Bazơ Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm

--- Bài mới hơn ---

  • Oop Là Gì? Các Nguyên Lý Cơ Bản Của Lập Trình Hướng Đối Tượng
  • 3 Dạng Bài Tập Cân Bằng Phản Ứng Oxi Hóa Khử Cơ Bản Nhất
  • Đặc Điểm Của Quan Hệ Luật Dân Sự
  • Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Pháp Luật Dân Sự
  • Một Số Kinh Nghiệm Pháp Luật Của Cộng Hòa Pháp Liên Quan Đến Cấu Trúc Bộ Luật Dân Sự, Tài Sản Và Sở Hữu
  •  Bazơ là hợp chất hóa học mà trong đó phân tử gồm có một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm hidroxit.

    Có công thức chung dạng B(OH)n trong đó:

    • B là môt kim loại
    • n là hóa trị của kim loại.

    Cách đọc tên bazơ

    Tên bazơ = tên kim loại (được thêm hóa trị nếu kim loại có nhiều hóa trị) + hidroxit

    Ví dụ: Al(OH)3 : nhôm hidroxit

    Fe(OH)2: Sắt (II) hidroxit

    Fe(OH)3: Sắt (III) hidroxit

    Phân loại bazơ

    Dựa vài tính tan mà người ta chia bazơ làm hai loại là:

    • Bazơ tan trong nước tạo dung dịch kiềm như: NaOH, KOH, LiOH,  Ca(OH)2, Ba(OH)2,…

    • Bazơ không tan trong nước: Cu(OH)2, Mg(OH)2, Fe(OH)3,…

    Tính chất vật lý của Bazơ

    • Bazơ nồng độ cao và bazơ mạnh có tính ăn mòn chất hữu cơ và tác dụng mạnh với các hợp chất axit.

    • Bazơ sẽ gây ra cảm giác nhờn hoặc một số nhớt và có mùi

    • Có vị đắng.

    Tính chất hóa học của bazơ

    Đổi màu chỉ thị

    *Thí nghiệm 1: Nhỏ 1 giọt dung dịch NaOH lên 1 mẩu quỳ tím.

    Nhận xét: giấy quỳ đổi từ màu tím sang xanh.

    *Thí nghiệm 2: nhỏ 1 giọt dung dịch NaOH và dung dịch phenolphtalein không màu.

    Nhận xét: Dung dịch phenolphtalein không màu chuyển sang màu hồng.

    Hiện tượng cũng giống như vậy khi thực hiện tương tự với các dung dịch bazơ khác.

    Kết luận: Các dung dịch bazơ (kiềm) làm đổi màu chỉ thị:

    • Quỳ tím thành màu xanh.
    • Dung dịch phenolphtalein không màu thành màu hồng.

    Tác dụng với axit

    Tính chất hóa học này đều đúng cho bazơ tan và bazơ không tanChúng đều tác dụng với dung dịch axit tạo muối và nước. Phản ứng này còn gọi là phản ứng trung hòa.

    Tác dụng với oxit axit

    Dung dịch bazơ (kiềm)  tác dụng với dung dịch axit tạo thành sản phẩm muối và nước.

    Tác dụng với muối

    Dung dịch bazơ tác dụng với một số dung dịch muối để tạo thành muối mới và bazơ mới.

    Điều kiện để phản ứng xảy ra đó là sản phẩm tạo thành có một chất không tan.

    Bazơ không tan bị nhiệt phân hủy

    Bazơ không tan bị nhiệt phân hủy tạo thành oxit và nước.

    Lưu ý: Trong các tính chất ở trên, có một số tính chất chỉ xảy ra với dung dịch bazơ và một số chỉ xảy ra với bazơ không tan và xảy ra với cả hai loại bazơ. 

    Ứng sụng của bazơ trong đời sống

    Trong ngành công nghiệp hóa chất, dược: Được sử dụng để sản xuất hay bán các sản phẩm có chứa gốc Sodium như Sodium phenolate (sản xuất thuốc Aspirin), Sodium hypochlorite (Javen ) làm chất tẩy trắng, chất khử trùng, ….

    Được sử dụng làm hóa chất để xử lý đối với gỗ, tre, nứa,…để làm nguyên liệu sản xuất giấy dựa theo phương pháp Sulphate và Soda.

    Trong ngành công nghiệp dệt, nhuộm: Nhiều bazơ được sử dụng để làm chất phân hủy pectins, sáp trong khâu xử lý vải thô, khiến cho vải thêm bóng và nhanh hấp thụ màu cho vải nhuộm.

    Sử dụng bazơ để pha chế dung dịch tẩy rửa chai lọ, các thiết bị trong các nhà máy bia. Hoặc là dùng để pha chế dung dịch Kiềm nhằm xử lý rau, hoa quả trước khi chế biến hoặc đóng hộp chúng,…

    Một số bazơ quan trọng

    Natri hidroxit NaOH

    Natri hidroxit trong tự nhiên là chất rắn không màu, hút ẩm mạnh, tan nhiều trong nước và tỏa nhiệt. Dung dịch natri hidroxit có tính nhờn, làm bục vải và ăn mòn da.

    • Natri hidroxit có đầy đủ các tính chất của một dung dịch bazơ điển hình đã nêu.
    • Natri hidroxit có nhiều ứng dụng trong đời sống và công nghiệp như dùng làm nguyên liệu để sản xuất xà phòng, chất tẩy rửa, sản xuất giấy, sản xuất tơ nhân tạo,…
    • Sản xuất NaOH trong công nghiệp :

    Canxi hidroxit

    • Dung dịch canxi hidroxit Ca(OH)2 có tên gọi thông thường là nước vôi trong. Ca(OH)2 tan ít trong nước.

    • Dung dịch canxi hidroxit Ca(OH)2 có các tính chất của một bazơ tan.

    • Canxi hidroxit có nhiều ứng dụng trong cả công nghiệp và đời sống. Nó được dùng làm vật liệu xây dựng, khử chua đất trồng hoặc dùng trong khử độc chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt. 

    Người đăng: hoy

    Time: 2022-09-21 14:56:32

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Về Nhóm Oxi
  • Hóa Trị Và Số Oxi Hóa
  • Cách Xác Định Số Oxi Hoá Và Hoá Trị Của 1 Nguyên Tố Trong Hợp Chất
  • Nhân Cách Và Con Đường Hình Thành Phát Triển Nhân Cách Con Người Thời Đại Mới Theo Quan Điểm Của Bác Hồ
  • Ii Phần Tiếng Việt 1Hiểu Được Các B…
  • Khái Niệm Oxit Axit Bazơ Muối Là Gì? Dinhnghia.vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Fifo Là Gì Lifo Là Gì
  • Cc Là Gì? Cc Được Dùng Như Thế Nào Trong Các Lĩnh Vực Trong Cuộc Sống?
  • Nghiệp Vụ Là Gì? Một Số Nghiệp Vụ Cơ Bản Theo Ngành Nghề
  • Review Son Bl Secret Về Thẩm Mỹ Và Chất Lượng Sản Phẩm!
  • #1 Marketing Là Gì? 9 Định Nghĩa Cơ Bản Về Marketing Bạn Nên Biết
  • Số lượt đọc bài viết: 14.883

    Khái niệm oxit axit bazơ muối

    Oxit là hợp chất giữa oxi và một nguyên tố khác. Công thức tổng quát của oxit là (M_{x}O_{y}). Trong thành phần cấu tạo của oxit sẽ có hai nguyên tố và một trong số đó là oxi.

    Ví dụ khi ta đốt cháy P trong oxi sẽ tạo thành hợp chất (P_{2}O_{5}) là một oxit.

    Oxit được chia thành 2 loại, đó là oxit axit và oxit bazơ.

    Bên cạnh oxit axit, chúng ta cũng không thể bỏ qua oxit bazơ. Định nghĩa oxit bazơ là các oxit của kim loại và tương ứng với một bazơ. Ví dụ như (Al_{2}O_{3}, Na_{2}O, CaO…)

    Axit là hợp chất gồm một hay nhiều nguyên tử Hidro liên kết với các gốc axit. Các gốc axit này có thể được thay thế bằng một nguyên tử kim loại.

    Công thức của Axit (H_{n}A). Trong đó n là số nguyên tử H và A là gốc axit.

    Các loại axit chúng ta thường gặp như (HCl, H_{2}SO_{4}, HNO_{3}, H_{3}PO_{4}…) Các axit này đều chứa nguyên tử Hidro nhưng lại có các gốc axit khác nhau. Do đó, tính chất hóa học của chúng cũng sẽ không giống nhau.

    Bazơ là một hợp chất gồm một nguyên tố kim loại liên kết một hoặc nhiều nhóm hidroxit (OH). Ví dụ về các bazơ thường gặp như (NaOH, Ca(OH)_{2}, Al(OH)_{2}…)

    Từ đó, ta có thể tổng quát công thức chung của bazơ là (M(OH)_{n}) với n phụ thuộc vào hóa trị của nguyên tố kim loại (do nhóm OH luôn có hóa trị bằng 1).

    Bazơ sẽ được chia làm 2 loại, đó là bazơ tan được trong nước hay còn gọi là kiềm và bazơ không tan được trong nước.

    Muối là hợp chất tạo bởi một hay nhiều nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều gốc axit. Công thức tổng quát của hợp chất này là (M_{x}A_{y}). Trong đó M là nguyên tử kim loại và A là gốc axit.

    Ví dụ về các muối thường gặp như (NaCl, ZnCl_{2}, Fe(NO_{3})_{3}, Zn_{2}(SO_{4})_{3}…)

    Muối sẽ được chia thành 2 loại: muối trung hòa và muối axit. Trong đó, muối trung hòa là muối trong gốc axit không có nguyên tử H và muối axit là loại muối trong gốc axit có nguyên tử hidro.

    Cách gọi tên oxit axit bazơ muối

    Đối với oxit, các đọc tên oxit axit và oxit bazơ sẽ không giống nhau,

      Tên oxit bazơ sẽ được đọc là tên kim loại (kèm theo hóa trị) + oxit

    Ví dụ: (Fe_{2}O_{3}) sẽ được đọc là sắt III oxit.

      Tên oxit axit = (Tên tiền tố chỉ số nguyên tử của phi kim) = tên của phi kim + (Tên tiền tố chỉ số nguyên tử oxi) + Oxit.

    Trong đó, các tiền tố sẽ tương ưng là: 1 là mono, 2 là đi, 3 đọc là tri, 4 là tetra và 5 là penta.

    Ví dụ: (SO_{2}) đọc là lưu huỳnh đioxit, (SO_{3}) là lưu huỳnh trioxit…

    Axit sẽ được chia thành các loại khác nhau. Đó là axit có oxi, axit có ít oxi và axit không có oxi. Cách đọc các loại axit khác nhau sẽ khác nhau.

      Axit có oxi sẽ là: Axit + Tên phi kim và cộng với đuôi ic.

    Ví dụ: (H_{2}SO_{4}) là axit sunfuric, (H_{3}PO_{4}) là axit photphoric

      Axit không có oxi: Axit + Tên phi kim cộng với đuôi hiđric

    Ví dụ: HCl đọc là axit clohidric, HF là axit flohidric

      Axit có ít oxi được đọc như sau: Axit + Tên phi kim + ơ

    Ví dụ: (H_{2}SO_{3}) là axit sunfurơ

    So với oxit là axit, cách đọc tên bazơ tương đối đơn giản.

    Một bazơ sẽ có cách đọc là: tên bazơ = Tên kim loại( đọc kèm hoá trị nếu Kim loại đó có nhiều hóa trị) + hiđroxit.

    VD: (Ca(OH)_{2}): Canxi hidroxit, NaOH: natri hidroxit, (Fe(OH)_{3}): sắt (III) hiđroxit.

    Cách đọc tên muối như sau: Tên muối = tên kim loại (kèm theo hoá trị nếu Kim loại đó có nhiều hoá trị) + tên gốc axit.

    VD: (Ca(NO_{3})_{2}) đọc là Canxi nitrat, (MgCl_{2}) là Magie clorua, (Fe_{2}(SO_{4})_{3}) tương ứng với sắt (III) sunfat

    Một số tính chất hóa học cơ bản của oxit axit và oxit bazơ

    Ví dụ: (SO_{3}+H_{2}Orightarrow H_{2}SO_{4})

      Oxit axit tác dụng với dung dịch bazơ tạo ra muối và nước

    Ví dụ: (CO_{2}+Ca(OH)_{2}rightarrow CaCO_{3}+H_{2}O). Trong đó (CaCO_{3}) kết tủa

    Ví dụ: (CO_{2}+Na_{2}Orightarrow Na_{2}CO_{3})

      Oxit bazơ tác dụng với nước để tạo ra dung dịch bazơ

    Ví dụ: (CaO+H_{2}Orightarrow Ca(OH)_{2})

      Oxit bazơ tác dụng với dung dịch axit tạo ra muối và nước

    Ví dụ: (Na_{2}O+2HNO_{3}rightarrow 2Na(NO)_{3}+H_{2}O)

    Ngoài ra, oxit bazơ cũng có thể tác dụng với oxit axit để tạo ra muối.

