Khái Niệm Về Chi Phí Sản Xuất Kinh Doanh Là Gì

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Bản Chất Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Chi Phí Sản Xuất Và Các Cách Phân Loại Chi Phí Sản Xuất Chủ Yếu
  • Hộ Sản Xuất Và Vai Trò Của Hộ Sản Xuất Đối Với Với Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Nông Thôn
  • Câu 1: Kinh Tuyến, Vĩ Tuyến Là Gì? Thế Nào Là Kinh Tuyến Gốc, Vĩ Tuyến Gốc? Câu 2: Muốn Xác Định Phương Hướng Trên Bản Đồ Người Ta Làm Như Thế Nào? Câu 3: Cấu Tạo Bên Trong Của Trái Đất Gồm Mấy Lớp? Trong Đó Lớp Nào Là Quan Trọng Nhất? Vì Sao
  • Tiết 3 Tuần 3 Địa Lí 6 Tiet 3 Tuan 3 Dia Li Lop 6 Doc
  • Khái niệm về chi phí sản xuất kinh doanh là gì và phân loại chi phí sản xuất gồm những loại nào

    1/ Khái niệm chi phí sản xuất kinh doanh

    Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác, quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Đồng thời quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hóa, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất.

    Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí. Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này. Chi phí và chi tiêu không những khác nhau về lựợng mà còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí (chi mua nguyên, vật liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu (chi phí trích trước). Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi tiêu và chí phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng.

    Có thể kết luận rằng: chi phí sản xuất – kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tổ sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ).

    2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh

    Chi phí sản xuất – kinh doanh có rất nhiều loại, nhiều khoản, khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí… trong quá trình kinh doanh. Để thuận lợi cho công tác quán lý và kế toán, cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định.

    Xét về mặt lý luận cũng như trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại chi phí khác nhau như phân theo nội dung kinh tế, theo công dụng theo vị trí, theo quan hệ của chi phí với quá trình sản xuất, v.v… Mỗi cách phân loại này đều đáp ứng ít, nhiều cho mục đích quản lý, kế toán, kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh… ở các góc độ khác nhau. Vì thế, các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lý chi phí sàn xuất và giá thành sản phẩm.

    2.1. Phân theo yếu tố chi phí

    Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh của chi phí, chi phí được phân theo yếu tố. Về thực chất, chỉ có 3 yếu tố chi phí là chi phí về lao động sống, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về tư liệu lao động. Tuy nhiên, để cung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động, việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí, các yếu tố chi phí trên có thể được chi tiết hóa theo nội dung kinh tế cụ thể của chúng. Tùy theo yêu cầu và trình độ quản lý ở mỗi nước, mỗi thời kỳ mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể khác nhau. Theo quy định hiện hành ờ Việt Nam toàn bộ chi phí được chi làm 7 yếu tố chi phí sau:

    – Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ… sử dụng vào sản xuất – kinh doanh (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi

    – Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất – kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).

    – Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân, viên chức.

    – Yếu tố chi phí bảo hiểm, xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn: phản ánh phần bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên.

    – Yếu tố chi phi khấu hao tài sản cố định: phản ảnh tổng số khấu hao tài sản cố định phải ưích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất – kinh doanh trong kỳ.

    – Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất – kinh doanh.

    – Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ.

    2.2. Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sàn phẩm

    Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục. Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Cũng như cách phân loại theo yếu tố, số lượng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm tùy thuộc vào trình độ nhận thức, trình độ quản lý và kế toán ở mỗi nước, mỗi thời kỳ khác nhau.

    Theo quy định hiện hành, giá thành sán phẩm ở Việt Nam bao gồm 5 khoản mục chi phí:

    – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên, vật liệu chính, phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.

    – Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh.

    – Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp).

    Ngoài cách phân loại trên, chi phí kinh doanh còn được phân theo nhiêu cách khác nhau như phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc hoàn thành; phân theo quan hệ của chi phí với quá trình sản xuất… Các cách phân loại này đã được đề cập đến trong kế toán quản trị.

    Bài viết trước: Chi phí dịch vụ khách sạn gồm những gì

    Các bài viết mới

    Các tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Cách Phân Loại Chi Phí Sản Xuất Kinh Doanh
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Hiệu Quả Kinh Doanh Xuất Khẩu Tại Công Ty Xuất Nhập Khẩu Tạp Phẩm Hà Nội
  • Khái Niệm, Phân Loại Về Hiệu Quả Kinh Doanh
  • Sửa Đổi, Bổ Sung Nghị Định Về Kinh Doanh Xăng Dầu
  • Kinh Doanh Xăng Dầu Sẽ Sửa Đổi Những Gì?
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Hiệu Quả Kinh Tế Trong Sản Xuất Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Đừng Quên Lợi Thế Kinh Doanh
  • Lợi Thế Kinh Doanh Bạn Cần Nắm Vững Nếu Muốn Phát Triển
  • Lợi Thế Cạnh Tranh Là Gì
  • Khái Niệm Nhân Viên Kinh Doanh Cho Người Mới
  • Nhân Viên Kinh Doanh Là Gì?
  • Kết quả

    Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh:

    “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”. T ừ khái niệm khái quát này, có thể hình thành công thức biễu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau:

    Với H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó; K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó. Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.

    Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm như thế hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng.

    Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định.

