Ca Dao Là Gì? Những Câu Ca Dao Bằng Tiếng Anh

--- Bài mới hơn ---

  • Thủ Khoa Tiếng Anh Là Gì
  • Chùm Những Bài Ca Dao Hài Hước, Trào Phúng, Châm Biếm Đặc Sắc Nhất
  • Tuần 9. Ca Dao Hài Hước, Châm Biếm
  • Đặc Điểm Phong Cách Ngôn Ngữ Trong Ca Dao Cổ
  • Tổng Hợp Những Câu Ca Dao Tục Ngữ Về Tình Cảm Gia Đình.
  • Ca dao là gì?

    Ca dao là thơ cơ dân gian của Việt Nam. Những câu ca dao này được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Nhờ đó mà người dân ghi nhớ và thường xuyên sử dụng khi giao tiếp, viết văn, thơ.

    Ca dao được thể hiện dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định. Nhưng người ta lại rất dễ ghi nhớ ca dao vì chúng được phổ theo thể lục bát. Thể loại này mang tới thanh điệu hay, đồng thời dễ thuộc, dễ lưu truyền.

    Ca dao mang rất nhiều nét nghĩa. Thông qua ca dao, người dân Việt Nam phản ánh lịch sử, nếp sống, phong tục, truyền thống, thậm chí là những sự châm biếm sâu cay.

    Ca dao chỉ đơn thuần được sáng tạo, truyền miệng bởi nhân dân. Do đó, không ai biết được nguồn gốc, tác giả ca dao là ai.

    Những câu ca dao mang rất nhiều ý nghĩa đối với truyền thống, văn hoá Việt Nam.

    Bao gồm nét nghĩa đen và nghĩa bóng

    Ca dao là những câu nói của nhân dân đúc kết từ những kinh nghiệm, có vần điệu. Người dân thường mượn hình ảnh nào đó trong dân gian, để chỉ lớp nghĩa sâu sắc hơn. Chính vì thế, ca dao luôn bao gồm cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

    Thể hiện những truyền thống văn hoá

    Ca dao là sản phẩm của nhân dân, lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ngoài ra, thông qua đó, chúng ta còn biết thêm về vần điệu, thể thơ của tiếng Việt.

    Những cách chơi từ hay mượn hình ảnh thông minh cũng góp phần thể hiện điều này rõ nét nhất.

    Lưu truyền lại kinh nghiệm dân gian

    Người dân Việt Nam từ xa xưa đã có hiểu biết về những hiện tượng tự nhiên. Họ lưu giữ và truyền lại cho nhau từ đời này sang đời khác. Cho nên, có thể nói, ca dao là hình thức lưu truyền lại kinh nghiệm vô cùng hiệu quả.

    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau – Courtesy costs nothing

    Hoạn nạn mới biết bạn hiền – A friend in need is a friend indeed

    Anh em xa không bằng láng giềng gần – A stranger nearby is better than a far-away relative

    Bắt cá hai tay, tuột ngay cả cặp – If you run after two hares you will catch neither

    Cười người hôm trước hôm sau người cười – He who laughs today may weep tomorrow

    Giàu đổi bạn, sang đổi vợ – Honour charges manners

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Cây Hoa Sen Trong Bài Ca Dao “tát Nước Đầu Đình”
  • Cây Cầu ” Dải Yếm ” Bắc Qua Dòng Sông ” Một Gang ” Trong Ca Dao
  • Ca Dao Là Tiếng Nói Tình Cảm Của Con Người
  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao
  • Ca Dao, Dân Ca Là Gì ? Nêu Các Thể Thơ Ta Thường Bắt Gặp Trong Ca Dao, Dân Ca Và Cho Thí Dụ Minh Họa
  • Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Bài Ca Dao Than Thân Thân Em
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa (Chi Tiết)
  • Tuần 9. Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Đặc Trưng Kết Cấu Ca Dao Trữ Tình
  • 1. Khái niệm

    – Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian.

    – Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự.

    2. Đặc điểm của ca dao

    – Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm…

    – Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu… (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức…).

    II. RÈN KĨ NĂNG

    1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau:

    – Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa.

    – Nội dung yêu thương tình nghĩa:

    + Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa.

    + Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ).

    2. Về các bài 1, 2

    a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.

    b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng:

    – Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?).

    – Bài 2: Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa.

    3. Về bài 3

    a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như:

    Ai làm cho bướm lìa hoa

    Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng. – Ai làm bầu bí đứt dây

    Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng.

    Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình…

    b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ ( mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.

    c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

    4. Về bài 4

    Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.

    Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa ( khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.

    Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.

    Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.

    Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

    5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo – là cành hồng, là ngọn mồng tơi,… và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một “cái cầu tình yêu”. Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu – dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình.

    Hai ta cách một con sông

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang

    Cách nhau có một con đầm

    Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang Cành trầu lá dọc lá ngang Đố ngư­ời bên ấy bư­ớc sang cành trầm

    Gần đây mà chẳng sang chơi

    Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu Sợ rằng chàng chả đi cầu Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em…

    Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao:

    Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như­ những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nh­ưng đều có giá trị thẩm mĩ cao.

    Ở bài ca dao dư­ới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) như­ng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hư­ớng đến chàng trai (ngư­ời ở phía bên kia).

    6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao ( gừng cay – muối mặn).

    Muốigừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

    Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách ( Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng.

    7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là:

    – Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như…

    – Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay – muối mặn…

    – Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai…

    – Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở.

    – Thể thơ: lục bát – lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể).

    Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ – dấu ấn đặc trưng của từng tác giả.

    8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”:

    – Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày – Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa – Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu – Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày – Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.

    Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao:

    – Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh : thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi.

    – Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.

    – Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

    9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn:

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Chùm Ca Dao Than Thân
  • Phân Biệt Thành Ngữ Với Tục Ngũ
  • Cận Cảnh Độ Nguy Hiểm Của Loài Cá Ăn Thịt Người Piranha
  • Thơ Trào Phúng Là Gì ?
  • Tiền Và “triết Đạo Cà Phê Trung Nguyên”
  • Nội Dung Của Ca Dao Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chất Ca Dao, Thần Thoại Trong Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại
  • “đất Nước Của Nhân Dân, Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại” Trong Đoạn Trích Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Phân Biệt Ca Dao, Tục Ngữ, Thành Ngữ
  • Hộ Gia Đình Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hộ Gia Đình
  • Ca dao phản ánh lịch sử

    Ca dao là những bài ca về lịch sử. Nhưng trước tiên, việc xác định nội dung lịch sử của những câu ca dao cũng là vấn đề cần xem xét.

    Tác giả Nguyễn Văn Mại trong Việt Nam phong sử đã trình bày quan điểm của mình trong bài Tựa: Phong là cái gì ? Là thơ ở trong ca dao dân tục vậy. Sử là cái gì ? Là cái gương sáng để khen chê khuyến trừng việc thị phi thiện ác vậy. Tại sao phong mà lại gọi là sử ? Vì nhân đọc dân phong mà biết quốc sử vậy. Với phương pháp biên soạn: đem ý riêng nghị luận bổ thêm vào … lấy phong dao làm gương sáng để chiếu tinh thần quốc sử, lại lấy quốc sử làm căn bản để cắm cái hoa lá phong dao …, tác giả đã có sự gắn kết các câu ca dao vào từng thời kỳ, sự kiện, nhân vật lịch sử. Chẳng hạn:

    -Tưởng là chị ngã em nâng, Chẳng hay chị ngã em mừng em lo.

    được tác giả coi là nói về việc Trịnh Tùng tranh cướp lấn quyền của anh là Trịnh Cối sinh ra hiềm khích đánh nhau.

    Theo cách thức như vậy, có thể ghép nhiều nội dung lịch sử khác nhau cho cùng một câu ca dao:

    -Nước lã mà vã nên hồ,

    Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

    được cho là nói về việc sau hai bà Trưng lại có Lý Nam Ðế xưng hùng, chống nhau với nhà Lương, người khác lại cho là nói về việc Lê Hoàn được sự nâng đỡ của Dương Vân Nga mà lấy được ngai vàng nhà Ðinh …

    Ca dao lịch sử nói đến lịch sử bằng một thứ ngôn ngữ trực tiếp. Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.

    Nhân dân nói về sự kiện Bà Triệu khởi nghĩa chống lại ách thống trị của quân Ngô xâm lược hồi thế kỷ III:

    -Ru con con ngủ cho lành, Ðể mẹ gánh nước rửa bành cho voi. Muốn con lên núi mà coi, Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng. Túi gấm cho lẫn túi hồng, Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân.

    Về cuộc kháng chiến vĩ đại mười năm chống quân Minh hồi thế kỷ XV gắn với tên tuổi người anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân ghi nhớ trong lời ca dao:

    -Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn, Nhớ đây Lê Lợi chặn đường quân Minh.

    Có những câu ca dao nói đến những sự kiện phản ánh tình hình suy thoái của chính quyền phong kiến.

    -Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng, Bao giờ gánh đá ông Ðăng cho rồi.

    nói về sự khốn khổ của nhân dân Thanh Hóa thời Hậu Lê (1600) phải đi phu gánh đá xây sinh từ cho Ðăng quận công Nguyễn Khải.

    -Vạn Niên là Vạn Niên nào,

    Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

    Câu ca dao là lời ta thán của nhân dân khi phải chịu cảnh phu phen tạp dịch nặng nề để xây lăng Vạn Niên cho vua Tự Ðức.

    Bằng lời lẽ táo bạo nhân dân đánh vào sự thối nát, rối ren của chính quyền thống trị của họ Trịnh cuối thế kỷ XVIII:

    -Trăm quan có mắt như mờ,

    Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung. -Ðục cùn thì giữ lấy Tông, Ðục long, Cán gãy, còn mong nỗi gì !

    2. Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống

    Những phong tục, tập quán truyền thống trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân được thể hiện rất phong phú trong ca dao.

    Ðây là những tập quán trong lao động nông nghiệp, ngư nghiệp:

    -Người ta đi cấy lấy công, Còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề, Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm. Trông cho chân cứng, đá mềm, Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng. -Cày đồng đang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày … -Chồng chài, vợ lưới, con câu, Mênh mông bể Sở biết đâu là nhà.

    Những cảnh sinh hoạt truyền thống:

    -Hôm qua anh đến chơi nhà, Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường. Thấy em nằm đất anh thương… -Aïo đen năm nút viền bâu, Ai may cho bậu hay là bậu may. -Mua cau chọn những buồng sai, Mua trầu chọn những trăm hai lá vàng. Tai nghe trống chiến trống chầu, Xếp ba miếng kẹo lộn đầu, lộn đuôi.

    3. Phản ánh đời sống tình cảm nhân dân

    Ca dao trước hết là tiếng hát về tình yêu của con người, đây là một tình cảm phong phú và rộng lớn.

    Những thắng cảnh thiên nhiên mọi miền đất nước, những công trình văn hóa từ bao đời … được khắc họa như một bức tranh rộng lớn trong ca dao, thể hiện sự nhận thức về cương vực tổ quốc, lòng yêu mến, tự hào về đất nước, con người.

    -Nhất cao là núi Ba Vì, Thứ ba Tam Ðảo, thứ nhì Ðộc Tôn. -Nhất cao là núi Tản Viên, Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường. -Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Ðồng nai đã từng. -Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Yêu em anh cũng muốn vô, Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang. Phá Tam Giang ngày rày đã cạn, Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm. -Rủ nhau chơi khắp Long Thành, Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai. Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai, Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay. Mã Vĩ, hàng Ðiếu, hàng giày, Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Ðàn. Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than, Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Ðồng. Hàng Muối, hàng Nón, cầu Ðông, Hàng Hòm, hàng Ðậu, hàng Bông, hàng Bè. Hàng Thúng, hàng Bát, hàng Tre, Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà. Quanh đi đến phố hàng Da, Trải xem phưòng phố thật là cũng xinh. Phồn hoa thứ nhất Long Thành, Phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ. Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ, Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.

    Sự giàu có của những sản vật tự nhiên, và những sản phẩm do bàn tay sáng tạo của con người đã làm nên nét đẹp quê hương có mặt rất nhiều trong ca dao:

    -Muốn ăn mật rú vô Trèn, Muốn xơi ốc đực thì lên Thác Ðài. -Lụa này thật lụa cố đô, Chính tông lụa cống các cô đang dùng. -Bến Tre giàu mía Mõ Cày, Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.

    Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ có nội dung phản ánh được mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó: giai đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi những lời thề nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung hoặc nỗi đau khổ với những lời than thở, oán trách …

    -Hôm qua tát nước đầu đình, Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen. Em được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà. Aïo anh sứt chỉ đường tà, Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu. Aïo anh sứt chỉ đã lâu, Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng. Khâu rồi anh sẽ trả công, Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho. Giúp em một thúng xôi vò, Một con lợn béo, một vò rượu tăm. Giúp em đôi chiếu em nằm, Ðôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo. Giúp em qua tám tiền cheo, Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau. -Quạt này anh để che đầu, Ðêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này. Ước gì chung mẹ, chung thầy, Ðể em giữ cái quạt này làm thân. Rồi ra chung gối chung chăn, Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu. Nằm thì chung cái giường Tàu, Dậy thì chung cả hộp trầu ống vôi. Ăn cơm chung cả một nồi, Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa. Chải đầu chung cái lược ngà, Soi gương chung cả ngành hoa giắt đầu… -Muốn khuây dạ nỏ chịu khuây, Sự đâu đem đổ dạ này mê man. -Buổi mai em xách cái thống, Em xuống dưới ao em bắt con cua, Em bỏ vô trong cái thống; Hắn kêu cái rỏng, hắn kêu cái rảnh, Hắn kêu một tiếng chàng ôi ! Chàng đà yên phận tốt đôi, Em nay lẻ bạn mồ côi một mình. -Ngọn lang trắng, ngọn vắn, ngọn dài, Rau tần ô, ngã dọc, ngã ngang, Trái dưa gang sọc đen, sọc trắng, Ngọn rau đắng, trong trắng ngoài xanh. Chim quyên uốn lưỡi trên nhành, Bởi em ở bạc, ông trời nào đành để em. -Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân …

    Một bộ phận bài ca này còn mang thêm ý nghĩa xã hội, những bài ca nói đến sự trắc trở trong tình yêu đôi lứa:

    -Hai ta là bạn thong dong, Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng. Bởi chưng thầy mẹ nói ngang, Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau. -Vắn tay với chẳng đặng kèo, Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em.

    Ca dao trữ tình thể hiện rất phong phú những biểu hiện của tình cảm gia đình: tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ và con cái, tinh cảm anh em … phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của nhân dân.

    Ðây là hình ảnh một gia đình truyền thống:

    -Sáng trăng trải chiếu hai hàng, Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.

    Tình nghĩa gắn bó, thủy chung, tiếng nói đạo nghĩa của nhân dân:

    -Muối ba năm muối đương còn mặn, Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay, Ðạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay, Dẫu có làm nên danh vọng, rủi có ăn mày ta cũng theo nhau.

    Những bài ca tuyệt hay về tình mẹ con:

    -Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Miệng nhai cơm bún, lưỡi lừa cá xương. -Mẹ già ở túp lều tranh, Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con.

    4. Phản ánh đời sống xã hội cũ

    Ca dao trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội khắc họa một bức tranh phong phú về hiện thực. Ca dao phản ánh những tâm trạng đau khổ, chua xót, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân chống ách thống trị phong kiến.

    -Gánh cực mà đổ lên non,

    Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo. -Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình … -Con cò mà đi ăn đêm, Ðụng phải cành mềm, lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong, Ðừng xáo nước đục, đau lòng cò con. -Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa lại quét lá đa, Bao giờ dân nổi can qua, Con vua thất thế lại ra quét chùa.

    Ca dao phản ánh khá nổi bật đời sống, tâm trạng người phụ nữ trong xã hội cũ. Ðây cũng là những tâm trạng uất ức, đau khổ trước những bất công xã hội áp đặt đối với người phụ nữ.

    -Thân em như hạt mưa sa,

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày. -Thân em như giếng giữa đàng, Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. -Lênh đênh chiếc bách giữa dòng, Thương thân goá bụa phòng không lỡ thì. Gió đưa cây trúc ngã quỳ, Ba năm chực tiết còn gì là xuân !

