Hiểu Đúng Về Khái Niệm Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể

--- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Lại “di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Của Nhân Loại”?
  • Bài 1: Văn Hóa Và Văn Hóa Học
  • Một Số Vấn Đề Xung Quanh Khái Niệm Văn Hóa Truyền Thông
  • Văn Hóa Pháp Luật Của Phóng Viên Báo Chí: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Về Tính Văn Hóa Trong Báo Chí
  • Quan họ Bắc Ninh.

    Theo TS Frank Proschan- cựu cán bộ Chương trình cao cấp của UNESCO, Cố vấn của UNESCO về Công ước 2003 về Bảo vệ Di sản Văn hóa phi vật thể- khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam bị hiểu nhầm. Dựa trên Công ước 2003 thì tại Việt Nam hiện này có 3 cách dùng từ sai khái niệm thường gặp gồm “Di sản văn hóa phi vật thể thế giới”, “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”, “UNESCO công nhận”. Đặc biệt, khái niệm “UNESCO công nhận” di sản văn hóa đã trở nên quen thuộc ở Việt Nam trong một thời gian dài, ban đầu là với di sản thế giới. Sự nhầm lẫn này có lẽ đã dẫn tới việc hiểu sai trong việc “công nhận” di sản văn hóa phi vật thể.

    Có thể nói, những “lỗi” trên trong cách hiểu tại Việt Nam là hoàn toàn có căn cứ và thậm chí còn mang tính hệ thống. Nguyên nhân dẫn tới cách hiểu sai này một phần là từ lỗi dịch sai trong bản tiếng Việt chính thức của Công ước 1972. Đơn cử, theo bản tiếng Anh giải thích rằng, Ủy ban Di sản thế giới sẽ xác định các tiêu chí mà theo đó những di sản “có giá trị nổi bật toàn cầu” có thể được “đưa vào” danh sách Di sản thế giới. Còn với bản tiếng Pháp dùng từ “ghi danh”. Trong khi đó, bản tiếng Việt lại dịch rằng đây là các tiêu chí để “công nhận” di sản trong Danh sách Di sản thế giới. Tương tự, có sự dịch sai trong Điều 31 của Công ước 2003 (bản tiếng Việt). Trong khi bản tiếng Pháp và tiếng Anh đều dùng từ “ghi danh” vào Danh sách đại diện hoặc “đưa vào” một trong số các danh sách thì bản tiếng Việt dịch thành “công nhận” trong Danh sách đại diện. Với bản dịch như vậy, có thể nói quan niệm rằng UNESCO “công nhận” di sản văn hóa nói chung hay di sản văn hóa phi vật thể nói riêng đã trở nên quá phổ biến ở Việt Nam.

    Viện Văn hóa- Nghệ thuật quốc gia Việt Nam là đơn vị nghiên cứu, tư vấn cho lãnh đạo Bộ VHTTDL, vì vậy cần phải giải quyết sự hiểu lầm này, tiến tới thống nhất về mặt thuật ngữ, tinh thần. “Trên cơ sở chúng ta hiểu đúng về di sản văn hóa phi vật thể thì mới có cách xử lý và giải pháp đúng, cũng là tạo điều kiện rất tốt cho bảo vệ di sản văn hóa trong nước”- chúng tôi Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nét Đặc Sắc Trong Văn Hóa Đông Nam Á
  • Đề Cương Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
  • Văn Hóa Việt Nam Trong Không Gian Văn Hóa Đông Nam Á
  • Định Vị Văn Hóa Việt Nam
  • Hướng Dẫn Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Từ A
  • Hiểu Đúng Các Khái Niệm Về Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Lại ‘di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Của Nhân Loại’?
  • Tội Truyền Bá Văn Hóa Phẩm Đồi Trụy
  • Thế Nào Là Truyền Bá Văn Hóa Phẩm Đồi Trụy
  • Thế Nào Là Truyền Bá Văn Hóa Phẩm Đồi Trụy?
  • Luận Văn: Tội Truyền Bá Văn Hóa Phẩm Đồi Trụy Theo Luật Hình Sự
  • Thực hành then vừa được UNESCO ghi danh trong danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Ảnh: VIỆT CƯỜNG

    Từ năm 2005, Việt Nam đã phê chuẩn và trở thành quốc gia thành viên Công ước năm 2003 của UNESCO Về bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT). Theo đánh giá của các chuyên gia UNESCO, từ khi tham gia Công ước năm 2003, Việt Nam là một trong số những quốc gia có nhiều đóng góp tích cực nhất trong việc bảo vệ các DSVHPVT. Tuy vậy, trên thực tế vẫn còn tình trạng hiểu sai một số khái niệm của UNESCO về các DSVHPVT diễn ra ở một số người, một số tình huống.

    Danh sách các DSVHPVT đại diện cho nhân loại được thiết lập theo Công ước năm 2003 của UNESCO “nhằm đảm bảo nâng cao tính phổ biến và nhận thức về tầm quan trọng của DSVHPVT, đồng thời khuyến khích đối thoại trên cơ sở tôn trọng đa dạng văn hóa” (Điều 16, Công ước). Việc ghi danh trong “danh sách các DSVHPVT” xác nhận sự đánh giá cao của UNESCO về “tầm quan trọng của DSVHPVT như là động lực chính của đa dạng văn hóa và là một bảo đảm cho sự phát triển bền vững”. Tuy nhiên, khi một DSVHPVT được UNESCO đưa vào “danh sách DSVHPVT đại diện cho nhân loại” hoàn toàn không có nghĩa là tổ chức này “công nhận” di sản đó. Việc “ghi danh” một DSVHPVT chỉ nói rằng cộng đồng quốc tế “được biết” và đánh giá trân trọng những “tài sản” văn hóa của một cộng đồng bản địa, đã cùng tồn tại với các cộng đồng bản địa khác, trên một hành tinh chung. Sau khi được UNESCO “ghi danh”, DSVHPVT được “công nhận” hay “tôn vinh” hoàn toàn là việc của cộng đồng sở hữu di sản đó.

    UNESCO khẳng định “các DSVHPVT” hoàn toàn thuộc về các cộng đồng, đó là “tài sản” của các cộng đồng và các cá nhân, không phải là “của quốc gia”.

    Trong văn hóa không phân chia “cao – thấp” mà chỉ có sự “khác nhau”, không có văn hóa nào “quý hơn” văn hóa nào mà chỉ có sự độc đáo, đặc sắc đều (cần) quý trọng và cần hơn cả là sự tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng đa dạng văn hóa. Cũng không có việc phong “cấp” hay “xếp hạng” cho DSVHPVT – cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp thế giới… (!). Khi nói muốn phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể cũng đồng thời đặt ra yêu cầu bảo vệ tính phong phú đa dạng của các thực hành văn hóa trong cộng đồng, trong đó tôn trọng sự bình đẳng văn hóa. UNESCO cũng khuyến cáo để tránh những hệ quả tiêu cực “sau ghi danh” cần phải nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị những “tài sản” văn hóa của họ, nâng cao tính chủ động, tăng quyền của cộng đồng trong việc quyết định những nội dung của di sản, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ những người tham gia, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn trong việc thực hành di sản…

    Trong những tình huống như vậy, vai trò của báo chí, truyền thông rất quan trọng để các bên cùng hiểu đúng và có thể cùng tìm ra biện pháp tốt nhất. UNESCO cùng với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có cam kết sẽ tìm nhiều biện pháp để cải thiện tình trạng này, để có cách diễn đạt chính xác nhằm nâng cao hiểu biết của công chúng, tránh những hệ quả tiêu cực. Ủy ban liên Chính phủ của Công ước năm 2003 luôn kêu gọi sự hợp tác giữa các bên và đang nghiên cứu xây dựng khung giám sát nghiêm ngặt hơn, hoàn thiện quy trình để loại khỏi danh sách nếu di sản đi ngược lại tinh thần của Công ước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Tây Với Văn Hóa Việt Nam
  • Ngôn Ngữ Và Văn Hoá
  • Ngữ Dụng Học Và Văn Hóa
  • Văn Hóa Ngôn Ngữ Và Vấn Đề Giáo Dục
  • Triết Lý Âm Dương Và Tính Cách Người Việt
  • Unesco: Chính Sách Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Và Quá Trình Toàn Cầu Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Quan Điểm Cơ Bản Của Đảng Về Văn Hóa, Văn Nghệ
  • Vai Trò Của Văn Hóa, Văn Nghệ Trong Công Tác Tư Tưởng Ở Nước Ta
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hoá, Văn Nghệ
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Sinh Viên Tại Trường Đại Học Công Nghiệp Dệt May Hà Nội
  • Yếu Tố Quan Trọng Trong Hoạt Động Marketing
  • phân chia thành hai phương diện đối lập nhau: phương Tây đối lập với không

    phương Tây, nam đối lập với nữ, tinh hoa đối lập với dân gian, hay vật thể đối

    lập với phi vật thể; trong mỗi trường hợp như vậy thì yếu tố trước bao giờ cũng

    được trọng vọng hơn yếu tố sau. Đặc biệt là với trào lưu hiện đại hóa và sự

    bành trướng của nền văn minh phương tây, các nền văn hóa phương tây thường được

    xem là hợp thời hơn, có giá trị hơn, và được coi trọng hơn những nền văn hóa

    không phương Tây – những nền văn hóa bị cho là lạc hậu và bị coi thường. Những

    quan niệm về sự khác biệt văn hóa này là kết quả của quá trình toàn cầu hóa văn

    hóa châu Âu và Mỹ, bởi vì các nền văn hóa không-phương-Tây không có được tầm

    ảnh hưởng lớn như vậy.

    lâu nay luôn bị coi là kém giá trị và kém quan trọng hơn văn hóa nam giới. Các

    nhà phê bình văn hóa cũng nhấn mạnh rằng văn hóa dân gian thường bị cho là cổ

    hủ, lạc hậu và đáng bị quên lãng.

