Cdg: Nhóm Phát Triển Văn Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Khách Hàng Và Vai Trò Của Khách Hàng
  • Đề Tài: Xây Dựng Và Phát Triển Thương Hiệu Công Ty Xây Dựng, Hay!
  • Bài 38. Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Và Bảo Vệ Tài Nguyên, Môi Trường Biển
  • Bài 38 : Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Biển Và Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường Biển
  • Bài 39. Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Và Bảo Vệ Tài Nguyên, Môi Trường Biển
  • CDG có nghĩa là gì? CDG là viết tắt của Nhóm phát triển văn hóa. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Nhóm phát triển văn hóa, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Nhóm phát triển văn hóa trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của CDG được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài CDG, Nhóm phát triển văn hóa có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    CDG = Nhóm phát triển văn hóa

    Tìm kiếm định nghĩa chung của CDG? CDG có nghĩa là Nhóm phát triển văn hóa. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của CDG trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của CDG bằng tiếng Anh: Nhóm phát triển văn hóa. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, CDG được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Nhóm phát triển văn hóa. Trang này là tất cả về từ viết tắt của CDG và ý nghĩa của nó là Nhóm phát triển văn hóa. Xin lưu ý rằng Nhóm phát triển văn hóa không phải là ý nghĩa duy chỉ của CDG. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của CDG, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của CDG từng cái một.

    Ý nghĩa khác của CDG

    Bên cạnh Nhóm phát triển văn hóa, CDG có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của CDG, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Nhóm phát triển văn hóa bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Nhóm phát triển văn hóa bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Biển
  • Bài Giảng Môn Học Địa Lý Lớp 9
  • Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Và Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường Biển Đảo
  • Bài 38: Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Và Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường Biển Đảo
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Cùng Bàn Luận Về Khái Niệm Văn Hóa Và Nếp Sống Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hóa Đọc Thời Hiện Đại
  • Đây là những công cụ – khái niệm hay công cụ – nhận thức dùng để tiếp cận những vấn đề nghiên cứu. Chúng thường hay bị, hay được sử dụng lẫn lộn, dù mỗi một khái niệm đều có những đặc trưng riêng của mình. Bạn đang xem bài viết Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm khác trong chuyên mục Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam tại website của mr Tâm Pacific. Chúc cho bạn nghiên cứu thành công tất cả các bài viết về Văn Hóa Việt Nam trên website.

    Khái niệm Văn Hóa

    Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thưở bình minh của xã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa : Xem dáng về con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng ( năm 77-6 trước công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).

    Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ Culture, người Đức có từ Kultur, người Nga có từ Kultura. Những từ này lại có chung gốc La Tinh, là chữ Cultus Animi, là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ Cultus là văn hóa với hai khía cạnh : trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng, để không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản, và thay đổi theo thời gian thuật ngữ văn hóa với nghĩa “Canh Tác Tinh Thần” được sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lý canh tác nông nghiệp.

    Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng, bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh. Ông E.B Taylor là người diện của họ. Theo ông, văn hóa và toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

    Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo F. Boas ý nghĩa văn hóa được quy định do khung giải thích riêng, chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”. Vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa”. Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Theo A.L Kroeber và C.L Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng, và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.

    Khái niệm Văn Minh

    Văn Minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp minh là sáng) chỉ tia sáng của đạo đức, thể hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Trong tiếng Anh, Pháp từ Civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn gốc La Tinh là Civitas với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phát sinh là thị dân, công dân. theo W. Durrant sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hóa, nhờ một trật tự xã hội gây ra, và kích thích. Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức luân lý, và hoạt động văn hóa. Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết.

    Theo F. Ăngghen thì văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại, và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước. Như vậy, khái niệm văn minh thường bao hàm bốn yếu tố cơ bản là đô thị, nhà nước, chữ viết, các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý, tiện lợi cho cuộc sống của con người. Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa. Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa (culture) và văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người. Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, hoặc cả nhân loại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm.

    – Thứ nhất : trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lắt cắt đồng đại.

    – Thứ hai : trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kỷ thuật.

    – Thứ ba : trong khi văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt, thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế.

    Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hóa Trung Quốc, … Mặc dù, giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau, đó là do con người sáng tạo ra.

    Khái niệm Văn Hiến

    Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm Văn Hiến. Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử. Từ đời Lý (1010) người Việt Nam đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”. Đến đời Lê (thế kỷ XV) Nguyễn Trãi viết : “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” – (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng rãi, chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.

    Văn hiến ( hiến = hiền tài ) – truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Giáo Sư Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định : “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời. Nói cách khác là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy Văn Hiến thiên về những giá trị tinh thần, do những người có tài đức chuyền tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.

