Doanh Nghiệp Sản Xuất Khái Niệm Cho Người Mới

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Của Doanh Nghiệp Sản Xuất Và Doanh Nghiệp Thương Mại
  • Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Sản Xuất Là Gì?
  • Doanh Nghiệp Sản Xuất Là Gì? Đặc Điểm Và Cách Phân Biệt Doanh Nghiệp Sản Xuất
  • Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Sản Xuất Là Gì
  • Khái Niệm Sản Xuất Cho Doanh Nghiệp Bạn Nên Biết
  • Song hành với các doanh nghiệp thương mại với vai trò thúc đẩy sự phát triển hàng hóa thì không thể không kể đến các doanh nghiệp sản xuất. Vậy doanh nghiệp sản xuất là gì? Đây là các doanh nghiệp chuyên tiến hành các hoạt động sản xuất các loại hàng hóa nhằm cung cấp ra thị trường. Là những doanh nghiệp then chốt trong việc tạo ra các sản phẩm hàng hóa để cung cấp cho người tiêu dùng.

    Doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, quá trình sản xuất bao gồm: sản xuất, phân phối, đàm luận, và tiêu dùng. Việc hàng hóa được đem bán trên thị trường là cách thức chuyển đổi hình thái giá trị từ H-T. chuyên môn này đòi hỏi sự chuyên môn hóa cao để giúp các đơn vị sản xuất bán được hàng hóa và làm cho quá trình lưu thông hàng hóa diễn ra tốc độ hơn, người tiêu dùng được tiếp cận trực tiếp với sản phẩm nhanh nhất khi có nhu cầu.

    là tổ chức kinh tế hợp pháp. Một loại hình doanh nghiệp được ra đời với mục đích tận dụng các nguồn lực cần thiết (nhân lực – tài lực – vật lực) tạo ra các hàng hóa đem trao đổi trong dịch vụ thương mại, cung ứng nhu cầu tiêu dùng và tiêu dùng của con người.

    Dựa trên những yêu cầu đòi hỏi của thị trường để đưa ra những đưa ra quyết định trong việc sản xuất các mặt hàng tiêu dùng ra sao, sản xuất cái gì để cân bằng giữa cung và cầu trên thị trường.

    • Quy trình sản xuất: Dựa trên một chuỗi kết hợp giữa nguyên vật liệu, nhân công và các trang thiết bị để tạo nên sản phẩm.
    • Chi phí sản xuất: Là các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất hàng hóa, gồm chi phí nhân công và vật liệu sản phẩm để điều hành phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa.
    • Giá thành sản phẩm: Tổng thể chi phí để hoàn thành một số lượng hàng hóa nhất định trong quỹ thời gian nhất định.

    Quy trình sản xuất là một quá trình để tạo ra một loại sản phẩm hoàn chỉnh rất có thể dùng được trên thị trường. Trong đó các công ty sản xuất đóng vai trò hoàn thiện các sản phẩm này để cung cấp cho người tiêu dùng.

    • Sản xuất tập trung vào sản phẩm: Chỉ tốt khi sản xuất sản phẩm có số lượng ít và đã được chuẩn hóa;
    • Sản xuất tập trung vào quy trình: Sản xuất nhiều loại sản phẩm có số lượng vừa và nhỏ.

    Với mỗi loại hàng hóa khác nhau đều có quy trình sản xuất khác nhau. Các quy trình sản xuất này phụ thuộc chủ yếu vào từng loại mặt hàng với chi phí vật liệu, nhân công toàn bộ riêng biệt.

    Làm việc quản trị trong doanh nghiệp sản xuất (q uản lý quy trình sản xuất) có sự tham gia của tổng thể các bộ phận tại nhà máy (ban giám đốc nhà máy và các phòng ban, bộ phận trực thuộc),

    • Bộ phận sản xuất kế thừa “kế hoạch sản xuất” từ bộ phận kinh doanh và xây dựng các “kế hoạch sản xuất” chi tiết theo các công đoạn sản xuất.
    • Dựa trên kế hoạch sản xuất, tồn kho nguyên vật liệu khả dụng sẽ tiến hành dự trù nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.
    • Kiểm tra và theo dõi thời gian dừng máy để dự trù vật tư sửa chữa, bảo dưỡng.
    • Lập các ý kiến đề xuất mua vật tư, ý kiến đề nghị xuất/lĩnh vật tư chuyển bộ phận kỹ thuật kiểm tra và gửi về phòng mua hàng.
    • Dựa trên dự án và nguồn lực phù hợp tiến hành lập các “lệnh sản xuất” chuyển tới các phân xưởng, công đoạn sản xuất trong nhà máy để tiến hành quá trình sản xuất.
    • Phối kết hợp, kiểm tra đánh giá chất lượng thành phẩm hoàn thành.

    Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất

    Đặc điểm chung về hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất gồm:

    Quyết định sản xuất của doanh nghiệp dựa trên những vấn đề chính như: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm?

    Doanh nghiệp sản xuấtlà một chuỗi các công việc được thực hiện theo thứ tự để tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp: nguyên vật liệu; nhân công; máy móc thiết bị; năng lượng và các yếu tố khác.

    Là các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu; chi phí nhân công; chi phí khấu hao máy móc nhà xưởng; chi phí năng lượng; chi phí điều hành và phục vụ sản xuất.

    Lộc Đạt-tổng hợp

    Tham khảo ( bravo, winerp, … )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Doanh Nghiệp Sản Xuất Là Gì?
  • Một Số Vấn Đề Về Quản Trị Rủi Ro Trong Doanh Nghiệp
  • Đòn Bẩy Tài Chính Và Rủi Ro Tài Chính Của Doanh Nghiệp
  • Phân Tích Rủi Ro Tài Chính Là Gì? Cách Ngăn Ngừa Và Xử Lý Rủi Ro
  • Rủi Ro Tài Chính Là Gì? Phân Tích Rủi Ro Tài Chính Của Doanh Nghiệp Hiện Nay
  • Khái Niệm Sản Xuất Cho Doanh Nghiệp Bạn Nên Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáp Nhập Doanh Nghiệp Là Gì ? Làm Rõ Khái Niệm Sáp Nhập Doanh Nghiệp ? Thủ Tục Sáp Nhập Công Ty ?
  • Sáp Nhập Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Làm Rõ Khái Niệm Sáp Nhập Doanh Nghiệp
  • Tổng Hợp Khái Niệm Liên Quan Luật Doanh Nghiệp 2005
  • Khái Niệm Công Ty Hợp Danh Tại Luật Doanh Nghiệp 2005
  • Khái niệm sản xuất là gì?

    Khái niệm sản xuất (production) là hoạt động kết hợp các đầu vào nhân tố như lao động, tư bản , đất đai (đầu vào cơ bản) và/hoặc nguyên liệu (đầu vào trung gian) để tạo ra hàng hóa và dịch vụ (sản phẩm,sản lượng, đầu ra).

    Hoạt động này chủ yếu được khu vực doanh nghiệp thực hiện và người quản lý doanh nghiệp – tức người có quyền lựa chọn phương pháp thích hợp để kết hợp các đầu vào nhân tố – được coi là doanh nhân hay nắm giữ năng lực kinh doanh. Mối liên hệ giữa sản lượng hàng hóa hoặc dịch vụ và đầu vào nhân tố được gọi là hàm sản xuất. Nó cũng quyết định chi phí sản xuất của doanh nghiệp và vì vậy còn được gọi là hàm chi phí.

