải nhớ lấy cháu ạ!)

    – Nghe tiếng con, vợ chồng lão nông dân thấy lạ đành mời sứ giả vào nhà. Cậu Gióng liền yêu cầu sứ giả về chuẩn bị ngay: roi sắt, ngựa sắt, áo giáp sắt để cậu đi phá giặc.

    Càng lạ hơn, từ lúc cậu Gióng gặp sứ giả, cậu cứ lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cậu cũng không no, áo vừa mặc xong đã sứt chỉ. Vợ chồng ông bà nọ đem hết gạo ra nuôi mà không đủ bèn nhờ hàng xóm cùng nuôi cậu Gióng. Trong làng ai cũng mong cậu đi giết giặc cứu nước nên chẳng nề hà gì.

    Giặc đã đến sát chân núi Trâu. Người người hoảng sợ. Cũng may đúng lúc đó, sứ giả mang những thứ cậu Gióng đã đề nghị đến nơi. Cậu bèn vươn vai đứng dậy như một tráng sỹ, khoác vào áo giáp, cầm roi rồi nhảy lên ngựa phi thẳng tới trận tiền. Bằng sức mạnh như cả ngàn người cộng lại, chẳng mấy chốc cậu đã khiến lũ giặc kinh hồn bạt vía. Đang đánh nhau ác liệt thì roi sắt gãy, cậu bèn nhổ ngay từng bụi tre ở bên đường quật vào lũ giặc. Quân giặc bỏ chạy toán loạn nhưng rồi cũng bị tiêu diệt không sót một tên.

    Dẹp giặc xong, cậu Gióng không quay về kinh để nhận công ban thưởng mà thúc ngựa đến núi Sóc, bỏ lại áo giáp sắt, một người một ngựa bay thẳng về trời. Nhiều đời sau người ta còn kể, khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu trụi một làng nay làng ấy gọi là làng Gióng. Những vết chân ngựa ngày xưa nay đã thành những ao hồ to nhỏ nối tiếp nhau.

    Câu chuyện về người anh hùng Thánh Gióng đã không chỉ còn là niềm yêu thích của riêng em, mà nó đã là niềm say mê của bao thế thệ học trò.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Loại Truyện Cổ Tích Lớp 6
  • Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Khái Niệm Seo Là Gì? Kiến Thức Cơ Bản Về Seo?
  • Kiến Thức Là Gì? Khái Niệm Kiến Thức Là Gì?
  • Khái Niệm Khách Hàng Là Gì
  • Nêu Khái Niệm Thơ Hiện Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Kiến Thức Chuyên Đề Thơ Hiện Đại
  • Chuyên Đề Thơ Hiện Đại Việt Nam
  • Tố Hữu Là Nhà Thơ Trữ Tình
  • Thơ Mới Và Thơ Trung Đại Khác Nhau Ở Điểm Nào?
  • Thế Nào Là Một Truyện Ngắn Hay? (Phần 2)
  • ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC Kİ 11 LỚP 8

    Năm hoc: 2022- 2022

    TRƯỜNG THCS YÊN HOÀ

    Môn thi: Ngữ văn

    Ngày thi: 11 tháng 3 nam 2022

    Thời gian làm bài: 90 phút

    Câu 1, (5 điểm)

    Mở đầu bài thơ “Khi con tu hú”, nhà thơ Tô Hữu viết:

    “Khi con tu hú gọi bầy”

    1. Chép chính xác 5 câu thơ tiếp theo để hoàn chỉnh khổ thơ và cho biết hài thơ dược ra đời

    trong hoàn cảnh nào? (1 điểm).

    2. Dựa vào khổ thơ vừa chép, kết hợp hiểu biết của em về tác phẩm, hãy trình bày mạch

    cảm xúc của bài thơ. (1 điểm)

    3. Viết đoạn văn theo cách quy nạp (khoảng 12 câu), trong doạn có sử dụng một câu cảm

    thán, nêu cảm nhận của em về bức tranh mùa hè sang trong đoạn thơ vừa chép. (gach dưới câu

    cảm thán) (3 diêm)

    Cau 2. (2,5 diêm)

    Doc doan văn sau và tra loi câu hoi:

    ( ) “Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm trời đất;

    được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa

    núi. địa thế rộng mà bằng: dất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt

    muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa

    Thật là chôn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế

    vương muôn đời. “(..)

    (Trích “Chiếu dời dô” – Lí Công Uẩn)

    1. “Chiéu doi do” được viết vào năm nào và vớii mục đích gì? (1 diêm)

    2. Xác duh nội dung của đoạn văn trên. Nội dung đó được thế hiện c câu văn nào? Qua đó,

    em thấy đoạn văn dược viết theo kiểu đoạn gì? (1 diêm)

    mình. Hãy ghi lại tên một văn bản nghị luận trung đại khác da hoc trong chuong trinh Ngữ van

    lop 8 hoc ki II cung viét vè chú dè trên. (ghi ro tên tác giá) (0,5 diểm)

    Câu 3. (2,5 diểm)

    Hãy viết một doan văn theo cách diễn dịch (khoảng 10 câu) cảm nhận về tâm lòng yêu

    nuoc, can thù giặc của Trần Quốc Tuấn được thể hiện trong đoạn văn sau:

    ( ) “Huông chi ta cung các ngrơi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy

    sự giặc di lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi củ diệu mà si ming triều đình, đem thân dê

    chó mà bát nat té phu, thác mênh Hot Tá Liệt mà doi ngoc lua, dé thôa long tham khong cing.

    giá hieu Vân Nam iromg mà thnu bac vang, vét cuia kho co han. That khác nào dem thit ma

    nuói ho dói, sao cho khôi tai va ve sau!”..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cho Tôi Xin Một Vé Đi Tuổi Thơ
  • Cho Tôi Xin Một Vé Đi Tuổi Thơ…
  • Định Nghĩa Tuổi Thơ Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Tuổi Thơ
  • Những Đặc Điểm Chung Của Thơ Mới Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 8
  • Trình Bày Những Nét Chính Về Phong Trào Thơ Mới
  • Nêu Khái Niệm Giới. Xác Định Đơn Vị Phân Loại Thế Giới Sinh Vật Từ Lớn Đến Nhỏ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bai 2 Các Giới Sinh Vật T2 Doc
  • Bài 2. Các Giới Sinh Vật Giao An Sinh Hoc 10Cac Gioi Sinh Vat Docx
  • Giới Hạn Sinh Thái Và Ổ Sinh Thái
  • Cùng Học Ngữ Pháp Tiếng Trung Cơ Bản (P8): Giới Từ
  • Giới Từ Chỉ Thời Gian: Cách Dùng & Bài Tập
  • Bài 5

    1. Giới Khởi sinh (Monera)

    Giới Khởi sinh gồm những loài vi khuẩn là những sinh vật nhân sơ rất bé nhỏ, phần lớn có kích thước khoảng 1-5 um. Chúng xuất hiện khoảng 3.5 tỉ năm trước đây. 

    Vi khuẩn sống khắp nơi : trong đất, nước, không khí, trên cơ thể sinh vật khác. Vi khuẩn có phương thức sinh sống rất đa dạng, một số sống hoại sinh, một số có khả năng tự tổng hợp chất hữu cơ nhờ năng lượng ánh sáng mặt trời hoặc từ quá trình phân giải các chất hữu cơ và một số sống kí sinh.

    2. Giới Nguyên sinh (Protista)

    Giới nguyên sinh gồm có :

    – Tảo : Tảo là những sinh vật nhân thực, đơn bào hay đa bào, có sắc tố quang tự dưỡng, sống trong nước.

    – Nấm nhầy là những sinh vật nhân thực, cơ thể tồn tại ở hai pha :pha đơn bào giống (trùng amip và pha hợp bào là khối chất nguyên sinh nhầy chứa nhiều nhân. Chúng là sinh vật dị dưỡng, sống hoại sinh.

    – Động vật nguyên sinh : Động vật nguyên sinh rất đa dạng, cơ thể gồm một tế bào có nhân thực. Chúng là sinh vật dị dưỡng hoặc tự dưỡng.

    3. Giới Nấm (Fungi)

    Đặc điểm chung của giới Nấm : Giới Nấm gồm những sinh vật nhân thực, cơ thể đơn bào hoặc đa bào, cấu trúc dạng sợi, phần lớn có thành tế bào chứa kitin, không có lục lạp. Nấm có hình thức sinh sản hữu tính và vô tính nhờ bào tử.Nấm là sinh vật dị dưỡng : hoại sinh, kí sinh hoặc cộng sinh.

    Các dạng nấm gồm có : nấm men, nấm sợi, nấm đảm, chúng có nhiều đặc điểm khác nhau. Người ta cũng xếp địa y (được hình thành do sự cộng sinh giữa nấm và tảo hoặc vi khuẩn lam) vào giới Nấm.

    4. Giới Thực vật (Plantae)

    Giới thực vật gồm những sinh vật đa bào, nhân thực, có khả năng quang hợp và là sinh vật tự dưỡng, thành tế bào được cấu tạo bằng xenlulôzơ. Phần lớn sống cố định có khả năng cảm ứng chậm.

    Giới Thực vật được phân thành các ngành chính : Rêu, Quyết, Hạt trần, Hạt kín. Chúng đều có chung một nguồn gốc là Tảo lục đa bào nguyên thủy.

    Khi chuyển lên đời sống trên cạn, tổ tiên của giới Thực vật đã tiến hóa theo hai dạng khác nhau. Một dòng hình thành Rêu (thể giao tử chiếm ưu thế), dòng còn lại hình thành Quyết, Hạt trần, Hạt kín (thể bào tử chiếm ưu thế).

    Giới thực vật cung cấp thức ăn cho giới Động vật, điều hòa khí hậu, hạn chế xói mòn, sụt lở, lũ lụt, hạn hán, giữ nguồn nước ngầm và có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái.

    Giới Thực vật cung cấp lương thực, thực phẩm, gỗ, dược liệu cho con người. 

    5. Giới Động vật (Animalia)

    Giới Động vật gồm những sinh vật đa bào, nhân thực, dị dưỡng, có khả năng di chuyển nhờ có cơ quan vận động), có khả năng phản ứng nhanh.

    Giới Động vật được chia thành các ngành chính sau : Thân lỗ, Ruột khoang, Giun dẹp, Giun tròn, Giun đốt, Thân mềm, Chân khớp, Da gai và Động vật có dây sống.

    Giới Động vật rất đa dạng và phong phú, cơ thể có cấu trúc phức tạp với các cơ quan và hệ cơ quan chuyên hóa cao.

    Động vật có vai trò quan trọng đối với tự nhiên (góp phần làm cân bằng hệ sinh thái) và con người (cung cấp nguyên liệu, thức ăn …).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Phát Triển Của Sinh Giới Qua Các Đại Địa Chất
  • Giáo Án Sinh Học 12 Bài 33: Sự Phát Triển Của Sinh Giới Qua Các Đại Địa Chất
  • Sự Phát Triển Của Sinh Giới Qua Các Đại Địa Đất
  • Giáo Án Sinh 12 Tiết 35: Sự Phát Triển Của Sinh Giới Qua Các Đại Địa Chất
  • Bài 33. Sự Phát Triển Của Sinh Giới Qua Các Đại Địa Chất
  • Nêu Khái Niệm Trò Chơi Dân Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • Tcdg: Nhóm Thiết Kế Khái Niệm
  • Trò Chơi Dân Gian Là Gì? Những Trò Chơi Dân Gian Hấp Dẫn Dành Cho Trẻ Và Lợi Ích Của Trò Chơi Dân Gian
  • Vài Quan Niệm Tri Thức
  • Tổng Quan Về Hội Nông Dân Việt Nam
  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Phát Triển Hội Nông Dân Việt Nam
  • * Dụng cụ:

    + Một cái khăn bất kì tượng trưng cho cờ

    + Một vòng tròn

    + Vạch xuất phát củng là đích của 2 đội

    * Cách chơi:

    + Quản trò chia tập thể chơi thành hai đội, có số lượng bằng nhau mỗi đội có từ 5-6 bạn, đứng hàng ngang ở vạp xuất phát của đội mình. Đếm theo số thứ tự 1,2,3,4,5… các bạn phải nhớ số của mình.

