Yếu Tố Văn Hóa Trong Đàm Phán Quốc Tế

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Quyết Định Sự Đàm Phán Thành Công
  • Trường Cđsp Quảng Trị Mobile
  • Văn Hóa Mạng Và Những Điều Nên Lưu Ý Khi Sử Dụng Mạng Xã Hội
  • Nhân Học Không Gian Mạng: Góc Nhìn Mới Từ Những Lát Cắt Xã Hội “Ảo”
  • Mã Và Mã Văn Hoá
  • Văn hóa là gì?

    Trong tìm hiểu yếu tố về văn hóa trong đàm phán, nhóm thuyết trình chỉ lược qua những khái niệm văn hóa được sử dụng nhiều ở Việt Nam và chỉ ra đâu là khái niệm văn hóa mà nhóm lựa chọn là làm cơ sở để phân tích yếu tố văn hóa trong đàm phán.

    Khái niệm đầu tiên mà nhóm thuyết trình đề cập đến là của Hồ Chí Minh, ông cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”

    Năm 1994 UNESCO đưa ra khái niệm văn hóa, mà ngày nay nó được chấp nhận và sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và các nước trên thế giới. Nhóm nhận thấy khái niệm văn hóa của UNESCO là một khái niệm phù hợp để xem xét yếu tố văn hóa trong đàm phán – UNESCO định nghĩa rằng “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân.” giao tiếp xảy ra giữa các thành viên đến từ những nên văn hóa khác nhau. Chính yếu tố giao tiếp liên văn hóa trọng đàm phán đã tự làm cho đàm phán mang yếu tố văn hóa trong bản thân mình.

    Những sự khác biệt về văn hóa trong giao tiếp là gì?

    Những thành tố của văn hóa sẽ tạo ra những khác biệt trong giao tiếp. Ở chừng mực nào, người ta có thể hiểu được những người thuộc về một nền văn hóa và phương thức sống hoàn toàn xa lạ nhưng nói chung chúng ta không thể hiểu được những người thuộc về một nền văn hóa hay phương thức sống xa lạ, bởi cách thức tư duy và hành động của họ là hoàn toàn khác về nguyên tắc, không có điểm nào chung với cách thức tư  duy và hành động  trong nền văn hóa của mình. Khi tham gia vào giao tiếp chủ thể sẽ bị những thành tố văn hóa quy định nên tính riêng biệt chỉ họ, đó là ngôn ngữ, tôn giáo, giáo dục, giá trị và thái độ, phong tục và cách cư xử, thẩm mỹ Trần Quốc Vượng(2012), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nhà xuất giáo dục, tr.20

      Trần Quốc Vượng(2012), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nhà xuất giáo dục, tr.22

    Khái niệm và các yếu tố của văn hóa, truy cập ngày 14/5/2017 tại

    http://quantri.vn/dict/details/165-khai-niem-va-cac-yeu-to-van-hoa

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Kinh Doanh Là Gì?
  • Cao Ngựa, Cao Ngựa Bạch Chu Việt
  • Sức Mạnh Phát Triển Tổ Chức Trong Thời Kỳ Biến Động
  • Kỷ Luật – Chìa Khóa Đi Từ Tốt Đến Vĩ Đại
  • Sách Mới: Kiến Trúc & Hiện Tượng Cộng Sinh Văn Hóa
  • Văn Hóa Quyết Định Sự Đàm Phán Thành Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Trường Cđsp Quảng Trị Mobile
  • Văn Hóa Mạng Và Những Điều Nên Lưu Ý Khi Sử Dụng Mạng Xã Hội
  • Nhân Học Không Gian Mạng: Góc Nhìn Mới Từ Những Lát Cắt Xã Hội “Ảo”
  • Mã Và Mã Văn Hoá
  • Mã Và Giải Mã Trong Văn Học
  • Kết quả cuối cùng mà mỗi doanh nghiệp đều mong muốn trong đàm phán là ký kết hợp đồng với đối tác của mình. Tuy nhiên điều mà nhiều người không lưu ý đến là văn hóa của đối tượng họ đang trực tiếp đàm phán. Văn hóa đóng góp một phần nhỏ để đàm phán thành công.

    Mỗi quốc gia, môi doanh nghiệp đều có văn hóa khác nhau và tạo nên điều riêng biệt trong cách ứng xử, suy nghĩ của họ. Hiểu rõ về văn hóa của đối tác cũng là một phần thông tin mà các doanh nghiệp phải tìm kiếm. Đó là một lợi thế trong đàm phán mà ít ai chú ý.

    Vậy văn hóa quan trọng như thế nào để đàm phán thành công?

    1. Văn hóa quyết định địa điểm đàm phán

    Địa điểm đàm phán là khâu chuẩn bị đầu tiên mà các doanh nghiệp dành cho đối tác. Cho dù họ từ nước khác đến hay là một doanh nghiệp trong nước, thì địa điểm đàm phán cũng phải cẩn trọng lựa chọn. Một doanh nghiệp với nét văn hóa và phong cách làm việc trẻ ưa thích những nơi mang sự đổi mới, và họ không quá cầu kì với không gian đàm phán.

    Những doanh nghiệp lâu năm thì muốn không gian yên tĩnh. Hay như người Nhật, họ ưa thích những gì thân thuộc về gia đình, sự ấm cúng và gần gũi. Những nét văn hóa còn tùy thuộc vào cá nhân người tham gia đàm phán. Mỗi người sẽ ưa thích một phong cách khác nhau, và điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt. Không gian tốt là một trong những yếu tố làm nên đàm phán thành công.

     

    2. Phong cách đàm phán

    Với mỗi ưu thế mà doanh nghiệp có, hay đối tác mà doanh nghiệp đang đàm phán là đối tác cũ hay đối tác mới, sẽ cho doanh nghiệp quyết định lựa chọn phong cách đàm phán của mình là mềm dẻo hay cứng rắn. Và mỗi nét văn hóa riêng sẽ cho phong cách đàm phán riêng. Xem xét phong cách đàm phán của đối tác để đưa ra ứng xử tốt nhất cho doanh nghiệp của mình.

    Nét văn hóa phương Đông như ở Việt Nam hay Trung Quốc ưa thích kiểu nói chuyện ẩn dụ và khá rườm rà. Còn với người Mỹ họ thích nói trực tiếp thẳng vào vấn đề. Phong cách nói chuyện không phù hợp đàm phán thành công sẽ không cao, cũng tạo ra sự nhàm chán trong quá trình nói chuyện.

    3. Ngôn ngữ giao tiếp

    Văn hóa khác nhau sẽ có những ngôn ngữ giao tiếp khác nhau và điều này quá rõ ràng khi trên thế giới có khoảng 5000 ngôn ngữ. Nét văn hóa riêng biệt hình thành nên các ngôn ngữ khác nhau với những biểu cảm sắc thái khác nhau.

    Tiếng Việt khá phức tạp và một cảm xúc có thể được thể hiện dưới nhiều ngôn từ. Nhưng tiếng Anh lại giới hạn điều này và ưa cách nói ngắn gọn.

    Sự tinh tế trong việc sử dụng ngôn ngữ là những lưu ý tối thiểu nhất cho mỗi nhà kinh doanh để đàm phán thành công. Tính đa dạng ý nghĩa trong ngôn từ tạo nên các cách hiểu khác nhau. Nếu doanh nghiệp hợp tác với nước ngoài thì hợp đồng sẽ được viết bằng tiếng anh, và việc bạn hiểu sai từ sẽ ảnh hưởng đến lợi ích sau này của chính doanh nghiệp.

    Trong đàm phán với các đối tác nước ngoài ngôn ngữ là một yếu tố quyết định sự thành công. Bạn không thể sử dụng tiếng mẹ đẻ để nói chuyện với họ – người chả hiểu bạn nói gì. Chúng ta có thể sử dụng cùng một loại ngôn ngữ phổ thông như tiếng Anh. Tuy nhiên doanh nghiệp bạn có thể tạo ấn tượng với đối tác bằng cách nói chuyện bằng tiếng của nước họ. Điều này tạo cảm giác gần gũi hơn.

    Muốn đàm phán thành công hãy chú ý tới ngôn ngữ giao tiếp.

    Văn hóa là một phần của quá trình đàm phán quyết định thành công hay thất bại của doanh nghiệp bạn. Một phần hiểu biết của bạn về đối tác sẽ cho họ cảm giác được tôn trọng, được coi trọng và vui vẻ hợp tác cùng doanh nghiệp là điều mà mỗi người kinh doanh điều mong muốn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yếu Tố Văn Hóa Trong Đàm Phán Quốc Tế
  • Văn Hóa Kinh Doanh Là Gì?
  • Cao Ngựa, Cao Ngựa Bạch Chu Việt
  • Sức Mạnh Phát Triển Tổ Chức Trong Thời Kỳ Biến Động
  • Kỷ Luật – Chìa Khóa Đi Từ Tốt Đến Vĩ Đại
  • 5 Nguyên Tắc Vàng Để Đàm Phán, Thương Lượng Thành Công Trong Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Thương Lượng (Negotiate) Là Gì? Ưu Nhược Điểm Của Phương Pháp Thương Lượng
  • Khái Niệm Rủi Ro Kinh Doanh Là Gì Và Nguồn Gốc Dẫn Đến Rủi Ro?
  • Các Loại Rủi Ro Trong Hoạt Động Ngân Hàng
  • Ngân Hàng Thương Mại Là Gì? Đặc Trưng Và Các Loại Rủi Ro Nhtm
  • Các Loại Rủi Ro Trong Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Đối với mỗi doanh nghiệp hay cá nhân, khi kinh doanh điều mà họ mong muốn nhất đó là công việc thuận lợi và có lợi nhuận cao. Để đạt được điều đó thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như kỹ năng đàm phán, thương lượng, giao tiếp,… của các chủ doanh nghiệp. Vậy làm thế nào để có một cuộc đàm phán, thương lượng hoàn hảo, thành công khi đàm phán với khách hàng, các đối tác và có thể gây ấn tượng tốt nhất cho đối tác cũng như khách hàng sau này?

