So Sánh Khái Niệm Văn Minh Việt Nam Và Khái Niệm Văn Hóa Việt Nam.

--- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Tín Ngưỡng Và Một Số Tôn Giáo Khác Ở Việt Nam
  • ​tôn Giáo, Tín Ngưỡng, Mê Tín Dị Đoan
  • Logic Hình Thức Logic Hinh Thuc Ppt
  • Cảm Hứng Sử Thi Là Gì ?
  • Soạn Bài: “chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Sử Thi Đăm Săn)
  • I. MỞ BÀI

    Việt Nam là một đất nước hình thành hơn bốn nghìn năm lịch sử, trong

    quá trình hình thành và phát triển của mình đất nước Việt Nam đã tạo nên cho

    mình một nềm văn hóa riêng mang đậm nét văn hóa Đông Nam Á. Bên cạnh đó

    nề văn minh Việt Nam cũng phát triển không ngừng qua bao tiến trình lịch sử.

    Nhưng không ít người nhầm lẫn giữa hai khái niệm này và đôi lúc sử dụng hai

    khái niệm này như một từ dồng nghĩa. Để hiểu rõ hơn về hai khái niệm đó

    chúng ta đi vào so sánh khái niện văn minh Việt Nam và khái niệm văn hóa

    Việt Nam.

    II. NỘI DUNG

    1, Định Nghĩa

    – Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong tiếng Việt, văn

    hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối

    sống ; theo nghĩa chuyên biệt để chỉ phát triển của một giai đoạn chúng tôi nghĩa

    rộng thì văn hóa gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín

    ngưỡn phong tục, lỗi sống, lao động…Nhưng có thể xác định 4 đặc trưng cơ

    bản cảu văn háo ta có thể tộng hợp lại để nêu ra một khái niệm văn hóa như

    sau:

    – Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do

    con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình lao động thực tiễn, trong sự tương

    tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.

    Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến

    để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài người. Các yếu tố của văn

    minh có thể hiểu gọn lại là di sản tích luỹ tri thức, tinh thần và vật chất của con

    người kể từ khi loài người hình thành cho đến thời điểm xét đến. Đối nghịch

    với văn minh là hoang dã, man rợ, lạc hậu. Khái niệm văn minh chỉ mang tính

    tương đối, có tính so sánh tại thời điểm xét đến mà không có giá trị tuyệt đối.

    1

    Có thể định nghĩa như sau: Văn Minh là một phần của Văn Hóa, đặc biệt

    là tình trạng tiến bộ của con người trong phạm vi kỹ thuật và những cải tiến đời

    sống vật chất.

    2, sự khác nhau cơ bản của văn hóa và văn min

    Văn minh thể hiện ” trình độ phát triển”. Trong khi văn hóa luôn có bề

    dày quá khứthì văn minh là một lát cắt đồng đại.

    Sự khác biệt của văn hóa và vănn minh về giá trin tinh thầnvaf tính lịch

    sử dẫn đến sự khác biệt về phạm vi: văn hóa mang tính dân tộc còn văn m inh

    mang tính quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại,

    bở lẽ các vật chất thì dễ phôe biến lây lan.

    Sưh khác biệt về nguồn gốc thể hiện ở: Văn hóa gắn bó nhiều hơn với

    phương Đông nông nghiệp, còn văn minh gắn bó nhiều hơn với phương tây đô

    thị

    3, Nhứng nét tiêu biểu của nền văn minh Việt Nam.

    Nói theo ngôn ngữ chủng học, Việt Nam là một trong những cái nôi loài

    người, thì nền văn minh Việt Nam cũng là nền văn minh cổ nhất thế giới nói

    chung và Châu Á nói riêng. Danh xưng Lạc Việt, Đại Việt và Đại Nam biểu

    trưng ba sắc thái đặc biệt của nền văn minh Việt Nam, trải qua ba thời kỳ dài

    hơn bốn nghìn năm của lịch sử dân tộc.

    Cần phân tích những nét tiêu biểu của nền văn minh Việt Nam trong ba

    thời kỳ nói trên để thấy rõ nó là một thực thể khác biệt với các nền văn minh

    khác, nhất là các nền văn minh mà nó có liên hệ, gần gũi như văn minh Chàm,

    văn minh Trung Quốc.

    Nền văn minh Lạc Việt (từ khởi thủy đến thế kỷ 3 trước Công Nguyên)

    xuất hiện với tất cả vẻ rực rỡ huy hoàng của một nền văn minh nông nghiệp mà

    đỉnh cao là ở thời kỳ Hùng Vương, thời kỳ đồng thau phát triển (thời kỳ Đông

    Sơn).

    2

    Nói thời kỳ Hùng Vương là thời kỳ tiêu biểu của nền văn minh Lạc Việt

    bởi vì nó mang tính chất khai sáng ở tất cả các mặt.

    Về mặt kinh tế xã hội, nghề nông trồng lúa nước là cơ sở phát khởi cho

    mọi nguồn sinh hoạt. Trên cơ sở đó, ý thức xây dựng và bảo vệ đời sống phát

    triển. Ngành thủ công nghiệp ở thời kỳ Hùng Vương đã để lại nhiều công trình

    độc đáo về đồ đồng (lưỡi cầy cuốc, rìu, vũ khí như đao, tên, mũi lao, các loại

    chậu, thạp, … và điển hình nhất là trống đồng), đồ sắt (như cuốc, rìu, mai, vũ

    khí như kiếm, giáo), đồ gốm (đồ đựng và đun nấu như nồi, vò, bình chậu, bát

    đĩa …), đồ đá (dụng cụ sản xuất như rìu, lưỡi đục, chày, bàn mài), đồ trang sức

    bằng đá (như vòng đeo đủ kiểu), đồ gỗ (vũ khí như lưỡi giáo). Các nghề cũng

    khá phát triển như nghề sơn, nghề xe sợi kết vải (bằng bông, đay, gai), nghề

    đan lát (bằng tre nứa). Riêng về trống đồng là những tác phảm tập trung nhiều

    tài năng về kỹ thuật, mỹ thuật và khoa học, đáng kể là trống đồng Ngọc Lũ và

    Hoàng Hạ.

    Làng xã là ý thức sơ khởi của tổ chức xã hội, trong đó gia đình phụ hệ là

    nền tảng. quyền tư hữu tài sản về ruộng đất cũng đã manh nha trong buổi đầu.

    Tất cả cơ bản của nền văn minh nông nghiệp ấy đã tồn tại hàng ngàn năm sau.

    Về mặt văn hóa, những gì còn tồn tại đến nay và còn được gọi là truyền

    thống dân tộc cũng phát xuất từ thời Hùng Vương như tín ngưỡng (thờ thần),

    phong tục (hôn nhân, tang lễ), hội lễ (hội hè đình đám ngày xuân) …

    Nền văn minh Đại Việt kế tiếp (từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 18), biểu hiệu ở

    tất cả các mặt những đặc điểm của một dân tộc đã trưởng thành sau một nghìn

    năm khổ nhục vì ách Bắc thuộc. Những ý thức và khả năng xây dựng đời sống

    toàn thiện đã lắng chìm trong giấc ngủ nghìn năm ấy để bừng dậy với tất cả sức

    sống mãnh liệt của dân tộc ở thời kỳ độc lập.

    Vì vậy, nền văn minh Đại Việt biểu dương ở nhiều mặt và có tính chất

    phong phú toàn diện.

    Ở thời kỳ này, chế độ quân chủ đã được thành lập và tổ chức xã hội dựa

    trên sự cấu tạo của bốn tầng lớp: sĩ, nông, công, thương. Tuy nông nghiệp đặt

    3

    xuống hàng thứ yếu nhưng không chính quyền nào chối bỏ vai trò quan trọng

    của nông nghiệp đối với sự tồn tại của xã hội, đã ban hành nhiều chính sách,

    chủ trương nhằm bảo vệ, cải tiến nông nghiệp và hiệu năng hóa sản xuất.

    Khuôn khổ gia đình đã mở rộng thành gia tộc. Xã thôn vẫn là đơn vị tự

    trị, nhưng còn phải đóng vai trò liên hệ trong toàn bộ. cơ cấu xã hội, đó là quốc

    gia. và ý thức quốc gia bắt đầu nẩy nở thành sức mạnh tinh thần của dân tộc.

    Do đó, dân tộc Đại Việt đã hiên ngang đứng lên đánh đuổi những thế lực

    cường bạo bao lần muốn xâm chiếm lãnh thổ của mình. Có thể ghi nhận những

    võ công của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung đã

    làm rạng danh quốc gia Đại Việt.

    Khi xã hội phát triển thì các tổ chức nhằm củng cố xã hội cũng trở nên

    phức tạp. Quan chế, binh chế, pháp chế được thiết lập. Nét tiêu biểu của nền

    văn minh Đại Việt được biểu lộ khá rõ về mặt pháp chế, nhất là dưới triều Lý

    và triều Lê.

    Dưới triều Lý, bắt đầu có pháp luật thành văn với bộ Hình Thư, quy định

    các hình phạt về tội thập ác (hình luật) và chỉ dụ của nhà vua về việc mua bán,

    tranh tụng ruộng đất (hộ luật). Người phạm tội, trừ khi phạm tội thập ác, được

    lấy tiền chuộc tội. Do ảnh hưởng Phật Giáo, pháp luật triều Lý mang nhiều tính

    chất đặc biệt như: tôn trọng nhân quyền, áp dụng chính sách cải quả đối với tội

    nhân …

    Dưới triều Trần, có bộ Quốc Triều Hình Luật quy định ba hạng tội nặng:

    tội đồn, khắc chữ vào trán và bắt cày cáy công điền; tội lưu, đày đến châu Ác

    Thủy (Quảng Yên); tội tử, bị chém. Pháp luật triều Trần nghiêm khắc hơn cả.

    Dưới triều Lê, có bộ Luật Hồng Đức, mang nhiều tính chất dân tộc, phù

    hợp với điều kiện xã hội và tôn giáo, tiến bộ về mặt kỹ thuật pháp lý, nên ảnh

    hưởng còn tồn tại đến ngày nay.

    Đa số luật pháp ở thời kỳ này chú trọng nhiều về hình luật, ít chú trọng

    về hộ luật và dân luật.

    4

    Về mặt chính trị xã hội, Hồ Quý Ly đã có những công cuộc cách mạng

    quốc gia tiến bộ và đi trước thời đại.

    Về phong tục, dân Đại Việt đã có những cung cách trang nhã trong đời

    sống, các tập quán, lễ nghi thuần hậu.

    Về tín ngưỡng, đã có một sự hòa đồng kỳ diệu giữa ba tôn giáo Nhọ

    Phật, Lão và sự hòa đồng này có ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống tinh thần

    của dân Việt.

    Khi đất nước độc lập thì văn tự cũng được hình thành một lối riêng, chữ

    nôm là một sáng tạo của dân tộc để diễn đạt tư tưởng của mình. Vì vậy, có triều

    đại muốn bảo vệ nền độc lập tư tưởng đã khuyến khích sử dụng văn nôm như

    triều Hồ, tây Sơn.

    Đặc sắc của nền văn minh Đại Việt, về mặt văn học là đã phát triển song

    song hai bộ phận: văn học truyền khẩu và văn học thành văn. Hiếm thấy trên

    nền văn học thế giới một nền văn học truyền khẩu như của Đại Việt, rất phong

    phú ở nhiều phương diện: truyện cổ tích, truyện cười, tục ngữ, ca dao. Về văn

    học thành văn, có thể nói đó là một nền văn học bác học bởi đã tập trung nhiều

    khối óc lớn và bao gồm các ngành như Lê Quý Đôn (văn học), Ngô Sĩ Liên (Sử

    Học), những ngọn bút tài hoa (văn chương) như Đặng Trần Côn (Tác giả Chinh

    Phụ Ngâm Khúc), Đoàn Thị Điểm (dịch giả chinh Phụ Ngâm), Nguyễn Gia

    Thiều (tác giả Cung Oán Ngâm Khúc). Các thể văn được sáng tạo thích hợp với

    ngôn ngữ Việt giàu âm điệu là thể lục bát và song thất lục bát.

    Về các ngành nghệ thuật, tranh mộc bản Việt là một loại tranh dân gian

    mang tính chất dân tộc độc đáo, cũng như một số nhạc khí dân tộc, tiêu biểu là

    đàn Bầu (một dây).

    Trong kịch nghệ, có loại hát chèo mang nhiều ưu điểm và tính chất dân

    tộc rõ rệt.

    Về khoa học, dù là một nền khoa học kinh nghiệm, Đại Việt cũng đã có

    những nhân tài về y học như Tuệ Tĩnh với khoa y dược dân tộc, Hải Thượng

    Lãn Ông với khoa đông y. Về thiên văn như Trần Nguyên Hãn soạn sách

    5

    nghiên cứu thiên văn và lịch pháp. Đặng Lộ chế ra dụng cụ xét nghiệm thiên

    tượng. Hồ Nguyên Trừng chế ra súng hỏa mai.

    Qua đến thế kỷ 19, xã hội Việt Nam lại biến chuyển và khai sinh một nền

    văn minh mới, văn minh Việt Nam, trong buổi đầu mang tinh thần văn hiến Đại

    Nam, đến thời Pháp thuộc tính chất Việt Nam mới nẩy sinh.

    Ở thời kỳ này, công cuộc khẩn hoang lập ấp và dinh điền là một chính

    sách kinh tế mới, cũng như nội thương và ngoại thương là hai mặt phát triển

    của ngành thương mãi quốc gia.

    Các công cuộc mở mang lớn được thực hiện: đường sá, cầu cống, kênh

    ngòi, kho vựa, thành phố, thương cảng …

    Vua Gia Long là người đã có ý thức canh tân xứ sở theo đường lối Tây

    Phương. Dưới triều vua này đã có một quân lực hùnhg mạnh nhất ở bán đảo

    Đông Đương. Chính vua Gia Long đã thấy trước được Nhật Bản 60 năm là

    khoa hoc. Tây Phương có thể giúp cho nước nhà chóng phát triển và ông đã

    dùng những người Tây Phương ở bên cạnh như là những cố vấn kỹ thuật. Ông

    cũng đã khuyên ngăn con là vua Minh Mạng nên hậu đãi người Âu (đặc biệt là

    Pháp), song không cho họ một đặc quyền gì, nhưng đáng tiếc là vua này không

    nghe lời khuyên ấy, cũng như các vua về sau, nhất là Tự Đức không lưu ý đến

    các đề nghị cải cách quốc gia của Nguyễn Trường Tộ với những ý kiến sáng

    suốt là hoài bão, là ý chí, niềm tin của người Việt thiết tha với tiền đồ xứ sở và

    là tấm gương muôn đời cho hậu thế. Tinh thần Nguyễn Trường Tộ về sau, trong

    thời kỳ Pháp thuộc đã biểu lộ ở các hoạt động của phong trào Đông Du, Đông

    Kinh Nghĩa Thục (duy tân) và rộng ra ở tất cả mọi hoạt động cách mạng của

    các chí sĩ yêu nước.