    + Khi quản trò gọi tới số nào thì số đó của hai đội nhanh chóng chạy đến vòng và cướp cờ.

    + Khi quản trò gọi số nào về thì số đó phải về

    + Một lúc quản trò có thể gọi hai ba bốn số.

    * Luật chơi:

    + Khi đang cằm cờ nếu bị bạn vỗ vào người, thua cuộc

    + Khi lấy được cờ chạy về vạch xuất phát của đội mình không bị đội bạn vỗ vào người, thắng cuộc

    + Khi có nguy cơ bị vỗ vào người thì được phép bỏ cờ xuống đất để chánh bị thua

    + Số nào vỗ số đó không được vỗ vào số khác. Nếu bị số khác vỗ vào không thua

    + Số nào bị thua rồi (“bị chết”) quản trò không gọi số đó chơi nữa

    + Người chơi không được ôm, giữ nhau cho bạn cướp cờ

    + Người chơi tìm cách lừa đối phương để nhang cờ về, lựa chọn sân bải phù hợp để chánh nguy cơ, cờ ra khỏi vòng tròn, để cờ lại vòng tròn chỉ được cướp cờ trong vòng tròn

    + Khoảng cách cờ đến hai đội bằng nhau

    2. Trò chơi: THẢ CHÓ

    * Cách chơi:

    + Một bạn đóng vai “chú chó”

    + một bạn đóng vai ” ông chủ”

    + các bạn còn lại đống vai “thỏ con”

    + các bạn cùng hát: “ve ve chùm chùm, cá bóng nổi lửa, ba con lửa chếp chôi, ba con voi thượng đế, ba con dế đi tìm, ù a ù ịch”

    + một bạn làm ông chủ xoè ngữa bàn tay phải, các bạn tập trung thành một vòng tròn bên xung quanh ông chủ và lấy ngón tay trái của mình đặt vào lòng bàn tay của ông chủ khi nghe có có câu “ù a ù ịch” thì các bạn sẽ rút tay ra ông chủ sẽ bốp tay lại* Luật chơi:

    + khi bạn nào bị ông chủ nắm ngón tay, sẽ đóng vai chú chó, các bạn còn lại sẽ làm thỏ

    + khi ông chủ tả một vật nào đó thì lập tức các chú thỏ sẽ chạy tới chạm vào trong một khoản thời gian nào đó và ông chủ sẽ thả chó

    + khi thấy chú chó xuất hiện thì ngay lập tức thỏ phải chại nhanh đến chổ vật ông chũ tả chạm vào. và quay về chạm ông chủ. khi thấy chú chó thì các chú thỏ phải đi về ở tư thế khum, 2 tay chéo nhau đặc lên lổ tay.nêu đi về ở tư thế khum mà không chéo tay thì bị chú chó bắt hoặc đứng lên để chạy về mà bị chú chó đụng sẽ bị đóng vai chú chó thay cho bạn làm chú chó

    3. Trò chơi: DUNG DĂNG DUNG DẼ

    * Cách chơi:

    + Địa điểm :trong nhà ngoài sân

    + Số lượng:từ 5-10 em chơi 1 nhớm

    + Hướng dẫn:quản trò vẽ sẳn các vòng tròn nhỏ trên đất,số lượng vòng tròn ích hơn số người chơi,chơi1.

    Khi chơi các bạn nắm áo tạo thành một hàng đi quanh các vùng tròn và cùng độc”dung dăng dung dè dắc trẽ đi chơi,đi đến cổng trời gặp cậu gặp mợ,cho cháu về quê, cho dê đi học,cho cóc ở nhà cho gà bới bếp,ngồi xệp xuống đây” khi đọc hết chử đây các bạn chơi nhanh chóng tìm một vòng tròn và ngồi xệp xuống.sẽ có một bạn không có vòng tròn để ngồi tiếp tục xoá vòng tròn và chơi như trên,lại sẽ có 1 bạn không có,trò chơi tiếp tục khi chỉ còn 2 người* Luật chơi

    + Trong 1 khoản thời gian bạn nào khống có vòng thì bị thua

    + Hai bạn ngồi cùng 1 vòng bạn nào ngồi xuóng dưới là thắng

    4. Trò chơi: CHI CHI CHÀNH CHÀNH

    * Cách chơi và luật chơi:

    Người chơi có thể từ 3 người trở lên. Chọn một người đứng ra trước xòe bàn tay ra các người khác giơ ngón trỏ ra đặt vào long bàn tay vào. Người xòe bàn tay đọc thật nhanh:

    Chi chi chành chành.

    Cái đanh thổi lửa.

    Con ngựa chết chương.

    Ba vương ngũ đế.

    Chấp chế đi tìm

    Ù à ù ập.Đọc đến chữ “ập” người xòe tay nắm lại, những người khác cố gắng rút tay ra thật nhanh, ai rút không kịp bị nắm trúng thì vào thế chỗ người xòe tay và vừa làm vừa đọc bài đồng dao cho các bạn khác chơi.

    5. Trò chơi: CHÙM NỤM

    * Cách chơi và luật chơi:

    Tất cả các bạn chơi phải nắm tay lại và xếp chồng lên nhau. Tay người này xen kẽ tay người kia không được để hai tay của mình gần nhau.

    Người nào để tay đầu tiên chỉ đặt một tay và cũng được xem là người bị đầu tiên , tay còn lại dùng để chỉ mỗi từ trong bài đồng dao tương ứng với một nắm tay. Tất cả cùng hát :Chùm nụm chùm nẹo

    Tay tí tay tiên

    Đồng tiền chiếc đũa

    Hạt lúa ba bông

    An trộm ăn cắp

    Trứng gà trứng vịt

    Bù xe bù xít

    Con rắn con rít

    Nó rít tay nàyĐến từ cuối cùng “này” trúng tay ai thì người đó phải rút nắm tay ra hoặc người chỉ chặt ngang nắm tay của người đó. Lúc này người bị phải chỉ thay cho người đầu tiên vừa hát vừa chỉ các nắm tay các bạn chơi. Cuộc chơi cứ thế tiếp tục đến hết các nắm tay thì trì chơi kết thúc.

    6. Trò chơi:NHẢY BAO BỐ

    * Cách chơi:

    Người chơi chia làm hai đội trở lên thông thường thì từ hai đến ba đội, mỗi đội phải có số người bằng nhau.Mỗi đội có một ô hàng dọc để nhảy và có hai lằn mức một xuất phát và một mức đích. Mỗi đội sếp thành một hàng dọc.

    Người đứng đầu bước vào trong bao bố hai tay giữ lấy miệng bao. Sau khi nghe lệnh xuất phát người đứng đầu mỗi đội mới nhảy đến đích rồi lại quay trở lại mức xuất phát đưa bao cho người thứ 2. Khi nào ngườithứ nhất nhảy về đến đích thì người thứ 2 tiếp theo mới bắt đầu nhảy. Cứ như vậy lần lượt đến người cuối cùng. Đội nào về trước đội đó thắng* Luật chơi:

    Ngừơi chơi nào nhảy trước hiệu lệnh xuất phát là phạm luật, người nhảy chưa đến mức quy định mà quay lại cũng phạm luật. Nhảy chưa đến đích mà bỏ bao ra cũng phạm luật và có thể bị loại khỏi cuộc chơi.

    7. Trò chơi: ĐÚC CÂY DỪA, CHỪA CÂY MỎNG

    Bây giờ tôi nhớ và ôn lại những kỷ niệm hồi còn nhỏ, tất cả trẽ em xóm tôi có những trò chơi dân gian, không biết phát xuất từ lúc nào ở Ninh Hòa.

    Trò chơi sau đây rất vui, khi tụm năm tụm bảy được rồi thì chơi quên ăn, quên làm, chơi say mê như trò chơi “Đúc cây dừa, chừa cây mỏng”.

    Bắt đầu trò chơi này không cần bao nhiêu người, có bao nhiêu người chơi cũng được.

    Tất cả người chơi ngồi xếp hàng xuống thềm nhà, hai chân duỗi thằng ra phía trước, người ở đầu hàng đếm chuyền xuống đến người ở cuối hàng và tiếp tục người ở cuối hàng đếm chuyền đến người ở đầu hàng. Vừa đếm vừa đọc bài ca dân gian như vầy:

    Đúc cây dừa

    chừa cây mỏng

    cây bình đỏng (đóng)

    cây bí đao

    cây nào cao

    cây nào thấp

    chầp chùng mùng tơi chín đỏ

    con thỏ nhảy qua

    bà già ứ ự

    chùm rụm chùm rịu (rạ)

    mà ra chân này

    Khi đọc hết bài ca “mà ra chân này”, ở cuối câu tới chân người nào đó, thì thụt chân vào, người nào thụt hết hai chân thì thắng, còn lại người sau cùng người nào chưa thụt cân vào thì thua. Khi đó những người thắng cuộc chuẩn bị chạy để người thua cuộc rượt bắt, bắt được bất cứ người nào xả bàn làm lại.

    Nhiều người làng Sán Dìu ở vùng Thanh Lanh (Bình Xuyên) xưa có trò chơi “Tả cáy” (có nghĩa là “Đánh gà”).

    Con gà làm bằng gỗ tiện tròn bằng quả bóng bàn. Có thể có từ 5 đến 10 người cùng chơi, mỗi người cầm một cái gậy dài hơn một mét bằng tre hoặc bằng gỗ. Đào một cái lỗ bằng cái bát con ở giữa bãi chơi để “Con gà” dưới lỗ. Người đứng cái cầm gậy đẩy con gà ra khỏi lỗ. Những người khác dùng gậy hối gà vào lỗ. Người đứng cái vừa dùng gậy hối và đi vừa phải để ý đỡ đòn kẽo gậy của người khác đập trượt vào chân mình. Người nào đứng cái giỏi giữ cái lâu nhất không có gà lọt xuống được coi là thắng cuộc. Khi để “gà” lọt xuống lỗ thì người “cái” phải làm “con” để người vừa hối gà xuống lỗ được đứng cái

    Trong dịp lễ hội, một số làng ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam có tổ chức thổi cơm thi. Cuộc thi thổi cơm ở từng nơi có những luật lệ, nét đặc trưng riêng như nấu cơm trên thuyền, nấu cơm trông trẽ, vừa đi vừa nấu cơm…

    Cuộc thi nhằm diễn lại tích của Phan Tây Nhạc, vị tướng thời vua Hùng thứ 18, đã rèn luyện cho quân sĩ thực hành một cách thành thạo, đặc biệt là nấu được cơm ăn trong điều kiện khó khăn.

    * Thể lệ cuộc thi: nguyên liệu là thóc, sẵn củi, chưa có lửa, chưa có nước. Các đội phải làm gạo, tạo ra lửa, đi lấy nước về nấu cơm. Cuộc thi có ba bước: thi làm gạo; tạo lửa, lấy nước và thổi cơm.

    Mỗi nhóm 10 người (cả nam và nữ), họ tự xay thóc, giã gạo, dần sàng, lấy lửa, lấy nước và nấu cơm.

    Bước 1, thi làm gạo: sau hồi trống lệnh, các đội đổ thóc vào xay, giã, dần sàng. Giáp nào có được gạo trắng trước nhất là thắng cuộc.

    Bước 2, thi kéo lửa và lấy nước: Lấy lửa từ hai thanh nứa già cọ vào nhau (khó nhất là khâu này), áp bùi nhùi rơm khô vào cho bén lửa. Người lấy nước cách đó khoảng 1km, nước chứa sẵn vào 4 cái be bằng đồng, đợi người đến lấy mang về. Giáp nào lấy được lửa trước và lấy nước về đích trước thì giáp đó thắng cuộc.