    Khái niệm Văn Vật ( vật = vật chất )

    Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử, và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”. Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật, cũng thể hiện sâu sắc tinh thần dân tộc, và tính lịch sử. Khái niệm văn hiến, văn vật, thường gắn với phương Đông nông nghiệp, trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị. Như vậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa của văn hóa.

    Từ năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ là A.L Kroeber và C.L Kluckhohn đã trích lục được trên dưới ba trăm định nghĩa, mà các tác giả khác nhau của nhiều nước từng phát ra từ trước nữa cho đến lúc bây giờ. Từ đó đến nay, chắc chắn số lượng định nghĩa tiếp tục tăng lên và đương nhiên, không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hay hòa hợp, bổ sung cho nhau. Chúng tôi xin dẫn một số định nghĩa đã được công bố trong những giáo trình và công trình nghiên cứu về Văn hóa học hay Cơ sở văn hóa Việt Nam. Theo một số học giả Mỹ là “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt, phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Ở trung tâm của văn hóa quyển, là hệ tư tưởng cũng được xem là một hệ văn hóa.

    Ở Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Vì lẻ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Trích trong Hồ Chí Minh toàn tập, in lần 2, của Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội năm 1995 ở tập thứ 3, trang 431.

    Phó Giáo Sư Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận, “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả, và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”.

    Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, Phó Giáo Sư , TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy ra quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Chúng tôi cho rằng, trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa, ta có thể tạm quy về hai loại. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, … Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn, … và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ như xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”. Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, Phó Giáo Sư Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ :

    – Góc rộng hay góc nhìn dân tộc học, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội.

    – Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hằng ngày, còn gọi là góc báo chí.

    Theo cách hiểu góc rộng – văn hóa là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất và tinh thần của từng cộng đồng. Ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Văn hóa từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng hơn, hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, của xã hội. Ngày nay, văn hóa dưới góc báo chí đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả, là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội.

    Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh

    *** Bạn đang xem bài viết :

    Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm Văn Hóa khác

    Link https://tampacific.com/khai-niem-van-hoa-va-cac-khai-niem-van-hoa-khac.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Bộ Công An Trả Lời Về Làn Đường, Phần Đường
  • Cụm từ phát triển bền vững nói chung hay phát triển nói riêng được định nghĩa một cách khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn” Trong từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được quan niệm là:

    “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới” Chủ thể con người và mọi vật đều thay đổi theo thời gian, những sự phát triển được bao hàm ở cả hai khía cạnh: hướng đi lên – tiến bộ và phát triển thoái bộ – thoái hóa.

    Phát triển (khoa học phát triển) mới ra đời những năm 1940-1950, đặc biệt phát triển mạnh vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Trong tiến trình đó, phát triển học có những thay đổi nhất định về nội hàm.

    Giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu của phát triển được đề cập trong kinh tế gọi là Kinh tế học phát triển, sau đó càng ngày càng phát triển theo hướng liên ngành. Tiếp sau đó, ở mức độ cao hơn, môn Xã hội học phát triển và Quản trị học phát triển ra đời, nhấn mạnh sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội có phần can thiệp của thể chế chính trị.

    Ở giai đoạn cao như hiện nay, sự bùng nổ dân số, mức độ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế, sự thiếu hụt tài nguyên do con người khai thác một cách vô ý thức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, mức độ biến đổi khí hậu một cách khó lường… thuật ngữ phát triển bền vững ra đời.

    PTBV ra đời năm 1992 và đã trở thành chiến lược phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI.

    Phát triển bền vững

    Có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững nói chung. Sự khác nhau xuất phát từ quan điểm, định hướng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Khi nghiên cứu ở phạm vi hẹp như các tổ chức cụ thể, quan điểm được nhìn nhận một cách rộng rãi nhất của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (1987) cho rằng: ” Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng yêu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng thỏa mãn nhu cầu đó của các thế hệ tương lai “, [51]. Quan điểm này cho thấy: thực chất của vấn đề PTBV là sự gia tăng số lượng, chất lượng của một tổ chức với mục đích là tối đa hóa lợi ích ở hiện tại nhưng phải đảm bảo cho những lợi ích đó được duy trì trong tương lai.

    Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg – 2002: ” Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường “. Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều nghiên cứu còn đề cập tới những khía cạnh khác của PTBV như: chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc… và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể.

    PTBV là một nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và các cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững “. Đây là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phư ng, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động. Mục tiêu bảo đảm PTBV đất nước trong thế kỷ XXI chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược PTBV trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, trong đó có PTBV các KCN.