    Các yếu tố sản xuất

    Kinh tế học cổ điển phân biệt các yếu tố sản xuất được sử dụng trong sản xuất hàng hóa:

    Đất hay các nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên)

    Khái niệm sản xuất các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên chẳng hạn như đất đai và khoáng chất. Chi phí cho việc sử dụng đất là địa tô.

    Khái niệm sản xuất các hoạt động của con người được sử dụng trong sản xuất. Chi phí thanh toán cho sức lao động là lương.

    Các sản phẩm do con người làm ra hay công cụ sản xuất) được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm khác. Vốn bao gồm máy móc, thiết bị và nhà xưởng. Trong ý nghĩa chung, chi phí thanh toán cho vốn gọi là lãi suất.

    Các yếu tố này lần đầu tiên được hệ thống hóa trong các phân tích của Adam Smith, 1776, David Ricardo, 1817, và sau này được John Stuart Mill đóng góp như là một phần của lý thuyết chặt chẽ về sản xuất trong kinh tế chính trị.

    Phân loại đầu vào

    Chúng ta có thể chia đầu vào theo những tiêu thức chung nhất thành lao động, nguyên vật liệu và vốn.

    Trong đó, mỗi loại có thể được chia nhỏ hơn như:

    – Lao động bao gồm lao động lành nghề (thợ mộc, kĩ sư), lao động giản đơn (lao động nông nghiệp) và những nguồn lực kinh doanh của những nhà quản lí.

    – Nguyên liệu bao gồm thép, chất dẻo, điện, nước, bất kì hàng hóa nào hãng mua và chuyển chúng thành sản phẩm cuối cùng.

    – Vốn bao gồm nhà xưởng, thiết bị và hàng tồn kho.

    Hàm sản xuất

    Các yếu tố đầu vào không phải là độc lập mà có quan hệ với nhau. Mối quan hệ đó được mô tả bằng hàm sản xuất.

    Khái niệm sản xuất là một mô hình toán học cho biết lượng đầu ra tối đa có thể thu được từ các tập hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào tương ứng với một qui trình công nghệ nhất định.

    Chúng ta cần chú ý ở đây hàm sản xuất thể hiện các phương án hiệu quả về mặt kĩ thuật, nên lượng đầu ra được phản ánh là đầu ra tối đa. Ứng với mỗi trình độ công nghệ nhất định, sự kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau nên sẽ tương ứng vớI một hàm sản xuất khác nhau.

    Ngắn hạn và dài hạn trong sản xuất

    Một điều hết sức quan trọng mà trong sản xuất phải phân biệt là khái niệm ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn và trong dài hạn có sự khác nhau về trình độ công nghệ sản xuất nên mức sản lượng sẽ khác nhau.

    Vậy ngắn hạn và dài hạn trong sản xuất được phân biệt theo tiêu thức nào?

    – Ngắn hạn là khoảng thời gian mà trong đó ít nhất có một yếu tố đầu vào của sản xuất không thể thay đổI được. Yếu tố này được gọi là yếu tố cố định.

    Doanh nghiệp sản xuất là gì?

    Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Đó là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Khái niệm doanh nghiệp sản xuất là những doanh nghiệp sử dụng nguồn lực, tư liệu sản xuất kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường.

    Lộc Đạt-tổng hợp

    Tham khảo ( vietnamfinance, bravo, … )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Sản Xuất Là Gì
  • Doanh Nghiệp Sản Xuất Là Gì? Đặc Điểm Và Cách Phân Biệt Doanh Nghiệp Sản Xuất
  • Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Sản Xuất Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Của Doanh Nghiệp Sản Xuất Và Doanh Nghiệp Thương Mại
  • Doanh Nghiệp Sản Xuất Khái Niệm Cho Người Mới
  • Khái Niệm Về Kế Toán Quản Trị Chi Phí Sản Xuất Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khoản Giảm Trừ Doanh Thu Và Cách Hạch Toán Trong Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Các Khoản Giảm Trừ Doanh Thu
  • Các Khoản Giảm Trừ Doanh Thu Và Cách Hạch Toán
  • Kế Toán Chi Phí Khác
  • Cách Hạch Toán Chi Phí Khác Tài Khoản 811 Theo Tt 133
  • Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán góp phần rất quan trọng vào công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính. Việc thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình thu nhập, chi phí, so sánh thu nhập với chi để xác định kết quả là một trong những yêu cầu của kế toán tài chính.

    Tuy nhiên doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm, kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ nhằm tổng hợp lại trong một cơ cấu hệ thống kế toán phục vụ cho yêu cầu của quản trị doanh nghiệp thì kế toán tài chính không đáp ứng được yêu cầu này.

    Do đó, các doanh nghiệp tổ chức hệ thống kế toán quản trị để trước hết nhằm xây dựng các dự toán chi phí, dự toán thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Sau đó tiến hành theo dõi, kiểm tra suốt quá trình chi phí sản xuất, mua bán hàng hóa dịch vụ, tính toán giá thành sản phẩm, giá vốn hàng mua, hàng bán, doanh thu và kết quả cụ thể của doanh nghiệp.

    Theo Ronald W.Hilton, giáo sư đại học Cornell (Mỹ ): ” Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức

    Theo các giáo sư đại học South Florida là Jack L.Smith, Robert M. Keith và William L.Stephens: Theo Luật kế toán Việt Nam (năm 2003) và Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính hướng áp dụng kế toán quản trị doanh nghiệp: Kế toán quản trịlà một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”

    Kế toán quản trịlà việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Thành Sản Phẩm Là Gì ? Kế Toán Chi Phí Là Gì ?
  • Kế Toán Chi Phí Là Gì? Mô Tả Công Việc Kế Toán Chi Phí
  • Khái Niệm Kế Toán Chi Phí Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp
  • Tài Liệu Kế Toán Chi Phí Sản Xuất Và Tính Giá Thành Sản Phẩm
  • Bài 11 : Kế Toán Phải Trả Người Bán
  • Khái Niệm Phá Sản Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Tuyên Bố Phá Sản Doanh Nghiệp ? Tư Vấn Quyền Lợi Khi Doanh Nghiệp Bị Phá Sản ?
  • Luật Phá Sản: Những Nội Dung Cần Biết
  • Thứ Tự Thanh Toán Khi Doanh Nghiệp Tuyên Bố Phá Sản
  • Pháp Luật Về Phá Sản Doanh Nghiệp
  • Doanh Nghiệp Bị Tuyên Bố Phá Sản Khi Nào?
  • Định nghĩa phá sản doanh nghiệp

    T heo điều 2 luật phá sản quy định: ” Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”.

    Để xem xét một doanh nghiệp có lâm vào tình trạng phá sản hay không phải căn cứ vào 2 điều kiện:

    • Mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
    • Hiện tượng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn không còn là hiện tượng nhất thời mà rất trầm trọng thuộc về bản chất và vô phương cứu chữa.

    Điều 3 nghị định số 189-CP ngày 23/12/1994 cụ thể hoá khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như sau: Doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nói tại điều 2 luật phá sản doanh nghiệp, nếu kinh doanh bị thua lỗ trong 2 năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không đủ trả lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hợp động lao động trong 3 tháng liên tiếp.

    Khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nêu trên, doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết như sau đrr khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn như :

    • Các phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các khoản chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm.
    • Có biện pháp xử lý hàng hoá tồn kho, vật tư tồn đọng.
    • Thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng.
    • Thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm nợ, xoá nợ.

    Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết nêu trên mà vẫn gặp khó khăn, không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản và phải được xử lý phá sản theo quy định của pháp luật.

    Như vậy, dấu hiệu pháp lý căn bản của tình trạng phá sản là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, phá sản là bước cuối cùng sau khi doanh nghiệp đã tìm các biện pháp để cứu vãn tình hình nhưng không thành công.

    Phân loại phá sản

    • Căn cứ vào tính chất của sự phá sản
      • Phá sản trung thực: Là sự phá sản do nhựng nguyên nhân có thực gây ra
      • Phá sản gian trá : Là sự phá sản do người kinh doanh sắp đặt trước bằng những thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ nợ
    • Căn cứ vào đối tượng đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
      • Phá sản tự nguyện: Là do phía doanh nghiệp tự đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản khi thấy mình mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và không còn cách nào để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn đó.
      • Phá sản bắt buộc : Là do chủ nợ đệ đơn yêu cầu toà án tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp mắc nợ, bản thân doanh nghiệp không muốn bị tuyên bố phá sản.

    So sánh giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp

    Rộng hơn như + Giải thể khi kết thúc thời hạn hoạt động đã được ghi trong điều lệ + Giải thể khi đã hoàn thành mục tiêu hoặc xét thấy mục tiêu đề ra không thể đạt được+ Bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

    Hẹp hơn: Quá trình phá sản bao giờ cũng bắt nguồn từ việc doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn

    Doanh nghiệp tự quyết định; Cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập quyết định; Người quyết định cho phép thành lập doanh nghiệp nhà nước quyết định

    Toà kinh tế – Toà án nhân dân Tỉnh, Toà án nhân dân tối cao.

    Là thủ tục hành chính

    Là thủ tục tư pháp do toà án tiến hành theo quy định chặt chẽ của pháp luật phá sản doanh nghiệp.

    Việc xử lý các quan hệ tài sản

    Việc phân chia tài sản phải tiến hành trước khi giải thể doanh nghiệp

    Việc phân chia giá trị tài sản lại là khâu cuối của quá trình thi hành quyết định tuyên bố phá sản của toà án

    Bao giờ cũng dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của một doanh nghiệp và xoá tên đăng ký kinh doanh.

    Không phải lúc nào cũng dẫn đến chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể thay đổi chủ sở hữu, vẫn tiếp tục hoạt động

    Thái độ của nhà nước đối với chủ sở hữu, người quản lý

    Không đặt ra

    Cấm đảm nhiệm chức vụ đó tại bất kỳ doanh nghiệp nào từ 1 đến 3 năm trừ trường hợp bất khả kháng đối với (Giám đốc, chủ tịch và thành viên của HĐQT)

    Phạm vi áp dụng

    Điều 1- Luật phá sản doanh nghiệp quy định : ” Luật này áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi lâm vào tình trạng phá sản”.

    Doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu trong nền kinh tế nước ta gồm:

    • Doanh nghiệp nhà nước
    • Doanh nghiệp của tổ chức chính trị xã hội
    • Doanh nghiệp tư nhân
    • Công ty TNHH
    • Công ty cổ phần
    • Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
    • Hợp tác xã

    Đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản

    Chủ nợ: Chủ nợ có 3 loại

    • Chủ nợ có bảo đảm: Là chủ nợ mà quyền đòi nợ của họ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ
    • Chủ nợ có bảo đảm một phần : Là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ mà giá trị tài sản bảo đảm đó ít hơn khoản nợ
    • Chủ nợ không có bảo đảm: Là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ

    Theo Luật phá sản doanh nghiệp thì chỉ có chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm 1 phần mới có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

    Điều kiện để các chủ nợ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là sau thời gian 30 ngày kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không được thanh toán

    Các chủ nợ khi làm đơn phải nộp lệ phí

    Đại diện công đoàn (hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn)

    Điều kiện để công đoàn nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là:

    • Khi doanh nghiệp không trả đủ lương cho người lao động trong 3 tháng liên tiếp
    • Khi có nghị quyết của công đoàn về việc tuyên bố phá sản

    Khác vơí các chủ nợ đại diện công đoàn (hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn) khi nộp đơn không phải tạm ứng phí.

    Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp.

    Trong trường hợp đã thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính mà doanh nghiệp mắc nợ vẫn không thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp có nghĩa vụ phải tự nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản.

    Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản

    • Toà kinh tế TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ có thẩm quyền giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với những doanh nghiệp có trụ sở chính đặt trên địa phương mình.
    • TAND tối cao có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Toà án cấp tỉnh về tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
    • Phòng thi hành án thuộc Sở tư pháp, Cục quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ tư pháp là cơ quan có thẩm quyền thi hành quyết định phá sản doanh nghiệp.

    Thụ lý đơn và điều tra về khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp

    • Các đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp gửi đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
      • Nếu là doanh nghiệp mắc nợ : kèm theo đơn là các tài liệu như danh sách chủ nợ, báo cáo tình hình kinh doanh 06 tháng trước khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn ; báo cáo quyết toán và thuyết trình chi tiết tình hình tài chính 02 năm cuối; báo cáo về các biện pháp tài chính cần thiết đã áp dụng để khắc phục …

    Mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

    Hội nghị chủ nợ , hoà giải và tổ chức lại doanh nghiệp

    Hội nghị chủ nợ

    Việc tổ chức hội nghị chủ nợ trước hết là nhằm bảo đảm cho việc giải quyết 1 cách bình đẳng lợi ích kinh tế của các chủ nợ trong quan hệ với doanh nghiệp bị yêu cầu phá sản và giữa họ với nhau.

    Hội nghị chủ nợ chỉ được triệu tập trong giai đoạn xem xét giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, do thẩm phán triệu tập và chủ trì.

    Thời gian họp hội nghị lần đầu là 30 ngày kể từ ngày khoá sổ danh sách đòi nợ.

    Thành phần gồm:

    • Những đối tượng có tên trong danh sách chủ nợ
    • Đại diện công đoàn hay đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn (Chỉ có quyền biểu quyết khi tham gia hội nghị chủ nợ với tư cách là chủ nợ lương).
    • Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp mắc nợ.
    • Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp mắc nợ (Tham gia để trình bày phương án hoà giải và giải pháp tổ chức lại doanh nghiệp.

    Hội nghị chủ nợ chỉ hợp lệ khi có sự tham gia của quá nửa số chủ nợ đại diện cho ít nhất 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm tham gia

    Hội nghị chủ nợ có thể được hoãn 1 lần nếu rơi vào 1 trong 2 điều kiện

    • Không đủ quá nửa số chủ nợ đại diện cho ít nhất 2/3 tổng số nợ không có bảo đảm tham gia
    • Đa số chủ nợ có mặt biểu quyết hoãn họp

    Trong vòng 30 ngày kể từ ngày hội nghị chủ nợ lần 1 bị hoãn thẩm phán phải triệu tập lại hội nghị chủ nợ lần 2 . Nếu triệu tập lại mà hội nghị chủ nợ vẫn không thành do không đủ số lương tham gia như quy định thì toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

    Nội dung của hội nghị chủ nợ : Chủ yếu bàn và giải quyết về 2 vấn đề chính

    • Xem xét thông qua phương án hoà giải, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

    Hoà giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

    Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp không phải bao giờ cũng kết thúc bằng việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp và phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp đó mà còn có phương thức khác đó là hoà giải và tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Mục đích của phương thức này là tìm giải pháp duy trì doanh nghiệp tạo cơ hội để doanh nghiệp mắc nợ vượt qua tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thay vì bị tuyên bố phá sản.