    Bước 3, nấu cơm: giáp nào thổi được cơm chín dẽo, ngon và xong trước thì thắng cuộc. Cơm của giáp đó được dùng để cúng thần.

    Thi nấu cơm ở hội Từ Trọng (Hoàng Hóa – Thanh Hóa)

    Người dự thi ngồi trên thuyền thúng tại một đầm rộng, lộng gió. Mỗi người một thuyền, kiềng, rơm ẩm, bã mía tươi và trang bị khác giống nhau. Sau hiệu lệnh, các thí sinh đưa thuyền rời bờ ra giữa đầm. Thuyền bồng bềnh, gió lộng, củi lửa lại khó cháy, thậm trí có lần bị mưa phùn gió bắc. Kết thúc cuộc thi ai có nồi cơm hoặc chõ xôi chín dẽo, ngon là người thắng cuộc.

    Đánh quay là trò chơi dành cho con trai. Chơi thành nhóm từ 2 người trở lên, nếu đông có thể chia thành nhiều nhóm. Một người cũng có thể chơi quay, nhưng nếu chơi nhiều người và có nhiều người ở ngoài cổ vũ thì sẽ sôi nổi và hấp dẫn hơn nhiều.

    Đồ chơi là con quay bằng gỗ hay sừng hình nón cụt, có chân bằng sắt. Dùng một sợi dây, quấn từ dưới lên trên rồi cầm một đầu dây thả thật mạnh cho quay tít. Con quay của ai quay lâu nhất, người đó được. Có thể dùng một con quay khác bổ vào con quay đang quay mà nó vẫn quay thì người chủ của con quay đó được nhất.

    13. Trò chơi: Ô ĂN QUAN

    Vẽ một hình chữ nhật được chia đôi theo chiều dài và ngăn thành 5 hàng dọc cách khoảng đều nhau, ta có được 10 ô vuông nhỏ. Hai đầu hình chữ nhật được vẽ thành 2 hình vòng cung, đó là 2 ô quan lớn đặc trưng cho mỗi bên, đặt vào đó một viên sỏi lớn có hình thể và màu sắc khác nhau để dễ phân biệt hai bên, mỗi ô vuông được đặt 5 viên sỏi nhỏ, mỗi bên có 5 ô.

    Hai người hai bên, người thứ nhất đi quan với nắm sỏi trong ô vuông nhỏ tùy vào người chơi chọn ô, sỏi được rãi đều chung quanh từng viên một trong những ô vuông cả phần của ô quan lớn, khi đến hòn sỏi cuối cùng ta vẫn bắt lấy ô bên cạnh và cứ thế tiếp tục đi quan (bỏ những viên sỏi nhỏ vào từng ô liên tục). Cho đến lúc nào viên sỏi cuối cùng được dừng cách khoảng là một ô trống, như thế là ta chặp ô trống bắt lấy phần sỏi trong ô bên cạnh để nhặt ra ngoài. Vậy là những viên sỏi đó đã thuộc về người chơi, và người đối diện mới được bắt đầu.

    Đến lượt đối phương đi quan cũng như người đầu tiên, cả hai thay phiên nhau đi quan cho đến khi nào nhặt được phần ô quan lớn và lấy được hết phần của đối phương. Như thế người đối diện đã thua hết quan.

    Hết quan tàn dân, thu quân kéo về. Hết ván, bày lại như cũ, ai thiếu phải vay của bên kia. Tính thắng thua theo nợ các viên sỏi.

    Quan ăn 10 viên sỏi.Cách chơi ô ăn quan được nói lên rất đơn giản nhưng người chơi ô ăn quan đã giỏi thì việc tính toán rất tài tình mà người đối diện phải thua cuộc vì không còn quan (sỏi) bên phần mình để tiếp tục cuộc chơi…

    14. Trò chơi: MÈO ĐUỔI CHUỘT

    Trò chơi gồm từ 7 đến 10 người. Tất cả đứng thành vòng tròn, tay nắm tay, giơ cao lên qua đầu. Rồi bắt đầu hát.

    Mèo đuổi chuột

    Mời bạn ra đây

    Tay nắm chặt tay

    Đứng thành vòng rộng

    Chuột luồn lỗ hổng

    Mèo chạy đằng sau

    Thế rồi chú chuột lại đóng vai mèo

    Co cẳng chạy theo, bác mèo hóa chuột

    Một người được chọn làm mèo và một người được chọn làm chuột. Hai người này đứng vào giữa vòng tròn, quay lưng vào nhau. Khi mọi người hát đến câu cuối thì chuột bắt đầu chạy, mèo phải chạy đằng sau. Tuy nhiên mèo phải chạy đúng chỗ chuột đã chạy. Mèo thắng khi mèo bắt được chuột. Rồi hai người đổi vai trò mèo chuột cho nhau. Trò chơi lại được tiếp tục.

    15. Trò chơi: RỒNG RẮN LÊN MÂY

    Một người đứng ra làm thầy thuốc, những người còn lại sắp hàng một, tay người sau nắm vạt áo người trước hoặc đặt trên vai của người phía trước. Sau đó tất cả bắt đầu đi lượn qua lượn lại như con rắn, vừa đi vừa hát:

    Rồng rắn lên mây

    Có cây lúc lắc

    Hỏi thăm thầy thuốc

    Có nhà hay không?

    Người đóng vai thầy thuốc trả lời:

    – Thấy thuốc đi chơi ! (hay đi chợ, đi câu cá , đi vắng nhà… tùy ý mà chế ra).

    Đoàn người lại đi và hát tiếp cho đến khi thầy thuốc trả lời:

    – Có !

    Và bắt đầu đối thoại như sau : Thầy thuốc hỏi:

    – Rồng rắn đi đâu?

    Người đứng làm đầu của rồng rắn trả lời:

    – Rồng rắn đi lấy thuốc để chữa bệnh cho con.

    – Con lên mấy ?

    – Con lên một

    – Thuốc chẳng hay

    -Con lên hai.

    – Thuốc chẳng hay.

    ………………………………………….. ….

    Cứ thế cho đến khi:

    – Con lên mười.

    – Thuốc hay vậy.

    Kế đó, thì thầy thuốc đòi hỏi:

    + Xin khúc đầu.

    – Những xương cùng xẩu.

    + Xin khúc giữa.

    – Những máu cùng me.

    + Xin khúc đuôi.

    – Tha hồ mà đuổi.

    Lúc đó thầy thuốc phải tìm cách làm sao mà bắt cho được người cuối cùng trong hàng.

    Ngược lại thì người đứng đầu phải dang tay chạy, cố ngăn cản không cho người thầy thuốc bắt được cái đuôi của mình, trong lúc đó cái đuôi phải chạy và tìm cách né tránh thầy thuốc. Nếu thầy thuốc bắt được người cuối cùng thì người đó phải ra thay làm thầy thuốc.

    Nếu đang chơi dằng co giữa chừng, mà rồng rắn bị đứt ngang thì tạm ngừng để nối lại và tiếp tục trò chơi.

    16. Trò chơi: NÉM CÒN

    Với người Việt cổ xưa, trò chơi này thường dành cho giới nữ, con nhà quý phái, xưa kia là các mỵ nương, con gái Lạc hầu, Lạc tướng. Đối với các dân tộc Mường, Tày, Hmông, Thái… ném còn là trò tín ngưỡng hấp dẫn nhất của trai gái trong dịp hội xuân.

    Quả “còn” hình cầu to bằng nắm tay trẽ nhỏ, được khâu bằng nhiều múi vải màu, bên trong nhồi thóc và hạt bông (thóc nuôi sống con người, bông cho sợi dệt vải). Quả còn có các tua vải nhiều màu trang trí và có tác dụng định hướng trong khi bay. Sân ném còn là bãi đất rộng, ở giữa chôn một cây tre (hoặc vầu) cao, trên đỉnh có “vòng còn” hình tròn (khung còn), khung còn một mặt dán giấy đỏ (biểu tượng cho mặt trời), mặt kia dán giấy vàng (biểu tượng cho mặt trăng). Cả mặt giấy là biểu tượng cho sự trinh trắng của người con gái. Người chơi đứng đối mặt với nhau qua cây còn, ném quả còn lọt qua vòng còn trên đỉnh cột là thắng cuộc.

    Mở đầu cuộc chơi là phần nghi lễ, thầy mo dâng hai quả còn làm lễ giữa trời đất, cầu cho bản làng yên vui, mùa màng tươi tốt, nhà nhà no ấm. Sau phần nghi lễ, thầy mo cầm hai quả còn đã được “ban phép” tung lên cho mọi người tranh cướp, khai cuộc chơi ném còn năm đó. Các quả còn khác của các gia đình lúc này mới được tung lên như những con chim én.

    Trước khi khép hội, thầy mo rạch quả còn thiêng (đã được ban phép) lấy hạt bên trong, tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người Tày quan niệm hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu và may mắn, vì nó đã được truyền hơi ấm của những bàn tay nam nữ (âm – dương).

    Ném còn làm cho người trong cuộc hào hứng, người đứng ngoài hò reo cổ vũ khiến không khí cuộc chơi rất sôi nổi, hấp dẫn. Ném còn là trò chơi không những thu hút nam nữ thanh niên mà nhiều người lớn tuổi cũng rất thích. Trò vui này mang ý nghĩa phồn thực, cầu mong giao hoà âm – dương, mùa màng tươi tốt.

    Hàng năm, ở một số vùng có tổ chức hội thi thơ như ở Hoa Lư (Ninh Bình) và Yên Đổ (Hà Nam).

    Vùng Hoa Lư, Ninh Bình, có phong cảnh nên thơ, hùng vĩ. Hàng năm nhân ngày hội đền vua Đinh, để giữ gìn nếp xưa và khuyến khích dân chúng trên đường văn học, dân làng mở hội thi thơ, không những riêng cho dân sở tại mà còn cho tất cả những ai văn hay chữ tốt, muốn được giải và muốn được tiếng tăm với mọi người.

    Đề thơ tuỳ ban tổ chức lựa chọn. Giải thưởng thường chỉ được mấy vuông nhiễu điều, gói chè, mươi quả cau. Những người được giải hãnh diện về thơ hơn vì giải. Hàng năm có 3 giải thưởng cho cuộc thi này, vì ban giám khảo gồm các tay văn học nổi tiếng trong vùng. Có khi Ban tổ chức mời cả những bậc đại khoa có danh chấm giải. Ngày xưa, thường vị tuần phủ chủ tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng chấm thơ.

    Hàng năm làng Yên Đổ (Hà Nam) tổ chức cuộc thi thơ vào 24 tháng Chạp, nhân phiên chợ Đồng.

    Buổi sáng hôm đó, cuôc thi văn thơ đã được các bô lão trong làng tổ chức tại ngôi đình cạnh chợ. Văn sĩ khắp nơi đến tụ tập ở Tưởng Đền để dự cuộc thi thơ. Các vị khoa mục làng Yên Đổ và các làng gần đó làm giám khảo. Thí sinh nào trúng giải thưởng sẽ được hoan hô và được ban thưởng phần thưởng rất hậu. Thật là cuộc thi tao nhã và hào hứng với mục đích khuyến khích thí sinh dùi mài kinh sử, tranh ngôi đoạt giáp sau này.

    Sau cuộc thi, những người trúng giải được nếm rượu ở Tưởng Đền với các bô lão trong làng.

    Chim Bồ câu được là biểu tượng cho hoà bình – tự do nên thường được gọi là chim Hoà bình. Dựa vào những đặc tính ấy của chim. Từ lâu, ông cha ta đã sáng tạo một lối chơi dân gian tao nhã: thi thả chim bồ câu. Tương truyền, thú chơi này xuất hiện từ thời Lý.

