Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức

--- Bài mới hơn ---

  • Chính Trị Là Gì ? Vai Trò Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị ?
  • Chính Trị Là Gì? Quan Điểm Về Chính Trị Qua Từng Thời Kỳ
  • Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Khái Niệm Về Chính Trị Chính Xác Cho Người Cần Biết
  • Công Chức Là Gì? Đặc Điểm, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Chức?
  • Trong mỗi giai đoạn khác nhau, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ những người làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    Chỉ một thời gian ngắn sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hổ Chí Minh đã kí sấc lệnh sô 76/SL quy định chế độ . Theo quy định của Sắc lệnh này thi chỉ những “công dân Việt Nam được chính quyền cách mạng tuyển bổ giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ ” mới được coi là công chức (trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định). Như vậy, phạm vi công chức quy định trong sắc lệnh nêu trên rất hẹp.

    Từ năm 1954, Nhà nước thực hiện chế độ nên Sắc lệnh số 76/SL hầu như khống dược áp dụng mặc dù không có văn bản nào chính thức bãi bỏ nó. Trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ thường được sử dụng là thuật ngữ “cán bộ. viên chức”. Cán bộ, viên chức bao gồm những người trong biên chế, làm việc trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong các cơ quan Đảng, tổ chức chính trị – xã hội, trong các doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang nhàn dán. Cán bộ. viên chức được hình thành từ bầu cử, tuyển dụng, đề bạt, phân công khi tốt nghiệp. Như vậy, phạm vi khái niệm cán bộ, viên chức rất rộng và nguồn hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức cũng rất phong phú. Khái niệm nàv không phản ánh được đặc điểm nghe nghiệp, tính chất cồng việc, trình độ chuyên môn v.v. của cán bộ, viên chức. Đây là một trong những nguvên nhân dẫn đến những khó khăn trong việc đào tạo bồi dưỡng, bố trí công tác, đánh giá và thực hiện chính sách đối với cán bộ, viên chức.

    Để tạo cơ sở pháp lí cho việc tuyển chọn đúng, sử dụng có hiệu quả những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, từng bước xây dựng đội ngũ cổng chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, ngày 25/5/1991 Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 69/HĐBT về công chức nhà nước.

    Theo Nghị định số I69/HĐBT, công chức nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một cồng vụ thường xuvên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ờ trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp. Những đối tượng sau đây thuộc phạm vi công chức:

    – Những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tương đương.

    – Những người làm việc trong các đại sứ quán, lãnh sự quán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

    – Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách.

    – Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ quốc phòng.

    – Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuvên trong bộ máy của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng nhà nước, Hội đồng nhân dân các cấp.

    – Những trường hợp riêng biệt khác do Chù tịch Hội đổng bộ trướng quy định.

    Như vậy, theo Nghị định số 169/HĐBT phạm vi công chức rộng hơn so với sắc lệnh số 76/SL, bao gồm không chỉ những người được tuyển dụng hay bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ mà cả ở các cơ quan khác của nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm này cũng không bao hàm hết phạm vi công chức.

    Ngày 26/2/1998 ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mói trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức.

    Theo Pháp lệnh cán bộ, cổng chức năm 1998 thì cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách, bao gồm:

    – Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuycn làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

    – Thẩm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

    Từ năm 1998 đến nay, Pháp lệnh cán bộ, công chức đã được sửa đổi 2 lần vào các năm 2000 và 2003.

    Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 thì cán bộ, công chức bao gồm:

    – Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện:

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ớ trung ương, cấp tính, cấp huyện;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội:

    – Thấm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân;

    – Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm viộc trong cư quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhán quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phái là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

    – Những người do bầu cứ để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kì trong thường trực hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân; bí thư, phó bí thư đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị-xã hội cấp xã;

    – Những người được tuyến dụng, giao giữ một chức danh chuyên mồn nghiệp vụ thuộc uỷ ban nhân dân cấp xã.

    Cán bộ, công chức được hướng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với những người được tuyển dụng, bố nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuvên trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.

    Pháp lệnh sửa đổi năm 2003 cũng đặt ra các quy định vẻ việc áp dụng chế độ công chức dự bị. Những quy định này dược cụ thể hoá trong Nghị định của Chính phủ số 115/2003/NĐ-CP về chế độ công chức dự bị theo đó công chức dự bị là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng để bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức và được phân cống làm việc có thời hạn tại các cơ quan, tổ chức sau đây:

    – Văn phòng Quốc hội;

    – Văn phòng Chủ tịch nước;

    – Toà án nhân dân các cấp;

    – Viện kiểm sát nhân dân các cấp;

    – Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phù;

    – Hội đổng nhân dân, uý ban nhân dân cấp tinh và cấp huyện;

    – Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội;

    – Uỷ ban nhân dân cấp xã.

    Tổ bộ môn Luật Hành chính – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    1. Nội dung trong bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (chú thích rõ trong bài viết).
    2. Bài viết được sử dụng không nhằm mục đích thương mại, chỉ nhằm mục đích giảng dạy, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Khoa Luật Kinh tế – Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Cán Bộ? Thế Nào Là Công Chức? Thế Nào Là Viên Chức?
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ Lớp 8
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ
  • Soạn Bài Cấp Độ Khái Quát Của Nghĩa Từ Ngữ (Chi Tiết)
  • Khái Niệm Luân Chuyển Cán Bộ Theo Luật Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Điều Động Và Luân Chuyển Công Chức
  • Luân Chuyển Cán Bộ Là Gì?
  • Quan Điểm, Nguyên Tắc Và Thời Gian Luân Chuyển Cán Bộ
  • Phân Biệt Điều Động, Biệt Phái, Luân Chuyển
  • Một Số Suy Nghĩ Về Công Tác Đánh Giá Và Sử Dụng Cán Bộ Cơ Sở Ở Thanh Hóa Hiện Nay
  • Em thấy người ta nói là căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch cán bộ thì có thể sẽ thực hiện hoạt động luân chuyển cán bộ theo quy định pháp luật. Vậy luân chuyển cán bộ là gì ạ? Anh/Chị có thể giải thích giúp em được không?

      Theo quy định của pháp luật thì cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

      Cán bộ bao gồm cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.

      Trong quá trình công tác của cán bộ, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch cán bộ, cán bộ được luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội.

      Theo đó, theo quy định tại Khoản 11 Điều 7 Luật cán bộ, công chức 2008 thì luân chuyển là việc cán bộ được cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức danh lãnh đạo, quản lý khác trong một thời hạn nhất định để tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ.

      Việc luân chuyển cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

      Trong đó, việc luân chuyển cán bô là người có chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định cụ thể tại Quy định 98-QĐ/TW năm 2022 về luân chuyển cán bộ do Ban Chấp hành Trung ương ban hành.

      Theo đó, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Quy định 98-QĐ/TW năm 2022 thì luân huyển cán bộ là việc cử có thời hạn cán bộ trẻ, có năng lực, triển vọng, trong quy hoạch từ Trung ương về địa phương, từ cấp trên xuống cấp dưới và giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nhằm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán bộ và làm cơ sở lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ.

      Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Tác Cán Bộ Của Đảng
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ
  • Đánh Giá Cán Bộ, Công Chức
  • Đề Tài: Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Xã Ở Tây Ninh, Hay
  • Luận Văn Hay: Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Phường Ở Quận Gò Vấp
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Cán Bộ, Công Chức Sau Ngày 01/7/2020 Có Gì Mới?
  • Đề Tài Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức
  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Công Tác Cán Bộ Là Công Việc Gốc Của Đảng
  • Công Tác Cán Bộ Của Đảng Cong Tac Can Bo Ppt
  • Đề 5 Phân tích khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức và chỉ ra những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Khái quát quá trình phát triển pháp luật về cán bộ công chức Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ công chức. Những điểm mới. LỜI NÓI ĐẦU Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Điều, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ thì: “Hiện nay, chúng ta có khoảng 1.600.000 cán bộ, công chức, viên chức (không kể lực lượng vũ trang), trong đó có khoảng 200.000 người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước; 83.000 người thuộc cơ quan Đảng, đoàn thể; chiếm khoảng 2% dân số cả nước…”. Có thể thấy được rằng trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta thì số lượng cán bộ, công chức và viên chức là vô cùng lớn. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập đòi hỏi gay gắt sự đổi mới nền hành chính nhà nước để kịp thích nghi và đồng điệu với xu thế quốc tế hóa. Trong ba nội dung cơ bản của sự đổi mới (gồm: các định chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và vấn đề con người (tức đội ngũ cán bộ, công chức) thì vấn đề thứ ba trở nên cấp thiết và mang tính quyết định. Việc có cái nhìn chính xác thế nào là cán bộ, thế nào là công chức thực sự có ý nghĩa quan trọng. Khái quát quá trình phát triển về pháp luật cán bộ, công chức Ngay từ ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước trưởng thành, công tác quản lý đã dần đi vào nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn bản đầu tiên quy định chế độ công chức là Sắc lệnh số 76/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20/05/1950. Theo sắc lệnh này thì phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,… Sau đó một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế ký XX), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991. Do những hạn chế của Nghị định 1991, ngày 26/02/1998 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức. Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung vào năm 2003. Tuy vậy, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan vốn không ngừng vận động, phát triển, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thông qua Luật Cán bộ, công chức (CBCC) thay thế cho Pháp lệnh CBCC. Do vậy, Luật Cán bộ, công chức vừa có kế thừa những nội dung của Pháp lệnh CBCC vừa bổ sung những điểm mới phù hợp với thực tế. Luật CBCC 2008 gồm 10 Chương, 87 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Luật cán bộ, công chức 2008 là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay (luật) và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức. Tại Điều 4 về Cán bộ, công chức đã nêu rất cụ thể như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;…;, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trước hết, có thể thấy rằng Luật CBCC 2008 đã chỉ ra rõ ràng như thế nào thì là “cán bộ”, là “công chức” và thế nào là “cán bộ xa, phường, thị trấn”, “công chức cấp xã”. Đây là một ưu điểm quan trọng của Luật CBCC, bởi thực tế cũng cho thấy rõ ràng địa vị pháp lý của những người này có sự khác biệt nhất định. Một người để có thể trở thành cán bộ, công chức ở bất kỳ cơ quan nào trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước dù là trung ương hay địa phương thì trước hết người đó phải là công dân Việt Nam. Theo quy định tại Điều 49 Hiến pháp 1992 thì công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Việc xác định thế nào là người có quốc tịch Việt Nam là căn cứ vào quy định của Luật Quốc tịch hiện hành, cụ thể là theo quy định tại Điều 13, Điều 14 của Luật Quốc tịch 2008. Đối với khái niệm về cán bộ có thể thấy một điểm chung nhất là làm việc theo nhiệm kỳ. Làm việc theo nhiệm kỳ tức là làm việc trong một khoảng thời gian nhất định, nhiệm kỳ đối với mỗi vị trí công tác là không giống nhau và đều đã được pháp luật quy định rất cụ thể. Như tại Điều 40 Luật tổ chức Quốc hội đã nêu rõ “Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội sau”. Hay nhiệm kỳ của Thủ tướng theo nhiệm kỳ của Quốc hội tức là 4 năm (Điều 4 Luật tổ chức Chính phủ). Còn đối với công chức thì không đặt ra vấn đề nhiệm kỳ làm việc, điều này có nghĩa là thông thường họ làm việc cho đến khi về hưu (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi). Thứ hai là về cách thức hình thành: của cán bộ là bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh; còn đối với công chức thì là được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh – nghĩa là do thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng đối với cán bộ ở cấp địa phương (tức là ở xã, phường, thị trấn) thì chỉ là do bầu cử mà được giữ chức vụ. Tương tự với công chức cấp xã cũng chỉ theo một hình thức là tuyển dụng để giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ và thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Nơi làm việc của cán bộ là trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Còn cán bộ cấp xã là trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, và còn là người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội (CT- XH). Các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta gồm có: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam. Còn công chức thì làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân (TAND) các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức CT-XH; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập… Đặc điểm thứ tư là nếu đã là cán bộ, công chức thì họ phải là người trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể lấy một số ví dụ điển hình cho những người thuộc đối tượng là cán bộ trong bộ máy nhà nước ta như: Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,… Đối với công chức, để có thể xác định những đối thượng là công chức có thể căn cứ vào quy định của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP. Ngoài ra còn có một loại cán bộ khác, đó là Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, là các sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia (khoản 6 Điều 3 Luật An ninh quốc gia). Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh CBCC Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 quy định: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT – XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức CT-XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân…,công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan,đơn vị thuộc Công an nhân dân…; Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn; Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã; Theo Pháp lệnh, những cán bộ công chức này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; riêng các đối tượng thuộc ngạch viên chức hoặclàm việc trong đơn vị sự nghiệp thì được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ sự nghiệp theo quy định của Pháp luật (Điểm này được Luật CBCC kế thừa). So với các văn bản trước đó Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh công chức sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức. Cũng không phân định rõ ràng được các đối tượng là công chức, chẳng hạn những người làm việc trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công chức, trong khi đó những người làm việc trong cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn lại không phải là công chức. Những điểm mới Như đã đề cập phía trên, khi xem xét về khái niệm cán bộ, công chức ta có thể thấy được những điểm mới của Luật CBCC so với Pháp lệnh CBCC. Đó là: Thứ nhất, Luật đã đưa “cán bộ, công chức” ra thành những khái niệm chứ không gọi đơn thuần như một thuật ngữ chung chung nữa. Luật CBCC năm 2008 đã quy định tiêu chí phân định ai là cán bộ, ai là công chức. Theo đó, cán bộ gắn với tiêu chí được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; công chức gắn với tiêu chí được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Thứ hai, Luật đã phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa “cán bộ, công chức” với “viên chức”. Nói cách khác, Luật đã tách hoàn toàn “viên chức” ra khỏi “cán bộ, công chức”, thu hẹp đối tượng điều chỉnh. Thứ ba, Luật đã xếp những người làm việc trong cơ quan hành chính địa phương là công chức, và những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn là cán bộ. Bên cạnh đó, cụm từ “cán bộ, công chức cấp xã” đã được tách ra thành cán bộ cấp xã (gắn với cơ chế bầu cử) và công chức cấp xã (gắn với cơ chế tuyển dụng). Trong khi pháp lệnh lại không trực tiếp gọi đây là cán bộ, công chức mà chỉ xếp vào cùng nhóm để quy định về biên chế và lương… nên cơ chế quản lý và chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đây là một bước tiến mới về nhận thức trong quá trình tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Khi tách đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp ra khỏi Luật CBCC sẽ có điều kiện tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, nâng cao chất lượng phục vụ người dân của các đơn vị sự nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, 2008; Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003); Luật cán bộ, công chức năm 2009 Nghị định của Chính phủ số 06/2010/NĐ-CP ngày 15/01/2010 quy định về công chức; Nghị định của Chính phủ số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lí công chức. Luật tổ chức Chính phủ 2001 ; Luật tổ chức Quốc hội. Luật an ninh quốc gia 2004 Những nội dung mới của Luật cán bộ, công chức năm 2008, TS. Trần Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ai Đủ Sức Chặn “chuyến Tàu Vét” Cuối Nhiệm Kỳ?
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đánh Giá Cán Bộ
  • Phát Huy Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ Ở Nước Ta Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Quy Trình Bổ Nhiệm Cán Bộ Năm 2022
  • Bổ Nhiệm Là Gì? Ví Dụ Về Bổ Nhiệm?
  • Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Bổ Nhiệm Là Gì ? Khái Niệm Về Bổ Nhiệm ?
  • Tư Vấn Về Quy Trình Bổ Nhiệm Cán Bộ Theo Luật Công Chức ?
  • Bổ Nhiệm Là Gì? Ví Dụ Về Bổ Nhiệm?
  • Quy Trình Bổ Nhiệm Cán Bộ Năm 2022