    2. Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh

    Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

    Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, … và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm, … Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp. Trong khi đó, công thức trên lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường – tiền tệ.

    Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói dung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả.

    Nguồn: chúng tôi (Biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết Về Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh Và Các Nhân Tố Ảnh Hưởng
  • Lý Luận Chung Về Sản Xuất Kinh Doanh Và Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh
  • Đất Cơ Sở Sản Xuất Kinh Doanh Là Gì
  • Khái Niệm Hiệu Quả Hoạt Động Của Doanh Nghiệp
  • Hiệu Quả Sản Xuất Trong Kinh Doanh Là Gì? Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hoạt Động Kinh Doanh
  • Khái Niệm Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Giá Trị Thông Thường, Giá Xuất Khẩu
  • Kim Ngạch Xuất Khẩu Là Gì? Tỉ Trọng Của Kim Ngạch Tại Việt Nam
  • Tổng Giá Trị Kinh Tế (Total Economic Value) Là Gì?
  • Kế Toán Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Tài Khoản 133 Thuế Giá Trị Gia Tăng Được Khấu Trừ
  • Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn ….)

    Đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị hoạt động trong nền , với các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiệm vụ mục tiêu hoạt động khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng có các mục tiêu khác nhau. Nhưng có thể nói rằng trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn…) đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này mọi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp thích ứng với các biến động của thị trường, phải thực hiện việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh, phải kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời phải tổ chức thực hiện chúng một cách có hiệu quả.

    Trong qúa trình tổ chức xây dựng và thực hiện các hoạt động quản trị trên, các doanh nghiệp phải luôn kiểm tra ,đánh giá tính hiệu quả của chúng. Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể không thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) là gì ? Để hiểu được hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung là gì. Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế :

    – Theo P. Samerelson và W. Nordhaus thì : “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa.

    – Có một số tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí. Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quy trình kinh tế.

    – Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông : “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh tế.

    – Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg…) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu…) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật”, “Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị” và “Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền” Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí.

    – Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và sử dụng phổ biến đó là : hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một qúa trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp như sau : hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.

    Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các chuyên gia kế toán của Kế toán 68 qua Tổng đài tư vấn:

    Mr Thế Anh : 0981 940 117

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Hiệu Quả Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Thuế Gtgt
  • Phương Pháp Xác Định Trị Giá Hải Quan Đối Với Hàng Hóa Nhập Khẩu
  • Xác Định Trị Giá Hải Quan Theo Phương Pháp Suy Luận
  • Trị Giá Hải Quan Hàng Xnk
  • Khái Niệm Về Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Lực Lượng Sản Xuất
  • Khái Niệm Dịch Vụ Logistics
  • Khái Niệm Logistics Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Khái Niệm Chung Về Logistics
  • Luật Hành Chính Là Gì? Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính?
  • Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là qui luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng đất nước của mỗi quốc gia. Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đều có ảnh hưởng rất lớn tơí nền kinh tế. Sự tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển. Nói cách khác Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế. Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội được chuyển sang một chất mới. Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau. Mà phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng. Đó cũng chính là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Do vậy, quy luật trên trước hết là quy luật kinh tế nhưng hơn thế nữa nó con là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội của lịch sử nhân loại bởi vì nó là quy luật của bản thân phương thức sản xuất. Sự tác động của quy luật này dẫn tới sự thay đổi của phương thức sản xuất và kéo theo sự thay đôỉ cua toàn bộ đời sống xã hội. Với những lý do trên, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa hết sức to lớn. Tuy nhiên, việc nắm bắt được quy luật này không phải là đơn giản, nhận biết được một quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn của sản xuất và kinh nghiệm bản thân. Với những chính sách, đường lối và chủ trương đúng đắn, nắm bắt tốt quy luật của đảng và nhà nước, nền kinh tế, đặc biệt là kinh nhiều thành phần đã phát triển mạnh mẽ, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển thành nước sản xuất nông nghiệp tiên tiến; góp phần đẩy nhanh nền kinh tế nước nhà đi sang một hướng khác, sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới. II- A/ Khái niệm về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: 1/ Lực lượng sản xuất: Để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất và kỹ thuật nhất định. Tổng thể các nhân tố đó là lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người trinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình suức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con người. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và kỹ năng lao động và tư liệu sản xuất. Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất thì tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao. Còn trong tư liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất. Bởi vậy khi công cụ lao động đã đạt đến trình độ tin học hoá được tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng. Trong mọi thời đại công cụ sản xuất luôn là yếu tố đông nhất của lực lượng sản xuất. Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất. Trình độ phát triển công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Tuy nhiên LêNin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động” có thể cói yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là con người. Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại thay đổi về chất cho lực lượng sản xuất. Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất nó hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại. 2/ Khái niệm về quan hệ sản xuất: Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con người phải có mối quan hệ với nhau. Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất. Nói cách khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất. Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu. Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai. Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội. Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:  Quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế độ sở hữu. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác. Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử đã được chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng. Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất và trong đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau. Ngược lại trong các chế độ tư hữu do tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít người các quan hệ xã hội do vậy bất bình đẳng.  Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giưuã người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội.  Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt trẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát triển của xã hội. Nêu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chung không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội mới. B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: 1/ Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất: a/ Tính chất: Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tu liệu sản xuất và lao động. Khi nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông, lực lượng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân. Khi trình độ sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải được vận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá. Tính chất tự cấp tự túc cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xã hội hoá. b/ Trình độ của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của phương thức sản xuất: Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người trong giai đoạn đó. Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con người và trình độ phân công lao động. Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau. B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiên mối quan hệ mang tính chất biện chứng. Chính sự thống nhất và tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển. Ngược lại quan hệ sản xuất thường có tính ổn định trong một thời gian dài. Sự biến đội của lực lượng sản xuất có nhiều nguyên nhân:  Bản thân người lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không ngừng tích luỹ và tăng lên.  Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.  Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản xuất được. Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có. Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới. Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ sản xuất hiện có không phải là tự thân mà phải thông qua một phương thức chính trị và pháp quyền mà phương thức pháp quyền là trực tiếp. Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ đây trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó như CácMác đã nhận định “Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những quan hệ ấy trở thàng những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách mạng xã hội”Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Thực tiễn cho thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó. quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhưng còn lực lượng sản xuất người không phát hiện được cũng như mâu thuẫn được phát hiện mà không giải quyết được hoặc giải quyết một cách sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực lượng sản xuất. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta không nên tuyệt đối hoá vai trò của lực lượng sản xuất mà bỏ qua sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với nó khi giữa chúng có sự phù hợp. Đôi khi sự phát triển chệch hướng của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là do yếu tố chủ quan, chứ không phải do tính chất đặc thù của quy luật đó. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, nó là yếu tố quyết định là tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu bước đi và tạo quy mô thích hợp cho lực lượng sản xuất hoạt động, cũng như đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động phát huy tính tích cực sáng tạo cho con người là nhân tố quan trọng và quyết định trong lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội quy định phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất áp dụng thành tựu khoa học và sản xuất hợp tác phân công lao động. C/ Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Sự nghiệp đã đổi mới của Việt Nam được bắt đầu ngay từ giữa những năm 80 và được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó đến nay. Quá trình đổi mới đã đưa lại nhiều thành tựu to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào việc giải quyết chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng như sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Việt Nam đã xây dựng chủ nghĩa xã hội được hơn 30 năm ở miền Bắc và hơn 10 năm trên phạm vi toàn quốc nếu tính đến thời điểm bắt đầu đổi mới. Ngôi nhà xã hội chủ nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng có thể có nhiều đặc trưng, nhưng có hai đặc trưng chất lượng quan trọng nhất mà dứt khoát chúng ta phải đặt đến, đó là vừa giàu có hơn, vừa công bằng hơn so với trong chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội thì nền kinh tế sản xuất của nước ta lại chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Sự khó khăn này có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là: không nắm vững quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm: Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp. Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu… không đạt chỉ tiêu đề ra. Nhìn chung, năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêu thụ trong cả nước và nước ngoài. Hệ thống tài chính-ngân hàng còn yếi kém và thiếu lành mạnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, đầu tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều. Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành công tác này còn nhiều vướng mắc và thiếu sót. Quan hệ một số mặt chưa phù hợp. Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chỉ đạo, chưa có chuyển biến đáng kể trong việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước. Một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao. Các hoạt động khoa học và công nghệ chưa được đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển. Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi. Nhiều cấp, ngành chưa thay thế, sửa đổi những quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp, chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa, nhà nước ta đã không thấy rõ bước đi có tính quy luật trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đường lốiđẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó là hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. để khắc phục những mâu thuẫn có thể phát sinh đòi hỏi phải thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Những chính sách mới của đảng và nhà nước đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển một cách mạnh mẽ.Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đưa nền kinh tế nước ta sang một bước đi mới. Mọi người được tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trước pháp luật…Tất cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nước nhà. Để làm rõ hơn về nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ, chúng ta sẽ đi phân tích nền sản xuất nông nghiệp trong thời gian này. tại đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã nhận định:”…Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ của lực lượng sản xuất ( Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb sự thật, HN, 1987, tr.57). Trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội phải kể đến yếu tố chủ quan của việc đảng lãnh đạo, Nhà nước phát động tính tích cực xã hội của quần chúng bằng những lợi ích vật chất và tinh thần yêu nước vốn có của họ. Tuy nhiên, theo nhận định trên của đảng, ta thấy rằng, không thể cho rằng những yếu tố tiên tiến của quan hệ sản xuất mãi là tiền đề sự thúc đẩy phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chúng chỉ tác động tích cực trong một thời gian ngắn và cuối cùng, vẫn phải tuân thủ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thực trạng nền sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian chuẩn bị vào những năm đầu bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã làm rõ nhận định trên của đảng. Tại thời điểm đó nền sản xuất nông nghiệp không ổn định, nhiều nơi, nhiều vùng nông thôn bị đói kém. Khi đó có người cho rằng, nguyên nhân sản xuất chậm phát triển là do giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó thể hiện giữa một bên là yêu cầu phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất theo hướng tất yếu chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn với một bên là chế độ sở hữu phân tán. Trong sản xuất nông nghiệp, sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ chế quản lý với nhiều hình thức sản xuất nông nghiệp mới phù hợp với những quan điểm đổi mới không ngừng của Đảng và nhờ đó, tạo ra sự biến đổi mới trong các Hợp tác xã nông nghiệp trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất. Điều đó càng khẳng định ý nghĩa to lớn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nhưng dựa vào tiêu chuẩn nào để khẳng định rằng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trước hết sự phù hợp đó thể hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau cao hơn năm trước), mặc dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất không thể không nhìn vào đời sống của nông dân, thực tế cho thế qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng đề ra, đời sống của nông dân từng bước được nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập của con em nông dân cũng khá hơn trước. Như vậy thực trạng nền kinh tế có phát triển không? Lực lượng sản xuất có phát triển không đó chính là tiêu thức để đánh giá sự phù hợp của quan hệ sản xuất vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Một quy luật có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế của mỗi quốc gia. 1/ Kết luận: Quy luật của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến. Tuy nhiên không phải bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp đó. Do vậy, phải nắm bắt tốt quy chúng ta có thể áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất còn là quy luật phổ biến trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế phát triển đi lên của lịch sử loài người từ chế độ công xã nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lãnh Thổ Quốc Gia Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Lãnh Thổ Quốc Gia
  • Khái Niệm Nguồn Nhân Lực Và Quản Trị Nguồn Nhân Lực
  • Khái Niệm Bạo Lực Và Bạo Lực Gia Đình
  • Lực Là Gì, Lực Tiếng Anh Nghĩa?
  • Định Nghĩa Lực Là Gì? Lực Hấp Dẫn, Lực Đàn Hồi, Lực Ma Sát Trong Vật Lý
  • Khái Niệm Về Kinh Tế Trang Trại