    Bồ câu là loài chim có khả năng đinh hướng tốt, dù xa nhà cũng tìm được về tổ ấm trừ khi gặp gió bão, chúng có tính hợp quần cao, sống theo đàn, chung thuỷ và nghĩa tình.

    Hàng năm có đến hàng chục hội thi thả chim câu thường được tổ chức vào hai mùa: mùa hạ (tháng 3-4 âm lịch) và mùa thu (tháng 7-8 âm lịch). Khu vực trung tâm hội thi thuộc Châu thổ sông Hồng kéo dài từ 2 bên bờ sông Đuống đến một phần tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh (Đa Phúc, Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Tiên Sơn, Yên Phong). Hội thi còn diễn ra ở một số nơi phía Tây Hà Nội như Tây Tựu, Đan Phượng, Hoài Đức.

    Từ xưa các cụ đã định ra tiêu chuẩn thi thả chim câu bay rất nghiêm ngặt. Cả đàn bay chặt chẽ, cự ly đều, không tách rời đàn, vòng lượn hẹp và tròn, bay cao, trụ hướng thẳng đứng lên. Khi mắt thường nhìn lên thấy cả đàn thấy cả đàn chụm thành môt vòng tròn nhỏ không thấy vỗ cánh rồi tìm hướng bay về tổ. Lúc đó đàn chim được vào “trông thượng” để xét giải.

    Vậy mà cái thú chơi chim lành mạnh thanh nhã lúc nông nhàn, hội hè đình đám, biểu tượng khát vọng của tự do, ca ngợi đức tính của đoàn kết, chung thuỷ vẫn cuốn hút nhiều người, nhiều nơi ở mọi lứa tuổi.

    20. Trò chơi: ĐÁNH ROI MÚA MỌC

    Roi bằng tre vót nhẵn và dẻo, đầu bịt vải đỏ, còn mộc đan bằng tre sơn đỏ. Các đấu thủ đấu tay đôi với nhau: vừa dùng roi để đánh, dùng mộc để đỡ, ai đánh trúng địch thủ vào chỗ hiểm và đánh trúng nhiều thì thắng, thường đánh trúng vào vai và sườn mới được nhiều điểm.

    Các hội lễ ở miền Bắc thường được tổ chức thi đấu vào những ngày đầu tháng giêng.

    Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao giờ số người chơi cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia ngã về phía mình.

    Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng.

    Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một vị chức sắc hay bô lão cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là thắng. Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng “dô ta”, “cố lên”.

    Có nơi người ta lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu hai bên nắm lấy tay nhau, còn các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Đang giữa cuộc, một người bên nào bị đứt dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.

    23. Trò chơi: ĐẤU VẬT

    Đấu vật rất phổ biến ở nhiều hội xuân miền Bắc và miền Trung. Trong hội làng Mai Động (Hà Nội) có thi vật ở ngay trước bãi đình làng. Các đô vật ở các nơi kéo về dự giải rất đông. Làng treo giải vật gồm nhất, nhì, ba và nhiều giải khác.

    Trong lúc vật, các đô vật cởi trần và chỉ đóng một cái khố cho kín hạ bộ. Cởi trần cốt để đôi bên không thể nắm áo, nắm quần nhau gây lợi thế cho mình được. Khố các đô vật phần nhiều bằng lụa, nhiều màu. Trước khi vào vật, hai đô vật lễ vọng vào trong đình.

    Cuộc thi bắt đầu, các đô vật lên lễ đài. Sau một hồi khua chân múa tay để rình miếng nhau, họ mới xông vào ôm lấy nhau. Họ lừa nhau, dùng những miếng để vật ngửa địch thủ. Với miếng võ nằm bò, có tay đô vật nằm lì mặc cho địch thủ đẩy mình, rồi bất thần họ nhỏm đứng dậy để phản công.

    Thường thì giải ba được vật trước, rồi đến giải nhì và sau cùng là giải nhất. Mỗi một giải vật xong, người chúng giải được làng đốt mựng một bánh pháo.

    Trò vật cù: trên một khoảng sân, thường có khoảng 14 thanh niên trai tráng chia hai bên cởi trần, đóng khố, tìm cách lừa nhau để ôm cho được quả bóng bằng củ chuối gọt nhẵn chạy về bỏ vào chuồng (lỗ nhỏ được đào theo hình vuông hoặc tròn, gần như là vừa khít với quả cù) đối phương thì là thắng cuộc.

    Quả cù được làm từ gốc chuối, đặc biệt thích hợp là gốc chuối hột loại lớn, đào lên lấy củ. Dùng dao sắc đẽo củ chuối thành hình tròn có đường kính cữ 30cm, trọng lượng 5 – 7kg là có quả cù đảm bảo yêu cầu. Quả cù phải sạch nhựa và có độ dẽo cần thiết, bởi nó thường xuyên bị giành giật, quăng ném mạnh dễ vỡ trong khi chơi. Vì vậy, quả cù sau khi lược đẽo xong, được luộc qua nước sôi, vớt ra phơi nắng khá kỹ. Lúc này quả cù có màu sẫm và rất dẽo, không bị nứt vỡ khi chơi. Sân chơi cù thường là những sân cát bên bờ sông hay trong làng, chiều dài độ 50m, ngang độ 25m. Có ba hình thức chơi cù: cù gôn, cù đẩy và củ nước. Cả ba lối chơi này đều có chung hình thức tính điểm và bố trí giống nhau, ở hai đầu sân của mỗi bên là hai chiếc sọt đan bằng nan tre, nứa cao 1,5m, đường kính 50cm (cù gôn, cù nước), hay đào một hố sâu rộng 50 x 50cm (cù đẩy). Bên nào giành và đưa được cù vào sọt (hay vào hố) của đối phương được một điểm. Để đưa được quả cù vào đích cũng không phải dễ dàng gì bởi phải giành giật, tranh cướp quyết liệt, bên nào cũng tìm mọi cách nhằm cản phá đối phương đưa cù vào sọt (hố) của mình. Hội vật cù vì thế rất sôi nổi, hào hứng, cuốn hút mọi người.

    Mỗi cuộc chơi không qui định cụ thể, số người tham gia mỗi bên cũng không hạn chế. Có khi hội vật cù lên đến đỉnh điểm, đàn ông trai tráng trong làng đều hăng hái vào cuộc không kể tuổi tác, lúc ấy thường là vào dịp Tết Nguyên đán. Người tham gia vật cù đều cởi trần đóng khố. Đề phân biệt người của hai đội, ban tổ chức qui định rnàu sắc của khố hay dải khăn màu vấn trên đầu. Tuy từ xưa không có một điều luật cụ thể, nhưng trong hội vật cù không hề có lối chơi thô bạo, ác ý. Rất quyết liệt nhưng cũng rất trong sáng. Kết thúc cuộc chơi, đội nào có số lần đưa cù vào đích của đối phương nhiều hơn là đội thắng. Giải thưởng chỉ mang tính tượng trưng, danh dự. Ở hội cù, người các làng xem và cổ vũ rất đông, hò reo, đánh trống chiêng cuồng nhiệt cổ vũ cho đội nhà và tán thưởng những đường chạy cù ngoạn mục…

    25. Trò chơi: BỊT MẮT BẮT DÊ

    Trẽ con từ 6 đến 15 tuổi hay chơi trò bịt mắt bắt dê. Một người xung phong để mọi người bịt mắt lại bằng một chiếc khăn để không nhìn thấy, những người còn lại đứng thành vòng tròn quanh người bị bịt mắt.

    Mọi người chạy xung quanh người bị bịt mắt đến khi nào người đó hô “bắt đầu” hoặc “đứng lại” thì tất cả mọi người phải đứng lại, không được di chuyển nữa. Lúc này người bị bịt mắt bắt đầu lần đi xung quanh để bắt được ai đó, mọi người thì cố tránh để không bị bắt và tạo ra nhiều tiếng động để đánh lạc hướng. Đến khi ai đó bị bắt và người bị bịt mắt đoán đúng tên thì người đó sẽ phải ra “bắt dê”, nếu đoán sai lại bị bịt mắt lại và làm tiếp.

    Có ai đó muốn ra chơi cùng thì phải vào làm luôn, người đang bị bịt mắt lúc này được ra ngoài hoặc là phải oẳn tù tì xem ai thắng.

    26. Trò chơi: KÉO CƯA LỪA XẼ

    Hai người ngồi đối diện nhau, cầm chặt tay nhau. Vừa hát vừa kéo tay và đẩy qua đẩy trông như đang cưa một khúc gỗ ở giữa hai người.

    Mỗi lần hát một từ thì lại đẩy hoặc kéo về một lần. Bài hát có thể là:

    Kéo cưa lừa xẽ

    Ông thợ nào khỏe

    Về ăn cơm vua

    Ông thợ nào thua

    Về bú tí mẹ

    Hoặc:

    Kéo cưa lừa xẽ

    Làm ít ăn nhiều

    Nằm đâu ngủ đấy

    Nó lấy mất của

    Lấy gì mà kéo

    Trò tung cầu, cướp cầu là một trò chơi mang tính nghi lễ (hoặc phong tục) mang tính bắt buộc ở nhiều lễ hội. Tuỳ từng địa phương có quy định, cách chơi hay tên gọi khác nhau.

    Một bên cuớp cầu để ném vào một cái hố đào sẵn bên hướng đông, nhóm bên kia cướp cầu để ném vào hố hướng tây. Bên nào cướp được cầu và ném vào hố của bên kia nhiều lần là bên thắng cuộc. Cũng có nơi cầu được ném vào một hố ở giữa sân đình hay ném vào một cái giỏ không đáy treo trên cây, bên nào ném vào giỏ của bên kia trước thì bên đó thắng cuộc. Có nơi quy ước bên nào ném vào giỏ của bên mình trước thì bên đó thắng cuộc.

    28. Trò chơi: KÉO CHỮ

    Trò chơi kéo chữ phát triển ở vùng Hoa Lư, Tam Điệp (Ninh Bình). Một đội kéo chữ có 32 con trai dưới 15 tuổi mặc quần xanh, áo trắng có nẹp đỏ, chân quấn xà cạp, tay cầm gậy dài 1,2m cuốn giấy màu và ở trên đầu gậy có gù sặc sỡ.

    Tất cả được chia làm hai dẫy, mỗi dẫy có một người cầm đầu (tổng cờ tiền) và một người đứng cuối (tổng cờ hậu). Tổng cờ phải chọn những người có mặt mũi khôi ngô, mặc quần trắng, áo the đầu đội khăn xếp, thắt lưng ba múi, tay cầm cờ thần vuông.

    Vào cuộc kéo chữ, theo tiếng trống của người tiểu cảnh, hai cánh quân dàn ra dưới sự hướng dẫn của các tổng cờ để xếp thành các chữ khác nhau. Các tổng cờ vừa dẫn quân vừa múa hát, làm cho không khí rất sôi nổi và náo nhiệt. Đội quân theo tổng cờ chạy theo hình xoáy ốc với những động tác phức tạp, lần lượt các chữ được hiện ra (chữ Hán hoặc Nôm) “Thái bình”, “Thiên phúc”, “Xuân hoà khả lạc”, “Quốc thái dân an”…

    Từ xa xưa ở Việt Nam đã có đua thuyền. Đua thuyền ở nhiều nơi không phải là trò thi tài mà là hành vi thực hiện một nghi lễ với thuỷ thần, xuất phát từ tục cầu nước của cư dân nông nghiệp – tín ngưỡng phồn thực.