    Để tránh những điều đáng tiếc xảy ra và không để bỏ lỡ các “cơ hội ngàn vàng” khi đàm phán trong kinh doanh, chúng tôi sẽ đưa ra một số kinh nghiệm trong đàm phán dành cho các bạn.

    Đàm phán trong kinh doanh Những hình thức đàm phán:

    – Đàm phán qua điện thoại

    – Đàm phán bằng văn bản

    – Đàm phán thông qua gặp mặt

    Những sơ suất khi đàm phán có thể khiến bạn thất bại ngay từ lần đầu tiên:

    – Bạn không biết đối tác là ai, và không biết ai là người có quyền ra quyết định

    – Bạn không nắm được những điểm mạnh của công ty mình, và hoàn toàn không nắm bắt được những lợi thế đó

    – Không xác định được mục tiêu của cuộc đàm phán

    – Lý lẽ đưa ra không sắc bén, thuyết phục đối tác

    – Không thể đưa ra các đề nghị cho đối tác

    – Dễ dàng từ bỏ khi gặp khó khăn

    – Không biết điểm dừng của cuộc đàm phán

    2. 5 điều cần chuẩn bị trước khi đi đàm phán

    2.1. Thông tin về đối tác

    2.2. Thông tin về hàng hóa thị trường bạn mang đến buổi đàm phán khách hàng

    Những thông tin về hàng hóa đó là thuộc tính hàng hóa, tính lý hóa của sản phẩm, yêu cầu của thị trường, tình hình sản xuất, chu kỳ sống sản phẩm và đặc biệt giá cả của đối thủ cạnh tranh.

    2.3. Đánh giá điểm mạnh điểm yếu của chính mình để thiết lập mục tiêu

    Cần biết đối thủ cạnh tranh của mình là ai để có những biện pháp khắc phục và cạnh tranh lại.Từ đó đánh giá những điểm mạnh điểm yếu của mình so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường và trong quan điểm của đối tác.

    Điểm mạnh là tất cả những yếu tố thuận lợi từ bên trong cho phép bạn đạt được những mục tiêu, tận dụng được cơ hội và tránh được những nguy cơ. Điểm yếu là tất cả những yếu tố hạn chế bên trong khiến cho ta gặp khó khăn để đạt đến mục tiêu. Cơ hội là tất cả những gì xảy ra bên ngoài có tác động thuận lợi đến hoạt động của ta. Từ đó thiết lập các mục tiêu cần đạt được, mục tiêu càng cụ thể càng tốt và lẽ tất nhiên phải tính đến các yếu tố như tính thực tế, mối quan hệ giữa hiệu quả và chi phí, mức độ chấp nhận của khách hàng.

    2.4. Xây dựng chiến lược đàm phán

    Trong buổi đàm phán bạn cần xây dựng những chiến lược của mình, có thể là cộng tác để hợp nhất những quan điểm khác nhau, giải quyết các công việc và duy trì mối quan hệ.Hoặc đôi khi phải sử dụng đến chiến lược thỏa hiệp khi vấn đề quan trọng nhưng không thể giải quyết được, các bên có sức mạnh ngang nhau cùng mong muốn đạt được những mục đích chỉ có một sự lựa chọn duy nhất. Cũng có thể bạn cần tránh né những vấn đề không quan trọng trong khi có nhiều vấn đề cấp bách khác cần giải quyết trước, hay những vấn đề có khả năng làm xấu đi cuộc đàm phán hơn là đạt được những lợi ích, tránh né cũng là để cách khéo léo để kéo dài thời gian khi cần thu thập thêm thông tin trước những câu hỏi không lường trước của đối tác.

    2.5. Địa điểm, thời gian và thái độ trong suốt buổi đàm phán khách hàng

    Địa điểm đàm phán có thể là văn phòng công ty bạn, hay tiến hành tại cơ sở của khách hàng hoặc địa điểm trung gian khi cả hai bên đều cảm thấy tại đó là thoải mái và tiện nghi phù hợp.

    Đơn giản và thẳng thắn là thái độ được hoan nghênh trong cuộc đàm phán đối tác, tránh nói nhiều, lan man không đi vào trọng tâm vấn đề cần giải quyết.

    Hi vọng sự chia sẻ của bài viết sẽ giúp bạn có được những thông tin hữu ích, có được kinh nghiệm khi tiến hành triển khai buổi đàm phán khách hàng của công ty với đối tác đạt được thành công.

    Kinh doanh hiệu quả nhờ quản lý chặt chẽ đơn hàng, kho hàng với phần mềm Nhanh.vn

    Nhanh chóng – Tiện lợi – Tiết kiệm chỉ với 8k/ngày

    Sẽ có nhiều đối tác từ chối thẳng thừng hoặc có thể cáu gắt vì không đồng ý với những điều kiện công ty bạn mang lại. Đây là những tình huống thường gặp khi ngồi trên bàn đảm phán, vì vậy nếu gặp trường hợp bạn hãy cư xử thật khéo léo và lịch sự, đừng tỏ ra chán nản và khó chịu với khách hàng. Không nên biểu lộ cảm xúc “hỉ nộ ái ố” quá mức nhưng cũng không nên giữ một bộ mặt lạnh băng. Bởi như vậy rất dễ đem lại thất bại cho cuộc nói chuyện, tệ hơn nữa họ có thể đánh giá bạn là người không lịch sự và không đáng tin tưởng để hợp tác.

    Trong thực tế, rất nhiều lúc bạn bị gây áp lực để đưa ra quyết định ngay lập tức, những suy nghĩ của chúng ta sẽ hướng đến trực giác nhiều hơn lí trí. Tuy nhiên, trực giác có thể mang lại các chiến lược kinh doanh mới lạ nhưng đôi khi cũng có thể phải trả giá đắt. Một nhà đàm phán khôn ngoan nên phán đoán dựa trên những dữ liệu khách quan, tham khảo các cố vấn đứng ngoài và suy nghĩ kĩ càng trước khi đưa ra bất cứ quyết định nào.

    4. 5 bước để có một cuộc đàm phán thành công

    Bước 1: Tạo ấn tượng tốt lần gặp đầu tiên

    Khi bắt đầu một cuộc đàm phán, bạn không nên đề cập đến sự đề nghị, đòi hỏi với các đối tác ngay lúc đầu luôn. Trước tiên bạn nên tạo một bầu không khí dễ chịu, với một số câu chuyện vui vẻ, tạo cảm giác thoải mái và gần gũi cho đối tác. Đây là một điều không thế bỏ qua khi đàm phán, bạn bắt buộc phải lưu ý.

    Tạo ấn tượng tốt với đối tác Bước 2: Chú ý đến thái độ, cử chỉ và hành động của mình trong cuộc đàm phán

    Có rất nhiều cuộc đàm phán thành công được thông qua các cử chỉ, hành động và thái độ, ngôn ngữ mà bạn truyền tải được. Những cử chỉ bạn thể hiện trong cuộc đàm phán phải lịch sự, cười nói vui vẻ, tự nhiên, hồ hởi, thái độ thì cởi mở chân thành, tạo thiện cảm cho đối tác thì sẽ trở nên dễ dàng hơn khi thương lượng. Bạn nên tránh các trường hợp cười nói quá vô duyên, hay tự nhiên quá, gây ấn tượng xấu đến cuộc trò chuyện của bạn và đối tác.

    Bước 3: Xác định mục tiêu của cuộc đàm phán

    Khi bắt đầu một cuộc đàm phán, bạn nên xác định rõ đâu là mục tiêu của cuộc đàm phán, nên cần nói gì và không nên nói gì. Bạn nên bám sát những mục tiêu trong suốt quá trình thương lượng. Nếu bạn không hiểu rõ những mục tiêu của bản thân muốn làm gì thì không thể nào thành công được trong đàm phán.

    Trước khi bắt đầu đàm phán, bạn nên vạch ra các mục tiêu nhỏ rõ ràng, nên nói vào thời điểm nào , rồi khi bước vào cuộc đàm phán, bạn sẽ thể hiện cái mà mình mong muốn cho đối tác biết, có như vậy thì mục tiêu của bạn mới đạt được dễ dàng. Nếu như bạn chuẩn bị thật chỉn chu, và trình bày một cách lưu loát, dễ hiểu thì tôi tin chắc rằng khả năng thành công của bạn sẽ rất cao.