  • Phát Huy Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ Ở Nước Ta Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đề 5 Phân tích khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức và chỉ ra những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Khái quát quá trình phát triển pháp luật về cán bộ công chức Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ công chức. Những điểm mới. LỜI NÓI ĐẦU Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Điều, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ thì: “Hiện nay, chúng ta có khoảng 1.600.000 cán bộ, công chức, viên chức (không kể lực lượng vũ trang), trong đó có khoảng 200.000 người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước; 83.000 người thuộc cơ quan Đảng, đoàn thể; chiếm khoảng 2% dân số cả nước…”. Có thể thấy được rằng trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta thì số lượng cán bộ, công chức và viên chức là vô cùng lớn. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập đòi hỏi gay gắt sự đổi mới nền hành chính nhà nước để kịp thích nghi và đồng điệu với xu thế quốc tế hóa. Trong ba nội dung cơ bản của sự đổi mới (gồm: các định chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và vấn đề con người (tức đội ngũ cán bộ, công chức) thì vấn đề thứ ba trở nên cấp thiết và mang tính quyết định. Việc có cái nhìn chính xác thế nào là cán bộ, thế nào là công chức thực sự có ý nghĩa quan trọng. Khái quát quá trình phát triển về pháp luật cán bộ, công chức Ngay từ ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước trưởng thành, công tác quản lý đã dần đi vào nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn bản đầu tiên quy định chế độ công chức là Sắc lệnh số 76/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20/05/1950. Theo sắc lệnh này thì phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,… Sau đó một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế ký XX), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991. Do những hạn chế của Nghị định 1991, ngày 26/02/1998 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức. Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung vào năm 2003. Tuy vậy, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan vốn không ngừng vận động, phát triển, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thông qua Luật Cán bộ, công chức (CBCC) thay thế cho Pháp lệnh CBCC. Do vậy, Luật Cán bộ, công chức vừa có kế thừa những nội dung của Pháp lệnh CBCC vừa bổ sung những điểm mới phù hợp với thực tế. Luật CBCC 2008 gồm 10 Chương, 87 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Luật cán bộ, công chức 2008 là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay (luật) và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức. Tại Điều 4 về Cán bộ, công chức đã nêu rất cụ thể như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;…;, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trước hết, có thể thấy rằng Luật CBCC 2008 đã chỉ ra rõ ràng như thế nào thì là “cán bộ”, là “công chức” và thế nào là “cán bộ xa, phường, thị trấn”, “công chức cấp xã”. Đây là một ưu điểm quan trọng của Luật CBCC, bởi thực tế cũng cho thấy rõ ràng địa vị pháp lý của những người này có sự khác biệt nhất định. Một người để có thể trở thành cán bộ, công chức ở bất kỳ cơ quan nào trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước dù là trung ương hay địa phương thì trước hết người đó phải là công dân Việt Nam. Theo quy định tại Điều 49 Hiến pháp 1992 thì công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Việc xác định thế nào là người có quốc tịch Việt Nam là căn cứ vào quy định của Luật Quốc tịch hiện hành, cụ thể là theo quy định tại Điều 13, Điều 14 của Luật Quốc tịch 2008. Đối với khái niệm về cán bộ có thể thấy một điểm chung nhất là làm việc theo nhiệm kỳ. Làm việc theo nhiệm kỳ tức là làm việc trong một khoảng thời gian nhất định, nhiệm kỳ đối với mỗi vị trí công tác là không giống nhau và đều đã được pháp luật quy định rất cụ thể. Như tại Điều 40 Luật tổ chức Quốc hội đã nêu rõ “Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội sau”. Hay nhiệm kỳ của Thủ tướng theo nhiệm kỳ của Quốc hội tức là 4 năm (Điều 4 Luật tổ chức Chính phủ). Còn đối với công chức thì không đặt ra vấn đề nhiệm kỳ làm việc, điều này có nghĩa là thông thường họ làm việc cho đến khi về hưu (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi). Thứ hai là về cách thức hình thành: của cán bộ là bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh; còn đối với công chức thì là được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh – nghĩa là do thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng đối với cán bộ ở cấp địa phương (tức là ở xã, phường, thị trấn) thì chỉ là do bầu cử mà được giữ chức vụ. Tương tự với công chức cấp xã cũng chỉ theo một hình thức là tuyển dụng để giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ và thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Nơi làm việc của cán bộ là trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Còn cán bộ cấp xã là trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, và còn là người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội (CT- XH). Các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta gồm có: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam. Còn công chức thì làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân (TAND) các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức CT-XH; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập… Đặc điểm thứ tư là nếu đã là cán bộ, công chức thì họ phải là người trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể lấy một số ví dụ điển hình cho những người thuộc đối tượng là cán bộ trong bộ máy nhà nước ta như: Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,… Đối với công chức, để có thể xác định những đối thượng là công chức có thể căn cứ vào quy định của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP. Ngoài ra còn có một loại cán bộ khác, đó là Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, là các sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia (khoản 6 Điều 3 Luật An ninh quốc gia). Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh CBCC Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 quy định: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT – XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức CT-XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân…,công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan,đơn vị thuộc Công an nhân dân…; Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn; Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã; Theo Pháp lệnh, những cán bộ công chức này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; riêng các đối tượng thuộc ngạch viên chức hoặclàm việc trong đơn vị sự nghiệp thì được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ sự nghiệp theo quy định của Pháp luật (Điểm này được Luật CBCC kế thừa). So với các văn bản trước đó Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh công chức sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức. Cũng không phân định rõ ràng được các đối tượng là công chức, chẳng hạn những người làm việc trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công chức, trong khi đó những người làm việc trong cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn lại không phải là công chức. Những điểm mới Như đã đề cập phía trên, khi xem xét về khái niệm cán bộ, công chức ta có thể thấy được những điểm mới của Luật CBCC so với Pháp lệnh CBCC. Đó là: Thứ nhất, Luật đã đưa “cán bộ, công chức” ra thành những khái niệm chứ không gọi đơn thuần như một thuật ngữ chung chung nữa. Luật CBCC năm 2008 đã quy định tiêu chí phân định ai là cán bộ, ai là công chức. Theo đó, cán bộ gắn với tiêu chí được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; công chức gắn với tiêu chí được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Thứ hai, Luật đã phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa “cán bộ, công chức” với “viên chức”. Nói cách khác, Luật đã tách hoàn toàn “viên chức” ra khỏi “cán bộ, công chức”, thu hẹp đối tượng điều chỉnh. Thứ ba, Luật đã xếp những người làm việc trong cơ quan hành chính địa phương là công chức, và những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn là cán bộ. Bên cạnh đó, cụm từ “cán bộ, công chức cấp xã” đã được tách ra thành cán bộ cấp xã (gắn với cơ chế bầu cử) và công chức cấp xã (gắn với cơ chế tuyển dụng). Trong khi pháp lệnh lại không trực tiếp gọi đây là cán bộ, công chức mà chỉ xếp vào cùng nhóm để quy định về biên chế và lương… nên cơ chế quản lý và chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đây là một bước tiến mới về nhận thức trong quá trình tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Khi tách đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp ra khỏi Luật CBCC sẽ có điều kiện tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, nâng cao chất lượng phục vụ người dân của các đơn vị sự nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, 2008; Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003); Luật cán bộ, công chức năm 2009 Nghị định của Chính phủ số 06/2010/NĐ-CP ngày 15/01/2010 quy định về công chức; Nghị định của Chính phủ số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lí công chức. Luật tổ chức Chính phủ 2001 ; Luật tổ chức Quốc hội. Luật an ninh quốc gia 2004 Những nội dung mới của Luật cán bộ, công chức năm 2008, TS. Trần Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Vụ, Chức Danh Và Số Lượng Của Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Cấp Xã Ở Huyện Thuận Thành Tỉnh Bắc Ninh
  • Lv: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã Tại Huyện Triệu Phong
  • Luận Văn: Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức Chính Quyền Cấp Xã, Hot
  • Quy Định Mới Về Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã
  • Đề Tài Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Về Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Công Tác Cán Bộ Là Công Việc Gốc Của Đảng
  • Công Tác Cán Bộ Của Đảng Cong Tac Can Bo Ppt
  • Cán Bộ Là Gì? Giúp Bạn Cập Nhật Nhanh Chóng Về Cán Bộ
  • Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ Trong Tình Hình Mới