    Người phụ nữ trong ca dao không cam chịu với địa vị thấp kém, phụ thuộc:

    -Chồng con là cái nợ nần, Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm. -Không chồng mà chửa mới ngoan, Có chồng mà chửa thế gian sự thường.

    Những bài ca về người lính và người vợ lính phản ánh sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân trước những cuộc chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên suốt bốn thế kỷ từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX.

    Ðây là bài ca về người lính thú với tâm trạng u uất, buồn khổ:

    -Ba năm trấn thủ lưu đồn, Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan. Chém tre đẵn gỗ trên ngàn, Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai ! Miệng ăn măng trúc, măng mai, Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng ? Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng.

    Bài ca về người vợ lính sáng lên hình ảnh người phụ nữ với đức hy sinh, tinh thần đấu tranh chống phong kiến.

    -Cái cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. Nàng về nuôi cái cùng con, Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng. -… Chém cha cái giặc chết hoang, Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng. Gánh từ xứ Bắc, xứ Ðông, Ðã gánh theo chồng lại gánh theo con.

    5. Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Ca dao trào phúng và ca dao trữ tình có mối quan hệ khăng khít nhau. Ca dao trào phúng thể hiện tính thích trào lộng của nhân dân. Phạm vi đề tài của ca dao trào phúng cũng rất rộng rãi. Các hiện tượng trái tự nhiên, không bình thường có thể trở thành đối tượng của nó.

    -Chồng còng mà lấy vợ còng, Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa. -Lỗ mũi em mười tám gánh lông, Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho. Ðêm nằm thì ngáy o o, Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà. Ði chợ thì hay ăn quà, Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm …

    Phần lớn ca dao trào phúng có nội dung xã hội. Bằng tiếng cười trào phúng, nhân dân phê phán, đả kích giai cấp thống trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng … thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

    Những bài thách cưới có tính chất trào phúng phê phán những tục lệ thách cưới, nộp cheo, là những hủ tục trong chế độ hôn nhân xưa:

    -Em về thưa với mẹ cha, Bắt lợn đi cưới bắt gà đi cheo. Ðầu lợn lớn hơn đầu mèo, Làng ăn không hết làng treo cột đình. Ông quan đánh trống thình thình, Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo. -Cưới nàng anh toan dẫn voi, Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn. Dẫn trâu, sợ họ máu hàn, Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân. Miễn là có thú bốn chân, Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng. -Chàng dẫn thế em lấy làm sang, Nỡ nào em lại phá ngang như là …, Người ta thách lợn thách gà, Nhà em thách cưới một nhà khoai lang; Củ to thì để mời làng, Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi. Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi, Ðể cho con trẻ ăn chơi giữ nhà…

    Nhân dân hướng mũi nhọn đả kích vào tầng lớp thống trị phong kiến tập trung vào một số đối tượng rất quen thuộc trong văn học dân gian: vua chúa, các loại quan văn, quan võ, các loại thầy cúng, thầy bói, sư giả hiệu …

    -Vua Lê ba mươi sáu tàn vàng, Thấy gái đi đàng ngó ngó nom nom. Cô nào óng ả son son, Vua đóng vào hòm đem trẩy về kinh. -Em là con gái đồng trinh, Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè. Ông Nghè sai lính ra ve, Trăm lạy ông nghè ông đã có con. Có con thì mặc có con, Thắt lưng cho giòn theo võng cho mau. -Cậu cai nón dấu lông gà, Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai. -Cậu cai buông áo em ra Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa … -Chập chập cheng cheng, Con gà trống thiến để riêng cho thầy. Ðơm xôi thì đơm cho đầy, Ðơm mà vơi đĩa thì thấy không ưa. -Hòn đất mà biết nói năng, Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.

    Từ sự phê phán những biểu hiện cụ thể, đây còn là quan điểm của nhân dân về vấn đề tôn giáo:

    -Ai lên Hương Tích Chùa Tiên, Gặp cô sư bác, anh khuyên đôi lời: Ðem thân làm cái kiếp người, Tu sao cho trọn nước đời mà tu ?

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Giới Thiệu Chùm Ca Dao Than Thân
  • Ca Dao Việt Nam Về Chủ Đề Than Thân
  • Phân Biệt Thành Ngữ, Tục Ngữ
  • Ca Dao Trào Phúng Việt Nam
  • Ca Dao Tục Ngữ Thành Ngữ Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Mã Zip Iphone Là Gì
  • Những Gì Các Plugin Xin Chào Dolly? Bạn Nên Xóa?
  • Email Là Gì? Đăng Ký Email Theo Tên Miền Riêng
  • Ngành Logistics Là Gì, Dịch Vụ Logistics Với Business, Marketing
  • Bệnh Whitmore Là Gì Và Biểu Hiện Thế Nào?
  • Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

    CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM

    Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con… hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát. Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội…

    Tục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn. Nó ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh. Đây là một thể loại văn học dân gian.

    Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Câu 6, câu 8, có vần, có điệu, ý nghĩa và tinh tế và vô danh chẳng biết tác giả là ai. Thuộc giới bình dân hay trí thức, nông dân hay thầy giáo” ? Chỉ biết riêng ca dao mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến. Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị.

    Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.

    Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ. Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương.

    THÀNH NGỮ

    Trong ngôn ngữ Việt có hẳn một kho thành ngữ, trong đó phải kể đến những câu, những lời bình nghị sinh động về phẩm cách con người, về đạo lý ở đời, về nhân tình thế thái. Chỉ kể những câu có bốn từ, bốn tiếng đăng đối giàu biểu cảm người ta đã có thể liệt kê ra rất nhiều. Xin viện dẫn: “Xấu người đẹp nết”, “Giấu đầu hở đuôi”, “Cười thuê khóc mướn”, “Nước chảy đá mòn”, “Giận cá chém thớt”, “Bóc ngắn cắn dài”, “Bòn tro đãi sạn”, “Chọn đá thử vàng”, “Dẻ cùi tốt mã”, “Văn mình vợ người”, “Ma chê cưới trách”, “Quýt làm cam chịu”, “Con dại cái mang”, “Chị ngã em nâng”, “Công cha nghĩa mẹ”, “Môi hở răng lạnh”…

    Ðặc điểm của loại thành ngữ này là bốn từ đều là từ đơn, đứng độc lập, có nghĩa riêng; chia thành hai cặp đối xứng nhau. Ví như câu “Xấu người đẹp nết” thì xấu, người, đẹp, nết; bốn từ đơn mang hàm nghĩa riêng, độc lập, không cần liên kết hoặc phụ thuộc vào từ khác; chia thành hai cặp đối xứng là xấu người đối với đẹp nết; đối cả ý lẫn lời; xấu đối với đẹp, người đối với nết.

    Thành ngữtục ngữ được dùng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân ta. Tuy nhiên, để hiểu đúng nghĩa một câu tục ngữ hay một thành ngữ, nhất là phân biệt đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ cũng không mấy dễ dàng với khá nhiều người. Muốn phân biệt được đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ thì phải có căn cứ, có cơ sở khoa học và tiêu chí để phân định.

    Về vấn đề này, mục “Diễn đàn nói và viết” của Tạp chí Ngôn ngữ học Việt Nam (số 8 năm 2006) đã nêu như sau: Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý (ví dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng); còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một thành phần câu, diễn đạt một khái niệm có hình ảnh (ví dụ: Mẹ tròn con vuông).

    Nội dung của tục ngữ thuộc về đúc rút những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử – xã hội của nhân dân (ví dụ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm). Thành ngữ lại mang tính biểu trưng, khái quát và giàu hình tượng nên thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hoặc nghệ thuật tu từ hoán dụ. Chẳng hạn “Chân cứng đá mềm”. Chính vì vậy, thành ngữ dễ gây được ấn tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân dân thường dùng xen vào lời ăn tiếng nói (ví dụ: Tôi chúc anh đi “chân cứng đá mềm”)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuốc Viên Sốt Rét Cv 8: Hướng Dẫn Sử Dụng, Tác Dụng, Liều Dùng & Giá Bán
  • Thiết Lập Mạng Không Dây Ad Hoc Để Phát Wifi Không Cần Phần Mềm Từ Laptop
  • Hàm Vlookup Cách Sử Dụng Và Ví Dụ Cụ Thể
  • Shophouse Là Gì? Tìm Hiểu Pháp Lý Xây Dựng Shophouse Trong Luật Đất Đai
  • Hàm Fv Và Pv Trong Excel.
  • Trữ Tình Trong Ca Dao, Dân Ca

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Đất Nước Của Nhân Dân, Đất Nước Của Ca Dao Thần Thoại Trong Đoạn Trích Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Phân Tích Đoạn Thơ “Để Đất Nước Này Là Đất Nước Của Nhân Dân”
  • Hồ Quang Điện Là Gì ? Nguyên Nhân, Tác Hại, Ứng Dụng Và Cách Phòng Chống
  • Hồ Quang Điện Là Gì Và Những Cần Biết
  • Hồ Quang Điện Là Gì?
    • Đỗ Văn Kính

    Cho nên ca dao, dân ca là vũ khí sắc bén trong đấu tranh, cũng là tiếng nói thầm kín, tế nhị trong tình yêu đôi lứa. Khi tình yêu mới nảy nở, chàng trai mới hỏi cô gái:

    Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

    Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

    Tình yêu có phân biệt gì đâu, nên người con gái trả lời hồn nhiên, thẳng thắn:

    Đan sàng thiếp cũng xin vâng

    Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?

    Nhiều khi gặp được cô gái, chàng trai buông lời trêu chọc cho vui:

    Gặp em anh xắn cổ tay,

    Nhờ vá cái áo, nhờ may cái quần.

    Hay:

    Cô kia đứng ở bên sông,

    Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang…

    Cũng có khi chàng trai lãng mạn vui đùa, nhưng vẫn giữ được lịch sự, tế nhị:

    “Ai làm cái nón quai thau,

    Để cho anh thấy cô nào cũng xinh”

    Đôi lúc cô gái trả lời rất ý như lời tỏ tình của người con trai:

    Thưa rằng: – Bác mẹ tôi răn,

    Làm thân con gái chớ ăn trầu người.

    Có lẽ tục lệ ngày xưa, người con gái nhận miếng trầu thì coi như đính ước hôn nhân, nên người con gái từ chối khéo léo như vậy. Nhưng khi yêu nhau thật lòng thì họ rất táo bạo như bài dân ca này:

    Yêu nhau cởi áo cho nhau,

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu đánh rơi.

    Yêu nhau trao nón cho nhau

    Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.

    Tình yêu nam nữ đâu phải lúc nào cũng được êm ấm, suôn sẻ, họ luôn gặp phải cách trở, cản ngăn, cả đau thương nhưng họ quyết tâm tìm đến với nhau.

    Nhà người ở gần hay là ở xa,

    Cách phà, cách huyện hay là cách sông.

    Xa xôi cách mấy quãng đồng,

    Để em bỏ việc bỏ công đi tìm.

    Cho nên người con trai hết lời ca ngợi người mình yêu “Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh”. Còn đối với thanh niên nông thôn, họ yêu nhau và bộc lộ tình yêu một cách dè dặt, e thẹn khác nào nàng Kiều “Khách đà lên ngựa người còn ghé theo…”:

    Ngó em không dám ngó lâu,

    Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi.

    Ngày xưa, sống dưới chế độ thực dân phong kiến, nam nữ yêu nhau gặp biết bao là chướng ngại, trắc trở, đó là phong tục tập quán, là sự cách biệt giàu nghèo… Trước áp lực quá lớn của xã hội, con người nhỏ bé không biết dựa vào đâu, họ nghĩ đến lực lượng siêu nhân để hờn giận, oán trách:

    Bắc thang lên đến tận trời,

    Bắt ông Nguyệt Lão đánh mười cẳng tay.

    Đánh rồi lại trói vào cây,

    Hỏi ông Nguyệt Lão nào dây tơ hồng?

    Rồi tự mình than thân trách phận, thậm chí còn buông xuôi cho số phận:

    Thân em như tấm lụa đào,

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Hay:

    Thân em như hạt mưa sa,

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày…

    Nhưng dù ở trong hoàn cảnh nào, đã yêu nhau thì họ cho người mình yêu đẹp nhất, tuyệt vời nhất:

    Một thương tóc bỏ đuôi gà,

    Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

    Cái đẹp về hình thức rất quan trọng, nhưng phải nhường chỗ cho cái đẹp của tâm hồn:

    Thân em như củ ấu gai,

    Ruột thì trong trắng vỏ ngoài thì đen.

    Cô kia đi đường với ta,

    Trồng đậu đậu tốt, trồng cà cà sai.

    Và khi nam nữ yêu nhau thật sự, thì họ có quyết tâm cao “Lòng em đã quyết thì hành, đã cấy thì gặt với anh một mùa”. Cám ơn cuộc đời đã tạo ra những con người dũng cảm bất khuất, vượt qua chông gai trở ngại để giữ tấm lòng trong trắng, thủy chung.

    Từ những điều nêu trên, ta thấy ca dao, dân ca chiếm vị trí quan trọng trong văn học dân gian. Ca dao, dân ca nói lên được tâm tư nguyện vọng của nam nữ yêu nhau nên mang đậm chất trữ tình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dao Cà Răng Là Gì? Cách Hoạt Động – Shaving Tools
  • Những Điều Thú Vị Về Loài Cá Piranha
  • Tìm Hiểu Về Cá Ăn Thịt Người Piranha (Cá Răng Đao )
  • Vài Lời Về Ca Dao
  • Những Vần Ca Dao Hiện Đại Về Bác Hồ
  • Ca Dao, Dân Ca Là Gì ? Nêu Các Thể Thơ Ta Thường Bắt Gặp Trong Ca Dao, Dân Ca Và Cho Thí Dụ Minh Họa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Câu Ca Dao
  • Ca Dao Là Tiếng Nói Tình Cảm Của Con Người
  • Cây Cầu ” Dải Yếm ” Bắc Qua Dòng Sông ” Một Gang ” Trong Ca Dao
  • Về Cây Hoa Sen Trong Bài Ca Dao “tát Nước Đầu Đình”
  • Ca Dao Là Gì? Những Câu Ca Dao Bằng Tiếng Anh
  • Ca dao, dân ca là gì ? Nêu các thể thơ ta thường bắt gặp trong ca dao, dân ca và cho thí dụ minh họa

    1. Ca dao, dân ca là gì ?

    1.1 Ca dao là những bài thơ dân gian do nhân dân lao động sáng tạo nên, phần lớn bẳng thơ lục bát, giàu vần điệu, hình ảnh, ngắn gọn xinh xắn, nhằm phản ánh đời sống vật chất và biểu hiện tâm tư, tình cảm của họ trong dòng chảy thời gian và lịch sử. Trước đây ca dao được truyền miệng, ngày nay ca dao đã được sưu tầm, nghiên cứu trong nhiều công trình có giá trị.

    1.2 Dân ca là những bài hát dân gian có làn điệu in đậm sắc thái từng miền quê. Nó thể hiện niềm vui, nỗi buồn, những ước mơ và hi vọng… của nhân dân, của người lao động trong cuộc đời.

    Hầu như mỗi miền quê đều có làn điệu dân ca riêng của mình. Nhưng hay nhít, phổ biến sâu rộng nhất là dân ca Quan Họ Bắc Ninh, Hò Sông Mã, Hát giặm Nghệ Tĩnh, Hò giã gạo, các điệu Lí ở Trị Thiên, Lí con sáo, Lí ngựa ô… Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

    Có một số không nhỏ các bài dân ca bắt nguồn từ ca dao, có thêm những tiếng đệm. Ví dụ:

    Ca dao: “Người về em vẫn trông theo,

    Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi”…

    Dân ca Quan Họ Bắc Ninh:

    “Người về em vẫn (i i i i i có mấy) trông tlieo,

    Trông (ư ư) nước (tình chung là như) nước chày,

    (Mà này cũng có a trông bèo)

    Trông bèo (là) bèo trôi…”

    2 Các thể thơ trong ca dao:

    Ca dao là nguồn gốc xa của nền thơ ca dân tộc. Thể thơ trong ca dao rất phong phú: thơ 4 chữ, thơ 5 chữ, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, có bài phối hợp nhiều thể thơ. Ví …

    … dụ:

    2.1 Thơ 4 chữ phối hợp với thơ lục bát:

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn rơi xuống đất.