    Có nơi cuộc thi chỉ có hai thuyền (Đào Xá – Phú Thọ), một chải “đực” mang hình chim ở mũi thuyền, chải kia là “cái” mang hình cá. Hai biểu tượng đối ứng giao hoà âm – dương (chim trên cao, dương – cá dưới nước, âm); khô – ướt (thuyền và nước); thuyền trôi, mái chèo khuấy nước nhằm “đánh thức thuỷ thần” và cuộc đua ấy chỉ thực hiện vào ban đêm, đến dạng sáng thì kết thúc. Cuộc đua thuyền của cư dân miền biển thì lại mang ý nghĩa cầu ngư. Có địa phương tổ chức đua thuyền để tưởng niệm các anh hùng giỏi về thủy chiến…

    Ngày nay, đua thuyền là một nội dung quan trọng trong chương trình của rất nhiều lễ hội từ Bắc chí Nam, nhất là các địa phương có sông hồ hoặc gần biển. Cuộc đua thuyền hiện nay ở nhiều địa phương không đơn thuần là một hoạt động tín ngưỡng như bưổi ban đầu mà đã trở thành sự kiện thể thao hấp dẫn có quy mô lớn, thu hút nhiều đối tượng tham gia. Đua thuyền đã có thêm sứ mệnh của cuộc thi tài và biểu dương sức mạnh tập thể.

    30. Trò chơi: CHƠI HÓP

    Chơi hóp là một trong những trò chơi trong dân gian Ninh Hòa mà tôi xin ghi lại để cống hiến quý bạn đồng hương ít nhiều đã có một thời trải qua trong thời niên thiếu tại quê hương mến yêu.

    Để bắt đầu trò chơi, tùy theo cách chia bắt cặp hoặc chơi lẽ từng người, bao nhiêu người chơi cũng được, ăn thua hoặc bằng tiền, hoặc hình, hoặc bịch thuốc lá…v..v…, tùy theo điều kiện và giao kèo sẵn có.

    Cách chơi:

    Vẽ một hình chữ nhật, dài rộng tùy thích không cần kích thước. Chúng ta cần một cục gạch thẽ nguyên và nửa cục gạch thẽ khác được kê sát và nằm giữa lằn mức của cạnh (hay một đầu) của hình chữ nhật. Hai cục gạch này được cấu trúc sao cho nửa cục gạch dựng đứng (điểm tựa) và cục gạch nguyên vẹn được gát lên đầu tựa của nửa cục gạch kia. Như vậy, chúng ta có đuôi của cục gạch nguyên chạm mặt đất, đầu đưa lên trời, chính giữa tựa trên đầu của “nửa cục gạch” kia tạo thành một mặt dốc để khởi động vận chuyển tròn của đồng tiền cắc (hòn chì). Đến đây, chúng ta có mái xuôi (mặt dốc) giống hình của một đòn bẫy.

    Tiếp tục thiết bị, chúng ta gạch một đường thẳng kể từ đường giao tuyến của mặt dốc (của cục gạch nguyên) và mặt đất (mái xuôi) dài khoảng 5 tấc và cứ cách 1 tấc gạch 1 lằn mức ngang dành cho những người bị hóp mang đồng tiền cắc (hòn chì) lên đặt ở mức ngang đó: “có thể bị hóp 1,2,3 ..v..v..”

    Trước khi chơi, người chơi thi tranh đua để đi sau cùng bằng cách dùng đồng bạc cắc hoặc viên ngói bể được đập và mài tròn đến khi có diện tích (kích thước) bằng (hay vừa) đồng tiền mà người chơi gọi là hòn chì dùng để thi đua tranh giành phần thắng. Người chơi cầm hòn chì thẳng đứng khảy (khởi động chạy tròn) mạnh nhẹ tùy ý xuống dốc xuôi của cục gạch, sao cho hòn chì chạy và ngã dừng gần mức càng tốt, cán mức thì càng tốt hơn. Như vậy, người chơi có thể tranh giành đi sau cùng nhưng đừng để hòn chì lăn ra khỏi mức thì thua.

    Thi xong người chơi đi theo thứ tự, nghĩa là người nào khảy hòn chì chạy ra ngoài mức đi trước, xa mức đi kế và gần mức đi sau cùng… Người thua cuộc thì được đi đầu tiên, khảy hòn chì xuống viên gạch (mặt xuôi) để cho nó lăn xuống mức dưới; phiên người kế tiếp cố gắng khảy hòn chì, chạy xa hơn người đi trước thì tốt, cứ như thế chúng ta thay phiên lần lượt đi, cố gắng đi xa hơn mấy người trước, đừng để hòn chì chạy ra khỏi mức phía trước gọi là hóp, có khi bị hóp 2,3,4 ..v…v…

    Khi chơi người chơi bắt bồ và tìm cách cứu bồ. Khi hòn chì của bạn khảy thua phe khác, ta có quyền xê dịch viên gạch xéo qua góc này hoặc góc khác với mục đích là để khảy hòn chì không theo đường thẳng chính diện (trực chỉ song song với hai cạnh bên của hình chữ nhật) mà chạy xéo góc hơn bạn mình, thua người bắt bạn mình, như vậy gọi là “xỉa tiền”.

    Người thắng cuộc thi đi sau cùng, xem xét kỹ cách bắt những hòn chì của người đi trước, nếu khảy xa hơn để bắt được thì tốt và được đi sau cùng bàn kế tiếp, bằng không thì khảy nhẹ hòn chì để bắt những người bị hóp, xong cứ thứ tự người nào gần mức đầu dưới thì chố người thua mình ở phía trên.

    31. Trò chơi: ĐÁNH TRỎNG Đánh trỏng là một môn chơi rất là dân gian ở Ninh Hòa của lứa tuồi trẽ thơ dành riêng cho các cô cậu có gan bẫm.Trò chơi không lệ thuộc vào số người, chia thành hai nhóm, cây trỏng để đánh thường thường chúng tôi chọn một trong hai loại cây ở quê nhà chỗ nào cũng có “cây dong hoặc cây gòn”, vì hai loại cây này khi khô rất nhẹ, chặt làm hai khúc, cây cầm đánh dài khoảng 5 hoặc 6 tấc gọi là cây đập đầu mào, cây ngắn 2 tấc gọi là cây đầu mào.

    Khi có sẵn hai dụng cụ trên, chúng tôi đào một lỗ dài hơn 2 tấc, chiều sâu không tính miễn sao để đầu mào nằm gọn vào lỗ là được rồi, gạch phía trước lỗ một đường mức khoảng cách 6 hoặc 7 thước. Sáp vào trận hai nhóm bắt đầu khắc tính điểm, bên nào khắc điểm nhiều thì đi trước. Cách chơi bắt đầu, nhóm thua ra đứng phía trước lằn mức, nhóm ăn ở trong và bắt đầu chơi. Trước khi chơi hai bên giao kèo đánh được bao nhiêu điểm thì thắng . Thường thì chơi đánh trên 100 điểm mới thắng.

    1/ Phần dích đầu trỏng: đặt đầu trỏng ngắn nằm ngang trên miệng lỗ và lấy cây dài dích sao cho đầu trỏng ngắn bay ra khỏi mức, đừng để cho bên đối phương chận lại hay bắt được đầu trỏng là người đó chết, dích đầu trỏng bay cũng là một nghệ thuật, mắt nhìn liếc đối phương đứng chỗ nào trống hoặc phải dích xa hay cao để đầu trỏng bay cao, khi bên đối phương bắt không được thì người dích đặt cây trỏng dài nằm ngang trên lỗ, để cho đối phương lượm đầu trỏng ngắn nằm ở đâu thì từ chỗ đó chố vào, nếu trúng cây trỏng dài thì người đó chết ” cứ như vậy nếu chết tiếp tục thì thay thế người khác đi”.

    2/ Phần ne đầu trỏng nhỏ: Đến phần ne đầu trỏng, người ăn thường đứng sát mức, tay cầm trỏng dài để đầu trỏng ngắn nằm ngang dựa vào cùm tay, bắt đầu hất đầu trỏng ngắn tưng lên rồi khắc, liếc mắt nhìn những người thua đứng hàng mức bên ngoài đánh đầu trỏng ngắn thật mạnh ra ngoài để bên thua đừng bắt được. Khi đầu trỏng rớt xuống đất, bên thua lượm và chố vào đừng cho người bên trúng đón đánh được đầu trỏng ngắn bay ra ngoài, thì bắt đầu tính được điểm rồi . Phần tính điểm ở đây tính vào phần khắc ở trên, khắc bao nhiều cái tính bao nhiêu điểm.

    3/ Chặt đầu mào: Đặt đầu mào nằm xuôi xuống lỗ sao để một đầu chỏng lên, khi chặt đầu mào đầu trỏng ngắn bay lên, đón đầu trỏng ngắn rơi xuống rồi khắc bao nhiêu cái thì tính bao nhiêu điểm, nên đánh ra ngoài mức để sao cho đối phương đánh bắt không được thì mới tính điểm.

    4/ Phần Âm u: Bên nào đánh thắng trước điểm đã giao kèo thì âm u bên thua, tùy theo chơi để bắt cặp người ăn, người thua âm u, bên ăn bắt đầu khắc bao nhiêu cái thì nhảy bao nhiêu bước khi âm u, người ăn một tay cầm cây trỏng dài dựa vào cùm tay tưng lên rồi ne thật mạnh cho đầu trỏng ngắn bay đi thật xa, rồi rơi xuống đất người thua lượm đầu trỏng ngắn cầm trên tay, người ăn bắt đầu nhảy bắt đầu từ vị trí đầu trỏng ngắn rớt xuống, nhảy bao nhiêu bước, từ điểm khắc bao nhiêu cái ở trên. Khi nhảy xong rồi đặt cây trỏng dài xuống để cho người thua chố, nếu chố trúng cây trỏng dài, thì người thua u một hơi dài về lỗ, người ăn chạy theo sau cầm cây trỏng dài đợi khi người thua tắt hơi để đánh người thua, rồi tiếp tục cặp khác âm u. Xong hết rồi hai nhóm chơi khắc lại, tiếp tục chơi tiếp.

    Một lượt nhảy qua nhảy lại xong rồi canh bốn, thì tới canh búp.

    Khi làm canh tư, hai đứa ngồi làm chồng những bàn chân lên nhau gót chân chạm đầu ngón chân thành một tháp cao thẳng đứng tới lượt canh búp, canh nở, canh tàn, sau cùng là tới canh gươm, những canh trên chồng lên cao của ngón chân trên hết, giao kèo chơi chỉ được để cổ tay chạm ngón chân cái làm bàn tay búp, nở, tàn, gươm (nhiều bạn cũng ma giáo khi nhảy qua không để ý lú tay lên cho đụng người mẹ là chết cả đám). Những người con nhảy qua không được, có quyền nhảy qua chổ thấp nếu bên kia đồng ý.

    – Sau cùng, là đi qua sông nhỏ, sông lớn là xong, hai người làm canh qua sông nhỏ bốn bàn chân chạm vào nhau bẹt ra hơi nhỏ để người đi bước vào cũng nói “đi canh nhỏ về canh nhỏ”. Vậy là xong canh nhỏ. Canh lớn hai người làm dang chân rộng ra để bên đi bước vào mà đi canh lớn, đi canh lớn là sắp hết trò chơi, toán đi bước qua và đọc “qua sông lớn về sông lớn”. Khi về sông lớn hai người làm đưa tay lên cho người mẹ nắm và bắt đầu nói về sông lớn thì tất cả vụt chạy như rượt bắt, mấy đứa con thì lo chạy trước. Khi bắt được đứa nào thì đứa đó chết, bắt được hết thì xả bàn làm lại, hai bên tiếp tục bao tiếng xùm, bên nào thua thì làm.

    Nói tóm lại, đó là trò chơi dân gian vui nhất đối với trẽ thơ.