  • Đề 5 Phân tích khái niệm cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức và chỉ ra những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU Khái quát quá trình phát triển pháp luật về cán bộ công chức Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ công chức. Những điểm mới. LỜI NÓI ĐẦU Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Điều, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ thì: “Hiện nay, chúng ta có khoảng 1.600.000 cán bộ, công chức, viên chức (không kể lực lượng vũ trang), trong đó có khoảng 200.000 người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước; 83.000 người thuộc cơ quan Đảng, đoàn thể; chiếm khoảng 2% dân số cả nước…”. Có thể thấy được rằng trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta thì số lượng cán bộ, công chức và viên chức là vô cùng lớn. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập đòi hỏi gay gắt sự đổi mới nền hành chính nhà nước để kịp thích nghi và đồng điệu với xu thế quốc tế hóa. Trong ba nội dung cơ bản của sự đổi mới (gồm: các định chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và vấn đề con người (tức đội ngũ cán bộ, công chức) thì vấn đề thứ ba trở nên cấp thiết và mang tính quyết định. Việc có cái nhìn chính xác thế nào là cán bộ, thế nào là công chức thực sự có ý nghĩa quan trọng. Khái quát quá trình phát triển về pháp luật cán bộ, công chức Ngay từ ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước trưởng thành, công tác quản lý đã dần đi vào nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn bản đầu tiên quy định chế độ công chức là Sắc lệnh số 76/SL được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20/05/1950. Theo sắc lệnh này thì phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,… Sau đó một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế ký XX), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức. Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991. Do những hạn chế của Nghị định 1991, ngày 26/02/1998 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức. Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung vào năm 2003. Tuy vậy, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan vốn không ngừng vận động, phát triển, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thông qua Luật Cán bộ, công chức (CBCC) thay thế cho Pháp lệnh CBCC. Do vậy, Luật Cán bộ, công chức vừa có kế thừa những nội dung của Pháp lệnh CBCC vừa bổ sung những điểm mới phù hợp với thực tế. Luật CBCC 2008 gồm 10 Chương, 87 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Khái niệm cán bộ công chức theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 Luật cán bộ, công chức 2008 là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay (luật) và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức. Tại Điều 4 về Cán bộ, công chức đã nêu rất cụ thể như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội; Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;…;, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trước hết, có thể thấy rằng Luật CBCC 2008 đã chỉ ra rõ ràng như thế nào thì là “cán bộ”, là “công chức” và thế nào là “cán bộ xa, phường, thị trấn”, “công chức cấp xã”. Đây là một ưu điểm quan trọng của Luật CBCC, bởi thực tế cũng cho thấy rõ ràng địa vị pháp lý của những người này có sự khác biệt nhất định. Một người để có thể trở thành cán bộ, công chức ở bất kỳ cơ quan nào trong toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước dù là trung ương hay địa phương thì trước hết người đó phải là công dân Việt Nam. Theo quy định tại Điều 49 Hiến pháp 1992 thì công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Việc xác định thế nào là người có quốc tịch Việt Nam là căn cứ vào quy định của Luật Quốc tịch hiện hành, cụ thể là theo quy định tại Điều 13, Điều 14 của Luật Quốc tịch 2008. Đối với khái niệm về cán bộ có thể thấy một điểm chung nhất là làm việc theo nhiệm kỳ. Làm việc theo nhiệm kỳ tức là làm việc trong một khoảng thời gian nhất định, nhiệm kỳ đối với mỗi vị trí công tác là không giống nhau và đều đã được pháp luật quy định rất cụ thể. Như tại Điều 40 Luật tổ chức Quốc hội đã nêu rõ “Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội sau”. Hay nhiệm kỳ của Thủ tướng theo nhiệm kỳ của Quốc hội tức là 4 năm (Điều 4 Luật tổ chức Chính phủ). Còn đối với công chức thì không đặt ra vấn đề nhiệm kỳ làm việc, điều này có nghĩa là thông thường họ làm việc cho đến khi về hưu (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi). Thứ hai là về cách thức hình thành: của cán bộ là bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh; còn đối với công chức thì là được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh – nghĩa là do thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Riêng đối với cán bộ ở cấp địa phương (tức là ở xã, phường, thị trấn) thì chỉ là do bầu cử mà được giữ chức vụ. Tương tự với công chức cấp xã cũng chỉ theo một hình thức là tuyển dụng để giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ và thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Nơi làm việc của cán bộ là trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Còn cán bộ cấp xã là trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, và còn là người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội (CT- XH). Các tổ chức chính trị – xã hội ở nước ta gồm có: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam. Còn công chức thì làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân (TAND) các cấp (Phó chánh án TAND tối cao; chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức CT-XH; Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập… Đặc điểm thứ tư là nếu đã là cán bộ, công chức thì họ phải là người trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Riêng đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể lấy một số ví dụ điển hình cho những người thuộc đối tượng là cán bộ trong bộ máy nhà nước ta như: Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam, Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,… Đối với công chức, để có thể xác định những đối thượng là công chức có thể căn cứ vào quy định của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP. Ngoài ra còn có một loại cán bộ khác, đó là Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, là các sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia (khoản 6 Điều 3 Luật An ninh quốc gia). Những những điểm mới so với khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh cán bộ, công chức. Sơ lược về khái niệm cán bộ, công chức theo Pháp lệnh CBCC Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 quy định: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam trong biên chế, bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức CT – XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức CT-XH ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân…,công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan,đơn vị thuộc Công an nhân dân…; Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn; Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã; Theo Pháp lệnh, những cán bộ công chức này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; riêng các đối tượng thuộc ngạch viên chức hoặclàm việc trong đơn vị sự nghiệp thì được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ sự nghiệp theo quy định của Pháp luật (Điểm này được Luật CBCC kế thừa). So với các văn bản trước đó Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh công chức sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức. Cũng không phân định rõ ràng được các đối tượng là công chức, chẳng hạn những người làm việc trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước là công chức, trong khi đó những người làm việc trong cơ quan hành chính xã, phường, thị trấn lại không phải là công chức. Những điểm mới Như đã đề cập phía trên, khi xem xét về khái niệm cán bộ, công chức ta có thể thấy được những điểm mới của Luật CBCC so với Pháp lệnh CBCC. Đó là: Thứ nhất, Luật đã đưa “cán bộ, công chức” ra thành những khái niệm chứ không gọi đơn thuần như một thuật ngữ chung chung nữa. Luật CBCC năm 2008 đã quy định tiêu chí phân định ai là cán bộ, ai là công chức. Theo đó, cán bộ gắn với tiêu chí được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; công chức gắn với tiêu chí được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Thứ hai, Luật đã phân biệt rõ ràng, rành mạch giữa “cán bộ, công chức” với “viên chức”. Nói cách khác, Luật đã tách hoàn toàn “viên chức” ra khỏi “cán bộ, công chức”, thu hẹp đối tượng điều chỉnh. Thứ ba, Luật đã xếp những người làm việc trong cơ quan hành chính địa phương là công chức, và những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND; Bí thư, phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn là cán bộ. Bên cạnh đó, cụm từ “cán bộ, công chức cấp xã” đã được tách ra thành cán bộ cấp xã (gắn với cơ chế bầu cử) và công chức cấp xã (gắn với cơ chế tuyển dụng). Trong khi pháp lệnh lại không trực tiếp gọi đây là cán bộ, công chức mà chỉ xếp vào cùng nhóm để quy định về biên chế và lương… nên cơ chế quản lý và chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với từng nhóm đối tượng. Đây là một bước tiến mới về nhận thức trong quá trình tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Khi tách đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp ra khỏi Luật CBCC sẽ có điều kiện tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, nâng cao chất lượng phục vụ người dân của các đơn vị sự nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, 2008; Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003); Luật cán bộ, công chức năm 2009 Nghị định của Chính phủ số 06/2010/NĐ-CP ngày 15/01/2010 quy định về công chức; Nghị định của Chính phủ số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lí công chức. Luật tổ chức Chính phủ 2001 ; Luật tổ chức Quốc hội. Luật an ninh quốc gia 2004 Những nội dung mới của Luật cán bộ, công chức năm 2008, TS. Trần Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Cán Bộ, Công Chức Sau Ngày 01/7/2020 Có Gì Mới?
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Luật Cán Bộ, Công Chức Và Chỉ Ra Những Điểm Mới So Với Khái Niệm Cán Bộ, Công Chức Theo Pháp Lệnh Cán Bộ, Công Chức
  • Ai Đủ Sức Chặn “chuyến Tàu Vét” Cuối Nhiệm Kỳ?
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đánh Giá Cán Bộ
  • Phát Huy Dân Chủ Trong Công Tác Cán Bộ Ở Nước Ta Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Bỏ Khái Niệm ‘người Tài’ Trong Luật Cán Bộ, Công Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2: Vì Sao Nêu Gương Là Một Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng?
  • Lv: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Ủy Ban Nhân Dân Huyện
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Huyện Ủy Huyện Mỹ Đức
  • Luận Văn: Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã, Hay!
  • Một Số Vấn Đề Về Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức (Phần Cuối)
  • Luật có bố cục gồm 3 Điều. Điều 1 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức; Điều 2 quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Viên chức; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành.