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn vắt lên vai;

    Khăn thương nhớ ai,

    Khăn chùi nước mắt.

    Đèn thương nhớ ai,

    Mà đèn không tắt ?

    Mắt thương nhớ ai,

    Mắt ngủ không yên.

    Đêm qua em những lo phiền,

    Lo vì một nỗi không yên mọi bề…

    2.2 Có bài ca dao phối hợp nhiều thể thơ:

    Chiếc buồm nho nhỏ,

    Ngọn gió hiu hiu…

    Nay nước thủy triều,

    Mai lại nước rươi…

    Sông sâu, sóng cả, em ơi !

    Chờ cho sông lặng,

    Buồm xuôi, ta xuôi cùng.

    Trót đã mang vào kiếp bềnh bồng,

    Xuống ghềnh, lên thác,

    Một lòng ta thương nhau.

    2.3 Thơ lục bát:

    Vầng trăng ai xẻ làm …

    … đôi,

    Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi cliàng ?

    Đưa nhau một bước lên đàng,

    Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa.

    2.4 Thơ song thất lục bát:

    Hỡi cô gánh nước quang mây,

    Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng.

    Cây ngô đồng cành cao cành thấp,

    Ngọn ngô đồng lá dọc lá ngang.

    Quả dưa gang ngoài xanh trong trắng,

    Quả mướp đắng ngoài trắng trong vàng.

    Từ ngày anh gặp mặt nàng,

    Lòng càng ngao ngán, dạ càng ngẩn ngơ.

    2.5 Lục bát biến thể:

    Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,

    Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông

    Thân em như chẽn lúa đòng dòng,

    Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 29
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Sbt Ngữ Văn 10 Tập 1
  • Tục Ngữ Là Gì? I. Giới Thiệu Chung Về Tục Ngữ 1. Khái Niệm
  • Phân Biệt Tục Ngữ, Thành Ngữ Và Ca Dao
  • Tổng Hợp Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Theo Chủ Đề
  • Ca Dao Là Gì? I. Giới Thiệu Chung Về Ca Dao 1.thuật Ngữ Và Khái Niệm…

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Hài Hước, Châm Biếm
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Than Thân
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Chính Sách Công (Public Policy) Là Gì? Đặc Trưng
  • Khái Niệm Chính Sách Tiền Tệ
  • Trong sinh hoạt văn học dân gian, có một bộ phận quan trọng là sinh hoạt ca hát, trong đó tiêu biểu nhất là việc diễn xướng ca dao, dân ca. Ðể chỉ lĩnh vực ca hát dân gian, nhân dân sử dụng các từ: ca, hò, ví, lý, hát giao duyên, hát đối, hát huê tình …

    Giới nghiên cứu, các nhà nho sưu tầm, biên soạn gọi những câu hát dân gian là: phong sử, phong dao, ca dao, dân ca, thơ ca dân gian, thơ ca truyền miệng dân gian, thơ ca trữ tình dân gian…

    Ca dao là thuật ngữ Hán Việt. Theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.

    Sách Trung Quốc ca dao: ca là bài hát có hòa với nhạc, dao là lời của bài hát đó.

    Theo Lịch sử văn học Việt Nam của Bùi Văn Nguyên: ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát), để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm. Dân ca là những bài hát có hoặc không có chương khúc do nhân dân sáng tác lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến ở nhiều vùng có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về nhạc.

    Thông thường, sự phân biệt giữa ca dao và dân ca là ở chỗ, khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định.

    -Một đàn có trắng bay tung,

    Bên nam, bên nữ ta cùng cất lên.

    Cất lên một tiếng linh đình,

    Cho loan sánh phượng, cho mình sánh ta…

    (Hát trống quân).

    -Trên trời có đám may xanh,

    Chính giữa mây trắng chung quanh mây vàng.

    Ơi là tình phụ tình phàng.

    Chừ là duyên lắm bấy,

    Chừ cái dạ em trông chồng, mà không thấy chồng đâu.

    Ơi ông chồng, chồng mình ơi !

    Chi mà tệ, tệ lắm chàng !

    Chi mà bạc, bạc lắm chàng ! …

    (Lý vọng phu)

    Trong ca dao, đại đa số là tác phẩm trữ tình. Ca dao là loại trữ tình của văn học dân gian. Khái niệm trữ tình dân gian được hiểu trong sự đối lập với khái niệm tự sự dân gian ở góc độ loại hình. Ðối tượng của nó là những sáng tác phản ánh hiện thực đời sống không phải thông qua cốt truyện, sự xung đột của hành động nhân vật màì thông qua sự thể hiện tâm trạng các nhân vật trữ tình.

    -Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta …

    -Bướm vàng đậu đọt mù u,

    Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.

    -Còn duyên kẻ đón người đưa,

    Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng.

    -Thân cò lặn lội bờ sông,

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non …

    2. Phân loại Ðồng dao

    Ðồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Chủ thể sáng tác diễn xướng chủ yếu là trẻ em thể hiện những cảm nghị, cảm xúc ngây thơ thường nảy ra một cách ngẫu nhiên ở trẻ em. Trẻ em thường vừa chơi trò chơi, vừa ca hát. Ðồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

    -… Nghé ơ … Mẹ gọi tiếng trước,

    Cất cổ lên đàng …

    Nghé o …Mẹ gọi tiếng sau,

    Cất lồng lên chạy …

    Có khôn thì đi theo mẹ,

    Có khéo thì đi theo đàn,

    Chớ đi theo quẩn theo quàng,

    Có ngày mất mẹ … nghé ơ …

    -Nu na nu nống,

    Cái cống nằm trong,

    Cái ong nằm ngoài,

    Củ khoai chấm mật.

    … Con cóc nhảy ra,

    Con gà ú ụ,

    Nhà mụ thổi xôi,

    Nhà tôi nấu chè,

    Tay xoè, chân rụt !

    -Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,

    Ðể trâu ăn lúa gọi cha ới ời,

    Cha còn cắt cỏ trên trời,

    Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên.

    Ông thì cầm bút, cầm nghiên,

    Ông thì cầm tiền đi chuộc lá đa …

    Ca dao lao động

    Ca dao lao động là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động. Ðặc điểm cơ bản là có sự gắn bó giữa nhịp điệu lao động và xúc cảm của con người trong lao động.

    -Hò lao động nảy sinh trên cơ sở những công việc có sự lắp đi lắp lại động tác lao động, có tính chất tổ chức nhịp điệu lao động.

    Hò giật chỉ (hò kéo lưới) Nam Trung Bộ:

    -Ra đi sóng biển mịt mù,

    Trời cho lưới nặng dô hò kéo lên.

    Phần lời này sẽ do một người lĩnh xướng (cái hát), những người khác xô theo (con hát). Trong quá trình diễn xướng của nó, sẽ có sự diễn biến nhanh chậm tùy theo tính chất công việc. Khi lưới còn ngoài khơi, động tác kéo lưới chậm, tiết tấu nhịp điệu câu hát cũng chậm. Khi lưới gần bờ, tốc độ kéo lưới nhanh, nhịp điệu hát, tiết tấu cũng nhanh mạnh hơn.

    Ở Hò giã gạo Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và một số địa phương Nam Trung Bộ: câu xô gồm 6 tiếng àơ à à ơ à, thể hiện động tác muốn nhấc cao cái chày lên trước khi đặt nó về chỗ cũ … (Nguyễn Xuân Khoát). Tên các giai đoạn hò cũng tương ứng các giai đoạn của một cuộc giao duyên nam nữ hơn là tính chất công việc lao động: hò mời, hò ân tình, hò xa cách.

    Như vậy, ở nhiều bài hò lao động, yếu tố trữ tình luôn đan xen thể hiện chức năng giao lưu tình cảm, có khi lấn áp chức năng phối hợp động tác lao động ban đầu của tiểu loại.

    – Bài ca nghề nghiệp nói về nghề nghiệp truyền thống như bài ca về lịch lao động của nghề làm ruộng, nghề chài lưới ….

    -Tháng chạp là tiết trồng khoai,

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.

    Tháng ba thì đậu đã già,

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô.

    Tháng tư đi tậu trâu bò,

    Ðể ta sắm sửa làm mùa tháng năm …

    Ca dao ru con

    Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến. Trên mỗi miền có một điệu hát ru riêng biệt phù hợp với giọng nói, ngôn ngữ địa phương. Lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn. Ca dao ru con rất gần gũi, thể hiện rất rõ chức năng thực hành xã hội của ca dao.

    -Ru em em théc cho mùi,

    Ðể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.

    Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,

    Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.

    -Con cối đá nằm trong cối đá,

    Con chim đa đa đậu nhánh đa đa,

    Chồng gần bậu không lấy, bậu lấy chồng xa.

    Mai sau cha yếu mẹ già.

    Chén cơm, đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng ?

    – Ca dao nghi lễ, phong tục

    -Lạy trời mưa xuống.

    Lấy nước tôi uống.

    Lấy ruộng tôi cày …

    Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

    -Ở gần hay là ở xa,

    Cách phủ cách huyện hay là cách sông ?

    Xa xôi cách mấy quảng đồng,

    Ðể anh bỏ việc bỏ công đi tìm …

    Ca dao trào phúng, bông đùa Ca dao trữ tình. II. NỘI DUNG CA DAO 1. Ca dao phản ánh lịch sử

    Ca dao là những bài ca về lịch sử. Nhưng trước tiên, việc xác định nội dung lịch sử của những câu ca dao cũng là vấn đề cần xem xét.

    Tác giả Nguyễn Văn Mại trong Việt Nam phong sử đã trình bày quan điểm của mình trong bài Tựa: Phong là cái gì ? Là thơ ở trong ca dao dân tục vậy. Sử là cái gì ? Là cái gương sáng để khen chê khuyến trừng việc thị phi thiện ác vậy. Tại sao phong mà lại gọi là sử ? Vì nhân đọc dân phong mà biết quốc sử vậy. Với phương pháp biên soạn: đem ý riêng nghị luận bổ thêm vào … lấy phong dao làm gương sáng để chiếu tinh thần quốc sử, lại lấy quốc sử làm căn bản để cắm cái hoa lá phong dao …, tác giả đã có sự gắn kết các câu ca dao vào từng thời kỳ, sự kiện, nhân vật lịch sử. Chẳng hạn:

    -Tưởng là chị ngã em nâng,

    Chẳng hay chị ngã em mừng em lo.

    được tác giả coi là nói về việc Trịnh Tùng tranh cướp lấn quyền của anh là Trịnh Cối sinh ra hiềm khích đánh nhau.

    Theo cách thức như vậy, có thể ghép nhiều nội dung lịch sử khác nhau cho cùng một câu ca dao:

    -Nước lã mà vã nên hồ,

    Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

    được cho là nói về việc sau hai bà Trưng lại có Lý Nam Ðế xưng hùng, chống nhau với nhà Lương, người khác lại cho là nói về việc Lê Hoàn được sự nâng đỡ của Dương Vân Nga mà lấy được ngai vàng nhà Ðinh …

    Ca dao lịch sử nói đến lịch sử bằng một thứ ngôn ngữ trực tiếp. Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.

    Nhân dân nói về sự kiện Bà Triệu khởi nghĩa chống lại ách thống trị của quân Ngô xâm lược hồi thế kỷ III:

    -Ru con con ngủ cho lành,

    Ðể mẹ gánh nước rửa bành cho voi.

    Muốn con lên núi mà coi,

    Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.

    Túi gấm cho lẫn túi hồng,

    Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân.

    Về cuộc kháng chiến vĩ đại mười năm chống quân Minh hồi thế kỷ XV gắn với tên tuổi người anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân ghi nhớ trong lời ca dao:

    -Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn,

    Nhớ đây Lê Lợi chặn đường quân Minh.

    Có những câu ca dao nói đến những sự kiện phản ánh tình hình suy thoái của chính quyền phong kiến.

    -Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng,

    Bao giờ gánh đá ông Ðăng cho rồi.

    nói về sự khốn khổ của nhân dân Thanh Hóa thời Hậu Lê (1600) phải đi phu gánh đá xây sinh từ cho Ðăng quận công Nguyễn Khải.

    -Vạn Niên là Vạn Niên nào,

    Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

    Câu ca dao là lời ta thán của nhân dân khi phải chịu cảnh phu phen tạp dịch nặng nề để xây lăng Vạn Niên cho vua Tự Ðức.

    Bằng lời lẽ táo bạo nhân dân đánh vào sự thối nát, rối ren của chính quyền thống trị của họ Trịnh cuối thế kỷ XVIII:

    -Trăm quan có mắt như mờ,

    Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung.

    -Ðục cùn thì giữ lấy Tông,

    Ðục long, Cán gãy, còn mong nỗi gì !

    2. Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống

    Những phong tục, tập quán truyền thống trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân được thể hiện rất phong phú trong ca dao.

    Ðây là những tập quán trong lao động nông nghiệp, ngư nghiệp:

    -Người ta đi cấy lấy công,

    Còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề,

    Trông trời, trông đất, trông mây,

    Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.

    Trông cho chân cứng, đá mềm,

    Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.

    -Cày đồng đang buổi ban trưa,

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày …

    -Chồng chài, vợ lưới, con câu,

    Mênh mông bể Sở biết đâu là nhà.

    Những cảnh sinh hoạt truyền thống:

    -Hôm qua anh đến chơi nhà,

    Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường.

    Thấy em nằm đất anh thương…

    -Aïo đen năm nút viền bâu,

    Ai may cho bậu hay là bậu may.

    -Mua cau chọn những buồng sai,

    Mua trầu chọn những trăm hai lá vàng.

    Tai nghe trống chiến trống chầu,

    Xếp ba miếng kẹo lộn đầu, lộn đuôi.

    3. Phản ánh đời sống tình cảm nhân dân

    Ca dao trước hết là tiếng hát về tình yêu của con người, đây là một tình cảm phong phú và rộng lớn.

    Những thắng cảnh thiên nhiên mọi miền đất nước, những công trình văn hóa từ bao đời … được khắc họa như một bức tranh rộng lớn trong ca dao, thể hiện sự nhận thức về cương vực tổ quốc, lòng yêu mến, tự hào về đất nước, con người.

    -Nhất cao là núi Ba Vì,

    Thứ ba Tam Ðảo, thứ nhì Ðộc Tôn.

    -Nhất cao là núi Tản Viên,

    Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường.

    -Làm trai cho đáng nên trai,

    Phú Xuân đã trải, Ðồng nai đã từng.

    -Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh,

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

    Yêu em anh cũng muốn vô,

    Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang.

    Phá Tam Giang ngày rày đã cạn,

    Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.

    -Rủ nhau chơi khắp Long Thành,

    Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.

    Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,

    Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay.

    Mã Vĩ, hàng Ðiếu, hàng giày,

    Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Ðàn.

    Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,

    Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Ðồng.

    Hàng Muối, hàng Nón, cầu Ðông,

    Hàng Hòm, hàng Ðậu, hàng Bông, hàng Bè.

    Hàng Thúng, hàng Bát, hàng Tre,

    Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà.

    Quanh đi đến phố hàng Da,

    Trải xem phưòng phố thật là cũng xinh.

    Phồn hoa thứ nhất Long Thành,

    Phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ.

    Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,

    Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.

    Sự giàu có của những sản vật tự nhiên, và những sản phẩm do bàn tay sáng tạo của con người đã làm nên nét đẹp quê hương có mặt rất nhiều trong ca dao:

    -Muốn ăn mật rú vô Trèn,

    Muốn xơi ốc đực thì lên Thác Ðài.

    -Lụa này thật lụa cố đô,

    Chính tông lụa cống các cô đang dùng.

    -Bến Tre giàu mía Mõ Cày,

    Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.

    Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ có nội dung phản ánh được mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó: giai đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi những lời thề nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung hoặc nỗi đau khổ với những lời than thở, oán trách …

    -Hôm qua tát nước đầu đình,

    Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

    Em được thì cho anh xin,

    Hay là em để làm tin trong nhà.

    Aïo anh sứt chỉ đường tà,

    Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu.

    Aïo anh sứt chỉ đã lâu,

    Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

    Khâu rồi anh sẽ trả công,

    Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho.

    Giúp em một thúng xôi vò,

    Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

    Giúp em đôi chiếu em nằm,

    Ðôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.

    Giúp em qua tám tiền cheo,

    Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

    -Quạt này anh để che đầu,

    Ðêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này.