    Một biện pháp cải tạo xã hội tốt đẹp ở thời kỳ này là vấn đề cứu tế xã hội

    để chống nghèo đói và bệnh tật của các tầng lớp nhân dân.

    Đặc điểm của thời kỳ văn hiến Đại Nam là kho tàng văn học, chữ Hán,

    chữ Nôm và ở thời kỳ Pháp Thuộc là chữ quốc ngữ. Đáng lưu ý là Phan Huy

    Chú với bộ Lịch Triều Hiến Chương, một bộ bách khoa toàn thư có giá trị lớn.

    6

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lập Luận Trong Văn Nghị Luận
  • Lập Luận Là Gì? Thế Nào Là Một Lập Luận Hợp Lý?
  • Thao Tác Lập Luận So Sánh.
  • Thao Tác Lập Luận So Sánh
  • Lợi Thế Tuyệt Đối Là Gì? Thế Nào Là Lợi Thế So Sánh?
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Khái Niệm Nhà Nước, Sự Khác Biệt Giữa Nhà Nước Với Các Thiết Chế Chính Trị Khác Trong Xã Hội?
  • Truyền Thuyết Là Gì, 4 Đặc Trưng Của Truyền Thuyết Lớp 6
  • Thể Loại Truyền Thuyết: Khái Niệm, Đặc Trưng, Phân Loại
  • Văn hóa giao thông là gì? văn hóa giao thông của người Việt hiện nay như thế nào? Văn hóa tham gia giao thông tại Việt Nam có tốt không?

    Chú ý: Bạn có nhu cầu học lái xe ô tô hãy tham khảo khóa học lái xe ô tô B2

    Khái niệm văn hóa giao thông là gì tại Việt Nam

    Biết bao những khẩu hiệu với mục đích tuyên truyền trên khắp các tuyến phố của thủ đô như ” Tuổi trẻ Thủ đô với văn hóa giao thông” , “Tuổi trẻ nói không với tai nạn giao thông”, hay những câu slogan kiểu như “Văn hóa giao thông ? Hãy không lơ là!”. Từ cờ đuôi nheo đến tấm áp phích tuyên truyền về văn hóa giao thông nhưng có vẻ chúng không đem lại được quá nhiều hiệu quả. Nguyên nhân là tại sao?

    Học bằng lái xe là yêu cầu nếu bạn muốn điều khiển xe cơ giới

    Theo các bạn, liệu có mấy người hiểu được cái khái niệm ” văn hóa giao thông là gì?”. Khi được hỏi về khái niệm văn hóa giao thông. Thì có rất nhiều quan niệm khác nhau về tầm cỡ, quy mô của nó.

    Từ đây mới thấy, vẫn còn một khoảng cách rất xa giữa những câu khẩu hiệu đối với những hành động cụ thể. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến công tác tuyên truyền về trật tự an toàn giao thông tại Việt Nam vẫn chưa thể đạt được hiệu quả cao nhất.

    Văn hóa giao thông của người Việt

    Việc nói một cách rất chung chung, không cụ thể, rõ ràng, chi tiết thì làm sao người khác hiểu được vấn đề. Việc tuyên truyền khẩu hiệu mà không đi kèm hướng dẫn chi tiết, cụ thể thì làm sao người tham gia giao thông hiểu hết được ý nghĩa của các tấm áp phích này chứ. Chẳng hạn tại những đoạn đường thường xuyên xảy ra ùn tắc, ngã 3, ngã tư, nguyên nhân xảy ra ùn tắc chủ yếu là do văn hóa nhường đường, văn hóa xếp hàng của người Việt. Cứ thấy trống là phi xe lên mặc dù chặn ngang xe đi ngược chiều, không ai chịu nhường ai…mà thiếu văn hóa hơn là những lời nói không dễ nghe một chút nào

    Nếu tại những địa điểm này, có một câu hướng dẫn chi tiết đi kèm với những câu khẩu hiệu rất hay như ” văn hóa nhường đường, văn hóa xếp hàng giảm ùn tắc giao thông ” hay những lời nhắc người tham gia giao thông về tính nhường nhịn, hòa nhã, không chen lấn khi tham gia giao thông thì tốt biết bao. Nhường đường cho người đi bộ, người già, trẻ nhỏ, người khuyết tật…là một nét đẹp văn hóa mà người Việt Nam cần có.

    Còn theo các bạn, văn hóa giao thông là gì? Hãy để lại ý kiến của bạn và cùng nhau xây dựng một Việt Nam với văn hóa giao thông văn minh. Học lái xe ô tô Hà Nội 83 Group

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Cùng Bàn Luận Về Khái Niệm Văn Hóa Và Nếp Sống Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hóa Đọc Thời Hiện Đại
  • Đây là những công cụ – khái niệm hay công cụ – nhận thức dùng để tiếp cận những vấn đề nghiên cứu. Chúng thường hay bị, hay được sử dụng lẫn lộn, dù mỗi một khái niệm đều có những đặc trưng riêng của mình. Bạn đang xem bài viết Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm khác trong chuyên mục Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam tại website của mr Tâm Pacific. Chúc cho bạn nghiên cứu thành công tất cả các bài viết về Văn Hóa Việt Nam trên website.

    Khái niệm Văn Hóa

    Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thưở bình minh của xã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa : Xem dáng về con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng ( năm 77-6 trước công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).

    Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ Culture, người Đức có từ Kultur, người Nga có từ Kultura. Những từ này lại có chung gốc La Tinh, là chữ Cultus Animi, là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ Cultus là văn hóa với hai khía cạnh : trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng, để không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản, và thay đổi theo thời gian thuật ngữ văn hóa với nghĩa “Canh Tác Tinh Thần” được sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lý canh tác nông nghiệp.

    Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng, bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh. Ông E.B Taylor là người diện của họ. Theo ông, văn hóa và toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

    Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo F. Boas ý nghĩa văn hóa được quy định do khung giải thích riêng, chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”. Vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa”. Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Theo A.L Kroeber và C.L Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng, và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.

    Khái niệm Văn Minh

    Văn Minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp minh là sáng) chỉ tia sáng của đạo đức, thể hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Trong tiếng Anh, Pháp từ Civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn gốc La Tinh là Civitas với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phát sinh là thị dân, công dân. theo W. Durrant sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hóa, nhờ một trật tự xã hội gây ra, và kích thích. Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức luân lý, và hoạt động văn hóa. Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết.

    Theo F. Ăngghen thì văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại, và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước. Như vậy, khái niệm văn minh thường bao hàm bốn yếu tố cơ bản là đô thị, nhà nước, chữ viết, các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý, tiện lợi cho cuộc sống của con người. Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa. Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa (culture) và văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người. Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, hoặc cả nhân loại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm.

    – Thứ nhất : trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lắt cắt đồng đại.

    – Thứ hai : trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kỷ thuật.

    – Thứ ba : trong khi văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt, thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế.

    Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hóa Trung Quốc, … Mặc dù, giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau, đó là do con người sáng tạo ra.

    Khái niệm Văn Hiến

    Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm Văn Hiến. Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử. Từ đời Lý (1010) người Việt Nam đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”. Đến đời Lê (thế kỷ XV) Nguyễn Trãi viết : “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” – (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng rãi, chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.

    Văn hiến ( hiến = hiền tài ) – truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Giáo Sư Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định : “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời. Nói cách khác là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy Văn Hiến thiên về những giá trị tinh thần, do những người có tài đức chuyền tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.

    Khái niệm Văn Vật ( vật = vật chất )

    Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử, và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”. Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật, cũng thể hiện sâu sắc tinh thần dân tộc, và tính lịch sử. Khái niệm văn hiến, văn vật, thường gắn với phương Đông nông nghiệp, trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị. Như vậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa của văn hóa.

    Từ năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ là A.L Kroeber và C.L Kluckhohn đã trích lục được trên dưới ba trăm định nghĩa, mà các tác giả khác nhau của nhiều nước từng phát ra từ trước nữa cho đến lúc bây giờ. Từ đó đến nay, chắc chắn số lượng định nghĩa tiếp tục tăng lên và đương nhiên, không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hay hòa hợp, bổ sung cho nhau. Chúng tôi xin dẫn một số định nghĩa đã được công bố trong những giáo trình và công trình nghiên cứu về Văn hóa học hay Cơ sở văn hóa Việt Nam. Theo một số học giả Mỹ là “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt, phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Ở trung tâm của văn hóa quyển, là hệ tư tưởng cũng được xem là một hệ văn hóa.

    Ở Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Vì lẻ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Trích trong Hồ Chí Minh toàn tập, in lần 2, của Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội năm 1995 ở tập thứ 3, trang 431.

    Phó Giáo Sư Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận, “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả, và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”.

    Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, Phó Giáo Sư , TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy ra quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Chúng tôi cho rằng, trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa, ta có thể tạm quy về hai loại. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, … Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn, … và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ như xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”. Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, Phó Giáo Sư Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ :

    – Góc rộng hay góc nhìn dân tộc học, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội.

    – Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hằng ngày, còn gọi là góc báo chí.

    Theo cách hiểu góc rộng – văn hóa là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất và tinh thần của từng cộng đồng. Ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Văn hóa từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng hơn, hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, của xã hội. Ngày nay, văn hóa dưới góc báo chí đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả, là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội.

    Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh

    *** Bạn đang xem bài viết :

    Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm Văn Hóa khác

    Link https://tampacific.com/khai-niem-van-hoa-va-cac-khai-niem-van-hoa-khac.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Văn Hóa Việt Nam Trong Không Gian Văn Hóa Đông Nam Á

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Những Nét Đặc Sắc Trong Văn Hóa Đông Nam Á
  • Hiểu Đúng Về Khái Niệm Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể
  • Định Nghĩa Lại “di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Của Nhân Loại”?
  • Bài 1: Văn Hóa Và Văn Hóa Học
  • Huỳnh Triệu Phong

    (1) Đông Nam Á là một trong những địa bàn được xem như là cái nôi của nhân loại với sự hiện diện từ rất sớm của loài người. Đồng hành chung với tiến trình lịch sử của nhân loại, Đông Nam Á đã ngày càng trở thành một khu vực đa văn hóa với sự hiện diện đông đúc và đa dạng của nhiều dân tộc, quốc gia. Chính điều này đã góp phần làm cho Đông Nam Á đang dần trở thành một khu vực đặc sắc của thế giới. Văn hóa Đông Nam Á ngày nay vừa là sự kế thừa và phát huy vốn văn hóa bản địa truyền thống vừa là sự tiếp thu có chọn lọc những yếu tố mới từ bên ngoài, cả phương Đông lẩn phương Tây. Trong kho tàng văn hóa đồ sộ của Đông Nam Á có rất nhiều yếu tố chung, làm nên cái “khung” Đông Nam Á, song củng có không ít những yếu tố đặc sắc, riêng biệt tiêu biểu cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Nói cách khác văn hóa Đông Nam Á là nền văn hóa thống nhất trong sự đa dạng.

    Việt Nam là một trong số những quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Trên chặng đường hình thành, tồn tại và phát triển, Việt Nam – với tư cách là một thành viên trong không gian văn hóa Đông Nam Á đã có những sự tiếp nhận, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các quốc gia còn lại trong khu vực. Những giá trị văn hóa mà Việt Nam tiếp nhận thể hiện trong đó sự tương đồng, tương cận với những giá trị văn hóa của Đông Nam Á (hay ở đây, tôi gọi chúng là “hằng số văn hóa Đông Nam Á”). Những sự tương đồng và tương cận ấy không phải ngẫu nhiên, mà điều đó cho thấy tiến trình phát triển của các quốc gia đấy là cùng dựa trên một nền tảng, đó là yếu tố tự nhiên chi phối.

    Vậy nên, bài viết này sẽ phân tích sự tương đồng và tương cận của văn hóa Việt Nam với văn hóa Đông Nam Á từ góc nhìn địa – văn hóa, tức xem yếu tố tự nhiên như nguồn cội của sự tương đồng giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa của toàn khu vực, qua đó góp phần làm rõ hơn luận điểm “Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ” như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định.

    Theo một số quan điểm, nếu xem Đông Nam Á là một khu vực địa lý-hành chính thì nó bao gồm không gian của 11 quốc gia: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Philippines, Malaysia, Singapore, Đông Timor, Indonesia và Brunei với tổng diện tích là hơn 4,5 triệu km2 và dân số xấp xỉ 600 triệu. Những quốc gia này cũng chính là các thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á – ASEAN (được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967).

    Trái lại, nếu đi từ tiêu chí văn hóa, một số tác giả lại cho rằng không gian văn hóa Đông Nam Á lại rộng hơn, chúng bao hàm cả dãi đất kéo dài từ Đài Loan, qua nam Trung Quốc (từ phía Nam sông Dương Tử), vùng Đông-Bắc và Nam Ấn Độ. Cơ sở của nhận định trên bắt nguồn từ yếu tố thời tiết vì toàn bộ khu vực này bị chi phối bởi chế độ thời tiết khí hậu nhiệt đới, gió mùa của châu Á. Hơn nữa, từ trước thế kỷ XIX Đông Nam Á vẫn chưa được nhìn nhận rõ rệt và đầy đủ như một khu vực địa lý – lịch sử – văn hóa – chính trị riêng biệt. Bởi nó đã bị lu mờ giữa hai nền văn minh phát triển rất rực rỡ là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ. Nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, khu vực văn hóa Đông Nam Á ngày càng được công nhận rộng rãi trong khoa học. Nhưng không chỉ dừng lại ở việc dựng lại các vương triều, các nền văn minh cổ ở đây, mà Đông Nam Á đang từng bước được xem xét như một khu vực lịch sử – văn hóa – kinh tế – chính trị thật sự.

    Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả tiếp cận Đông Nam Á như một không gian văn hóa.