    Khái niệm phát triển và phát triển bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Khái Niệm Về Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững
  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Trước hết cần làm rõ khái niệm “phát triển”, “phát triển” tuy ban đầu được các nhà kinh tế học định nghĩa là “tăng trưởng kinh tế”, nhưng nội hàm của nó từ lâu đã vượt khỏi phạm vi này, được nâng cấp sâu sắc hơn và chính xác hơn. Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội… .

    Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế xã hội rộng lớn, trong khuôn khổ một định nghĩa hay một khái niệm ngắn gọn không thể bao hàm hết được nội dung rộng lớn của nó. Song nhất thiết khái niệm đó phải phản ánh được các nội dung cơ bản sau:

    – Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, có khả năng khai thác nguồn lực trong nước và ngoài nước.

    – Sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cư.

    – Sự phát triển là quy luật tiến hoá, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng.

    Khái niệm về phát triển

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?
  • Lí Thuyết Về Phản Ứng Oxi Hoá
  • Khái Niệm Hướng Đối Tượng (Oop) Trong Java
  • Lập Trình Hướng Đối Tượng Là Gì?
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn, các nhu cầu của con người lại luôn tạo nên sự mâu thuẫn gần như không sao khắc phục được. Ví dụ, con người ta cần không khí sạch để thở nhưng đồng thời lại rất cần ô tô để đi lại, cần có củi để sưởi nhưng lại rất cần rừng để bảo vệ đất khỏi xói mòn và chống nước mặn xâm nhập hoặc các doanh nghiệp luôn cần sử dụng lao động với giá rẻ lại không có tiếng nói chung với những công nhân luôn cần được trả lương cao để có thể sống tốt hơn… Nếu mở rộng phạm vi ra một cộng đồng, một thành phố, một đất nước hay cả hành tinh này, điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia được công nghiệp hoá lại gây ra những trận mưa axít nguy hiểm cho các sông ngòi, hồ ao của các nước khác?

    Vấn đề đặt ra là loài người sẽ quyết định ra sao nếu trong bản thân họ lại luôn có những nhu cầu đối lập, mâu thuẫn nhau? Nhu cầu của ai sẽ được đáp ứng? Của người giàu hay người nghèo? Của công dân nước mình hay những người di tản từ nước khác đến? Của dân đô thị hay nông thôn? Dân nước này hay nước khác? Của ta hay là hàng xóm? Môi trường hay doanh nghiệp? Thế hệ này hay thế hệ sau?… Ai sẽ là người chịu trách nhiệm khi phải thoả hiệp để cân bằng các nhu cầu đối lập nhau? Những người quan tâm đến phát triển cho rằng việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai luôn phụ thuộc rất nhiều vào cách mà thế hệ hiện tại cân bằng các mục tiêu phát triển xã hội, kinh tế và môi trường. Sự cân bằng các nhu cầu kinh tế, xã hội và môi trường trong việc ra quyết định của một thế hệ sẽ ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng các nhu cầu phát triển của các thế hệ tiếp theo.

    Theo cách đặt vấn đề như vậy, việc ra đời một khái niệm mới, khắc phục sự phiến diện của “tăng trưởng kinh tế” hay “phát triển” là vô cùng cần thiết. Điều quan trọng là phải đưa ra được một định nghĩa thật đơn giản về phát triển bền vững và một khuôn khổ các điều kiện tối thiểu để phát triển mang tính bền vững – những điều kiện mà sự tồn tại của chúng dựa trên cơ sở tồn tại bền vững của các nguồn dự trữ thiên nhiên theo thời gian. Nguồn dự trữ thiên nhiên ở đây là nguồn dự trữ của tất cả các nguồn lực tài nguyên môi trường và tự nhiên, từ dầu mỏ dưới lòng đất đến chất lượng đất và nước ngầm, từ nguồn dự trữ cá dưới đại dương đến khả năng của trái đất tái sinh và hấp thụ các-bon… Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào BVMT từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

    – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau.

    – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai.

    – Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ.

    Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc .

    Mô hình phát triển bền vững kiểu quả trứng do Liên minh quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đưa ra năm 1994. Mô hình này minh hoạ mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái như là một vòng tròn nằm trong một vòng tròn khác, giống như lòng đỏ và lòng trắng của một quả trứng gà. Điều này hàm ý rằng, con người nằm trong hệ sinh thái và hai đối tượng này hoàn toàn phụ thuộc, tác động, chi phối lẫn nhau. Giống như một quả trứng chỉ thực sự tốt khi cả lòng đỏ và lòng trắng đều tốt, lòng trắng là môi trường để lòng đỏ phát triển, một xã hội chỉ phát triển bền vững khi cả con người và hệ sinh thái ở điều kiện tốt [82].