    ***Canh búp, nở, tàn, gươm: điển hình là một nụ hoa, dùng bàn tay để trên canh tư

    *Canh búp: dùng bàn tay chụm lại

    *Canh nở: dùng bàn tay chụm, nhưng để hé miệng

    *Canh tàn: xòe cả lòng bàn tay

    *Canh gươm: để một ngón tay thẳng đứng

    33. Trò chơi: KỂ CHUYỆN

    Sự Tích Bưởi Năm Roi

    Một buổi trưa hè nắng gay gắt, Ông Năm đang ngon giấc trong giấc ngủ trưa, chợt nghe tiếng chó sủa vang. Ông cầm ngay cây gậy để bên cạnh chiếc ghế bố ông thường nằm nghỉ trưa và đi thật nhanh đến nơi có tiếng chó sủa trong khu vườn sau nhà, một vườn cây ăn trái đang được mùa và những cây bưởi nhà ông có tiếng là ngọt lịm.

    Thằng Được cùng lũ bạn trong xóm leo rào vào và nó đang trèo trên cây bưởi, còn lũ bạn chừng 5 đứa đang trong tư thế chờ chực những quả bưởi rơi xuống từ tay thằng Được. Tiếng chó sủa làm cả đám trẽ hú hồn, thoáng thấy bóng dáng ông Năm cầm cây gậy lũ trẽ ba hồn chín vía mỗi đứa một hướng tìm đường tẩu thoát, chỉ còn thằng Được là đang lơ lửng trên cây không tuột xuống kịp. Ông Năm la lớn:

    – Thằng nhỏ mày xuống đây mau!

    Thằng Được leo xuống trong gương mặt tái xanh vì bị bắt quả tang, Nó lí nhí:

    – Dạ, ông tha cho con

    -Tại sao hái trộm?

    -Dạ, tại con thích ăn Bưởi của Ông

    -À, vậy là hái trộm, tội này đáng đánh đòn.

    Thằng nhỏ khóc hu hu và xin ông tha tội, nhưng ông không tha, ông quát:

    -Mày muốn mấy roi?

    Thằng bé chỉ biết khóc và im lặng với nét mặt sợ sệt, ông nói lớn:

    -Tội ăn trộm, vậy ông đánh mày năm roi.

    Thế là từ đó có tên Bưởi Năm Roi.

    Trong các trò chơi dân gian khi chỉ có 2 người, để biết được một trong hai người ai là người được ưu tiên thì với trò Sình Sầm dễ phân biệt trước sau. Những vật dụng được thể hiện qua bàn tay :

    – Cái Búa: nắm các ngón tay lại như quả đấm

    – Cái Kéo: nắm 3 ngón tay gồm có ngón cái, ngón áp út, và ngón út lại, và xèo 2 ngón tay còn lại (ngón trỏ, ngón giữa) ta có hình cái Kéo

    – Cái Bao: xòe cả 5 ngón tay ra .

    Luật chơi: Cái Búa thì đập cái kéo, cái kéo thì cắt cái bao, cái bao thì chùm được cái búa

    Khi cả hai cùng đọc: “Uýnh Sình Sầm mày ra cái gì? tao ra cái này”, trong khi bàn tay được dấu sau lưng và khi dứt câu thì đưa tay ra cùng một lúc không được trước sau với dấu hiệu tùy vào mỗi bên, như thế ta biết được bên nào thắng bên nào thua theo luật định, khi hai bên ra cùng một dấu hiệu thì được sình sầm lại.

    Một số người chơi rồng rắn, nối đuôi nhau bằng cách người đứng sau hai tay ôm ngang hông người đứng trước, cứ thế xếp thành hàng dài tùy theo số người chơi, hình thù như một con rắn dài có mắt khúc.

    Người đứng đầu làm đầu rắn, người đứng cuối làm đuôi rắn, giữa là thân rắn và một người làm ông thầy thuốc Bắc ngồi đối diện với con rắn. Khi con rắn (đoàn người nối đuôi nhau) cùng thưa với ông thầy bài tấu trên, Ông thầy không đồng ý thì con rắn sẽ đi vài vòng rồi quay lại tâu tiếp để xin ông thầy cho thuốc.

    Sau nhiều lần từ chối, ông thầy đồng ý thì ông sẽ đứng lên để tìm cách bắt lấy được đuôi của con rắn ông mới cho thuốc. Tình trạng con rắn lúc đó phải cố tránh né để ông thầy không bắt được đuôi nên cố sức che chắn không cho ông thầy tiến về phía sau, và cùng nhau hò hét với bài hát:

    “mạnh thầy thầy bắt được thầy ăn, mạnh rắn rắn bắt được rắn cắn”.

    Thế là cả đoàn người nối đuôi nhau phải lượn qua lượn lại (chạy qua, chạy lại) theo đầu con rắn. Cả đám người cứ thế cố né tránh, ông thầy một mình nhanh chân hơn và dễ chạy hơn, nên con rắn một lúc lâu thấm mệt và thật khó giữ được sự ngay hàng như lúc đầu nên cũng sẽ bị đứt ra nhiều đoạn, thế là đầu con rắn không còn điều khiển cho phần đuôi nữa. Vậy là ông thầy bắt được cái đuôi rắn dễ dàng.

    Trò chơi vui khi phải chạy lượn qua lại tránh thầy thuốc Bắc. Chỉ có vậy thôi nhưng với đám trẽ nhỏ trong những đêm sáng trăng ở quê nhà, với ánh sáng không tỏ tranh sáng tranh tối, thật là một trò chơi vui đùa thú vị.

    36. Trò chơi: CÚNG THÍ THỰC CÔ HỒN

    Tôi còn nhớ rõ lắm cách đây trên 30 năm, gia đình tôi sống tại một vùng quê nhỏ nhưng đầy ấp tình người, người dân quê vẫn luôn giữ được tập tục tốt đẹp: Ngày Lễ Vu Lan Rằm tháng 7 âm lịch, tức là ngày cúng Cửu huyền thất tổ, đồng thời là ngày cúng “Cô hồn các đảng” không nơi nương tựa. Việc cúng cô hồn không ai bảo ai nhà nhà đều lập bàn thờ cúng thí với lòng thành và ý thức rằng những oan hồn sống lây lất phiêu bạc nơi gò đồng, núi rừng, đói rách tả tơi, lang thang đây đó, không ai đơm quẩy thì ta nên nghĩ tưởng nhớ đến họ mà tội nghiệp, nếu không trong tâm họ sẽ cảm thấy bức rức trong lòng.

    Vào mỗi đêm trong tuần tháng 7, bất kể kẽ giàu người nghèo, mọi người đều thiết lễ cúng cô hồn tùy theo khả năng, hoàn cảnh của mình, có gì cúng nấy. Lễ cúng được bày giữa sân nhà hoặc trước cửa nhà, trên hết là một bàn cúng hương hoa quả, chè xôi bánh trái, nhất là phải có một bát cháo trắng, một đĩa nhỏ gạo muối và một nia để bày bánh trái với dụng ý cúng cho cô hồn non trẽ gồm: kẹo, bánh, mía cắt khúc, khoai lang, khoai mì, đậu phộng, cốc, ổi…và những đồng tiền cắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Trò Chơi Dân Gian Phổ Biến Nhất Cho Trẻ
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Tác Phẩm Văn Học Nghệ Thuật Dân Gian
  • Già Hoá Dân Số: Vấn Đề Chính Sách Ở Việt Nam
  • Trực Tuyến: Già Hóa Dân Số
  • Trung Tam Thong Tin Va Du Bao Kinh Te
  • Hãy Nêu Khái Niệm Về Bản Vẽ Kĩ Thuật?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Công Nghệ 8 Bài 8. Khái Niệm Về Bản Vẽ Kỹ Thuật Hình Cắt
  • Giáo Án Công Nghệ 8 Bài 8 : Khái Niệm Về Bản Vẽ Kỹ Thuật. Hình Cắt
  • Bài 9: Bản Vẽ Cơ Khí Bai 9 Ban Ve Co Khi Nguyen Hoang Trieu1 Ppt
  • Bản Vẽ Lắp Trong Vẽ Kỹ Thuật
  • Quan Điểm Của Đảng Về Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tình Hình Mới
  • Câu 1: Hình chiếu là hình biểu diễn một mặt nhìn thấy của vật thể đối với người quan sát đứng trước vật thể, phần khuất được thể hiện bằng nét đứt.

    Có 3 phép chiếu là:

    – Phép chiếu xuyên tâm: các tia chiếu xuất phát tại một điểm (Tâm chiếu).

    – Phép chiếu song song: các tia chiếu song song với nhau.

    – Phép chiếu vuông góc: các tia chiếu vuông góc với mặt phẳng chiếu.

    Câu 2 : + Hình chiếu đứng: ở góc trái bản vẽ.

    + Hình chiếu bằng: ở dưới hình chiếu đứng.

    + Hình chiếu cạnh ở bên phải hình chiếu đứng.

    Câu 3:Bản vẽ kỉ thuật là bản vẽ ở trên đó trình bày đầy đủ thông tin của sản phẩm dưới dạng hình vẽ kí hiệu , theo 1 quy tắc thống nhất và 1 tỉ lệ nhất định

    Câu 4: -Bản vẽ kĩ thuật (bản vẽ) trình bày các thông tin kĩ thuật của sản phẩm dưới dạng các hình vẽ và các kí hiệu, theo các qui tắc thống nhất và thường theo tỉ lệ

    -Bản vẽ kĩ thuật thường được dùng để ứng dụng vào sản xuất, đời sống tạo điều kiện học tốt các môn khoa học khác

    Bản vẽ chi tiết dùng để chế tạo và kiểm tra chi tiết máy

    Câu 5:

    Bảng kê

    Tên gọi chi tiết và số lượng chi tiết

    Vòng đai(2), đai ốc(2), vòng đệm(2), bu lông(2)

    Hình biểu diễn

    Tên gọi các hình biểu diễn

    -Hình chiếu bằng

    -Hình chiếu đứng có cắt cục bộ

    Kích thước

    -Kích thước chung

    -Kích thước lắp ráp giữa các chi tiết

    -Kích thước xác định khoảng cách giữa các chi tiết

    Phân tích chi tiết

    Xác định hình dạng, vị chí từng chi tiết trong vật thể lắp; xác định mối quan hệ lắp ghép giữa các chi tiết

    Tô màu cho các chi tiết

    Tổng hợp

    -Trịnh tự tháo lắp

    -Công dụng của sản phẩm

    -Tháo chi tiết 2-3-4-1.lắp chi tiế 1-4-3-2

    -Ghép nối chi tiết hình trụ với các chi tiết khác

    Câu 6:

    – gồm hình chiếu , hình cắt , diễn tả hình dạng , kết cấu và vị trí tương quan giữa các chi tiết máy của sản phẩm

    – gồm các kích thước cần thiết để lắp ráp , kiểm tra sản phẩm : kích thước chung , kích thước lắp ….

    – gồm số thứ tự , tên gọi , số lượng ,vật liệu chế tạo các chi tiết

    cho biết tên sản phẩm ,tỉ lệ bản vẽ , kí hiệu bản vẽ , người vẽ …..

    – hình biểu diễn

    – kích thước

    – bảng kê

    – khung tên

    Câu 7: Ren trục là ren được hình thành ở mặt ngoài của chi tiết .

    * Ren trục

    – Đường đỉnh ren nằm ngoài đường chân ren

    – Vòng đỉnh ren nằm ngoài vòng chân ren.

    Câu 8:

    Ren lỗ là ren được hình thành mặt trong của lỗ.

    Ren lỗ

    – Đường đỉnh ren nằm trong đường chân ren.