    Tính thống nhất về mặt văn hóa của khu vực và tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng vùng văn hóa được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao hàm trong nó rất nhiều thành tố cả về vật chất lẫn tinh thần của văn hóa Đông Nam Á. Đương nhiên, trong quá trình phát triển, văn hóa Đông Nam Á đã tiếp thu nhiều yếu tố mới từ bên ngoài mà tiêu biểu nhất là từ Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập và phương Tây. Nhờ sự giao lưu này, văn hóa Đông Nam Á đã đạt được những thành tựu mới mẻ trong quá trình phát triển của mình.

    Chính từ những “hằng số” ấy đã tạo tác nên một nền “Văn minh Lúa nước” trứ danh khắp thế giới. Người ta đã khẳng định được rằng: trước khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ thì cư dân Đông Nam Á đã có một nền văn hóa bản địa khá phát triển. Đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Cây lúa hầu như có mặt ở tất cả các quốc gia Đông Nam Á. Nó xuất hiện rất sớm trong đời sống của cộng đồng cư dân vùng đất này. Có thể xem cây lúa nước là nền tảng để cấu tạo nên văn minh Đông Nam Á. Mặc dù không được những vùng châu thổ rộng lớn như Ấn Độ và Trung Quốc do những con sông lớn tạo thành, nhưng Đông Nam Á cũng đã và đang trở thành vựa lúa của thế giới như đã đề cập ở trên. Cho đến nay, với bao biến đổi trên nhiều bình diện, ta vẫn không thể phủ nhận vai trò của cây lúa trong việc góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của cả khu vực; và Đông Nam Á vẫn đang giữ vị trí đứng đầu trong việc xuất khẩu gạo.

    Sự tương đồng và tương cận giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Đông Nam Á nằm trong một biên độ rất rộng. Tôi cho là như vậy. Việc phân tích những tương đồng và tương cận ấy là một thao tác không đơn giản vì để tìm ra những tương đồng ấy, chúng ta phải đặt ra các tiêu chí dựa vào các thành tố văn hóa. Song, một thực tế cho thấy là hiện nay, các quan điểm phân loại thành tố văn hóa vẫn chưa có hồi kết. Vì vậy, trong bài viết này, tôi chỉ chỉ ra những giá trị văn hóa có sự tương đồng lẫn nhau giữa Việt Nam và Đông Nam Á, có chịu sự chi phối từ yếu tố tự nhiên mà thôi.

    Trước tiên, diện tích của Việt Nam bằng khoảng 1/13 tổng diện tích của Đông Nam Á; hơn nữa, nếu Đông Nam Á được xem như là “cầu nối” giữa thế giới Đông Á với Tây Á và Địa Trung Hải thì Việt Nam lại tọa lạc ngay trung tâm của Đông Nam Á. Chính vị trí này đã tạo ra rất nhiều thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa. Nhìn từ yếu tố địa hình, Việt Nam sở hữu các loại địa hình tương đối đa dạng, vừa có đồng bằng, vừa có cao nguyên, vừa có biển. Điều này đã khiến cho nhiều người liên tưởng và đồng ý với quan điểm cho rằng Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ.

    Mặt khác, vì nằm trong khu vực Đông Nam Á nên Việt Nam cũng gần gũi và chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ. Đây là hai nền văn minh lớn, dẫn dắt cho toàn khối Đông Nam Á.

    Với thực tiễn như vậy, có thể nhìn thấy các điểm tương đồng, tương cận giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Đông Nam Á như sau:

    Hay ví dụ khác, trong truyền thống đa phần cư dân Đông Nam Á đều ở nhà sàn, đấy là thống nhất. Nhưng trong thực tế có vô vàn loại hình nhà sàn: nhà sàn ở vùng sườn dốc khác với nhà sàn ở vùng đất bằng, nhà sàn làm ở vùng khô khác với nhà sàn làm ở các vùng đầm lầy, ngập nước; nhà sàn dài khác nhà sàn ngắn, chưa nói là tập quán sống trong các loại nhà sàn khác nhau của các nhóm cư dân khác nhau là vô cùng đa dạng.

    Tóm lại, ở mọi thành tố của văn hóa Đông Nam Á, chúng ta đều có thể thấy một sự thống nhất trong muôn hình muôn vẻ sự tồn tại đa dạng của chúng ở các dân tộc Đông Nam Á.

    Có thể khẳng định Đông Nam Á có có một bản sắc văn hóa riêng và ngày càng tiến bộ. Các quốc gia thuộc Đông Nam Á hiện nay đang phát triển kinh tế hết sức nhanh chóng và mạnh mẽ. Mà văn hóa là động lực quan trọng nhất của của sự phát triển một nước, một khu vực. Với bề dày văn hóa mang bản sắc chung, đặc sắc, các quốc gia Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ tiến xa hơn nữa, đạt được nhiều thành tựu mới trong tương lai, Đông Nam Á sẽ trở thành một khu vực hòa bình, ổn định, một khu vực phát triển, thịnh vượng của thế giới./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Vị Văn Hóa Việt Nam
  • Hướng Dẫn Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Từ A
  • Corporate Culture / Organizational Culture / Văn Hóa Doanh Nghiệp / Văn Hóa Tổ Chức
  • Bàn Thêm Về Mối Quan Hệ Văn Hóa Và Văn Minh
  • Thêm Một Lần Bàn Về Văn Hóa Và Văn Minh
  • Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tin Học 6 Bài 17: Định Dạng Đoạn Văn Bản
  • Mẹo Nhỏ Để Trình Bày Văn Bản Đẹp Meo Nho Trong Stvb Doc
  • Cách Liên Kết Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Giải Bài Tập Và Thực Hành 7: Định Dạng Đoạn Văn Bản Tin Học 10
  • Thế Nào Là Đoạn Văn ?
  • Trong số những công trình nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng, tác phẩm ” Bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS Phan Ngọc có một vị trí vô cùng đặc biệt. Đặc biệt vì đây là một trong số rất ít những quyển sách với mục tiêu xây dựng những khái niệm nền tảng, những phương pháp cơ bản cho ngành văn hóa nói chung và ngành nghiên cứu văn hóa Việt Nam nói riêng để ngành này sớm trở thành một ngành khoa học độc lập.

    Đặc biệt cũng là vì đây là công trình nghiên cứu của một người vốn nổi tiếng là một nhà “lập thuyết” với những quan điểm đôi khi rất cực đoan vì yêu cầu muốn đi đến tận cùng bản chất vấn đề trong nghiên cứu khoa học.

    “Bản sắc văn hóa Việt Nam” bao gồm 14 chương và được chia làm ba phần:

    Phần I: “Những khái niệm mở đầu” sẽ cung cấp cho độc giả những khái niệm cơ bản của văn hóa học với những cách tiếp cận riêng của tác giả trong nghiên cứu văn hóa.

    Phần III: “Bảo vệ và phát huy văn hóa” được trình bày như một phần kết luận với những suy nghĩ, giải pháp đề xuất của tác giả để bảo vệ văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu hội nhập như: Cách phát huy văn hóa trong cuộc tiếp xúc văn hóa hiện nay, Ưu thế của văn hóa Việt Nam trong giai đoạn kinh tế thị trường…

    Là một công trình nghiên cứu công phu và tâm huyết, ” Bản sắc văn hóa Việt Nam” chứa đựng nhiều ý tưởng độc đáo, mang tính đột phá và góp phần cơ bản vào quá trình xây dựng và hoàn chỉnh ngành văn hóa học Việt Nam. Người đọc chắc chắn cũng sẽ vô cùng tâm đắc với những khái niệm và cách tiếp cận đầy sáng tạo như: “khúc xạ văn hóa”, “tiếp xúc văn hóa”, “truyền thống vượt gộp trong văn hóa Việt Nam”, “nhân cách luận Việt Nam”, “một định nghĩa thao tác luận về văn hóa”…

    Bản sắc văn hóa Việt Nam” là một cuốn sách dành cho tất cả những ai quan tâm đến văn hóa học và văn hóa Việt Nam, những ai muốn hiểu được những gì đã, đang và sẽ làm nên thế giới bên trong của người Việt, như lời tác giả: “Hy vọng những cố gắng tìm hiểu chính mình khá nghiêm túc suốt một đời sẽ giúp các bạn hiểu được chính các bạn”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Sắc Văn Hoá Doanh Nghiệp Là Gì? Đặc Trưng
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Quyết Định Hành Chính
  • Nội Dung Cơ Bản Môn Kỹ Thuật Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Quy Trinh Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật ?
  • Văn Hóa Chính Trị Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Cách Tiếp Cận Về Văn Hóa Chính Trị
  • Văn Hóa Công Sở Là Gì?
  • Văn Hóa Công Sở Là Gì? Làm Thế Nào Để Xây Dựng Văn Hóa Công Sở?
  • Lạm Bàn Về Văn Hoá Công Sở
  • Văn Hóa Công Sở Là Gì ?
  • Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người nên luôn in đậm dấu ấn của chủ nhân. Chính vì vậy mà người ta thường nói văn hóa là căn cước để nhận diện một cộng đồng, một dân tộc. Nhưng, chính con người cũng là sản phẩm của môi trường và hoàn cảnh, của những tác động khách quan. Do đó, để tìm ra những đặc trưng văn hóa cần tìm hiểu những tác nhân này.

    Một đặc trưng nổi trội của văn hóa là giao lưu và tiếp biến, theo đó tác động qua lại và chịu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa, tiếp nhận các giá trị văn hóa ngoại lai, biến đổi nó cho phù hợp và dần trở thành cái của mình, làm phong phú thêm vốn văn hóa của mình là hiện tượng có tính quy luật.

    Trong bốn thành tố đã nêu ở trên, toàn bộ những sáng tạo của một cộng đồng tạo nên thiết chế quyền lực, phương thức vận hành, những giá trị chi phối hoạt động chính trị, những mối quan hệ và ứng xử giữa con người với nhau trong quá trình chính trị có thể quy khái niệm văn hóa chính trị thuộc văn hóa quy phạm. Cũng như các sáng tạo văn hóa khác, văn hóa chính trị cũng chịu những tác động khách quan và chịu sự chi phối bởi những đặc trưng chung của văn hóa.

    Văn hóa chính trị như một thuật ngữ trong khoa học chính trị xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng giữa thế kỷ XX, gắn với tên tuổi hai học giả Hoa Kỳ là Gabriel Almond và Sidney Verba. Theo hai ông, văn hóa chính trị được hiểu như thái độ, cách thức ứng xử của một cộng đồng dân tộc (bao gồm cả chính giới và người dân) với quyền lực chính trị. Từ đó đến nay, cùng với sự phát triển đa dạng của khoa học chính trị, nội hàm của khái niệm văn hóa chính trị cũng được hiểu rất khác nhau, nên khó có thể dựa hẳn vào một định nghĩa nào. Hơn nữa, mặc dù các học giả phương Tây là những người đi tiên phong trong việc đưa ra khái niệm, nhưng xét về thực chất, văn hóa chính trị đã hình thành từ rất sớm và không phải chỉ có ở châu Âu.

    Cũng giống như quá trình sáng tạo văn hóa nói chung, một đặc điểm quan trọng của văn hóa chính trị là cùng với những yếu tố nội sinh – những yếu tố có cội nguồn bản địa, sinh ra từ cơ tầng văn hóa truyền thống, tạo nên tính đồng nhất cao trong văn hóa chính trị, luôn có những yếu tố ngoại lai nhưng được tiếp biến và có sức sống trong văn hóa bản địa hoặc những giá trị văn hóa bản địa bị biến đổi dưới tác động của chúng, được gọi là yếu tố ngoại sinh.

    Văn hóa chính trị Việt Nam không nằm ngoài những quy luật chung này của nhân loại.

    Tuy nhiên, văn hóa chính trị Việt Nam chắc chắn có những yếu tố làm nên nét đặc sắc rất riêng biệt, thưa Giáo sư?

    Chuyên gia cao cấp Vũ Minh Giang: Đúng vậy, ngoài những điểm chung, văn hóa chính trị chịu tác động của đặc trưng văn hóa riêng của từng dân tộc. Chủ nhân của văn hóa Việt Nam – một nền văn hóa đa dạng, phong phú – là một cộng đồng phức hợp về mặt nhân chủng bao gồm 54 thành phần dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm trên 91%. Nếu như các dân tộc trên đất Việt Nam là bức tranh thu nhỏ của bản đồ tộc người đa sắc mầu trên toàn khu vực Đông Nam Á và nam Trung Hoa thì người Kinh lại là sản phẩm kết tinh của sự giao hòa suốt mấy nghìn năm của các cộng đồng tộc người đó. Do đặc điểm này mà người Việt có một số ưu thế như sức sống bền bỉ dẻo dai, mẫn cảm với cái mới, năng lực sáng tạo rất dồi dào. Địa bàn sinh tụ của người Việt ở vào vùng nhiệt đới, gió mùa, nắng lắm, mưa nhiều lại tập trung theo mùa nên bão lũ thường xuyên xảy ra và đi kèm với nó là ẩm thấp, dịch bệnh… Môi trường sống là vùng đất giao thoa với những biến động thường xuyên đã đặt ra cho con người những thử thách hiểm nghèo. Khắc phục và thích ứng với hoàn cảnh đó, người Việt trải qua nhiều thế hệ đã được tôi rèn bản lĩnh và nhiều truyền thống đã hình thành. Những chuẩn mực xã hội và quy phạm đạo lý truyền thống đã có ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa chính trị Việt Nam.

    Đây là những yếu tố được hình thành trong một quá trình rất lâu dài của lịch sử. Những chuẩn mực hay quy phạm ngưng đọng lại, đã trở thành những giá trị được cả cộng đồng thừa nhận thì rất khó biến đổi, rất khó bị mất đi, thậm chí được coi là “trường tồn”. Vì vậy, nó có tác dụng rất lớn trong việc kiểm soát và điều chỉnh các hành vi của mỗi thành viên trong cộng đồng.

    Đối với người Việt, do đặc điểm của lịch sử, luôn luôn phải đối chọi với các thế lực ngoại bang để bảo tồn giống nòi. Những cuộc chiến tranh để giành và giữ độc lập dân tộc diễn ra khá thường xuyên nên thái độ đối với quyền lợi dân tộc là một chuẩn mực, một thước đo quan trọng của người Việt Nam. Trước đây, dưới thời phong kiến, trong dân chúng đã hình thành một nguyên tắc ứng xử rất tự nhiên: “Sinh vi danh tướng, tử vi thần”. Có nghĩa là tất cả những ai có công lao đánh giặc giữ nước, lúc qua đời được nhân dân tôn thờ là thần linh.