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Kinh Tế Cơ Bản
  • Khái Niệm, Đối Tượng Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Đất Đai
  • Gia Đình Việt Nam: Truyền Thống Và Hiện Đại
  • Khái Niệm Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Thu Nhập Hộ Gia Đình (Household Income) Là Gì? Ưu Điểm Của Thu Nhập Hộ Gia Đình
  • Kinh tế trang trại là một khái niệm không còn mới với các nước kinh tế phát triển và đang phát triển. Song đối với nước ta đang còn là một vấn đề mới, do nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên việc nhận thức chưa đầy đủ về kinh tế trang trại là điều không thể tránh khỏi. Thời gian qua các lý luận về kinh tế trang trại đã được các nhà khoa học trao đổi trên các diễn đàn và các phương tiện thông tin đại chúng. Song cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau các nhà khoa học lại đưa ra các khái niệm khác nhau về kinh tế trang trại.

    Theo một số nhà khoa học trên thế giới thì khái niệm về kinh tế trang trại như sau:

    Lênin đã phân biệt kinh tế trang trại “Người chủ trang trại bán ra thị trường hầu hết các sản phẩm làm ra, còn người tiểu nông thì dùng đại bộ phận sản phẩm sản xuất được, mua bán càng ít càng tốt” .

    Quan điểm của Mác đã khẳng định, điểm cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất hàng hoá, khác với kinh tế tiểu nông là sản xuất tự cấp tự túc, nhưng có điểm giống nhau là lấy gia đình làm cơ sở làm nòng cốt.

    Ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh và một số vùng lãnh thổ ở Châu Á: như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nơi khác trong khu vực. Họ quan niệm: “Trang trại là loại hình sản xuất Nông- Lâm- Ngư nghiệp của hộ gia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nhiều nông sản, hàng hoá, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh”.

    Quan điểm trên đã nêu được bản chất của kinh tế trang trại là hộ nông dân, nhưng chưa đề cập đến vị trí của chủ trang trại trong toàn bộ quá trình tái sản xuất sản phẩm của trang trại.

    Quan điểm 1:”Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại ,…) là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định được chủ trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ”.

    Quan điểm trên đã khẳng định kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hàng hoá, cơ sở cho nền kinh tế thị trường và vai trò của người chủ trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chưa thấy được vai trò của hộ gia đình trong các hoạt động kinh tế và sự phân biệt giữa người chủ với người lao động khác.

    Quan điểm 2: “Kinh tế trang trại là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá ở mức độ cao”.

    Quan điểm trên cho thấy cơ bản quyết định của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá ở trình độ cao nhưng chưa thấy được vị trí, vai trò của nền kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường và chưa thấy được vai trò của người chủ trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh.

    Quan điểm 3 cho rằng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong Nông- Lâm – Ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vì Sao Lee Min Ho Không Thể Trở Thành Người Chồng Lý Tưởng?
  • Hộ Gia Đình Là Gì Theo Quy Định Tại Bộ Luật Dân Sự 2022
  • Luận Văn: Phát Triển Kinh Tế Hộ Phi Nông Nghiệp Tại Hà Nội, Hay
  • Kế Hoạch Hóa Gia Đình Là Một Phần Của Quyền Con Người
  • Luật Kế Hoạch Hóa Gia Đình Hiện Nay
  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp
  • Mối Quan Hệ Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Phát Triển Văn Hóa, Thực Hiện Tiến Bộ Và Công Bằng Xã Hội
  • Khái Niệm Về Trang Trại Và Kinh Tế Trang Trại
  • Cần Nhận Thức Thấu Đáo Về Kết Hợp Phát Triển Kinh Tế Với Củng Cố Quốc Phòng, An Ninh
  • Kết Hợp Kinh Tế Với Quốc Phòng, Xây Dựng Và Bảo Vệ Tổ Quốc
  • Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế. Việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế ngày càng có hệ thống và hoàn thiện hơn. Chúng ta cùng thừa nhận rằng, tăng trưởng không đồng nghĩa với phát triển, tuy nhiên tăng trưởng lại là điều kiện cần, điều kiện tiên quyết cho phát triển.

    Nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và ứng dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng. Mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới là tăng trưởng và phát triển kinh tế, nó là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của từng quốc gia. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển trong quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp và hội nhập với các nước phát triển. Chính vì vậy vấn đề nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và sử dụng có hiệu quả những kinh nghiệm về nghiên cứu, hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng và cần thiết.

    Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập đạt được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) của một quốc gia (hoặc địa phương). Sự gia tăng này được biểu hiện ở quy mô và tốc độ. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị. Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người.

    Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy, mỗi quốc gia, tuỳ theo quan niệm khác nhau của các nhà lãnh đạo đã lựa chọn những con đường phát triển khác nhau. Nhìn một cách tổng thể, có thể hệ thống sự lựa chọn ấy theo 3 con đường: con đường tăng trưởng nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng; công bằng xã hội và phát triển toàn diện.

    Trước đây, các nước tư bản thường lựa chọn mục tiêu tăng trưởng mạnh, tăng trưởng nhanh cho con đường phát triển kinh tế. Những định hướng, động lực, phương thức và các giải pháp đều ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng nhanh mà không mấy quan ngại đến các hiệu ứng tiêu cực lên các vấn đề xã hội và môi trường, môi sinh. Hay nói cách khác, theo cách lựa chọn này họ tập trung phần lớn nguồn lực vào các chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng mà bỏ qua các nội dung xã hội. Các vấn đề về bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống chỉ được đặt ra khi đạt được một mức tăng trưởng kinh tế/thu nhập cao nhất định. Dưới góc độ thuần tuý về kinh tế, đây là mô hình thực nghiệm hiệu quả cho sự khởi sắc kinh tế với tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân rất cao.

    Tuy vậy, cũng từ những mô hình thực nghiệm này đã minh chứng cho những hệ quả xấu, trở thành hệ luỵ cho sự phát triển các thế hệ sau; một mặt cùng với quá trình tăng trưởng nhanh, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gay gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng cuộc sống thường không được quan tâm, một số giá trị văn hoá, lịch sử truyền thống bị phá huỷ. Mặt khác, việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn là nguyên nhân cơ bản của sự lãng phí và dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, vấy bẩn môi trường sinh thái. Sự lựa chọn của một số nước như Brazil, Mexico, Malaysia, Indonesia, Philipin…là những minh chứng sinh động cho thực tiễn này.

    Ngược lại, có một số quốc gia thực hiện mô hình nhấn mạnh vào bình đẳng và công bằng xã hội trước. Theo đó, các nguồn lực phát triển, phân phối thu nhập cũng như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, văn hoá được quan tâm và thực hiện theo phương thức dàn đều, bình quân cho mọi ngành, mọi vùng và các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đây là mô hình mà các nước đi theo xã hội chủ nghĩa đã thực hiện, trong đó có Việt Nam.

    Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Kế Toán: Một Số Khái Niệm Căn Bản Của Kinh Tế Học Vi Mô
  • Một Số Khái Niệm Căn Bản Của Kinh Tế Học Vi Mô
  • Kinh Tế Tri Thức (Knowledge Economy) Là Gì? Lịch Sử Phát Triển
  • Kinh Tế Tri Thức Ở Việt Nam?
  • Bài 1: Kinh Tế Tri Thức Là Gì?
  • Khái Niệm Hiệu Quả Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Giá Trị Thông Thường, Giá Xuất Khẩu
  • Kim Ngạch Xuất Khẩu Là Gì? Tỉ Trọng Của Kim Ngạch Tại Việt Nam
  • Tổng Giá Trị Kinh Tế (Total Economic Value) Là Gì?
  • Kế Toán Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó. Để được như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khă năng kinh doanh.

    ” Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường”

    Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:

    + Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp

    + Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình này càng phát triển.

    + Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động…

    + Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.

    Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta, mục tiêu lâu dài bao trùm của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận. Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh thích hợp. Công việc kinh doanh là một nghệ thuật đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược. Hiệu quả hoạt động SXKD luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh, có thể xem xét nó trên nhiều góc độ. Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng.

    “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”

    , nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.

    Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường.

    Hiệu quả hoạt động SXKD là công cụ quản trị doanh nghiệp2Được tóm tắt từ giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, chúng tôi Ngô Đình Giao. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà nội- 1997, trang 412- 413

    Để tiến hành bất kỳ hoạt động SXKD nào con người cũng cần phải kết hợp yếu tố con người và yếu tố vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với ý đồ trong chiến lược và kế hoạch SXKD của mình trên cơ sở nguồn lực sẵn có. Để thực hiện điều đó bộ phận quản trị doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụ trong đó có công cụ hiệu quả hoạt động SXKD. Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động SXKD không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra các nhân tố để đưa ra những các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả.

    Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào, do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu hoạt động SXKD quả đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Với vai trò là phương tiện đánh giá và phân tích kinh tế, hiệu quả hoạt động SXKD không chỉ được sử dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng đầu vào ở toàn bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như đánh giá được từng bộ phận của doanh nghiệp.

    Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD

    Mọi nguồn tài nguyên trên trái đất đều là hữu hạn và ngày càng cạn kiệt, khan hiếm do hoạt động khai thác, sử dụng hầu như không có kế hoạch của con người. Trong khi đó mật độ dân số của từng vùng, từng quốc gia ngày càng tăng và nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng hoá dịch vụ là phạm trù không có giới hạn- càng nhiều,càng đa dạng, càng chất lượng càng tốt. Sự khan hiếm đòi hỏi con người phải có sự lựa chọn kinh tế, nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần, khi đó con người phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất. Điều kiện đủ là cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra sản phẩm dịch vụ, cho phép cùng những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, sự phát triển kinh tế theo chiều dọc nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: sự tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế. Nói một cách khái quát là nhờ vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD.

    Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác, doanh nghiệp phải tự đưa ra chiến lược kinh doanh và chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình, lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng mang tính chất quyết định. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD là tất yếu đối với mọi doanh nghiệp. Mặt khác doanh nghiệp còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát triển được, phương châm của các doanh nghiệp luôn phải là không ngừng nâng cao chất lượng và năng suất lao động, dẫn đến việc tăng năng suất là điều tất yếu.

    Các nhân tố bên ngoài

    Các nhân tố bên trong

    Ngoài các nhân tố vĩ mô với sự ảnh hưởng như đã nói ở trên, hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp được quyết định bởi các nhân tố bên trong doanh nghiệp, đây là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

    Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD

    Thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD là biểu hiện mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, lao động và đồng vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.

    Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD chúng ta có thể dựa vào việc phân biệt hai khái niệm kết quả và hiệu quả

    :

    + Kết quả của hoạt động SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình SXKD nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của mỗi doanh nghiệp. Kết quả hoạt động SXKD có thể là những đại lượng cụ thể có thể định lượng cân đong đo đếm được cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh được mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như thương hiệu, uy tín, sự tín nhiệm của khách hàng về chất lượng sản phẩm. Chất lượng bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp.

    + Trong khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó (cả trong lý thuyết và thực tế thì hai đại lượng này có thể được xác định bằng đơn vị giá trị hay hiện vật) nhưng nếu sử dụng đơn vị hiện vật thì khó khăn hơn vì trạng thái hay đơn vị tính của đầu vào và đầu ra là khác nhau còn sử dụng đơn vị giá trị sẽ luôn đưa được các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị. Trong thực tế người ta sử dụng hiệu quả hoạt động SXKD là mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất cũng có những trường hợp sử dụng nó như là một công cụ để đo lường khả năng đạt đến mục tiêu đã đặt ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Thuế Gtgt
  • Phương Pháp Xác Định Trị Giá Hải Quan Đối Với Hàng Hóa Nhập Khẩu
  • Xác Định Trị Giá Hải Quan Theo Phương Pháp Suy Luận
  • Trị Giá Hải Quan Hàng Xnk
  • Trị Giá Hải Quan Là Gì? Quy Định Về Tờ Khai Trị Giá Hải Quan
  • Khái Niệm Về Liên Kết Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Liên Kết Là Gì?
  • Khái Niệm Và Sự Hình Thành Liên Kết Hoá Học
  • Khấu Trừ Thuế Là Gì? 4 Điều Cần Biết Về Khấu Trừ Thuế
  • Phương Pháp Khấu Trừ Là Gì? Khấu Trừ Dần Tài Sản Vô Hình Trong Kế Toán
  • Khấu Trừ Lương Là Gì? Mức Khấu Trừ Tiền Lương Năm 2022
  • Liên kết kinh tế được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hoặc thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nhà nước. Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng nhau tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau, cùng giúp nhau để có khoản thu nhập cao nhất.

    Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau, tương ứng với nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết. Những hình thức phổ biến là hiệp hội sản xuất và tiêu thụ, nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng, liên đoàn xuất nhập khẩu… Nội dung này sẽ được trình bày cụ thể trong phần sau.

    Các tổ chức tham gia liên kết là các đơn vị có tư cách pháp nhân đầy đủ, không phân biệt quan hệ sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý Nhà nuớc thành lập một tổ chức kinh tế với tên riêng, có qui chế hoạt động riêng, do các đơn vị thành viên dựa vào qui định này cùng nhau thỏa thuận để xác định và phải được một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động. Các tổ chức kinh tế có thể cùng một lúc tham gia nhiều tổ chức liên kết khác nhau, và phải tôn trọng qui chế hoạt động của các tổ chức đó. Trong khi tham gia liên kết kinh tế, không một đơn vị nào bị mất quyền tự chủ của mình, cũng như không được miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối với nhà nước theo pháp luật hay nghĩa vụ hợp đồng đã kí với các đơn vị khác.