    Tại Điều 1, về chính sách đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ, Luật quy định Nhà nước có chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng; Chính phủ quy định khung chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ. Đồng thời, căn cứ vào quy định của Chính phủ, người đứng đầu cơ quan quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 39 của Luật này quyết định chế độ trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách trọng dụng và đãi ngộ đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do tỉnh quản lý.

    Theo báo cáo giải trình của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thực tiễn cho thấy khái niệm “người có tài năng” là rất rộng; tương ứng với mỗi ngành, lĩnh vực thì các tiêu chí và yêu cầu đối với người có tài năng là không giống nhau.

    Từ thực tế đó, việc xây dựng một khái niệm chung về người có tài năng là khó khả thi.

    Hơn nữa phạm vi của Luật Cán bộ, công chức chỉ quy định về quản lý, sử dụng, chế độ, chính sách đối với “cán bộ, công chức”, nếu quy định về người có tài năng nói chung là không phù hợp.

    Vì những lý do đó, kết hợp với việc tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đưa định nghĩa về người có tài năng cũng như người có tài năng trong hoạt động công vụ vào dự thảo Luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Luật Về Đánh Giá Năng Lực Công Chức Ở Việt Nam Hiện Nay
  • #1 Trách Nhiệm Kỷ Luật Công Chức Và Việc Truy Cứu Trách Nhiệm Kỷ Luật Công Chức
  • Xử Lý Kỷ Luật Cán Bộ, Công Chức
  • Công Chức Là Gì? Quyền, Nghĩa Vụ Và Vai Trò Của Công Chức?
  • Cán Bộ, Công Chức Và Những Hình Thức Kỷ Luật Cảnh Cáo Là Gì?
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Cán Bộ Quản Lý Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Cán Bộ Quản Lý Và Công Tác Cán Bộ
  • Đề Tài: Phẩm Chất, Năng Lực Cán Bộ Quản Lý Giáo Dục Ở Sóc Trăng
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Quản Lý Giáo Dục Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp Đáp Ứng Yêu Cầu Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • Luận Án: Xây Dựng Phong Cách Làm Việc Cho Cán Bộ Chủ Chốt, Hay
  • ở mỗi quốc gia khác nhau thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức là hoàn toàn khác nhau. ở nước ta, theo pháp lệnh cán bộ công chức được ban hành ngày 9/3/1998 thì cán bộ công chức là những người có Quốc tịch Việt Nam, trong biên chế, làm việc theo chế độ ngạch bậc, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo luật định. Các tiêu chí để xác định cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay:

    • Là công dân Việt Nam.
    • Được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử vào làm việc trong biên chế chính thức của bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội.
    • Được xếp vào một ngạch trong hệ thống ngạch bậc của công chức do Nhà nước qui định.
    • Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

    Đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế là một bộ phận của cán bộ, công chức. Từ sau đại hội Đảng toàn quốc làn thứ VI(1986), nước ta đang chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường vai trò của bộ phận này ngày càng quan trọng, nó đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế thích hợp với nó. Theo cách hiểu ngày nay, cán bộ quản lý kinh tế là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong đội ngũ cán bộ, công chức nói chung. Họ là những người làm việc trong lĩnh vực quản lý kinh tế, trong các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế, tham gia hoạch định chính sách kinh tế và thực hiện việc quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn quốc hoặc trong từng vùng hay lĩnh vực cụ thể.

    Cán bộ, công chức nói chung và cán bộ quản lý kinh tế nó riêng cần phải được đào tạo và bồi dưỡng một cách thường xuyên, liên tục. Đối với mỗi loại cán bộ, công chức lại có một nội dung đào tạo khác nhau, theo đó sẽ có nội dung về chất lượng đào tạo khác nhau. Đối với cán bộ quản lý kinh tế thì chất lượng đào tạo dao gồm hai nội dung chính, đó là trình độ, năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức chính trị.