    Kế thừa những chuẩn mực xã hội mang tính truyền thống, trong giai đoạn cách mạng hiện đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu khẩu hiệu nổi tiếng:”Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Khẩu hiệu đó đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vọng của người dân Việt Nam nên đã có sức lan tỏa vô cùng rộng lớn. Vì đây là một giá trị tinh thần được cả xã hội đề cao, nên qua năm tháng nó trở thành một quy phạm đạo lý chính trị của người Việt Nam.

    Sống trong môi trường của quan hệ làng xã suốt mấy nghìn năm, người Việt Nam ưa trợ giúp nhau. Dần dần những tập quán ứng xử đó cũng trở thành đạo lý, thành chuẩn mực để xét đoán. Để tồn tại và phát triển đến ngày nay, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua những thử thách vô cùng hiểm nghèo. Vũ khí mạnh mẽ nhất giúp dân tộc Việt Nam thành công trước những thử thách đó là đoàn kết dân tộc. Do đó, đoàn kết thống nhất là một chuẩn mực của đạo lý Việt Nam. Để duy trì khối đoàn kết thống nhất, người Việt Nam có một chuẩn mực xã hội truyền thống là quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi của cộng đồng, quyền lợi của các cộng đồng nhỏ phải phục tùng quyền lợi của cộng đồng lớn, quyền lợi của cả dân tộc.

    Nói đến văn hóa chính trị không thể không kể đến tập quán chính trị của cư dân. Đây là một nội dung quan trọng của truyền thống chính trị. Nó phản ánh lối ứng xử truyền thống của cư dân với chính quyền.

    Qua tổng kết của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể nêu một số biểu hiện về tập quán chính trị của người Việt Nam. Thứ nhất, Việt Nam là một dân tộc không sùng tín. Do đó trong lịch sử không có hệ tư tưởng tôn giáo nào hoặc những học thuyết cai trị nào khiến cho người Việt sùng bái đến mức cực đoan hoặc làm mê muội họ.

    Thứ hai, người Việt Nam có mẫn cảm về chính trị và dễ can dự các công việc chính trị.

    Thứ ba, Việt Nam là một dân tộc không cam chịu, bất khuất.

    Do hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt, người Việt đã từng bị cai trị trong thời gian quá dài bởi các chính quyền đô hộ ngoại bang nên có một tập quán lấy tiêu chí dân tộc (vì lợi ích dân tộc hay phản lại lợi ích đó) để phân biệt chính quyền. Nếu là chính quyền vì lợi ích của dân tộc thì đây là quan hệ hòa đồng. Nhưng khi chính quyền là của ngoại bang thì dân hoàn toàn đối lập lại chính quyền.

    Trong văn hóa chính trị, uy tín chính trị là một nhân tố quan trọng. Đó là một trong những hình thức biểu hiện của quyền lực, nhưng mặt khác nó lại là ảnh hưởng được thừa nhận rộng rãi bởi quần chúng của cá nhân hay tổ chức trên phương diện chính trị. Cho nên vấn đề uy tín chính trị phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm truyền thống của cộng đồng cư dân. Thông thường ở bất cứ đâu, uy tín đều được xây dựng trên cơ sở của các giá trị tri thức-kinh nghiệm, đạo đức-phẩm chất, tài năng và mức độ cống hiến nó.

    Tính cách dân tộc, hay nói cách khác là quan niệm truyền thống thường chi phối cách nhìn nhận về đạo đức phẩm chất và tính chất của sự cống hiến.

    Đối với người Việt, ngoài những chuẩn mực chung, một cá nhân hay một tổ chức muốn có uy tín chính trị phải thể hiện được lòng yêu nước cao độ, phải hòa đồng gần gũi với dân chúng. Với riêng cá nhân thì phải biết hy sinh cá nhân và đem tài năng phụng sự dân tộc. Do đặc điểm của một nước nông nghiệp, vốn có truyền thống trọng kinh nghiệm hơn trọng tài năng, nên tuổi tác cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên uy tín.

    Bên cạnh những yếu tố nội sinh, trong văn hóa chính trị còn phải kể đến tư tưởng chính trị, các học thuyết cai trị và các giáo lý tôn giáo được du nhập vào nước ta qua các thời kỳ lịch sử, đã từng có vai trò thống trị trong quá khứ. Những yếu tố này thậm chí còn tiếp tục tác động đến thiết chế chính trị hiện đại.

    Ở nước ta, bệ đỡ tư tưởng cho các hệ thống chính trị đã từng tồn tại trong lịch sử bao gồm những học thuyết, những tư tưởng chính trị-tôn giáo có nguồn gốc ngoại lai như Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo.

    Tuy nhiên, một đặc điểm rất nổi bật trong văn hóa chính trị Việt Nam là những tư tưởng và học thuyết ngoại lai chỉ có sức sống khi nhập thân vào dân tộc, hòa đồng với những tư tưởng, đạo lý chính trị bản địa, tuy không được hình thức hóa bằng các học thuyết, chủ nghĩa nhưng luôn là cốt lõi cho bệ đỡ tư tưởng chính trị. Thậm chí, nó còn là nhân tố chi phối buộc các học thuyết và hệ tư tưởng ngoại lai phải thay hình đổi dạng để phù hợp với đặc điểm dân tộc. Đó là chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc và truyền thống nhân ái, hòa đồng mang tính chất làng xã.

    Mặt khác, trải qua một thời gian dài, thích nghi, biến đổi, Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo và các giá trị văn hóa tiếp nhận khác cũng đã trở thành một bộ phận của văn hóanói chung và văn hóa chính trị Việt Nam nói riêng.

    Thưa Giáo sư, đề nghị ông cho biết văn hóa chính trị thể hiện trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như thế nào?

    Chuyên gia cao cấp Vũ Minh Giang: Chủ nghĩa cộng sản và những chính đảng hoạt động vì lý tưởng cộng sản xuất hiện trước tiên ở châu Âu, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lại là một sản phẩm của văn hóa chính trị Việt Nam.

    Trước hết, tính chất dân tộc, thái độ đối với vận mệnh dân tộc là một đặc điểm quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất của văn hóa chính trị. Cuối thế kỷ 19, độc lập, chủ quyền của Việt Nam rơi vào tay thực dân Pháp. Nhiều thế hệ các nhà yêu nước đã tìm đường cứu nước, nhiều phương sách chính trị đã được áp dụng để đất nước thoát khỏi ách thực dân. Nhưng chỉ có Đảng Cộng sản là tổ chức chính trị duy nhất làm được điều đó. Sự ra đời của Đảng Cộng sản gắn liền với tài năng, công lao và phong cách của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

    Có thể nói rằng, vào cuối thế kỷ 19, truyền thống Việt Nam, văn hóa Việt Nam, bao gồm cả văn hóa chính trị kết tinh trong một con người. Đó là Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Năm 1911, Người quyết định xuất dương với một một mục tiêu duy nhất: tìm đường cứu nước. Nhân tố quyết định đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lê nin là học thuyết này đứng về phía các dân tộc thuộc địa, bị áp bức bởi các thế lực đế quốc, thực dân.

    Trong tác phẩm xuất bản gần đây, W.S.Turley, Giáo sư khoa học chính trị của Đại học Harvard đã nhận xét:”So với các chế độ cộng sản cũng đang cải cách khác, Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng… Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể, với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức… Ban lãnh đạo của Đảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí nhất trong thế giới cộng sản, và đảng viên của Đảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam”. Kết luận của Giáo sư W.S.Turley được rút ra từ sự nghiên cứu một cách khách quan lịch sử hệ thống chính trị Việt Nam.

    Ngay từ khi mới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy tụ xung quanh mình tất cả các lực lượng yêu nước và nhanh chóng giành quyền lãnh đạo toàn bộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Cách mạng Tháng Tám thành công đã đưa Đảng Cộng sản Việt Nam lên vị trí của một Đảng cầm quyền như một tất yếu lịch sử. Chính quyền cách mạng mới được xây dựng là thành quả của cả dân tộc và phải đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ các chiến sĩ cách mạng, trong đó phần lớn là các đảng viên cộng sản.

    Mục tiêu cách mạng của Đảng Cộng sản không chỉ dừng lại ở việc giành và nắm chính quyền, mà là bằng chính quyền đó sẽ xây dựng thành công một nước Việt Nam giàu mạnh với một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, nhân dân được sống trong ấm no và hạnh phúc. Lý tưởng đó phù hợp với nguyện vọng của tuyệt đại bộ phận dân tộc. Vì vậy, vị trí lãnh đạo của Đảng là phù hợp với quy luật vận động của lịch sử Việt Nam không chỉ trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc mà trong cả thời kỳ xây dựng đất nước.

    Tuy nhiên, là sản phẩm của văn hóa chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng phải khắc phục những mặt hạn chế vốn có của căn tính nông dân ở một nền văn hóa nông nghiệp với ảnh hưởng khá sâu nặng của văn hóa làng xã… và cần liên tục được hoàn thiện. Nhưng dù thế nào thì điều quan trọng nhất có thể thấy từ tiếp cận văn hóa là tính bền vững của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Nhập thân vào dân tộc, khai thác tối đa những mặt ưu trội của văn hóa chính trị Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ trường tồn cùng dân tộc.

    Phương Liên/ Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng: Văn Hóa Chính Trị
  • Bài Giang Môn Cơ Sở Văn Hóa
  • Tiếp Biến Văn Hóa Vn Trong Bối Cảnh Hội Nhập
  • Giao Lưu Và Tiếp Biến Văn Hoá
  • Phân Tích Văn Hóa Việt Nam Từ Góc Độ Giao Lưu
  • Nhân Học Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ii Phần Tiếng Việt 1Hiểu Được Các B…
  • Nhân Cách Và Con Đường Hình Thành Phát Triển Nhân Cách Con Người Thời Đại Mới Theo Quan Điểm Của Bác Hồ
  • Cách Xác Định Số Oxi Hoá Và Hoá Trị Của 1 Nguyên Tố Trong Hợp Chất
  • Hóa Trị Và Số Oxi Hóa
  • Khái Quát Về Nhóm Oxi
  • Nhân học văn hóa là một phân ngành của Nhân học. Nhân học văn hóa ở Việt Nam có đối tượng chính là văn hóa các dân tộc Việt Nam. Trong đó, khái niệm “văn hóa” được hiểu là sản phẩm sáng tạo của người dân. Văn hóa là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, là những phương thức sử dụng các phương tiện sống khác nhau. Người có văn hóa là người luôn suy nghĩ và hành xử theo đúng luôn lý, đạo đức và pháp luật. Cơ sở lý thuyết về văn hóa được nhìn nhận theo quan điểm: Văn hóa là đa dạng mà thống nhất; văn hóa luôn biến đổi và có tính tương đối; văn hóa là tổng thể; văn hóa có chủ nhân sáng tạo. Và “dân tộc” được hiểu là một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử, có tên gọi riêng, ngôn ngữ riêng và phong tục tập quán riêng. Cuốn sách Nhân học văn hóa Việt Nam mà độc giả đang có trên tay trình bày một cách khái quát những nội dung cơ bản về Nhân học văn hóa Việt Nam theo cách tiếp cận dân tộc ngôn ngữ học.

    Bước 1: Truy cập website và lựa chọn sản phẩm cần mua để mua hàng

    Nếu bạn muốn tiếp tục mua hàng: Bấm vào phần tiếp tục mua hàng để lựa chọn thêm sản phẩm vào giỏ hàng

    Nếu bạn muốn xem giỏ hàng để cập nhật sản phẩm: Bấm vào xem giỏ hàng

    Nếu bạn muốn đặt hàng và thanh toán cho sản phẩm này vui lòng bấm vào: Đặt hàng và thanh toán

    Bước 3: Lựa chọn thông tin tài khoản thanh toán

    Nếu bạn đã có tài khoản vui lòng nhập thông tin tên đăng nhập là email và mật khẩu vào mục đã có tài khoản trên hệ thống

    Nếu bạn chưa có tài khoản và muốn đăng ký tài khoản vui lòng điền các thông tin cá nhân để tiếp tục đăng ký tài khoản. Khi có tài khoản bạn sẽ dễ dàng theo dõi được đơn hàng của mình

    Nếu bạn muốn mua hàng mà không cần tài khoản vui lòng nhấp chuột vào mục đặt hàng không cần tài khoản

    Bước 4: Điền các thông tin của bạn để nhận đơn hàng, lựa chọn hình thức thanh toán và vận chuyển cho đơn hàng của mình

    Bước 5: Xem lại thông tin đặt hàng, điền chú thích và gửi đơn hàng

    Sau khi nhận được đơn hàng bạn gửi chúng tôi sẽ liên hệ bằng cách gọi điện lại để xác nhận lại đơn hàng và địa chỉ của bạn.

    Trân trọng cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Cho Ví Dụ Phân Biệt
  • Đó Là Gì, Khái Niệm Cá Nhân Hóa Của Petrovsky
  • Cá Nhân Hóa – Xu Thế Tất Yếu Của Mọi Dịch Vụ
  • Vì Sao Thương Hiệu Cần Personalization (Cá Nhân Hóa) Trong Marketing?
  • Văn Hóa Nông Nghiệp Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Giao Tiếp Ứng Xử Nơi Công Sở
  • Quan Niệm Của Anh Chị Về Văn Hóa Ứng Xử. Nêu Vài Hiện Tượng Ứng Xử Mà Anh (Chị) Cho Là Hợp Lí Và Chưa Hợp Lí Ở Góc Độ Văn Hoá
  • 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm
  • Văn Hóa Học Đường: Bản Chất, Nội Dung Và Biện Pháp Xây Dựng
  • Thế Nào Là Văn Hóa Học Đường
  • Tìm trong non một thế kỷ luân hãm, chiến tranh và hỗn loạn, người ta vẫn thấy tất cả đều hàm chứa tinh thần văn học Việt trong chứng minh rằng tinh thần văn hóa Việt vẫn tiếp tục làm chủ tể con đường lịch sử của dân tộc, mọi âm mưu nhằm phủ nhận hoặc triệt để cải tạo nó đều thất bại.

    Văn hóa Việt thế nào?

    Nói đến văn hóa Việt tức là nói đến văn hóa nông nghiệp.