    – Vòng đỉnh ren nằm trong vòng chân ren.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Kỹ Thuật 8
  • 1.khái Niệm Và Công Dụng Của Bản Vẽ Kĩ Thuật 2.khái Niệm Và Công Dụng Của Bản Vẽ Lắp 3.nội Dung Và Trình Tự Đọc Của Bản Vẽ Chi Tiết 4.nội Dung Và Trình Tự Đọc
  • Bản Vẽ Xây Dựng Là Gì? Các Loại Bản Vẽ Thiết Kế Xây Dựng
  • Khái Niệm Chung Và Phân Loại Các Loại Bản Vẽ Trong Xây Dựng
  • Tiêu Chuẩn Về Trình Bày Bản Vẽ Kỹ Thuật
  • Nêu Khái Niệm Môi Trường Sống Của Sinh Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Sinh Trưởng Của Quần Thể Vi Khuẩn
  • Mối Quan Hệ Môi Trường Du Lịch Với Phát Triển Du Lịch
  • Lý Thuyết Kế Toán Môi Trường Dưới Góc Độ Kế Toán Doanh Nghiệp
  • Một Số Vấn Đề Pháp Lý Về Kinh Doanh Dịch Vụ Quản Lý Chất Thải Nguy Hại
  • Dưới Góc Độ Pháp Lý Mua Bán, Sáp Nhập Được Hiểu Thế Nào?
  • Câu 3:

    – Môi trường sốngCâu 12: là phần không bao quanh sinh vật mà ở đó các yếu tố cấu tạo nên môi trường trực tiếp hay gián tiếp tác động lên sự sinh trưởng, phát triển và những hoạt động khác của sinh vật.

    Giới hạn sinh thái:

    – Là giới hạn chịu đựng của sinh vật đối với một nhân tố sinh thái nhất định của môi trường, nằm ngoài giới hạn sinh thái thì sinh vật không tồn tại được.

    Giới hạn ST có:

    * Khoảng thuận lợi: là khoảng nhân tố ST ở mức phù hợp, đảm bảo cho sinh vật sống tốt nhất.

    * Khoảng chống chịu: là khoảng nhân tố ST gây ức chế cho hoạt động sống của sinh vật.

    Ví dụ: giới hạn sinh thái của cá rôphi Việt Nam là 5,6oC đến 42oC

    Hầu hết cây trồng nhiệt đới quang hợp tốt nhất ở nhiệt độ 20oC đến 30oC

    Câu 9:

    +) Nguyên nhân: -Về điều tiết của mắt : Do chúng ta có thói quen nhìn quá gần hay quá xa so với tầm nhìn chuẩn của mắt, bắt mắt phải làm việc nhiều trong thời gian dài ở độ sáng không thích hợp, hoặc sáng quá hoặc tối quá làm mỏi cơ mắt, (thí dụ vật nhìn cách xa mắt 20cm) so với khả năng bình thường của mắt (thí dụ vật nhìn cách xa mắt 30cm) làm cho mắt phải điều chỉnh tăng đi-ốp, hoặc do di truyền.

    2-Theo lý thuyết đông y, mắt là bộ phận bên ngoài nhưng lại có quan hệ mật thiết với các tạng phủ bên trong đặc biệt là tạng can vì can tàng huyết và can khai khiếu ra mắt, tức là mắt khỏe hay yếu đều do chức năng hoạt động của gan. Khi can huyết suy không cung cấp đủ máu lên nuôi dưỡng mắt làm mắt suy yếu (Can huyết hư gây quáng gà, giảm thị lực (cận thị), khô mắt. Can nhiệt gây chứng ngứa mắt, dị ứng ở mắt, mắt đỏ sưng đau). Ngoài ra, Thận thuộc thủy là mẹ của can thuộc mộc không cung cấp năng lượng nuôi con là gan, do đó theo đông y nguyen nhân chủ yếu gây ra tật khúc xạ là do chức năng gan thận suy.

    3-Nguyên nhân do ăn uống :

    Chế độ ăn uống không hợp lý, thiếu các dưỡng chất cần thiết cho mắt như Vitamin A, Vitamin B2, thiếu các loại rau xanh, thừa các chất đường, mỡ.

    Câu 4:

    động vật hằng nhiệt là động vật không thay đổi nhiệt độ theo đời sống môi trường.

    động vật biến nhiệt là động vật thích nghi với đời sống môi trường khác nhau, với nhiệt độ đo môi trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Khái Niệm Về Môi Trường
  • Bốn Trụ Cột Là Triết Lý Giáo Dục Của Unesco?
  • Môi Trường Sống Của Con Người (Mtscn)
  • Đánh Giá Môi Trường Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Môi Trường Chính Trị (Political Environment) Trong Marketing Là Gì?
  • Bộ Khung Khái Niệm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Khung Khái Niệm 2010
  • Hình Thức Kế Toán Là Gì? Sổ Kế Toán Và Các Hình Thức Ghi Kế Toán
  • Kế Toán Trưởng Là Gì Và Nhiệm Vụ Của Kế Toán Trưởng Trong Công Ty
  • Kế Toán Bán Hàng Là Gì? Công Việc Kế Toán Bán Hàng Trong Doanh Nghiệp
  • Cách Hạch Toán Hàng Bán Bị Trả Lại Theo Thông Tư 200 Và Thông Tư 133
  • TÓM TẮT NỘI DUNG BỘ KHUNG KHÁI NIỆM 2022

    TỔNG QUAN

    Mục đích của Bộ khung khái niệm 2022 là hỗ trợ IASB xây dựng và sửa đổi các IFRS dựa trên các khái niệm nhất quán, để giúp những người thực hiện phát triển các chính sách kế toán nhất quán cho các lĩnh vực không nằm trong chuẩn mực hoặc nơi có sự lựa chọn của chính sách kế toán và hỗ trợ tất cả các bên hiểu và giải thích IFRS.

    Trong trường hợp không có Chuẩn mực hoặc Giải thích áp dụng cụ thể cho giao dịch, ban quản lý phải sử dụng phán quyết của mình trong việc phát triển và áp dụng chính sách kế toán dẫn đến thông tin thích hợp và đáng tin cậy. Khi đưa ra phán quyết đó, IAS 8.11 yêu cầu ban quản lý xem xét các định nghĩa, điều kiện ghi nhận và các khái niệm đo lường đối với tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí trong Bộ khung khái niệm. Tầm quan trọng này của Bộ khung khái niệm đã được thêm vào trong các phiên bản 2003 của IAS 8.

    Nếu IASB quyết định đưa ra một tuyên bố mới hoặc sửa đổi mâu thuẫn với Bộ khung khái niệm, IASB phải nêu rõ thực tế và giải thích lý do cơ sở ra đời để đưa đến kết luận.

    Bộ khung khái niệm không phải là một Chuẩn mực và không phủ định bất kỳ IFRS cụ thể nào

    PHẠM VI

    Bộ khung khái niệm mô tả:

    • Mục tiêu của lập báo cáo tài chính cho mục đích chung

    • Đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích

    • Báo cáo tài chính và lập báo cáo tài chính của đơn vị

    • Các yếu tố của báo cáo tài chính

    • Ghi nhận và nhận dạng

    • Đo lường

    • Trình bày và công bố

    • Khái niệm về vốn và bảo tồn vốn

    CHƯƠNG 1: MỤC TIÊU CỦA LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH CHO MỤC ĐÍCH CHUNG

    Người sử dụng chính của báo cáo tài chính cho mục đích chung là các nhà đầu tư tiềm năng và hiện tại, người cho vay và các chủ nợ khác, những người sử dụng thông tin đó để đưa ra quyết định về việc mua, bán hoặc nắm giữ vốn hoặc các công cụ nợ, cung cấp hoặc thanh toán các khoản vay hoặc các hình thức tín dụng khác, hoặc thực hiện các quyền bỏ phiếu hoặc ảnh hưởng đến các hành động của ban quản lý có tác động đến việc sử dụng các nguồn lực kinh tế của đơn vị.

    Bộ khung khái niệm IFRS lưu ý rằng các báo cáo tài chính cho mục đích chung không thể cung cấp tất cả thông tin mà người dùng có thể cần để đưa ra quyết định kinh tế. Họ cũng sẽ cần phải xem xét thông tin thích hợp từ các nguồn khác.

    Thông tin về nguồn lực kinh tế, nghĩa vụ và thay đổi trong nguồn lực và nghĩa vụ của đơn vị

    Nguồn lực kinh kế và nghĩa vụ

    Thông tin về bản chất và số lượng nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của đơn vị báo cáo hỗ trợ người dùng đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu tài chính của đơn vị đó; để đánh giá tính thanh khoản và khả năng thanh toán, nhu cầu và khả năng huy động tài chính. Thông tin về yêu cầu chia trả và yêu cầu thanh toán hỗ trợ người dùng dự đoán cách dòng tiền trong tương lai sẽ được phân phối giữa họ với chi trả trong đơn vị báo cáo.

    Thay đổi trong nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ

    Những thay đổi trong nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của đơn vị báo cáo là kết quả từ hoạt động kinh doanh của đơn vị đó và từ các sự kiện hoặc giao dịch khác như phát hành nợ hoặc các công cụ vốn chủ sở hữu. Người dùng cần có khả năng phân biệt giữa hai thay đổi này.

    Những thay đổi trong các nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của đơn vị được trình bày trong báo cáo thu nhập toàn diện.

    Những thay đổi trong dòng tiền của đơn vị được trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

    Những thay đổi trong nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ của đơn vị không xuất phát từ kết quả tài chính được trình bày trong báo cáo về những thay đổi trong vốn chủ sở hữu.

    CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG CỦA THÔNG TIN TÀI CHÍNH

    Các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính hữu ích xác định các loại thông tin có thể hữu ích nhất cho người dùng trong việc đưa ra quyết định về đơn vị trên cơ sở thông tin trong báo cáo tài chính. Các đặc điểm chất lượng áp dụng như nhau cho thông tin tài chính trong các báo cáo tài chính cho mục đích chung cũng như thông tin tài chính được cung cấp theo những cách khác.

    Đặc điểm chất lượng cơ bản

    Thích hợp và trình bày trung thực là các đặc điểm chất lượng cơ bản của thông tin tài chính hữu ích.

    Trình bày trung thực làm tối đa hóa các đặc điểm cơ bản của tính đầy đủ, tính trung lập và không sai xót.

    Áp dụng các đặc điểm chất lượng cơ bản

    Thông tin phải thích hợp và trình bày trung thực để nó hữu ích.

    So sánh

    Thông tin về đơn vị sẽ hữu ích hơn nếu nó có thể so sánh được với thông tin tương tự của đơn vị khác và với thông tin tương tự của đơn vị trong một khoảng thời gian khác hoặc một ngày khác. Khả năng so sánh cho phép người dùng xác định và hiểu được sự giống nhau và sự khác nhau giữa các mục.

    Kịp thời

    Tính kịp thời có nghĩa là thông tin có sẵn cho những người ra quyết định kịp thời có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của họ.

    Áp dụng các đặc tính nâng cao

    Các đặc điểm chất lượng nâng cao nên được tối đa hóa đến mức cần thiết. Tuy nhiên, các đặc điểm chất lượng nâng cao (một hoặc nhóm các đặc điểm chất lượng nâng cao) không thể khiến thông tin trở nên hữu ích nếu thông tin đó không thích hợp hoặc không được trình bày một cách trung thực.

    Thông tin này được cung cấp trong báo cáo về tình hình tài chính và (các) báo cáo về kết quả tài chính cũng như trong các báo cáo và thuyết minh khác.

    Quan điểm trong báo cáo tài chính và giả định hoạt động liên tục

    Báo cáo tài chính cung cấp thông tin về các giao dịch và các sự kiện khác được nhìn từ góc độ đơn vị báo cáo là một tổng thể và thường được lập dựa trên giả định rằng đơn vị hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động trong tương lai gần.

    Việc xác định ranh giới thích hợp của đơn vị báo cáo được xác định bởi nhu cầu thông tin của người dùng chính của báo cáo tài chính.

    CHƯƠNG 4: NỘI DUNG CÒN LẠI CỦA BỘ KHUNG

    Giả định cơ bản

    Bộ khung IFRS nêu rõ giả định hoạt động liên tục là một giả định cơ bản. Do đó, báo cáo tài chính giả định rằng đơn vị sẽ tiếp tục hoạt động vô thời hạn hoặc, nếu giả định đó không hiệu lực, thì việc công bố và một cơ sở lập báo cáo khác là điều bắt buộc.