    Trình độ và năng lực chuyên môn của người cán bộ quản lý kinh tế sẽ giúp cho họ có kiến thức để giải quyết công việc, phối hợp hoạt động của các nhân viên cấp dưới; đó là sự hiểu biết chung về xu hướng phát triển của xã hội và thời đại. Trình độ hiểu biết sẽ mở mang tầm nhận thức hướng về hiện đại hoá, hướng ra thế giới, hướng tới tương lai cho các cán bộ quản lý kinh tế. Đó còn là năg lực phân tiách vấn đề; khái quát các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội để có những giải pháp cho mọi vấn đề của đất nước được đặt ra. Người cán bộ quản lý kinh tế cũng cần phải thành thạo nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ thuật và có kinh nghiệm công tác vững vàng. Một người cán bộ quản lý kinh tế giỏi còn phải có năg lực quản lý bao gồm năng lực thực tế về phân tích tình huống, năng lực quyết sách và giải quyết các vấn đề, năng lực tổ chức và chỉ huy, năng lực kí kết và phối hợp hoạt động.Trình độ và năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý kinh tế được đánh giá chủ yếu qua các chỉ tiêu về bậc học, học vị của họ, ngạch, bậc công chức và họ được đào tạo dưới hình thức nào…Ngoài ra còn có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu khác như thâm niên công tác, vị trí công tác mà người đó đã từng nắm giữ, khả năng thành thạo công việc, cách giao việc và sử dụng nhân viên trong quá trình thực hiện quản lý.

    Phẩm chất đạo đức chính trị nói lên khả năng làm việc với con người và uy tín của người cán bộ quản lý kinh tế trong tổ chức, nó giúp người cán bộ quản lý kinh tế dễ dàng hơn trong việc hướng tới mục tiêu của tổ chức. Đó là ý thức chính trị, trình độ chính trị, ý thức tuân thủ luật pháp và các quy tắc điều lệ trong tổ chức của người cán bộ quản lý kinh tế. Cùng với những tư tưởng, quan điểm chính trị trên là đạo đức của bản thân những người cán bộ quản lý kinh tế: trung thực, cần mẫn, nhân hậu, có tinh thần trách nhiệm cao…Tất cả những điều đó sẽ tạo ra uy tín cho người cán bộ quản lý kinh tế.

    Mọi cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ù ở vị trí nào đi chăng nữa thì cũng đều có những vai trò nhất định đối với sự thành công hay thất bại của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước vì đây là nguồn lực giúp khai thông và sử dụng các nguồn lực khác nhau của đất nước. Trong đó nổi lên vai trò của các cán bộ quản lý kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế đã trở thành mộtlực lượng quan trọng trong hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vai trò của họ là:

    • Thứ nhất, các cán bộ quản lý kinh tế đặc biệt là các cán bộ cấp cao và các chuyên gia là những người tham gia vào quá trình hoạch định đường lối, chiến lược, định hướng, chính sách phát triển kinh tế; xây dựng nên cơ chế và thể chế quản lý kinh tế của đất nước. Các cán bộ quản lý kinh tế cùng với Nhà nước thiết lập những khuôn khổ chung cho thị trường hoạt động như hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế…để góp phần khắc phục các khuyết tật của thị trường và giúp cho thị trường hoạt động có hiệu quả hơn. Họ còn giúp Nhà nước xây đúng đắn dựng đường lối, chiến lược phát triển kinh tế trong từng giai đoạn, từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương, do đó đảm bảo công bằng xã hội và phát triển toàn diện nền kinh tế. Hơn thế nữa, họ còn là những người quyết định tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế và lựa chọn cán bộ để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ quản lý và tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
    • Thứ hai, các cán bộ quản lý kinh tế là những người biến chủ trương, đường lối, chiến lược, chính sách, kế hoạch và các dự án phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước thành hiện thực. Họ sử dụng quyền lực Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều hành các hoạt động của nền kinh tế theo nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và quản lý kinh tế ở phạm vi cả nước hay từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương cụ thể. Dựa trên cơ sở các chủ trương, đường lôi, chiến lược…phát triển kinh tế mà Nhà nước đưa ra, các cán bộ quản lý kinh tế thực hiện việc phối hợp các quá trình quản lý kinh tế để điều chỉnh kịp thời những mất cân đối, nhãng mâu thuẫn phát sinh giúp cho toàn bộ nền kinh tế vận hành đúng hướng và đạt được những mục tiêu đặt ra.
    • Thứ ba, các cán bộ quản lý kinh tế là người có thể thu thập được nhưngc nguyện vọng chính đáng và hợp lý của nhân dân, là cầu nối giũa Nhà nước với nhân dân và các tổ chức kinh tế. Công việc của họ gắn liền với cuộc sống của nhân dân, đôi khi họ phải làm việc trực tiếp với nhân dân để tìm hiểu mức sống của nhân dân và cả nguyện vọng của họ đối với Nhà nước. Trên cơ sở đó Nhà nước cùng các cán bộ quản lý kinh tế tìm ra các giải pháp, chính sách thích hợp để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.
    • Thứ tư, các cán bộ quản lý kinh tế giúp Nhà nước có thể sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực và cơ hội quốc gia. Trong quá trình vạch ra chủ trương, đường lối phát triển kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn, họ có khả năng đưa ra các phương án tối ưu nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực xã hội như tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động…Trong quá trình thực hiện công việc quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế, các cán bộ quản lý kinh tế chính là những người phát hiện ra những cơ hội và thách thức của đất nước trong tình hình mới. Trên cơ sở đó, họ cùng Nhà nước tìm ra những việclà cụ thể nhằm hạn chế những nguy cơ thách thức và nắm bắt những cơ hội để phát triển đất nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Và Người Lao Động
  • Đôi Điều Chia Sẻ Về Cán Bộ Đoàn…
  • Quy Chế Cán Bộ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
  • Thật Tự Hào Là Người Cán Bộ Đoàn
  • Tự Hào Là Cán Bộ Đoàn
  • Nêu Khái Niệm Truyện Cổ Tích

    --- Bài mới hơn ---

  • Em Hãy Nêu Định Nghĩa Truyện Cổ Tích? Qua Đó, Em Hãy Làm Rõ Thể Loại Của Tác Phẩm Sọ Dừa.
  • Sự Khác Nhau Giữa Hai Khái Niệm Truyện Cổ Dân Gian Và Truyện Cổ Tích
  • Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Truyện cổ tích là một loại truyện dân gian phản ánh cuộc sống hằng ngày của nhân dân ta. Trong truyện có một số kiểu nhân vật chính: nhân vật bất hạnh (người mồ côi, con riêng, người em út, người có hình dạng xấu xí,…), nhân vật có tài năng kì lạ, nhân vật thông minh, nhân vật ngốc nghếch, nhân vật là động vật (các con vật biết nói năng, có hoạt đông và tính cách như con người,…)’ Trong truyện cổ tích thường có những yếu tố hoang đường, kì ảo, đóng vai trò cán cân công lí, thể hiện khát vọng công bằng, mơ ước và niềm tin của nhân dân về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt với cái xấu.

    Ý nghĩa truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh

    – Giải thích nguyên nhân cũa hiện tượng lũ lụt hàng năm xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ

    – Thể hiện sức mạnh và ước mơ chiến thắng thiên nhiên cũa ngươi Việt Cổ

    – Suy tôn ca ngợi công lao dựng nước cũa các vua hùng

    – Xây dựng được những hình tượng nghệ thuật kì ảo mang ý nghĩa tượng trưng và khái quát cao

    Kể tóm tắt chuyện thánh gióng bằng lời văn của em

    Từ thuở còn trong nôi, em đã được bà kể cho nghe nhiều câu chuyện lắm. Nhưng câu chuyện mà em nhớ nhất là truyện Thánh Gióng.