    Các tính chất hóa học của oxit axit và oxit bazơ cũng là một trong những cách để điều chế axit, bazơ, muối.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Iso Là Gì? Nhiệm Vụ Của Iso?
  • Chết Êm Ái Là Nhân Văn?
  • Thalassemia: Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Hello Bacsi
  • Khởi Nghiệp Là Gì? Và Ý Nghĩa Của Khởi Nghiệp
  • Icloud Là Gì, Tầm Quan Trọng Ra Sao
  • Khái Niệm Oxit Axit Bazơ Muối Là Gì? Một Số Loại Oxit Axit Bazơ Muối Thường Gặp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiện Tượng Mưa Axit Là Gì? Sự Hình Thành, Nguyên Nhân Và Tác Hại
  • Tính Chất Hoá Học Của Crom (Cr), Crom Oxit Và Hợp Chất Của Crom
  • Tính Chất Hóa Học Của Oxit
  • Co2 Là Gì? Tính Chất, Cách Điều Chế, Ứng Dụng & Lưu Ý Khi Sử Dụng C02
  • Tính Chất Hoá Học Của Oxit, Phân Loại Oxit Và Bài Tập
  • Oxit là hợp chất giữa oxi và một nguyên tố khác. Công thức tổng quát của oxit là (M_{x}O_{y}). Trong thành phần cấu tạo của oxit sẽ có hai nguyên tố và một trong số đó là oxi.

    Ví dụ khi ta đốt cháy P trong oxi sẽ tạo thành hợp chất (P_{2}O_{5}) là một oxit.

    Oxit được chia thành 2 loại, đó là oxit axit và oxit bazơ.

    Bên cạnh oxit axit, chúng ta cũng không thể bỏ qua oxit bazơ. Định nghĩa oxit bazơ là các oxit của kim loại và tương ứng với một bazơ. Ví dụ như (Al_{2}O_{3}, Na_{2}O, CaO…)

    Axit là hợp chất gồm một hay nhiều nguyên tử Hidro liên kết với các gốc axit. Các gốc axit này có thể được thay thế bằng một nguyên tử kim loại.

    Công thức của Axit (H_{n}A). Trong đó n là số nguyên tử H và A là gốc axit.

    Các loại axit chúng ta thường gặp như (HCl, H_{2}SO_{4}, HNO_{3}, H_{3}PO_{4}…) Các axit này đều chứa nguyên tử Hidro nhưng lại có các gốc axit khác nhau. Do đó, tính chất hóa học của chúng cũng sẽ không giống nhau.

    Bazơ là một hợp chất gồm một nguyên tố kim loại liên kết một hoặc nhiều nhóm hidroxit (OH). Ví dụ về các bazơ thường gặp như (NaOH, Ca(OH)_{2}, Al(OH)_{2}…)

    Từ đó, ta có thể tổng quát công thức chung của bazơ là (M(OH)_{n}) với n phụ thuộc vào hóa trị của nguyên tố kim loại (do nhóm OH luôn có hóa trị bằng 1).

    Bazơ sẽ được chia làm 2 loại, đó là bazơ tan được trong nước hay còn gọi là kiềm và bazơ không tan được trong nước.

    Muối là hợp chất tạo bởi một hay nhiều nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều gốc axit. Công thức tổng quát của hợp chất này là (M_{x}A_{y}). Trong đó M là nguyên tử kim loại và A là gốc axit.

    Muối sẽ được chia thành 2 loại: muối trung hòa và muối axit. Trong đó, muối trung hòa là muối trong gốc axit không có nguyên tử H và muối axit là loại muối trong gốc axit có nguyên tử hidro.

    Cách gọi tên oxit axit bazơ muối

      Tên oxit bazơ sẽ được đọc là tên kim loại (kèm theo hóa trị) + oxit
      Tên oxit axit = (Tên tiền tố chỉ số nguyên tử của phi kim) = tên của phi kim + (Tên tiền tố chỉ số nguyên tử oxi) + Oxit.

    Đối với oxit, các đọc tên oxit axit và oxit bazơ sẽ không giống nhau,

    Ví dụ: (Fe_{2}O_{3}) sẽ được đọc là sắt III oxit.

    Trong đó, các tiền tố sẽ tương ưng là: 1 là mono, 2 là đi, 3 đọc là tri, 4 là tetra và 5 là penta.

      Axit có oxi sẽ là: Axit + Tên phi kim và cộng với đuôi ic.

    Ví dụ: (SO_{2}) đọc là lưu huỳnh đioxit, (SO_{3}) là lưu huỳnh trioxit…

      Axit không có oxi: Axit + Tên phi kim cộng với đuôi hiđric

    Axit sẽ được chia thành các loại khác nhau. Đó là axit có oxi, axit có ít oxi và axit không có oxi. Cách đọc các loại axit khác nhau sẽ khác nhau.

      Axit có ít oxi được đọc như sau: Axit + Tên phi kim + ơ

    Ví dụ: (H_{2}SO_{4}) là axit sunfuric, (H_{3}PO_{4}) là axit photphoric

    Ví dụ: HCl đọc là axit clohidric, HF là axit flohidric

    Ví dụ: (H_{2}SO_{3}) là axit sunfurơ

    So với oxit là axit, cách đọc tên bazơ tương đối đơn giản.

    Một bazơ sẽ có cách đọc là: tên bazơ = Tên kim loại( đọc kèm hoá trị nếu Kim loại đó có nhiều hóa trị) + hiđroxit.

    VD: (Ca(OH)_{2}): Canxi hidroxit, NaOH: natri hidroxit, (Fe(OH)_{3}): sắt (III) hiđroxit.

    Cách đọc tên muối như sau: Tên muối = tên kim loại (kèm theo hoá trị nếu Kim loại đó có nhiều hoá trị) + tên gốc axit.

    Một số tính chất hóa học cơ bản của oxit axit và oxit bazơ

      Oxit axit tác dụng với dung dịch bazơ tạo ra muối và nước

    Ví dụ: (SO_{3}+H_{2}Orightarrow H_{2}SO_{4})

      Oxit bazơ tác dụng với nước để tạo ra dung dịch bazơ

    Ví dụ: (CO_{2}+Ca(OH)_{2}rightarrow CaCO_{3}+H_{2}O). Trong đó (CaCO_{3}) kết tủa

      Oxit bazơ tác dụng với dung dịch axit tạo ra muối và nước

    Ví dụ: (CO_{2}+Na_{2}Orightarrow Na_{2}CO_{3})

    Ví dụ: (CaO+H_{2}Orightarrow Ca(OH)_{2})

    Ví dụ: (Na_{2}O+2HNO_{3}rightarrow 2Na(NO)_{3}+H_{2}O)

    Các tính chất hóa học của oxit axit và oxit bazơ cũng là một trong những cách để điều chế axit, bazơ, muối.

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 5. Luyện Tập: Tính Chất Hoá Học Của Oxit Và Axit
  • Những Tên Zalo Hay Và Ý Nghĩa Nhất Theo Tâm Trạng Của Bạn
  • Thai Có Yolksac Nghĩa Là Gì? Vai Trò Của Yolksac Với Thai Kỳ?
  • Lâm Sàng: Trong Y Học Nó Nghĩa Là Gì Và Hiểu Thế Nào?
  • Massage Yoni Là Gì? Massage Yoni Nữ Giới Từ A
  • Hiểu Lý Thuyết Bronsted Lowry Về Axit Và Bazơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo, Tính Chất Và Ứng Dụng Của Amino Axit
  • Các Định Nghĩa Về Axit Và Cơ Sở Chính
  • Acid Carboxylic Acidcarboxylic Va Dan Chat Pptx
  • Định Nghĩa Và Ví Dụ Về Chỉ Số Dựa Trên Axit
  • Tiểu Luận Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Dầu Mỡ
  • Lý thuyết axit-bazơ Brønsted-Lowry (hoặc lý thuyết Bronsted Lowry) xác định và bazơ dựa trên việc loài đó chấp nhận hay cho . Theo lý thuyết, một axit và bazơ phản ứng với nhau, làm cho axit tạo thành và bazơ tạo thành của nó bằng cách trao đổi một proton. Lý thuyết được Johannes Nicolaus Brønsted và Thomas Martin Lowry đề xuất một cách độc lập vào năm 1923.

    Về bản chất, lý thuyết axit-bazơ Brønsted-Lowry là một dạng tổng quát của về axit và bazơ. Theo lý thuyết Arrhenius, axit Arrhenius là axit có thể làm tăng nồng độ ion hydro (H ) trong dung dịch nước, trong khi gốc Arrhenius là một loại axit có thể làm tăng nồng độ ion hydroxit (OH ) trong nước. Lý thuyết Arrhenius bị hạn chế vì nó chỉ xác định phản ứng axit-bazơ trong nước. Lý thuyết Bronsted-Lowry là một định nghĩa bao trùm hơn, có khả năng mô tả hành vi axit-bazơ trong nhiều điều kiện hơn. Bất kể dung môi là gì, phản ứng axit-bazơ Bronsted-Lowry xảy ra bất cứ khi nào proton được chuyển từ chất phản ứng này sang chất phản ứng khác.

    Bài học rút ra chính: Lý thuyết axit-bazơ Brønsted-Lowry

    Những điểm chính của lý thuyết Bronsted Lowry

    • Axit Bronsted-Lowry là một loại hóa chất có khả năng tạo ra một proton hoặc cation hydro.
    • Sau khi axit Bronsted-Lowry tặng một proton, nó tạo thành bazơ liên hợp của nó. Axit liên hợp của một bazơ Bronsted-Lowry hình thành khi nó chấp nhận một proton. Cặp axit – bazơ liên hợp có cùng công thức phân tử với cặp axit – bazơ ban đầu, ngoại trừ axit có thêm một H so với gốc liên hợp.
    • Axit và bazơ mạnh được định nghĩa là những hợp chất ion hóa hoàn toàn trong nước hoặc dung dịch nước. Axit và bazơ yếu chỉ phân li một phần.
    • Theo lý thuyết này, nước là chất lưỡng tính và có thể hoạt động như một axit Bronsted-Lowry và bazơ Bronsted-Lowry.

    Ví dụ xác định axit và bazơ Brønsted-Lowry

    Không giống như axit và bazơ Arrhenius, các cặp axit-bazơ Bronsted-Lowry có thể hình thành mà không có trong dung dịch nước. Ví dụ, amoniac và hydro clorua có thể phản ứng để tạo thành amoni clorua rắn theo phản ứng sau:

    Trong phản ứng này, axit Bronsted-Lowry là HCl vì nó tạo ra một hydro (proton) cho NH , bazơ Bronsted-Lowry. Bởi vì phản ứng không xảy ra trong nước và không phải chất phản ứng tạo thành H , đây sẽ không phải là phản ứng axit-bazơ theo định nghĩa của Arrhenius.

    Đối với phản ứng giữa axit clohiđric và nước, thật dễ dàng để xác định các cặp axit-bazơ liên hợp:

    Axit clohydric là axit , trong khi nước là bazơ Bronsted-Lowry. Bazơ liên hợp của axit clohydric là ion clorua, trong khi axit liên hợp với nước là ion hydronium.

    Axit và bazơ được phân tích thấp mạnh và yếu

    Khi được yêu cầu xác định xem một phản ứng hóa học bao gồm axit hoặc bazơ mạnh hay phản ứng yếu, bạn nên nhìn vào mũi tên giữa chất phản ứng và sản phẩm. Một axit hoặc bazơ mạnh phân ly hoàn toàn thành các ion của nó, không để lại các ion không phân ly sau khi phản ứng kết thúc. Mũi tên thường hướng từ trái sang phải.

    Mặt khác, axit và bazơ yếu không phân ly hoàn toàn nên mũi tên phản ứng hướng cả trái và phải. Điều này cho thấy một trạng thái cân bằng động được thiết lập trong đó axit hoặc bazơ yếu và dạng phân ly của nó đều tồn tại trong dung dịch.

    Một ví dụ nếu sự phân ly của axit axetic axit yếu để tạo thành ion hydronium và ion axetat trong nước:

    Một số hợp chất có thể hoạt động như một axit yếu hoặc một bazơ yếu, tùy thuộc vào tình huống. Một ví dụ là hydro photphat, HPO , có thể hoạt động như một axit hoặc một bazơ trong nước. Khi các phản ứng khác nhau có thể xảy ra, các hằng số cân bằng và pH được sử dụng để xác định cách phản ứng sẽ tiến hành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Đạo Hàm Có Hướng Dẫn
  • Bài Tập Định Nghĩa Đạo Hàm Giao An Thao Giang Thang 3 Doc
  • Bài Giảng Giải Tích 2 Chương 1.1 Khái Niệm Đạo Hàm Và Vi Phân, Giới Hạn Và Liên Tục, Đạo Hàm Riêng, Khả Vi Và Vi Phân
  • Đạo Hàm Theo Hướng Và Ứng Dụng
  • Đạo Hàm Thành Phần, Đạo Hàm Có Hướng, Và Gradient
  • I.khái Niệm Về Truyền Thuyết : 1.khái Niệm :

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Định Nghĩa Truyền Thuyết Đô Thị Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Truyền Thuyết Đô Thị
  • Truyện Con Rồng Cháu Tiên Thuộc Thể Loại Văn Học Nào
  • Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị Hành Chính H 498
  • Đảng Bộ Khối Doanh Nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc
  • I.KHÁI NIỆM VỀ TRUYỀN THUYẾT : 1.Khái niệm :

    Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

    2.Phân biệt truyền thuyết với thần thoại và cổ tích : a. Truyền thuyết và thần thoại :

    Tiêu chí nhân vật chính:

    Nhân vật chính trong thần thoại là thần hoặc bán thần. Nhân vật chính trong truyền thuyết giàu nhân tính hơn.