    Di sản văn hóa phi vật thể cũng bị coi là kém quan trọng hơn di sản văn hóa vật

    thể. Mặc dù tổ chức UNESCO đã thông qua “Công ước bảo vệ các di sản thiên nhiên

    và di sản văn hóa” vào năm 1972, nhưng phạm vi của di sản văn hóa được quy định

    trong Công ước chỉ giới hạn ở những di sản văn hóa vật thể, chẳng hạn như Kim

    tự tháp ở Ai Cập hay Vạn lý trường thành ở Trung Quốc. Phải sau 31 năm sau, tức

    là vào năm 2003, công ước về di sản văn hóa phi vật thể mới được thông qua.

    Điều này cho thấy có sự phân biệt đối xử đối với loại hình văn hóa phi vật thể.

    Sự không công bằng nói trên ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Sự phát triển trong

    các lĩnh vực như nghiên cứu văn hóa, nhân chủng học, văn hóa dân gian, và

    nghiên cứu giới tính đã đưa ra cảnh báo về sự vô lý của việc phân cấp các loại

    hình văn hóa. Những nghiên cứu trên chỉ ra rằng bất cứ nền văn hóa nào cũng

    quan trọng và mang ý nghĩa riêng. “Tuyên bố toàn cầu về tính đa dạng của văn

    hóa” của tổ chức UNESCO (năm 2001) có chung quan điểm với nguyên tắc này. Sau

    công ước năm 1972 về việc bảo tồn các di sản văn hóa thế giới, nhiều nước thành

    viên của tổ chức UNESCO đã kêu gọi xây dựng hệ thống bảo tồn di sản văn hóa

    truyền thống và văn hóa dân gian. Vào năm 1989, Đại hội đồng của UNESCO cuối

    cùng đã thông qua “Nghị quyết về việc bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống

    và văn hóa dân gian”. Đại hội đưa ra đề xuất rằng các nước thành viên cần phải

    thực hiện các chương trình tập huấn về công tác bảo tồn các di sản văn hóa phi

    vật thể, và lập danh sách các di sản văn hóa này. Đại hội cũng đồng thời cam

    kết thực hiện một loạt các biện pháp bảo tồn cần thiết khác. Tuy nhiên, do Nghị

    quyết năm 1989 chưa đạt hiệu quả nên năm 1998, tổ chức UNESCO đã thông qua

    trương trình bảo vệ các kiệt tác văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng

    của nhân loại. Chương trình này được bắt đầu với công việc bình chọn các di sản

    văn hóa phi vật thể. Cứ hai năm một lần, mỗi nước thành viên được phép đưa ra

    một di sản văn hóa phi vật thể để bình chọn. Việc đánh giá và công nhận các

    kiệt tác di sản văn hóa phi vật là do một hội đồng chuyên gia quốc tế tiến

    hành.

    Năm 2001, có 19 di sản văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng được công

    nhận. Năm 2003, con số này là 28 và lên tới 43 vào năm 2005. Như vậy tính đến

    năm 2005, có tất cả 90 kiệt tác văn hóa phi vật thể được công nhận là di sản

    văn hóa của nhân loại. 

    Chỉ trong một thời

    gian ngắn, việc công bố các di sản văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền miệng

    đã thu hút được nhiều sự quan tâm và nhiệt tình của cộng đồng quốc tế. Cho tới

    năm 2001, có 31 nước tham gia chương trình nhưng đến năm 2005, con số này đã lên

    tới 91 nước, gần gấp ba lần so với năm 2001. Mối quan tâm ngày càng tăng của

    của cộng đồng thế giới đã đóng vai trò quan trọng cho việc xây dựng Công ước

    Bảo tồn Di sản Văn hóa Phi vật thể. Tại phiên bế mạc Đại hội đồng lần thứ 32

    của UNESCO ngày 17 tháng 10 năm 2003, Công ước mới đã được thông qua với đa số

    phiếu thuận. Công ước này mang tính pháp lý cao và ngay sau khi được phê chuẩn,

    các di sản văn hóa phi vật thể sẽ được bảo tồn dưới sự hợp tác và giám sát chặt

    chẽ của các nước thành viên.

    Mặc dù đã được Đại hội đồng của UNESCO thông qua vào ngày 17 tháng 10 năm 2003,

    để có hiệu lực, Công ước vẫn cần được 30 nước thành viên phê chuẩn. Ngày 20

    tháng 01 năm 2006, Rumania trở thành nước thứ 30 phê chuẩn Công ước. Ngày 20

    tháng 4 năm 2006, sau đó ba tháng, Công ước chính thức có hiệu lực. Tổng giám

    đốc tổ chức UNESCO, ông Koichiro Matsuura tỏ ra lo ngại cho các kiệt tác văn

    hóa phi vật thể của thế giới bởi những mối đe dọa đến loại hình văn hóa này

    xuất phát từ quá trình hiện đại hóa và toàn cầu hóa đang diễn ra trên khắp thế

    giới. Chỉ trong một thời gian ngắn mà nhiều quốc gia đã tham gia phê chuẩn công

    ước, điều đó cho thấy nhiều quốc gia ý thức được rằng các biện pháp bảo vệ quốc

    tế đối với các di sản văn hóa thế giới là hết sức cần thiết. Cho đến năm 2009,

    công ước này đã được 116 nước thành viên phê chuẩn.

    Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có thể được phân biệt theo nhiều cách

    khác nhau. Nếu như di sản văn hóa vật thể là những hiện vật mang ý nghĩa lịch

    sử của nhân loại trong quá khứ thì di sản văn hóa phi vật thể lại là những

    truyền thống văn hóa đang sống, trong đó chứa đựng phong tục tập quán và những

    trải nghiệm cuộc sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu như di

    sản văn hóa vật thể mang tính cố định và không thay đổi thì di sản văn hóa phi

    vật thể lại mang tính động và liên tục thay đổi theo thời gian. Nói cách khác,

    nếu như di sản văn hóa vật thể là di sản chết thì di sản văn hóa phi vật thể là

    di sản sống.

    Đương nhiên, nội dung các công ước bảo tồn hai loại hình di sản văn hóa này là

    khác nhau. Công ước bảo tồn di sản văn hóa vật thể luôn nhấn mạnh tính xác thực

    và giá trị của hiện vật lịch sử. Hay nói cách khác, tiêu chuẩn đánh giá dựa

    trên sự hiện diện của những cấu trúc lịch sử hoặc sự hiện diện của những đặc

    điểm đặc trưng của kỷ nguyên trên di tích. Ngược lại, bởi vì các di sản văn hóa

    phi vật thể liên tục thay đổi theo thời gian, nên việc xác định tính xác thực

    của chúng dựa vào những đặc điểm đặc trưng của một kỷ nguyên nào đó là một việc

    làm gần như không thể thực hiện được.

    Hơn nữa, giá trị lớn nhất của các di sản văn hóa phi vật thể là ở chỗ các di

    sản này thể hiện tính đa dạng và bình đẳng của chúng. Không thể so sánh và đưa

    ra kết luận rằng di sản phi vật thể này quan trọng hơn hay có giá trị hơn di

    sản phi vật thể kia. Đây chính là điểm khác biệt lớn giữa Công ước 1972 về công

    tác bảo tồn di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của thế giới và Công ước quốc

    tế 2003 về vấn đề bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Trong Công ước năm 1972,

    điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ hai nói rằng, những hạng mục văn hóa được

    cộng nhận là di sản văn hóa (di sản văn hóa vật thể) của thế giới phải là những

    di sản “có giá trị nổi tiếng toàn cầu”, tuy nhiên định nghĩa di sản văn hóa phi

    vật thể trong Công ước quốc tế năm 2003 lại không có tiêu chuẩn đánh giá như

    vậy. Thay vào đó, Công ước quốc tế năm 2003 nói rằng cần phải biên soạn một bản

    thống kê các di sản văn hóa phi vật thể bao gồm hai loại: (1) Danh sách các di

    sản văn hóa phi vật thể đang đứng trước nguy cơ biến mất và (2) Danh sách các

    di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Điều 16 và điều 17, Công ước quốc tế

    năm 2003).

    Việc xác định di sản văn hóa vật thể là di sản văn hóa của thế giới dựa trên cơ

    sở “có giá trị nổi tiếng toàn cầu” của các di tích lịch sử. Kim tự tháp, Vạn lý

    trường thành và các công trình kiến trúc lịch sử có giá trị tương tự được ghi

    nhận là di sản văn hóa vật thể của nhân loại. Và những quốc gia sở hữu một vài

    công trình kiến trúc lịch sử như vậy được cho là quốc gia văn minh. Ngược lại,

    những quốc gia không sở hữu các di sản này thì bị cho là yếu kém hơn. Châu Âu

    vượt trội về số lượng các di sản văn hóa được công nhận trong khi các quốc gia

    khác, nơi có số lượng các di sản văn hóa được công nhận ít hơn, có mặc cảm rằng

    các công trình kiến trúc lịch sử của họ đã bị tước đoạt đi giá trị lịch sử và

    văn hóa của chúng.

    Tuy nhiên, những nền văn hóa không phương Tây lại đang dẫn đầu với 90 di sản

    được UNESCO công nhận là các di sản văn hóa phi vật thể tính đến năm 2005.