    Xác định mục tiêu trước là điều vô cùng quan trọng Bước 4: Biết lắng nghe

    Người đàm phán giỏi là người biết lắng nge, điều đó sẽ giúp họ thành công. Vì sao lại như vậy? Vì khi lắng nghe bạn mới biết đối tác nói gì, đang cần gì và có những mong muốn như thế nào,.. điều đó giúp bạn nắm bắt được tâm lý của đối tác, giúp bạn dễ dàng hơn khi thuyết phục họ. Đối tác cũng càm thấy được tôn trọng hơn khi được lắng nghe, tạo thiện chí hơn khi đàm phán.

    Biết lắng nghe là một trong những yếu tố cần thiết

    Bạn cũng nên để ý đến các trạng thái của đối tác, xem vẻ mặt của họ đang như thế nào, vui, buồn hay cáu giận,..để có thể biết dung hòa cuôc nói chuyện theo chiều hướng tốt hơn.

    Bước 5: Kết thúc nhanh và lịch thiệp

    Sau khi cảm thấy cuộc đàm phán thành công,nên biết mình nên dừng lại ở chỗ nào. Tránh để cuộc đàm phán diễn ra quá lâu làm đối tác thay đổi suy ngĩ , hay để ý đến các chi tiết vụn vặt của bên mình, hãy kết thúc cuộc đàm phán một cách linh hoạt và lịch thiệp. Đừng tỏ ra thái độ quá lo lắng cho dù bạn không thành công trong cuộc đàm phán, thể hiện ngôn ngữ linh hoạt, khéo léo nhất có thể.

    5. Những lưu ý trong quá trình đàm phán

    1. Bắt đầu với các vấn đề không ai bàn cãi, tranh luận ví dụ như giới thiệu công ty, quy trình xuất khẩu thuế nhập khẩu bao nhiêu, xuất cảng nào, những yêu cầu của khách hàng…

    2. Đàm phán không chỉ đề cập đến mặt thành công của vấn đề mà cũng cần đề cập đến mặt trái của vấn đề ví dụ không giao hàng đúng hẹn, hàng không đúng quy cách thì xử lý như thế nào và các biện pháp bảo đảm.

    3. Nghe cẩn thận phía bên kia, nếu cần thì sử dụng phiên dịch và nên hỏi lại cho rõ ý, viết ra giấy hoặc lên bảng để xác nhận lại ý của phía đối tác. Nếu bên kia xác nhận thì lưu lại hoặc chụp hình lại.

    4. Khi đưa ra một đề nghị nào đó thì nên thể hiện càng ít cảm xúc càng tốt. Và cần phải hiểu rõ nội dung phía sau của đề nghị là gì, phải đoán trước được phản ứng của đối tác.

    5. Trong các tình huống không thuận lợi, không chắc có thể ngưng không nói, đề nghị nghỉ giải lao, hoặc câu giờ bằng cách sẽ trả lời sau, hoặc đề nghị điểm này sẽ đàm phán sau (tuy nhiên cần nhớ: hứa gì thì phải làm đó).

    6. Để kết thúc vấn đề nên đề nghị cả 2 bên lượt lại tất cả những điểm đã đồng ý hoặc chưa đồng ý và đề nghị luôn phương thức giải quyết những vấn đề chưa đồng ý: ví dụ trả lời bằng email sau 2 tuần, hoặc báo giá lại…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ưu Nhược Điểm Của Phương Thức Thương Lượng Và Hòa Giải
  • Khái Niệm, Phân Loại Và Đặc Tính Của Đàm Phán, Thương Lượng
  • Hợp Đồng Thương Mại Là Gì? Đặc Điểm Của Hợp Đồng Thương Mại?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Hợp Đồng Thương Mại
  • Khái Niệm, Vai Trò Chiến Lược Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco
  • Mối quan hệ giữa văn hoá và kinh doanh, làm thế nào để sử dụng mối quan hệ đó, đưa văn hoá vào kinh doanh, sử dụng những đặc trưng của nền văn hoá vào kinh doanh để đạt tốc độ tăng trưởng cao và hiệu quả là những vấn đề đang đặt ra nóng hổi. Những vấn đề đó đã thoát ra khỏi lĩnh vực xã hội đơn thuần mà còn trở thành mối quan tâm của chính khách, các nhà quản lý và các nhà kinh doanh.

    Cho tới nay, đã có khoảng 400 – 500 định nghĩa về văn hoá. Một con số rất lớn và không xác định như vậy nói lên sự phong phú của khái niệm văn hoá.

    Theo triết học Mác – Lênin: văn hoá là tổng hoà những giá trị vật chất và tinh thần cũng như các phương thức tạo ra chúng, kỹ năng sử dụng các giá trị đó vì sự tiến bộ của loài người và sự truyền thụ các giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hình thức khởi đầu và nguồn gốc đầu tiên làm hình thành và phát triển văn hoá là lao động của con người, phương thức hiện lao động và kết quả của lao động và kết quả lao động.

    Còn theo giáo trình quản lý xã hội khái niệm văn hoá: là một thiết chế xã hội cơ bản, là một phức thể, tổng thể các đặc trưng – diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm…khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền quốc gia, xã hội….văn hoá có thể là hữu thể, có thể là vô hình.

    Như vậy, dù theo định nghĩa, mọi định nghĩa văn hoá đều chứa một nét chung là “con người” đều thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hoá với con người. Văn hoá và con người là hai khái niệm không tách rời nhau. Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá. Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình, con người luôn sáng tạo không ngừng để làm nên giá trị văn hoá. Một trong số những giá trị văn hoá được con người sáng tạo ra ấy chính là bản thân con người – con người có văn hoá. Con người sáng tạo ra văn hoá, đồng thời chính con người cũng là sản phẩm của văn hoá.

    Trong sơ đồ 1 chỉ rõ: văn hoá là toàn bộ của cải vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử để vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái tốt, cái hợp lý và sự phát triển bền vững an toàn cho cộng đồng, xã hội và nhân loại.

    Sơ đồ 1: Cấu trúc văn hoá

    Giải thích nghĩa của từ “kinh doanh” trong một số từ điểm do các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam biên soạn cơ chế là giống nhau.

    Theo đại từ điển Tiếng Việt, thì kinh doanh có nghĩa là “tổ chức buôn bán để thu lỗ lãi”.

    Có từ điển từ và ngữ Việt Nam thì kinh doanh là “tổ chức hoạt động về mặt kinh tế để sinh lời”.

    Lãi hay lỗ ở đây được hiểu là: khi người ta bỏ vốn để buôn bán hoạt động kinh tế thì giá trị thu về phải cao hơn số vốn ban đầu cùng với việc bảo đảm thực hiện các trách nhiệm khác theo pháp luật.

    Kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công lao động xã hội tạo ra. Vấn đề là ở chỗ kinh doanh như thế nào, nó đem lại lợi ích và giá trị cho ai? đó chính là vấn đề của văn hoá trong kinh doanh.

    Như vậy, kinh doanh có thể hiểu như luật doanh nghiệp, xem đó là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.

    Từ hai khái niệm văn hoá và kinh doanh ta đi đến khái niệm văn hoá kinh doanh là gì?

    Văn hoá trong kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hoá mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ.

    Việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt động kinh doanh sẽ đem lạij cho kinh doanh và chủ thể kinh doanh một sử mạng cao cả. Đó là sứ mệnh phát triển con người, đem lại sự giàu có, hạnh phúc cho mọi người, sự phồn vinh và vững mạnh của đất nước, sự vẻ vang của dân tộc. Nhận thức được sứ mệnh ấy con người sẽ hay say lao động, không ngại khó khăn gian khổ, thậm chí hy sinh cả lợi ích riêng của mình đóng góp vào lợi ích chung vì xã hội. Do đó, văn hoá trong kinh doanh là bộ phận cấu thành của nền văn hoá dân tộc, phản ánh trình độ của con người trong lĩnh vực kinh doanh. Bản chất của văn hoá trong kinh doanh đó là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng cái tốt, cái đẹp. Cái lợi đó tuân theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Ngược lại cái đúng, cái tốt, cái đẹp là cơ sở bền vững cho hoạt động sinh ra cái lợi. Văn hoá kinh doanh cuả các nhà kinh doanh, của doanh nghiệp được nhận biết qua hai phương diện chính.

    Một là: các nhân tố văn hoá (hệ giá trị, triết lý sống, tâm lý) được vận dụng vào quá trình kinh doanh để tạo ra các sản phẩm hàng hoá về dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng có văn hoá. Đó chính là kiểu kinh doanh có văn hoá, kiểu kinh doanh phù hợp với nét đẹp của văn hoá dân tộc.

    Hai là: cái giá trị, sản phẩm văn hoá như hệ giá trị, triết lý, tập tục riêng, nghệ thuật kinhdoanh…mà chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình hoạt động và làm nghề kinh doanh của họ, có tác dụng cổ vũ biểu dương đối với kiểu kinh doanh có văn hoá mà họ đang theo đuổi. Đó chính là lối sống có văn hoá của các chủ thể kinh doanh.