    Tiêu chí nội dung:

    Thần thoại nêu lên khát vọng hiểu biết, khám phá những hiện tượng của vũ thụ, loài người mang tính suy nguyên. Truyền thuyết thuyết tập trung vào những vấn đề xã hội.

    Thời kỳ ra đời:

    Thần thoại ra đời từ thời nguyên thủy. Truyền thuyết ra đời ở xã hội giai đọan sau.

    b.Truyền thuyết và cổ tích Về cốt truyện và nhân vật:

    Ðặc điểm nổi bật của cốt truyện và nhân vật cổ tích là tính hư cấu, tưởng tượng. Cốt truyện và nhân vật truyền thuyết có xu hướng bám sát lịch sử.

    Về nội dung:

    Truyện cổ tích phản ánh những xung đột trong gia đình và xã hội, đặc biệt là trong gia đình phụ quyền và xã hội phong kiến. Truyền thuyết hướng về đề tài lịch sử, nhân vật lịch sử.

    Về kết thúc truyện:

    Truyện cổ tích kết thúc có hậu hoặc không có hậu , nhân vật chính mãi mãi hạnh phúc hoặc trở thành biểu tượng của nhân phẩm. Truyền thuyết thường kết thúc mở, nhân vật vẫn tồn tại và sẽ tham gia vào những sự kiện mới của lịch sử.

    3.Phân kỳ truyền thuyết :

    Cơ sở để phân kỳ truyền thuyết : Dựa vào sự phân kỳ lịch sử xã hội và đặc điểm nội dung, nghệ thuật của truyền thuyết. Cần chú ý phân biệt truyền thuyết về một thời kỳ và truyền thuyết của một thời kỳ. Việc xác định truyền thuyết về một thời kỳ có thể dựa vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm truyền thuyết. Muốn biết truyền thuyết của một thời kỳ nào cần phải biết thời điểm ra đời của tác phẩm. Ðiều nầy là rất khó đối với chúng ta ngày nay.

    Truyền thuyết Việt Nam gồm các thời kỳ sau : Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang, truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc, truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc.

    II.NỘI DUNG TRUYỀN THUYẾT :

    1.Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang :

    Họ Hồng Bàng mở đầu thời kỳ lập quốc của dân tộc ta kéo daì 2622 năm (2879tcn-258tcn) , từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân và các đời Hùng Vương. Theo Ðaị Việt sử ký toàn thưcủa sử thần Ngô Sĩ Liên, cho đến thời vua Hùng cương vực nước Văn Lang traỉ rộng , phía đông giáp Nam Haỉ, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam giáp nước Hồ Tôn ( nước Chiêm Thành).

    Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng là hệ thống truyền thuyết mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh của người Văn Lang. Các nhân vật Vua Hùng, Sơn Tinh ( Thần Tản Viên) Phù Ðổng Thiên Vương là những biểu tượng của quốc gia Văn Lang trong thời kỳ đang lớn mạnh Hình tượng Lạc Long Quân-Âu Cơ có ý nghĩa khái quát hoá cho công cuộc chinh phục tự nhiên mở mang bờ coĩ của người Văn Lang.

    Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng : Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Thánh Gióng.

    2.Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc :

    Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện. Vua Hùng ( Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia,vị vua có uy tín với con người, tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần Văn Lang.

    Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257tcn-208tcn) .Sở dĩ ta gắn thời kỳ Âu Lạc vào thời Bắc thuộc vì lịch sử Âu Lạc cũng như truyền thuyết An Dương Vương mang tính chất bi hùng. Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ(207tcn-938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu dành độc lập của dân tộc ta.Trong hơn một ngàn năm bị nô lệ, dân tộc ta đã không bị đồng hoá hay bị diệt vong như nhiều dân tộc trên thế giới, đó là điều hết sức phi thường.

    Truyền thuyết thời kỳ này đã phản ánh và chứng minh được sức sống và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nhờ có sức sống mãnh liệt và bản lĩnh cao, dân tộc ta đã vượt qua thời kỳ bị uy hiếp và thử thách gay go, lâu dài.

    Truyền thuyết phản ánh cả lịch sử chiến thắng và lịch sử chiến bại của dân tộc. Nhiều truyền thuyết thời kỳ nầy mà trong đó truyện An Dương Vương là tiêu biểu, có kết cấu hai phần: phần đầu là lịch sử chiến thắng, phần sau là lịch sử chiến bại.

    3.Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ :

    Truyền thuyết phản ánh được tất cả các cuộc vũ trang khởi nghĩa chống xâm lược thời kỳ Bắc Thuộc (Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí …).

    Truyền thuyết thời kỳ này cho thấy tác giả dân gian nhận thức được dân tộc, nhận thức được bản chất kẻ thù ( chẳng hạn như bản chất tàn bạo, âm mưu thâm độc của các tên quan đô hộ như Tô Ðịnh, Mã Viện, Cao Biền…)ì và ngày càng đi sát lịch sử hơn (Bám sát lịch sử về nội dung cũng như hình thức biểu hiện : tên người, sự kiện …). Yếu tố thần kỳ tuy có giảm so truyền thuyết giai đoạn trước nhưng vẫn còn khá đậm đặc trong truyền thuyết giai đoạn nầy( An Dương Vương được Rùa Vàng giúp trừ ma quỷ ở núi Thất Diệu…,Hai Bà Trưng bay lên trời…)

    Về phương diện lịch sử, thời kỳ phong kiến tự chủ từ TK X đến TKXIX có những nét lớn như sau:

    Từ TK.X đến chúng tôi giai cấp phong kiến Việt Nam xây dưng một quốc gia thống nhất,gìn giữ, củng cố nền độc lập dân tộc.

    Từ TK. XVI đến TKXIX: sự suy sụp của các triều đại phong kiến và cuối cùng đi đến tan rã quốc gia phong kiến trước thế lực phương Tây.

    Trong suốt chặng daì lịch sử nêu trên, dân tộc ta đã làm nên những chiến tích: nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên-Mông, Lê Lợi quét sạch quân Minh ra khỏi cõi, Nguyễn Huệ đánh tan quân Thanh ở phía Bắc và quân Xiêm ở phía Nam. Bên cạnh đó còn phải kể đến các cuộc nội chiến giữa những tập đoàn phong kiến và các phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình.

    Truyền thuyết thời kỳ nầy gồm các nhóm sau đây: Truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm ( Truyền thuyết về Yết Kiêu, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi…),truyền thuyết về danh nhân văn hóa (Truyền thuyết về Chu Văn An, Trạng Trình…),truyền thuyết về lịch sử địa danh ( Sự tích Hồ Gươm, Sự tích núi Ngũ Hành…),truyền thuyết về anh hùng nông dân (Truyền thuyết về Chàng Lía, Quận He, Ba Vành…)

    4.Ý nghĩa của truyền thuyết :

    So với truyền thuyết thời kỳ trước, yếu tố hoang đường kỳ diệu trong truyền thuyết thời kỳ nầy giảm đi một mức đáng kể. Ðặc biệt, có những truyền thuyết về anh hùng nông dân không có yếu tố thần kỳ(Truyền thuyết về Hầu Tạo, Chàng Lía, Lê Văn Khôi…).

    Hai nhóm truyền thuyết nổi bật của thời kỳ này là: truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm và truyền thuyết về anh hùng nông dân. Nhân vật anh hùng có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc, giàu lòng thương yêu nhân dân. Ðây là những nhân vật có tài năng phi thường, mang vẻ kỳ vĩ, siêu nhiên.

    Về mặt lịch sư:Truyền thuyết là cơ sở cho các nhà sử học tham khảo về các giai đoạn lịch sử dân tộc.

    III.MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỀN THUYẾT : 1.Cốt truyện và nhân vật:

    Về mặt ý thức xã hộiTruyền thuyết giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

    Về mặt văn học nghệ thuật: Truyền thuyết là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nhà thơ sáng tác.

    Truyền thuyết không có kiểu cốt truyện hay như cổ tích. Cốt truyện thường gồm ba phần: hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính, sự nghiệp của nhân vật, chung cục thân thế của nhân vật.

    2.Lời kể trong truyền thuyết:

    Nhân vật trong truyền thuyết là nhân vật lịch sử được tái tạo. Tác giả dân gian hư cấu, sáng tạo trên nền lịch sử (thường là lý tưởng hóa những sự kiện, con người mà họ ca ngợi)

    Nhân vật trong truyền thuyết cũng là hành động của nó như trong cổ tích và có số phận không thể đảo ngược so với sự thật lịch sử. Nhân vật chính có thể là nhân vật trung tâm của một truyện hoặc một chuỗi truyện.

    Nhìn chung, lời kể trong truyền thuyết Việt Nam chưa có giá trị nghệ thuật cao như trong cổ tích và sử thi. Lời kể của một số truyền thuyết rút ra từ thần tích không còn giữ được chất dân gian.

    Phần thực hành : (Bài tập dành cho sinh viên)

    Phân tích một truyền thuyết (An Dương Vương, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Sự tích Hồ Gươm …).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Truyền Thuyết Lớp 6
  • Truyền Thuyết Là Gì? I.khái Niệm Về Truyền Thuyết : 1.khái Niệm :…
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Sự Tích Hồ Gươm Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm (Ngắn Gọn)
  • Truyền Thuyết Con Rồng Cháu Tiên
  • Bazơ Là Gì? Và Những Điều Xoay Quanh Bazơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Môi Trường
  • Phân Tích Môi Trường Bên Ngoài, Môi Trường Bên Trong Của Doanh Nghiệp
  • Các Nhân Tố Của Môi Trường Bên Ngoài Quản Trị Du Lịch Là Gì?
  • Phân Tích Môi Trường Bên Trong Của Tổ Chức
  • Các Nhân Tố Của Môi Trường Bên Trong Quản Trị Du Lịch Là Gì?
  • BAZƠ được phân loại thành những dạng, cách đọc tên từng nhóm BAZƠ như thế nào? Tính chất vật lý và hóa học của BAZƠ ra sao? Trong cuộc sống, BAZƠ có những ứng dụng nào và chúng ta thường gặp những loại BAZƠ nào quan trọng nhất?, …

    Đối với hóa học, cùng với Axit thì bazơ như một phần của sự sống. Nó là điểm mấu chốt dùng để chứng minh và giải thích nhiều vấn đề phát sinh trong hóa học. Vì vậy, tìm hiểu kỹ về Bazơ là một điều vô cùng quan.

    Hôm trước Công Ty Trung Sơn đã giới thiệu cho bạn những vấn đề xoay quanh Axit là gì? Và hôm nay chúng tôi sẽ đưa bạn đến một bài viết mới về BAZƠ là gì?

    ĐỊNH NGHĨA BAZƠ LÀ GÌ? CÔNG THỨC CỦA BAZƠ

    Bazơ là hợp chất hóa học mà phân tử của nó bao gồm có một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm hidroxit (OH), trong đó hóa trị của kim loại bằng số nhóm hidroxit.

    Ngoài ra, ta có thể hình dung bazơ chính là chất mà khi hòa tan trong nước sẽ tạo thành dung dịch có pH lớn hơn 7.

    Bazơ có công thức hóa học tổng quát sau đây:

    M là môt kim loại

    n là Hóa trị của kim loại.

    CTHH của bazơ Natrihidroxit là NaOH

    CTHH của bazơ Sắt (III) hidroxit là H2CO3

    CTHH của bazơ kali hidroxit là KOH

    PHÂN LOẠI BAZƠ VÀ CÁCH ĐỌC TÊN BAZƠ

    Bazơ mạnh như NaOH, KOH, …

    Bazơ yếu như Fe(OH)3, Al(OH)3…

      Dựa vào tính tan của bazơ trong nước, người ta chia bazơ thành 2 loại:

    Bazơ tan được trong nước tạo thành dung dịch bazơ (gọi là kiềm):

    Ví dụ: NaOH, KOH, Ba(OH)2, Ca(OH)2, LiOH, RbOH, CsOH, Sr(OH)2.

    Ví dụ: Cu(OH)2, Mg(OH)2, Fe(OH)3, Al(OH)3…

    Bazơ được gọi tên theo trình tự:

    Tên bazơ = Tên kim loại ( kèm hóa trị nếu kim loại có nhiều hóa trị ) + hidroxit

    NaOH được đọc là natri hidroxit

    Ca(OH)2 được đọc là canxi hidroxit

    Cu(OH)2 được đọc là đồng (II) hidroxit

    Fe(OH)2 được đọc là sắt (II) hidroxit.

    TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA BAZƠ

    Những tính chất vật lý chung của các loại bazơ bao gồm:

    • Bazơ nồng độ cao và bazơ mạnh có tính ăn mòn chất hữu cơ và tác dụng mạnh với các hợp chất axit.
    • Bazơ sẽ gây ra cảm giác nhờn hoặc một số nhớt và có mùi

    TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA BAZƠ

    Ta thực hiện thí nghiệm nhỏ vài giọt dung dịch NaỌH vào giấy quỳ tím và sau đó quan sát ta nhận thấy rằng màu của nó thay đổi chuyển sang màu xanh. Do đó ta có thể kết luận rằng dung dịch Bazơ làm đổi màu giấy quỳ tím thành xanh.

    Vì vậy, dựa vào tính chất này, giấy quì tím được dùng để nhận biết dung dịch bazơ.

    Ngoài ra, Dung dịch bazơ còn làm phenolphthalein không màu đổi sang màu đỏ.

    Phương trình phản ứng:

    2NaOH + SO2 → Na2SO3 + H2O

    3Ca(OH)2 + P2O5 → Ca3(PO4)2↓ + 3H2O

    Phương trình phản ứng:

    KOH + HCl → KCl + H2O

    Cu(OH)2 + 2HNO3 → Cu(NO3)2 + H2O

    Phương trình phản ứng:

    2NaOH + CuSO4 → Na2SO4 + Cu(OH)2↓

    Phương trình phản ứng:

    Cu(OH)2 → CuO + H2O.

    2Fe(OH)3 →Fe2O3 + 3H2O

    ỨNG DỤNG CỦA BAZƠ TRONG ĐỜI SỐNG

    • Trong ngành công nghiệp hóa chất, dược: Được sử dụng để sản xuất hay bán các sản phẩm có chứa gốc Sodium như Sodium phenolate (sản xuất thuốc Aspirin), Sodium hypochlorite (Javen ) làm chất tẩy trắng, chất khử trùng, ….
    • Được sử dụng làm hóa chất để xử lý đối với gỗ, tre, nứa,…để làm nguyên liệu sản xuất giấy dựa theo phương pháp Sulphate và Soda.
    • Trong ngành công nghiệp dệt, nhuộm: Nhiều bazơ được sử dụng để làm chất phân hủy pectins, sáp trong khâu xử lý vải thô, khiến cho vải thêm bóng và nhanh hấp thụ màu cho vải nhuộm.
    • Sử dụng bazơ để pha chế dung dịch tẩy rửa chai lọ, các thiết bị trong các nhà máy bia. Hoặc là dùng để pha chế dung dịch Kiềm nhằm xử lý rau, hoa quả trước khi chế biến hoặc đóng hộp chúng,…

    MỘT SỐ BAZƠ QUAN TRỌNG PHỔ BIẾN THƯỜNG GẶP

    Ta có thể gặp những bazơ phổ biến trong cuộc sống như:

    • Amoniac (NH3) và các amin.
    • Pyridin và các bazơ vòng thơm khác.
    • Các hiđrôxít kim loại như hiđrôxít natri (NaOH) hay hiđrôxít kali (KOH).
    • Nhiều ôxít kim loại tạo ra hiđrôxít bazơ với nước (anhiđrít).

    Trong đó có 2 Bazơ quan trọng nhất bao gồm:

    Natri hidroxit là chất rắn không màu, tan vô hạn trong nước và có tính hút ẩm.

    Natri Hidroxit có công thức hóa học NaOH và phân tử khối là 40

    Dung dịch Natri hidroxit có tính nhờn làm bục vải, giấy và ăn mòn da.

    Natri hidroxit có đầy đủ tính chất hóa học của 1 bazơ như:

    • Làm quỳ tím đổi thành màu xanh.
    • Làm phenolphthalein không màu đổi sang màu đỏ.
    • Tác dụng với oxit axit tạo thành muối và nước 2NaOH + CO2 → Na2CO3 + H2O
    • Tác dụng với axit tạo thành muối và nước. NaOH + HCl → NaCl + H2O
    • Tác dụng với muối tạo thành muối mới và bazơ mới 2NaOH + FeSO4 → Na2SO4 + Fe(OH)2↓.
    • Dung dịch NaOH có khả năng hoà tan : Al, Al2O3 , Al(OH)3
    • NaOH có thể tác dụng với kim loại Be, Zn, Sb, Pb, Cr và oxit và hiđroxit tương ứng của chúng.
    • Tác dụng với một số phi kim như Si, C, P, S, Halogen: Si + 2NaOH + H2O → Na2SiO3 + 2H2

    Ứng dụng của NaOH như sau : Sản xuất xà phòng, giấy, tơ nhân tạo, tinh dầu thực vật và các sản phẩm chưng cất dầu mỏ, chế phẩm nhuộm và dược phẩm nhuộm, làm khô khí và là thuốc thử rất thông dụng trong phòng thí nghiệm.

    Canxi hidroxit hay còn gọi là vôi tôi.

    Nó là một chất dạng tinh thể không màu hay bột màu trắng công thức hóa học là Ca(OH)2 và phân tử khối là 74.

    Canxi hidro là một bazơ mạnh vì vậy nó có đầy đủ những tính chất của một bazơ như:

    • Làm quỳ tím hóa xanh
    • Làm phenolphthalein không màu đổi sang màu đỏ.
    • Tác dụng với axit: tạo muối và nước.Ca(OH)2 + 2HCl → CaCl2 + 2H2O
    • Tác dụng với oxit axit : Ca(OH)2 + CO2 → CaCO3 + H2O
    • Tác dụng với dung dịch muối: Ca(OH)2 + Na2CO3 CaCO3 + H2O + CO2

    Hyđroxit canxi có một số ứng dụng như:

    • Chất kết bông trong xử lý nước, nước thải và cải tạo độ chua của đất.
    • Thành phần của nước vôi, vữa trong xây dựng.
    • Trong công nghiệp lọc dầu để sản xuất các phụ gia cho dầu thô (alkilsalicatic, sulphatic, fenatic)
    • Trong công nghiệp thực phẩm để xử lý nước (để sản xuất các loại đồ uống như rượu và đồ uống không cồn), …

    Hiện nay, nhu cầu sử dụng các loại axit, bazơ và nhiều hóa chất khác ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn khi sử dụng cũng như để đảm bảo cho kết quả như mong muốn, khách hàng nên lựa chọn cho mình những địa chỉ bán hàng tin cậy.

    Tự hào là đơn vị có nhiều năm kinh nghiệm trọng lĩnh vực hóa chất và thiết bị thí nghiệm, Trung Sơn đã dần trở thành nơi gửi gắm niềm tin của nhiều khách hàng. Với giá cả phải chăng và hàng hóa đảm bảo chất lượng, chúng tôi sẽ mang đến cho bạn những sản phẩm tốt nhất. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi khi có nhu cầu mua các sản phẩm hóa chất.

    Bazơ bao gồm những chất hóa học mà ứng dụng của các chất đó đối với công nghiệp là vô cùng to lớn không thể phủ nhận được. Vì vậy hiểu biết khái sơ lược về BAZƠ là gì? BAZƠ được phân loại thành những dạng, cách đọc tên từng nhóm BAZƠ như thế nào? Tính chất vật lý và hóa học của BAZƠ ra sao? Trong cuộc sống, BAZƠ có những ứng dụng nào và chúng ta thường gặp những loại BAZƠ nào quan trọng nhất?,… là cực kỳ cần thiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Biển Là Gì ? Nguyên Nhân Và Biện Pháp Bảo Vệ
  • Ô Nhiễm Môi Trường Biển Là Gì? Nguyên Nhân Ô Nhiễm Môi Trường Biển
  • Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục An Toàn
  • Vai Trò Tuyệt Vời Của Agar Trong Môi Trường Nuôi Cấy Vi Sinh
  • Môi Trường Kiềm Là Gì? Tạo Môi Trường Kiềm Bằng Cách Nào?
  • Khái Niệm Về Tây Nguyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Đáp Toán Học: “Số Nguyên Tố Là Gì?”
  • Số Nguyên Tố Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Số Nguyên Tố
  • Nguyên Tố Vi Lượng Là Gì 344
  • Sức Khỏe Sinh Sản Vị Thành Niên
  • Sức Khỏe Tâm Thần Ở Trẻ Em
  • Khi ” rục rịch” khởi công khai thác boxit ở Tây Nguyên, Nhà văn Nguyên Ngọc, một người rất am hiểu và rất yêu quý Tây Nguyên, đã có một bài viết rất sâu sắc, rất hay và tương đối tổng quát về Tây Nguyên quá khứ, hiện tại và tương lai. ( tôi đã từng foto gửi cho bí thư tỉnh uỷ Đăk lăk để ông tham khảo).Dẫu đã vài năm, nhưng những vấn đề ông đặt ra vẫn ” nóng hôi hổi”. Bài dài, nên tôi tách làm hai phần và tự đặt đề của phần một. ( xin lỗi nhà văn). Mời các bạn tham khảo                             

    Theo địa lý hành chính hiện nay, Tây Nguyên gồm có năm tỉnh, kể từ bắc vào nam: Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng. Tuy nhiên cần chú ý các tỉnh ven biển miền Trung và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ đều có một vùng rừng núi khá rộng, cũng là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số. Chẳng hạn tỉnh Quảng Nam, là tỉnh duyên hải, lại có đến 56% diện tích là vùng núi và vùng dân tộc, tại đấy có dân tộc Cơ-tu là một dân tộc quan trọng ở khu vực nam Trường Sơn. Miền tây tỉnh Quảng Ngãi cũng có vùng núi và là vùng dân tộc tương tự, thì có dân tộc Hre cũng là một dân tộc quan trọng. Dân tộc Rakglei thì sống chủ yếu ở miền tây các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số tỉnh miền Đông Nam Bộ cũng có vùng núi và là vùng dân tộc khá rộng. Vùng Cát Tiên, nơi có di tích nổi tiếng của dân tộc Mạ, nằm phần lớn trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Sóc Bombo mà chúng ta đều biết qua bài hát quen thuộc cũng thuộc Bình Phước.… Như vậy khái niệm Tây Nguyên xét về các về mặt dân tộc, văn hóa, xã hội, có thể cả lịch sử và địa lý, thật ra rộng hơn vùng được quy định theo địa lý hành chính. Có người đã dùng khái niệm Nam Trường Sơn để chỉ vùng này, có thể đúng hơn.

    B- Đặc điểm địa lý:

    Trong tác phẩm Rú Mọi (Les jungles Mois – NXB Tri Thức dịch với tên là Rừng người Thượng), cho đến nay vẫn được coi là công trình khảo sát cơ bản nhất về Tây Nguyên, tác giả Henri Maitre cho rằng Tây Nguyên không phải là một dãy núi – như vẫn được gọi trước nay (Trường Sơn, Chaîne annamitique) – mà là một bình nguyên nằm trên cao. Trong một kỷ địa chất xa xôi nào đó, vùng đất này do chấn động của vỏ trái đất đã được nâng cao lên đột ngột so với chung quanh, tạo thành một cao nguyên lớn.

    Về địa hình, Tây Nguyên có hai đặc điểm đáng chú ý:

    Cao vút ở hai đầu, cực bắc là cụm núi Atouat, với đỉnh Ngok Linh 2598 mét, cao nhất toàn Tây Nguyên và toàn miền Nam; cực nam là dãy Chư Yang Sin, 2402 mét (là đỉnh cao nguyên Lang Biang). Giữa hai cụm núi ấy là một bình nguyên mênh mông, bằng phẳng, chỉ có những nếp lượn sóng liên tục. Đứng tại thành phố Buôn Ma Thuột chẳng hạn nhìn quanh, thấy cụm núi quan trọng nhất của tỉnh Đắc Lắc là núi Đ’leya, cũng xa tương tự như từ Hà Nội nhìn lên Ba Vì hay Tam Đảo…