    Trên thế giới, chỗ nào chẳng có nghề nông nhưng văn hóa nông nghiệp thực sự thành thế hệ vững chắc trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn học, giáo dục, quốc phòng, sinh hoạt, xã hội thì ngoài Trung Quốc ra, phải kể ngay đến Việt Nam.

    Văn hóa nông nghiệp là văn hóa của sự kết hợp chân chính giữa người với đất, là văn hóa của sự khai phát đất ruộng đi cùng với sự khai phát tâm linh. Trong đó nông dân là lực lượng cốt cán và sĩ nhân là đầu não.

    Kinh thánh của Gia Tô giáo chép chuyện Thượng Đế sáng tạo thế giới trong thời gian bảy ngày. Thần thoại Hy Lạp cũng chép chuyện thần nhân tạo ra thế giới. Nhưng ở Việt Nam cũng như Trung Quốc qua thần thoại Bàn Cổ khai thiên tị địa thì tin rằng thế giới này do chính bàn tay người khai phá sáng tạo và gìn giữ. Thần thoại Hy Lạp bảo sở dĩ thế giới có lửa là bởi Prométhée đã ăn trộm lửa của trời mang xuống. Trong khi dân gian Việt và dân gian Trung Quốc bảo là có lửa nhờ Toại Nhân khi cọ gỗo vào nhau mà lấy ra. Phục Hi thì dạy kết thừng làm lưới đánh cá. Ông Vũ Tắc chế cày bừa trồng thóc lúa. Bàn Cổ với hình ảnh vạm vỡ, tay cầm búa đá là sức mạnh lao động của nông dân. Toại Nhân, Phục Hi, ông Vũ Tắc với vẻ văn nhã là sức mạnh của tâm linh khai phát.

    Nông nghiệp không chỉ đơn thuần là một trạng thái kinh tế mà còn là một đạo, nông nghiệp chi đạo. Đạo nông nghiệp đại biểu cho sự sống bao la, đại biểu cho đất ruộng vườn, rừng mênh mông cà đại biểu cho thời gian, khi tiết mưa thuận gió hòa hay giông tố bão lúc nào tốt, lúc nào xấu.

    Công việc chủ yếu của nghề nông là trồng trọt, cày bừa, vun bón gặt hái thực vật (cây cỏ, hoa trái), đồng thời nuôi dưỡng động vật (gà, vịt, heo, trâu bò).

    Vừa tài bồi (vun tỉa), vừa dưỡng dục sự sống, vừa để nuôi mình sống. Hiện tượng “sống” có ba loại:

    – Sinh liễu hựu sinh (sinh sôi nảy nở)

    – Do chủng nhi sinh (bởi trồng cấy mà sinh)

    – Do tính nhi sinh (do tình yêu mà sinh)

    Vũ trụ là một dòng “sông” dài vạn cổ đời đời kiếp kiếp. Sông nọ tiếp nối sông kia là do cơ bản nguyên tắc của dịch lý, sinh sinh chi vi dịch. Một gọng cỏ, một cành cây đâm chồi nẩy lộc mà sinh ra cây cỏ khác.

    Sách có câu “Nhất dương sơ động xứ, vạn vật thủy sinh thời” (ánh dương vừa động, vạn vật sống dậy) cũng như ca dao ta có câu: “Lúa chiêm phơ phất đầu bờ, hễ nghe sấm động phất cờ lúa lên. Một hạt giống gieo xuống đất qua sự điều hòa của trời đất, hạt giống tự tách ra nẩy mầm thành một cơ thể mạnh sống và lớn lên. Cho nên mới nói: “Thiên hạ chi đại đức viết sinh” (Đức lớn torng thiên hạ là cho sự sống). Nông nghiệp thường trực hành động để thực hiện đức lớn đó.

    Hoa nhờ phấn đực mà kết thành trái, động vật do tinh trùng mà sinh đẻ đều là những điều tốt rất thường thấy trong nghề nông, nhưng nó lại hàm chứa một triết lý gốc “nhất âm nhất dương chi vi đạo”, hay “càn khôn chi đạo”. Âm dương tuy cực khác nhau mà rất tương ái tương thành. Cho nên nông nghiệp văn hóa mới là thứ văn hóa trong sự hòa hợp tự nhiên. Nhiệm vụ của càn hay dương là tự cường bất tức lúc nào cũng dũng mãnh chiến đấu. Nhiệm vụ của khôn hay âm là hậu đức đới vật bao giờ cũng trải tâm tình rộng rãi. Làm trai phải anh hùng, làm gái phải hiền thục, chăm chỉ và chịu đựng.

    Đại biểu cho đất ruộng mênh mông, cái đất đai yêu quí đã từng nuôi sống ta, từng để yên nghỉ ông cha và sinh sôi con cháu, cái đất đai mà đầu mày cuối mắt ta đều nhớ, đều quen, đều từng ghi nhớ mỗi cái khổ, cái vui, cái hy vọng, cuộc sống cuộc chết, cuộc bể dâu của đời đời nó đã nói ra bao ý nghĩa và gồm bao nhiêu giá trị. Trên tinh thần, văn hóa và đại biểu cho trạng thái vững chải và bình tĩnh và quyết ý không dời đổi, lay chuyển.

    Nông nghiệp là sự nghiệp kinh tế, đồng thời cũng là sự nghiệp đạo đức, như Hiếu kinh viết: “Dụng thiên chi đạo, phân địa chi nghi, cận thân tiết dụng dĩ dưỡng phụ mẫu” (Dùng đạo trời, lựa nơi đất tốt, cần cù chăm chỉ, tiết kiệm mà nuôi cha mẹ).

    Nông nghiệp là một sự nghiệp sinh sản nhưng đồng thời cũng là một sự nghiệp nghệ thuật như ca dao ta hát: “Cô kia tát nước bên đàng. Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”. Như một thi sĩ Trung Quốc muốn tả hương thơm của cánh đồng, đã hạ bút viết: “Đạp hoa qui khứ mã đđề hương” (Con ngựa trở về dẫm lên hoa mà bước khiến móng ngựa còn thơm). Chính cái tinh thần nông nghiệp bàng bạc khắp vườn tược, đồng rừng đã khiến cho văn nhân, thi sĩ làm thành thơ văn dạy cho người thích nghe giọt mưa lộp độp trên tàu lá chuối, dạy cho cảm thấy cái đẹp của ngọn khói từ mái nhà tranh tỏa lên lẫn với mây chiều ở lưng chừng ngọn đồi, dạy cho biết ngắm cái vẻ trắng nuột của hoa thỏ tí ở bên đường, nghe tiếng tu hú hót mà nhớ tới lời than thở của kẻ tha hương nhớ mẹ, mến yêu cảnh các cô thôn nữ hái trà, dạy cho biết hòa đồng với mọi vật núi sông hoa cỏ, xuân tới thì lòng dào dạt hương xuân, hè tới thiu thiu nghe tiếng ve sầu như gõ nhịp thời gian qua, thu tới thì bâng khuâng nhìn lá vàng rơi rụng và đông tới thì ngâm thơ tuyết bay.

    Nông nghiệp là một sự nghiệp lao động nhưng đồng thời còn là một sự nghiệp thờ phượng và tin tưởng. Khôn ngoan nhờ ấm cha ông, làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ. Phương ngôn ta có câu: “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”. Cha đây là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người có công đánh giặc Nguyên giữ vững bờ cõi, mẹ đây là thánh mẫu Liễu Hạnh công chúa, người đàn bà dung nhan tuyệt thế, thông minh dị thường, lúc chết hiển linh thường giáng bút bảo cho dân biết về quốc sự.

    Lao động sự nghiệp không chỉ để kiếim bát cơn ăn mà còn để tạo dựng giang sơn đất nước. Bàn tay với đất đai, sức lao động và chí cần cù đem mồ hôi ra trộn với nước mắt của lòng yêu, tất cả để không dứt mở mang đất đai, xây đắp cõi sống, đem máu đào rỏ ra vì lòng yêu từ người thân với những con người mà máu chảy ruột mềm đã bén tới, máu đào đã rỏ ra để sống và thờ phụng cuộc đấu tranh với quân thù, cùng tẩm nhuần với quân thù trong đồng ruộng của xứ sở qua các thời gian. Cho nên, nói đến kinh tế nông nghiệp thì phải nghĩ ngay đến một nền tảng kinh tế, đến chính sách kinh tế hàm chứa đạo đức, không lọc lừa tranh giành để thủ lợi như kinh tế thương nghiệp và tàn bạo đổ máu như kinh tế du mục. Nói đến sinh sản nông nghiệp với vẻ đẹp của khóm cúc bên dậu, của ao thu lạnh lẽo nước trong veo, một chiếc thuyền con bé tẻo teo. Nói lến lao động nông nghiệp thì phải nhớ đến việc dồn sức vào sự nghiệp yêu nước.

    Trải qua bao biến cố, sức đất vẫn bình tĩnh, vững chãi mà ứng phó, cả mấy ngàn năm tinh thần bình tĩnh vững chãi đó đã vượt hết các khó khăn, trở ngại để đẩy mạnh dòng sông chảy đời đời sinh sôi nảy nở. An thổ đôn hồ nhân, bám chắc lấy đất, dựng dụng tinh thần lạc quan chiến đấu. “Bất năng an thổ, tiện hội thắng không, tức bất trước địa, diệc bất trước thiên, chung ư hôn mê, chung ư nhuyễn nhược, chung ư hoành bạo, chung ư đảo hạ” (nếu không bám chắc lấy đất tất không có đất chiến đấu lại thiếu cả thiên thời tất sẽ hôn mê, nhuyễn nhược sinh ra làm rông rỡ mà sụp đổ).

    “Nhật vãng tắc nguyệt lai, nhật lai tắc nhật vãng, nhật nguyệt tương di nhi minh sinh yêu. Hàn lai tắc thự vãng, thự lại tắc hàn vàng, hàn thự tương suy nhi thế thành yên” Mặt trời lặn, mặt trăng lên, mặt trăng lặn mặt trời lên chuyển đổi nhau. Giữa hai vầng nhật nguyệt mà có ánh sáng. Lạnh hết đến nóng, nóng hết lại đến lạnh, lạnh nóng đuổi nhau mà thành bốn mùa năm tháng…)

    Nông nghiệp gần với sinh vật, đất ruộng và cũng không lúc nào rời khí tượng tứ thời.

    Như vậy là cái lý “dữ thời giai hành” trong kinh Dịch.

    Nông nghiệp không đi ngược với lẽ sống, không làm trái với ý muốn của đất và thứ nhất phải cho đúng thời không trái mùa. Quả nào, hoa nào kết thực khai hoa có thời gian nhất định, lúc nẩy mầm, lúc sinh trưởng và lúc chín để gặt hái. Không thể cưỡng ép thời gian sớm hơn, cũng không thể trễ nải thời gian muộn hơn.

    Do lý đó đem vào chính trị mà thành nguyên tắc “thời trung”, “quân tử thời trung”, linh hoạt thích ứng với bốn điểm: Thời-Vị- Trung-Chính.

    Nông nghiệp đối với sinh mệnh là thuận, không đi trái lý thiên nhiên: nông nghiệp đối với quốc gia là gốc, là căn bản. Thuận cho nên cái học của nông nghiệp có tiết điệu tình tự như bài thơ. Gốc và căn bản cho nên cái học của nông nghiệp là thực học phác tố ít viển vông.

    là một câu dân dao rất đẹp của nông dân Trung Quốc ý nói: nếu không có cơn gió lạnh buốt tận xương thì làm sao có hương hoa mai thơm ngát cả vầu trời? Gió lạnh ai không sợ, nhất là nông dân sống dầm mưa dãi tuyết? Nhưng vì thuận theo thời tiết trời đất thì gió lạnh buốt tận xương vẫn là điều cần thiết vì nhờ có mai mới nở đem hương ướp đượm cả trời đông. Vậy chẳng có gì đáng buồn, đáng trách. Cơn gió lạnh ví như một thời kỳ đánh đuổi giặc trăm ngàn gian khổ, đắng cay nhưng nhờ thế mới có ngày thanh bình, chiến thắng đẹp như mai nở.

    Thiên địa thuận nhi tứ thời đương, dân hữu đức nhi ngũ cốc sương (Trời đất thuận bốn mùa mưa nắng đúng cộng với sự chăm làm của người nên ngũ cốc nhiều). Nông nghiệp lấy thuận làm chủ lao động hòa nhịp với tứ thời để xây dựng một đời sống no ấm.

    Dĩ nông lập quốc và quốc dĩ nông vi bản chuyển sang chính trị thành chính trị dĩ nhân di bản. Một thể chế chính trị xưa đặt dưới tay Thương Ưởng áp dụng chính sách “trọng nông” thế mà dân đã đuổi bắt và giết Thương Ưởng. Nhà Tần nhờ chính sách của Thương Ưởng thôn tính được lục quốc rồi cũng vì chính sách ấy chịu diệt vong. Tại sao? Tại Thương Ưởng chỉ biết cái gốc nông nhưng lại không nhìn đến gốc dân, đã xem nông như một thủ đoạn, kết quả nước giàu thịnh mà dân lại nghèo khổ, binh lực lớn mạnh mà dân lại yếu cực, tạo thành tình trạng mâu thuẫn giữa dân sinh với quốc phòng đưa đến sự đối lập của nhân dân với quân đội. Bởi vậy nông dân đã nghiến răng thề không đội trời chung với bạo chính: thời nhật yết táng dư dữ nhữ giai vong (tao sẽ cùng chết với mày).

    Pháp gia Thương Ưởng và chính sách trọng nông quá chuyên chú vào lãnh vực kinh tế cốt để xây dựng một chính sách tài chính thuần túy và một chính sách quân sự tuyệt đối đã không hướng tới sự bón gốc nữa, ngược lại còn hy sinh nông dân và phá hoại nông nghiệp khiến cho gốc nước lung lay, chính quyền pháp gia phá sản đẩy đến việc nhà Tần vong. Nông nghiệp như thế là đi vào nghịch đạo trái với ý chí của văn hóa nông nghiệp vốn vẫn không ngừng đề cao chính trị dân bản và chống đối bạo chính thống trị.

    Khai phát đất ruộng phải đi đôi với khai phát tâm linh, trên quốc sách thì dân sinh phải hợp nhất với quân đội, sinh hoạt phải hợp nhất với chiến đấu, ch phải hợp nhất với kinh tế. Đó là căn bản của nông nghiệp chi đạo vậy.