    Đề cao cái lợi của hoạt động kinh doanh gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái đẹp, nhằm thoả mãn có chất lượng nhu cầu và thị hiếu của đời sống xã hội, mỗi xã hội cần định hình ra thành các truyền thống văn hoá kinh doanh trong nền văn hoá chung của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ? Liệu Yếu Tố Này Có Ảnh Hưởng Đến Doanh Nghiệp ?
  • Tim Hieu Khai Niem Van Hoa Va Van Hoa Doanh Nghiep Tai Luan Van Viet
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ?
  • Khái Niệm Về Văn Hoá Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco
  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức
  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Quản Lý Văn Hóa Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
  • 1. Khái niệm văn hóa

    Muốn nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển, trước tiên phải có một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó. Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hóa. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định nghĩa nào thoả mãn được cả về định tính và định lượng. Điều đó, theo tôi, có những nguyên nhân sau đây:

    Trước hết, trong số những người nghiên cứu văn hóa, hoặc, như người ta thường gọi, những nhà văn hóa, ngoài những định kiến và những hạn chế có tính chất lịch sử, rất nhiều người bị mắc những bệnh nghề nghiệp. Họ thường qui văn hóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể, thường bói văn hóa, cũng như bói cuộc sống nói chung, theo kiểu thầy bói xem voi, bằng cách xem xét những bộ phận cá biệt của nó chứ chưa có một cách tiếp cận tổng thể.

    Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa. Khi đề cập đến nó mỗi người có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của họ là điều dễ hiểu.

    Thứ ba, giống như tất cả các ngành khoa học xã hội khác, ngành văn hóa học có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài trong lịch sử loài người. Trong quá trình lịch sử đó nội dung của khái niệm văn hóa cũng thay đổi theo.

    Tôi cho rằng văn hóa, nói một cách giản dị, là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau. Thông qua mỗi một chu kỳ của sự phát triển, dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác, cái còn lại được gọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hóa.

    Ở đây, tôi gần gũi với cựu Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng địinh bản sắc riêng của mình”.

    Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt. Trong thực tế, không có sự giống nhau tuyệt đối.

    Gần đây, có ý kiến cho rằng trên thế giới đang diễn ra hiện tượng xâm lược về văn hóa như là sự tiếp tục của những cuộc xâm lược bằng súng đạn và kinh tế. Tôi không đồng ý như vậy. Bởi văn hóa là hoà bình, văn hóa là không xâm lược. Cảm giác bị xâm lược, nếu có, chẳng qua là cái cảm giác và sĩ diện của kẻ yếu. Chúng ta đang sống trong một thế giới duy nhất và cũng có thể nói là thống nhất. Chúng ta phải bắt đầu từ mô hình kinh tế mà Alvin Tofler từng mô tả bằng hình ảnh “con tàu vũ trụ”. Trái đất là một kho chứa hữu hạn các nguồn năng lượng sống và toàn cầu hóa là một quá trình để tiết kiệm nguồn năng lượng ấy bằng cách đảm bảo không sản xuất thừa, không sử đụng nguyên liệu một cách bừa bãi trên phạm vi toàn cầu. Nhưng cùng với quá trình hội nhập về mặt kinh tế còn có một quá trình khác luôn luôn tồn tại bên cạnh, và thậm chí đã đi trước, đó là sự hội nhập về mặt văn hóa. Sự hội nhập về mặt văn hóa chính là quá trình con người đi tìm ngôn ngữ chung cho một cuộc sống chung. Quan niệm về sự xâm lược văn hóa là

    quan niệm của những cộng đồng người chỉ có kinh nghiệm hình thành trong quan hệ phát triển lưỡng cực, những kinh nghiệm chiến tranh, nhất là chiến tranh lạnh. Văn hóa không phải là ý thức của tôi, của anh hay của bất kỳ ai, mà thuộc về con người một cách tự nhiên. Con người khi sống chung với nhau sẽ gây ảnh hưởng lẫn nhau. Đến phương Tây ta sẽ nhìn thấy rằng trong ngôi nhà nào của người Mỹ, người Anh, người Pháp…cũng có một vài vật dụng gì đó, một vài thứ souvenirs gì đó từ phương Đông. Đôi khi trong xã hội phương Tây người ta có xu hướng xem sự hiện hữu của một vài kỷ vật, một vài đồ trang trí từ phương Đông như là dấu hiệu của tầng lớp thượng lưu hoặc văn minh. Đó là sự đan xen lẫn nhau của cuộc sống, đấy là sự chung sống hoà bình của quá khứ, và đấy cũng chính là cơ sở văn hóa của sự chung sống hoà bình trong tương lai.

    2. Văn hóa và văn minh

    Hai khái niệm rất hay bị đồng nhất này tuy rất gần gũi nhưng thực ra không phải là một và chỉ có thể coi như đồng nghĩa trong một vài trường hợp cụ thể, chẳng hạn khi người ta đối lập văn minh với bạo tàn.

    Thông thường, văn minh được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của nhân loại đến một thời kỳ lịch sử nào đó. Một số nhà nghiên cứu, chẳng hạn Alvin Tomer, sử dụng chúng để phân chia lịch sử thành văn minh tiền nông nghiệp, văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Có quan điểm lại cho rằng văn minh là một khái niệm rộng hơn văn hóa, rằng văn minh là sự tổng hoà của văn hóa và xã hội, là sự thể hiện được những hình thức thực tiễn cụ thể của văn hóa trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống như lao động sản xuất, lối sống, hành vi ứng xử…

    Trong thực tế, chúng ta thấy có những tộc người chưa có văn minh vẫn có văn hóa của mình. Đôi khi trên sách báo, chúng ta gặp những nhận xét, đánh giá độ cao thấp của các nền văn minh, trong khi đó lại có những người cho rằng các nền văn hóa thực ra là như nhau, rằng việc chúng ta đánh giá cái này cao hơn, cái kia mạnh hơn là do cách nhìn của chúng ta, còn các nền văn minh, những nền văn hóa ở Aztec chẳng hạn, từ cách đây mấy nghìn năm cũng không kém gì nền văn minh ở phương Tây hiện nay…

    Tôi nghĩ rằng, tất cả những nhà nghiên cứu về văn hóa đang lấy cái mẫu của thời xưa, khi chỉ cần sự ngăn cách về địa lý là đủ để ngăn cách các cộng đồng người. Nhân loại hiện đại, bằng các phương tiện của mình, không còn bị giam hãm bởi các khái niệm khu trú như vậy. Nếu như các nhà nghiên cứu văn hóa của thế kỷ XXII mà vẫn lấy hình mẫu của thế kỷ XX để noi theo thì chắc chắn cũng vẫn đi đến những kết luận khác với những kết luận của những nhà nghiên cứu văn hóa của thế kỷ XX.

    Chúng ta phải phân biệt nghiên cứu về văn hóa như một quá trình vận động, như một yếu tố xã hội, với nghiên cứu lịch sử văn hóa, nghĩa là xem xét nó như một phiên bản tĩnh. Chúng ta cũng không nên phê phán những người lấy sự phát hiện và phân biệt những khía cạnh khác nhau của các nền văn minh làm mục đích nghiên cứu. Bởi vì họ nghiên cứu lịch sử văn hóa chứ không phải nghiên cứu văn hóa. Văn hóa đang và sẽ còn bớt đần sự cát cứ, còn nghiên cứu lịch sử văn hóa thì không bao giờ có sự cát cứ như vậy. Nói như vậy không có nghĩa là không có sự khác nhau về ảnh hưởng. Một cộng đồng lớn sẽ có khả năng tạo ra một vùng ảnh hưởng lớn hơn, đa dạng hơn, bởi càng đông thì tính đa dạng càng lớn. Tính đa dạng về mặt tính cách của con người sẽ tạo ra tính đa dạng về mặt đời sống văn hóa. Sự lan toả của một cộng đồng lớn sẽ mạnh hơn.

    Tuy vậy, khi nghiên cứu văn hóa không nên đặt mục tiêu là xác định nó lớn hay bé, mà nên xem nó có độc đáo hay không, có lạ lẫm hay không, có những sáng tạo gì, có đóng góp gì và đặc biệt là nó có đóng góp gì cho văn hóa chung của nhân loại. Tôi nghĩ rằng nghiên cứu như thế mới giúp ta tìm ra được giá trị thật của văn hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ? Liệu Yếu Tố Này Có Ảnh Hưởng Đến Doanh Nghiệp ?
  • Tọa Đàm Giới Thiệu Sách Khái Niệm Văn Hóa Trong Khoa Học Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa Trong Khoa Học Xã Hội
  • Khái Niệm Khoa Học Và Nghiên Cứu Khoa Học 1.1. Khoa Học
  • Bộ Sách Khoa Học Công An Việt Nam
  • Khoa Học Cơ Bản Là Tiền Đề Cho Khoa Học Ứng Dụng
  • Các Định Nghĩa Và Khái Niệm Về Nghiên Cứu Khoa Học
  • Đăng ngày: 31/12/2020 10:52

    “Cuốn sách này tất nhiên là dành cho các sinh viên, nhưng tất cả những ai quan tâm đến các vấn đề như đa văn hóa, văn hóa của người nhập cư, văn hóa doanh nghiệp… cũng cần đọc nó”.