    Ước gì chung mẹ, chung thầy,

    Ðể em giữ cái quạt này làm thân.

    Rồi ra chung gối chung chăn,

    Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu.

    Nằm thì chung cái giường Tàu,

    Dậy thì chung cả hộp trầu ống vôi.

    Ăn cơm chung cả một nồi,

    Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa.

    Chải đầu chung cái lược ngà,

    Soi gương chung cả ngành hoa giắt đầu…

    -Muốn khuây dạ nỏ chịu khuây,

    Sự đâu đem đổ dạ này mê man.

    -Buổi mai em xách cái thống,

    Em xuống dưới ao em bắt con cua,

    Em bỏ vô trong cái thống;

    Hắn kêu cái rỏng, hắn kêu cái rảnh,

    Hắn kêu một tiếng chàng ôi !

    Chàng đà yên phận tốt đôi,

    Em nay lẻ bạn mồ côi một mình.

    -Ngọn lang trắng, ngọn vắn, ngọn dài,

    Rau tần ô, ngã dọc, ngã ngang,

    Trái dưa gang sọc đen, sọc trắng,

    Ngọn rau đắng, trong trắng ngoài xanh.

    Chim quyên uốn lưỡi trên nhành,

    Bởi em ở bạc, ông trời nào đành để em.

    -Trèo lên cây bưởi hái hoa,

    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân …

    Một bộ phận bài ca này còn mang thêm ý nghĩa xã hội, những bài ca nói đến sự trắc trở trong tình yêu đôi lứa:

    -Hai ta là bạn thong dong,

    Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.

    Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,

    Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau.

    -Vắn tay với chẳng đặng kèo,

    Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em.

    Ca dao trữ tình thể hiện rất phong phú những biểu hiện của tình cảm gia đình: tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ và con cái, tinh cảm anh em … phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của nhân dân.

    Ðây là hình ảnh một gia đình truyền thống:

    -Sáng trăng trải chiếu hai hàng,

    Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.

    Tình nghĩa gắn bó, thủy chung, tiếng nói đạo nghĩa của nhân dân:

    -Muối ba năm muối đương còn mặn,

    Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay,

    Ðạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay,

    Dẫu có làm nên danh vọng, rủi có ăn mày ta cũng theo nhau.

    Những bài ca tuyệt hay về tình mẹ con:

    -Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

    Miệng nhai cơm bún, lưỡi lừa cá xương.

    -Mẹ già ở túp lều tranh,

    Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con.

    4. Phản ánh đời sống xã hội cũ

    Ca dao trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội khắc họa một bức tranh phong phú về hiện thực. Ca dao phản ánh những tâm trạng đau khổ, chua xót, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân chống ách thống trị phong kiến.

    -Gánh cực mà đổ lên non,

    Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo.

    -Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình …

    -Con cò mà đi ăn đêm,

    Ðụng phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.

    Ông ơi ông vớt tôi nao,

    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

    Có xáo thì xáo nước trong,

    Ðừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

    -Con vua thì lại làm vua,

    Con sãi ở chùa lại quét lá đa,

    Bao giờ dân nổi can qua,

    Con vua thất thế lại ra quét chùa.

    Ca dao phản ánh khá nổi bật đời sống, tâm trạng người phụ nữ trong xã hội cũ. Ðây cũng là những tâm trạng uất ức, đau khổ trước những bất công xã hội áp đặt đối với người phụ nữ.

    -Thân em như hạt mưa sa,

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.

    -Thân em như giếng giữa đàng,

    Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

    -Lênh đênh chiếc bách giữa dòng,

    Thương thân goá bụa phòng không lỡ thì.

    Gió đưa cây trúc ngã quỳ,

    Ba năm chực tiết còn gì là xuân !

    Người phụ nữ trong ca dao không cam chịu với địa vị thấp kém, phụ thuộc:

    -Chồng con là cái nợ nần,

    Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm.

    -Không chồng mà chửa mới ngoan,

    Có chồng mà chửa thế gian sự thường.

    Những bài ca về người lính và người vợ lính phản ánh sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân trước những cuộc chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên suốt bốn thế kỷ từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX.

    Ðây là bài ca về người lính thú với tâm trạng u uất, buồn khổ:

    -Ba năm trấn thủ lưu đồn,

    Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan.

    Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,

    Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai !

    Miệng ăn măng trúc, măng mai,

    Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng ?

    Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng.

    Bài ca về người vợ lính sáng lên hình ảnh người phụ nữ với đức hy sinh, tinh thần đấu tranh chống phong kiến.

    -Cái cò lặn lội bờ sông,

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.

    Nàng về nuôi cái cùng con,

    Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

    -… Chém cha cái giặc chết hoang,

    Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng.

    Gánh từ xứ Bắc, xứ Ðông,

    Ðã gánh theo chồng lại gánh theo con.

    5. Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Ca dao trào phúng và ca dao trữ tình có mối quan hệ khăng khít nhau. Ca dao trào phúng thể hiện tính thích trào lộng của nhân dân. Phạm vi đề tài của ca dao trào phúng cũng rất rộng rãi. Các hiện tượng trái tự nhiên, không bình thường có thể trở thành đối tượng của nó.

    -Chồng còng mà lấy vợ còng,

    Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.

    -Lỗ mũi em mười tám gánh lông,

    Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho.

    Ðêm nằm thì ngáy o o,

    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.

    Ði chợ thì hay ăn quà,

    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm …

    Phần lớn ca dao trào phúng có nội dung xã hội. Bằng tiếng cười trào phúng, nhân dân phê phán, đả kích giai cấp thống trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng … thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

    Những bài thách cưới có tính chất trào phúng phê phán những tục lệ thách cưới, nộp cheo, là những hủ tục trong chế độ hôn nhân xưa:

    -Em về thưa với mẹ cha,

    Bắt lợn đi cưới bắt gà đi cheo.

    Ðầu lợn lớn hơn đầu mèo,

    Làng ăn không hết làng treo cột đình.

    Ông quan đánh trống thình thình,

    Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.

    -Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.

    -Chàng dẫn thế em lấy làm sang,

    Nỡ nào em lại phá ngang như là …,

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang;

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi,

    Ðể cho con trẻ ăn chơi giữ nhà…

    Nhân dân hướng mũi nhọn đả kích vào tầng lớp thống trị phong kiến tập trung vào một số đối tượng rất quen thuộc trong văn học dân gian: vua chúa, các loại quan văn, quan võ, các loại thầy cúng, thầy bói, sư giả hiệu …

    -Vua Lê ba mươi sáu tàn vàng,

    Thấy gái đi đàng ngó ngó nom nom.

    Cô nào óng ả son son,

    Vua đóng vào hòm đem trẩy về kinh.

    -Em là con gái đồng trinh,

    Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè.

    Ông Nghè sai lính ra ve,

    Trăm lạy ông nghè ông đã có con.

    Có con thì mặc có con,

    Thắt lưng cho giòn theo võng cho mau.

    -Cậu cai nón dấu lông gà,

    Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.

    -Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa …

    -Chập chập cheng cheng,

    Con gà trống thiến để riêng cho thầy.

    Ðơm xôi thì đơm cho đầy,

    Ðơm mà vơi đĩa thì thấy không ưa.

    -Hòn đất mà biết nói năng,

    Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.

    Từ sự phê phán những biểu hiện cụ thể, đây còn là quan điểm của nhân dân về vấn đề tôn giáo:

    -Ai lên Hương Tích Chùa Tiên,

    Gặp cô sư bác, anh khuyên đôi lời:

    Ðem thân làm cái kiếp người,

    Tu sao cho trọn nước đời mà tu ?

    III. NGHỆ THUẬT CA DAO 1. Thể thơ

    Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau.

    Thể lục bát gồm câu sáu, câu tám, thể thơ này rất phổ biến trong ca dao.

    Thể song thất lục bát gồm hai câu bảy, câu sáu, câu tám, được sử dụng không nhiều.

    Thể vãn thường gồm một câu có bốn hoặc năm chữ, rất đắc dụng trong đồng dao.

    Ngoài ra ca dao cũng sử dụng hợp thể là thể thơ gồm từ bốn, năm chữ thường kết hợp với lục bát biến thể.

    -Anh nói với em,

    Như dao chém xuống đá,

    Như nhựa chém xuống đất,

    Như mật rót vào tay.

    Bây chừ anh đã nghe ai,

    Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa ri.

    Các thể thơ phong phú diễn tả được nhiều tư tưởng tình cảm của nhân dân.

    2. Cấu tứ

    Các kiểu cấu tứ của ca dao khá phong phú.

    -Cái sáo mặc áo em tao,

    Làm tổ cây cà,

    Làm nhà cây chanh…

    Cấu tứ theo lối đối thoại khá phổ biến trong ca dao.

    -Bây giờ mận mới hỏi đào,

    Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?

    Mận hỏi thì đào xin thưa,

    Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

    Cấu tứ theo lối phô diễn về thiên nhiên là một kiểu cấu tứ quen thuộc trong ca dao.

    -Một đàn cò trắng bay tung,

    Bên nam bên nữ ta cùng hát lên.

    -Nước chảy liu riu, lục bình trôi líu ríu,

    Anh thấy em nhỏ xíu anh thương.

    3. Ngôn ngữ

    Cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ ca dao rất độc đáo. Có những lời ca ca dao giản dị, cụ thể. Có những lời ca dao điêu luyện, tinh tế.

    -Nước ròng bỏ bãi xa cừ,

    Gặp em hỏi thử sao từ ngỡi nhân ?

    -Sông Cầu nước chảy lơ thơ,

    Ðôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi.

    -…Em ơi chua ngọt đã từng,

    Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.

    4.Thời gian và không gian nghệ thuật

    Luận điểm của G. Mansep: Trong dân ca trữ tình chúng ta thấy rõ luận đề này; hãy nói cho tôi biết nhân vật trữ tình đang ở thời điểm nào, đang đứng ở đâu, tôi sẽ có thể nói điều gì đang diễn ra với nhân vật.

    Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, lúc diễn xướïng bài ca

    -Bây giờ ta gặp nhau đây,

    Như con cá cạn gặp ngày trời mưa.

    -Ngó lên nuột lạt mái nhà,

    bao nhiêu nuột lạt, thương bà bấy nhiêu.

    Không gian nghệ thuật trong ca dao là không gian có tính hiện thực, xác định.

    -Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp,

    Em qua không kịp tội lắm anh ơi,

    Bấy lâu ni mang tiếng chịu lời,

    Dẫu xa nhau chăng nữa cũng tại trời mà xa.

    5. Các biện pháp nghệ thuật truyền thống

    So sánh, ẩn dụ, nhân hóa, chơi chữ, ngoa dụ … là những biện pháp nghệ thuật rất tiêu biểu trong ca dao.

    -Thân em như hạt mưa rào,

    Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa.

    -Thuyền ơi có nhớ bến chăng,

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    -Bà già đi chợ cầu Ðông,

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi không.

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.

    -Ðêm nằm mà nghĩ gần xa,

    Trở mình nó gãy mười ba thanh giường.

    IV. VÀI NÉT VỀ BỘ PHẬN CA DAO THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN ĐẾ QUỐC 1. Hoàn cảnh xã hội lịch sử

    Thực dân Pháp trở lại xâm lược đất nước. Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác tiến hành cuộc kháng chiến gian khổ và anh dũng kết thúc bằng chiến thắng Ðiện Biên Phủ vĩ đại.

    Ðế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh thống nhất đất nước diễn ra liên tục 20 năm. Chiến thắng mùa xuân 1975 mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta.

    2. Nội dung

    Phản ánh hiện thực, văn học dân tộc thực sự trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng của nhân dân, văn học dân gian, ca dao đã trở thành vũ khí đấu tranh sắc bén chống thực dân và đế quốc xâm lược. Ca dao có bước phát triển mới, gửi gấm một cách trực tiếp, sâu sắc tư tưởng, tình cảm của nhân dân trên hiện thực mới: hiện thực đấu tranh cách mạng của nhân dân.

    Trên đại thể, có hai bộ phận: ca dao kháng chiến, ca dao chống Mỹ.

    Ca dao mang nội dung yêu nước chống xâm lược, phản ánh tình cảm lớn của dân tộc, công cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân.

    Ca dao kháng chiến, ca dao chống Mỹ là khối thống nhất tổng hợp tình cảm, tư tưởng nhân dân trong 30 năm chiến đấu chống xâm lược.

    Ca dao vạch rõ kẻ thù của dân tộc từ những năm đầu Pháp xâm lược:

    -Nhà vua thân với Lang sa,

    Ðể Tây ăn cắp trứng gà của dân.

    Truyền thống yêu nước vĩ đại được phát huy mạnh mẽ. Nhân dân ý thức sâu sắc nhiệm vụ đánh đuổi ngoại xâm, thực hiện kháng chiến trường kỳ. Thể hiện sức mạnh quật khởi của dân tộc không gì đè bẹp nổi.

    -Bao giờ hết cỏ nước Nam,

    Thì dân ta mới hết người đánh Tây.

    Khác với thời kỳ trước, ca dao sau cách mạng tháng Tám nói chung chứa đựng thêm tình cảm của nhân dân đối với lãnh tụ.

    -Cụ Hồ ở giữa lòng dân,

    Tuy xa xa lắm nhưng gần gần ghê.

    Nhân dân xem hình ảnh lãnh tụ là biểu tượng đẹp nhất, cao quý nhất của đất nước. Ca dao chống Mỹ có nhiều bài thể hiện tấm lòng miền Nam đối với Bác Hồ:

    -Tháp Mười đẹp nhất bông sen,

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

    Ca dao phản ánh tư tưởng lớn của dân tộc đó là tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược: thời kháng chiến quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp, thời chống Mỹ, quyết tâm đấu tranh thống nhất nước nhà.

    Ca dao thể hiện tinh thần phục vụ sự nghiệp chiến đấu cứu nước của nhân dân: không khí sôi nổi của phong trào thi đua yêu nước cho thấy cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc là cuộc chiến tranh nhân dân.

    -Hôm qua anh đến chơi nhà,

    Thấy mẹ dệt vải thấy cha đi bừa.

    Thấy cháu I tờ đang học bi bô.

    Thì ra vâng lệnh cụ Hồ,

    Cả nhà yêu nước thi đua phen này.

    Nổi bật trong ca dao hình ảnh người phụ nữ hậu phương đảm đang, người nữ du kích với tinh thần chiến đấu kiên cường.

    -Trên trời mây trắng như bông,

    Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây.

    Những cô má đỏ hây hây,

    Ðội bông như thể đội mây về làng.

    -Chị em du kích Thái Bình

    Ca lô đội lệch vừa xinh vừa dòn …

    Bộc lộ trong ca dao còn là mối tình quân dân thắm thiết:

    -Cụ Hồ dân kính dân yêu,

    Mà anh bộ đội dân chìu, dân thương.

    3. Ðặc điểm nghệ thuật

    Sự kế thừa nghệ thuật và phát triển nghệ thuật ca dao cổ truyền.

    Sự bền vững nhất của ca dao thể hiện ở yếu tố phong cách nghệ thuật. Ở đây vẫn là những xúc cảm dạt dào, sâu lắng của ca dao, nét mới là sự thể hiện tình yêu tổ quốc, yêu lãnh tụ, yêu Ðảng, tình quân dân …

    Nghệ thuật trào phúng vẫn đậm nét hướng đến đối tượng mới: kẻ thù xâm lược, những nhân tố lạc hậu trên bước phát triển của cuộc sống mới.

    Thể thơ truyền thống được sử dụng linh hoạt.

    Kết cấu lối đối đáp truyền thống được sử dụng với những nhân vật trữ tình mới.