    Đặc điểm địa hình thứ hai rất quan trọng của Tây Nguyên là dốc đứng trên sườn phía đông, đổ xuống các tỉnh duyên hải nam Trung Bộ, tạo thành một bức trường thành sừng sững. Chính điều này khiến người Việt ở các tỉnh ven biển nam Trung Bộ nhìn ngược lên hướng tây đã nhầm Tây Nguyên là một dãy núi dài. Từ đồng bằng duyên hải nam Trung Bộ đi lên Tây Nguyên chỉ có một số đường độc đạo, ngày trước là các đường 19 từ Quy Nhơn, qua đèo An Khê và đèo Mang Giang lên Pleiku, rồi có thể đi tiếp qua Stung Treng của Cămpuchia; đường 26, từ Nha Trang – Ninh Hòa qua đèo Phượng Hoàng lên Buôn Ma Thuột; đường 28 từ Phan Rang qua đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt. Gần đây đã sửa chữa, nâng cấp và mở thêm một số đường khác, như các đường 14 từ Đà Nẵng và Quảng Nam lên Kontum, đường 24 từ Quảng Ngãi lên Kontum, đường 25 từ Tuy Hòa, Phú Yên lên Pleiku, v.v… Đáng chú ý, chẳng hạn nếu theo đường 19 Quy Nhơn – Pleiku thì sau khi lên khỏi đèo An Khê rất cao, ta lại tiếp tục đi bằng chứ không hề xuống dốc, sau đó cách khoảng vài chục km sẽ gặp đèo Mang Giang cũng rất cao và hiểm trở, vượt qua rồi lại tiếp tục đi bằng, đến Pleiku, sau đó sẽ xuôi dần thoai thoải về hướng tây đến bờ sông Mékông. Tức trong khi sườn phía đông dốc đứng, thì sườn phía tây của Tây Nguyên khá bằng phẳng, thoải thoải đổ về Mékông. Đặc điểm địa hình này sẽ rất quan trọng trong quan hệ của Tây Nguyên với các “lân bang” trong lịch sử lâu dài: quan hệ về phía tây, với Cămpuchia và với Lào, thuận tiện hơn là với Champa (và sau đó với Đại Việt) ở phía đông. Các bộ lạc ở Tây Nguyên quan hệ với “lân bang” trên vùng duyên hải phía đông chủ yếu do nhu cầu tìm muối mà Tây Nguyên hoàn toàn không có. Ở Tây Nguyên có hai địa danh đáng chú ý: Trong tiếng Ê Đê, buôn có nghĩa là làng (Buôn Hồ, Buôn Sam, Buôn Ma Thuột…), nhưng lại có Bản Đôn ở Đắc Lắc, phía tây Buôn Ma Thuột, sâu về phía nam Tây Nguyên, gần biên giới Cămphuchia. Bản là tiếng Lào, có nghĩa là làng. Bản Đôn chính là một trạm buôn của người Lào cắm sâu vào đây từ rất xưa, đến nay kiến trúc nhà cửa trong làng vẫn còn nhiều dấu vết Lào, người dân vẫn hiểu thông thạo tiếng Lào. Đây cũng chính là vùng dân tộc Mơ Nông, rất giỏi nghề săn bắt và thuần dưỡng voi. Rất có thể chính người Lào đã truyền nghề này cho người Mơ Nông… Trong cụm núi Ngok Linh lại làng Mường Hon. Mường chắc chắn là tiếng Lào, cũng có nghĩa là làng. Đây có thể là một làng người Lào vào định cư đã lâu đời trong cụm núi lớn này, cũng có thể là vết tích của những người Lào chạy dạt vào đây do hệ quả của các cuộc chiến tranh bộ lạc ngày xưa… Rõ ràng quan hệ của người Lào với các dân tộc Tây Nguyên từ xa xưa đã khá sâu.

    Tây Nguyên vốn là một vùng đất núi lửa, hiện nay còn rất nhiều dấu vết núi lửa. Biển Hồ khá rộng ở phía bắc thị xã Pleiku chính là một miệng núi lửa cổ. Núi Hàm Rồng ở nam thị xã Pleiku còn rất rõ dấu vết miệng núi lửa. Ở Đắc Lắc có huyện Chư Mơgar, có nghĩa là “Núi Ngược”, vì miệng núi lửa cổ lõm xuống trên đỉnh khiến ngọn núi này trông như có đỉnh lộn ngược… Chính nham thạch núi lửa đã khiến Tây Nguyên trở thành một vùng đất bazan lớn nhất nước, chiếm đến 60% kho đất bazan của cả nước. Đất bazan đặc biệt thích hợp với một số cây công nghiệp như cà phê, cao su…

    Tây Nguyên cũng là vùng có hệ động vật và thực vật phong phú nhất nước. Về khí hậu, Tây Nguyên có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến giữa tháng 5, và mùa mưa từ cuối tháng 5 đến tháng 10. Đất bazan là loại đất không giữ nước, nước mưa trượt đi trên bề mặt, về mùa khô Tây Nguyên gần như hoàn toàn không có nước.

    C – Sơ lược lịch sử.

    1-Tiền sử: Năm 1948, nhà dân tộc học người Pháp Goerges Condominas tìm được bộ đàn đá tiền sử ở làng Nđut Liêng Krak thuộc huyện Krông Nô tỉnh Đắc Lắc. Đây là bộ đàn đá đầu tiên tìm được trên thế giới. Về sau nhiều bộ đàn đá khác còn được tìm thấy ở nhiều nơi thuộc Tây Nguyên và ven Tây Nguyên. Đáng chú ý hệ thang âm của các đàn đá này trùng hợp với thang âm các bộ chiêng của các dân tộc Tây Nguyên hiện nay (thang ngũ âm, nhưng khác với thang ngũ âm Trung Hoa, mà lại gần thang âm tìm thấy ở một số nhạc cụ trên các đảo nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương). Tức có thể có một mối quan hệ nào đó còn chưa giải thích được giữa chủ nhân các bộ đàn đá tiền sử ấy (được xác định niên đại là cách đây 3000 năm) với các dân tộc đang sinh sống ở Tây Nguyên hiện nay, và cũng có thể có một dòng chảy của con người từ những vùng xa xôi từ phía nam đến Tây Nguyên trong những thời kỳ rất xa xưa.

    Công cuộc khảo cổ ở Tây Nguyên chắc chắn còn hứa hẹn nhiều khám phá mới quan trọng.

    2 – Tây Nguyên trước thời Nam tiến của người Việt. Quan hệ của các dân tộc Tây Nguyên với Cămpuchia, Lào, Champa (và sau đó với Đại Việt).

    Trước khi có cuộc Nam tiến của người Việt, vương quốc Champa xem Tây Nguyên nửa như một nước chư hầu nửa như vùng đất phía tây của mình. Trong thực tế triều đình Champa không hề kiểm soát được Tây Nguyên. Suốt một thời kỳ lịch sử rất lâu dài, Tây Nguyên là vùng sinh sống của các bộ lạc độc lập và tự trị. Trong đó đông nhất, mạnh nhất, chặt chẽ nhất là người Gia Rai, sống ở vùng trung Tây Nguyên. Trong người Gia Rai có các nhân vật rất đặc biệt gọi là P’tao Pui, P’tao Ia và P’tao Nhinh, mà người Việt dịch là “Vua Lửa”, “Vua Nước”, “Vua Gió”, người Pháp cũng dịch là “Roi du Feu”, “Roi de l’Eau”, “Roi du Vent”. Cách dịch “Vua”, “Roi” là không chính xác. Thật ra đây là một kiểu thủ lĩnh tinh thần và tâm linh rất độc đáo trong xã hội Gia Rai, một kiểu “thầy cúng” có uy tín lớn, đóng vai trò là người giữ mối quan hệ giữa Thần linh và con người, giữa thế giới “bên trên” và xã hội trần thế, không có bất cứ quyền hành thế tục và quyền lợi ưu tiên nào, nhưng lại là một thứ trung tâm cố kết và “điều hành” toàn bộ xã hội này một cách hết sức chặt chẽ và hiệu lực, kể cả trong quan hệ đối ngoại với các “lân bang”. Trong tác phẩm nghiên cứu rất công phu và đặc sắc “P’tao, một lý thuyết về quyền lực ở người Gia Rai Đông Dương” (P’tao, une théorie du pouvoir chez les indochinois Jarai), nhà Tây Nguyên học hàng đầu Jacques Dournes đã có sự phân tích và giải thích rất sâu sắc về các nhân vật này và một kiểu quyền lực cũng hết sức độc đáo ở xã hội Gia Rai nói riêng và xã hội Tây Nguyên nói chung, còn tồn tại cho đến rất gần đây, thậm chí còn ảnh hưởng tiềm tàng đến tận ngày nay.

    Các P’tao là người Gia Rai, sống ở vùng Gia Rai, nhưng tầm ảnh hưởng lan rất rộng, sâu trên nhiều vùng dân tộc khác, thậm chí sang cả Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ, triều đình Cămpuchia từng coi các P’tao ở Tây Nguyên như một kiểu “vua thần”, định kỳ có dâng cống vật. Người Cămpuchia gọi các P’tao là Sadet (gần với từ Samdeth). Về sau, các “Vua Nước” và “Vua Gió” giảm dần ảnh hưởng rồi mất hẳn, chỉ còn “Vua Lửa”… Chúng tôi nghĩ việc nghiên cứu hình thái tổ chức xã hội với các P’tao của người Gia Rai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu sâu sắc Tây Nguyên, con người, văn hóa, tổ chức xã hội cổ truyền… ở vùng đất đặc biệt này. Thậm chí cũng còn có thể cho phép chúng ta hình dung chừng nào về các xã hội cổ từng tồn tại trên vùng đất nay là bán đảo Đông Dương.

    Tây Nguyên quan hệ với các “lân bang” chính là qua các P’tao. Quan hệ nhiều nhất là với Cămpuchia. Trong nhiều thời kỳ dài đã thường xuyên có các đoàn “sứ giả” đi lại hằng năm giữa các P’tao và triều đình Cămpuchia, trao đổi cống vật giữa hai bên. Trong quan hệ này đáng chú ý là về phía Cămpuchia đối với các P’tao Tây Nguyên là có tính chất “dâng lên”, còn từ phía các P’tao với các vua Cămpuchia là “ban xuống”. Do địa hình và cả chủng tộc, người Lào đã có quan hệ lâu đời và sâu với các dân tộc ở Tây Nguyên. Quan hệ của Tây Nguyên với Champa lại có những nét riêng khác: Trong thực tế, triều đình Champa đối xử với Tây Nguyên như với một “lân bang” phía tây của mình, cũng có quan hệ trao đổi cống vật định kỳ (với các P’tao) nhưng không chặt chẽ bằng phía Cămpuchia. Mặt khác, người Gia Rai, dân tộc lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên với người Chàm đều cùng thuộc một ngữ hệ Malayo-Polynésien nên rất gần gũi nhau, thậm chí có tác giả còn cho rằng người Gia Rai chính là người Chàm dạt lên Tây Nguyên trong những điều kiện và những thời gian lịch sử nào đó. Hiện còn có một số dấu vết các tháp Chàm ở vùng Gia Rai…

    Trong quá trình Nam tiến, người Việt đã mất trên ba trăm năm mới giải quyết xong vùng đồng bằng ven biển Champa, sau đó đi tiếp về nam, đứng chân được trên vùng đất Thủy Chân Lạp vừa xong thì cũng là lúc người Pháp tràn vào. Do vậy triều đình Việt chưa có thời gian quan tâm nhiều đến vùng đất cao phía tây và các bộ lạc sống trên đó. Triều đình Huế cũng có phái một số quan chức lên tìm hiểu và bắt quan hệ với các bộ lạc Tây Nguyên, tất nhiên với ý đồ chinh phục. Tuy nhiên công cuộc này cũng còn rất sơ sài, các phái viên triều đình có gặp Vua Nước, Vua Lửa, mà họ gọi là Thủy Xá, Hỏa Xá, đặt quan hệ “triều cống” định kỳ của các vị này với triều đình và “ban tước” của triều đình cho các vị này, và vì hiểu rằng đây quả thực là các “Vua” nên họ yên trí như vậy là đã nắm được toàn bộ Tây Nguyên. Có hiện tượng đáng chú ý: triều Nguyễn đã từng thiết lập một hệ thống “đồn sơn phòng” suốt dọc các tỉnh trung Trung bộ trên ranh giới giữa vùng người Việt và vùng sinh sống của các dân tộc thiểu số ở phía tây, riêng ở Quảng Ngãi còn lập cả một bờ lũy dài hơn trăm km ngăn cách giữa hai vùng, chứng tỏ triều đình coi phía bên kia là một “nước” khác, có thể là một thứ “man” chư hầu…

    3 – Người Pháp với Tây Nguyên.

    Đồng thời và tiếp sau các nhà truyền giáo là các “phái bộ” (mission) khảo sát, vừa là những người tiên phong đi chuẩn bị và dọn đường cho việc chinh phục, đồng thời cũng là những nhà khoa học được đào tạo rất cơ bản, ít nhất ở hai trường Dân tộc học và Trường Pháp quốc hải ngoại (École française d’Outre-mer), một số người là sĩ quan quân đội. Nhiều phái bộ như vậy đã đi hầu khắp Tây Nguyên, không bỏ sót một vùng nào, nghiên cứu hoặc một cách tổng thể về vùng đất và người này, hoặc về từng phương diện, từng tộc người, từng vùng riêng biệt. Một trong những phái bộ đó, do Henri Maitre dẫn đầu, đã để lại một tác phẩm đồ sộ đến nay vẫn là công trình khảo sát cơ bản, toàn diện và tỉ mỉ nhất về Tây Nguyên, chưa ai vượt qua được. Công trình này có tên là Les jungles Mois (Rú Mọi), gồm hai phần, phần đầu là Nhật ký hành trình của phái bộ xuyên suốt Tây Nguyên, phần hai trên cơ sở tổng kết toàn bộ các khảo sát, dựng nên bức tranh toàn diện về Tây Nguyên. Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội đã tổ chức dịch phần hai công trình này, dưới cái tên Rừng người Thượng, đang được in ở nhà xuất bản Tri Thức.