    Khái niệm về liên kết kinh tế

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Các Khái Niệm Cơ Bản Trong Kinh Doanh
  • Vốn Kinh Doanh Là Gì? Vốn Kinh Doanh Được Phân Loại Như Thế Nào?
  • Nhiệt Độ Không Khí Là Gì? Hướng Dẫn Cách Đo Nhiệt Độ Không Khí Chính Xác
  • Khái Niệm Không Khí Là Gì? Không Khí Sạch Và Không Khí Bẩn Ảnh Hưởng Như Thế Nào Đến Chúng Ta
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Điều Hòa Không Khí Là Gì?
  • Khái Niệm, Bản Chất Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Chi Phí Sản Xuất Và Các Cách Phân Loại Chi Phí Sản Xuất Chủ Yếu
  • Hộ Sản Xuất Và Vai Trò Của Hộ Sản Xuất Đối Với Với Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Nông Thôn
  • Câu 1: Kinh Tuyến, Vĩ Tuyến Là Gì? Thế Nào Là Kinh Tuyến Gốc, Vĩ Tuyến Gốc? Câu 2: Muốn Xác Định Phương Hướng Trên Bản Đồ Người Ta Làm Như Thế Nào? Câu 3: Cấu Tạo Bên Trong Của Trái Đất Gồm Mấy Lớp? Trong Đó Lớp Nào Là Quan Trọng Nhất? Vì Sao
  • Tiết 3 Tuần 3 Địa Lí 6 Tiet 3 Tuan 3 Dia Li Lop 6 Doc
  • Kiểm Tra 1 Tiết Kì I Kiem Tra Dia 6 Ki I2017 Doc
  • Khái niệm

    “Hiệu quả sản xuất kinh doanh” là một phạm trù khoa học của kinh tế vi mô cũng như nền kinh tế vĩ mô nói chung. Nó là mục tiêu mà tất cả các nhà kinh tế đều hướng tới với mục đích rằng họ sẽ thu được lợi nhuận cao, sẽ mở rộng được doanh nghiệp, sẽ chiếm lĩnh được thị trường và muốn nâng cao uy tín của mình trên thương trường.

    Nhưng để hiểu được cụ thể về hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì chúng ta cần phải hiểu. Vậy hiệu quả kinh tế nói chung cũng như hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào? Về mặt này có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà kinh tế cụ thể như một vài quan điểm mang tính chất hiện đại. Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh diễn ra khi xã hội không tăng sản lượng một loại hàng hoá mà cũng không cắt giảm một loại hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Thực chất quan điểm này muốn đề cập đến vấn đề phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Trên phương diện này, việc phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế sao cho việc sử dụng mọi nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả.

    Một số tác giả khác lại cho rằng “Hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện ngay tại hiệu số giữa doanh thu và chi phí, nếu doanh thu lớn hơn chi phí thì kết luận doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Ngược lại doanh thu nhỏ hơn chi phí tức là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ” quan điểm này đánh giá một cách chung chung hoạt động của doanh nghiệp, giả dụ như: Doanh thu lớn hơn chi phí, nhưng do khách hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp do vậy tiền chi lại lớn hơn doanh thu thực tế, khi đó doanh nghiệp bị thâm hụt vốn, khả năng chi trả kém cũng có thể dẫn đến khủng hoảng mà cao hơn nữa là có thể bị phá sản. Cũng có tác giả cho rằng “Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bởi quan hệ tỉ lệ Doanh thu/Vốn hay lợi nhuận/vốn…” quan điểm này nhằm đánh giá khả năng thu hồi vốn nhanh hay chậm, khả năng sinh lời của một đồng vốn bỏ ra cao hay thấp, đây cũng chỉ là những quan điểm riêng lẻ chưa mang tính khái quát thực tế. Nhiều tác giả khác lại đề cập đến hiệu quả kinh tế ở dạng khái quát, họ coi: “hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Quan điểm này đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Theo quan điểm này thì hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế cùng sự biến động và vận động không ngừng của các hoạt động kinh tế, chúng phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau.

    Qua các định nghĩa cơ bản về hiệu quả kinh tế đã trình bày trên. Chúng ta cũng hiểu được rằng Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, khoa học công nghệ và vốn) nhằm đạt được mục tiêu mong đợi mà doanh nghiệp đã đặt ra.

    Bản chất:

    Từ khái niệm về Hiệu quả kinh tế nói chung cũng như hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, khoa học công nghệ và vốn), để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – đó là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.

    Để hiểu rõ được bản chất thực sự của hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì chúng ta phải phân biệt được ranh giới giữa hai khái niệm đó là hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hai khái niệm này lắm lúc người ta hiểu như là một, thực ra chúng có điểm riêng biệt khá lớn. Ta có thể hiểu kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì doanh nghiệp đã đạt được sau một quá trình hoạt động mà họ bỏ công sức, tiền, của vào. Kết quả đạt được hay không đạt được nó phản ánh đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu của doanh nghiệp đề ra chính là kết quả mà họ cần đạt được. Kết quả đạt được có thể là đại lượng cân đo đong đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, khối lượng sản xuất ra, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần… Và cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của hãng, chất lượng sản phẩm. Còn khái niệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả kinh doanh. Chi phí đầu vào càng nhỏ, đầu ra càng lớn, chất lượng thì chứng tỏ hiệu quả kinh tế cao. Cả 2 chỉ tiêu kết quả và chi phí để có thể đo bằng thước đo hiện vật và thước đo giá trị. Trong thực tế vấn đề đặt ra là hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng chính là mục tiêu hay phương tiện kinh doanh. Nhưng đôi khi người ta có thể sử dụng hiệu quả là mục tiêu mà họ cần đạt, trong trường hợp khác chúng ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu mà ta cần đạt đó chính là kết quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Chi Phí Sản Xuất Kinh Doanh Là Gì
  • Khái Niệm Và Cách Phân Loại Chi Phí Sản Xuất Kinh Doanh
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Hiệu Quả Kinh Doanh Xuất Khẩu Tại Công Ty Xuất Nhập Khẩu Tạp Phẩm Hà Nội
  • Khái Niệm, Phân Loại Về Hiệu Quả Kinh Doanh
  • Sửa Đổi, Bổ Sung Nghị Định Về Kinh Doanh Xăng Dầu
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Học Lái Xe Pccc :(Câu 5 Làn Đường)
  • Làn Đường Là Gì? Những Giao Thông Quan Trọng Bạn Nên Biết
  • Định Nghĩa Làn Đường Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Làn Đường
  • Khái Niệm Làn Đường Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Định Nghĩa Lực Là Gì? Lực Hấp Dẫn, Lực Đàn Hồi, Lực Ma Sát Trong Vật Lý
  • Các khái niệm cơ bản về kinh tế – Basic Economic Concepts tập hợp hàng loạt bài viết ngắn giải thích một cách khúc chiết các khái niệm cơ bản về kinh tế và cung cấp các kiến thức nền tảng về kinh tế thị trường.