    Khai phát thổ địa đi đôi với khai phát tâm linh đã trở thành một khúc anh hùng ca tiến xuống miền Nam của dân tộc Việt.

    Bài “Chuyến du khảo vào nông trại Thới Sơn” đăng trong tập san Sử Địa số 22, tác giả Nguyễn Văn Hầu đã cho độc giả một hình ảnh tuyệt đẹp của khúc anh hùng ca đấy. Tác giả viết:

    “Xin hãy lùi về hơn trăm năm trước để tưởng lại cảnh vật của miền rừng núi bao la này. Xa xa một vài sóc thổ mỗi sóc thổ thì đâu lối năm bảy mái tranh, còn bao nhiêu là rừng. Cọp beo, rắn độc cùng những muỗi mòng, con ve, con vắt cùng nhau ngự trị như một giang sơn riêng. Vậy mà có người đã hướng dẫn quần chúng vào đây để khai hoang lập ấp. Người ấy là thầy Đoàn Minh Huyền tức đức Phật thày Tây An. Chính Phật thày đã thực hiện giáo lý tự tu, tự độ để gắng gổ độ tha cho nên mới hướng dẫn môn đệ khai hoang nhiều chỗ mà trước hết là ở đây giang sơn của ác thú. Thêm vào đó, một nỗi đe dọa khác nữa là phải sống bên cạnh người Mên đầy gồng ngải bùa thư, thù hằn và giận dữ.

    Phật thày đã làm cách nào để động viên nhân lực mà làm nổi việc phi thường này?

    Với giáo lý Tứ Ân (Ân Tổ Tiên cha mẹ- Ân Đất Nước- Ân Tam Bảo- Ân Đồng Bào Nhân Loại), Phật thày đã đưa vào lòng người một niềm tin vô biên. Qua huyền diệu của đức Phật và khả năng tu tỉnh của con người, tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương không còn biết sợ một thế lực tà mị nào khác. Do đó mà họ rất tích cực và nhờ vậy thày Tây An đã thành công.

    Có hai đệ tử của Phật thày là Đình Tây tên thật là Bùi Văn Tây và cụ Tăng chủ Bùi Văn Thân đã góp tay đắc lực cho Phật thày trong việc mở ruộng và lập làng ở vùng này. Hai cụ có đức lớn, đạo pháp uyên thâm, võ dũng cũng phi thường nên rất được nhân dân tòng phục. Những người dân lam lũ, chất phác cần phải được hướng dẫn chân chính, hai cụ Tăng chủ và Đình Tây là những người có đủ tác phong đạo đức để làm nên việc đó. Ban ngày người tín đồ đi khai hoang, đêm về thì làm lễ niệm Phật, tham thiền và lĩnh hội những lời hay ý đẹp của các cụ. Những ngày sóc vong, các cụ thuyết pháp giảng kinh.

    Ngôi chùa của Bửu Sơn Kỳ Hương không có tượng Phật. Ngay đại điện cũng chỉ thờ một khung vải đỏ gọi là Trần Điều mà thôi. (Vuông vải màu điều này mang ý nghĩa nhiễu điều phủ lấy giá gương, còn có thuyết nói Đức Phật thày là dòng dõi Tây Sơn đổi tên, chạy ẩn vào Nam cho nên vuông vải điều đó mang ý nghĩa non tây áo vải cờ đào).

    Đi thăm chùa chúng tôi (lời tác giả) được cụ trưởng ban Quản trị của nhà chùa tiếp đãi. Cụ giảng: Nơi này xưa kia là trại ruộng của đức Phật Thày Tây An. Ngài di dân đến đây vào khoảng năm Tân Hợi để vừa mở cơ hoằng pháp vừa khai phá rừng hoang. Hồi đó, cọp beo dữ lắm mà đường sá không có. Cụ còn kể cho chúng ta nghe chuyện tăng chủ Bùi Văn Thân trị cọp như sau:

    Một lần cọp về xóm vào chập tối, người ta rút lên trên gác đóng cửa kín mít, đánh mõ tre báo động vang trời. Ông Tăng một mình cầm mác trèo xuống thang rượt cọp. Dưới ánh trăng mờ, cọp nhào tới phủ lên mình ông Tăng. Ông Tăng lẹ làng ngồi xuống, một tay dựng đứng cây mác lên, một tay thủ thế chờ cọp rơi xuống. Cọp hoảng hồn khi gặp tọa bộ của ông Tăng cùng ánh sáng lấp lánh của ngọn mác, liền né sang một bên. Trong lúc cọp mất thăng bằng chao mình trên lưng chừng thì ông Tăng đấm vào hông nó một quả đấm thôi sơn và thuận chân bồi thêm vào hạ bộ nó một cú đá nặng đòn. Cọp rống lên một tiếng vang rồi ngã lăn bất tỉnh.

    Ông Tăng không giết cọp, bước tới giựt nó dậy miệng lẩm bẩm: “Tao tha cho mày, từ nay phải bỏ tánh ngang tàng đừng tới đây nữa mà mất mạng”.

    Cọp gầm mặt xuống đất kéo la lết cái chân què vào rừng và từ đó không còn dám bén mảng đến xóm nữa.

    Ông Tăng không muốn sát sanh mà chỉ muốn tâm phục lũ thú dữ. Việc đánh cọp vừa nói không chỉ một lần mà cả năm ba lần nữa. Lần nào ông cũng tha cho chúng. Riết rồi con nào con ấy chạy mặt lùi xa.

    Tinh thần nông dân của dân tộc Việt là:

    a) Biết sâu xa những ưu hoạn

    b) Không sợ khó nhọc, gian khổ

    c) Không có quan niệm về sự chết

    Tại sao lại phải lo lắng sâu xa?

    Gần cận với thiên nhiên nên người nông dân hiểu rằng: Khi một đứa bé chào đời, mang tiếng khóc ôm đầu mà ra, nó cần biết bao nhiêu ngoại duyên để được sinh ra. Tục ngữ có câu mang nặng đẻ đau là thế. Khi một chú gà nhỏ bé thoát vỏ trứng, kêu chiêm chiếp đau đớn, nó phải cẩn thận biết bao để chui ra ngoài vỏ trứng.

    Khi một hạt giống nẩy mầm, cái mầm mềm yếu, nó pahỉ cần vô số điều kiện mới nhô lên khỏi mặt đất.

    Nhất nhất đều khó khăn, nhất nhất đều phải trải qua một quá trình ưu hoạn, nào mong sao cho được mưa thuận gió hòa, mong sao cho khỏi tật bệnh tử vong.

    Người nông dân do tinh thần biết sâu những ưu hoạn tích lũy mà có một tâm hồn bình dị để nhìn mọi sự, mọi vật trong trời đất rồi chọn thái độ bình tĩnh lo toan vằng lý tính.

    Người nông dân do tinh thần biết sâu những ưu hoạn tích lũy mà có một tâm hồn siêu việt để chuyển thành ý thức tôn giáo nhưng là ý thức tôn giáo lý tính hóa không có tín điều giáo chỉ và hệ thống tăng lữ và giáo chủ.

    Người nông dân tế trời, kính trời một cách thân mật chứ không sợ sệt như bị hầm hè đe dọa, đem đến cho tôn giáo tình vị và thi vị.

    Do biết sâu những ưu hoạn mà tinh thần nông dân mới không sợ khó nhọc gian khổ, với một tâm hồn kiên cươòng vô tỉ.

    Cày sâu cuốc bẫm khai phá đất hoang tất phải khó nhọc, gian khổ, sự nghiệp của đất vốn là kết tinh của những nỗi tân khổ. Sách có câu: “An thổ đôn hồ nhân cố năng ái” (Vỡ đất xây dựng điều nhân cho nên biết thương yêu). Trải tân toan cay đắng nước mắt trộn mồ hôi mới thương người đồng cảnh. Nỗi khổ ấy giống như nỗi khổ trong bài “Thảo Từ” của Tân Giá Hiên:

    (Nếu nhân gian chưa biết đến nỗi khổ của tấm lòng tinh thành xin hãy nhìn mưa xuân).

    Càng tân khổ nên sự đối xử thập phần thân thiết, tìm mọi cách đùm bọc lẫn nhau, sự thân thiết đùm bọc chuyển thành luân thường. Lòng tinh thành đối với luân thường chuyển thành lý tưởng. Lý tưởng ấy là đạo đức và lo khai hoang trồng cấy.

    Trong tinh thần không sợ tân khổ, đạo đức luân thường dung hợp với lao động khai phá khẩn thực nên toàn dân chỉ là một người, đấu tranh thường trực tự cường bất tức.

    Trong tinh thần không sợ tân khổ, khai phá khẩn thực đi đôi với lý tưởng, người nông dân đã xây dựng cho mình một xã hội làng xã chi chít và bát ngát trên rừng, dưới biển, vừa đoàn kết chặt chẽ, vừa tự do bình đẳng. Mỗi cá nhân đều có ruộng vườn, giang sơn và nhân cách riêng biệt. Chức vị chú mõ làng thấp nhất nhưng vào hội hè đình đám, chú được trọng vọng ngồi ăn một mình một chiếu.

    Trong tinh thần không sợ tân khổ, đạo đức kết hợp với luân thường, người nông dân xây dựng cho mình một nếp sinh hoạt gia tộc vững chãi.

    Bằng tinh thần không sợ tân khổ, người nông dân đã bằng hai bàn tay trắng chuyển rừng thành ruộng, biến núi thành vườn suốt từ ải Nam Quan đến mỏm Cà Mau.

    Chỉ vì không sợ tân khổ, mỗi người nông dân chịu đói rét nhưng vẫn canh cánh bên lòng ý niệm: “Chớ để nhà tan, nước mất, chớ để lê dân đói rách”.

    Với tinh thần không sợ tân khổ, người nông dân mặc áo tơi nón lá vẫn cảm thấy mình chẳng thua kém chi kẻ mặc áo lông cừu.

    Với tinh thần không sợ tân khổ, người nông dân tuy chẳng biết một chữ nhưng vẫn đường đường là con người đầy đủ nhân cách. Nhất sĩ nhì nông hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ.

    Một con người khả dĩ đường đường chính chính ấy cũng nhờ tinh thần không sợ tân khổ. Hình ảnh đi dép cỏ vào nói chuyện với thiên tử, áo rách hở hai khuỷu tay là hình ảnh nhà thơ nông dân Đỗ Phủ. Thật là khí khái đại biểu cho lớp người mang tinh thần không sợ tân khổ.

    Chỉ vì tinh thần không sợ tân khổ nên mọi hành động cướp nước trên đất Việt thường thất bại.

    Nếu không nhìn thấy sức mạnh của cải tinh thần “bất yểm tân khổ” của dân Việt, người ta sẽ không hiểu tại sao người Việt với những điều kiện chiến đấu cực kỳ thiếu thốn mà vẫn hăng hái, dai dẳng vô cùng.

    Nông dân bằng một tinh thần thâm hậu và một sinh mệnh cực độ kiên cường, đứng trước tình thế trời xoay đất đảo, loạn lạc lưu ly nhưng vẫn tin rằng: thế giới này từ trạng thái hoang vu đã do hai bàn tay người sáng tạo, vậy thì tất cả mọi việc đều cũng có thể do hai bàn tay người giải quyết được hết, chắc chắn trời xanh chẳng phụ khổ tâm nhân. Đời sau kế tiếp đời trước. làm mãi phải xong. Người nông dân trông trời trông đất quanh năm ngày tháng, đem tự kỷ chi tâm hòa vào với thiên địa chi tâm. Vái trời khấn đất có nghĩa là thần thánh hóa tự kỷ chi tâm, thần thánh hóa tinh thần chịu tân khổ chiến đấu. Vì đời sau tiếp đời trước nên phải lễ tổ kính tổ, không quên ông bà, cha mẹ, tổ tiên chuyển thành tổ quốc, thờ kính tổ tiên là thờ kính tổ quốc.

    Một tấc đất một tấc vàng, tấc đất được bàn tay lao động tân cần canh tác trở nên tấc vàng, nguồn sống không bao giờ kiệt. Một mẫu ruộng tượng trưng của bao công lao “tân khổ” nhưng đồng thời cũng tượng trưng cho sự quang vinh của công lao tân khổ đó.

    Tinh thần không sợ tân khổ khiến cho nông dân bước vào đấu tranh lịch sử bằng ý chí kiên cường. Không có quan niệm về sự chết khiến cho nông dân tin tuyệt đối vào sự bất hủ của tâm linh. Ngạn ngữ có câu “sống gửi thác về”. Quá trình của mỗi sinh mệnh, khởi đầu bằng sinh, trong sinh đã tiềm phục “tử”. Nó chẳng khác chi ngày với đêm, hoàn toàn là chuyện rất thường. Sống thì tận nhân lực lo toan ưu hoạn, không sợ khó nhọc, chết thì về cõi khác. Người phương Tây lúc chết, thân nhân để tang bằng khăn đen, linh sàng toàn một màu đen vì họ nghĩ chết là đen tối, tuyệt vọng bi ai. Người Việt lúc chết thân nhân để tang bằng khăn trắng, linh sàng bày biện màu sắc rực rỡ, màu trắng đại biểu cho quang minh, thuần khiết đem mọi nỗi thê thảm trong trắng hóa khiến cái chết không còn là một điều đen tối tuyệt vọng nữa.

    Gậy thần của Tản Viên có một đầu sinh một đầu tử để sinh sinh hóa hóa, tử để hóa chứ không tiêu diệt. Các cụ già cứ đến tuổi 60 là bảo con cháu mua cái hòm để sẵn trong nhà làm cỗ hậu, ngày ngày các cụ sáng tối vừa uống trà vừa lau cho bóng cỗ hậu như luôn luôn săn sóc nhà mới mà mình sắp tới ở.

    Vương Long Khê đời Tống viết trong sách “Long Khê ngữ” rằng: “Sinh tử như trú dạ, nhân sở bất miễn tứ thời chi tự thành công giả thoái, nhân sinh thiên địa gian, thử thân đồng ư đại hư, nhất nhật diệc khả bách niên diệc khả”, nghĩa là: Lẽ sống chết ở đời như ngày với đêm, như bốn mùa thay đổi, hoàn thành nhiệm vụ rồi đi, con người sinh ra trong trời đất cái thân này đồng với đại hư không, một ngày cũng tốt mà trăm năm cũng xong. Câu nói ấy bắt nguồn từ triết lý nghề nông mà ra vì nông nghiệp vốn là sự nghiệp gắn chặt với chữ thời. Thiệu Nghiêu Phu (danh nho đời Tống) lúc sắp chết còn nói chuyện hài hước vui như pháo nổ.