    TỌA ĐÀM GIỚI THIỆU SÁCH

    KHÁI NIỆM VĂN HÓA TRONG KHOA HỌC XÃ HỘI

    (La notion de culture dans les sciences sociales) (Tác giả: Denys Cuche; Dịch giả: Lê Minh Tiến) Nhà xuất bản Tri Thức phát hành tháng 1/2021

    I – THÔNG TIN VỀ CHƯƠNG TRÌNH

    Đơn vị tổ chức: Nhà xuất bản Tri Thức & Trung tâm Văn hóa Pháp

    Diễn giả: Dịch giả Lê Minh Tiến

    Thời gian: 18:00, thứ Hai, ngày 04/01/2021

    Địa điểm: Thư viện, Trung tâm Văn hóa Pháp, 24 Tràng Tiền, Hà Nội

    Có thể nói, quyển sách nhỏ này sẽ mang lại những hiểu biết căn bản nhất về khái niệm văn hóa, các trường phái nghiên cứu về văn hóa, đặc biệt là trường phái Nhân học văn hóa Bắc Mỹ, các lĩnh vực nghiên cứu văn hóa như văn hóa nhập cư, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa bình dân…

    Nội dung trong cuốn sách gồm có: Nguồn gốc xã hội của từ “văn hóa” và ý niệm “văn hóa”, Sự ra đời của khái niệm khoa học về văn hóa, Thắng lợi của khái niệm văn hóa, Nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nền văn hóa và việc cách tân khái niệm văn hóa, Thứ bậc xã hội và thứ bậc văn hóa, Văn hóa và căn tính, Mở rộng khái niệm văn hóa sang các lĩnh vực ứng dụng mới, Văn hóa doanh nghiệp và văn hóa nghề nghiệp, Di dân quốc tế và biến chuyển văn hóa.

    “Khái niệm văn hóa gắn liền với tư duy của các ngành khoa học xã hội. Bằng cách nào đó, các ngành khoa học cần nó để suy tư về tính thống nhất trong sự đa dạng xét về mặt sinh học của loài người. Có vẻ văn hóa mang lại câu trả lời thỏa đáng nhất cho câu hỏi về sự khác biệt giữa các dân tộc, câu trả lời “mang tính chủng tộc” ngày càng tỏ ra mất giá trị trước sự tiến triển về di truyền học nơi các nhóm người.

    Xét về bản chất, con người là một hữu thể văn hóa. Quá trình dài tiến hóa thành người, được bắt đầu trên dưới 15 triệu năm, đã chuyển từ sự thích nghi di truyền với môi trường tự nhiên sang sự thích nghi văn hóa. Trong quá trình tiến hóa này, đã dẫn đến loài Người tinh khôn (Homo sapiens), loài người đầu tiên, diễn ra một sự thoái triển tuyệt vời về bản năng, dần dần “được thay thế” bằng văn hóa, tức là qua sự thích nghi có chủ ý và có kiểm soát của con người thể hiện sự thích nghi mang tính chức năng nhiều hơn là sự thích nghi mang tính di truyền, bởi vì sự thích nghi này linh hoạt hơn, chuyển giao dễ hơn và nhanh hơn. Văn hóa không chỉ cho phép con người thích nghi với môi trường mà còn làm cho môi trường thích nghi với con người, với những nhu cầu, những dự án của con người, nói cách khác, văn hóa làm cho việc biến đổi tự nhiên trở nên khả dĩ.

    Nếu mọi “quần thể” người sở hữu cùng một khối di truyền, các quần thể này phân biệt với nhau qua những lựa chọn văn hóa, mỗi quần thể sáng tạo ra các giải pháp độc đáo cho những vấn đề mà họ đối diện. Tuy nhiên, những khác biệt ấy không phải là không thể thỏa hiệp với nhau, vì xét đến sự thống nhất về mặt di truyền của loài người, những khác biệt ấy thể hiện cách sử dụng các nguyên tắc văn hóa phổ quát có khả năng tiến hóa và kể cả biến đổi.

    Vì thế, khái niệm văn hóa tỏ ra là một công cụ thích hợp để kết thúc lối giải thích mang tính tự nhiên đối với các hành vi của con người. Nơi con người, tự nhiên được giải thích hoàn toàn bằng văn hóa. Những khác biệt có vẻ ít nhiều được gắn với các đặc tính sinh học như, sự khác biệt về giới tính, tự nó không bao giờ được quan sát ở “tình trạng thô” (tự nhiên), bởi vì có thể nói văn hóa được nhìn thấy “cách tức thì” trong sự khác biệt đó. Sự phân công vai trò giới và trách nhiệm trong xã hội loài người chủ yếu xuất phát từ văn hóa, và vì thế nó thay đổi từ xã hội này sang xã hội khác.

    Khái niệm văn hóa, được hiểu theo nghĩa rộng, hướng đến lối sống và tư tưởng, ngày nay đã được chấp nhận một cách rộng rãi, dù đôi khi cũng dẫn đến những mơ hồ nào đó. Nhưng đó không phải là vấn đề. Kể từ khi xuất hiện vào thế kỉ XVIII, ý niệm hiện đại về văn hóa đã không ngừng gây ra những tranh luận rất gay gắt. Dù cho có được định nghĩa rõ ràng như thế nào – và không thiếu các định nghĩa – những bất đồng vẫn luôn tồn tại trong cách hiểu về văn hóa cho thực tại này hay thực tại khác. Đó là việc sử dụng khái niệm văn hóa vào trong lĩnh vực biểu tượng, vào cái chạm đến ý nghĩa, tức là cái khó đồng thuận nhất.

    Các ngành khoa học xã hội, mặc cho có sự lo ngại về tính tự trị nhận thức luận, không bao giờ hoàn toàn độc lập với các bối cảnh học thuật và ngôn ngữ học mà trong đó chúng tạo dựng những lược đồ lí thuyết và khái niệm của mình. Do đó, khảo cứu khái niệm văn hóa hàm chứa việc nghiên cứu tiến hóa lịch sử của nó, mà bản thân sự tiến hóa này cũng được gắn trực tiếp với nguồn gốc xã hội của ý niệm hiện đại về văn hóa.

    Trong khuôn khổ cuốn sách này, không thể trình bày hết mọi cách dùng khái niệm văn hóa có thể có trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ở đây, xã hội học và nhân học được ưu tiên, nhưng các lĩnh vực khác cùng dùng đến khái niệm văn hóa: tâm lí học và nhất là tâm lí học xã hội, phân tâm học, ngôn ngữ học, lịch sử, kinh tế, v.v. Ngoài các ngành khoa học xã hội, khái niệm này cũng được các nhà triết học sử dụng theo cách riêng biệt. Vì không thể nào bao hàm toàn bộ được, nên thật chính đáng khi chỉ tập trung vào một số hiểu biết nền tảng trong phân tích văn hóa”.

    (Trích Dẫn nhập – Khái niệm văn hóa trong khoa học xã hội)

    ***

    Cuốn sách này tất nhiên là dành cho các sinh viên, nhưng tất cả những ai quan tâm đến các vấn đề như đa văn hóa, văn hóa của người nhập cư, văn hóa doanh nghiệp… cũng cần đọc nó”. (CNDP).

    Nội dung cuốn sách bàn về khái niệm văn hóa và mặc dù tựa đề quy chiếu vào các ngành khoa học xã hội, tác giả đã tập trung chủ yếu vào Dân tộc học, Nhân học và Xã hội học trong bối cảnh của bốn quốc gia là Pháp, Mỹ, Anh và Đức. Chính chiều kích mang tính so sánh ấy là một trong những điểm nổi bật nhất của cuốn sách này”. (Jean-Pierre Hassoun, Phòng nghiên cứu Nhân học đô thị – CNRS)

    Tác giả Denys Cuche là Giáo sư Xã hội học và Nhân học tại Trường Đại học Sorbonne (Phân khoa Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Paris-Descartes) và là nhà nghiên cứu tại Trung tâm Dân số và Phát triển (CEPED), UMR Paris-Descartes/INED/IRD. Lĩnh vực nghiên cứu của ông gồm di dân quốc tế, quan hệ liên tộc người và tiếp xúc văn hóa. Khách thể nghiên cứu là châu Mỹ Latin, Péru và Palestines.

    Dịch giả Lê Minh Tiến hiện là giảng viên Xã hội học tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông từng tốt nghiệp hạng thủ khoa ngành Xã hội học khóa 1 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, tốt nghiệp Cao học chuyên sâu Xã hội học (Diplôme d’Études Approfondies) tại Đại học Công giáo Louvain (Université Catholique de Louvain) của Vương quốc Bỉ.

    Ông đã dịch, biên soạn một số đầu sách như: Xã hội học Mỹ – Những nghiên cứu thực nghiệm điển hình (Nxb Trẻ, 2009); Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (đồng dịch giả, Nxb Tri Thức, 2009); Cẩm nang xây dựng dự án nghiên cứu trong Khoa học Xã hội (Nxb Tri Thức, 2013); Tư tưởng Max Weber (Nxb Hồng Đức, 2022); Phương pháp thống kê trong nghiên cứu xã hội (Nxb ĐHQG chúng tôi 2022), Phương pháp luận dân dã (Nxb Tri Thức, 2022).