    Sử dụng lại một số câu ca dao cũ có nội dung tương đồng để thể hiện sự so sánh, cảm nhận cuộc sống mới và cũ hoặc chắp vần nối tiếp nhằm diễn đạt nội dung mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Ca Dao Việt Nam Trường Thpt Vũng Tàu
  • Giáo Án Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Ngữ Văn 10
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 26
  • Bài 5 Trang 75 Sách Bt Sinh 11: Quang Chu Kì Là Gì? Giải Thích Vì Sao Thực Vật Ngày Dài Và Thực Vật Ngày
  • Sự Khác Biệt Giữa Cây Ngày Dài Và Cây Ngày Ngắn
  • Ca Dao Là Gì? I. Giới Thiệu Chung Về Ca Dao 1.thuật Ngữ Và Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Mẫu Lớp 7 Đề 2: Phân Tích Bài Ca Dao “thương Thay Thân Phận Con Tằm”
  • Bài Ôn Tập Lớp 7 Môn Ngữ Văn
  • Giáo Án Bài Ca Dao Hài Hước
  • Giáo Án Ca Dao Hài Hước Lớp 10 Đầy Đủ Nhất
  • Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 7 Chuyên Đề Ca Dao
  • Trong sinh hoạt văn học dân gian, có một bộ phận quan trọng là sinh hoạt ca hát, trong đó tiêu biểu nhất là việc diễn xướng ca dao, dân ca. Ðể chỉ lĩnh vực ca hát dân gian, nhân dân sử dụng các từ: ca, hò, ví, lý, hát giao duyên, hát đối, hát huê tình …

    Giới nghiên cứu, các nhà nho sưu tầm, biên soạn gọi những câu hát dân gian là: phong sử, phong dao, ca dao, dân ca, thơ ca dân gian, thơ ca truyền miệng dân gian, thơ ca trữ tình dân gian…

    Ca dao là thuật ngữ Hán Việt. Theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.

    Sách Trung Quốc ca dao: ca là bài hát có hòa với nhạc, dao là lời của bài hát đó.

    Theo Lịch sử văn học Việt Nam của Bùi Văn Nguyên: ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát), để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm. Dân ca là những bài hát có hoặc không có chương khúc do nhân dân sáng tác lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến ở nhiều vùng có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về nhạc.

    Thông thường, sự phân biệt giữa ca dao và dân ca là ở chỗ, khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định.

    -Một đàn có trắng bay tung,

    Bên nam, bên nữ ta cùng cất lên.

    Cất lên một tiếng linh đình,

    Cho loan sánh phượng, cho mình sánh ta…

    (Hát trống quân).

    -Trên trời có đám may xanh,

    Chính giữa mây trắng chung quanh mây vàng.

    Ơi là tình phụ tình phàng.

    Chừ là duyên lắm bấy,

    Chừ cái dạ em trông chồng, mà không thấy chồng đâu.

    Ơi ông chồng, chồng mình ơi !

    Chi mà tệ, tệ lắm chàng !

    Chi mà bạc, bạc lắm chàng ! …

    (Lý vọng phu)

    Trong ca dao, đại đa số là tác phẩm trữ tình. Ca dao là loại trữ tình của văn học dân gian. Khái niệm trữ tình dân gian được hiểu trong sự đối lập với khái niệm tự sự dân gian ở góc độ loại hình. Ðối tượng của nó là những sáng tác phản ánh hiện thực đời sống không phải thông qua cốt truyện, sự xung đột của hành động nhân vật màì thông qua sự thể hiện tâm trạng các nhân vật trữ tình.

    -Trâu ơi ta bảo trâu này,

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta …

    -Bướm vàng đậu đọt mù u,

    Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn.

    -Còn duyên kẻ đón người đưa,

    Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng.

    -Thân cò lặn lội bờ sông,

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non …

    2. Phân loại Ðồng dao

    Ðồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Chủ thể sáng tác diễn xướng chủ yếu là trẻ em thể hiện những cảm nghị, cảm xúc ngây thơ thường nảy ra một cách ngẫu nhiên ở trẻ em. Trẻ em thường vừa chơi trò chơi, vừa ca hát. Ðồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.

    -… Nghé ơ … Mẹ gọi tiếng trước,

    Cất cổ lên đàng …

    Nghé o …Mẹ gọi tiếng sau,

    Cất lồng lên chạy …

    Có khôn thì đi theo mẹ,

    Có khéo thì đi theo đàn,

    Chớ đi theo quẩn theo quàng,

    Có ngày mất mẹ … nghé ơ …

    -Nu na nu nống,

    Cái cống nằm trong,

    Cái ong nằm ngoài,

    Củ khoai chấm mật.

    … Con cóc nhảy ra,

    Con gà ú ụ,

    Nhà mụ thổi xôi,

    Nhà tôi nấu chè,

    Tay xoè, chân rụt !

    -Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,

    Ðể trâu ăn lúa gọi cha ới ời,

    Cha còn cắt cỏ trên trời,

    Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên.

    Ông thì cầm bút, cầm nghiên,

    Ông thì cầm tiền đi chuộc lá đa …

    Ca dao lao động

    Ca dao lao động là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động. Ðặc điểm cơ bản là có sự gắn bó giữa nhịp điệu lao động và xúc cảm của con người trong lao động.

    -Hò lao động nảy sinh trên cơ sở những công việc có sự lắp đi lắp lại động tác lao động, có tính chất tổ chức nhịp điệu lao động.

    Hò giật chỉ (hò kéo lưới) Nam Trung Bộ:

    -Ra đi sóng biển mịt mù,

    Trời cho lưới nặng dô hò kéo lên.

    Phần lời này sẽ do một người lĩnh xướng (cái hát), những người khác xô theo (con hát). Trong quá trình diễn xướng của nó, sẽ có sự diễn biến nhanh chậm tùy theo tính chất công việc. Khi lưới còn ngoài khơi, động tác kéo lưới chậm, tiết tấu nhịp điệu câu hát cũng chậm. Khi lưới gần bờ, tốc độ kéo lưới nhanh, nhịp điệu hát, tiết tấu cũng nhanh mạnh hơn.

    Ở Hò giã gạo Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và một số địa phương Nam Trung Bộ: câu xô gồm 6 tiếng àơ à à ơ à, thể hiện động tác muốn nhấc cao cái chày lên trước khi đặt nó về chỗ cũ … (Nguyễn Xuân Khoát). Tên các giai đoạn hò cũng tương ứng các giai đoạn của một cuộc giao duyên nam nữ hơn là tính chất công việc lao động: hò mời, hò ân tình, hò xa cách.

    Như vậy, ở nhiều bài hò lao động, yếu tố trữ tình luôn đan xen thể hiện chức năng giao lưu tình cảm, có khi lấn áp chức năng phối hợp động tác lao động ban đầu của tiểu loại.

    – Bài ca nghề nghiệp nói về nghề nghiệp truyền thống như bài ca về lịch lao động của nghề làm ruộng, nghề chài lưới ….

    -Tháng chạp là tiết trồng khoai,

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.

    Tháng ba thì đậu đã già,

    Ta đi ta hái về nhà phơi khô.

    Tháng tư đi tậu trâu bò,

    Ðể ta sắm sửa làm mùa tháng năm …

    Ca dao ru con

    Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến. Trên mỗi miền có một điệu hát ru riêng biệt phù hợp với giọng nói, ngôn ngữ địa phương. Lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn. Ca dao ru con rất gần gũi, thể hiện rất rõ chức năng thực hành xã hội của ca dao.

    -Ru em em théc cho mùi,

    Ðể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.

    Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,

    Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.

    -Con cối đá nằm trong cối đá,

    Con chim đa đa đậu nhánh đa đa,

    Chồng gần bậu không lấy, bậu lấy chồng xa.

    Mai sau cha yếu mẹ già.

    Chén cơm, đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng ?

    – Ca dao nghi lễ, phong tục

    -Lạy trời mưa xuống.

    Lấy nước tôi uống.

    Lấy ruộng tôi cày …

    Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.

    -Ở gần hay là ở xa,

    Cách phủ cách huyện hay là cách sông ?

    Xa xôi cách mấy quảng đồng,

    Ðể anh bỏ việc bỏ công đi tìm …

    Ca dao trào phúng, bông đùa Ca dao trữ tình. II. NỘI DUNG CA DAO 1. Ca dao phản ánh lịch sử

    Ca dao là những bài ca về lịch sử. Nhưng trước tiên, việc xác định nội dung lịch sử của những câu ca dao cũng là vấn đề cần xem xét.

    Tác giả Nguyễn Văn Mại trong Việt Nam phong sử đã trình bày quan điểm của mình trong bài Tựa: Phong là cái gì ? Là thơ ở trong ca dao dân tục vậy. Sử là cái gì ? Là cái gương sáng để khen chê khuyến trừng việc thị phi thiện ác vậy. Tại sao phong mà lại gọi là sử ? Vì nhân đọc dân phong mà biết quốc sử vậy. Với phương pháp biên soạn: đem ý riêng nghị luận bổ thêm vào … lấy phong dao làm gương sáng để chiếu tinh thần quốc sử, lại lấy quốc sử làm căn bản để cắm cái hoa lá phong dao …, tác giả đã có sự gắn kết các câu ca dao vào từng thời kỳ, sự kiện, nhân vật lịch sử. Chẳng hạn:

    -Tưởng là chị ngã em nâng,

    Chẳng hay chị ngã em mừng em lo.

    được tác giả coi là nói về việc Trịnh Tùng tranh cướp lấn quyền của anh là Trịnh Cối sinh ra hiềm khích đánh nhau.

    Theo cách thức như vậy, có thể ghép nhiều nội dung lịch sử khác nhau cho cùng một câu ca dao:

    -Nước lã mà vã nên hồ,

    Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

    được cho là nói về việc sau hai bà Trưng lại có Lý Nam Ðế xưng hùng, chống nhau với nhà Lương, người khác lại cho là nói về việc Lê Hoàn được sự nâng đỡ của Dương Vân Nga mà lấy được ngai vàng nhà Ðinh …

    Ca dao lịch sử nói đến lịch sử bằng một thứ ngôn ngữ trực tiếp. Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.

    Nhân dân nói về sự kiện Bà Triệu khởi nghĩa chống lại ách thống trị của quân Ngô xâm lược hồi thế kỷ III:

    -Ru con con ngủ cho lành,

    Ðể mẹ gánh nước rửa bành cho voi.

    Muốn con lên núi mà coi,

    Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.

    Túi gấm cho lẫn túi hồng,

    Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân.

    Về cuộc kháng chiến vĩ đại mười năm chống quân Minh hồi thế kỷ XV gắn với tên tuổi người anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân ghi nhớ trong lời ca dao:

    -Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn,

    Nhớ đây Lê Lợi chặn đường quân Minh.

    Có những câu ca dao nói đến những sự kiện phản ánh tình hình suy thoái của chính quyền phong kiến.

    -Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng,

    Bao giờ gánh đá ông Ðăng cho rồi.

    nói về sự khốn khổ của nhân dân Thanh Hóa thời Hậu Lê (1600) phải đi phu gánh đá xây sinh từ cho Ðăng quận công Nguyễn Khải.

    -Vạn Niên là Vạn Niên nào,

    Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

    Câu ca dao là lời ta thán của nhân dân khi phải chịu cảnh phu phen tạp dịch nặng nề để xây lăng Vạn Niên cho vua Tự Ðức.

    Bằng lời lẽ táo bạo nhân dân đánh vào sự thối nát, rối ren của chính quyền thống trị của họ Trịnh cuối thế kỷ XVIII:

    -Trăm quan có mắt như mờ,

    Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung.

    -Ðục cùn thì giữ lấy Tông,

    Ðục long, Cán gãy, còn mong nỗi gì !

    2. Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống

    Những phong tục, tập quán truyền thống trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân được thể hiện rất phong phú trong ca dao.

    Ðây là những tập quán trong lao động nông nghiệp, ngư nghiệp:

    -Người ta đi cấy lấy công,

    Còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề,

    Trông trời, trông đất, trông mây,

    Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.

    Trông cho chân cứng, đá mềm,

    Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.

    -Cày đồng đang buổi ban trưa,

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày …

    -Chồng chài, vợ lưới, con câu,

    Mênh mông bể Sở biết đâu là nhà.

    Những cảnh sinh hoạt truyền thống:

    -Hôm qua anh đến chơi nhà,

    Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường.

    Thấy em nằm đất anh thương…

    -Aïo đen năm nút viền bâu,

    Ai may cho bậu hay là bậu may.

    -Mua cau chọn những buồng sai,

    Mua trầu chọn những trăm hai lá vàng.

    Tai nghe trống chiến trống chầu,

    Xếp ba miếng kẹo lộn đầu, lộn đuôi.

    3. Phản ánh đời sống tình cảm nhân dân

    Ca dao trước hết là tiếng hát về tình yêu của con người, đây là một tình cảm phong phú và rộng lớn.

    Những thắng cảnh thiên nhiên mọi miền đất nước, những công trình văn hóa từ bao đời … được khắc họa như một bức tranh rộng lớn trong ca dao, thể hiện sự nhận thức về cương vực tổ quốc, lòng yêu mến, tự hào về đất nước, con người.

    -Nhất cao là núi Ba Vì,

    Thứ ba Tam Ðảo, thứ nhì Ðộc Tôn.

    -Nhất cao là núi Tản Viên,

    Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường.

    -Làm trai cho đáng nên trai,

    Phú Xuân đã trải, Ðồng nai đã từng.

    -Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh,

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

    Yêu em anh cũng muốn vô,

    Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang.

    Phá Tam Giang ngày rày đã cạn,

    Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.

    -Rủ nhau chơi khắp Long Thành,

    Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.

    Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,

    Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay.

    Mã Vĩ, hàng Ðiếu, hàng giày,

    Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Ðàn.

    Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,

    Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Ðồng.

    Hàng Muối, hàng Nón, cầu Ðông,

    Hàng Hòm, hàng Ðậu, hàng Bông, hàng Bè.

    Hàng Thúng, hàng Bát, hàng Tre,

    Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà.

    Quanh đi đến phố hàng Da,

    Trải xem phưòng phố thật là cũng xinh.

    Phồn hoa thứ nhất Long Thành,

    Phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ.

    Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,

    Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.

    Sự giàu có của những sản vật tự nhiên, và những sản phẩm do bàn tay sáng tạo của con người đã làm nên nét đẹp quê hương có mặt rất nhiều trong ca dao:

    -Muốn ăn mật rú vô Trèn,

    Muốn xơi ốc đực thì lên Thác Ðài.

    -Lụa này thật lụa cố đô,

    Chính tông lụa cống các cô đang dùng.

    -Bến Tre giàu mía Mõ Cày,

    Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.

    Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ có nội dung phản ánh được mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó: giai đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi những lời thề nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung hoặc nỗi đau khổ với những lời than thở, oán trách …

    -Hôm qua tát nước đầu đình,

    Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

    Em được thì cho anh xin,

    Hay là em để làm tin trong nhà.

    Aïo anh sứt chỉ đường tà,

    Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu.

    Aïo anh sứt chỉ đã lâu,

    Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

    Khâu rồi anh sẽ trả công,

    Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho.

    Giúp em một thúng xôi vò,

    Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

    Giúp em đôi chiếu em nằm,

    Ðôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.

    Giúp em qua tám tiền cheo,

    Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

    -Quạt này anh để che đầu,

    Ðêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này.

    Ước gì chung mẹ, chung thầy,

    Ðể em giữ cái quạt này làm thân.

    Rồi ra chung gối chung chăn,

    Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu.

    Nằm thì chung cái giường Tàu,

    Dậy thì chung cả hộp trầu ống vôi.

    Ăn cơm chung cả một nồi,

    Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa.

    Chải đầu chung cái lược ngà,

    Soi gương chung cả ngành hoa giắt đầu…

    -Muốn khuây dạ nỏ chịu khuây,

    Sự đâu đem đổ dạ này mê man.

    -Buổi mai em xách cái thống,

    Em xuống dưới ao em bắt con cua,

    Em bỏ vô trong cái thống;

    Hắn kêu cái rỏng, hắn kêu cái rảnh,

    Hắn kêu một tiếng chàng ôi !

    Chàng đà yên phận tốt đôi,

    Em nay lẻ bạn mồ côi một mình.

    -Ngọn lang trắng, ngọn vắn, ngọn dài,

    Rau tần ô, ngã dọc, ngã ngang,

    Trái dưa gang sọc đen, sọc trắng,

    Ngọn rau đắng, trong trắng ngoài xanh.

    Chim quyên uốn lưỡi trên nhành,

    Bởi em ở bạc, ông trời nào đành để em.

    -Trèo lên cây bưởi hái hoa,

    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân …

    Một bộ phận bài ca này còn mang thêm ý nghĩa xã hội, những bài ca nói đến sự trắc trở trong tình yêu đôi lứa:

    -Hai ta là bạn thong dong,

    Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.

    Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,

    Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau.

    -Vắn tay với chẳng đặng kèo,

    Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em.