    Sau cùng đến lượt các nhà khoa học chuyên nghiệp, như G. Condominas, A. de Hautecloque-Howe, Boulbet, Maurice…, thường đi sâu và ở lại lâu dài trong các vùng thực địa, để lại những công trình quan trọng hoặc về từng dân tộc hoặc về từng vấn đề dân tộc học lớn ở Tây Nguyên. Có người như Jacques Dournes, là một linh mục đến Tây Nguyên, ở lại suốt hai mươi lăm năm, cuối cùng bỏ đạo, sống theo phong tục Tây Nguyên, là một nhà Tây Nguyên học lớn…

    Công cuộc chinh phục Tây Nguyên của người Pháp diễn ra song song với cuộc xâm chiếm Việt Nam và toàn Đông Dương. Ở Tây Nguyên họ cũng gặp phải sự kháng cự của các bộ lạc bản địa. Trước đây, giữa các bộ lạc ở đây vẫn thường diễn ra chiến tranh, chủ yếu để cướp tù binh bán sang các nước chung quanh làm nô lệ. Vốn là những dân tộc quen sống tự do, phóng khoáng, có ý thức tự trọng và tinh thần thượng võ cao, không chịu bất cứ sự áp bức, áp đặt nào, họ đã đứng lên chống lại những người mới đến mang tới một ách thống trị xa lạ. Tuy nhiên những cuộc kháng cự thường rời rạc, một vài phong trào liên kết được một số vùng tương đối rộng không tồn tại được lâu. Song cũng có những vùng cuộc đấu tranh diễn ra khá dai dẳng, thậm chí có nơi suốt gần trăm năm đô hộ người Pháp vẫn không hoàn toàn thiết lập được bộ máy cai trị.

    Khi đã chiếm được toàn bộ Đông Dương, người Pháp đã chia bán đảo này ra thành năm xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao miên. Vậy nên phân Tây Nguyên về đâu? Họ có cái mà Jacques Dournes, trong tác phẩm P’tao… của ông, gọi là “logique du découpage” (lô gích của sự phân cắt), tất nhiên là lô gích phân cắt sao cho thuận tiện hơn cả đối với sự cai trị của chính quyền thực dân. Thấy trong các “lân bang” trước nay, người Lào đã xâm nhập vào Tây Nguyên sâu hơn cả, về mặt chủng tộc cũng tương đối gần gũi, nên họ cắt Tây Nguyên về Lào. Một thời gian sau, nhận thấy thủ đô Lào đặt ở Viêng Chăn quá xa, khó với tới Tây Nguyên, đến năm 1904 Toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định giao Tây Nguyên về cho triều đình Huế. Như vậy về mặt pháp lý (của chính quyền thực dân), từ năm 1904 Tây Nguyên mới chính thức thuộc về Trung Kỳ, và từ đó thuộc về Việt Nam.

    Chủ trương của người Pháp đối với Tây Nguyên trước sau không hoàn toàn thống nhất. Viên công sứ Pháp đầu tiên cai trị Tây Nguyên là Sabatier (lúc bấy giờ toàn bộ Tây Nguyên được coi là một tỉnh gọi là tỉnh Kontum, thủ phủ đặt ở Buôn Ma Thuột) chủ trương “bảo tồn” nguyên vẹn Tây Nguyên, ngăn không cho người Việt, người Hoa, và cả người Pháp lên sinh sống và khai thác Tây Nguyên. Ông muốn giữ không chỉ đất đai, mà cả con người, văn hóa, xã hội Tây Nguyên mà ông khá am hiểu trong trạng thái đúng như khi nó được “tìm thấy”, không để cho vùng đất, người, văn hóa và xã hội cổ truyền tốt đẹp này bị tổn thương vì sự xâm nhập của các thế lực ngoại lai. Ông kiên trì thu phục được các tù trưởng bản địa (Ama Thuột chính là một tù trưởng có ảnh hưởng lớn trong vùng Ê Đê, đã quy thuận, hợp tác với Sabatier, và làng của ông, Buôn Ma Thuột [có thể dịch sát nghĩa: Làng của Cha thằng Thuột], trở thành thủ phủ của toàn vùng. Sabatier tự biến mình thành một tù trưởng đứng đầu toàn xứ, tổ chức nhiều cuộc ăn thề kết nghĩa trung thành với các tù trưởng lớn trong vùng, thiết lập một bộ máy và một phương thức cai trị dựa trên luật tục của các dân tộc bản địa…

    Chính sách “đóng cửa Tây Nguyên” của Sabatier vấp phải sự chống đối của các thế lực thực dân muốn đổ xô vào khai thác vùng đất màu mở này. Cuối cùng, do áp lực gay gắt của họ, Sabatier bị lật đổ, ông đã thất bại trong ý đồ có thể tốt đẹp nhưng ảo tưởng của ông… Từ đó các nhà thực dân Pháp mới bắt đầu khai thác Tây Nguyên, chủ yếu là lập các đồn điền cà phê, cao su, chè do người Pháp làm chủ, sử dụng một số công nhân người Việt được đưa lên đây, và dần dần có thêm ít nhiều công nhân người Tây Nguyên…

    Chính trong thời gian cai trị của người Pháp, đã đào tạo được một số trí thức trong các dân tộc bản địa Tây Nguyên, chủ yếu trong hai ngành y tế và giáo dục. Hầu như tất cả các trí thức này về sau đều trở thành cán bộ nòng cốt của cách mạng ở Tây Nguyên…

    Chỉ hơn một tháng sau Cách mạng Tháng Tám, quân Pháp đã trở lại đánh chiếm Nam Bộ, tiếp liền sau đó là Tây Nguyên. Đáng chú ý là suốt 9 năm chiến tranh Pháp không chiếm được vùng duyên hải Nam Trung Bộ từ nửa tỉnh Quảng Nam vào đến Phú Yên, nhưng họ lại tập trung sức quyết chiếm Tây Nguyên. Ấy là vì vị trí chiến lược hết sức quan trọng của Tây Nguyên, về mặt quân sự “ai làm chủ được Tây Nguyên thì sẽ làm chủ cả miền nam Đông Dương”. Cuộc kháng chiến 9 năm ở vùng Nam Trung Bộ (lúc bấy giờ gọi là Liên khu 5) chính là cuộc giành giật quyết liệt giữa ta và địch vùng cao nguyên chiến lược này. Chính qua cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung này mà các dân tộc Tây Nguyên đã trở nên gần gũi và gắn bó ngày càng sâu sắc với cách mạng, với cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trở thành một bộ phận khắng khít không thể tách rời của cộng đồng rộng lớn đó. Từ những cơ sở chính trị đầu tiên được kiên trì xây dựng, tiến lên thành những cơ sở du kích vũ trang, các làng chiến đấu kiên cường, đến cuối những năm kháng chiến chống Pháp Tây Nguyên đã có thể trở thành địa bàn thuận lợi cho các đơn vị chủ lực mở những chiến dịch ngày càng lớn, cho đến chiến dịch Đông- Xuân 1953-54, phối hợp với Điện Biên Phủ, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kontum và toàn bộ vùng Bắc Tây Nguyên…

    Tóm lại, do những điều kiện lịch sử đặc trưng, các dân tộc Tây Nguyên đến với cộng đồng các dân tộc Việt Nam khá muộn, nhưng quá trình gia nhập và gắn bó với cộng đồng này lại rất nhanh và sâu sắc. Cho đến năm 1975, tình hình Tây Nguyên là rất tốt về mọi mặt.

    4 – Về các dân tộc Tây Nguyên.

    Tây Nguyên có khoảng 20 dân tộc khác nhau. Nói là “khoảng” vì có dân tộc theo bảng phân định dân tộc chính thức của nhà nước hiện nay được coi là một nhánh của một dân tộc chung lớn hơn, nhưng cho đến nay lại không chịu chấp nhận cách phân loại đó mà tự coi mình là một dân tộc riêng. Như người Cà Dong ở miền núi tây Quảng Nam, theo bảng phân loại dân tộc học của nhà nước là một nhánh của dân tộc Xơ Đăng, nhưng hầu hết người Cà Dong nhất định tự coi mình là một dân tộc riêng với tất cả các đặc điểm riêng của một dân tộc độc lập…

    Các dân tộc ở Tây Nguyên thuộc hai ngữ hệ khác nhau: Môn-Khơme (hay Nam Á) và Malayo-Polynésien (hay Nam Đảo). Quan sát sự phân bố các dân tộc ở Tây Nguyên theo ngữ hệ có thể thấy một điều đáng chú ý: thuộc ngữ hệ Môn-Khơme có các dân tộc ở Bắc Tây Nguyên từ khoảng giữa tỉnh Gia Lai hiện nay trở ra, như các dân tộc Xơ Đăng, Cơ Tu, Dẻ Triêng, Rơ Mâm, Ba Na, Brâu…, và các dân tộc ở miền Nam Tây Nguyên từ nửa tỉnh Đắc Lắc trở vào như các dân tộc Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ, Sre, Stiêng… Chen vào giữa, trên vùng đất từ giữa tỉnh Gia Lai hiện nay cho đến nửa tỉnh Đắc Lắc, là các dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo-Polynésien gồm người Gia Rai, người Ê Đê, người Chu Rú, người Rakglei. Người Chàm sống ở vùng duyên hải nam Trung Bộ cũng thuộc ngữ hệ này. Có tác giả đã giải thích hiện tượng này như sau: Từ xa xưa Tây Nguyên vốn là vùng đất của các dân tộc Môn-Khơme. Các dân tộc Malayo-Polynésien đã từ các đảo phía nam đến, trước tiên đổ vào dải đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ hiện nay. Các dân tộc này đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, trong số đó riêng người Chàm đã phát triển thành một vương quốc hùng mạnh, và ép các dân tộc ở cạnh mình ra, buộc họ phải tìm cách tràn lên vùng đất cao phía tây. Do địa hình dốc đứng trên sườn phía đông của cao nguyên này, họ chỉ có thể tràn lên theo một số đường độc đạo nhất định: người Gia Rai đã lên theo đường đèo An Khê (tức đường 19 hiện nay) và đường Bà Lá, Cà Lúi, lên Cheo Reo, Ayun Par (tức đường số 25), chiếm cao nguyên Gia Lai; Người Ê Đê lên theo đường đèo Phượng Hoàng (tức đường 26 hiện nay) chiếm cao nguyên Đắc Lắc; Người Rakglei thì tạt lên mạn tây Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, ở đây địa hình dốc đứng cản trở họ có thể lên xa hơn. Như vậy các dân tộc Malayo-Polynésien đã từ đồng bằng nam Trung Bộ tiến về phía tây, chen vào giữa như một chiếc nêm, ép các dân tộc Môn-Khơme ra hai đầu. Đương nhiên điều này diễn ra trong những thời kỳ lịch sử rất xa xưa, có thể khi Biển Đông còn cạn, miền nam bán đảo Đông Dương có thể còn gắn liền với các đảo Nam Á.

    Đông, mạnh nhất ở Tây Nguyên là dân tộc Gia Rai, rồi đến người Ê Đê, người Ba Na, người Xơ Đăng… Cũng có những dân tộc rất nhỏ như người Châu ở trong thung lũng Mường Hon của núi Ngok Linh, chỉ có khoảng 80 người…

    II- Hai vấn đề lớn trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền.

    A – Làng.

    Trong xã hội Tây Nguyên cổ truyền, vẫn còn rất đậm nét cho đến tận ngày nay, làng là đơn vị xã hội cơ bản và duy nhất. Không có đơn vị xã hội cao hơn làng. Trong nhiều ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên không có từ để chỉ đơn vị cao hơn làng. Boon trong tiếng Mơ Nông, Buôn trong tiếng Ê Đê, Plei trong tiếng Gia Rai, Ba Na, Veil trong tiếng Cơ Tu… đều có nghĩa là làng. Ngày trước trong một số dân tộc có từ T’ring dùng để chỉ liên minh giữa một số làng, nhưng đấy chỉ là những liên minh tạm thời để cùng nhau đối phó với một số trở lực nào đó, khi trở lực ấy đã được giải quyết thì những liên minh đó cũng tan rã, không hề có lãnh thổ và tổ chức hành chính tương đương.

    Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên cũng không có đơn vị nhỏ hơn làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng. Khi gặp một người Tây Nguyên, hỏi anh ta tên gì, thì phản xạ tự nhiên đầu tiên của anh ta là trả lời: Tôi là người của làng X hay Y nào đấy. Gạn hỏi kỹ hơn nữa: Nhưng anh tên là gì?, lúc đó anh ta mới trả lời rõ hơn: Tôi là A hay B ở làng X hay Y. Vẫn không thể quên làng. Con người là một bộ phận nhỏ chìm trong cộng đồng làng, hòa tan trong làng, không thể tách rời khỏi làng. Ở Tây Nguyên, hình phạt nặng nề nhất, nổi đau đớn lớn nhất, điều nhục nhã nhất đối với một người là bị đuổi khỏi làng. Thậm chí trong trường hợp đó con người mất luôn cả tính người, không làng nào khác chấp nhận anh ta nữa, anh ta sẽ trở thành như một con thú, lang thang và chết vùi trong rừng. Nếu ta thường nói người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao, thì tính cộng đồng đó là tính cộng đồng làng, thậm chí còn sâu đậm và cụ thể hơn cả ý thức về tộc người. Một người Ba Na biết mình là người Ba Na, nhưng ý thức về tộc người Ba Na không sâu đậm bằng ý thức về làng của mình. Ngày trước, trong chiến tranh bộ lạc, không phải chẳng hạn mấy làng Ba Na này liên minh lại đi đánh nhau với mấy làng Gia Rai kia, mà là hai ba làng Ba Na này liên minh với vài ba làng Gia Rai kia đi đánh hai ba làng Gia Rai khác liên minh với vài ba làng Ba Na khác.