    Lục Tượng Sơn (danh nho đời Tống) biết mình sắp chết, ông đi tắm gội mặc quần áo tề chỉnh xong ngồi nghiêm trang chờ phút lâm chung. Chu Hối Âm (danh nho đời Tống) trước khi thở hơi cuối cùng thấy bốn phương trời sáng rực. La Cận Khê (danh nho đời Tống) lúc chết bảo học trò: “Thần thông biến hóa là chuyện dị đoan, thầy đây chỉ bình bình một người thường và thầy thích như thế”. Cao Bá Quát vươn cổ cho đao phủ chém mà vẫn còn làm thơ rồi ngâm vang lên.

    Do tinh thần không có quan niệm về sự chết nên người nông dân Việt lập bàn thờ tổ tiên phụng dưỡng như lúc ông bà, cha mẹ còn sống và đời đời kiếp kiếp nối nghiệp tiên tổ. Nỗi đau khổ nhất của người sắp từ bỏ cõi trần là không thấy có ai nối dõi, chứ không đau khổ vì bản thân mình.

    Nhà Nho nước ta thường áp dụng chính trị gốc ấy là liên kết và giáo hóa tinh thần nông dân của dân tộc để thực hiện 4 công tác:

    – Dĩ nông dân vi thiên địa chi tâm (Lấy nông dân làm con tim của trời đất).

    – Dĩ nông dân vi đại địa chi tử (Lấy nông dân làm con yêu của đất lớn).

    – Dĩ nông dân vi tinh thần chi thực thể (Lấy nông dân làm thực thể của tinh thần)

    – Dĩ nông dân vi an định chi lực lượng (Lấy nông dân làm lực lượng nền móng)

    Nông nghiệp là cái gốc của một nước.

    Sách “Luận Ngữ” chép:

    Ông Tử Lộ theo thầy học là Khổng Phu Tử, gặp một ông lão nhà quê đứng bên đường, mới hỏi: “Cụ có trông thấy Phu Tử không?”.Ông lão đáp: “Chân tay chẳng chịu làm việc, ngũ cốc chẳng biết phân biệt, có gì đáng gọi Phu Tử?”. Nói rồi chống gậy đi. Ông Tử Lộ chắp tay vái.

    Ý “Luận Ngữ” muốn bảo người đọc sách không thoát ly sản xuất.

    Nông dân Âu Châu từ xưa đã tập trung vào những nông trường lớn mà thời Trung Cổ gọi là lãnh thổ của quí tộc hay tăng lữ (manoir) để chịu cái kiếp nông nô. Nông nô nếu không được lãnh chúa cho phép thì không bao giờ có thể bỏ thái ấp này sang thái ấp khác. Nông nô chỉ được làm những gì lãnh chúa ra lệnh. Tất cả tài sản của nông nô từ cái bàn, cái ghế, cái giường đến thúng thóc đều là của lãnh chúa. Còn người nông dân Việt sống với mảnh đất, mảnh vườn nhỏ tự canh tác mà ăn, làm chủ mảnh đất mảnh vườn đó để đại biểu cho cái tâm của đất trời, làm con của đất ruộng cha ông đóng góp vào thực thể tinh thần dân tộc và đoàn kết, chung đúc nên lực lượng an định cho đất nước, hàng triệu mảnh đất, mảnh vườn nhỏ này chính là một pháo lũy quốc phòng hàng hàng lớp lớp vững mạnh cả mấy ngàn năm.

    Giặc định phá hoại nông thôn?

    Nông dân đã có quá nhiều kinh nghiệm với mọi nỗi ưu hoạn.

    Giặc định khống chế sinh hoạt?

    Nông dân vốn không bao giờ sợ tân khổ, sẽ chiến đấu dù hoàn cảnh ngặt nghèo đến mấy.

    Giặc định đem cái chết ra dọa nạt bằng khủng bố, tàn sát tập thể?

    Nông dân chẳng hề có mảy may quan niệm về sự chết thì đâu có sợ chết, đã không sợ chết thì đem cái chết ra đe dọa sao được.

    Chống với mọi loại giặc, nông dân luôn luôn có thái độ thật lì:

    Pierre Gourou nhận xét:

    “Hãy nhìn sự bành trướng mở mang của dân tộc Việt trong lịch sử, với ruộng lúa xanh ngắt, làng xã khắp nơi với những con người quen bám chặt lấy đất cùng nền văn hóa nông nghiệp kiện toàn. Giống như loài hà ngoài biển tới đâu là sinh sôi nẩy nở gắn chặt lấy đó, xúm xít lại không cách gì làm cho nó rời ra. Rồi một lối sống được xây dựng chặt chẽ. Bởi vậy, dân tộc Việt, mặc dầu đã nhiều lần trong quá khứ bị giống Chàm thiện chiến, hung tợn đánh bại, nhưng kết cuộc dân tộc Việt đã tiêu diệt giống nòi Chàm. Đến nay, vết tích Chàm gần như mất hẳn, trong khi lối sống Việt đã tràn ngập, chỉ còn lại ít khác biệt còn có thể nhận thấy trên hình thù phần mộ, kiểu mái nhà ở và các loại cây mang tính chất địa phương mà thôi”.

    Sức mạnh của nông dân vốn tiềm ẩn như sức mạnh của đất, trông ngoài có vẻ vô lực mà kỳ thực lại là địa lực, có vẻ yếu mà rất khỏe, có vẻ nhát mà rất gan, xưa nay chiến sĩ thường 80% thuộc thành phần nông dân. Trong khi dân du mục tác chiến trông thật là cuồng phong bạo vũ nhưng chỉ được lúc đầu, không có sức chịu đựng bền bỉ. Lý tất thắng là thế, chỉ còn chờ thêm cái thế thắng nữa thôi.

    Đạo nông nghiệp, văn hóa nông nghiệp nay đứng trước sự thách đố của văn minh Âu Mỹ và cái đạo công thương nghiệp với tinh thần cạnh tranh bất cố nhân nghĩa thì sao?

    Vấn đề đặt ra là:

    Đừng để đạo công thương nghiệp phá hoại nền móng văn hóa nông nghiệp và cái đạo nông nghiệp bằng sự phủ nhận hoàn toàn giá trị cũng như ý nghĩa. Nhưng ngược lại, không nên độc tôn văn hóa nông nghiệp mà bài xích mọi giá trị cũng như ý nghĩa cần thiết của công thương nghiệp. Hãy tận lực mà học cho kỹ phương pháp tính và tổ chức tính của văn hóa công thương nghiệp để có thể khai thác tối đa những khả năng vật chất cho sinh hoạt.

    Đa số khi nói đến ruộng đất thường nghĩ ngay đến danh từ lạc hậu, khi nói đến nhà máy kỹ nghệ thường nghĩ đến danh từ tiến bộ. Sự thực lạc hậu hay tiến bộ không quá đơn sơ sốc nổi như vậy. Ở văn minh công thương nghiệp tiến bộ, người ta tìm thấy nào khoa học, số học và “logique học” rồi đến vật lượng, lực lượng và tốc xuất. Nhưng quả tình là người ta không sao tìm thấy vẻ trang nghiêm trong “logique học”, âm tiết hòa trong số học và tính tình ôn hậu trong khoa học. Ở văn minh công thương nghiệp tiến bộ, sinh mệnh bị vật lượng, lực lượng và tốc xuất chèn ép đến nỗi ngộp thở. Quay cuồng vào cơn lốc sản xuất thật nhiều, tiêu thụ thật nhiều, sản xuất thật nhanh, tiêu thụ thật nhanh. Lẽ ra vật lượng phải làm cho sinh mệnh sung túc thảnh thơi trái lại vật lượng quay cuồng vào cơn lốc kia lại làm cho sinh mệnh dễ lâm vào khủng hoảng và luôn luôn khẩn trương. Sau một thế kỷ say văn minh, các kinh tế gia, triết gia và trí giả bây giờ đang phản tỉnh để đặt lại toàn bộ mọi vấn đề, hết cả tin tưởng lạc quan như trước đây. Họ cảm thấy nỗi lo âu (angoisse), họ chán ngấy sự vội vã và mong mỏi được có những phút thảnh thơi, ninh tĩnh.

    “Logique học” của văn hóa công thương nghiệp đang cần có cái lý “dị giản” của văn hóa nông nghiệp để cho nó được trang nghiêm, để nó tự giảm bớt sự quá chuyên chú vào việc theo đuổi vật chất mà quay về với việc di dưỡng và tác nhân.

    Toán số học của văn hóa công thương nghiệp đang cần có con tim của đạo nhân, của văn hóa nông nghiệp để nó thành âm tiết (điều độ nhịp nhàng cho con người trở lại cùng tâm linh và tình cảm).

    Khoa học của văn hóa công thương nghiệp đang cần cái đạo trung thứ của văn hóa nông nghiệp để cho đời sống có tính tình ôn hậu.

    Chính trị học của văn hóa công thương nghiệp đang cần triết lý được lòng người thì thắng, mất lòng người thì bại, không lấy người làm đối tượng thù hận để cho chính trị bớt tàn nhẫn.

    Những danh từ “lạc hậu, chậm tiến” chỉ nhằm mục đích gây mặc cảm nhiều hơn là đánh giá thực trạng một cách tuyệt đối khách quan, rơi vào mặc cảm đó tức là rơi vào bẫy.

    Theo sử gia Oswald Spengler: “Mỗi nền văn hóa đều có riêng văn minh của nó”. Vậy thì nếu phải cần một biến đổi nào thì chỉ là sự thích ứng với thời đại thôi.

    Cuối thế kỷ 19, nước Việt thua Pháp trước sức hùng mạnh của máy móc, súng ống tối tân. Tuy nhiên, cái thua đó giống như thành Rome xưa kia đã bị đàn voi của Hannibal dầy xéo. Rome thua chẳng phải vì voi là một sức mạnh không có gì chống lại được mà là tại người thành Rome đã không hề có một quan niệm rõ rệt nào để chống lại sự bất ngờ này. Chỉ có thế thôi.

    Trích NHỮNG QUY LUẬT CHÍNH TRỊ TRONG SỬ VIỆT (1974)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Loại Hình Văn Hóa Gốc Nông Nghiệp
  • 150 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Hạng A1
  • Văn Hóa Giao Thông Là Gì? Bạn Hiểu Thế Nào Về Vhgt?
  • Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?
  • Văn Hóa Giao Tiếp Và Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Định Vị Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Việt Nam Trong Không Gian Văn Hóa Đông Nam Á
  • Đề Cương Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Những Nét Đặc Sắc Trong Văn Hóa Đông Nam Á
  • Hiểu Đúng Về Khái Niệm Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể
  • Định Nghĩa Lại “di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Của Nhân Loại”?
  • Thứ nhất, đây là xứ nóng. Nóng lắm sinh ra mưa nhiều. Việt Nam là nơi có lượng mưa trung bình trong năm khoảng trên 2.000mm (cá biệt có nơi như vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên) đạt tới 7.977mm), vào loại cao nhất thế giới.

    Hiện tượng này dẫn đến đặc điểm thứ hai: đây là một vùng sông nước. Sông nước đã để lại dấu ấn rất quan trọng trong tinh thần văn hóa khu vực này. Đây là một hằng số địa lí quan trọng, chính nó tạo nên nét độc đáo của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước.

    Đặc điểm quan trọng thứ ba: Nơi đây là giao điểm (“ngã tư đường”) của các nền văn hóa, văn minh.

    Trong phạm vi hẹp, không gian gốc của văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Bách Việt. Có thể hình dung nó như một hình tam giác với cạnh đáy ở sông Dương Tử, và đỉnh là vùng bắc Trung Bộ Việt Nam. Đây là cái nôi của nghề nông nghiệp lúa nước, của nghệ thuật đúc đồng với những trống đồng Đông Sơn nổi tiếng. Đây cũng là bờ cõi đất nước của họ Hồng Bàng theo truyền thuyết.

    Ở một phạm vi rộng hơn, không gian văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonésien lục địa. Có thể hình dung nó như một hình tam giác với cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử ở phía Bắc, còn đỉnh là vùng đồng bằng sông Mê Kông ở phía Nam. Đây là khu vực được tạo nên bởi hai con sông lớn cùng bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng: Dương Tử Giang và Mê Kông.

    Xét từ trong cội nguồn, không gian văn hoá Việt Nam vốn được định hình trên nền của không gian văn hoá khu vực Đông Nam Á. Ta có thể hình dung không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á này như một hình tròn bao quát toàn bộ Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo. Từ sau công nguyên, khu vực Đông Nam Á có phần thu hẹp lại do vùng phía Nam sông Dương Tử đã bị chính sách bành trướng và đồng hóa của Trung Hoa dần dần thâu tóm. Mặc dù vậy, cho đến giờ ngay cả vùng này cũng hãy còn giữ được không ít nét trong số hàng loạt những đặc điểm chung của khu vực văn hóa Đông Nam Á:

    – Về phương diện vật chất: làm ruộng cấy lúa, nuôi trâu bò, dùng đồ kim khí thô sơ, giỏi bơi thuyền.

    – Về phương diện xã hội: địa vị quan trọng của phụ nữ, huyết tộc mẫu hệ, tổ chức xã hội theo nhu cầu tưới nước ruộng.

    – Về phương diện tôn giáo: thuyết vạn vật hữu linh, thờ phụng tổ tiên và thờ thần – đất, đặt đền thờ ở những chỗ cao, chôn người chết trong các chum vại hay các trác thạch.

    – Về phương diện thần thoại: đối lập vũ trụ luận giữa núi và biển, giữa loài phi cầm với loài thủy tộc, giữa người thượng du với người hạ bạn.

    – Về phương diện ngôn ngữ: dùng những ngôn ngữ đơn âm với năng lực dồi dào về phát triển từ.

    Đây là địa bàn cư trú của người Indonésien cổ đại nói chung. Chính mối liên hệ này đã tạo nên sự thống nhất cao độ của vùng văn hóa Đông Nam Á mà ở trên đã nói. Hơn thế nữa, do vị trí đặc biệt của mình, Việt Nam là nơi hội tụ ở mức độ đầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hóa khu vực; không phải vô cớ mà các nhà Đông Nam Á học đã nói một cách hình ảnh rằng Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ.