    Trong số 90 di sản văn hóa được công nhận này, có 7 di sản mang tính đa quốc

    gia và trong 83 di sản còn lại thì 27 di sản (chiếm 1/3) nằm ở khu vực Châu á

    Thái Bình Dương. Tại một cuộc họp liên chính phủ gần đây diễn ra tại Abu Dhabi

    (Tháng 11 năm 2009), có 77 di sản văn hóa phi vật thể của thế giới được ghi vào

    danh sách những di sản tiêu biểu, đa số nằm ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. 

     

    Có nhiều trường hợp

    trong đó di sản văn hóa phi vật thể được công nhận lại chính là biểu tượng của

    quốc gia. Đặc biệt, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa khi văn hóa phương Tây đang

    lan truyền khắp thế giới, thì các nền văn hóa truyền thống đang phải đối mặt

    với nguy cơ bị mất. Việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của mỗi quốc gia

    chính vì vậy là vô cùng quan trọng. Tất nhiên, các nước phương Tây cũng đang

    mất dần nền văn hóa truyền thống, nhưng các nước này chỉ mất đi “những cái cũ”,

    còn nền văn hóa của họ vẫn liên tục phát triển và làm mới để phù hợp với thời

    đại. Còn ở các nền văn hóa không-phương-Tây thì thay vào nền văn hóa truyền

    thống đang dần dần biến mất là những diện mạo văn hóa mới mang nguồn gốc Phương

    Tây. Một ví dụ là nhạc truyền thống pansori (anh hùng ca) ở Hàn Quốc, loại nhạc

    này ngày càng ít người quan tâm. Hầu hết giới trẻ Hàn Quốc thích nghe nhạc

    opera và nhạc pop của Phương Tây, mặc dù họ vẫn ý thức được rằng pansori là

    nhạc truyền thống. Điều này hoàn toàn có thể diễn giải tại sao các quốc gia

    không-phương-Tây đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể

    của dân tộc mình.

    Một loạt các chính sách của UNESCO về di sản văn hóa phi vật thể của thế giới

    đều mang những hàm ý sau đây. Thứ nhất, thay vì quan niệm di sản văn hóa vật

    thể là loại hình văn hóa chính, cần phải nhận thức được rằng di sản văn hóa phi

    vật thể cũng có giá trị và tầm quan trọng đối với nhân loại như di sản văn hóa

    vật thể. Thứ hai, do các nước phương Tây sở hữu phần lớn các di sản văn hóa vật

    thể, nên việc công nhận các di sản văn hóa phi vật thể ở các nước

    không-phương-Tây hiện tại lại được quan tâm nhiều hơn.

    Giá trị tiềm lực lớn nhất đối với di sản văn hóa phi vật thể trong thời kỳ toàn

    cầu hóa chính là nó chống lại sự thống trị toàn cầu của các nền văn hóa khu

    vực. Trong thời kỳ hiện đại, thời kỳ phương Tây hóa, văn hóa phương Tây đã và

    đang lan rộng và thịnh hành trên toàn thế giới. Chẳng hạn như âm nhạc Mỹ, điện

    ảnh Mỹ, ẩm thực Mỹ không chỉ được tiêu dùng trên đất Mỹ mà còn được tiêu dùng ở

    khắp mọi nơi trên thế giới.

    Việc tất cả mọi người trên khắp thế giới cùng nghe một dòng nhạc, cùng nhảy các

    điệu nhảy giống nhau, và có chung ẩm thực là điều rất nhàm chán và không mong

    muốn. Các nhà sinh vật học đã chỉ ra nhu cầu cùng tồn tại của nhiều loài để duy

    trì một thế giới lành mạnh. Bởi vì nếu một loài để tồn tại lại hủy hoại các

    loài khác thì thế giới sẽ bị diệt vong. Tương tự như vậy, dưới sự ảnh hưởng quá

    lớn của trào lưu phương Tây hóa, chỉ còn cách duy nhất là phải bảo tồn và duy

    trì các di sản văn hóa phi vật thể đang bị biến mất ở các nền văn hóa

    không-phương-Tây, thì nền văn hóa đa dạng của nhân loại mới được cứu vãn. Điều

    này cần thiết cho sự sống còn của toàn bộ nhân loại.

    Tôi đã từng đưa ra quan điểm rằng các chính sách về di sản văn hóa phi vật thể

    ngày nay nên có những định hướng khác với các chính sách về di sản văn hóa vật

    thể. Di sản văn hóa vật thể của thế giới bao gồm các di sản và các di tích lịch

    sử được công nhận có giá trị nổi tiếng toàn cầu. Phần lớn các di sản này đều

    thuộc phương Tây. Điều này làm nảy sinh sự phân biệt phần còn lại của thế giới

    là “khác” là “không phương Tây”. Nơi nào có nhiều di sản được công nhận thì

    được cho là giỏi hơn, văn minh hơn và phát triển hơn. Ngược lại nơi nào có ít

    di sản được công nhận thì bị cho là yếu kém hơn. Quá trình cạnh tranh gay gắt

    để được công nhận những di sản văn hóa vật thể được đã thể hiện rất rõ điều

    này. Việc đánh giá thứ bậc dựa vào số lượng các di sản được công nhận và tính

    cạnh tranh của các chính sách về di sản văn hóa vật thể hoàn toàn mang lô-gíc

    phương Tây cũng như các chính sách này vô hình chung tạo cho các xã hội phương

    Tây quyền bá chủ thế giới.

    Các chính sách về văn hóa phi vật thể mới được ban hành đã đưa ra những cách

    nhìn nhận và đánh giá các di sản văn hóa một cách mới mẻ hơn. Cần phải rũ bỏ

    quan điểm vượt trội hơn đối với những di sản văn hóa phi vật thể. Thay vì nhìn

    nhận văn hóa theo quan điểm thứ bậc của giá trị và tính cạnh tranh, tất cả các

    di sản văn hóa phi vật thể đều có giá trị riêng và cần phải được đánh giá dưới

    góc độ tương đối về văn hóa. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu – cha đẻ của

    khái niệm di sản văn hóa phi vật thể, cần phải tìm hiểu về giá trị văn hóa của

    loại hình này. Các di sản văn hóa phi vật thể của thế giới cần phải được tìm

    hiểu và trân trọng ngang bằng với các di sản văn hóa vật thể.

     

    II. Quá trình toàn cầu hóa các di sản văn hóa phi vật thể

    Ngay sau khi được đưa vào danh sách các di sản văn hóa của UNESCO, các di sản

    văn hóa mà trước đó chỉ là tài sản của một quốc gia đã trở thành một phần của

    Di sản Văn hóa Thế giới và có thể được trình diễn ở nhiều quốc gia. 

     

    Vậy bằng cách nào để di sản văn hóa phi vật

    thể đạt được vị thế bình đẳng với di sản văn hóa vật thể và được đánh giá đúng

    mức trong bối cảnh toàn cầu? Trước tiên cần phải hiểu đúng về di sản văn hóa

    phi vật thể của từng quốc gia. Cần phải hình thành và nuôi dưỡng quan điểm này.

    Không giống như di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và những

    người biểu diễn loại hình di sản văn hóa này có thể di chuyển từ địa phương này

    sang địa phương khác. Mỗi di sản văn hóa phi vật thể của mỗi quốc gia đều thể

    hiện sự cùng tồn tại của toàn bộ nhân loại và mang những nét đặc trưng của cộng

    đồng trong khu vực, nơi tạo ra và lưu truyền di sản văn hóa đó. Di sản văn hóa

    phi vật thể có thể được cộng đồng dân cư địa phương lưu truyền hàng trăm năm

    nếu không muốn nói là hàng nghìn năm, và mang tính hiện thực lịch sử. Đây là

    một truyền thống được chọn lọc bởi trong quá trình lưu truyền, nó luôn được

    thay đổi và thích nghi với thời đại. Tương tự, truyền thống này cũng mang các

    đặc trưng của văn hóa khu vực. Vì vậy, khi giới thiệu một di sản văn hóa phi

    vật thể của vùng này ở vùng khác thì cần phải giải thích đầy đủ các đặc điểm

    địa phương của nó để khán giả của các vùng khác có thể lĩnh hội được ý nghĩa

    của di sản văn hóa đó. Việc chỉ đơn thuần biểu diễn một di sản văn hóa phi vật

    thể mà không giới thiệu về bối cảnh lịch sử cũng như xã hội đồng nghĩa với việc

    chưa quan tâm đúng mức đến di sản văn hóa đó. Trong một hội thảo quốc tế về di

    sản văn hóa phi vật thể được tổ chức ở Trung quốc mà tôi tham gia với tư cách

    là khách mời của Viện nghệ thuật Trung Quốc, tôi đã gặp một giáo sư đang giảng

    dạy tại Khoa âm nhạc dân tộc thuộc Đại học California ở Los Angeles. Bà đã chia

    sẻ với tôi về những trải nghiệm trong quá trình giảng dạy môn pansori, một di

    sản văn hóa phi vật thể của Hàn Quốc. Khi bà cho sinh viên nghe bản pansori, họ

    lắng nghe một cách thiếu tập chung và tỏ ra không hề hứng thú với loại hình

    nghệ thuật này.

    Trong một bài giảng khác, bà bắt đầu bằng cách

    cho sinh viên xem phim Seopyeonje, một bộ phim nói về các ca sĩ pansori và cuộc

    sống nghệ thuật của họ, rồi sau đó bà cho sinh viên nghe pansori để minh họa.