    Ngay sau khi ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, thẩm phán phải yêu cầu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp xây dựng phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại kinh doanh.

    Nội dung của phương án gồm:

    • Các kiến nghị về hoãn nợ, giảm nợ, xoá nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ và các biện pháp khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, cũng như những cam kết về thời hạn, mức và phương thức thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp.
    • Các biện pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

    Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày được yêu cầu phương án phải được gửi cho toà án

    Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải trình bày phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại kinh doanh tại hội nghị chủ nợ và trả lời chất vấn của các chủ nợ.

    Nếu phương án hoà giải và giải pháp tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được hội nghị chủ nợ thông qua thì thẩm phán ra quyết định công nhận biên bản hoà giải thành và tạm đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.

    Tuyên bố phá sản và phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp

    Quyết định tuyên bố phá sản

    Thẩm phán Toà kinh tế cấp tỉnh có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong các trường hợp:

    • Doanh nghiệp mắc nợ không có phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh khi có đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp của chủ nợ và toà án đã có quyết định mở thủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
    • Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp không có mặt ở hội nghị chủ nợ để trình bày phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại sản xuất kinh doanh.
    • Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án hoà giải và giải pháp tổ chức lại sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Hết thời hạn tổ chức lại hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp vẫn kinh doanh không có hiệu quả và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
    • Trong thời hạn tổ chức lại hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng những thoả thuận tại hội nghị chủ nợ và chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản.
    • Trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ trốn hoặc bị chết và người thừa kế từ chối thừa kế hoặc không có người thừa kế.

    Quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp được gửi đến chủ nợ, doanh nghiệp bị phá sản và Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp.

    Quyết định tuyên bố phá sản có thể bị khiếu nại ( đối với các chủ nợ và doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản) và kháng nghị (đối với Viện kiểm sát). Thời hạn khiếu nại và kháng nghị là 30 ngày kể từ ngày có quyết định.

    Quyết định này phải được đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp. Thời hạn đăng báo chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

    Phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.

    Việc phân chia tài sản của doanh nghiệp được tiến hành sau khi đã xác định rõ tài sản của doanh nghiệp.

    Tài sản của doanh nghiệp gồm:

    Tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp đang có trong doanh nghiệp

    Tiền hoặc tài sản góp vốn liên doanh, liên kết với cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức khác.

    Tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác đang nợ hoặc chiếm đoạt.

    Tài sản đang cho thuê hoặc cho mượn.

    Các quyền về tài sản.

    Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân thì tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm cả tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh.

    Tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản gọi là tài sản phá sản.

    Thứ tự ưu tiên phân chia tài sản

    Các khoản lệ phí, các chi phí theo quy định của pháp luật cho việc giải quyết phá sản doanh nghiệp.

    Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký.

    Các khoản nợ nộp thuế

    Các khoản nợ cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ.

    Khi phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, có thể có 3 tình huống xảy ra :

    Nếu giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản còn đủ để thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình

    Nếu giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản không đủ để thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ thì mỗi chủ nợ được thanh toán một phần các khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng. Nếu vẫn còn thừa thì phần còn lại thuộc

    • Chủ doanh nghiệp nếu là doanh nghiệp tư nhân
    • Các thành viên công ty nếu là công ty
    • Ngân sách nhà nước nếu là doanh nghiệp nhà nước

    Thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp

    Theo Luật phá sản doanh nghiệp của Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản là phòng thi hành án thuộc sở tư pháp nơi doanh nghiệp có trụ sở chính.

    Để tổ chức việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, trưởng phòng thi hành án phải ra quyết định thành lập tổ thanh toán tài sản và chỉ định một chấp hành viên phụ trách tổ này.

    Sau khi thanh toán hết tài sản phá sản thì tổ trưởng tổ thanh toán tài sản phải làm báo cáo về việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản gửi cho trưởng phòng thi hành án đồng thời niêm yết tại trụ sở phòng thi hành án.

    Sau 15 ngày kể từ ngày niêm yết nếu không có chủ nợ nào khiếu nại thì trưởng phòng thi hành án ra quyết định kết thúc việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản.

    Báo cáo thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải được gửi cho

    Toà án đã quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp

    Cục quản lý thi hành án

    Cơ quan đăng ký kinh doanh để xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh

    Quy trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Luật Bảo Hiểm
  • Định Nghĩa & Các Nguyên Tắc Trong Bảo Hiểm
  • Doanh Nghiệp Bảo Hiểm Có Quyền Gì? Quyền Của Đại Lý Bảo Hiểm
  • Kinh Doanh Bảo Hiểm Nên Biết Những Điều Sau
  • Khái Niệm Chung Về Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Khái Niệm Về Chi Phí Sản Xuất Kinh Doanh Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Bản Chất Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Chi Phí Sản Xuất Và Các Cách Phân Loại Chi Phí Sản Xuất Chủ Yếu
  • Hộ Sản Xuất Và Vai Trò Của Hộ Sản Xuất Đối Với Với Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Nông Thôn
  • Câu 1: Kinh Tuyến, Vĩ Tuyến Là Gì? Thế Nào Là Kinh Tuyến Gốc, Vĩ Tuyến Gốc? Câu 2: Muốn Xác Định Phương Hướng Trên Bản Đồ Người Ta Làm Như Thế Nào? Câu 3: Cấu Tạo Bên Trong Của Trái Đất Gồm Mấy Lớp? Trong Đó Lớp Nào Là Quan Trọng Nhất? Vì Sao
  • Tiết 3 Tuần 3 Địa Lí 6 Tiet 3 Tuan 3 Dia Li Lop 6 Doc
  • Khái niệm về chi phí sản xuất kinh doanh là gì và phân loại chi phí sản xuất gồm những loại nào

    1/ Khái niệm chi phí sản xuất kinh doanh

    Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác, quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Đồng thời quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hóa, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động. Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất.

    Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí. Tổng số chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị tài sản hao phí hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính vào kỳ này. Chi phí và chi tiêu không những khác nhau về lựợng mà còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí (chi mua nguyên, vật liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu (chi phí trích trước). Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi tiêu và chí phí trong các doanh nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu kỹ thuật hạch toán chúng.

    Có thể kết luận rằng: chi phí sản xuất – kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tổ sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ).

    2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh

    Chi phí sản xuất – kinh doanh có rất nhiều loại, nhiều khoản, khác nhau cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí… trong quá trình kinh doanh. Để thuận lợi cho công tác quán lý và kế toán, cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu khác nhau của quản lý, chi phí sản xuất cũng được phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định.

    Xét về mặt lý luận cũng như trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại chi phí khác nhau như phân theo nội dung kinh tế, theo công dụng theo vị trí, theo quan hệ của chi phí với quá trình sản xuất, v.v… Mỗi cách phân loại này đều đáp ứng ít, nhiều cho mục đích quản lý, kế toán, kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh… ở các góc độ khác nhau. Vì thế, các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lý chi phí sàn xuất và giá thành sản phẩm.