    Làng được điều hành bằng một tổ chức đặc biệt là Hội đồng già làng, gồm đại diện của các hộ trong làng. Đứng đầu Hội đồng già làng là chủ làng. Già làng là những người hiền minh nhất của làng, những người am hiểu rừng núi, đất đai, phong tục tập quán, giàu kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm sống, giỏi giang trong đối ngoại, và là người có đức độ cao, được dân làng bầu lên, có thể bị truất phế khi có những vi phạm đối với các quy định truyền thống của làng… Những người như vậy thường là những người đã cao tuổi, nhưng cũng có những người còn khá trẻ vẫn được bầu làm già làng nếu được sự tin cậy và kính trọng của toàn làng.

    Hội đồng già làng quản lý làng theo một hệ thống luật pháp đặc biệt: luật tục (droit coutumier) của làng, tức những điều được cả cộng đồng công nhận và tuân theo như là luật, song lại tồn tại dưới hình thức là những phong tục. Cũng có người dịch là tập quán pháp, tức những tập quán được cả cộng đồng tuân thủ như luật. Già làng chính là những người am hiểu tường tận luật tục. Trong Hội đồng già làng thường có một người có chức năng phân xử mọi bất đồng hay vi phạm bằng hình thức tòa án luật tục của làng. Sức sống bền vững của làng ở Tây Nguyên quả thật rất kỳ lạ, trải qua tất cả các biến động của lịch sử. Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vừa qua, nhiều lúc làng bị đánh dữ dội, bị xé nát, bị di chuyển đi xa, nhưng rồi cộng đồng làng lại được khôi phục, hồi sinh. Cho đến nay, mặc dầu bị xáo trộn rất dữ trong những chuyển động xã hội suốt mấy mươi năm qua, về cơ bản cộng đồng làng vẫn còn. Một bằng chứng đáng chú ý là trong mấy cuộc bạo động vừa rồi ở Tây Nguyên, làng nào đã đi biểu tình thì bao giờ cũng đi nguyên cả một làng, không bao giờ có hiện tượng đi lẻ tẻ, và đã đi cả làng thì bao giờ cũng là do già làng dẫn đầu.

    Trong công tác vận động quần chúng ở Tây Nguyên thời chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, kinh nghiệm thành công quan trọng nhất là phải hiểu biết sâu xa và dựa chắc vào đặc điểm xã hội này, phát huy được vai trò của làng, của già làng trong mọi việc, ở mọi tình huống. Không hiểu và nắm được làng và già làng, thì sẽ không hiểu và nắm được gì cả ở Tây Nguyên, mọi công việc ắt thất bại. Và nếu làng ở đây tan rã thì nguy cơ rối loạn xã hội sẽ rất lớn.

    B – Sở hữu Đất và Rừng.

    Ở Tây Nguyên, rừng núi mênh mông vậy nhưng đều có chủ rành mạch, cụ thể. Không có đất và rừng vô chủ. Người chủ của đất và rừng chính là các làng, từng làng. Rừng núi, tất cả đã được “chia” cho từng làng từ xa xưa, “đã là như vậy từ tổ tiên muôn đời truyền lại”, đã được “Yang (tức Thần linh) giao cho từng làng”, có ranh giới rất rõ rệt. Đất, rừng của làng là thiêng liêng, không ai được xâm phạm, không ai được làm ô uế. Người ta gọi đó là Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng.

    Sở hữu rừng của một làng gồm có những loại rừng sau đây:

    – Rừng đã biến thành đất thổ cư;

    – Rừng sản xuất, tức khu rừng dân làng khai thác để làm rẫy;

    – Rừng sinh hoạt, là nơi dân làng tìm lấy những thứ cần thiết cho mọi sinh hoạt của mình: con ong, cái mật, dây mây, rau ăn, con thú để săn bẫy, gỗ để làm nhà…:

    – Rừng thiêng (hay rừng ma) là nơi trú ngụ của các Yang (Thần linh), không ai được động đến, thường là rừng đầu nguồn. Đây thực chất là kinh nghiệm giữ rừng đầu nguồn được tích lũy lâu đời của người dân, bọc bên ngoài là một lớp vỏ tín ngưỡng.

    Tất cả các loại rừng đó hợp thành không gian sinh tồn (espace vitale), hay cũng có người như Condominas gọi là không gian xã hội (espace sociale) của làng. Một làng cần có đủ các loại rừng kể trên để có thể sinh tồn như một không gian xã hội, làm nên tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên.

    Hội đồng già làng quản lý sở hữu tập thể này của cộng đồng làng bằng một hệ thống luật tục chặt chẽ và sinh động. Chính Hội đồng già làng chia khu rừng sản xuất cho các hộ trong làng để làm rẫy theo đúng những quy định trong luật tục, cũng theo đúng những quy định đó khai thác khu rừng sinh hoạt cho các nhu cầu hằng ngày của mình, giữ gìn khu rừng thiêng, và tôn trọng đúng các tập quán trong làng, tức trong khu rừng đã biến thành đất thổ cư, thành làng. Hằng năm, đất rừng làm rẫy có thể được điều chỉnh lại giữa các hộ nếu có người đông lên hay giảm đi. Về nguyên tắc, các hộ trong làng có thể chuyển đổi đất rừng canh tác cho nhau, nhưng tuyệt đối không được chuyển nhượng ra khỏi làng.

    Như vậy, hai đặc điểm quan trọng của xã hội cổ truyền Tây Nguyên, Làng và Sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng gắn chặt với nhau. Chúng ta thấy rõ làng Tây Nguyên là “làng rừng” và là:

    – một cộng đồng cư trú;

    – một cộng đồng sở hữu và lợi ích;

    – một cộng đồng tâm linh;

    – một cộng đồng văn hóa.

    Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng kinh tế, vật chất của thực thể cộng đồng làng. Toàn bộ đời sống vật chất, kinh tế, văn hóa, tinh thần, tâm linh, đạo đức của làng, của con người Tây Nguyên tồn tại trên nền tảng này. Sẽ rối loạn, đổ vỡ tất cả khi nền tảng này bị tổn thương và mất đi.

    Nguyên Ngọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bội Và Ước Của Một Số Nguyên
  • Hạt Nhân Nguyên Tử
  • 3.1. Khái Niệm Chung Về Thép
  • Vai Trò Các Nguyên Tố Khoáng Và Biểu Hiện Của Cây Trồng – Yakara
  • Số Nguyên Tố Là Gì? Hợp Số Là Gì? Cho Ví Dụ Minh Họa
  • Khái Niệm Về Nhà Vườn

    --- Bài mới hơn ---

  • Biệt Thự Là Gì? Toàn Bộ Định Nghĩa Và Khái Niệm 2022
  • Biệt Thự Đơn Lập Là Gì Và Tiêu Chuẩn Thiết Kế Biệt Thự Đơn Lập
  • Biệt Thự Là Gì? Những Điểm Khác Biệt Giữa Biệt Thự Và Nhà Phố
  • Những Mẫu Thiết Kế Biệt Thự Nhà Vườn 1 Tầng Đẹp Nhất
  • Sunshine Crystal River Tái Định Nghĩa Về “biệt Thự Trên Không” Tại Việt Nam
  • Nhà vườn là gì?

    Khái niệm về nhà vườn được hiểu nôm la là một ngôi nhà nhỏ chỉ khoảng trên dưới 100m2, kiến trúc đơn giản thường chỉ cao 1 tầng với mức đầu tư trung bình và được xây dựng trên một diện tích đất rất lớn từ 1000m2 đến hàng héc ta chủ yếu để trồng cây ăn quả và chăn nuôi.

    Ngày nay một bộ phận người dân có điều kiện sống cao tại các thành phố lớn đang có su hướng tự tạo cho mình và gia đình một không gian nghỉ dưỡng ven các thành phố làm nhà vườn vừa là nơi thư giãn và họp mặt bạn bè cuối tuần, vừa là nơi tăng gia sản xuất tự cung tụ cấp nguồn thực phẩm sạch cho gia đình mình.

    Với hệ thống chuồng trại chăn nuôi, ao cá và vườn rau sạch được chăm sóc, nuôi trồng theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm bởi các ” quản gia ” được thuê về trông nom nhà cửa và chăn nuôi , trồng rau cung cấp lên đô thị cho các gia chủ – một mô hình VAC khép kín cung cấp thực phẩm sạch trong bối cảnh mất an toàn thực phẩm trầm trọng hiện nay.

    Nhà vườn trong một không gian yên tĩnh , một không gian xanh với vườn cây bóng mát và một chút hồn quê trong cuộc sống sô bồ giúp ta nhớ về tuổi thơ, về gia đình và để giúp trẻ thơ có một không gian mộc mạc tìm hiểu thiên nhiên, cuộc sống dân dã….. một khu nhà vườn ven đô là sự lựa chọn hợp lý . Với khoảng cách chỉ khoảng hơn 1h đồng hồ di chuyển , những người dân đô thành đã về được ngôi nhà thứ hai , nơi thanh bình , nghỉ dưỡng của gia đình vào những ngày nghỉ cuốí tuần .

    Với một mảnh đất khoảng nơi thôn quê yên bình , hoang sơ bạn hoàn toàn có thể tìm lại được một góc quê hương , một góc yên bình trong cuộc sống với một ngôi nhà nhỏ xinh xắn tiện nghi , một khoảng vườn ngập hoa và ánh nắng , một ao cá nhỏ được kè bởi những tảng đá suối lớn và những tán cây ăn quả soi bóng trên mặt nước .

    Nhà làm điểm nhấn trong vườn, vườn tô điểm cho nhà. Những cây cối có sẵn trong khu vườn được tận dụng để tạo nên vẻ đẹp tự nhiên cho không gian. Hoa súng thả hồ nước, chè làm rào xanh, tóc tiên trồng ven đường dạo đều có thể được biến tấu thành các tiểu cảnh xinh xắn.Có thể tận dụng cây cối có sẵn để tạo thêm yếu tố tự nhiên cho khu nhà vườn. Cây xanh trong nhà vườn không cần quá cầu kỳ, trau chuốt nhưng cũng cần được thiết kế kiến trúc theo ý đồ của người sử dụng.

    Trên nền tảng tận dụng cây xanh sẵn có trong khu đất và địa phương, nhà vườn càng trở nên gần gũi gắn bó với con người hơn.Vật liệu địa phương giảm thiểu được chi phí vận chuyển vật liệu và nhân công xây dựng. Ví dụ, bạn có thể dùng đá hộc của các vùng Hòa Bình, Ba Vì làm đá kè bờ ao, đá xanh lát đường dạo kèm cỏ bụi xen kẽ hay đá ong xây nhà. Các tiểu cảnh có thể kết hợp với vật liệu gỗ càng tôn thêm vẻ đẹp hài hòa của khu vườn.

    Một số vùng có sẵn gỗ keo, quế được ngâm kỹ lưỡng làm đồ nội thất rất bền và có mùi thơm đặc biệt. Đối với những nhà vườn đơn lẻ sử dụng với mật độ thấp, có thể giao việc trông nom, chăm sóc cho người địa phương. Với nằm trong quần thể, hệ thống các điểm du lịch, nên kết hợp với các đơn vị dịch vụ quản lý nhà vườn. Ngoài việc trông nom, chăm sóc, bảo dưỡng nhà vườn, họ có thể kết hợp để cho thuê lại nhà vườn cho du khách sử dụng trong thời gian bạn vắng mặt.

    Công ty cổ phần XD & TM Kiến Tạo Việt

    --- Bài cũ hơn ---

  • 36 Mẫu Thiết Kế Biệt Thự Vườn Đẹp Nhất Năm 2022
  • Thiết Kế Biệt Thự Sân Vườn
  • Biệt Thự Du Lịch (Tourist Villa) Là Gì? Xếp Hạng Và Yêu Cầu Chung
  • Khái Niệm Biệt Thự Du Lịch Là Gì ? Khách Sạn Du Lịch Là Gì ?
  • Biệt Thự Liền Kề Là Gì? Có Nên Mua Biệt Thự Liền Kề Không?
  • Khái Niệm Về Bảo Trì

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Cụ Quản Lý Vĩ Mô Là Gì ? Khái Niệm Về Công Cụ Quản Lý Vĩ Mô
  • Công Cụ Quản Lý Môi Trường
  • Công Cụ Quản Lý Môi Trường Gồm Những Gì?
  • Đơn Vị Sự Nghiệp Là Gì? Bao Gồm Những Đơn Vị Nào?
  • Định Nghĩa Chính Xác Về Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 (Lần Thứ Tư)
  • Bảo dưỡng – bảo trì công nghiệp đóng vai trò quan trọng với các nhà máy, giúp duy trì hoạt động của doanh nghiệp, giảm chi phí phát sinh do sự cố máy móc.

    Tiêu chuẩn AFNOR x 60-010 định nghĩa Bảo dưỡng công nghiệp như sau:

    “BẢO DƯỠNG CÔNG NGHIỆP LÀ MỌI VIỆC LÀM CÓ THỂ NHẰM DUY TRÌ HOẶC KHÔI PHỤC MỘT THIẾT BỊ TỚI MỘT ĐIỀU KIỆN XÁC ĐỊNH ĐỂ CÓ THỂ TẠO RA SẢN PHẨM MONG MUỐN”

    Theo quan điểm thực hành BẢO DƯỠNG CÔNG NGHIỆP là việc thực hiện các tác vụ giúp bảo tồn năng lực thiết bị, qua đó đảm bảo tính liên tục và chất lượng của sản xuất.