    Hôm đó, sinh viên trở lên hứng thú với nhạc pansori và cảm nhận được chất nghệ

    thuật của loại nhạc này. Nói một cách khác, khi giới thiệu một loại hình di sản

    văn hóa phi vật thể mà chỉ đơn thuần giới thiệu bản thân nghệ thuật đó thì sẽ

    không đạt được mục đích. Ngược lại, khi bối cảnh xã hội, văn hóa và lịch sử

    được giới thiệu thì khán giả sẽ hiểu và nhờ đó cảm thụ và hiểu được ý nghĩa của

    di sản văn hóa đó. Bằng cách này, chúng ta có thể thấy rằng việc tạo ra và

    truyền bá một di sản văn hóa phi vật thể bới các cá nhân, các nhóm người hoặc

    các cộng đồng được đánh giá và trân trọng.

    Cũng cần xem xét đến khía cạnh sở hữu trí tệ của các di sản văn hóa phi vật

    thể. Bản quyền của các cộng đồng đã sản sinh ra và lưu truyền các di sản văn

    hóa phi vật thể phải được tôn trọng. Thường khi nói đến bản quyền, chúng ta chỉ

    giới hạn ở một tác phẩm nghệ thuật của một cá nhân. Tuy nhiên di sản văn hóa

    phi vật thể không phải do một cá nhận tạo nên mà đó chính là sản phẩm của cả

    cộng đồng. Vấn đề quyền sở hữu và một số quyền khác đối với di sản văn hóa phi

    vật thể hiện do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) chịu trách nhiệm. Tổ

    chức này đang soạn thảo các điều luật nhằm bảo vệ khối kiến thức truyền thống

    cũng như các tác phẩm văn hóa truyền thống. Những điều luật này nhằm bảo vệ

    người dân trong cộng đồng- chủ nhân của di sản văn hóa phi vật thể. Luật bản

    quyền không chỉ khẳng định quyền sở hữu đối với di sản văn hóa mà còn bao hàm những

    quy định đối với việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể cho những mục đích

    xấu. Tổ chức WIPO cũng xem xét các vấn đề pháp lý của Luật quốc tế và Luật quốc

    gia.

    Nhằm tăng cường sự hiểu biết quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể ở khu vực

    Châu Á-Thái Bình Dương, tổ chức UNESCO đã thành lập 3 trung tâm văn hóa phi vật

    thể ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương vào ngày 21 tháng 10 năm 2009 ở Hàn Quốc,

    Trung Quốc và Nhật Bản. Ba trung tâm này được đưa vào hạng mục văn hóa thứ hai

    (các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu). Đây là bước tiến của việc trước đó

    chỉ công nhận một Trung tâm Văn hóa cho một khu vực. Ba Trung tâm Văn hóa Phi

    vật thể này được phân chia trọng trách khác nhau. Trung tâm văn hóa ở Hàn Quốc

    chịu trách nhiệm về lĩnh vực thông tin và liên lạc, Trung tâm ở Trung Quốc chịu

    trách nhiệm về giảng dạy và đào tạo chuyên gia, còn Trung tâm ở Nhật bản thì

    chuyên về nghiên cứu.

    Việc thành lập ba Trung tâm văn hóa ở khu vực Châu Á là bước phát triển rất có

    ý nghĩa đối với công tác bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể bởi nó đã thúc

    đẩy những nỗ lực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể ở nhiều nơi.

    So sánh với một số biện pháp bảo tồn di sản văn hóa vật thể, các chính sách bảo

    tồn di sản văn hóa phi vật thể không có chuẩn mực đơn thuần. Ví dụ, phương pháp

    bảo tồn các công trình kiến trúc bằng gỗ của Trung Quốc có thể áp dụng cho công

    tác bảo tồn các công trình kiến trúc bằng gỗ ở Hàn Quốc. Theo cách đó, công

    nghệ bảo tồn các di sản văn hóa vật thể của quốc gia này có thể áp dụng ở bất

    kỳ quốc gia nào khác trong khu vực mà không cần phải điều chỉnh nhiều.

    Ngược lại, các định nghĩa và khái niệm về văn hóa phi vật thể thường trái ngược

    nhau, và bản thân mỗi di sản văn hóa phi vật thể đều có tính biến đổi rất cao.

    Và cũng bởi vì di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm mang tính lịch sử, xã hội

    và văn hóa của một địa phương, nên phương pháp bảo tồn và phát triển di sản văn

    hóa phi vật thể ở địa phương này không thể áp dụng một cách dễ dàng ở địa

    phương khác được.

    Tất nhiên, mặc dù các định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể đã được giải

    thích trong Công ước năm 2003, khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm

    nhiều dạng thức khác nhau, và cách hiểu hay nhận thức của mỗi quốc gia về di

    sản văn hóa phi vật thể luôn thay đổi là điều cần thiết. Khái niệm về di sản

    văn hóa phi vật thể ở một quốc gia bao hàm những yếu tố văn hóa phi vật thể cần

    phải được bảo tồn ở quốc gia đó. Chẳng hạn có một số quốc gia đề cập đến không

    gian mở (như chợ và các trung tâm buôn bán) với tư cách là một phần di sản văn

    hóa phi vật thể của họ. Còn một số quốc gia khác lại không có quan điểm như

    vậy. Hơn nữa, nhận thức của mỗi quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể là hoàn

    toàn khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và chính trị của mỗi nước. Trào

    lưu phương Tây hóa cộng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã làm tăng

    tốc độ biến mất của nền văn hóa truyền thống.

    Thêm vào đó, các quốc gia và các khu vực luôn dành sự quan tâm đối với di sản

    văn hóa phi vật thể ở các cấp độ khác nhau. Thậm chí ở trong khu vực Châu Á– Thái

    Bình Dương thì chỉ có Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản là dành nhiều quan tâm

    đối với loại hình di sản văn hóa phi vật thể, vượt xa các nước khác trong khu

    vực cũng như trên toàn thế giới. Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản có rất nhiều

    di sản văn hóa nằm trong danh sách các di sản văn hóa tiêu biểu của UNESCO

    trong khi có một số nước khác trong khu vực không hề đăng ký một di sản nào. Ba

    Trung tâm văn hóa ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cần cố gắng vận động các

    nước nói trên dành sự quan tâm đối di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc mình,

    cũng như cần phải nỗ lực xóa đi sự khác biệt về văn hóa giữa các nước trong khu

    vực.

    Di sản văn hóa phi vật thể vượt qua biên giới và thích nghi với điều kiện địa

    phương một cách dễ dàng hơn so với các tượng đài kiến trúc. Tổ chức UNESCO

    khuyến cáo việc tham gia đăng ký các di sản văn hóa phi vật thể đa quốc gia và

    tỏ ra rất quan ngại về sự hạn chế số lượng của các di sản này. Sáng kiến đăng

    ký các di sản văn hóa đa quốc gia phải xuất phát từ chính các quốc gia. Quá trình

    này phức tạp hơn nhiều so với việc đăng ký một-di-sản-cho-một-quốc-gia và nó

    đòi hỏi phải có sự phối hợp và cộng tác chặt chẽ giữa các quốc gia. Trung tâm ở

    Hàn Quốc phụ trách về vấn đề liên lạc và truyền thông cho công tác bảo tồn nên

    vai trò của Trung tâm này ở đây là quan trọng nhất. Sự điều phối và hợp tác

    quốc tế trong việc đăng ký các di sản văn hóa phi vật thể đa quốc gia có thể

    giúp cải thiện mối quan hệ giữa các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương

    một cách hiêu quả. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương là khu vực rất quan trọng đối

    với loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Không chỉ bởi vì hơn nửa dân số thế

    giới sống ở khu vực này mà còn vì đây là khu vực nhạy cảm về chính trị, năng

    động về kinh tế và phong phú về văn hóa. Chính vì vậy ba Trung tâm văn hóa đã

    được thành lập ở khu vực này và sự phân chia nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các

    di sản văn hóa phi vật thể trong khu vực giữa ba Trung tâm là hoàn toàn phù

    hợp. Ba trung tâm này, ngoài việc thực hiện các trọng trách của mình, còn phải

    có trách nhiệm hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau. Hơn nữa, những phương pháp bảo tồn

    di sản văn hóa do ba Trung tâm này đưa ra còn phải có giá trị hỗ trợ công tác

    bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở các khu vực khác trên toàn thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Học Và Nhân Học Văn Hóa
  • Đối Thoại Cùng Bạn Đọc Về Khái Niệm “Văn Hóa”
  • Giao Lưu Văn Hoá Đông Sơn Và Văn Hoá Sa Huỳnh Qua Tư Liệu Khảo Cổ Học
  • Rực Rỡ Một Nền Văn Minh Việt Cổ
  • 039. 🌟 Chuyên Khảo Về Văn Hóa Đông Sơn
  • Cần Chính Xác Trong Cách Hiểu Về Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Truyền Thống
  • Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Dân Tộc
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài “đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ” Của Phạm Văn Đồng
  • Định Nghĩa Về Văn Hóa Và Quan Điểm Về Xây Dựng Nền Văn Hóa Mới
  • Đoạn Văn Định Nghĩa Về Văn Hóa Ứng Xử Ko Sao Chép Ạ Câu Hỏi 136690
  • Hiểu đúng về chủ sở hữu và “cấp” của di sản văn hóa phi vật thể

    Công ước 2003 khẳng định, các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân – những người thực hành một biểu đạt văn hóa nào đó – và chỉ họ mà thôi – mới có thể là những người công nhận nó là một bộ phận cấu thành di sản văn hóa phi vật thể của họ, và chỉ họ mới có thể xác định được giá trị của nó. UNESCO đã không sử dụng lại cụm từ “di sản thế giới của nhân loại” trong Công ước 1972 (Về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới), thay vào đó, nhấn mạnh rằng di sản văn hóa phi vật thể thuộc về cộng đồng và nhóm người cụ thể.