  • Nợ phải trả. Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của đơn vị phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ, việc chi trả dự kiến ​​sẽ dẫn đến nguồn lực đi ra khỏi đơn vị dưới dạng lợi ích kinh tế.

    Định nghĩa về thu nhập bao gồm cả doanh thu và lợi nhuận. Doanh thu phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường của đơn vị và được gọi bằng nhiều tên khác nhau bao gồm bán hàng, phí, lãi, cổ tức, tiền bản quyền và tiền cho thuê nhà.

    Lợi nhuận đại diện cho các mục khác đáp ứng định nghĩa về thu nhập và có thể, hoặc không, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường của đơn vị. Lợi nhuận đại diện cho sự gia tăng lợi ích kinh tế và như vậy không khác gì so với bản chất của ​​doanh thu. Do đó, chúng không được coi là cấu thành một yếu tố riêng biệt trong Bộ khung IFRS.

    • Các khoản mục có giá hoặc giá trị có thể được đo lường đáng tin cậy.

    Dựa trên những tiêu chí chung này:

    • Tài sản được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán khi có khả năng lợi ích kinh tế trong tương lai sẽ đi vào đơn vị và tài sản có giá hoặc giá trị có thể đo lường được một cách đáng tin cậy.

    Đo lường các yếu tố của báo cáo tài chính

    Bộ khung IFRS thừa nhận rằng một loạt các cơ sở đo lường được sử dụng ngày nay ở các mức độ khác nhau và trong các kết hợp đa dạng trong các báo cáo tài chính, bao gồm: Bộ khung IFRS không bao gồm các khái niệm hoặc nguyên tắc để chọn cơ sở đo lường nào sẽ được sử dụng cho các yếu tố cụ thể của báo cáo tài chính hoặc trong các trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, các chuẩn mực và giải thích riêng lẻ sẽ cung cấp hướng dẫn này.

    Ketoanstartup.com

    XEM THÊM CÁC CHUẨN MỰC KHÁC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Trình Kế Toán Tiền Gửi Ngân Hàng
  • Định Nghĩa Kết Cấu Và Nội Dung Tài Khoản 112 – Tiền Gửi Ngân Hàng
  • Kế Toán Xác Định Kết Quả Kinh Doanh Trong Doanh Nghiệp Siêu Nhỏ Có Khác Gì So Với Doanh Nghiệp Khác?
  • Sơ Lược Về Kế Toán Quá Trình Mua Hàng Trong Hoạt Động Kinh Doanh
  • Công Tác Kế Toán Vốn Bằng Tiền Trong Doanh Nghiệp – Sanghv
  • Nêu Và Phân Tích Khái Niệm Quá Trình Dạy Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm “hoạt Động Dạy Học” Trong Đổi Mới Giáo Dục Hiện Nay
  • Một Số Khái Niệm Thường Dùng Trong Đảm Bảo Chất Lượng Giáo Dục Đại Học
  • Nêu Định Nghĩa Vật Chất Của Lê Nin , Phân Tích Nội Dung Và Rút Ra Định Nghĩa?
  • Nêu Định Nhĩa Vật Chất Của Lênin Và Nêu Ý Nghĩa Của Định Nghĩa?
  • Hoạt Chất Sinh Học Là Gì?
  • Đạikaonlylove

    Tổng số bài gửi : 45

    Join date : 06/12/2011

    Age : 28

    Đến từ : thế giới bên kia

    Tiêu đề: Nêu và phân tích khái niệm quá trình dạy học – Lý luận dạy học 10/12/2012, 7:33 pm

    5.1.Nêu và phân tích khái niệm quá trình dạy học:

    Khi trả lời cho câu hỏi thế nào là quá trình dạy học, thường chúng ta nhận được câu giải đáp: Đó là quá trình người giáo viên truyền thụ tri thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho người học.

    Câu trả lời như vậy đã đúng đắn hay chưa?

    Trả lời như vậy là hoàn toàn chưa đúng. Câu trả lời đó mới đề cập đến quá trình dạy chứ chưa phản ánh quá trình học, đó là chưa đề cập đến chức năng của hoạt động dạy trong thời đại ngày nay.

    Trên con đường tìm kiếm câu trả lời, chúng ta cũng gặp những giải đáp như sau:…”Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và học sinh (học) nhằm thực hiện các mục đích dạy học. Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường không chỉ đảm bảo một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành nhân cách con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa”.(Bách khoa Giáo dục học – Maxcơva).

    Quan niệm trên về quá trình dạy học đã phản ánh tính chất hai mặt của quá trình này: quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh. Hai quá trình này không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới, đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Trong quá trình họat động chung đó, người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinhđể giúp họ tự khám phá ra tri thức. Tất nhiên người giáo viên còn có chức năng cung cấp cho người học tri thức, nhưng chỉ khi nào thật cần thiết. Song chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy. Người giáo viên phải suy nghĩ để giúp học sinh sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống, kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp cho để tạo nên sự hiểu biết của bản thân mình.

    Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức của con người mới. Chính học sinh chứ không phải người nào khác phải tự mình làm ra sản phẩm giáo dục. Tính chất hành động của họ có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng tri thức mà họ tiếp thu.

    Từ đó có thể rút ra định nghĩa quá trình dạy học như sau: Quá trình dạy học là quá trình mà dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.

    Kim Hoàng – SP Lý – KTCN k37 – CĐSP Nha Trang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lv: Giải Pháp Quản Lý Chất Lượng Dạy Học Của Hiệu Trưởng Các Trường Trung Học Cơ Sở
  • Tổng Quan Khái Niệm Chất Lượng Và Chất Lượng Giáo Dục Trong Giáo Dục Đại Học
  • Được Cập Nhật Về Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục
  • Chất Lượng Dân Số Là Yếu Tố Tiên Quyết Để Phát Triển Kinh Tế
  • Cần Chú Trọng Nâng Cao Chất Lượng Dân Số
  • Nêu Khái Niệm Và Thành Phần Của Cung Phản Xạ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Tính Chất Của Pxcđk Và Pxkđk? Ví Dụ Minh Họa. Giúp Mik Với Câu Hỏi 776647
  • Bài 29. Dẫn Truyền Xung Thần Kinh Trong Cung Phản Xạ
  • Giải Vở Bài Tập Vật Lí 7
  • Bài 1. Các Khái Niệm Chung Về Ánh Sáng. Phản Xạ Ánh Sáng. Gương Phẳng
  • Lý Thuyết Phản Xạ Toàn Phần
  • Câu 2:

    -Phản xạ là phản ứng của cơ thể trả lời các kích thích của môi trường dưới sự điều khiển của hệ thần kinh.

    VD*Phản xạ không chỉ trả lời các kích thích của môi trường ngoài mà còn đáp ứng các kích thích của môi trường trong. Ví dụ, sự tăng nhịp hô hấp và sự thay đổi nhịp co bóp của tim… khi lao động, sự tiết mồ hôi khi trời nóng, da tái lại (do co mạch dưới da khi trời lạnh)… đều là các phản xạ.

    -Cung phản xạ là con đường mà xung thần kinh truyền từ cơ quan thụ cảm (da, …) qua trung ương thần kinh đến cơ quan phản ứng (cơ, tuyến, …).

    VD*Nếu ta dẫm phải hòn than chân thì cơ quan thụ cảm ở đó nhận được một cảm giác rất nóng, liền xuất hiện một xung thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm về trung ương thần kinh. Rồi từ trung ương phát đi xung thần kinh theo dây li tâm tới chân (cơ quan phản ứng). Sự phản ứng được thông báo ngược về trung ương theo

    hướng làm nếu phản ứng chưa chính xác thì phát lệnh điều chỉnh, nhờ dây li tâm truyền tới cơ quan phản ứng.

    Câu 3:

    -Xương to ra bề ngang là nhờ sự phân chia của lớp tế bào sinh xương nằm ở trong màng xương .

    -Xương dài ra nhờ sự phân chia của lớp sụn tăng trưởng nằm ở ranh giới giữa đầu xương và thân xương của xương dài.

    *Xương động vật hầm lâu thì bở vì;

    Vì xương gồm cốt giao, chất vô cơ và muối khoáng, khi hầm sẽ tiêu hủy cốt giao làm chất vô cơ không được liên kết bởi cốt giao làm mất tính mềm dẻo khiến cho xương bị bở.

    Câu 4:

    *Để xương phát triển cân đối thì cần:

    -Có 1 chế độ dinh dưỡng hợp lí

    – Tắm nắng để cơ thể chuyển hóa tiền vitamin D thành vitamin D.(Nhờ có vitamin D mà cơ thể có thể chuyển hóa canxi tạo ra xương)

    – Rèn luyện thân thể và lao động vừa sức.

    *Để cong vẹo cột sống thì cần:

    -Khi mang vác vật nặng, ko nên vượt quá sức chịu đựng, không mang vác về 1 bên liên tục trong thời gian dài mà phải đổi bên. Nếu có thể thì phân chia làm 2 nửa để 2 tay cùng xách cho cân

    – Khi ngồi vào bàn học tập hay làm việc cần đảm bảo tư thế ngồi ngay ngắn, không cuối gò lưng, không nghiêng vẹo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Phản Xạ Sinh 8
  • Bài 52. Phản Xạ Không Điều Kiện Và Phản Xạ Có Điều Kiện
  • Nêu Các Hệ Cơ Quan Cấu Tạo Nên Cơ Thể Người1.cơ Thể Người Được Cấu Tạo Bởi Những Hệ Cơ Quan Nào?chức Năng Của Các Hệ Cơ Quan Đó? 2.thành Phần Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tế Bào? 3.khái Niệm Về Phản Xạ, Cung Phản Xạ? 4.khớp Xương Là Gì?phân Loại Và Nêu Ví Dụ Cho Mỗi Loại Khớp Xương?
  • Câu Hỏi Về Các Khái Niệm Và Quy Tắc Giao Thông Đường Bộ (Phần 5)
  • Chương 2 Phép Duy Vật Biện Chứng
  • Khái Niệm Hàm Số Lớp 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Bài Tập Sgk Toán Lớp 9 Bài 1: Nhắc Lại Và Bổ Sung Các Khái Niệm Về Hàm Số
  • Các Dạng Bài Tập Hàm Số Lớp 10 Quan Trọng Trong Chương Ii : Hàm Số Bậc Nhất Và Bậc Hai.
  • Thiết Kế Hoạt Động Dạy Học Khái Niệm Toán Học Chủ Đề Hàm Số Cho Học Sinh Lớp 10
  • Nhắc Lại Định Nghĩa Hàm Số Đồng Biến, Hàm Số Nghịch Biến Chuẩn Bị Học Bài Đơn Điệu Của Hàm Số Chương Trình Toán 12
  • Tính Đơn Điệu Của Hàm Số Và Ứng Dụng
  • Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm G, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm Xã Hội Học, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Erp, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm 5m, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm P, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Phó Từ, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm R&d, Từ Khái Niệm Là Gì, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Oda, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm M&a, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm 511, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm 3r, Khái Niệm 3t, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 4g, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm 4k, Khái Niệm 4m, Khái Niệm 4p, Khái Niệm 4r, Khái Niệm 500 Anh Em, Khái Niệm 3g, Khái Niệm 3d, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm Xâu, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm 131, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 24/7, Khái Niệm 2g,

    Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm G, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm Xã Hội Học, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Erp, Khái Niệm êm ái, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm 5m, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm P, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Phó Từ, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm R&d, Từ Khái Niệm Là Gì, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Số Từ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Đại Số 11 Tiết 1: Hàm Số Lượng Giác
  • Các Dạng Toán Về Hàm Số Lượng Giác Và Bài Tập Vận Dụng
  • Chương I. §1. Hàm Số Lượng Giác
  • Giáo Án Môn Học Đại Số Lớp 7
  • Chương Ii. §5. Hàm Số
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100