    BẢO DƯỠNG diễn ra trong toàn bộ thời gian sử dụng (tuổi thọ) của thiết bị.

    BẢO DƯỠNG TỐT là đảm bảo đạt được hoạt động Ở MỨC CHI PHÍ TỐI ƯU TỔNG QUÁT.

    Từ ‘Bảo dưỡng’ – maintenance – trong tiếng Anh xuất phát từ động từ ‘maintain’, có nghĩa là ‘duy trì’. Điều này có nghĩa là duy trì khả năng làm ra sản phẩm của máy móc thiết bị. Hiện nay, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cách hiểu thông dụng nhất về Bảo dưỡng Công nghiệp ( Bảo trì công nghiệp) là duy trì hay khôi phục khả năng của máy móc thiết bị nhằm tạo ra sản phẩm có các đặc tính yêu cầu, trong thời gian cần đến chúng, với chi phí tổng quát thấp nhất.

    Ngày nay, cùng với những thay đổi công nghệ, hiện tượng toàn cầu hoá kinh tế, sự tái cơ cấu liên tục cũng như cải tiến phương tiện sản xuất, các công ty chịu áp lực cạnh tranh lớn hơn bao giờ hết. Nhiệm vụ sống còn của mỗi công ty để tồn tại và phát triển là phải sử dụng tối ưu cơ sở vật chất và thiết bị mình có thể chủ động kế hoạch sản xuất theo nhu cầu của khách hàng.

    Các nhu cầu mà sản xuất cần phải đáp ứng được:

    1. Lượng dự trữ tối thiểu: áp dụng các phương pháp sản xuất kịp thời với thời gian sản xuất (thời gian tính từ đầu vào là nguyên liệu đến đầu ra là sản phẩm) rất ngắn,

    2. Chất lượng không chỉ cao hơn mà còn phải ổn định và có thể được kiểm soát trong suốt quá trình sản xuất,

    3. Sản phẩm phải thoả mãn được nhu cầu của khách hàng, v.v…

    4. Tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, tức là theo mô hình “kéo”, chứ không phải là theo năng lực sản xuất (mô hình “đẩy” truyền thống). Đây chính là xu hướng mới, được đặt tên là “sản xuất tinh gọn” (Lean manufacturing).

    Rõ ràng là bộ phận Bảo dưỡng không còn giữ vai trò thứ yếu nữa mà phải là một bộ phận ngang hàng và gắn kết với sản xuất. Quản lý bộ phận Bảo dưỡng giờ đây không chỉ ở mức độ kỹ thuật cơ khí truyền thống mà còn phải đưa vào thêm các yếu tố:

    1. Quan niệm về sản phẩm,

    2. Quan niệm về thiết bị theo cách nhìn nhận của sản xuất,

    3. Mua sắm thiết bị mới một cách có phương pháp,

    4. Cách đưa thiết bị vào hoạt động. Mà rộng hơn là cách quản lý sử dụng thiết bị theo quan điểm nhìn nhận toàn bộ vòng đời của chúng một cách hiệu quả nhất về kinh tế, an toàn về môi trường và đảm bảo tính trách nhiệm với người sử dụng chúng.

    Để giải quyết các yêu cầu này cần phải mở rộng lĩnh vực kiểm soát Bảo dưỡng công nghiệp bao gồm:

    • Tính phức tạp ngày càng cao của công nghệ,
    • Sự tích hợp của các công nghệ mới (công nghệ thông tin, vật liệu mới,..)
    • Sự tự do hóa và toàn cầu hóa kinh tế,
    • Sự phát triển của tâm lý con người,
    • Quy luật tổ chức con người và hệ thống.

    Để hoàn thành được nhiệm vụ của mình, Bảo dưỡng công nghiệp cần phải đáp ứng ba yêu cầu có ý nghĩa sống còn, đó là kỹ năng, phương tiện và ý chí của tổ chức (công ty).

    Nếu quan tâm, bạn có thể tham khảo khóa đào tạo: Quản lý bảo trì công nghiệp hiệu quả khai giảng ngày 12/10/2018 có thể sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về Bảo trì – Bảo dưỡng công nghiệp

    Tham khảo http://techftc.com

    Mọi thông tin chi tiết về khóa học, Anh/ Chị có thể liên hệ BP. Tư vấn Trường SAMqua

    Số điện thoại:(028) 3938 1118 – (028) 3938 1119

    Hotline: 0901 457 245 – 0963 245 645

    Hoặc email:[email protected] ; [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Kỹ Thuật Công Nghiệp Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Kỹ Thuật Công Nghiệp
  • Ngành Công Nghệ Kỹ Thuật Xây Dựng Là Gì? Ra Trường Làm Gì?
  • Kỹ Thuật Là Gì? Tìm Hiểu Về Kỹ Thuật Là Gì?
  • “khu Vực Công” Là Gì? Nghĩa Của Từ Khu Vực Công Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt
  • Văn Hóa Nơi Công Sở: Thể Hiện Uy Quyền Và Tôn Trọng Đúng Lúc, Đúng Chỗ, Đúng Người
  • Khái Niệm Về Tài Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Tạo Động Lực Lao Động
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Nhiệt Động Lực Học
  • An Toàn Thiết Bị Chịu Áp Lực: Những Nguy Cơ Thường Gặp, Nguyên Nhân Và Giải Pháp Phòng Ngừa
  • Diễn Đàn Rao Vặt Kiếm Bạc Mua Bán Quảng Cáo Rao Vặt
  • Khóa Học Đào Tạo Vận Hành An Toàn Đối Với Thiết Bị Nâng,nồi Hơi,hệ Thống Lạnh Tại Hà Nội,hồ Chí Minh
  • Kết quả

    Khái niệm về tài chính:

    Các quỹ tiền tệ nói trên còn được gọi là các nguồn tài chính vì chúng là cơ sở hình thành và là đối tượng của các hoạt động tài chính. Trong thực tế, nguồn tài chính có thể được gọi với các tên như vốn tiền tệ, vốn bằng tiền, tiền vốn hay trong từng trường cụ thể thì bằng các tên gọi riêng như vốn trong dân, vốn tín dụng, vốn ngân sách… Nguồn tài chính không chỉ hình thành từ các quỹ tiền tệ mà còn từ những tài sản hiện vật có khả năng chuyển hóa thành tiền tệ. Những tài sản này khi cần có thể chuyển hóa thành tiền tệ để trở thành các nguồn tài chính. Ví dụ: nguồn tài chính của một hộ gia đình không chỉ hình thành từ những quỹ tiền tệ mà hộ gia đình này nắm giữ mà còn có thể hình thành từ các động sản và bất động sản của họ, những tài sản mà khi cần họ có thể đem bán để làm tăng quỹ tiền tệ của mình. Xét trên phạm vi quốc gia, nguồn tài chính hình thành không chỉ từ các quỹ tiền tệ trong nước mà còn từ các quỹ tiền tệ huy động từ nước ngoài vào. Đặc biệt, nguồn tài chính cũng không chỉ được hiểu là bao gồm các giá trị hiện tại mà cả những giá trị có khả năng nhận được trong tương lai. Đây là sự mở rộng rất quan trọng trong quan niệm về nguồn tài chính vì nó mở rộng giới hạn về nguồn tài chính mà mỗi chủ thể kinh tế nắm giữ. Một chủ thể kinh tế khi đưa ra các quyết định sử dụng các quỹ tiền tệ hiện tại không chỉ dựa trên nguồn tài chính mà họ hiện nắm giữ mà cả những nguồn tài chính mà họ kỳ vọng sẽ có trong tương lai.

    Trên cơ sở những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa về tài chính như sau:

    Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế. Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế.

    Cũng cần lưu ý rằng, quan điểm truyền thống về khái niệm tài chính trong rất nhiều giáo trình về Tài chính hiện nay tại Việt Nam nhấn mạnh tới các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính. Quan điểm này nhấn mạnh rằng hoạt động tài chính thực chất là hoạt động “giữa các chủ thể tham gia vào quá trình phân phối – những mối quan hệ được xem là cơ sở quyết định cách thức phân phối các sản phẩm xã hội. Ví dụ: việc trả lương phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Chủ doanh nghiệp muốn trả lương thấp để có lợi nhuận cao nhưng như vậy sẽ không khuyến khích người lao động sáng tạo ra giá trị thặng dư là cái làm ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy hoạt động trả lương chỉ hiệu quả khi giải quyết tốt mối quan hệ kinh tế giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Tương tự, trong mối quan hệ đóng thuế giữa doanh nghiệp đóng thuế và nhà nước, nhà nước cần cân nhắc việc đưa ra quyết định mức thuế sao cho vừa đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của mình, vừa phải đảm bảo khuyến khích doanh nghiệp phát triển sản xuất để duy trì khả năng đóng thuế lâu dài. phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị” giữa các chủ thể kinh tế, do vậy để hoạt động tài chính được phát triển và hiệu quả thì phải giải quyết tốt mối quan hệ kinh tế Như vậy, theo quan điểm truyền thống, hoạt động tài chính hiệu quả thì phải giải quyết tốt những mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nảy sinh trong việc phân chia lợi ích từ hoạt động phân phối tổng sản phẩm xã hội. Nói một cách khác, các hoạt động tài chính nào đảm bảo được sự công bằng trong phân chia quyền lợi nảy sinh từ hoạt động tài chính thì hoạt động tài chính đó sẽ hiệu quả và phát triển.

    Các giáo trình kinh điển về tài chính tại các nước phát triển thì lại tiếp cận khái niệm tài chính theo góc độ khác. Các giáo trình này nhấn mạnh tài chính, với tư cách là một lĩnh vực khoa học, nghiên cứu về cách thức phân bổ các nguồn lực tài chính có hạn qua thời gian. Mọi chủ thể kinh tế đều phải đối mặt với sự ràng buộc về nguồn tài chính hạn chế trong khi nhu cầu sử dụng nguồn tài chính thì đa dạng và thường là vô hạn. Chính vì vậy vấn đề đặt ra đối với các chủ thể kinh tế là làm sao để tối ưu hóa việc phân bổ các nguồn tài chính của mình cho các nhu cầu sử dụng. Hai đặc trưng quan trọng trong các quyết định tài chính là chi phí và lợi ích của các quyết định tài chính 1/ phải đánh giá được chính xác những chi phí cơ hội và lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài chính hạn chế của mình và phải kiểm soát được những rủi ro có thể nảy sinh trong quá trình sử dụng. diễn ra trong một khoảng thời gian và 2/ luôn không thể biết trước một cách chắc chắn. Ví dụ: Để quyết định đầu tư vào một dự án, doanh nghiệp phải so sánh các chi phí mà mình phải bỏ ra cho dự án đó với các khoản thu dự tính từ dự án đó. Toàn bộ quá trình đầu tư kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định và rất khó có thể dám chắc được chính xác giá trị các khoản thu đó. Ngay cả khoản chi phí phải bỏ ra cũng thường không thể dự đoán chính xác được. Hơn nữa, khi đưa ra một quyết định tài chính, doanh nghiệp phải đánh đổi chi phí cơ hội của việc sử dụng một nguồn lực tài chính cho những ích lợi có thể thu được từ quyết định sử dụng vốn của mình. Chính sự giới hạn về nguồn lực tài chính và sự không chắc chắn về lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài chính đòi hỏi các chủ thể kinh tế luôn phải cân nhắc giữa chi phí cơ hội và lợi ích của việc sử dụng nguồn lực tài chính. Do vậy, để hoạt động tài chính được hiệu quả, các chủ thể kinh tế

    Các quyết định tài chính mà một hộ gia đình sẽ gặp phải

    1. Phân chia giữa tiêu dùng và tiết kiệm

    4. Quản lý rủi ro gắn liền với các hoạt động tài chính của mình

    Các quyết định tài chính mà một doanh nghiệp sẽ gặp phải

    1. Xác định chiến lược đầu tư: lựa chọn lĩnh vực đầu tư, định hướng phát triển

    2. Lập ngân sách mua sắm: lên kế hoạch chi tiêu cụ thể cho dự án đầu tư được lựa chọn

    3. Xác định cấu trúc vốn huy động: xác định tỷ lệ giữa huy động vốn thông qua phát hành cổ phần hay huy động vốn thông qua phát hành nợ

    4. Quản lý vốn lưu động: quản lý khoản vốn lưu động nhằm đảm bảo cho dự án đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng.

    Nguồn: Ths. Đặng Thị Việt Đức – Ths. Phan Anh Tuấn (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • L10.2.1 Bài Tập Khái Niệm Về Lực_Tổng Hợp, Phân Tích Lực_Lực Cân Bằng
  • Lực Đàn Hồi Của Lò Xo Tiet 20 Doc
  • Bài 12. Lực Đàn Hồi Của Lò Xo. Định Luật Húc
  • Giáo Án Vật Lí 10 Tiết 20 Bài 11: Lực Hấp Dẫn
  • Bài 11. Lực Hấp Dẫn. Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn Luc Hap Dan Docx
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100