    Truyện kể rằng: Đời Hùng Vương thứ sáu, ở một làng kia có hai vợ chồng ông lão, chăm chỉ làm ăn lại có tiếng là phúc đức. Nhưng đến lúc sắp già mà vẫn chứa có nấy một mụn con. Một ngày kia bà vợ ra đồng trông thấy một bước chân to, bèn đặt chân mình vào ướm thử. Về nhà bà mang thai. Nhưng không ngờ, khác với người thường, đến mười hai tháng sau bà mới sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô. Cậu bé ra đời là niềm mơ ước cả đời của hai vợ chồng nên ông bà mừng lắm. Nhưng chẳng biết làm sao, dù đã ba tuổi nhưng cậu bé Gióng (tên cậu do ông bà đặt) vẫn chẳng biết nói, biết cười, cứ đặt đâu nằm đó. Ông bà buồn lắm.

    Cũng năm ấy, giặc Ân sang xâm lược bờ cõi nước ta. Chúng gây bao nhiêu tội ác khiến dân chúng vô cùng khổ sở. Thế giặc mạnh, nhà vua bèn sai người đi khắp nước cầu hiền tài. Đi đến đâu sứ giả cũng rao:

    – Ai có tài, có sức xin hãy ra giúp vua cứu nước.

    Nghe tiếng rao, cậu Gióng đang nằm trên giường bèn cất tiếng:

    – Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con.

    (Ngày xưa khi để cho em nghe đến chỗ này, bao giờ bà cũng thêm vào: Tiếng nói đầu tiên của cậu Gióng là tiếng nói yêu nước đấy. Phải nhớ lấy cháu ạ!)

    – Nghe tiếng con, vợ chồng lão nông dân thấy lạ đành mời sứ giả vào nhà. Cậu Gióng liền yêu cầu sứ giả về chuẩn bị ngay: roi sắt, ngựa sắt, áo giáp sắt để cậu đi phá giặc.

    Càng lạ hơn, từ lúc cậu Gióng gặp sứ giả, cậu cứ lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cậu cũng không no, áo vừa mặc xong đã sứt chỉ. Vợ chồng ông bà nọ đem hết gạo ra nuôi mà không đủ bèn nhờ hàng xóm cùng nuôi cậu Gióng. Trong làng ai cũng mong cậu đi giết giặc cứu nước nên chẳng nề hà gì.

    Giặc đã đến sát chân núi Trâu. Người người hoảng sợ. Cũng may đúng lúc đó, sứ giả mang những thứ cậu Gióng đã đề nghị đến nơi. Cậu bèn vươn vai đứng dậy như một tráng sỹ, khoác vào áo giáp, cầm roi rồi nhảy lên ngựa phi thẳng tới trận tiền. Bằng sức mạnh như cả ngàn người cộng lại, chẳng mấy chốc cậu đã khiến lũ giặc kinh hồn bạt vía. Đang đánh nhau ác liệt thì roi sắt gãy, cậu bèn nhổ ngay từng bụi tre ở bên đường quật vào lũ giặc. Quân giặc bỏ chạy toán loạn nhưng rồi cũng bị tiêu diệt không sót một tên.

    Dẹp giặc xong, cậu Gióng không quay về kinh để nhận công ban thưởng mà thúc ngựa đến núi Sóc, bỏ lại áo giáp sắt, một người một ngựa bay thẳng về trời. Nhiều đời sau người ta còn kể, khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu trụi một làng nay làng ấy gọi là làng Gióng. Những vết chân ngựa ngày xưa nay đã thành những ao hồ to nhỏ nối tiếp nhau.

    Câu chuyện về người anh hùng Thánh Gióng đã không chỉ còn là niềm yêu thích của riêng em, mà nó đã là niềm say mê của bao thế thệ học trò.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Loại Truyện Cổ Tích Lớp 6
  • Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Khái Niệm Seo Là Gì? Kiến Thức Cơ Bản Về Seo?
  • Kiến Thức Là Gì? Khái Niệm Kiến Thức Là Gì?
  • Khái Niệm Khách Hàng Là Gì
  • Nêu Khái Niệm Thơ Hiện Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Kiến Thức Chuyên Đề Thơ Hiện Đại
  • Chuyên Đề Thơ Hiện Đại Việt Nam
  • Tố Hữu Là Nhà Thơ Trữ Tình
  • Thơ Mới Và Thơ Trung Đại Khác Nhau Ở Điểm Nào?
  • Thế Nào Là Một Truyện Ngắn Hay? (Phần 2)
  • ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC Kİ 11 LỚP 8

    Năm hoc: 2022- 2022

    TRƯỜNG THCS YÊN HOÀ

    Môn thi: Ngữ văn

    Ngày thi: 11 tháng 3 nam 2022

    Thời gian làm bài: 90 phút

    Câu 1, (5 điểm)

    Mở đầu bài thơ “Khi con tu hú”, nhà thơ Tô Hữu viết:

    “Khi con tu hú gọi bầy”

    1. Chép chính xác 5 câu thơ tiếp theo để hoàn chỉnh khổ thơ và cho biết hài thơ dược ra đời

    trong hoàn cảnh nào? (1 điểm).

    2. Dựa vào khổ thơ vừa chép, kết hợp hiểu biết của em về tác phẩm, hãy trình bày mạch

    cảm xúc của bài thơ. (1 điểm)

    3. Viết đoạn văn theo cách quy nạp (khoảng 12 câu), trong doạn có sử dụng một câu cảm

    thán, nêu cảm nhận của em về bức tranh mùa hè sang trong đoạn thơ vừa chép. (gach dưới câu

    cảm thán) (3 diêm)

    Cau 2. (2,5 diêm)

    Doc doan văn sau và tra loi câu hoi:

    ( ) “Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm trời đất;

    được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa

    núi. địa thế rộng mà bằng: dất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt

    muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa

    Thật là chôn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là kinh đô bậc nhất của đế

    vương muôn đời. “(..)

    (Trích “Chiếu dời dô” – Lí Công Uẩn)

    1. “Chiéu doi do” được viết vào năm nào và vớii mục đích gì? (1 diêm)

    2. Xác duh nội dung của đoạn văn trên. Nội dung đó được thế hiện c câu văn nào? Qua đó,

    em thấy đoạn văn dược viết theo kiểu đoạn gì? (1 diêm)

    mình. Hãy ghi lại tên một văn bản nghị luận trung đại khác da hoc trong chuong trinh Ngữ van

    lop 8 hoc ki II cung viét vè chú dè trên. (ghi ro tên tác giá) (0,5 diểm)

    Câu 3. (2,5 diểm)

    Hãy viết một doan văn theo cách diễn dịch (khoảng 10 câu) cảm nhận về tâm lòng yêu

    nuoc, can thù giặc của Trần Quốc Tuấn được thể hiện trong đoạn văn sau:

    ( ) “Huông chi ta cung các ngrơi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy

    sự giặc di lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi củ diệu mà si ming triều đình, đem thân dê

    chó mà bát nat té phu, thác mênh Hot Tá Liệt mà doi ngoc lua, dé thôa long tham khong cing.

    giá hieu Vân Nam iromg mà thnu bac vang, vét cuia kho co han. That khác nào dem thit ma

    nuói ho dói, sao cho khôi tai va ve sau!”..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cho Tôi Xin Một Vé Đi Tuổi Thơ
  • Cho Tôi Xin Một Vé Đi Tuổi Thơ…
  • Định Nghĩa Tuổi Thơ Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Tuổi Thơ
  • Những Đặc Điểm Chung Của Thơ Mới Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 8
  • Trình Bày Những Nét Chính Về Phong Trào Thơ Mới
  • Cán Bộ Quản Lý Và Công Tác Cán Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Phẩm Chất, Năng Lực Cán Bộ Quản Lý Giáo Dục Ở Sóc Trăng
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Quản Lý Giáo Dục Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp Đáp Ứng Yêu Cầu Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • Luận Án: Xây Dựng Phong Cách Làm Việc Cho Cán Bộ Chủ Chốt, Hay
  • Quy Định Mới Về Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã
  • Khái niệm cán bộ quản lý.