    Tên sách: Khái niệm văn hóa trong khoa học xã hội

    Khổ sách: 13×20,5

    Số trang: 400

    Loại bìa: Bìa mềm, tay gập

    Giá sách: 125.000 VNĐ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Trong Các Khoa Học Xã Hội Và Các Nguyên Tắc Phương Pháp Luận Của Chúng
  • Khái Niệm Khoa Học Công Nghệ Là Gì? Những Ưu Và Nhược Điểm Của Nó
  • Khái Niệm Khoa Học Công Nghệ Là Gì? Ảnh Hưởng Của Khoa Học Công Nghệ
  • Các Mô Hình Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Và Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Đảng Sẽ Ra Định Nghĩa Mới Về Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco
  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức
  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Văn hóa có bản sắc riêng lại có sự giao thoa, tiếp biến; nó kết tinh từ trong hoạt động của con người theo dòng chảy của lịch sử, đồng thời bổ sung những giá trị mới từ cuộc sống hiện tại.

    1. Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa.

    Năm 1967, Abraham Molo, nhà nghiên cứu người Pháp đã thống kê được 250 định nghĩa. Giáo Sư Phan Ngọc cho biết: Một nhà Dân tộc học Mỹ đã dẫn ra ngót 400 định nghĩa về Văn hóa.

    Có người đã phải thốt lên: “Văn hóa chính là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó”.

    Sở dĩ như vậy là vì văn hóa là một phạm trù rất rộng, cả vật chất lẫn tinh thần, cả tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ, truyền thống và lối sống. Văn hóa có bản sắc riêng lại có sự giao thoa, tiếp biến; nó kết tinh từ trong hoạt động của con người theo dòng chảy của lịch sử, đồng thời bổ sung những giá trị mới từ cuộc sống hiện tại.

    Hệ thống cầu vượt giao thông đô thị xây mới trung tâm TP. Hà Nội. Ảnh: tạp chí kiến trúc Việt Nam.

    Có thể trích ra đây hai định nghĩa, mà theo tôi, phản ánh tương đối đầy đủ khái niệm Văn hóa:

    – Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. (Định nghĩa của UNESCO đưa ra năm 1982 tại Mexico).

    – Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống của mỗi cá nhân và cộng đồng đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, cấu thành nên một hệ các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình (Cựu Tổng giám đốc UNESCO Frederico Mayor).

    Đặc trưng của Văn hóa là sự đa dạng, giá trị của Văn hóa là sự khác biệt. Trong văn hóa, chỉ có hợp tác và giao lưu; phát huy và quảng bá bản sắc văn hóa độc đáo của đất nước mình, dân tộc mình, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Vì vậy, theo suy nghĩ của tôi, khái niệm “hội nhập” về văn hóa là không chuẩn xác.

    Văn hóa tuy không phải là tất cả nhưng lại có mặt trong tất cả, nó thấm đậm trong quá trình phát triển, trong mọi hoạt động, mọi hành vi, ứng xử của con người.

    Di sản văn hóa có di sản vật thể và di sản phi vật thể. Di sản, nhất là di sản phi vật thể có cái cái tốt, tích cực, cũng có cái không tốt, tiêu cực. Người có tư duy lành mạnh, hành động đúng đắn là biết phát huy và tạo ra những di sản tốt đẹp, khắc phục và loại bỏ những di sản xấu.

    2. Văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nói chung và kinh tế nói riêng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Văn hóa soi đường cho Quốc dân đi”. Cương lĩnh chính trị được Đại Hội Đảng lần thứ XI thông qua khẳng định: “Văn hóa là “nền tảng tinh thần vững chắc, là sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”

    “Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Và, dân tộc nào bị thống trị về văn hóa ngoại bang thì dân tộc đó không thể có độc lập thật sự. (Nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng nghìn năm; các dân tộc ở phía Nam sông Dương Tử đều bị “Hán hóa” nhưng dân tộc ta không bị “Hán hóa” là do sức sống mãnh liệt của văn hóa người Việt).

    “Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới, những công trình vượt trội lên bản thân ” (Tuyên bố của UNESCO về những chính sách văn hóa)

    Trong mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, văn hóa không phải là cái thứ hai, “không phải là cái ăn theo, không phải là sự phản ánh thụ động sự phát triển của kinh tế”. Văn hóa là một nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế.

    Trong thời đại của một nền văn minh mới, động lực của tăng trưởng kinh tế không chỉ ở vốn, càng không phải ở tài nguyên mà chủ yếu ở trí tuệ, tiềm năng sáng tạo, ở bản lĩnh, khả năng giao tiếp, kết nối và tương tác với người khác của mỗi cá nhân tức là ở nguồn lực con người, là ở trong văn hóa. Và, chúng ta khẳng định: văn hóa là động lực của phát triển.

    3. Kinh doanh, không chỉ là hoạt động kinh tế mà bản chất là hoạt động văn hóa. Hoạt động đó đáp ứng nhu cầu của con người: Cả người sản xuất và người tiêu dùng, cả người mua lẫn người bán; nó mang đến cho con người sự thỏa mãn, sự tiện nghi. Đối với người sản xuất là sự sáng tạo, đối với người mua là đáp ứng nhu cầu để phục vụ cho cuộc sống và rốt cuộc cũng là để sáng tạo. Sự đáp ứng gắn chặt với cách đáp ứng. Nhiều khi cách đáp ứng còn quan trọng hơn sự đáp ứng “Của cho không bằng cách cho”. Và, do đó trong bản chất nó là hoạt động văn hóa.

    Văn hóa doanh nghiệp có những chuẩn mực chung nhưng lại mang bản sắc riêng, nó tạo sự khác biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Chính vì vậy, văn hóa doanh nghiệp là một trong nhiều yếu tố làm nên thương hiệu của doanh nghiệp.

    Văn hóa doanh nhân là các giá trị văn hóa mà người chủ doanh nghiệp hướng đến trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Văn hóa doanh nhân đóng vai trò chủ đạo hình thành văn hóa doanh nghiệp.

    Cách đây một thế kỷ, chí sỹ Lương Văn Can (1854-1927) đã nói về những điểm yếu của doanh nhân Việt Nam:

    Người mình không có thương phẩm, không có thương hội.

    Không có tín thực, chỉ xem ngạn ngữ ta rằng “thực thà cũng thể lái buôn” thời đủ biết đức tính của lái buôn vậy.

    Không kiên tâm, không có nghị lực, không biết trọng nghề,

    Kém đường giao thiệp.

    Không biết tiết kiệm. Làm ít, tiêu nhiều; chỉ choáng bề ngoài mà xấu bề trong, tốt bộ vỏ mà không có ruột.

    Khinh hóa, sính hàng ngoại.

    Nhận xét của cụ Lương Văn Can về nghề buôn của nước ta cho đến nay đều xác đáng. (Lấy theo báo An Ninh Thủ Đô tháng 2/2008).

    Tất nhiên, không phải mọi doanh nhân nước ta đều có tất cả những yếu kém ấy. Cùng với sự phát triển của đất nước, ngày nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tiến bộ và trưởng thành lên nhiều nhưng những điều cụ Lương nói vẫn còn ở không ít các doanh nghiệp, doanh nhân nước ta. Đây là một di sản không tốt cần loại bỏ.

    Trên tổng thể, khắc phục những yếu kém mà cụ Lương Văn Can chỉ ra là tạo nên một hệ giá trị cho văn hóa doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, thời đại thay đổi, quan niệm về hệ giá trị cũng có những phát triển mới, có những đặc trưng mới mặc dầu không có mâu thuẫn với những điều nhà chí sỹ Lương Văn Can đã đề cập.

    Để làm việc này, trước hết, phải xác lập những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng văn hóa kinh doanh. Đó là:

    (1) Hai bên cùng thắng: Lấy sự hài lòng của khách làm cơ sở bảo đảm lợi ích của mình.

    (2) Cạnh tranh lành mạnh và tăng cường hợp tác

    (3) Phát triển bền vững

    (4) Thượng tôn pháp luật, bảo đảm kỷ luật kỷ cương đi đôi với phát huy dân chủ và khả năng sáng tạo của mỗi thành viên; đặt yêu cầu cao cho mỗi thành viên, động viên họ đối đầu với thách thức. Có dám đối đầu với thách thức mới biết mình là thế nào và có thể làm được những gì?

    (5) Đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Phải coi trách nhiệm xã hội là một nội dung của văn hóa doanh nghiệp, một yếu tố tạo ra thương hiệu.

    Từ các nguyên tắc chỉ đạo này, phải phấn đấu theo các nội dung sau:

    (i) Kinh doanh trung thực, giữ vững chữ tín, tạo niềm tin cho đối tác (đây là nội dung cực kỳ quan trọng).

    (ii) Có tư duy chiến lược và tầm nhìn dài hạn để định hướng phát triển lâu dài, có khả năng phản ứng trước khi thị trường biến động- điều rất cần trong bối cảnh thế giới vận động rất nhanh và thay đổi không ngừng, cũng là để đào tạo người nối nghiệp theo định hướng đã lựa chọn. Đối với những công ty gia đình thì nên phát triển theo cách “cha truyền con nối”.

    (iii) Không coi kinh doanh chỉ là một nghề để kiếm sống mà là một hoạt động sáng tạo, một phương án tự hoàn thiện mình với chữ Người (viết hoa) nên phải kiên trì, không “nhảy cóc”; dám chấp nhận sai lầm và biết giới hạn những sai lầm; chấp nhận lỗ trong một thương vụ cụ thể để giữ chữ tín với đối tác.