    Ca dao trữ tình thể hiện rất phong phú những biểu hiện của tình cảm gia đình: tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ và con cái, tinh cảm anh em … phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của nhân dân.

    Ðây là hình ảnh một gia đình truyền thống:

    -Sáng trăng trải chiếu hai hàng,

    Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.

    Tình nghĩa gắn bó, thủy chung, tiếng nói đạo nghĩa của nhân dân:

    -Muối ba năm muối đương còn mặn,

    Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay,

    Ðạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay,

    Dẫu có làm nên danh vọng, rủi có ăn mày ta cũng theo nhau.

    Những bài ca tuyệt hay về tình mẹ con:

    -Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

    Miệng nhai cơm bún, lưỡi lừa cá xương.

    -Mẹ già ở túp lều tranh,

    Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con.

    4. Phản ánh đời sống xã hội cũ

    Ca dao trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội khắc họa một bức tranh phong phú về hiện thực. Ca dao phản ánh những tâm trạng đau khổ, chua xót, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân chống ách thống trị phong kiến.

    -Gánh cực mà đổ lên non,

    Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo.

    -Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình …

    -Con cò mà đi ăn đêm,

    Ðụng phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.

    Ông ơi ông vớt tôi nao,

    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

    Có xáo thì xáo nước trong,

    Ðừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

    -Con vua thì lại làm vua,

    Con sãi ở chùa lại quét lá đa,

    Bao giờ dân nổi can qua,

    Con vua thất thế lại ra quét chùa.

    Ca dao phản ánh khá nổi bật đời sống, tâm trạng người phụ nữ trong xã hội cũ. Ðây cũng là những tâm trạng uất ức, đau khổ trước những bất công xã hội áp đặt đối với người phụ nữ.

    -Thân em như hạt mưa sa,

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.

    -Thân em như giếng giữa đàng,

    Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

    -Lênh đênh chiếc bách giữa dòng,

    Thương thân goá bụa phòng không lỡ thì.

    Gió đưa cây trúc ngã quỳ,

    Ba năm chực tiết còn gì là xuân !

    Người phụ nữ trong ca dao không cam chịu với địa vị thấp kém, phụ thuộc:

    -Chồng con là cái nợ nần,

    Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm.

    -Không chồng mà chửa mới ngoan,

    Có chồng mà chửa thế gian sự thường.

    Những bài ca về người lính và người vợ lính phản ánh sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân trước những cuộc chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên suốt bốn thế kỷ từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX.

    Ðây là bài ca về người lính thú với tâm trạng u uất, buồn khổ:

    -Ba năm trấn thủ lưu đồn,

    Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan.

    Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,

    Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai !

    Miệng ăn măng trúc, măng mai,

    Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng ?

    Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng.

    Bài ca về người vợ lính sáng lên hình ảnh người phụ nữ với đức hy sinh, tinh thần đấu tranh chống phong kiến.

    -Cái cò lặn lội bờ sông,

    Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.

    Nàng về nuôi cái cùng con,

    Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

    -… Chém cha cái giặc chết hoang,

    Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng.

    Gánh từ xứ Bắc, xứ Ðông,

    Ðã gánh theo chồng lại gánh theo con.

    5. Chứa đựng tiếng cười trào phúng

    Ca dao trào phúng và ca dao trữ tình có mối quan hệ khăng khít nhau. Ca dao trào phúng thể hiện tính thích trào lộng của nhân dân. Phạm vi đề tài của ca dao trào phúng cũng rất rộng rãi. Các hiện tượng trái tự nhiên, không bình thường có thể trở thành đối tượng của nó.

    -Chồng còng mà lấy vợ còng,

    Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.

    -Lỗ mũi em mười tám gánh lông,

    Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho.

    Ðêm nằm thì ngáy o o,

    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.

    Ði chợ thì hay ăn quà,

    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm …

    Phần lớn ca dao trào phúng có nội dung xã hội. Bằng tiếng cười trào phúng, nhân dân phê phán, đả kích giai cấp thống trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng … thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

    Những bài thách cưới có tính chất trào phúng phê phán những tục lệ thách cưới, nộp cheo, là những hủ tục trong chế độ hôn nhân xưa:

    -Em về thưa với mẹ cha,

    Bắt lợn đi cưới bắt gà đi cheo.

    Ðầu lợn lớn hơn đầu mèo,

    Làng ăn không hết làng treo cột đình.

    Ông quan đánh trống thình thình,

    Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.

    -Cưới nàng anh toan dẫn voi,

    Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

    Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,

    Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

    Miễn là có thú bốn chân,

    Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.

    -Chàng dẫn thế em lấy làm sang,

    Nỡ nào em lại phá ngang như là …,

    Người ta thách lợn thách gà,

    Nhà em thách cưới một nhà khoai lang;

    Củ to thì để mời làng,

    Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi.

    Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi,

    Ðể cho con trẻ ăn chơi giữ nhà…

    Nhân dân hướng mũi nhọn đả kích vào tầng lớp thống trị phong kiến tập trung vào một số đối tượng rất quen thuộc trong văn học dân gian: vua chúa, các loại quan văn, quan võ, các loại thầy cúng, thầy bói, sư giả hiệu …

    -Vua Lê ba mươi sáu tàn vàng,

    Thấy gái đi đàng ngó ngó nom nom.

    Cô nào óng ả son son,

    Vua đóng vào hòm đem trẩy về kinh.

    -Em là con gái đồng trinh,

    Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè.

    Ông Nghè sai lính ra ve,

    Trăm lạy ông nghè ông đã có con.

    Có con thì mặc có con,

    Thắt lưng cho giòn theo võng cho mau.

    -Cậu cai nón dấu lông gà,

    Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.

    -Cậu cai buông áo em ra

    Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa …

    -Chập chập cheng cheng,

    Con gà trống thiến để riêng cho thầy.

    Ðơm xôi thì đơm cho đầy,

    Ðơm mà vơi đĩa thì thấy không ưa.

    -Hòn đất mà biết nói năng,

    Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.

    Từ sự phê phán những biểu hiện cụ thể, đây còn là quan điểm của nhân dân về vấn đề tôn giáo:

    -Ai lên Hương Tích Chùa Tiên,

    Gặp cô sư bác, anh khuyên đôi lời:

    Ðem thân làm cái kiếp người,

    Tu sao cho trọn nước đời mà tu ?

    III. NGHỆ THUẬT CA DAO 1. Thể thơ

    Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau.

    Thể lục bát gồm câu sáu, câu tám, thể thơ này rất phổ biến trong ca dao.

    Thể song thất lục bát gồm hai câu bảy, câu sáu, câu tám, được sử dụng không nhiều.

    Thể vãn thường gồm một câu có bốn hoặc năm chữ, rất đắc dụng trong đồng dao.

    Ngoài ra ca dao cũng sử dụng hợp thể là thể thơ gồm từ bốn, năm chữ thường kết hợp với lục bát biến thể.

    -Anh nói với em,

    Như dao chém xuống đá,

    Như nhựa chém xuống đất,

    Như mật rót vào tay.

    Bây chừ anh đã nghe ai,

    Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa ri.

    Các thể thơ phong phú diễn tả được nhiều tư tưởng tình cảm của nhân dân.

    2. Cấu tứ

    Các kiểu cấu tứ của ca dao khá phong phú.

    -Cái sáo mặc áo em tao,

    Làm tổ cây cà,

    Làm nhà cây chanh…

    Cấu tứ theo lối đối thoại khá phổ biến trong ca dao.

    -Bây giờ mận mới hỏi đào,

    Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?

    Mận hỏi thì đào xin thưa,

    Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

    Cấu tứ theo lối phô diễn về thiên nhiên là một kiểu cấu tứ quen thuộc trong ca dao.

    -Một đàn cò trắng bay tung,

    Bên nam bên nữ ta cùng hát lên.

    -Nước chảy liu riu, lục bình trôi líu ríu,

    Anh thấy em nhỏ xíu anh thương.

    3. Ngôn ngữ

    Cách sử dụng và tổ chức ngôn ngữ ca dao rất độc đáo. Có những lời ca ca dao giản dị, cụ thể. Có những lời ca dao điêu luyện, tinh tế.

    -Nước ròng bỏ bãi xa cừ,

    Gặp em hỏi thử sao từ ngỡi nhân ?

    -Sông Cầu nước chảy lơ thơ,

    Ðôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi.

    -…Em ơi chua ngọt đã từng,

    Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.

    4.Thời gian và không gian nghệ thuật

    Luận điểm của G. Mansep: Trong dân ca trữ tình chúng ta thấy rõ luận đề này; hãy nói cho tôi biết nhân vật trữ tình đang ở thời điểm nào, đang đứng ở đâu, tôi sẽ có thể nói điều gì đang diễn ra với nhân vật.

    Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, lúc diễn xướïng bài ca

    -Bây giờ ta gặp nhau đây,

    Như con cá cạn gặp ngày trời mưa.

    -Ngó lên nuột lạt mái nhà,

    bao nhiêu nuột lạt, thương bà bấy nhiêu.

    Không gian nghệ thuật trong ca dao là không gian có tính hiện thực, xác định.

    -Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp,

    Em qua không kịp tội lắm anh ơi,

    Bấy lâu ni mang tiếng chịu lời,

    Dẫu xa nhau chăng nữa cũng tại trời mà xa.

    5. Các biện pháp nghệ thuật truyền thống

    So sánh, ẩn dụ, nhân hóa, chơi chữ, ngoa dụ … là những biện pháp nghệ thuật rất tiêu biểu trong ca dao.

    -Thân em như hạt mưa rào,

    Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa.

    -Thuyền ơi có nhớ bến chăng,

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    -Bà già đi chợ cầu Ðông,

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi không.

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi nhưng răng không còn.

    -Ðêm nằm mà nghĩ gần xa,

    Trở mình nó gãy mười ba thanh giường.

    IV. VÀI NÉT VỀ BỘ PHẬN CA DAO THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN ĐẾ QUỐC 1. Hoàn cảnh xã hội lịch sử

    Thực dân Pháp trở lại xâm lược đất nước. Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác tiến hành cuộc kháng chiến gian khổ và anh dũng kết thúc bằng chiến thắng Ðiện Biên Phủ vĩ đại.

    Ðế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đấu tranh thống nhất đất nước diễn ra liên tục 20 năm. Chiến thắng mùa xuân 1975 mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta.

    2. Nội dung

    Phản ánh hiện thực, văn học dân tộc thực sự trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng của nhân dân, văn học dân gian, ca dao đã trở thành vũ khí đấu tranh sắc bén chống thực dân và đế quốc xâm lược. Ca dao có bước phát triển mới, gửi gấm một cách trực tiếp, sâu sắc tư tưởng, tình cảm của nhân dân trên hiện thực mới: hiện thực đấu tranh cách mạng của nhân dân.

    Trên đại thể, có hai bộ phận: ca dao kháng chiến, ca dao chống Mỹ.

    Ca dao mang nội dung yêu nước chống xâm lược, phản ánh tình cảm lớn của dân tộc, công cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân.

    Ca dao kháng chiến, ca dao chống Mỹ là khối thống nhất tổng hợp tình cảm, tư tưởng nhân dân trong 30 năm chiến đấu chống xâm lược.

    Ca dao vạch rõ kẻ thù của dân tộc từ những năm đầu Pháp xâm lược:

    -Nhà vua thân với Lang sa,

    Ðể Tây ăn cắp trứng gà của dân.

    Truyền thống yêu nước vĩ đại được phát huy mạnh mẽ. Nhân dân ý thức sâu sắc nhiệm vụ đánh đuổi ngoại xâm, thực hiện kháng chiến trường kỳ. Thể hiện sức mạnh quật khởi của dân tộc không gì đè bẹp nổi.

    -Bao giờ hết cỏ nước Nam,

    Thì dân ta mới hết người đánh Tây.

    Khác với thời kỳ trước, ca dao sau cách mạng tháng Tám nói chung chứa đựng thêm tình cảm của nhân dân đối với lãnh tụ.

    -Cụ Hồ ở giữa lòng dân,

    Tuy xa xa lắm nhưng gần gần ghê.

    Nhân dân xem hình ảnh lãnh tụ là biểu tượng đẹp nhất, cao quý nhất của đất nước. Ca dao chống Mỹ có nhiều bài thể hiện tấm lòng miền Nam đối với Bác Hồ:

    -Tháp Mười đẹp nhất bông sen,

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

    Ca dao phản ánh tư tưởng lớn của dân tộc đó là tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược: thời kháng chiến quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp, thời chống Mỹ, quyết tâm đấu tranh thống nhất nước nhà.

    Ca dao thể hiện tinh thần phục vụ sự nghiệp chiến đấu cứu nước của nhân dân: không khí sôi nổi của phong trào thi đua yêu nước cho thấy cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc là cuộc chiến tranh nhân dân.

    -Hôm qua anh đến chơi nhà,

    Thấy mẹ dệt vải thấy cha đi bừa.

    Thấy cháu I tờ đang học bi bô.

    Thì ra vâng lệnh cụ Hồ,

    Cả nhà yêu nước thi đua phen này.

    Nổi bật trong ca dao hình ảnh người phụ nữ hậu phương đảm đang, người nữ du kích với tinh thần chiến đấu kiên cường.

    -Trên trời mây trắng như bông,

    Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây.

    Những cô má đỏ hây hây,

    Ðội bông như thể đội mây về làng.

    -Chị em du kích Thái Bình

    Ca lô đội lệch vừa xinh vừa dòn …

    Bộc lộ trong ca dao còn là mối tình quân dân thắm thiết:

    -Cụ Hồ dân kính dân yêu,

    Mà anh bộ đội dân chìu, dân thương.

    3. Ðặc điểm nghệ thuật

    Sự kế thừa nghệ thuật và phát triển nghệ thuật ca dao cổ truyền.

    Sự bền vững nhất của ca dao thể hiện ở yếu tố phong cách nghệ thuật. Ở đây vẫn là những xúc cảm dạt dào, sâu lắng của ca dao, nét mới là sự thể hiện tình yêu tổ quốc, yêu lãnh tụ, yêu Ðảng, tình quân dân …

    Nghệ thuật trào phúng vẫn đậm nét hướng đến đối tượng mới: kẻ thù xâm lược, những nhân tố lạc hậu trên bước phát triển của cuộc sống mới.

    Thể thơ truyền thống được sử dụng linh hoạt.

    Kết cấu lối đối đáp truyền thống được sử dụng với những nhân vật trữ tình mới.