    3. Sự thống nhất do cùng cội nguồn đã tạo ra bản sắc chung của văn hóa Việt Nam, còn tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng VÙNG VĂN HÓA.

    a. Vùng văn hóa Tây Bắc là khu vực bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn sông Hồng (lưu vực sông Đà) kéo dài tới bắc Thanh Nghệ. Ở đây có trên 20 tộc người cư trú, trong đó, các tộc Thái, Mường có thể xem là đại diện. Biểu tượng cho vùng văn hóa này là hệ thống mương phai ngăn suối dẫn nước vào đồng; là nghệ thuật trang trí tinh tế trên chiếc khăn piêu Thái, chiếc cạp váy Mường, bộ trang phục nữ H’mông; là âm nhạc với các loại nhạc cụ bộ hơi (khèn, sáo…) và những điệu múa xòe…

    b. Vùng văn hóa Việt Bắc là khu vực bao gồm hệ thống núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng. Cư dân vùng này chủ yếu là người Tày, Nùng với trang phục tương đối giản dị, với lễ hội lồng tồng (xuống đồng) nổi tiếng; với hệ thống chữ Nôm Tày được xây dựng trong giai đoạn cận đại…

    c. Vùng văn hóa Bắc Bộ có hình một tam giác bao gồm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã với cư dân Việt (Kinh) sống quần tụ thành làng xã. Đây là vùng đất đai trù phú, bởi vậy nó từng là cái nôi của văn hóa Đông Sơn thời thượng cổ, văn hóa Đại Việt thời trung cổ… với những thành tựu rất phong phú về mọi mặt. Nó cũng là cội nguồn của văn hóa Việt ở nam Trung Bộ và Nam Bộ sau này.

    d. Vùng văn hóa Trung Bộ ở trên một dải đất hẹp chạy dài theo ven biển từ Quảng Bình tới Bình Thuận. Do khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn, nên con người ở đây đặc biệt cần cù, hiếu học. Họ thạo nghề đi biển, bữa ăn của con người cũng giàu chất biển; dân vùng này thích ăn cay (để bù cho cá lạnh). Trước khi người Việt tới sinh sống, trong một thời gian dài nơi đây từng là địa bàn cư trú của người Chăm với một nền văn hóa đặc sắc, đến nay còn để lại sừng sững những tháp Chăm.

    e. Vùng văn hóa Tây Nguyên nằm trên sườn đông của dải Trường Sơn, bắt đầu từ vùng núi Bình-Trị-Thiên với trung tâm là bốn tỉnh Gia Lai, Kontum, Đắc Lắc, Lâm Đồng. Ở đây có trên 20 tộc người nói các ngôn ngữ Môn-Khmer và Nam Đảo cư trú. Đây là vùng văn hóa đặc sắc với những trường ca (khan, h’ămon), những lễ hội đâm trâu, với loại nhạc cụ không thể thiếu được là những dàn cồng chiêng phát ra những phức hợp âm thanh hùng vĩ đặc thù cho núi rừng Tây Nguyên…

    f. Vùng văn hóa Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long, với khí hậu hai mùa (khô – mưa), với mênh mông sông nước và kênh rạch. Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá đã nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (Khmer, Mạ, Xtiêng, Chơro, Mnông). Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven kênh, ven lộ; bữa ăn giàu thủy sản; tính cách con người ưa phóng khoáng; tín ngưỡng tôn giáo hết sức phong phú và đa dạng; sớm tiếp cận và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hóa phương Tây… – đó chỉ là vài nét phác thảo những đặc trưng văn hóa của vùng này.

    Mối liên hệ mật thiết với Đông Nam Á và tính thống nhất trong sự đa dạng do tuyệt đại bộ phận cư dân đều bắt nguồn từ cùng một gốc nhân chủng, ngôn ngữ và văn hóa – đó là cơ sở làm nên sự khu biệt cơ bản giữa văn hóa Việt Nam với Trung Hoa.

    Hits: 11917

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Từ A
  • Corporate Culture / Organizational Culture / Văn Hóa Doanh Nghiệp / Văn Hóa Tổ Chức
  • Bàn Thêm Về Mối Quan Hệ Văn Hóa Và Văn Minh
  • Thêm Một Lần Bàn Về Văn Hóa Và Văn Minh
  • So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh
  • Văn Hóa Doanh Nhân & Văn Hóa Doanh Nhân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, Đôi Dòng Suy Ngẫm
  • Giáo Trình Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Ẩm Thực Là Gì? Nét Đặc Sắc Của Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam
  • Giáo Trình Văn Hóa Ẩm Thực
  • Một cách ngắn gọn, doanh nhân là người làm nghề kinh doanh. Và nói đến kinh doanh, thì phần đông mọi người đều đồng nhất nó với việc buôn bán, nghĩa là “kinh doanh” = “thương nghiệp” và “doanh nhân” = “thương nhân”.

    Thực ra, kinh doanh là khái niệm rộng hơn “thương nghiệp”, và doanh nhân là khái niệm rộng hơn “thương nhân”. Chữ doanh ở đây có nghĩa là “quản lý”, biến thể của doanh là dinh chỉ có nghĩa là quản lý mà thôi (ss. “hành dinh”). Kinh doanh… nghĩa đen là “quản lý kinh tế” mà chữ kinh trong “kinh tế” với nghĩa “sửa trị” (kinh tế là dạng lút gọn của “kinh bang tế thế” – “sửa nước cứu đời”) thực chất cũng là quản lý. Như vậy, doanh nhân nghĩa đen là “người quản lý (việc làm ăn)”. Với một đất nước khổng lồ, văn hóa tinh thần Trung Hoa chủ yếu tập trung lo toan việc quản lý xã hội. Việt Nam là một nền văn hóa nông nghiệp lúa nước mạnh về văn hóa làng xã và rất giỏi về tổ chức làng xã, nhưng lại kém về quản lý xã hội ở quy mô lớn, càng ít quan tâm đến quản lý kinh tế, cho nên trong những từ điển đầu thế kỷ (như Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh, Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của) đều chưa có từ “kinh doanh”. Kinh doanh bao gồm ba lĩnh vực là sản xuất hàng hóa, buôn bán và dịch vụ, cả ba đều có chung mục đích cơ bản là kiếm lời.

    Sở dĩ có việc đồng nhất kinh doanh với bộ phận thương nghiệp buôn bán của nó là vì ba lý do.

    Thứ nhất, buôn bán chính là hình thức kinh doanh kiếm lới xuất hiện sớm nhất (như người Do Thái ở Tây Nam Á, người nhà Thương ở Đông Bắc Á). Việc kinh doanh kiếm lời bằng sản xuất hàng hóa chỉ thực sự nở rộ và phát đạt cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây. Còn kinh doanh dịch vụ thì xuất hiện còn muộn hơn nữa, trong nửa sau thế kỷ XX.

    Thứ hai, về từ ngữ, bên cạnh chữ doanh là “quản lý” còn có chữ doanh với nghĩa là “tiền lời” (như trong “doanh lợi”). Các sách như Từ điển yếu tố Hán – Việt thông dụng của Viện Ngôn ngữ học … đều nhận lầm rằng doanh “kinh doanh”, “doanh nghiệp”, “doanh nhân” chính là doanh với nghĩa “tiền lời”.

    Và thứ ba, từ doanh nhân tương ứng với các từ tiếng Anh entrepneur, businessman, mà hai từ này đều có nghĩa là thương nhân, thương gia, chủ hãng buôn.

    Mặc dù thương nghiệp là bộ phận điển hình nhất nhưng phải thừa nhận rằng kinh doanh là khái niệm rộng hơn, nó bao gồm cả sản xuất hàng hóa và dịch vụ.

    Phương Tây thuộc loại hình văn hóa gốc du mục, có truyền thống coi trọng pháp luật và trọng lợi hơn danh nên mọi việc kinh doanh không phạm pháp (nếu phạm thì đã ngồi tù) đều được tôn trọng. Trung Hoa thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp gốc du mục, có truyền thống trọng cả lợi lẫn danh nên cũng rất coi trọng nghề buôn. Chỉ riêng Việt Nam và Đông Nam Á thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp điển hình (nông nghiệp lúa nước) trọng danh hơn lợi nên mới có truyền thống khinh rẻ nghề buôn bán. Nho giáo của Khổng Tử hình thành trên cơ sở tiếp thu cả truyền thống văn hóa phương Bắc và phương Nam nên thứ bậc “sĩ nông công thương” trong Nho giáo chính là quan niệm tiếp thu từ văn hóa phương Nam. Vì vậy tuy là cùng theo Nho giáo, nhưng chỉ có Việt Nam mới thực sự coi trọng kẻ sĩ (- quan văn) và khinh người buôn bán. Còn ở Trung Hoa, Triều Tiên thì coi trọng cả văn lẫn võ: ở Nhật Bản thì kẻ sĩ được tôn trọng chỉ có võ sĩ mà thôi. Ở cả ba nước, nghề buôn không hề bị coi thường. ở Trung Hoa, nghề buôn phát triển rất mạnh từ đời Thương, trong suốt lịch sử, chỉ duy có thời Tần – Hán là nghề buôn bị nhà cầm quyền o ép, hạn chế. Học trò Khổng Tử là Tử Cống bỏ học, từ quan đi buôn và trở thành thương gia rất giàu, xe ngựa hàng đoàn. Bản thân Khổng Tử cũng không hề coi rẻ nghề buôn; ông từng nói: “Giàu và sang, người ta ai cũng muốn” .

    Doanh nhân – Công dân (Thuật ngữ này tôi đặt ra từ sự gợi ý của khái niệm “doanh nghiệp công dân” của Jérômc Ballet và Francoise de Bry . Hình thức doanh nhân – công dân ra đời vào cuối thế kỷ XIX, khởi đầu bằng việc Thủ tướng nước Đức là Bismark trong 6 năm từ 1883 – 1889 đã cho thông qua ba đạo luật về bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm tuổi già cho những người lao động. Sau đó là nước Anh từ 1906 – 1940 thực hiện bảo hiểm xã hội rộng rãi cho toàn dân. Theo sau là các nước khác. Hình thức “doanh nhân văn hóa” chỉ mới ra đời gần đây, trong những năm cuối của thế kỷ XX.

    Ở phương Đông, với loại hình văn hóa tổng hợp tính, sự tồn tại của ba hình thức này không có sự tách bạch rạch ròi mà đan xen vào nhau. Ở Trung Hoa, ta thấy hình thức “doanh nhân – ông chủ” thể hiện rõ ngay từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc: Việc Lã Bất Vi và Mạnh Thường Quân sau khi đã giàu có trùm thiên hạ bèn bỏ liền ra thu nạp dưới trướng của mình hàng trăm học sĩ chính là biểu hiện của hình thức này. Ở Việt Nam, do đội ngũ doanh nhân rất non yếu nên hình thức doanh nhân – ông chủ trong lịch sử thể hiện rất mờ nhạt. Ngay ở Trung Quốc và Việt Nam, hình thức doanh nhân – công dân chỉ xuất hiện trong thời kỳ nhà nước XHCN bao cấp tràn lan, nhưng vì kinh doanh trong giai đoạn này là độc quyền của nhà nước nên tính doanh nhân rất thấp. Hình thức “doanh nhân văn hóa” thì về cơ bản chỉ mới đang hình thành. Tuy nhiên, một số yếu tố của văn hóa doanh nhân thì đã có thể thấy từ thời Minh – Thanh ở Trung Quốc. Đó là lúc nghề buôn được “trí thức hóa” khá mạnh nhờ việc có nhiều doanh nhân đỗ đạt bước vào quan trường và đồng thời có nhiều quan lại trí thức từ quan, bỏ học đi buôn. Nhờ có đội ngũ thương nhân – trí thức này mà nhiều sách vở nghiên cứu, tổng kết về nghề buôn ra đời (Thậm chí, ngay từ đời Hán, Tư Mã Thiên trong bộ Sử ký nổi tiếng đã dành riêng một chương viết về nghề buôn nhan đề là Hóa thực liệt truyện (hóa = hàng, hóa thực = nghề buôn). Đời Minh có Hoàng Biện biên soạn sách Nhất thống lộ trình đồ ký gồm 8 quyển. Đời Thanh có Đảm Y Tử biên soạn sách Sĩ thương yếu lãm gồm 3 quyển, Ngô Trung Phu biên soạn sách Thương cổ tiện lãm (Thương là buôn bán lớn, có là buôn bán nhỏ) gồm 8 quyển… Việc “lập ngôn” này đã góp phần “văn hóa” một cách đáng kể đội ngũ thương nhân Trung Quốc, khiến cho hình thức “doanh nhân văn hóa” đã xuất hiện ở đây sớm nhất thế giới.

    Hình thức “doanh nhân văn hoá” đang tồn tại hiện nay ở phương Tây và phương Đông chủ yếu là ở tiểu giai đoạn, tức là giai đoạn mà nhận thức về nhu cầu xây dựng văn hóa doanh nghiệp xuất phát từ chính mục tiêu kiếm lời. Trong thời đại toàn cầu hóa, việc kinh doanh trở nên rất dễ và cũng rất khó. Dễ vì ai ai cũng có thể kinh doanh. ở Hàn Quốc có giai thoại là nếu ra đường mà kêu lên “Chào giám đốc Kim!” thì sẽ có trên một nửa số người đang đi ngoài đường quay đầu lại. Khó vì doanh nghiệp ra đời đã nhiều nhưng doanh nghiệp phá sản có khi còn nhiều hơn. Chính trong khó khăn này mà người ta nhận ra rằng những doanh nhân kinh doanh có đạo đức, có văn hóa trước đây, tuy có số lượng ít ỏi, nhưng phần đông số họ chính là những đại doanh nhân. Hiện nay, những doanh nghiệp đứng vững và phát triển tốt được đều là nhờ có tầm nhìn xa rộng và xây dựng được một truyền thống văn hóa riêng. Tóm lại, việc đi tìm và xây dựng văn hóa doanh nhân không phải do lòng tốt đối với xã hội, mà trước hết chính là vì sự sống còn của bản thân doanh nhân, doanh nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nhân
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp, Doanh Nhân
  • Văn Hóa Lãnh Đạo, Quản Lý Trước Yêu Cầu Đổi Mới Và Phát Triển Xã Hội Hiện Nay
  • Quản Lý Văn Hóa Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100