    2.1. Phân theo yếu tố chi phí

    Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh của chi phí, chi phí được phân theo yếu tố. Về thực chất, chỉ có 3 yếu tố chi phí là chi phí về lao động sống, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về tư liệu lao động. Tuy nhiên, để cung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động, việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí, các yếu tố chi phí trên có thể được chi tiết hóa theo nội dung kinh tế cụ thể của chúng. Tùy theo yêu cầu và trình độ quản lý ở mỗi nước, mỗi thời kỳ mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể khác nhau. Theo quy định hiện hành ờ Việt Nam toàn bộ chi phí được chi làm 7 yếu tố chi phí sau:

    – Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ… sử dụng vào sản xuất – kinh doanh (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi

    – Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất – kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).

    – Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân, viên chức.

    – Yếu tố chi phí bảo hiểm, xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn: phản ánh phần bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên.

    – Yếu tố chi phi khấu hao tài sản cố định: phản ảnh tổng số khấu hao tài sản cố định phải ưích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất – kinh doanh trong kỳ.

    – Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất – kinh doanh.

    – Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ.

    2.2. Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sàn phẩm

    Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục. Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Cũng như cách phân loại theo yếu tố, số lượng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm tùy thuộc vào trình độ nhận thức, trình độ quản lý và kế toán ở mỗi nước, mỗi thời kỳ khác nhau.

    Theo quy định hiện hành, giá thành sán phẩm ở Việt Nam bao gồm 5 khoản mục chi phí:

    – Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên, vật liệu chính, phụ, nhiên liệu… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.

    – Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh.

    – Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp).

    Ngoài cách phân loại trên, chi phí kinh doanh còn được phân theo nhiêu cách khác nhau như phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc hoàn thành; phân theo quan hệ của chi phí với quá trình sản xuất… Các cách phân loại này đã được đề cập đến trong kế toán quản trị.

    Bài viết trước: Chi phí dịch vụ khách sạn gồm những gì

    Các bài viết mới

    Các tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Cách Phân Loại Chi Phí Sản Xuất Kinh Doanh
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Hiệu Quả Kinh Doanh Xuất Khẩu Tại Công Ty Xuất Nhập Khẩu Tạp Phẩm Hà Nội
  • Khái Niệm, Phân Loại Về Hiệu Quả Kinh Doanh
  • Sửa Đổi, Bổ Sung Nghị Định Về Kinh Doanh Xăng Dầu
  • Kinh Doanh Xăng Dầu Sẽ Sửa Đổi Những Gì?
  • Khái Niệm Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Giá Trị Thông Thường, Giá Xuất Khẩu
  • Kim Ngạch Xuất Khẩu Là Gì? Tỉ Trọng Của Kim Ngạch Tại Việt Nam
  • Tổng Giá Trị Kinh Tế (Total Economic Value) Là Gì?
  • Kế Toán Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ
  • Tài Khoản 133 Thuế Giá Trị Gia Tăng Được Khấu Trừ
  • Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn ….)

    Đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị hoạt động trong nền , với các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiệm vụ mục tiêu hoạt động khác nhau. Ngay trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng có các mục tiêu khác nhau. Nhưng có thể nói rằng trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn…) đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này mọi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp thích ứng với các biến động của thị trường, phải thực hiện việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh, phải kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời phải tổ chức thực hiện chúng một cách có hiệu quả.

    Trong qúa trình tổ chức xây dựng và thực hiện các hoạt động quản trị trên, các doanh nghiệp phải luôn kiểm tra ,đánh giá tính hiệu quả của chúng. Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể không thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) là gì ? Để hiểu được hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung là gì. Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế :

    – Theo P. Samerelson và W. Nordhaus thì : “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa.

    – Có một số tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí. Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quy trình kinh tế.

    – Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông : “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh tế.

    – Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg…) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu…) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật”, “Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị” và “Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền” Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí.

    – Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và sử dụng phổ biến đó là : hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một qúa trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp như sau : hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.

    Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các chuyên gia kế toán của Kế toán 68 qua Tổng đài tư vấn:

    Mr Thế Anh : 0981 940 117

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Hiệu Quả Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Thuế Gtgt
  • Phương Pháp Xác Định Trị Giá Hải Quan Đối Với Hàng Hóa Nhập Khẩu
  • Xác Định Trị Giá Hải Quan Theo Phương Pháp Suy Luận
  • Trị Giá Hải Quan Hàng Xnk
  • Khái Niệm Về Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Khách Du Lịch Và Nghiên Cứu Thống Kê Khách Du Lịch
  • Khái Niệm Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch Hiện Nay
  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch
  • Khái Niệm Về Du Lịch Và Loại Hình Du Lịch
  • Khái Niệm Du Lịch Và Khách Du Lịch
    • Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích.
    • Quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm.
    • Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.
    • Quan điểm lý thuyết hệ thống: doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội.

    “Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng”.

    Những đặc điểm họat động của doanh nghiệp nói chung

    • Mang chức năng sản xuất kinh doanh.
    • Tối đa hóa lợi nhuận là mục têu kinh tế cơ bản, bên cạnh các mục tiêu xã hội.
    • Phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển.

    Các loại hình doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước

    Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội do nhà nước giao.

    Doanh nghiệp tư nhân

    Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp mà trong đó, tài sản của nó là thuộc sở hữu một cá nhân duy nhất.

    Doanh nghiệp chung vốn hay Công ty

    Đây là loại hình doanh nghiệp mà các thành viên sẽ cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty. Có 02 hình thức công ty chính là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Ngoài ra còn có một hình thức công ty khác là công ty dự phần. Công ty loại này không có tài sản riêng, không có trụ sở riêng và thông thường hoạt động của nó dựa và tư cách pháp nhân của một một trong các thành viên.