    Di sản văn hóa phi vật thể thuộc về cộng đồng, và chỉ thuộc về cộng đồng, không thuộc về quốc gia, nhà nước, dân tộc, hay nhân loại cũng như toàn thế giới. Dù có được UNESCO ghi vào “Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp” hoặc “Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” thì nó vẫn thuộc về cộng đồng của nó và không trở thành “di sản thế giới”, hay tài sản của nhân loại nói chung. Công ước 2003 cũng rất thận trọng khi luôn dùng cụm từ “di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ của một quốc gia thành viên” mà không dùng cụm từ “di sản của quốc gia thành viên”. Cụm từ “of humanity” (của nhân loại) chỉ là yếu tố phụ/nhỏ khi nói về di sản văn hóa phi vật thể và chỉ hàm ý rằng: Tất cả di sản văn hóa phi vật thể đều là do con người sáng tạo và tái tạo chứ không phải được thực hành bởi một cái (hoặc con) gì khác. Chữ “của” (khi viết di sản văn hóa phi vật thể “của” địa phương, “của” Việt Nam, “của” nhân loại…) không nên (được) hiểu để chỉ sự sở hữu mà nên hiểu rằng “di sản đó hiện diện ở nơi đó”.

    Một quan niệm sai khác có thể thấy rõ trong việc thường xuyên sử dụng sai từ “xếp hạng” (ranking) khi nói về các di sản văn hóa phi vật thể. Với các di tích (vật thể), chúng ta thường thấy cách diễn đạt như “di tích quốc gia” và “di tích quốc gia đặc biệt” nhưng Công ước 2003 của UNESCO bác bỏ việc xếp hạng các di sản văn hóa phi vật thể thành một hệ thống thứ bậc, phân chia cao – thấp. Tất cả di sản văn hóa phi vật thể đều bình đẳng vì di sản văn hóa phi vật thể nào cũng đều có giá trị đối với cộng đồng, nhóm người, cá nhân sáng tạo ra chúng. Không thể coi di sản của người này có giá trị hơn di sản của người khác và sẽ phạm sai lầm khi xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể theo “tầm quan trọng” của nó. Người mẹ nào cũng nghĩ con mình là đứa trẻ đẹp nhất, thông minh nhất, ngoan ngoãn nhất, và không người nào bên ngoài lại dám liều lĩnh phủ nhận đánh giá đó của người mẹ. Di sản văn hóa phi vật thể là những đứa con tinh thần của cộng đồng, trong con mắt cộng đồng của nó cũng giống như đứa con trong mắt của người mẹ vậy.

    Sự nhầm lẫn này (có vẻ như) có căn nguyên từ lỗi dịch sai trong bản tiếng Việt chính thức của Công ước 1972. Bản tiếng Anh giải thích rằng, Ủy ban Di sản thế giới sẽ xác định các tiêu chí mà theo đó những di sản “có giá trị nổi bật toàn cầu” có thể được “đưa vào” (includes) Danh sách Di sản thế giới. Bản tiếng Pháp dùng từ “ghi danh” – inscribed. Trong khi đó, bản tiếng Việt lại dịch rằng đây là các tiêu chí để “công nhận” (recognizing) di sản trong Danh sách Di sản thế giới. Tương tự, có sự dịch sai trong Điều 31 của Công ước 2003 (bản tiếng Việt). Trong khi bản tiếng Pháp và tiếng Anh đều dùng từ “ghi danh” (inscriptions) vào Danh sách đại diện hoặc “đưa vào” (includes) một trong số các danh sách thì bản tiếng Việt dịch thành “công nhận” (recognition) trong Danh sách đại diện. Với bản dịch như vậy, quan niệm rằng UNESCO “công nhận” di sản văn hóa nói chung hay di sản văn hóa phi vật thể nói riêng đã trở nên quá phổ biến ở Việt Nam. Với di sản (vật thể) thế giới, cách dùng này có thể vẫn chấp nhận được, nhưng Công ước 2003 về Di sản văn hóa phi vật thể đã nói rất rõ ràng rằng, mỗi di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể được công nhận bởi cộng đồng hoặc nhóm người của nó.

    Một cụm từ khác mà UNESCO không bao giờ dùng nhưng lại được sử dụng thường xuyên ở Việt Nam, đó là UNESCO “vinh danh” hay “tôn vinh” (honors). Cách dùng này có vẻ như không vi phạm tinh thần của Công ước, mặc dù có thể gây nhầm lẫn. Mục đích của việc ghi danh không phải là vinh danh/tôn vinh nhưng vinh danh/tôn vinh có thể là một kết quả tự nhiên của việc ghi danh. Đó có thể là việc sau “ghi danh” và là việc của cộng đồng sở hữu di sản.

    Việc hiểu và sử dụng đúng thuật ngữ rất quan trọng vì một trong bốn mục đích của Công ước 2003 là “nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể và việc bảo đảm sự tôn trọng lẫn nhau”.

    TS Frank Proschan (ảnh) là nhà nhân học, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng. Từ năm 2006 đến năm 2022, ông làm việc cho UNESCO, hỗ trợ việc triển khai Công ước năm 2003 Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể trên phạm vi toàn cầu. Ông là học giả Fulbright 2022 – 2022, cộng tác nghiên cứu tại Trung tâm Smithsonian về Đời sống dân gian và di sản văn hóa, giảng viên thỉnh giảng của Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Dân Pháp Xâm Lược Việt Nam Là Khai Hóa Văn Minh
  • Nguồn Gốc Luận Thuyết Của “sứ Mệnh Khai Hóa”
  • Ý Nghĩa Hoa Văn Đặc Trưng Của Mỗi Quốc Gia
  • Tản Mạn Chút Về Văn Hoá Xếp Hàng
  • Nét Đẹp Văn Hóa Xếp Hàng Của Người Nhật
  • Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Văn Hóa Từ Quan Điểm Của Các Nhà Sáng Lập Chủ Nghĩa Mác
  • Hoạt Động Marketing Của Một Số Nhà Hát Ở Việt Nam
  • Giáo Trình Marketing Căn Bản Ts Nguyễn Thượng Thái Chuong 1 Nhung Van De Co Ban
  • Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm “văn Học Nghệ Thuật”
  • Giải Mã Từ A Đến Z Vai Trò Và Khái Niệm Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Hãy Giải Thích Khái Niệm Máy Tìm Kiếm, 3 Khái Niệm Thích Thương Và Yêu, Hãy Giải Thích Quan Niệm Đông Con Hơn Nhiều Của, Hãy Giải Thích Và Chứng Minh, Hãy Giải Thích Để Chứng Minh Tế Bào Là Đơn Vị Cấu Tạo Của Cơ Thể, Hãy Giải Thích Quan Niệm Cổ Truyền Cho Rằng Con Người Như Một Vũ Trụ Thu Nhỏ, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Sấm Sét, Hãy Giải Thích Để Chứng Minh Tế Bào Là Đơn Vị Chức Năng Của Cơ Thể, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Nước Mắt Cá Sấu, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Bụi Bám Chặt Vào, Hãy Giải Thích Cơ Sở Dẫn Liệu Hiện Hữu Của Chi Phí Bán Hàng, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Rỉ Nhựa, Hãy Giải Thích Xu Hướng Sự Phát Triển Theo Quan Niệm Chủ Nghĩa Mác-lênin, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Bốn Mùa Trên Trái Đất, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Cừu ăn Thịt Người, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Nhật Thực, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Quả Dưa Hấu Trên Đảo Của Mai An Tiêm, Hãy Giải Thích Hiện Tượng 4 Mùa Trên Trái Đất, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Tỉa Cành Tự Nhiên ở Cây Xanh, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Cực Quang Xảy Ra Trên Trái Đất, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, Giải Thích Hiện Tượng Teo Cành Tự Nhiên ở Cây Trong Rừng, Tình Cảm Nhân Văn Hcm Thể Hiện Rõ Nhất Trong Câu Nói Nào? Giải Thích Câu Nói Này? Thế Nào Là Người V, Tình Cảm Nhân Văn Hcm Thể Hiện Rõ Nhất Trong Câu Nói Nào? Giải Thích Câu Nói Này? Thế Nào Là Người V, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Sấm Chớp Trong Thiên Nhiên, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Giải Thích Mõi Hiến Pháp Là Một Thời Kỳ Xây Dựng Phát Triển Đất Nước, Khái Niệm Hiến Pháp, Khái Niệm ở Hiền Gặp Lành, Khái Niệm 4000 Năm Văn Hiến, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Định Luật Nguyên Lí Vật Lí Nào Cho Phép Giải Thích Hiện Tượng Chất Khí Nóng , Khái Niệm âm Thể Hiện Về Không Gian, Khái Niệm Chế Độ Hôn Nhân Nước Ta Hiện Nay, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Định Luật Truyền Thẳng Của ánh Sáng Được Vận Dụng Để Giải Thích Các Hiện Tượng, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Giám Sát Thực Hiện Daanc Hủ Trường Học, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Hãy Giải Thích 5 Mục Đích Của Việc Thực Hiện Nhập Các Biểu Thức Hay Các Tiê, Giải Toán 8 Khái Niệm Hai Tam Giác Đồng Dạng, Khái Niệm Nào Sau Đây Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản , Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Na, Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Khái Niệm Nào Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản Xuất, Tiểu Luận Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Giai Đoạn Hiện Nay, Phân Tích Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Giai Đoạn Mới Hiện Nay, Bai Thu Hoach Ve Chu Nghia Mac Lenin Va Tu Tuong Ho Chi Minh Cua Dang Trong Giai Doan Hien Nay, Dàn Bài Em Thường Đọc Những Sách Gì Hãy Giải Thích Vì Sao Em Thích Đọc Loại Sách ấy, Em Thuong Doc Nhung Loai Sach Gi. Hay Giai Thich Vi Sao Em Thich Doc Sach Do, Em Thường Đọc Những Sách Gì Hãy Giải Thích Tại Sao Em Thích Đọc Sách Đó, Dàn Bài Em Thường Đọc Sách Gì Hãy Giải Thích Vì Sao Em Thích Đọc Loại Sách ấy, Quan Niệm Khác Nhau Của Trương Ba Và Đế Thích, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Tdtt Huyện Núi Thành Giai Đoạn 2022 – 2022, Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ Và Chú Thích, Em Thuong Doc Nhung Loai Sach Gi Hay Giai Thich Tai Sao Em Thich Doc Loai Sach Ay, Hãy Chứng Minh Mang Cá Là Cơ Quan Hô Hấp Thích Nghi Với Môi Trường Nước, Dàn Bài Giải Thích Câu Tục Ngữ Có Chí Thì Nên, Hãy Giải Thích Tại Sao Khu Vực Nam á, Hãy Giải Thích Rõ, Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ, Em Hãy Giải Thích Câu Nói Học Học Nữa Học Mãi, Hãy Giải Thích Học Học Nữa Học Mãi, Hãy Giải Thích Tại Sao Pha Đèn Pin ô Tô, Bài Văn Mẫu Giải Thích Câu Tục Ngữ, Đề 5 Em Hãy Giải Thích, Giải Bài Hát Yêu Thích Của Năm, Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ ăn Quả, Hãy Giải Thích Sơ Đồ Adn, Hãy Giải Thích Tại Sao Pha Đèn Pin, Hãy Giải Thích Vì Sao Em Yêu Anh, Dàn Bài Giải Thích Câu Tục Ngữ, Hãy Giải Thích Câu Rét Run Cầm Cập, Hãy Giải Thích Câu Học ăn Học Nói Học Gói Học Mở, Dàn ý Bài Văn Giải Thích Câu Tục Ngữ, Dàn ý Bài Văn Giải Thích Học Học Nữa Học Mãi, Dàn ý Bài Văn Giải Thích Lớp 7, Hãy Giải Thích Lời Dạy Của Bác, Giải Bài Hát Yêu Thích, Dàn ý Giải Thích Câu Tục Ngữ, Tiểu Luận Chứng Minh Hồ Chí Minh Là Anh Hùng Giải Phóng Dân Tộc, Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây, Hãy Giải Thích Vì Sao Xương Hầm Lâu Thì Bở, Hãy Giải Thích Câu Tục Ngữ ăn Cỗ Đi Trước, Hãy Giải Thích Sự Phát âm Của ống Sáo, Hãy Giải Thích Câu Nơi Cừu ăn Thị Người ở Anh, Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Một, Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu, Em Hãy Giải Thích Và Nêu Lên Thái Độ,

    Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Hãy Giải Thích Khái Niệm Máy Tìm Kiếm, 3 Khái Niệm Thích Thương Và Yêu, Hãy Giải Thích Quan Niệm Đông Con Hơn Nhiều Của, Hãy Giải Thích Và Chứng Minh, Hãy Giải Thích Để Chứng Minh Tế Bào Là Đơn Vị Cấu Tạo Của Cơ Thể, Hãy Giải Thích Quan Niệm Cổ Truyền Cho Rằng Con Người Như Một Vũ Trụ Thu Nhỏ, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Sấm Sét, Hãy Giải Thích Để Chứng Minh Tế Bào Là Đơn Vị Chức Năng Của Cơ Thể, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Nước Mắt Cá Sấu, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Bụi Bám Chặt Vào, Hãy Giải Thích Cơ Sở Dẫn Liệu Hiện Hữu Của Chi Phí Bán Hàng, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Rỉ Nhựa, Hãy Giải Thích Xu Hướng Sự Phát Triển Theo Quan Niệm Chủ Nghĩa Mác-lênin, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Bốn Mùa Trên Trái Đất, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Cừu ăn Thịt Người, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Nhật Thực, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Quả Dưa Hấu Trên Đảo Của Mai An Tiêm, Hãy Giải Thích Hiện Tượng 4 Mùa Trên Trái Đất, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Tỉa Cành Tự Nhiên ở Cây Xanh, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Cực Quang Xảy Ra Trên Trái Đất, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, Giải Thích Hiện Tượng Teo Cành Tự Nhiên ở Cây Trong Rừng, Tình Cảm Nhân Văn Hcm Thể Hiện Rõ Nhất Trong Câu Nói Nào? Giải Thích Câu Nói Này? Thế Nào Là Người V, Tình Cảm Nhân Văn Hcm Thể Hiện Rõ Nhất Trong Câu Nói Nào? Giải Thích Câu Nói Này? Thế Nào Là Người V, Hãy Giải Thích Hiện Tượng Sấm Chớp Trong Thiên Nhiên, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Giải Thích Mõi Hiến Pháp Là Một Thời Kỳ Xây Dựng Phát Triển Đất Nước, Khái Niệm Hiến Pháp, Khái Niệm ở Hiền Gặp Lành, Khái Niệm 4000 Năm Văn Hiến, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Định Luật Nguyên Lí Vật Lí Nào Cho Phép Giải Thích Hiện Tượng Chất Khí Nóng , Khái Niệm âm Thể Hiện Về Không Gian, Khái Niệm Chế Độ Hôn Nhân Nước Ta Hiện Nay, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Định Luật Truyền Thẳng Của ánh Sáng Được Vận Dụng Để Giải Thích Các Hiện Tượng, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Giám Sát Thực Hiện Daanc Hủ Trường Học, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Hãy Giải Thích 5 Mục Đích Của Việc Thực Hiện Nhập Các Biểu Thức Hay Các Tiê,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Mạng Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp Quản Lý
  • Khái Niệm “vốn Văn Hóa” Của Pierre Bourdieu
  • Văn Hóa Sử Dụng Mạng Xã Hội
  • Văn Hóa Chất Lượng (Phần 2)
  • Làm Sao Để Có Văn Hóa Chất Lượng?
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Cùng Bàn Luận Về Khái Niệm Văn Hóa Và Nếp Sống Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hóa Đọc Thời Hiện Đại
  • Đây là những công cụ – khái niệm hay công cụ – nhận thức dùng để tiếp cận những vấn đề nghiên cứu. Chúng thường hay bị, hay được sử dụng lẫn lộn, dù mỗi một khái niệm đều có những đặc trưng riêng của mình. Bạn đang xem bài viết Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm khác trong chuyên mục Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam tại website của mr Tâm Pacific. Chúc cho bạn nghiên cứu thành công tất cả các bài viết về Văn Hóa Việt Nam trên website.

    Khái niệm Văn Hóa

    Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thưở bình minh của xã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa : Xem dáng về con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng ( năm 77-6 trước công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).

    Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ Culture, người Đức có từ Kultur, người Nga có từ Kultura. Những từ này lại có chung gốc La Tinh, là chữ Cultus Animi, là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ Cultus là văn hóa với hai khía cạnh : trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng, để không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản, và thay đổi theo thời gian thuật ngữ văn hóa với nghĩa “Canh Tác Tinh Thần” được sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lý canh tác nông nghiệp.

    Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng, bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh. Ông E.B Taylor là người diện của họ. Theo ông, văn hóa và toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

    Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo F. Boas ý nghĩa văn hóa được quy định do khung giải thích riêng, chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”. Vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa”. Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Theo A.L Kroeber và C.L Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng, và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.

    Khái niệm Văn Minh

    Văn Minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp minh là sáng) chỉ tia sáng của đạo đức, thể hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Trong tiếng Anh, Pháp từ Civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn gốc La Tinh là Civitas với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phát sinh là thị dân, công dân. theo W. Durrant sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hóa, nhờ một trật tự xã hội gây ra, và kích thích. Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức luân lý, và hoạt động văn hóa. Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết.

    Theo F. Ăngghen thì văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại, và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước. Như vậy, khái niệm văn minh thường bao hàm bốn yếu tố cơ bản là đô thị, nhà nước, chữ viết, các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý, tiện lợi cho cuộc sống của con người. Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa. Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa (culture) và văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người. Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, hoặc cả nhân loại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm.

    – Thứ nhất : trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lắt cắt đồng đại.

    – Thứ hai : trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kỷ thuật.

    – Thứ ba : trong khi văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt, thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế.

    Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hóa Trung Quốc, … Mặc dù, giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau, đó là do con người sáng tạo ra.

    Khái niệm Văn Hiến

    Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm Văn Hiến. Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử. Từ đời Lý (1010) người Việt Nam đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”. Đến đời Lê (thế kỷ XV) Nguyễn Trãi viết : “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” – (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng rãi, chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.

    Văn hiến ( hiến = hiền tài ) – truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Giáo Sư Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định : “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời. Nói cách khác là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy Văn Hiến thiên về những giá trị tinh thần, do những người có tài đức chuyền tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.

    Khái niệm Văn Vật ( vật = vật chất )

    Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử, và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”. Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật, cũng thể hiện sâu sắc tinh thần dân tộc, và tính lịch sử. Khái niệm văn hiến, văn vật, thường gắn với phương Đông nông nghiệp, trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị. Như vậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa của văn hóa.