    Sử dụng lại một số câu ca dao cũ có nội dung tương đồng để thể hiện sự so sánh, cảm nhận cuộc sống mới và cũ hoặc chắp vần nối tiếp nhằm diễn đạt nội dung mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Đo Lực Kéo Đứt Cometech (Material Testing Machine) 0978.260.025
  • Hướng Dẫn Sử Dụng Máy Đo Lực Kéo Chi Tiết
  • Máy Đo Lực Kéo Nén Imada Ps
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Môn Vật Lý Lớp 6 Năm Học 2022
  • Từ Tiếng Bồ Đào Nha Braxin Bạn Không Thể Dịch Sang Tiếng Anh
  • Đọc Hiểu Ca Dao, Dân Ca Lớp 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Dân Ca Lớp 7.
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giảng Dạy Ca Dao, Dân Ca Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 7
  • Mối Liên Hệ Giữa Ca Dao Và Dân Ca
  • Một Số Đặc Điểm Ngôn Ngữ Ca Dao
  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước (Chi Tiết)
  • -Hiểu được ảnh hưởng của ca dao, dân ca đối với đời sống con người - Vận dụng khái niệm để lí giải đặc điểm của ca dao. - Phân biệt ca dao với các sáng tác bằng thơ bằng thể lục bát. - Vận dụng hiểu biết về ca dao để phân tích lí giải giá trị nội dung, nghệ thuật của các văn bản ca dao khác. Giá trị nội dung - Nhận diện được các bài ca dao về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước con người, ca dao than thân, châm biếm. - Thuộc các bài ca dao đã học và biết được nội dung, ý nghĩa của các bài ca dao đó. - Hiểu được tình cảm gia đình luôn là tình cảm sâu nặng, thiêng liêng. - Hiểu những nét đặc sắc về hình thể, cảnh trí, lịch sử, văn hóa của dân tộc; tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương, đất nước - Hiểu và thông cảm cho nỗi cô đơn, chua xót của con người trong nhiều cảnh ngộ. - Hiểu những hiện tượng đáng phê phán trong xã hội; thái độ với những thói hư, tật xấu đó. - Phân tích, cảm nhận được nội dung ý nghĩa của các bài ca dao đã học. - Kết hợp với chương trình địa phương: Học các bài ca dao địa phương. - Trình bày được những suy nghĩ ,kiến giải riêng về giá trị nội dung của văn bản, từ đó tạo lập được một văn bản cảm nhận, suy nghĩ về ca dao. - Vận dụng tri thức đọc-hiểu văn bản ca dao để kiến tạo những giá trị sống của bản thân góp phần giải quyết một vấn đề trong đời sống thực tiễn. Giá trị nghệ thuật - Nhận diện được các hình thức nghệ thuật trong ca dao: thể thơ lục bát(hoặc lục bát biến thể), đối đáp, cách xưng hô phiếm chỉ, các thủ pháp nghệ thuật(so sánh, ẩn dụ, đảo ngữ, điệp ngữ...) - Hiểu được những nét đặc sắc và tác dụng của các hình thức nghệ thuật, cách thức diễn đạt trong những câu, những bài ca dao đã học. - Vận dụng thông hiểu để tạo lập đoạn văn phân tích, cảm nhận những nét đặc sắc về nghệ thuật trong ca dao. - Vận dụng những đặc điểm nghệ thuật trong ca dao để sáng tác thể thơ lục bát. - Chuyển thể văn bản ca dao (vẽ tranh, nhạc) C. Câu hỏi, bài tập: Mức độ nhận biết Câu 1: Trong những câu sau đây câu nào không phải là ca dao: A. Lá lành đùm lá rách B.Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu C. Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều D. Ngó lên nuộc lạt mái nhà Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu. Hướng dẫn chấm: + Mức độ tối đa: Phương án A + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 2: Bài ca dao " Công cha như núi ngất trời" là lời: Của người con nói với cha mẹ Của ông bà nói với con cháu. Của cha nói với con Của ông bà, cha mẹ nói với con cháu. Hướng dẫn chấm: + Mức độ tối đa: Phương án D + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 3 : Nối cụm từ cột A với cụm từ cột B sao cho phù hợp giữa địa danh và đặc điểm được nói đến trong bài ca dao " Ở đâu năm cửa..." A B Sông Lục Đầu Núi Đức Thánh Tản Nước sông Thương Tỉnh Lạng Thành Hà Nội Có thành tiên xây Sáu khúc nước chảy xuôi một dòng Thắt cổ bồng có thánh sinh Bên đục bên trong Hướng dẫn chấm: + Mức tối đa: Nèi: 1-b, 2-c, 3-d, 4-a. + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời A. Thân em như giếng giữa đàngNgười khôn rửa mặt, người phàm rửa chânB. Thân em như lá đài biNgày thì dãi nắng, đêm thì dầm sươnC. Thân em như tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay aiD. Thân em như chẽn lúa đòng đòngPhất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai Hướng dẫn chấm + Mức tối đa: Phương án D + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 5: Bài ca dao " Đứng bên ni đồng.... ban mai" được viết theo thể nào: A. Song thất lục bát B. Lục bát biến thể C. Lục bát D. Thất ngôn bát cú Hướng dẫn chấm: + Mức tối đa: : Phương án B + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu hỏi, bài tập: Mức độ thông hiểu Câu 1: Đại từ "ai" trong câu ca dao sau dùng để chỉ đối tượng nào: Ai làm cho bể kia đầy Cho ao kia cạn cho gầy cò con A. Người phụ nữ B. Người lao động C. Chế độ phong kiến D. Người đàn ông Hướng dẫn chấm: + Mức tối đa: : Phương án C + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 2: Trong bài ca dao sau, tác giả dân gian thể hiện thái độ như thế nào với việc xem tướng số? Số cô chẳng giàu thì nghèo Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà. Số cô có mẹ có cha Mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông. Số cô có vợ có chồng, Sinh đầu lòng chẳng gái thì trai. + Mức tối đa: Châm biếm thói mê tín xem tướng số của nhiều người. + Không đạt: Trả lời chưa đầy đủ ý trên, trả lời sai; hoặc không trả lời. Câu 3: Vẻ đẹp của cô gái trong bài ca dao: " Đứng bên ni đồng....nắng hồng ban mai" là vẻ đẹp: A. Lộng lẫy và quyến rũ B. Trong sáng và hồn nhiên C. Mạnh mẽ và đầy bản lĩnh D. Trẻ trung và đầy sức sống Hướng dẫn chấm: + Mức tối đa: : Phương án D + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời. Câu 4: Tâm trạng của người con gái được thể hiện trong bài ca dao "Chiều chiều ra đứng..." là tâm trạng: A. Thương người mẹ đã mất B. Nhớ về thời con gái đã qua C. Nỗi buồn nhớ quê, nhớ mẹ D. Nỗi đau khổ cho tình cảnh hiện tại Hướng dẫn chấm: + Mức tối đa: : Phương án C + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời. Câu 5: Tìm ý nghĩa điệp ngữ "Thương thay" trong bài ca dao " Thương thay thân phận con tằm..." A. Nhấn mạnh, đồng cảm sâu sắc với nỗi khổ cực, xót xa cay đắng nhiều bề của nhiều phận người trong xã hội cũ. B. Cảm thán về nỗi khổ của người khác C. Nhấn mạnh nỗi khổ của người khác D. Thông cảm với những nỗi khổ khác của con người Hướng dẫn chấm: + Mức tối đa: : Phương án A + Không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời. Câu hỏi, bài tập: Vận dụng mức độ thấp Hướng dẫn chấm: - Mức độ tối đa: * Điểm giống: + Nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình: Nhân vật trữ tình đều là người lao động thể hiện thế giới nội tâm, tình cảm, thái độ đánh giá đối với gia đình và xã hội.. + Phương tiện nghệ thuật nổi bật: so sánh, ẩn dụ. * Điểm khác : + Nhân vật trữ tình: Những bài cao châm biếm: bày tỏ thái độ mỉa mai, phê phán, chế giễu đối với đối tượng nào đó. + Phương tiện nghệ thuật nổi bật: yếu tố gây cười, trào phúng. - Mức độ chưa tối đa: Trả lời chưa đầy đủ các nội dung trên. - Mức độ không đạt. Trả lời sai hoặc không trả lời. Câu 2: Cho bài ca dao sau: Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe. Tìm biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhất? Nêu ý nghĩa của biện pháp tu từ ấy trong việc thể hiện số phận người dân trong xã hội xưa? Hướng dẫn chấm: - Mức độ tối đa: + Xác định được biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhất là nghệ thuật ẩn dụ. + Ý nghĩa của các biện pháp tu từ: * Những hình ảnh ẩn dụ đi kèm với miêu tả bổ sung đã gợi lên, diễn tả nỗi khổ cực, xót xa cay đắng nhiều bề của nhiều phận người trong xã hội: + Thương con tằm " kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ": Là thương cho những thân phận suốt đời bị kẻ khác bòn rút sức lực. + Thương lũ kiến li ti "Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi": Là thương cho nỗi khổ của những thân phận nhỏ nhoi suốt đời xuôi ngược vất vả làm lụng mà vẫn nghèo khó. + Thương con hạc "lánh đường mây, bay mỏi cánh biết ngày nào thôi": Là thương cho cuộc đời phiêu bạt lận đận và những cố gắng vô vọng cúa người lao động trong xã hội cũ. + Thương con cuốc "Dầu kêu ra máu có người nào nghe": Là thương thân phận thấp cổ bé họng, nỗi khổ đau oan trái không được lẽ công bằng nào soi tỏ. - Mức độ chưa tối đa: Trả lời chưa đầy đủ những nội dung trên. - Mức độ chưa đạt: Trả lời không đúng hoặc không trả lời. Câu 3: Em hiểu thế nào về từ "hay"? Và ý nghĩa của việc sử dụng điệp từ "hay" trong bài ca dao: "Cái cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng Chú tôi hay tửu hay tăm ... Đêm thì ước những đêm thừa trống canh" Hướng dẫn chấm: - Mức độ tối đa: + Giaỉ thích từ "hay": ở đây có nghĩa là thường xuyên, ham thích, am hiểu. + Ý nghĩa của điệp từ "hay": Nhấn mạnh, tô đậm thói quen, tính nết xấu của nhân vật. - Mức độ chưa tối đa: Trả lời chưa đầy đủ các nội dung trên. - Mức độ không đạt: Trả lời sai hoặc không trả lời. Câu hỏi, bài tập: Mức độ vận dụng cao. Câu 1: Từ những bài ca dao than thân, em hãy viết đoạn văn ngắn (6- 8 câu) nêu cảm nhận về đời sống của người nông dân xưa trong đó có sử dụng từ láy, và một số biện pháp tu từ đã học ( Chỉ rõ biện pháp tu từ, từ láy được sử dụng trong bài) Hướng dẫn chấm: + Mức độ tối đa: - Người bình dân ngày xưa có đời sống lam lũ, vất vả, bất hạnh nhưng giàu tình yêu thương với đồng loại. - Tuy có nhiều nỗi khổ nhưng họ vẫn lạc quan, tràn đầy sức sống để vượt lên hoàn cảnh - Viết được đoạn văn có sử dụng được từ láy, một số biện pháp tu từ đã học và chỉ rõ. + Mức độ chưa tối đa: trả lời được một trong ba ý trên. + Không đạt: Trả lời sai hoặc không trả lời Câu 2: Có ý kiến cho rằng "Ca dao luôn bồi đắp cho tuổi thơ chúng ta tình yêu tha thiết đối với đất nước, quê hương", em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua các bài ca dao đã học. Hướng dẫn chấm: + Mức độ tối đa: a. Më bµi: - Giới thiệu được ca dao là tiếng nói tình cảm, là sản phẩm tinh thần của người lao động xưa. - Ca dao biểu hiện đời sống tâm hồn phong phú nhất là tình yêu quê hương đất nước. b. Th©n bµi: 2.1: Giải thích nhận định. - Ca dao, dân ca là thể loại trữ tình dân gian,diễn tả đời sống nội tâm của con người. Ca dao là phần lời thơ của dân ca. - Ca dao có khả năng bồi đắp cho tuổi thơ tình yêu quê hương đất nước có nghĩa là qua các bài ca dao giúp con người thêm yêu đất nước, tự hào về vẻ đẹp quê hương, từ đó có ý thức xây dựng đất nước. 2.2. Chứng minh: *Ca dao dân ca bồi đắp tình yêu quê hương đất nước: giúp con người yêu vẻ đẹp cảnh sắc non sông ở khắp mọi miền Tổ quốc. - Vẻ đẹp của miền Bắc: " Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ..." ( học sinh phân tích dẫn chứng). - Vẻ đẹp nên thơ như lời chào, lời mời của người dân xứ sở miền Trung thân yêu: " Đường vô xứ Huế quanh quanh..." ( Học sinh phân tích dẫn chứng). - Vẻ đẹp của sáu tỉnh miền Nam với những nét đặc trưng như một lời tâm tình, thân thương: " Nam Kì sáu tỉnh em ơi..." ( Học sinh phân tích dẫn chứng). *Ca dao giới thiệu về những sản vật quí của mọi miền đất nước để ta có thể tự hào, trân trọng : " Bưởi Chi Đám, quýt Đan Hà Cà phê Phú Hộ, đồi chè Thái Ninh" Hay: " Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say" * Ca dao diễn tả tình cảm gắn bó, tha thiết với quê hương. Đó là nỗi nhớ quê hương da diết,cháy bỏng: " Anh đi anh nhớ quê nhà...." Hay : " Dù ai đi ngược về xuôi..." ( học sinh phân tích dẫn chứng). * Ca dao giúp ta thêm hiểu biết về kiến thức Địa lí,qua đó, bồi đắp lòng tự hào về lịch sử anh hùng của dân tộc. - Qua lời đối đáp của chàng trai và cô gái trong bài " Ở đâu năm của nàng ơi..." đã làm sống dậy cả một lịch sử hào hùng, với những chiến công oanh liệt: " Sông Lục Đầu; núi Đức Thánh Tản....", ( học sinh phân tích dẫn chứng). 2.3 Đánh giá khái quát và mở rộng vấn đề vấn đề nghị luận. - HS đánh giá khái quát khẳng định lại vấn đề - Liên hệ tinh thần yêu nước trong văn bản với các tác phẩm khác. c. KÕt bµi: - Nhấn mạnh giá trị, tác dụng của ca daoViệt Nam. - Suy nghĩ, ấn tượng, cảm xúc của em về ca dao Việt Nam. + Mức độ chưa tối đa: trả lời chưa đầy đủ các nội dung + Không đạt: Trả lời sai hoặc không trả lời D. ĐỀ KIỂM TRA I. MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CHỦ ĐỀ CA DAO, DÂN CA NGỮ VĂN 7 Thời gian: 90 phút Mứcđộ Chủ đề Mức độ Cộng Nhận biết Thông hiểu VD thấp VD cao 1 . Đọc - Hiểu văn bản Xác định được kết cấu và nghệ thuật trong ca dao,dân ca. Giải thích được ý nghĩa các từ ngữ, hình ảnh đặc sắc trong ca dao, dân ca Số câu: 8 2 điểm =20 % Số câu :5 Số điểm: 1,25 Số câu: 3 Số điểm: 0,75 Số câu: Số điểm: Số câu: Số điểm: 2. Tạo lập văn bản Viết đoạn văn cảm nhận vẻ đẹp bài ca dao em thích. Viết bài văn chứng minh. Số câu:2 8 điểm =80 % Số câu: Số điểm: Số câu: Số điểm: Số câu: 1 Số điểm: 3,0 Số câu: 1 Số điểm:5,0 Tổng Tổng số điểm Tỉ lệ % Số câu:5 Số điểm:1,25 Số câu:3 Số điểm:0,75 Số câu: 1 Số điểm: 3,0 Số câu: 1 Số điểm:5,0 Số câu:10 Số điểm: 10 =100% II. CÂU HỎI I. Phần trắc nghiệm khách quan: (2,0 điểm) Câu 1: Nhận xét nào đúng với kết cấu bài: " Ở đâu năm cửa nàng ơi..." A. Bài ca là lời của một người và có hai phần B. Bài ca là lời của một người và chỉ có một phần C. Bài ca có hai phần, phần đầu là câu hỏi của chàng trai, phần sau là lời đáp của cô gái. D. Hình thức của bài ca dao hết sức đặc biệt không thường gặp trong ca dao, dân ca. Câu 2: Bài ca dao" Công cha như núi ngất trời.........Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi" là lời của ai nói với ai? A. Lời của cha mẹ, ông bà nói với con, cháu. B. Lời của người con nói với cha mẹ. C. Lời của ông nói với cháu. D. Lời của người cha nói với con. Câu 3: Trong bài ca dao "Công cha như núi ngất trời.........", tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì để thể hiện " công cha, nghĩa mẹ"? A. So sánh B. Nhân hóa C. Đối lập D. Hoán dụ Câu 4: Âm điệu chính trong những bài ca dao về tình cảm gia đình thường là gì? A. Vui mừng, hạnh phúc, hân hoan. B. Tâm tình, nhắn nhủ. C. Hùng tráng, tự hào. D. Buồn chán, ủ rũ. Câu 5: Trong bài ca dao " Thương thay thân phận con tằm.....", tác giả dân gian đã xây dựng những hình ảnh: con tằm, cái kiến, con hạc, con cuốc bằng biện pháp nghệ thuật gì? A. So sánh B. Nhân hóa C. Ẩn dụ D. Hoán dụ Câu 6: Vì sao trong ca dao, dân ca thường dùng các hình ảnh :'' núi non , trời, biển, nước trong nguồn.." để so sánh công lao của cha mẹ với con cái? Vì những hình ảnh này gần gũi với cuộc sống thường nhật của con người. Vì dùng các hình ảnh này làm cho các bài ca dao gần gũi dễ thuộc, dễ nhớ. Vì đây là những hình ảnh chỉ sự to lớn, vô hạn, vĩnh hằng, chỉ có những hình ảnh đó mới diễn tả hết công lao của cha mẹ. Vì những hình ảnh này rất đẹp. Câu 7: Từ thương thay trong bài ca dao " Thương thay thân phận con tằm... dầu kêu ra máu có người nào nghe" được dùng nhằm mục đích gì? A. Thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ những vất vả. B. Thể hiện sự than trách. C. Làm tăng tính chế giễu, châm biếm. D. Thể hiện sự thương hại. Câu 8: Vì sao trong ca dao người nông dân thường dùng hình ảnh " con cò" để diễn tả cuộc đời mình? A. Cò lầm lũi kiếm ăn rất đáng quý đáng thương. B. Cò có nhiều đặc điểm giống cuộc đời, phẩm chất của người nông dân. C. Cò gắn bó với đồng ruộng, không phải là loài chim ác. D. Cò hiền lành, chịu khó kiếm ăn. Phần II: Tự luận (8,0 điểm) Câu 1 (3,0 điểm): Viết đoạn văn cảm nhận vẻ đẹp bài ca dao: " Đứng bên ni đồng......." Câu 2 (5,0 điểm): Hãy chứng minh rằng: Ca dao, dân ca luôn bồi đắp cho tuổi thơ tình yêu quê hương, đất nước? III. HƯỚNG DẪN CHẤM Phần I: Trắc nghiệm Câu 1 (0,25) - Mức tối đa: Phương án: C - Mức không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 2 (0,25) - Mức tối đa: Phương án: A - Mức không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 3 (0,25) - Mức tối đa: Phương án: A - Mức không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu4 (0,25) - Mức tối đa: Phương án: B - Mức không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 5 (0,25) - Mức tối đa: Phương án: C - Mức không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu6 (0,25) - Mức tối đa: Phương án: C - Mức không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 7 (0,25) - Mức tối đa: Phương án: A - Mức không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Câu 8 (0,25) - Mức tối đa: Phương án: B - Mức không đạt: Lựa chọn phương án khác hoặc không trả lời Phần II: Tự luận Câu 1 (2,0) Mức tối đa (2,0 điểm) - Nội dung: HS trả lời được các ý cơ bản sau: + Hai câu đầu với cách dùng từ láy và cách đảo ngữ: mênh mông bát ngát" gợi lên khung cảnh rộng lớn của cánh đồng quê hương, câu thơ kéo dài 12 tiếng vừa diễn tả không gian rộng khoáng đạt vừa gợi tâm trạng tự hào, sảng khoái của con người. (1 điểm) + Hai câu sau: miêu tả người lao động , đồng thời thể hiện tâm trạng của con người trước thiên nhiên , gợi trong lòng người đọc tình yêu quê hương, đất nước (1 điểm) - Hình thức trình bày rõ ràng, sạch đẹp. (0,5 điểm) - Bài viết có cảm xúc (0,5 điểm) Mức chưa tối đa. - HS trình bày nhưng không đủ ý Mức không đạt. Không trả lời được nội dung nào. Câu 2 (6,0) *Tiêu chí về nội dung các phần bài viết (6,0 điểm) 1.Mở bài: (0,5 điểm) - Mức tối đa: HS biết cách dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận một cách ấn tượng, sáng tạo.(trích dẫn được nhận định). - Mức chưa tối đa: HS biết cách dẫn dắt vấn đề nhưng chưa hay hoặc còn mắc lỗi về diễn đạt hoặc dùng từ. - Không đạt: HS không biết cách mở bài, sai kiến thức cơ bản hoặc không có mở bài. 2.Thân bài: (5,0 điểm) 2.1: Giải thích nhận định. (0,5 điểm) - Mức tối đa: HS giới thiệu được khái quát ca dao, dân ca trong văn học nói chung và trong văn bản nói riêng: - Ca dao, dân ca là thể loại trữ tình dân gian,diễn tả đời sống nội tâm của con người. Ca dao là phần lời thơ của dân ca. - Ca dao có khả năng bồi đắp cho tuổi thơ tình yêu quê hương đất nước có nghĩa là qua các bài ca dao giúp con người thêm yêu đất nước, tự hào về vẻ đẹp quê hương, từ đó có ý thức xây dựng đất nước. - Mức chưa tối đa : HS chưa trả lời đầy đủ các nội dung trên. - Không đạt: HS không trình bày nội dung này. 2.2. Chứng minh: (4,0 điểm) *Ca dao dân ca bồi đắp tình yêu quê hương đất nước: giúp con người yêu vẻ đẹp cảnh sắc non sông ở khắp mọi miền tổ quốc (0,75 điểm) - Vẻ đẹp của miền Bắc: " Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ"( học sinh phân tích dẫn chứng).( 0,25 đ) - Vẻ đẹp nên thơ như lời chào, lời mời của người dân xứ sở miền Trung thân yêu: ).( 0,25 đ) " Đường vô xứ Huế quanh quanh..." ( Học sinh phân tích dẫn chứng). - Vẻ đẹp của sáu tỉnh miền Nam với những nét đặc trưng như một lời tâm tình, thân thương: ).( 0,25 đ) " Nam Kì sáu tỉnh em ơi..." ( Học sinh phân tích dẫn chứng). - Mức tối đa: HS trình bày được vẻ đẹp đất nước qua các bài ca dao Phân tích được một số bài ca dao tiêu biểu - Mức chưa tối đa : HS trình bày chưa đầy đủ các nội dung trên hoặc mắc lỗi diễn đạt,lủng củng. - Không đạt: HS không trình bày nội dung này. *Ca dao giới thiệu về những sản vật quí của mọi miền đất nước để ta có thể tự hào, trân trọng : (0,75 điểm) " Bưởi Chi Đám, quýt Đan Hà Cà phê Phú Hộ, đồi chè Thái Ninh" Hay: " Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say" - Mức tối đa: HS trình bày được các ý trên, dẫn chứng phong phú, phù hợp. Phân tích được dẫn chứng. - Mức chưa tối đa : HS chưa trả lời đầy đủ các nội dung trên. - Không đạt: HS không trình bày nội dung này. * Ca dao diễn tả tình cảm gắn bó, tha thiết với quê hương. Đó là nỗi nhớ quê hương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Giảng Dạy Ca Dao
  • Soạn Bài Ca Dao Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình Lớp 7
  • Giáo Án Tự Chọn 10 Chuyên Đề 10 : Ca Dao Dân Ca
  • Soạn Bài : Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình
  • Tổng Hợp Ca Dao Tục Ngữ Theo Chủ Đề
  • Nguoi Me Trong Ca Dao