    (iv) Coi tiết kiệm không chỉ là cách thức giảm chi phí, tăng lợi nhuận mà là một phong cách và văn hóa sống, giúp khách hàng được hưởng lợi tốt hơn. Qua đó mà mở rộng thị trường, phát triển khách hàng.

    (v) Nâng cao ý thức về lòng tự hào đối với sản của doanh nghiệp mình, làm với tất cả tâm huyết, yêu nghề để có sản phẩm tốt nhất, hoàn thiện nhất có thể; bảo đảm chất lượng, giá cả hợp lý và dịch vụ hậu mãi vượt trội.

    (vi) Coi trọng vai trò của hiệp hội, hợp tác chặt chẽ và đóng góp tích cực vào hoạt động của hiệp hội.

    (vii) Tăng cường hợp tác và liên kết, tích cực tương tác với các đối tác trong và ngoài nước, hình thành mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Cần hiểu rằng, hợp tác và liên kết là yêu cầu tự thân của cuộc sống, của phát triển, là nhân sinh quan, là tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu của con người hiện đai trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tăng cường làm việc nhóm nhỏ.

    (viii) Chú ý tổ chức các hoạt động ngoại khóa. (văn nghệ, thể dục thể thao, dã ngoại,..). Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp (nội dung này cũng là giải pháp gắn kết các thành viên trong doanh nghiệp).

    (ix) Xác định đúng nhưng ngắn gọn “Slogan”, của doanh nghiệp để mỗi người hướng theo mục tiêu này mà phấn đấu. Lưu ý “Slogan” không phải là vĩnh viễn, cũng phải thay đổi phù hợp với mục tiêu mới khi tình hình đòi hỏi. Có một thực tiễn là, với một “Slogan” sử dụng quá lâu, không được bổ sung và phát triển những ý tưởng mới khi tình hình thay đổi, nhiều thành viên trong doanh nghiệp không còn nhớ đến nó nữa.

    (x) Xây dựng thương hiệu bằng cách tạo ra bản sắc riêng, sự độc đáo trong sản phẩm và dịch vụ của mình, cùng với việc mở rộng mạng lưới cung ứng và tiêu thụ.

    Để xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần nhớ:

    – Thói quen hình thành tính cách, tính cách làm nên số phận. Thói quen có thói quen tốt và thói quen xấu. Tạo ra thói quen tốt không dễ, loại bỏ một thói quen xấu còn khó hơn. Vì vậy, phải tăng cường kỷ luật, kỷ cương, khen thưởng kịp thời, xử phạt nghiêm minh. Kỷ luật sẽ áp chế thói quen xấu, giúp cho cái tốt chiến thắng.

    – Doanh nhân (chủ hoặc người đứng đầu doanh nghiệp) có ảnh hưởng quyết định đến xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Vì vậy, Doanh nhân phải có ý thức xây dựng, đề cao văn hóa kinh doanh, văn hóa của doanh nghiệp mình

    – Về bản chất, lãnh đạo và quản lý là hai hoạt động khác nhau. Ở ta thường đồng nhất hai hoạt động này. Cần cố gắng tách bạch đến mức có thể, nhất là trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Trong hoạt động này, người lãnh đạo đưa ra ý tưởng, truyền cảm hứng đến mọi người và cuốn hút họ đi theo và thực hiện ý tưởng và các nội dung đã xác định. Người quản lý tổ chức thực hiện ý tưởng đó: Lập quy trình thực hiện có hiệu quả, giám sát việc thực thi, đề ra các giải pháp phát huy kết quả, khắc phục những sai phạm, yếu kém, …

    Trương Đình Tuyển/Sài Gòn giải phóng số Xuân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ? Liệu Yếu Tố Này Có Ảnh Hưởng Đến Doanh Nghiệp ?
  • Tim Hieu Khai Niem Van Hoa Va Van Hoa Doanh Nghiep Tai Luan Van Viet
  • Khái Niệm, Phân Loại Và Đặc Tính Của Đàm Phán, Thương Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Ưu Nhược Điểm Của Phương Thức Thương Lượng Và Hòa Giải
  • 5 Nguyên Tắc Vàng Để Đàm Phán, Thương Lượng Thành Công Trong Kinh Doanh
  • Thương Lượng (Negotiate) Là Gì? Ưu Nhược Điểm Của Phương Pháp Thương Lượng
  • Khái Niệm Rủi Ro Kinh Doanh Là Gì Và Nguồn Gốc Dẫn Đến Rủi Ro?
  • Các Loại Rủi Ro Trong Hoạt Động Ngân Hàng
  • 1. Khái niệm đàm phán, thương lượng

    Đàm phán, thương lượng là phương tiện cơ bản giúp chúng ta đạt được những điều mà chúng ta mong muốn từ người khác. Hầu hết các quyết định trong mọi vật của cuộc sống đều đạt được thông qua đàm phán và thương lượng.

    Đàm phán, thương lượng là phương tiện dùng để giải quyết mâu thuẫn giữa các bên. Trong hoạt động quản lý dự án, các bên tham gia ít khi có quan hệ cấp trên cấp dưới mà thường là quan hệ đối tác (Chủ đầu tư – Nhà thầu – Tư vấn – Nhà cung cấp – Người thụ hướng dự án) với các lợi ích không cùng chiều nhau. Để dung hòa các lợi ích không cùng chiều này các bên tham gia phải ngồi vào bàn đàm phán, thương lượng. Đàm phán, thương lượng là hành vi và quá trình điều hòa quan hệ giữa các bên tham gia, thông qua hiệp thương mà đi đến ý kiến thống nhất.

    Đàm phán gồm có các giai đoạn chuẩn bị, tiếp xúc và thương lượng. Như vậy, có thể hiểu thương lượng là nội dung quan trọng nhất, là giai đoạn cuối cùng của quá trình đàm

    phán mà kết thúc của nó hoặc là thống nhất được ý kiến (đàm phán thành công) hoặc là đàm phán đổ vỡ, không thống nhất được quan điểm.

    Như đã chỉ ra ở trên, nhu cầu đàm phán, thương lượng phát sinh từ các lợi ích không cùng chiều (xung đột lợi ích), nghĩa là sự thỏa mãn lợi ích của bên này có thể làm phương hại đến lợi ích của bên kia. Bất kỳ bên nào trong đàm phán, thương lượng cũng không thể không nhìn nhận lợi ích của các bên còn lại. Vì thế, mục đích của đàm phán, thương lượng là thông qua trao đổi mà các bên tiến hành bàn bạc, cùng nhau tìm ra phương án khiến cho các bên đều có thể chấp nhận được.

    2. Phân loại đàm phán, thương lượng

    Có thể phân loại đàm phán, thương lượng theo hai tiêu chí cơ bản sau:

    a) Theo số tượng các bên tham gia

    Đàm phán, thương lượng thường là song phương, nhưng cũng có thể là đa phương. Càng nhiều bên tham gia thì đàm phán, thương lượng càng phức tạp, khó khăn, nghĩa là khó đi đến thống nhất vì có nhiều lợi ích, và từ đó là nhiều tiêu chí cùng phải thỏa mãn. Để giúp cho đàm phán, thương lượng đa phương thành công, người ta thường tách nó ra thành nhiều cuộc đàm phán, thương lượng song phương hoặc ít ra là đa phương nhưng trong các phạm vi hẹp hơn.

    b) Theo nội dung, tính chất của vấn đề thương lượng

    Theo nội dung, tính chất của vấn đề được đưa ra, đàm phán, thương lượng có thể có các loại về ngoại giao, về chính trị, về quân sự, về kinh tế…

    Các đàm phán, thương lượng xảy ra trong hoạt động quản lý, nói chung, và quản lý dự án, nói riêng, là các đàm phán, thương lượng về kinh tế.

    3. Một số đặc tính cơ bản của thương lượng kinh tế

    a) Thương lượng là quá trình điều chỉnh nhu cầu của các bên

    Thương lượng không đơn thuần là quá trình theo đuổi nhu cầu, lợi ích của riêng một bén mà là quá trình các bên, thông qua việc không ngừng điều chỉnh nhu cầu lợi ích của mình, xích lại gần nhau và cuối cùng đạt tới một thỏa thuận thống nhất. Có thể hiểu, thương lượng là quá trình đề ra yêu cầu, chịu nhượng bộ và cuối cùng đạt tới nhất trí. Thương lượng có thành công hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc nhận thức của các bên về xung dột lợi ích, vào khả năng và thiện chí nhượng bộ và vào trình độ đàm phán của các bên tham gia.

    b) Thương lượng là sự thông nhất giữa hợp tác và xung dột

    Một hợp tác cua thương lượng thể hiện ở việc thông qua thương lượng các bên tiến tới một thỏa thuận chung. Mặt xung đột thể hiện ở việc trong quá trình thương lượng các bên đều luôn cố gắng giành được hay đạt được lợi ích tối đa cho mình.