    Hợp tác xã là 01 tổ chức kinh tế tự chủ do người lao động có nhu cầu và lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn đầu tư, góp sức lập ra theo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Doanh Nghiệp Và Phân Loại Doanh Nghiệp
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Hệ Cơ Sở Dữ Liệu
  • Khái Niệm Và Nguyên Tắc Xây Dựng Cơ Sở Dữ Liệu Quốc Gia Về Giá
  • Cơ Sở Dữ Liệu Và Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Cơ Sở Dữ Liệu
  • Khái Niệm Về Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Lực Lượng Sản Xuất
  • Khái Niệm Dịch Vụ Logistics
  • Khái Niệm Logistics Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Khái Niệm Chung Về Logistics
  • Luật Hành Chính Là Gì? Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính?
  • Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là qui luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng đất nước của mỗi quốc gia. Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đều có ảnh hưởng rất lớn tơí nền kinh tế. Sự tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển. Nói cách khác Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế. Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội được chuyển sang một chất mới. Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau. Mà phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng. Đó cũng chính là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Do vậy, quy luật trên trước hết là quy luật kinh tế nhưng hơn thế nữa nó con là quy luật cơ bản nhất của toàn bộ đời sống xã hội của lịch sử nhân loại bởi vì nó là quy luật của bản thân phương thức sản xuất. Sự tác động của quy luật này dẫn tới sự thay đổi của phương thức sản xuất và kéo theo sự thay đôỉ cua toàn bộ đời sống xã hội. Với những lý do trên, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa hết sức to lớn. Tuy nhiên, việc nắm bắt được quy luật này không phải là đơn giản, nhận biết được một quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn của sản xuất và kinh nghiệm bản thân. Với những chính sách, đường lối và chủ trương đúng đắn, nắm bắt tốt quy luật của đảng và nhà nước, nền kinh tế, đặc biệt là kinh nhiều thành phần đã phát triển mạnh mẽ, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển thành nước sản xuất nông nghiệp tiên tiến; góp phần đẩy nhanh nền kinh tế nước nhà đi sang một hướng khác, sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới. II- A/ Khái niệm về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: 1/ Lực lượng sản xuất: Để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất và kỹ thuật nhất định. Tổng thể các nhân tố đó là lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người trinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình suức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con người. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và kỹ năng lao động và tư liệu sản xuất. Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất thì tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao. Còn trong tư liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất. Bởi vậy khi công cụ lao động đã đạt đến trình độ tin học hoá được tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng. Trong mọi thời đại công cụ sản xuất luôn là yếu tố đông nhất của lực lượng sản xuất. Chính sự chuyển đổi cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây lên những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất. Trình độ phát triển công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Tuy nhiên LêNin viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động” có thể cói yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là con người. Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nó vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại thay đổi về chất cho lực lượng sản xuất. Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất nó hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại. 2/ Khái niệm về quan hệ sản xuất: Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con người phải có mối quan hệ với nhau. Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất. Nói cách khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất. Trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu. Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai. Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội. Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:  Quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế độ sở hữu. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác. Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử đã được chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng. Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất và trong đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác giúp đỡ nhau. Ngược lại trong các chế độ tư hữu do tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít người các quan hệ xã hội do vậy bất bình đẳng.  Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giưuã người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải. Trong hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội.  Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt trẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát triển của xã hội. Nêu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chung không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội mới. B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: 1/ Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất: a/ Tính chất: Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tu liệu sản xuất và lao động. Khi nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông, lực lượng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân. Khi trình độ sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải được vận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá. Tính chất tự cấp tự túc cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xã hội hoá. b/ Trình độ của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của phương thức sản xuất: Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người trong giai đoạn đó. Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con người và trình độ phân công lao động. Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau. B/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiên mối quan hệ mang tính chất biện chứng. Chính sự thống nhất và tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển. Ngược lại quan hệ sản xuất thường có tính ổn định trong một thời gian dài. Sự biến đội của lực lượng sản xuất có nhiều nguyên nhân:  Bản thân người lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không ngừng tích luỹ và tăng lên.  Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.  Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản xuất được. Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có. Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới. Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ sản xuất hiện có không phải là tự thân mà phải thông qua một phương thức chính trị và pháp quyền mà phương thức pháp quyền là trực tiếp. Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ đây trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó như CácMác đã nhận định “Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những quan hệ ấy trở thàng những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách mạng xã hội”Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Thực tiễn cho thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó. quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhưng còn lực lượng sản xuất người không phát hiện được cũng như mâu thuẫn được phát hiện mà không giải quyết được hoặc giải quyết một cách sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực lượng sản xuất. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta không nên tuyệt đối hoá vai trò của lực lượng sản xuất mà bỏ qua sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với nó khi giữa chúng có sự phù hợp. Đôi khi sự phát triển chệch hướng của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là do yếu tố chủ quan, chứ không phải do tính chất đặc thù của quy luật đó. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, nó là yếu tố quyết định là tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu bước đi và tạo quy mô thích hợp cho lực lượng sản xuất hoạt động, cũng như đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động phát huy tính tích cực sáng tạo cho con người là nhân tố quan trọng và quyết định trong lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội quy định phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất áp dụng thành tựu khoa học và sản xuất hợp tác phân công lao động. C/ Sự vận dụng quy luật vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Sự nghiệp đã đổi mới của Việt Nam được bắt đầu ngay từ giữa những năm 80 và được triển khai mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực từ đó đến nay. Quá trình đổi mới đã đưa lại nhiều thành tựu to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào việc giải quyết chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng như sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Việt Nam đã xây dựng chủ nghĩa xã hội được hơn 30 năm ở miền Bắc và hơn 10 năm trên phạm vi toàn quốc nếu tính đến thời điểm bắt đầu đổi mới. Ngôi nhà xã hội chủ nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng có thể có nhiều đặc trưng, nhưng có hai đặc trưng chất lượng quan trọng nhất mà dứt khoát chúng ta phải đặt đến, đó là vừa giàu có hơn, vừa công bằng hơn so với trong chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội thì nền kinh tế sản xuất của nước ta lại chậm phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Sự khó khăn này có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là: không nắm vững quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nghị quyết Đại hội VIII đã chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm: Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp. Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu… không đạt chỉ tiêu đề ra. Nhìn chung, năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêu thụ trong cả nước và nước ngoài. Hệ thống tài chính-ngân hàng còn yếi kém và thiếu lành mạnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, đầu tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều. Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành công tác này còn nhiều vướng mắc và thiếu sót. Quan hệ một số mặt chưa phù hợp. Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chỉ đạo, chưa có chuyển biến đáng kể trong việc sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước. Một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao. Các hoạt động khoa học và công nghệ chưa được đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển. Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi. Nhiều cấp, ngành chưa thay thế, sửa đổi những quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp, chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa, nhà nước ta đã không thấy rõ bước đi có tính quy luật trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất là theo đường lốiđẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là đưa quan hệ sản xuất đi trước để tạo địa bàn rộng rãi, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó là hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. để khắc phục những mâu thuẫn có thể phát sinh đòi hỏi phải thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Những chính sách mới của đảng và nhà nước đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển một cách mạnh mẽ.Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đưa nền kinh tế nước ta sang một bước đi mới. Mọi người được tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trước pháp luật…Tất cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nước nhà. Để làm rõ hơn về nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ, chúng ta sẽ đi phân tích nền sản xuất nông nghiệp trong thời gian này. tại đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã nhận định:”…Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ của lực lượng sản xuất ( Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb sự thật, HN, 1987, tr.57). Trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội phải kể đến yếu tố chủ quan của việc đảng lãnh đạo, Nhà nước phát động tính tích cực xã hội của quần chúng bằng những lợi ích vật chất và tinh thần yêu nước vốn có của họ. Tuy nhiên, theo nhận định trên của đảng, ta thấy rằng, không thể cho rằng những yếu tố tiên tiến của quan hệ sản xuất mãi là tiền đề sự thúc đẩy phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chúng chỉ tác động tích cực trong một thời gian ngắn và cuối cùng, vẫn phải tuân thủ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thực trạng nền sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian chuẩn bị vào những năm đầu bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã làm rõ nhận định trên của đảng. Tại thời điểm đó nền sản xuất nông nghiệp không ổn định, nhiều nơi, nhiều vùng nông thôn bị đói kém. Khi đó có người cho rằng, nguyên nhân sản xuất chậm phát triển là do giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mâu thuẫn. Mâu thuẫn đó thể hiện giữa một bên là yêu cầu phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất theo hướng tất yếu chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn với một bên là chế độ sở hữu phân tán. Trong sản xuất nông nghiệp, sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã tạo ra cơ chế quản lý với nhiều hình thức sản xuất nông nghiệp mới phù hợp với những quan điểm đổi mới không ngừng của Đảng và nhờ đó, tạo ra sự biến đổi mới trong các Hợp tác xã nông nghiệp trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất. Điều đó càng khẳng định ý nghĩa to lớn của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nhưng dựa vào tiêu chuẩn nào để khẳng định rằng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trước hết sự phù hợp đó thể hiện ở chỗ, hiệu quả sản xuất ngày càng cao (năm sau cao hơn năm trước), mặc dù đất bị thiên tai nhiều bề và ít nhiều chịu ảnh hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Điều quan trọng nữa, khi nói quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất không thể không nhìn vào đời sống của nông dân, thực tế cho thế qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng đề ra, đời sống của nông dân từng bước được nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập của con em nông dân cũng khá hơn trước. Như vậy thực trạng nền kinh tế có phát triển không? Lực lượng sản xuất có phát triển không đó chính là tiêu thức để đánh giá sự phù hợp của quan hệ sản xuất vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Một quy luật có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế của mỗi quốc gia. 1/ Kết luận: Quy luật của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật hết sức phổ biến. Tuy nhiên không phải bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp đó. Do vậy, phải nắm bắt tốt quy chúng ta có thể áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất còn là quy luật phổ biến trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế phát triển đi lên của lịch sử loài người từ chế độ công xã nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lãnh Thổ Quốc Gia Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Lãnh Thổ Quốc Gia
  • Khái Niệm Nguồn Nhân Lực Và Quản Trị Nguồn Nhân Lực
  • Khái Niệm Bạo Lực Và Bạo Lực Gia Đình
  • Lực Là Gì, Lực Tiếng Anh Nghĩa?
  • Định Nghĩa Lực Là Gì? Lực Hấp Dẫn, Lực Đàn Hồi, Lực Ma Sát Trong Vật Lý
  • Luật Doanh Nghiệp (Sửa Đổi): Đề Xuất Thay Đổi Khái Niệm Về Doanh Nghiệp Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm Công Ty Hợp Danh
  • Dịch Vụ Thành Lập Công Ty Tại Hưng Yên
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Công Ty Tnhh Hai Thành Viên Trở Lên
  • Quy Định, Khái Niệm Về Người Quản Lý Doanh Nghiệp
  • Người Quản Lý Doanh Nghiệp
  • Theo tờ trình của Chính phủ, dự thảo luật đã sửa đổi quy định về DNNN theo DN có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước được cụ thể hóa bằng tiêu chí Nhà nước “sở hữu trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết” của DN đó. Theo đó, DN mà Nhà nước có cổ phần, phần vốn góp chi phối là công ty TNHH hoặc công ty cổ phần mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