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Đề Án Phát Triển Kinh Tế Vùng Và Tiểu Vùng Bán Đảo Cà Mau: Để Bạc Liêu Trở Thành Trung Tâm Của Vùng
  • Bán Đảo Cà Mau Giữa Đôi Dòng Mặn
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa Hay Nhất
  • Tuần 8. Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa
  • Hình ảnh người mẹ trong ca dao đã được các văn nghệ sĩ vô danh khắc họa bằng chất liệu dân gian đến từng chi tiết, đầy tính nhân văn, giàu tình thương và lòng nhân ái dễ gần dễ mến.chứ không mang màu sắc mệnh phụ phu nhơn hay phi thường vĩ đại.

    Hồi còn bé, ngay những năm đầu bậc tiểu học tôi đã học thuộc lòng bài ca dao nói về công lao sanh thành dưỡng dục của cha mẹ:

    Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Đây còn là bài học đạo đức (đức dục) vỡ lòng đầu tiên dạy học sinh phải biết công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và phải hiếu thảo với cha mẹ. Người xưa rất tế nhị, nếu nói suôn công cha nghĩa mẹ cao dày thì người ta không hình dung được cao dày bao nhiêu nên ông cha ta đã so sánh cụ thể, rõ ràng. Không có gì cao to hơn núi, không có gì nhiều hơn nước nguồn, chỉ có công cha nghĩa mẹ mới ngang bằng mà thôi. Núi còn là biểu tượng của nam tính, cứng rắn mạnh mẽ là tính cách của cha; nước là biểu tượng của nữ tính, uyển cuyển mềm mại.là tính cách của mẹ. Bài ca dao đã được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước “phát dương quang đại” bằng cách phổ thành nhạc phẩm “Ơn Nghĩa Sinh Thành” rất nổi tiếng và đi vào lòng người từ thế kỷ trước đến nay.

    Mỗi người đều có hai vai, một bên công cha một bên nghĩa mẹ, hai vai gánh nặng. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy khi nói`đến công lao sinh thành dưỡng dục thì từ xưa đến nay người ta hay nói đến mẹ nhiều hơn cha. Hình ảnh của mẹ xuất hiện thường xuyên hơn cha trong ca dao tục ngữ, các tác phẩm văn học nghệ thuật cùng một số lĩnh vực khác. Tại sao vậy? Theo tôi thì có hai nguyên nhân. Một là dân tộc ta theo chế độ mẫu hệ từ ngày đầu lập quốc, tôn bà Âu Cơ lên làm quốc mẫu nên trở thành truyền thống. Hai là do vị trí vai trò và tính cách của cha và mẹ. Cha là chủ, là trụ cột trong gia đình, phải bươn chải mưu sinh cho vợ con có cái ăn cái mặc, rồi ăn no mặc ấm đến ăn sang mặc đẹp nên thời gian gần gũi bên con không nhiều. Công cha rất lớn nhưng cha lại thường khó tính, nghiêm khắc hay thể hiện quyền lực bằng sức mạnh cơ bắp, dùng hình phạt nhiều hơn giáo dục, dùng roi vọt nhiều hơn lời lẽ ngọt ngào dạy dỗ con, do đó mà con sợ cha hơn mến cha thành thử tình cảm cha con không được gắn bó, mặn mà cho lắm.

    Ngược lại, mẹ là “nội tướng” lo việc trong gia đình, thời gian tiếp xúc với con nhiều hơn cha. Hơn nữa, mẹ đã mang nặng đẻ đau còn thường xuyên ôm ấp, chăm sóc các con từ sơ sinh đến trưởng thành. Lo cho con từ miếng ăn giấc ngủ, manh quần tấm áo, dạy con từng cử chỉ hành động, lời ăn tiếng nói từ lúc con chập chững bước đi và bập bẹ tiếng nói đầu đời. Bảo vệ con không bị bệnh tật khi trái gió trở trời, không bị tai ương trước thiên tai nhân họa. Tình mẫu tử thiêng liêng xuất phát từ đó, từ những việc nhỏ nhặt bình thường nhưng rất cảm động, bởi vậy không ai ngạc nhiên khi thấy hình ảnh của mẹ đã được các văn nghệ sĩ dân gian đưa vào đầy ắp trong kho tàng ca dao của nước ta.

    Đàn ông đi biển có đôi Đàn bà đi biển mồ côi một mình.

    Người xưa đã so sánh chuyện sanh nở của đàn bà giống như chuyện đi biển của đàn ông. Biển luôn luôn có gió to sóng lớn có thể nhận chìm ghe thuyền bất cứ lúc nào, sanh nở cũng có nhiều khó khăn trắc trở có thể làm thương vong sản phụ bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, đàn ông không đi biển cô độc mà với nhiều người cho nên khi gặp nguy hiểm họ sẽ nương tựa lẫn nhau. Còn đàn bà sanh nở không ai san sẻ được đau đớn trắc trở mà chỉ một mình “vượt cạn” và khi được mẹ tròn con vuông thì niềm vui và hạnh phúc không chỉ riêng của mẹ mà cho cả gia đình, còn ngược lại thì…chỉ một mình mẹ thương vong!.

    Mang nặng đẻ đau là vậy, nuôi nấng chăm sóc con cũng không kém vất vả gian nan. Các mẹ trước kia đa số nghèo nàn thiếu thốn, ăn uống thất thường không đủ sữa cho con bú phải cho con uống nước cơm, nước cháo pha đường hoặc lên tiếng van xin chị em sản phụ hàng xóm lân cận:

    Con tôi khát sữa bú tay Ai cho bú thép ngàn ngày mang ơn

    Ôi! vì con mà phải hạ mình van xin nghe đến nao lòng như vậy thì thử hỏi có tình nào thiêng liêng hơn tình mẫu tử?

    Khi con mới biết ăn, răng mọc chưa đều, mẹ phải nhai nhuyễn từng miếng cơm, lừa từng cọng xương nhỏ cho con không bị mắc nghẹn, hóc xương. Hình ảnh đó không bao giờ nhạt phai trong lòng những người con có hiếu:

    Ngồi buồn nhớ mẹ thưở xưa

    Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.

    Mẹ không chỉ lo cho con ăn uống đầy đủ mà còn lo cho con giấc ngủ tròn đầy. Trẻ sơ sinh đái dầm liên miên làm ướt hết tã lót và chiếu, mẹ phải thay tã và dời con đến chỗ chiếu khô. Khi hết chỗ dời mẹ đành nằm chỗ ướt nhường chỗ khô cho con được giấc ngủ ngon lành:

    Đêm đêm con trẻ đái dầm Mẹ nằm chỗ ướt con nằm chỗ khô.

    Khi trái gió trở trời con bị bệnh mẹ cũng không khác gì con:

    Con ho lòng mẹ tan tành Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi.

    Rồi đến ngày con đi học, ở nông thôn ngày xưa toàn đường đất và cầu khỉ cầu tre, vào mùa sa mưa nước nổi đường xá lầy lội trơn trợt, cầu kỳ gập ghềnh lắc lẻo khó đi thì chính mẹ là cây gậy cho con chống chỏi khi qua chỗ lầy lội trơn trợt, là tay vịn cho con nương vào khi qua cầu:

    Khó đi mẹ dẫn con đi Con đi trường học mẹ đi trường đời

    Con ơi! Trường học sẽ cho con cái chữ, cái kiến thức còn trường đời cho mẹ thêm vốn sống, kinh nghiệm vì trường đời không bằng phẳng suôn sẽ như trường học mà lắm chông gai, nhiều cạm bẫy, nếu thiếu vốn sống và kinh nghiệm mẹ khó dìu con đi trên đường đời.

    Hình ảnh người mẹ trong ca dao đã được các văn nghệ sĩ vô danh khắc họa bằng chất liệu dân gian đến từng chi tiết, đầy tính nhân văn, giàu tình thương và lòng nhân ái dễ gần dễ mến.chứ không mang màu sắc mệnh phụ phu nhơn hay phi thường vĩ đại.

    Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một như đường mía lau

    Chuối ba hương, xôi nếp một, đường mía lau không phải đặc sản quí hiếm mà là những thứ nông sản tầm thường nhưng thơm ngon, mềm dẽo, ngọt ngào hơn các loại chuối, nếp, đường khác. Chính vì vậy mà ai chẳng có một lần trong đời:

    Chiều chiều ra đứng cửa sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    Ngoài ca dao, hình ảnh người mẹ mộc mạc quê mùa, thuần lương chất phác, nhân từ đôn hậu còn có trong âm nhạc, nổi tiếng nhất và đi vào lòng người nhiều nhất là nhạc phẩm “Lòng Mẹ” của nhạc sĩ Y Vân. Hôm mẹ vợ tôi mất, em vợ tôi mướn dàn kèn đồng (hay còn gọi là Nhạc Tây) đến tiễn đưa bà về nơi an nghỉ cuối cùng. Trước khi di quan, họ thổi bài “Ơn Nghĩa Sinh Thành” và bài “Lòng Mẹ” khiến cho cả đám tang lặng yên xúc động, đám em vợ tôi và nhiều người cầm lòng không đậu sụt sịt khóc.

    Ngày nay, y học tiến bộ rất nhiều, dụng cụ y khoa tối tân, xã hội có đầy đủ cháo dinh dưỡng, sữa tươi sữa bột, tã lót cao cấp nên các bà mẹ bây giờ không còn gặp những trường hợp như thế nữa! Đường xá cầu kỳ ở nông thôn cũng được bê tông hóa, phương tiện hiện đại nên việc đưa đón con đi học chẳng có gì khó khăn vất vả như ngày xưa. Tuy nhiên, tôi xin nhắc nhở quí bà:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Tục Ngữ Dân Gian Việt Nam Hay Nhất
  • Tổng Hợp Ca Dao Việt Nam
  • Về Tác Phẩm Chứng Đạo Ca Của Thiền Sư Huyền Giác
  • Nguồn Góc Tên Gọi Chắc Cà Đao
  • Chắc Cà Đao Là Ở Đâu ?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100