    Hợp tác và xung đột là hai mặt mâu thuẫn cần phải được thống nhất hài hòa trong quá trình đàm phán, thương lượng. Nếu chỉ nhấn mạnh đến hợp tác thì một bên có thể sẽ dễ dàng chấp nhận những điều khoản bất lợi. Nếu nhấn mạnh xung đột, nghĩa là không chịu nhượng bộ thì đàm phán khó có thể thành công, thậm chí có thể dẫn đến phương hại mối quan hệ giữa các bên.

    c) Thương lượng chỉ thỏa mãn lợi ích một cách tương đối

    Các bên đàm phán luôn luôn cô gắng tối đa hóa lợi ích của mình, nhưng đồng thời không thể không nhìn nhận lợi ích của các bên còn lại, không thể kéo hết lợi ích về phía mình. Nếu một bên nào đó không được thỏa mãn lợi ích ở một mức tối thiểu chấp nhận được thì chắc chắn bên đó sẽ rút khỏi bàn đàm phán và cuộc đàm phán đổ vỡ. Nghĩa là muốn đàm phán thành công thì các bên phải biết chừng mực, giới hạn nhất định trong quá trình tối đa hóa lợi ích bản thân, biết điều chỉnh lợi ích đó. Hay nói khác đi, lợi ích của từng bên không bao giờ có thể là tuyệt đối mà chỉ là tương đối trong so sánh với lợi ích của các bên còn lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hợp Đồng Thương Mại Là Gì? Đặc Điểm Của Hợp Đồng Thương Mại?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Hợp Đồng Thương Mại
  • Khái Niệm, Vai Trò Chiến Lược Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Chiến Lược Toàn Cầu Là Gì? Ưu Điểm Và Nhược Điểm
  • Chiến Lược Kinh Doanh Quốc Tế
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Cùng Bàn Luận Về Khái Niệm Văn Hóa Và Nếp Sống Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hóa Đọc Thời Hiện Đại
  • Đây là những công cụ – khái niệm hay công cụ – nhận thức dùng để tiếp cận những vấn đề nghiên cứu. Chúng thường hay bị, hay được sử dụng lẫn lộn, dù mỗi một khái niệm đều có những đặc trưng riêng của mình. Bạn đang xem bài viết Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm khác trong chuyên mục Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam tại website của mr Tâm Pacific. Chúc cho bạn nghiên cứu thành công tất cả các bài viết về Văn Hóa Việt Nam trên website.

    Khái niệm Văn Hóa

    Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thưở bình minh của xã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa : Xem dáng về con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng ( năm 77-6 trước công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).

    Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ Culture, người Đức có từ Kultur, người Nga có từ Kultura. Những từ này lại có chung gốc La Tinh, là chữ Cultus Animi, là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ Cultus là văn hóa với hai khía cạnh : trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng, để không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản, và thay đổi theo thời gian thuật ngữ văn hóa với nghĩa “Canh Tác Tinh Thần” được sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lý canh tác nông nghiệp.

    Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng, bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh. Ông E.B Taylor là người diện của họ. Theo ông, văn hóa và toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

    Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo F. Boas ý nghĩa văn hóa được quy định do khung giải thích riêng, chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”. Vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa”. Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Theo A.L Kroeber và C.L Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng, và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.

    Khái niệm Văn Minh

    Văn Minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp minh là sáng) chỉ tia sáng của đạo đức, thể hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Trong tiếng Anh, Pháp từ Civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn gốc La Tinh là Civitas với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phát sinh là thị dân, công dân. theo W. Durrant sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hóa, nhờ một trật tự xã hội gây ra, và kích thích. Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức luân lý, và hoạt động văn hóa. Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết.

    Theo F. Ăngghen thì văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại, và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước. Như vậy, khái niệm văn minh thường bao hàm bốn yếu tố cơ bản là đô thị, nhà nước, chữ viết, các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý, tiện lợi cho cuộc sống của con người. Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa. Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa (culture) và văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người. Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, hoặc cả nhân loại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm.

    – Thứ nhất : trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lắt cắt đồng đại.

    – Thứ hai : trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kỷ thuật.

    – Thứ ba : trong khi văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt, thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế.

    Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hóa Trung Quốc, … Mặc dù, giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau, đó là do con người sáng tạo ra.

    Khái niệm Văn Hiến

    Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm Văn Hiến. Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử. Từ đời Lý (1010) người Việt Nam đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”. Đến đời Lê (thế kỷ XV) Nguyễn Trãi viết : “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” – (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng rãi, chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.

    Văn hiến ( hiến = hiền tài ) – truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Giáo Sư Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định : “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời. Nói cách khác là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy Văn Hiến thiên về những giá trị tinh thần, do những người có tài đức chuyền tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.

    Khái niệm Văn Vật ( vật = vật chất )

    Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử, và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”. Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật, cũng thể hiện sâu sắc tinh thần dân tộc, và tính lịch sử. Khái niệm văn hiến, văn vật, thường gắn với phương Đông nông nghiệp, trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị. Như vậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa của văn hóa.

    Từ năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ là A.L Kroeber và C.L Kluckhohn đã trích lục được trên dưới ba trăm định nghĩa, mà các tác giả khác nhau của nhiều nước từng phát ra từ trước nữa cho đến lúc bây giờ. Từ đó đến nay, chắc chắn số lượng định nghĩa tiếp tục tăng lên và đương nhiên, không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hay hòa hợp, bổ sung cho nhau. Chúng tôi xin dẫn một số định nghĩa đã được công bố trong những giáo trình và công trình nghiên cứu về Văn hóa học hay Cơ sở văn hóa Việt Nam. Theo một số học giả Mỹ là “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt, phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Ở trung tâm của văn hóa quyển, là hệ tư tưởng cũng được xem là một hệ văn hóa.

    Ở Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Vì lẻ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Trích trong Hồ Chí Minh toàn tập, in lần 2, của Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội năm 1995 ở tập thứ 3, trang 431.

    Phó Giáo Sư Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận, “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả, và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”.

    Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, Phó Giáo Sư , TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy ra quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Chúng tôi cho rằng, trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa, ta có thể tạm quy về hai loại. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, … Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn, … và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ như xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”. Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, Phó Giáo Sư Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ :

    – Góc rộng hay góc nhìn dân tộc học, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội.

    – Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hằng ngày, còn gọi là góc báo chí.

    Theo cách hiểu góc rộng – văn hóa là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất và tinh thần của từng cộng đồng. Ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Văn hóa từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng hơn, hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, của xã hội. Ngày nay, văn hóa dưới góc báo chí đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả, là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội.

    Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh

    *** Bạn đang xem bài viết :

    Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm Văn Hóa khác

    Link https://tampacific.com/khai-niem-van-hoa-va-cac-khai-niem-van-hoa-khac.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa.

    Trong từ điển, văn hóa được định nghĩa là “hành vi của những năng lực đạo đức và tư duy phát triển, đặc biệt thông qua giáo dục”.

    Văn hóa cũng có một số định nghĩa khác như:

    Theo UNESCO: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương, mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…

    Theo chúng tôi Ngô Đình Giao: “Văn hóa là tập hợp những giá trị, những ý niệm, niềm tin truyền thống được truyền lại và cùng chia sẻ trong một quốc gia. Văn hóa cũng là cách sống, những nếp suy nghĩ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm văn hóa bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán v.v…”.

    2. Văn hóa doanh nghiệp – giá trị cốt lõi của doanh nghiệp mạnh

    Văn hóa doanh nghiệp – một khái niệm chưa từng có trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, đó là một lĩnh vực mới được nghiên cứu trong vài thập kỷ trở lại đây, nên các định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp còn rất khác nhau. Thời gian gần đây, thuật ngữ “văn hóa doanh nghiệp” rất hay được sử dụng và phổ biến trong giới doanh nhân và các nhà quản lý. Các doanh nghiệp bắt đầu chú trọng đến việc xây dựng văn hóa cho mình. Tuy nhiên, “văn hóa doanh nghiệp” là một trong những “khái niệm” tương đối khó hiểu trong quản trị kinh doanh. Có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp.

    Văn hóa doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm, các niềm tin chủ đạo, các quy tắc, thói quen, các tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích; tóm lại: văn hóa doanh nghiệp là tất cả những gì làm cho doanh nghiệp này khác với một doanh nghiệp khác.

    Theo chuyên gia người Pháp, khái niệm văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa: :Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức, tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.

    “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộng lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.

    Những thành phần của văn hóa doanh nghiệp gồm 3 phần chính : tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi. Biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp thể hiện qua 2 yếu tố:

    – Hữu hình: Đồng phục, khẩu hiệu, nghi thức, quy định, nhạc phim công ty, tập san nội bộ, các hoạt động,…

    – Vô hình: Thái độ, phong cách, thói quen, nếp nghĩ của những con người trong tổ chức.

    Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa doanh nghiệp, nhưng nhìn chung, mọi khái niệm đều cho rằng văn hóa doanh nghiệp chính là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển thương hiệu vì hình ảnh văn hóa doanh nghiệp sẽ góp phần quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp.

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    – Công ty TNHH ANCORIC

    – Văn phòng: Tầng 3 số 51 Cầu Lớn- Nam Hồng- Đông Anh- Hà Nội

    – Điện thoại: 024.668.44.446 / 0947.024.112

    – Email: [email protected]

    – Website: http://Ancoric.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ? Liệu Yếu Tố Này Có Ảnh Hưởng Đến Doanh Nghiệp ?
  • Tim Hieu Khai Niem Van Hoa Va Van Hoa Doanh Nghiep Tai Luan Van Viet
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì ?
  • Khái Niệm Về Văn Hoá Doanh Nghiệp
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100