    Về hộ kinh doanh, dự thảo luật tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của “hộ kinh doanh” là một hình thức kinh doanh, bên cạnh các loại hình DN tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần; đảm bảo sự đa dạng hình thức kinh doanh, trao thêm quyền cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp; không ép buộc hành chính hộ kinh doanh phải chuyển thành DN hoặc xóa bỏ hình thức hộ kinh doanh.

    Đồng thời, dự thảo quy định rõ địa vị pháp lý và trách nhiệm dân sự của hộ kinh doanh phù hợp với quy định của Bộ Luật dân sự; bãi bỏ hạn chế của quy định hiện hành đối với hộ kinh doanh, như: chỉ được sử dụng dưới 10 lao động; bổ sung quy định về chuyển đổi hộ kinh doanh thành DN nhằm khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành công ty.

    Tại báo cáo thẩm tra, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đánh giá việc thay đổi khái niệm DNNN như quy định tại dự thảo luật là một vấn đề lớn, quan trọng, nên đề nghị đánh giá kỹ tác động của việc thay đổi khái niệm DNNN tới hoạt động của các DN sẽ trở thành DNNN theo quy định của dự thảo luật này.

    Đồng thời, nghiên cứu bổ sung quy định điều khoản chuyển tiếp; bổ sung quy định việc xử lý đối với các DN sẽ trở thành DNNN sau khi Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) có hiệu lực thi hành nhằm tránh gây xáo trộn, khó khăn không cần thiết cho hoạt động của DN.

    Về quy định về tỷ lệ sở hữu vốn góp hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Nhà nước tại dự thảo luật (trên 50%), Ủy ban Kinh tế cho rằng, quy định này chưa bảo đảm sự chi phối của Nhà nước đối với các quyết định quan trọng, chi phối hoạt động của DN, bao gồm việc thông qua nghị quyết của hội đồng thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên và nghị quyết của đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần.

    Do vậy, Ủy ban Kinh tế đề nghị nghiên cứu, xác định tỷ lệ nắm giữ vốn góp hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của Nhà nước phù hợp (tỷ lệ thấp nhất là 75%), bảo đảm được sự chi phối của Nhà nước trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của DN, đồng thời hài hòa với quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên góp vốn, cổ đông khác nhằm tạo thuận lợi trong việc thực hiện mục tiêu cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước tại DN.

    Ban hành nghị định về hộ kinh doanh trước khi đưa vào luật

    Về hộ kinh doanh, cơ quan thẩm tra đồng tình việc hoàn thiện khung khổ pháp lý đối với hộ kinh doanh là cần thiết. Trong thực tiễn hộ kinh doanh là một hình thức kinh doanh cùng tồn tại với các loại hình công ty và DN khác và người dân có quyền lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp. Hộ kinh doanh là đối tượng cần có sự quản lý của nhà nước, cần có địa vị pháp lý để được tiếp cận chính sách của nhà nước để phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, tuân thủ pháp luật.

    Tuy nhiên, việc đưa hộ kinh doanh vào dự thảo luật là một vấn đề lớn, phạm vi rất rộng, cần đánh giá kỹ tác động, lấy ý kiến rộng rãi của đối tượng chịu tác động. Do đó, Ủy ban Kinh tế đề nghị nghiên cứu, ban hành một nghị định riêng về hộ kinh doanh, bảo đảm khuyến khích, quản lý hộ kinh doanh để họ phát triển sản xuất kinh doanh theo năng lực và tuân thủ pháp luật, khi đủ điều kiện sẽ xây dựng một luật riêng về hộ kinh doanh.

    Nghị định này được đề nghị xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các nội dung về hộ kinh doanh đã được quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký DN, quy định cụ thể hơn về khái niệm, loại hình, đối tượng được thành lập, nghĩa vụ đăng ký, chủ hộ và các thành viên, quyền và nghĩa vụ (thuế, lao động, bảo hiểm xã hội, môi trường…) của hộ kinh doanh; quy định về tạm ngừng, chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh; quy định về quản trị, kế toán, theo hướng đơn giản, thuận lợi về thủ tục hành chính.

    Bên cạnh đó, trên thế giới hiện nay chỉ có hai nước có quy định pháp lý về hộ kinh doanh, do vậy để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành DN, Ủy ban Kinh tế đề nghị rà soát, bổ sung quy định chặt chẽ nghĩa vụ của hộ kinh doanh, phù hợp với quy định của Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa trong việc hỗ trợ chuyển đổi hộ kinh doanh thành DN./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Phục Hồi Doanh Nghiệp Theo Luật Phá Sản 2014, Hay
  • Luận Văn: Thủ Tục Phục Hồi Trong Pháp Luật Phá Sản Ở Việt Nam
  • Trình Tự Phục Hồi Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Phát Triển Văn Hóa Doanh Nghiệp Ở Việt Nam: Đề Xuất Khái Niệm Và Mô Hình Nghiên Cứu
  • Để Phát Triển Bền Vững, Doanh Nghiệp Cần Gì?
  • Phương Thức Sản Xuất – Quản Lý Sản Xuất Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Phương Thức Sản Xuất Dây Chuyền Là Gì?
  • Liệu Pháp Yoga (Yoga Therapy) Là Gì? Và Liệu Pháp Yoga Mang Lại Những Gì Cho Bạn?
  • Yoga Là Gì? Những Kiến Thức Cần Biết Cho Người Mới Tập Yoga !
  • Cổng Của Phòng Thương Mại Và Công Nghiệp Việt Nam
  • Quản Lý Khách Sạn Là Gì, Cần Những Yếu Tố Nào, Có Khó Không?
  • Published by admin