    Từ năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ là A.L Kroeber và C.L Kluckhohn đã trích lục được trên dưới ba trăm định nghĩa, mà các tác giả khác nhau của nhiều nước từng phát ra từ trước nữa cho đến lúc bây giờ. Từ đó đến nay, chắc chắn số lượng định nghĩa tiếp tục tăng lên và đương nhiên, không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hay hòa hợp, bổ sung cho nhau. Chúng tôi xin dẫn một số định nghĩa đã được công bố trong những giáo trình và công trình nghiên cứu về Văn hóa học hay Cơ sở văn hóa Việt Nam. Theo một số học giả Mỹ là “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt, phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Ở trung tâm của văn hóa quyển, là hệ tư tưởng cũng được xem là một hệ văn hóa.

    Ở Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Vì lẻ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Trích trong Hồ Chí Minh toàn tập, in lần 2, của Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội năm 1995 ở tập thứ 3, trang 431.

    Phó Giáo Sư Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận, “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả, và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”.

    Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, Phó Giáo Sư , TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy ra quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Chúng tôi cho rằng, trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa, ta có thể tạm quy về hai loại. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, … Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn, … và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ như xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”. Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, Phó Giáo Sư Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ :

    – Góc rộng hay góc nhìn dân tộc học, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội.

    – Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hằng ngày, còn gọi là góc báo chí.

    Theo cách hiểu góc rộng – văn hóa là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất và tinh thần của từng cộng đồng. Ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Văn hóa từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng hơn, hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, của xã hội. Ngày nay, văn hóa dưới góc báo chí đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả, là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội.

    Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh

    *** Bạn đang xem bài viết :

    Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm Văn Hóa khác

    Link https://tampacific.com/khai-niem-van-hoa-va-cac-khai-niem-van-hoa-khac.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Văn hóa là gi? Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.

    Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…

    Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” .

    Theo Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa – không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa, nơi nào có con người nơi đó có văn hóa.

    Khi nghiên cứu về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

    Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Cũng chính vì thế văn hóa biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ. Một đất nước giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần.

    Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam. Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin – 1999 [tr. 1796] thì là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai.

    Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tao ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”.

    Văn hóa là gì? Khái niệm về văn hóa

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Khái Niệm Nhà Nước, Sự Khác Biệt Giữa Nhà Nước Với Các Thiết Chế Chính Trị Khác Trong Xã Hội?
  • Truyền Thuyết Là Gì, 4 Đặc Trưng Của Truyền Thuyết Lớp 6
  • Chủ nhật – 27/07/2008 08:08

    Văn hóa và một số khái niệm về văn hóa

    Những năm gần đây, nhận thức về vai trò quyết định của văn hóa ở nước ta được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Ngay từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Nó vừa là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, vừa là một trong những mục tiêu của chúng ta. Các chính sách về văn hóa của Đảng ta thể hiện quan điểm: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta đang chủ trương xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để làm được điều đó thì việc giữ gìn, phát huy và chấn hưng văn hóa dân tộc được đặt ra một cách cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều giới.

    Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người. Văn đối lập với vũ, vũ công, vũ uy dùng sức mạnh để cai trị. Ơ nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độhọc vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội.

    Ơ phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú. Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên.

    Con người là từ tự nhiên mà ra, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển. Văn hóa trước hết là một sự thích nghi chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, đồng thời lại là sự phát triển của sự thích nghi ấy. Với tính cách là một sinh vật, con người có một bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên. Nhưng với tính cách là một sinh vật có ý thức và sống thành xã hội thì con người lại có bản chất thứ hai, đó là bản chất văn hóa, vượt ra khỏi bản chất tự nhiên, điều này đưa đến quan niệm coi văn hóa là tự nhiên thứ hai được hình thành và phát triển trên cơ sở tự nhiên thứ nhất tự tại: Là văn hóa, những gì không phải tự nhiên.

    Việc xác định khái niệm văn hóa không đơn giản, bởi vì mỗi một học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu để đưa ra các khái niệm về văn hóa. Chính vì thế mà Sapovalop trong tác phẩm Những cơ sở triết học của thời đại – cội nguồn của thế kỷ XX đã cho rằng Văn hóa đó là một khái niệm không thích hợp với loại định nghĩa một định nghĩa. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà trong các tài liệu triết học có rất nhiều loại định nghĩa khác nhau và mỗi định nghĩa này chỉ ra những mặt riêng của hiện tượng văn hóa.

    Khi tiếp cận khái niệm văn hóa, tùy từng mục tiêu, mục đích khác nhau của người nghiên cứu mà dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và từ đó hình thành các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa. Xem xét mối tương quan giữa văn hóa và xã hội chúng ta có thể lựa ra bốn cách tiếp cận chủ yếu sau, đó là: tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký hiệu học. Cả bốn góc tiếp cận này tuy khác nhau nhưng chúng đều dựa trên những nguyên tắc chung đó là dựa trên mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, dựa trên hình thái kinh tế xã hội và những nguyên tắc hoạt động của triết học Mác như nguyên tắc thực tiễn¦

    Trong bốn cách tiếp cận trên thì cách tiếp cận giá trị học có một lịch sử lâu đời, đa dạng và cho đến tận bây giờ nó vẫn thể hiện vai trò thống trị của mình. Cách tiếp cận này không chỉ thâm nhập vào triết học mà còn có cả lý luận văn hóa, mỹ học, đạo đức học cùng nhiều bộ môn khoa học khác và đã dấy lên những cuộc tranh luận đến tận bây giờ. Quá trình phát triển của tiếp cận giá trị học đã thể hiện sự tìm kiếm bản chất của văn hóa theo ba cấp độ đối tượng: cấp độ vật chất, cấp độ chức năng và cấp độ hệ thống. Tương ứng với cấp độ vật chất của đối tượng là định nghĩa mô tả văn hóa như thế giới các đồ vật được con người sáng tạo và sử dụng trong quá trình lịch sử. Trong công trình: Được sáng tạo bởi nhân loại Iu.V.Brômlây và R.C.Pađôlưi đã khẳng định: Văn hóa trong ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là tất cả những cái đã và đang được tạo ra bởi nhân loại. Hoặc trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Như vậy với cách định nghĩa này thì nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người. Thứ hai, những giá trị mà con người sáng tạo ra đó phải mang tính nhân tính nghĩa là nó phải mang tính người. Điều đó có nghĩa là có những giá trị do con người sáng tạo ra những nó không phải là giá trị văn hóa bởi vì nó không mang tính người, nó hủy hoại cuộc sống của con người¦ do đó không được cộng đồng chấp nhận như: bom nguyên tử, các vũ khí giết người hay chủ nghĩa khủng bố; một vấn đề nổi cộm trong giai đoạn hiện nay¦

    Như vậy với định nghĩa giá trị về văn hóa trên, chúng ta có thể sử dụng để nghiên cứu lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử của một dân tộc, một cồng đồng người. ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là chúng ta nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Ngoài ra với định nghĩa trên cũng giúp phân biệt được đâu là một giá trị văn hóa, đâu không phải là giá trị văn hóa.

    Tóm lại, trên bình diện phương pháp luận, xem xét mối tương quan giữa văn hóa và xã hội có thể lựa ra bốn cách tiếp cận chủ yếu về văn hóa đã nêu ở trên. Từ đó có các định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Mỗi định nghĩa đều có điểm mạnh, điểm yếu của nó. Có thể nó chỉ đề cập đến một khía cạnh này mà bỏ qua khía cạnh kia của khái niệm văn hóa. Nhiệm vụ của chúng ta là phải xuất phát từ đối tượng nghiên cứu mà chọn định nghĩa cho phù hợp, để qua định nghĩa đó nó sẽ giúp chúng ta có thể làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu và làm cho việc nghiên cứu thuận lợi và có hiệu quả hơn. Nhưng dù các định nghĩa có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì bao giờ nó cũng có điểm chung như đã nói ở phần đầu đó là văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên. Đây chính là điểm mà các nhà nghiên cứu văn hóa cần nắm vững để tránh bị sa lầy vào một mê hồn trận các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa từ đó làm cản trở công việc nghiên cứu của mình.

    Tác giả bài viết: Phạm Quang Tùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Khái Niệm Thuật Ngữ Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bullet Journal Là Gì? Hướng Dẫn Sử Dụng Bullet Journal
  • Hướng Dẫn Cách Làm Bullet Journal Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Học Ngoại Ngữ Bằng Bullet Journal Như Thế Nào?
  • 8 Lý Do Nên Sử Dụng Bullet Journal. Lý Do Cuối Vô Cùng Hữu Ích
  • 8 Ý Tưởng Để Học Ngoại Ngữ Dễ Dàng Hơn Với Bullet Journal
  • Thuật ngữ văn hóa đã xuất hiện từ thời cổ đại và không ngừng được hoàn thiện cả nội hàm cùng ngoại diện của nó. Văn hóa ngày càng phát triển và tồn tại ở trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống. Tương ứng như thế, số lượng định nghĩa, quan niệm của văn hóa cũng rất đa dạng và phong phú. Trong bài viết Văn hóa – Tổng quan phê phán về các khái niệm và định nghĩa, A.L Krober và Clyde Kluckhohn cho rằng tiếp cận khái niệm văn hóa theo các giai đoạn lịch sử, có thể thấy ba giai đoạn trong quá trình sử dụng thuật ngữ văn hóa:

    – Đầu tiên, thuật ngữ này xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII ở một nhóm các nhà nghiên cứu lịch sử mà Herder là người nổi tiếng nhất. Ở đây, văn hóa vẫn mang ý nghĩa là sự tiến triển trong sự tu dưỡng, hướng tới sự khai sáng nhưng phạm vi chỉ là một bước để tới xu hướng quan điểm mà Klemm đã viết và từ văn hóa bắt đầu mang ý nghĩa hiện đại của nó.