    Những người biên soạn đã chú trọng chọn lọc các khái niệm, các kiến thức cần thiết nhất và trình bày với lối văn phong gãy gọn, sinh động, nhiều khi dí dỏm, đưa ra những ví dụ gần gũi được lấy từ thực tiễn của đời sống kinh tế Việt Nam. Các nội dung thuộc về kinh tế học vốn dĩ vẫn thường khô khan, khó hiểu cũng nhờ vậy đã trở nên sáng sủa, nhẹ nhàng, thú vị.

    Các khái niệm cơ bản về kinh tế – Basic economic concepts song ngữ Anh – Việt này do các giảng viên của Chươgn trình Giảng dạykinh tế Fulbright, Đại học Kinhtế chúng tôi biên soạn, từng được đăng hàng tuần trên tờ Saigon Times Daily.

    Sách do Saigon Times Foundation hợp tác với Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh xuất bản trong khuôn khổ Tủ sách Kiến thức.

    LỜI GIỚI THIỆU

    Các khái niệm cơ bản về kinh tế – Basic economic concepts chứa đựng một loạt bài viết ngắn giải thích một cách khúc chiết các khái niệm cơ bản về kinh tế học và cung cấp các kiến thức nền tảng về kinh tế thị trường. Các bài viết này do Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP) biên soạn. Đây là một chương trình hợp tác sau đại học giữa Trường Quản lý Nhà nước Kennedy của Đại học Harvard với Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

    Những người biên soạn đã chú trọng chọn lọc các khái niệm) các kiến thức cần thiết nhất và trình bày bằng một văn phong ngắn gọn, sinh động, nhiều khi dí dỏm, với những ví dụ gần gũi từ thực tiễn của đời sống kinh tế Việt Nam. Nhờ vậy mà các nội dung thuộc về kinh tế học vốn dĩ vẫn thường khô khan, khó hiểu đã trở nên sáng sủa, nhẹ nhàng, thú vị. Bên cạnh đó, việc thể hiện dưới dạng song ngữ Anh – Việt cũng đem lại một giá trị tăng thêm cho người đọc.

    Các bài viết này trước đây đã được đăng tải trên tờ Saigon Times Daily (thuộc nhóm thời báo Kinh tế Sài Gòn,) trong các năm từ 2002 đến 2004. Nay vì tính hữu ích của chúng đối với những sinh viên khoa kinh tế nói riêng và đông đảo những người có quan tâm đến kinh tế học nói chung, những người biên soạn đã tập hợp, hiệu đính, sắp xếp lại để làm thành cuốn sách này.

    Nhân đây, chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã đồng ý cho xuất bản cuốn sách hữu ích này trong khuôn khổ Tủ sách Kiến thức của Saigon Times Foundation; đồng thời đóng góp toàn bộ tiền tác quyền vào Quỹ Saigon Times Foundation để sử dụng trong các đợt cấp học bổng vẫn được tiến hành liên tục từ nhiều năm qua.

    Saigon Times Foundation

    (Nhóm Thời báo Kinh tế Sài Gòn)

    Nhận thông tin cập nhật ebook mới qua mail!

    Tham gia nhóm trên Facebook: Cộng đồng Mê Đọc Sách

    Follow Trên Google+ để tìm kiếm nhanh: Tải Sách Hay

    Cộng đồng Học tập: Học Online miễn phí

    Lưu ý đọc sách: Với sách pdf các bạn nên đọc bằng Adobe Reader hoặc Foxit Reader bản mới nhất. (SÁCH KHÔNG YÊU CẦU PASSWORD ĐỂ MỞ). Tải Sách Hay để chế độ tương thích cho sách là từ Adobe Reader 10 (X) trở lên. Nếu bạn dùng phiên bản thấp hơn sẽ yêu cầu Password.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh Và Hiệu Quả Kinh Tế
  • Phân Biệt Khái Niệm Kinh Doanh
  • 5 Khái Niệm Kinh Tế Người Tiêu Dùng Nên Biết
  • Một Số Khái Niệm Của Lý Thuyết Kinh Tế Học Phát Triển Đang Được Vận Dụng Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giáo Trình Tiếng Việt Kinh Tế
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100