    Phương thức sản xuất

    Phương thức sản xuất (tiếng Đức: Produktionsweise) là một khái niệm trong học thuyết duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx. Nó có nghĩa nôm na là “cách thức của sản xuất”. Theo Karl Marx, nó là tổ hợp hữu cơ cụ thể của:

    • Lực lượng sản xuất: bao gồm lực lượng lao động, công cụ và thiết bị lao động, nhà xưởng, công nghệ, nguyên vật liệu và đất đai được sử dụng.
    • Quan hệ sản xuất bao gồm các quan hệ sở hữu, các quan hệ kiểm soát và phân chia các tài sản đã được sản xuất trong xã hội, thông thường được đưa ra trong các hình thức của luật, lệ và các quan hệ giữa các giai cấp xã hội.

    Phương thức sản xuất dự trù hàng hóa

    phương thức dựa trên cơ sở dự đoán nhu cầu của thị trường để sản xuất hàng hóa

    một cách có kế hoạch, dự trữ và cung cấp đúng lúc khách hàng cần.

    Lượng

    khách hàng đặt lượng sản phẩm theo quy cách riêng rất ít, thường là sản xuất

    luân phiên một cách tiêu chuấn hóa với một số lượng lớn hàng hoá. Năng suất

    phương pháp này là khá cao nhưng trước hết phải có khả năng dự  đoán một cách chính xác nhu cầu của khách

    hàng và đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm. Nếu không năng suất lao động cao,

    lượng ứ đọng ngày càng nhiều, hiệu quả doanh nghiệp ngày càng kém. Để có giải

    pháp tốt cho vấn đề này là ngăn chặn ứ đọng và cạn hàng vì vây cần cân bằng

    trong tổ chức quản lý sản xuất.

    Phương thức sản xuất theo đơn đặt hàng

    phương thức mà sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng rồi mới tiến hành

    sản xuất, bao gồm các công đoạn: Thiết kế, nhập nguyên liệu, chế tạo và giao

    hàng theo yêu cầu cụ thể của họ.

    Do

    sản xuất theo nhu cầu của khách hàng nên sản phẩm không được tiêu chuẩn hóa, thời

    gian giao hàng có thể không giống nhau, hợp đồng đặt hàng quy định thời gian

    giao hàng là khi sản xuất ra thành phẩm lập tức giao hàng ngay vì vậy không có

    cồn kho. Trọng điểm của việc tổ chức sản xuất là thời gian giao hàng. Cần có sự

    kết nối giữa các khâu trong quá trình sản xuất theo chu kỳ. Phương thức sản xuất

    này có thể dựa trên cac giai đoạn:

    • Phương thức lắp ráp theo đơn đặt hàng: Là

      phương thức sản xuất bán thành phẩm trước để dự trù, sau đó căn cứ nhu cầu của

      khách hàng để lắp ráp thành các sản phẩm khác nhau.

    • Phương thức chế tạo theo đơn đặt hàng: Là

      phương thức tiến hành chế tạo theo nhu cầu của khách hàng. Do sản phẩm được thiết

      kế sẵn nên công tác chuẩn bị sản xuất như muanguyên vật liệu, gia công linh kiện

      phụ tùng có thể thực hiên tốt theo kế hoạch dựa trên dự đoán thị trường. Trọng

      tâm của việc tổ chức sản xuất là tăng cường tính hiệu quả của công tác dự tính,

      rút ngắn thời gian mua nguyên vật liệu trước và rút ngắn chu kỳ sản xuất.

    • Phương thức thiết kế công trình cho đơn đặt

      hàng: Tổ chức sản xuất là làm thế nào để rút ngắn chu kỳ thiết kế, nâng cao

      trình độ tiêu chuẩn hóa, thông dụng hóa linh kiện sản  phẩm.

    Phương thức sản xuất dây chuyền, sản xuất đơn lẻ, sản xuất hàng loạt

    Dựa

    trên cơ sở phương thức lưu thông của nguyên vật liệu và mức độ xử lý tập trung

    trong quá trình gia công có thể chia phương thức sản xuất cửa doanh nghiệp

    thành: Sản xuất theo dây chuyền, sản xuất đơn lẻ số lượng nhỏ, sản xuất luân

    phiên số lượng nhỏ.

    Sản xuất dây chuyền

    Tiến

    hành sản xuất liên tục, lặp đi láp lại một số lượng lớn sản phẩm cảu một hoặc một

    vài chủng sản phẩm giống nhau trong một thời gian dài.

    Ưu

    điểm:

    • Hiệu suất cao, trình độ thao tác công việc

      của công nhân cao

    • Kế hoạch làm việc đơn giản
    • Đảm bảo chất lượng sản phẩm
    • Giá thành sản xuất tương đối thấp

    Trọng

    điểm của tổ chức sản xuất là việc cung ứng nguyên vật liệu, bảo dưỡng thiết bị,quản

    lý chặt chẽ đối với công nhân và quản lý chất lượng sản phẩm.

    Sản xuất đơn lẻ

    phương thức sản xuất sau khi nhận được đơn hàngđơn lẻ hoặc số lượng nhỏ mới tiến

    hành tổ chức sản xuất.

    Đặc

    điểm:

    • Chủng loại sản phẩm da dạng, thiết bị gia

      công hầu như thông dụng

    • Số lượng đặt hàng cho mỗi lần ít
    • Kế hoạch làm việc phức tạp, độ khó cao,

      giám sát công việc khó khăn

    Cách

    tổ chức sản xuất

    • Phải có sự phối hợp giữa các bộ phận: Sản xuất, vật tư, khoa học công nghệ,.. với nhau một cách có hiệu quả, vận hành hoàn chỉnh.
    • Xác định thời gian giao hàng một cách hợp lý
    • Nâng cao mức độ thông dụng hóa các linh kiện
    • Cải tién hình thức tổ chức quá trình sản xuất

    Sản xuất hàng loạt

     Là phương thức chung gian giữa hai phương thức

    sản xuất dây chuyền và phương thức sản xuất đơn lẻ. Số lượng theo lô nhiều hay

    ít ảnh hưởng đến: Chu kỳ sản xuất, lượng hàng tồn kho bán thành phẩm, thời gian

    chuyển đổi công việc.

    Ưu

    điểm:

    • Rút ngắn thời gian chuyển đổi công việc
    • Khống chế tỉ lệ số lượng linh kiện và bán

      thành phẩm

    • Từng bước thay dổi tổ chức quá trình sản

      xuất phù hợp

    Categorised in: Chuyên Mục

    This post was written by admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Sản Xuất Là Gì? Phương Pháp Quản Lý Sản Xuất Hiệu Quả
  • Những Điều Cần Biết Về Viêm Âm Đạo Phụ Nữ Ai Cũng Từng Mắc
  • Máy Phân Tích Xrf Kiểm Tra Thành Phần Hóa Học Kim Loại Nặng Độc Hại – Máy Kiểm Tra Chất Lượng
  • Chuẩn Hóa Kết Quả Western Blot
  • Western Blot Và Một Số Lưu Ý
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100