    – Giai đoạn thứ hai, bắt đầu gần như đồng thời với giai đoạn trên nhưng có phần kéo dài hơn, là một xu hướng triết học chính thức, từ Kant tới Hegel mà ở đó, văn hóa là mối quan tâm bị giảm sút. Nó là thời kỳ nở rộ cuối cũng của khái niệm về tinh thần.

    – Giai đoạn thứ ba từ khoảng 1859 trở đi, ở đây văn hóa ngày càng được hiểu theo nghĩa hiện đại của nó. Nói chung là trong giới trí thức cũng như ký thuật. Trong số những người khởi xướng là Klemm, nhà dân tộc học và Burkhardt, một nhà lịch sử văn hóa. Và trong sự phát triển của nó có sự đóng góp đáng kể của những nhân vật như Katian Rickert và Spengler” .

    GS Phạm Đức Dương cũng đã tiếp cận văn hóa với cấu trúc hai bậc:

    – Cấu trúc bề mặt (được gọi là biểu tầng). Trên bình diện cấu trúc bề mặt – hay biểu tầng người ta có thể phân loại thành hai hệ thống: ký hiệu biểu thị và ký hiệu biểu tượng. Đương nhiên ở đây không thể vạch một ranh giới rạch ròi mà có sự đan xen, lồng vào nhau và có mối quan hệ tương tác. Hệ thống ký hiệu biểu thị mang ý nghĩa trực tiếp thuộc tư duy khái niệm, tư duy khoa học. Đó là hệ thống ngôn ngữ, chữ viết, tư tưởng, khoa học công nghệ, hệ thống các ký hiệu xã hội như những thiết chế, những phù hiệu, biển hiệu… Hệ thống ký hiệu biểu tượng mang ý nghĩa gián tiếp bao gồm nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán… là những biểu tượng hàm nghĩa thuộc tư duy hình tượng. Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt, vừa là hệ thống ký hiệu biểu thị vừa là hệ thống ký hiệu biểu tượng

    – Cấu trúc chiều sâu (được gọi là cơ tầng) là cấu trúc bên trong của văn hóa, ít biến đổi. Nó là cái gốc điều chỉnh mọi sinh hoạt đời sống giữ cho xã hội tính liên tục và tính ổn định và nằm sâu trong tâm thức, trong đức tin tâm linh của con người. Đó chính là những đức tin tâm linh, những hệ thống giá trị. Các giá trị được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống của mỗi dân tộc, được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc dân tộc và được lưu truyền từ đời này qua đời khác, trở thành vốn quý giúp cho dân tộc đó phát triển. Giữa biểu tầng và cơ tầng có mối quan hệ tương tác, qui định lẫn nhau .

    Để phù hợp với đối tượng nghiên cứu của chúng tôi về vấn đề thương hiệu dưới góc độ văn hóa học (chúng tôi giả thuyết thương hiệu như một thực thể văn hóa), luận án chọn cách tiếp cận văn hóa thông qua hệ thống biểu tượng. Theo quan niệm của Unesco trong Toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa của Unesco thì: “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng qui định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành cộng đồng riêng biệt” [99, tr.164].

    Một là, khi nói đến văn hóa là nói đến hoạt động đặc thù của con người, luôn gắn với con người và phản ánh con người thông qua hoạt động thực tiễn và tinh thần.

    Hai là, văn hóa chính là những hoạt động văn hóa nhằm sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần, hướng tới các giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Những giá trị ấy được biểu đạt bằng hệ thống biểu tượng.

    Ba là, các giá trị văn hóa được sáng tạo và lựa chọn có sự chi phối và quyết định, định hướng phát triển đời sống xã hội. Do đó, văn hóa trở thành nhu cầu thường xuyên của cộng đồng xã hội.

    Khái niệm thuật ngữ văn hóa

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • What Are Junk Bonds And How Are Junk Bonds Rated?
  • Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Java
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Java: Khái Niệm, Đặc Điểm,ứng Dụng Cơ Bản
  • Java Là Gì? Giới Thiệu Ngôn Ngữ Java
  • Java: Java: Một Số Thuật Ngữ Cần Nắm Chắc Khi Tìm Hiểu Về Java Nio
  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Quản Lý Văn Hóa Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Văn Hóa Lãnh Đạo, Quản Lý Trước Yêu Cầu Đổi Mới Và Phát Triển Xã Hội Hiện Nay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp, Doanh Nhân
  • Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nhân
  • Kết quả

    Khái niệm văn hóa tổ chức:

    Có lẽ vì bản chất trừu tượng nên đã có nhiều khái niệm về văn hóa tổ chức được đưa ra.

    Văn hóa tổ chức là thói quen, cách nghĩ truyền thống và cách làm việc trong tổ chức được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong tổ chức (Elliott Jaques, 1952).

    Văn hóa tổ chức là hệ thống những ý nghĩa chung được chấp nhận rộng rãi bởi những người lao động trong thời gian nhất định (Adrew Pettgrew, 1979)

    Văn hóa tổ chức là một loạt các quy phạm và hệ thống giá trị chung nhằm kiểm soát sự tương tác giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các thành viên trong tổ chức với những người bên ngoài tổ chức đó. Văn hóa tổ chức là hệ thống những niềm tin và giá trị chung được xây dựng trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của các thành viên trong tổ chức.

    Văn hóa tổ chức là một hệ thống ý nghĩa chung hàm giữ bởi các thành viên của tổ chức, qua đó có thể phân biệt tổ chức này với tổ chức khác (Robbin, 2000).

    Như vậy, văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, những niềm tin, những quy phạm được chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của những người lao động trong tổ chức.

    Văn hóa tổ chức xác định tính cách của doanh nghiệp. Văn hóa tổ chức thường được xem như là cách sống của mọi người trong tổ chức. Những khái niệm về văn hóa tổ chức ở trên đều gắn với một cái gì đó chung đối vớ mọi thành viên trong tổ chức. Đó là những giả định chung, hệ thống ý nghĩa chung, luật lệ và những kiến thức chung. Những giá trị xác định những hành vi nào là tốt và có thể chấp nhận được và những hành vi xấu hay không thể chấp nhận được. Chẳng hạn, trong một số tổ chức, việc đổ lỗi hay cãi vã với khách hàng khi khách hàng phàn nàn về sản phẩm là không thể chấp nhận được. Khi đó, giá trị của tổ chức – “khách hàng luôn luôn đúng” – sẽ chỉ cho những người trong tổ chức thấy rằng hành động “không cãi vã vớ khách hàng” là chấp nhận được và hành động “cãi vã với khách hàng” là không chấp nhận được. Hơn nữa, những khái niệm về văn hóa tổ chức còn cho thấy tầm quan trọng của việc “chia sẻ” trong sự phát triển của những khái niệm về văn hóa tổ chức. “Sự chia sẻ” ở đây có nghĩa là làm việc với kinh nghiệm chung; khi chúng ta chia sẻ, chúng ta trực tiếp tham gia với những người khác. Ở đây nhấn mạnh sự giống nhau trong cách nghĩ, cách làm của mọi người. Đây là ý nghĩa gắn chặt với các khái niệm về văn hóa tổ chức. Chia sẻ văn hóa nghĩa là mỗi thành viên tham gia và đóng góp vào nền tảng văn hóa lớn hơn, sự đóng góp và kinh nghiệm của mỗi thành viên là không giống nhau. Khi nói đến văn hóa như là một hệ thống ý nghĩa, giá trị, niềm tin và kiến thức, cần phải ghi nhớ rằng văn hóa phụ thuộc vào cả cộng đồng và sự đa dạng hóa. Văn hóa cho phép sự giống nhau nhưng cũng thừa nhận và dựa trên sự khác nhau.

    Một điểm chung nữa của những khái niệm về văn hóa tổ chức nêu trên là tất cả những khái niệm đều nhấn mạnh vào những phương tiện mang tính biểu đạt mà thông qua đó những giá trị trong văn hóa tổ chức được truyền bá tới những người lao động trong tổ chức. Mặc dù, các công ty có thể trực tiếp mô tả những giá trị, những hệ thống ý nghĩa này thông qu những câu chuyện, những ví dụ, thậm chí cả những huyền thoại. Những câu chuyện là phương tiện điển hình để phản ánh những ngụ ý quan trọng của những giá trị trong văn hóa tổ chức.

    Văn hóa của một tổ chức được thể hiện qua 3 cấp độ:

    – Các vật thể hữu hình: cách thức bố trí và trang trí nơi làm việc, các biểu tượng vật chất, trang phục của nhân viên, điều kiện và môi trường làm việc.

    – Các giá trị được tuyên bố: được thể hiện qua phong cách giao tiếp, ứng xử của người lao động trong tổ chức, qua các triết lý kinh doanh của doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo…

    – Các giả định: đó là các giá trị ngầm định. Khi các giá trị được tuyên bố được kiểm nghiệm qua thực tế hoạt động của doanh nghiệp, được người lao động chấp nhận thì sẽ được duy trì theo thời gian và dần dần trở thành các giá trị ngầm định. Các giá trị ngầm định này thường khó thay đổi và ảnh hưởng rất lớn tới phong cách làm việc, hành vi của nhân viên trong tổ chức.

    (quantri.vn biên tập và số hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco
  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100