    Có hai định nghĩa cán bộ quản lý như sau:

    + Định nghĩa 1: Cán bộ quản lý là những người thực hiện những mục tiêu nhất định thông qua những người khác.

    + Định nghĩa 2: Cán bộ quản lý là những người có thẩm quyền ra quyết định dù là được phân quyền hay uỷ quyền.

    Yêu cầu đối với cán bộ quản lý.

    Về vị trí:

    Cán bộ quản lý phải đạt được các tiêu chuẩn chung về các tiêu chuẩn cao hơn như tư duy mới về chính trị, có tinh thần trách nhiệm cao.

    Về chuyên môn.

    Cán bộ quản lý phải hiểu được công việc, nắm vững chuyên môn mà mình phụ trách.

    Về năng lực tổ chức.

    Có khả năng hiểu con người, biết giao việc, có khả năng tập hợp được người dưới quyền và có khả năng gây ảnh hưởng và lựa chọn các phương pháp lãnh đạo để có thể đi đến mục tiêu của tổ chức.

    Về đạo đức.

    Người lãnh đạo, cán bộ quản lý phải có xu hướng đúng, biết tôn trọng con người, có văn hoá, công bằng, chí công vô tư.

    * Ở Việt Nam, luật doanh nghiệp Nhà nước (20/4/1995) Điều 32₡ và 39 đã quy định rõ tiêu chuẩn của giám đốc và thành viên hội đồng quản trị đối với doanh nghiệp nhà nước như sau:

    “Thành viên Hội đồng quản trị phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

    • Là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam.
    • Có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật.
    • Có trình độ, có năng lực kinh doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp.
    • Không đồng thời đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước.
    • Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc không được thành lập hoặc giữ các chức danh quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần và không được có quan hệ hợp đồng kinh tế đối với các doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phẩn do vợ, chồng, bố, mẹ, con giữ các chức danh quản lý điều hành…”

    Để cung cấp cho các bộ phận trong tổ chức một lực lượng lao động có hiệu quả thì nhà quản lý phải biết cách đánh giá, tuyển chọn, bố trí, sử dụng, đào tạo và trả lương đội ngũ nhân sự của mình. ở đây ta chỉ xem lao động quản lý.

    Bản chất của công tác cán bộ là hệ thống hoá việc quản lý các cán bộ quản lý. Công tác này đòi hỏi phải có cách tiếp cận hệ thống mở, nó được thực hiện trong bộ phận tổ chức, nhưng tổ chức lại nằm trong xã hội.

    Sử dụng cán bộ.

    Trong một tổ chức doanh nghiệp, quản lý tức là quản lý con người do vậy đây là hoạt động rất phức tạp. Để sử dụng cán bộ một cách có hiệu quả nhất thì trước hết người quản lý phải xác định được động cơ, mục tiêu của đối tượng.

    Động cơ trả lời câu hỏi: Vì sao cấp dưới lại hành động?

    Mục tiêu trả lời câu hỏi: Đối tượng muốn gì?

    Nhà quản lý phải làm thế nào để tạo ra và duy trì động cơ.

    Thứ hai, nhà quản lý phải có quyền lực và thứ ba là phải có nghệ thuật đối nhân xử thế.

    Di chuyển cán bộ.

    Thuyên chuyển :

    Mục đích của thuyên chuyển cán bộ là nhằm kích thích khả năng hoạt động một cách đa dạng, linh hoạt đồng thời đáp ứng những đòi hỏi cần thiết về tổ chức. Mục đích cốt yếu của việc thuyên chuyển là nâng cao tính hiệu quả trong việc đạt tới các mục tiêu.

    Để thuyên chuyển cán bộ đạt hiệu quả, cần phải quản lý việc thuyên chuyển tức là phải lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thuyên chuyển.

    Thuyên chuyển cán có thể chỉ là thuyên chuyển tạm thời, hoặc vĩnh viễn thuỳ theo yêu cầu, mục đích thuyên chuyển.

    Đề bạt:

    – Đề bạt là sự thăng tiến của một người lao động tới một công việc tốt hơn kèm theo đó là trách nhiệm lớn hơn uy tín, kỹ xảo cao hơn, được trả lương cao hơn, thời gian lao động, điều kiện làm việc tốt hơn.

    Mục đích của đề bạt nhằm: Củng cố sự trung thành của cán bộ đối với tổ chức, thưởng công cho năng lực, kỹ xảo, phẩm chất người lao động; khuyến khích người lao động phục vụ tốt nhất theo khả năng của mình; giảm bớt sự biến động lao động.

    – Các hình thức đề bạt:

    Có 2 hình thức đề bạt sau:

    + Đề bạt thẳng trong bộ phận: là việc đề bạt từ một bộ phận nào đó đến một cấp bậc tiếp theo trong cùng một bộ phận.

    + Đề bạt ngang: Là việc đề bạt từ một cương vị trong một bộ phận đến cương vị cấp bậc cao hơn hoặc đến cương vị tương đương ở một bộ phận khác.

    Trả công cho cán bộ.

    Các nguyên tắc trả công cho cán bộ:

    • Tiền lương phải đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động.
    • Tiền lương phải dựa trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
    • Tiền lương cho người lao động phải phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của người lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Hình thức trả công cho cán bộ.

    Đối với cán bộ quản lý, các doanh nghiệp thường áp dụng hình thức trả công theo thời gian.

    Hình thức trả công theo thời gian gắn thu nhập của mỗi người với kết quả lao động mà họ đã đạt được trong thời gian làm việc.

    Hình thức trả công này gồm hai chế độ. Theo thời gian đơn giản và theo thời gia có thưởng.

    – Chế độ trả công theo thời gian đơn giản: là chế độ trả công mà tiền công nhận được của mỗi người công nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định.

    Chế độ này chỉ áp dụng ở những nơi khó xác định mức lao động chính xác, khó đánh giá công việc thật chính xác và có 3 loại cơ bản là lương giờ, lương ngày và lương tháng.

    – Chế độ trả công theo thời gian có thưởng: là sự kết hợp giữa chế độ trả công theo thời gian đơn giản với tiền thưởng khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng hoặc chất lượng đã qui định.

    Chế độ trả công này không những phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn chặt với thành tích công tác của từng người thông qua các chỉ tiêu xét thưởng đã đạt được vì vậy nó có tác dụng động viên, khuyến khích .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Cán Bộ Quản Lý Kinh Tế
  • Định Nghĩa Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Và Người Lao Động
  • Đôi Điều Chia Sẻ Về Cán Bộ Đoàn…
  • Quy Chế Cán Bộ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh
  • Thật Tự Hào Là Người Cán Bộ Đoàn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100