    Như vậy, mỗi mô hình có những thế mạnh cũng như những hạn chế nhất định. Luận án đồng nhất lựa chọn và sử dụng mô hình PTBV kiểu ba vòng tròn để phân tích, do mô hình này phản ánh rõ nhất phát triển bền vững là miền giao thoa giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và BVMT. Nói cách khác, phát triển bền vững đạt được trên cơ sở đảm bảo hài hoà được cả ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường.

    Khái niệm phát triển bền vững

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Về Phát Triển
  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?
  • Phát Triển Văn Hóa Doanh Nghiệp Ở Việt Nam: Đề Xuất Khái Niệm Và Mô Hình Nghiên Cứu

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Tự Phục Hồi Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Luận Văn: Thủ Tục Phục Hồi Trong Pháp Luật Phá Sản Ở Việt Nam
  • Luận Văn: Phục Hồi Doanh Nghiệp Theo Luật Phá Sản 2014, Hay
  • Luật Doanh Nghiệp (Sửa Đổi): Đề Xuất Thay Đổi Khái Niệm Về Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Công Ty Hợp Danh
  • Từ khóa: Khái niệm, mô hình, phát triển, văn hóa doanh nghiệp.

    Trong xu hướng tự do hóa thị trường toàn cầu thì sự đa dạng văn hóa (cultural persity) nổi lên như một mối quan tâm chính (UNESCO, 2009), khía cạnh văn hóa nói chung và tiêu chuẩn hóa văn hóa (cultural standardization) ngày càng được quan tâm (Schein, 1984). Mỗi chủ thể kinh doanh đều sở hữu một nền văn hóa vi mô – VHDN, những phần tử hợp thành nền văn hóa vĩ mô là văn hóa quốc gia, dân tộc, tôn giáo, văn hóa ngành nghề quy mô toàn cầu. Văn hóa là một phẩm chất thiết yếu của các tổ chức xuất sắc (Amah, 2006), VHDN mạnh được xác định là một trong những tài sản quan trọng nhất của DN (Denison, 1985).

    Từ những năm 1990 đến nay, nhiều nghiên cứu về VHDN Việt Nam đã được công bố, nhìn tổng quan trên phương diện lý thuyết là sự kế thừa các nghiên cứu nền tảng trên thế giới.

    Từ những khái niệm trên, tác giả nhận thấy phát triển là một quá trình thay đổi theo hướng không ngừng hoàn thiện hơn nhằm nâng cao giá trị hướng đến tính bền vững. Đối với nhà quản trị, phát triển là một tập hợp chiến lược, sách lược và hành động nhằm thay đổi tổ chức hoặc một phương diện quản trị nào đó theo hướng không ngừng hoàn thiện hơn nhằm thay đổi giá trị hiện tại theo hướng nâng cao hơn, bền vững hơn hoặc phù hợp hóa giá trị hiện tại thành giá trị được nhà quản trị kỳ vọng ở tương lai.

    Phạm Xuân Nam (1996) quan tâm VHDN như “hệ thống các ý nghĩa, giá trị niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên cùng đồng thuận, ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên”, Dương Thị Liễu (2008) nhận xét “VHDN là toàn bộ các giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của DN”, Đỗ Minh Cương (2011) nhìn nhận “VHDN gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà DN tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên bản sắc của DN, tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên”, Trần Ngọc Thêm (2013) xác định “VHDN là hệ thống các giá trị của DN, được sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh trong mối liên hệ với môi trường xã hội và tự nhiên nhằm mang lại lợi nhuận cho DN thông qua việc đem lại lợi ích cho xã hội”…

    Kế thừa các khái niệm trên, theo tác giả “VHDN là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần có tính bản sắc được kiến tạo nên từ khi hình thành và xuyên suốt quá trình phát triển của DN”. Theo cách hiểu này, VHDN là tổng của hai tập con: (1) giá trị vật chất và (2) giá trị tinh thần có tính đặc thù riêng biệt bản sắc của DN. VHDN có ngay từ giai đoạn khởi sự kinh doanh, dần được hoàn thiện trong tiến trình phát triển của DN, lấy DN làm chủ thể, môi trường xã hội (khách hàng, bạn hàng, đối tác) và tự nhiên (nơi hoạt động, nơi cung cấp nguyên liệu, thị trường tiêu thụ) làm không gian và toàn bộ quá trình tồn tại là trục thời gian.

    3.2. Đề xuất khái niệm Phát triển văn hóa doanh nghiệp (corporate culture development) 3.2.1. Đề xuất khái niệm

    Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề phát triển VHDN ở Việt Nam và nhu cầu làm rõ khái niệm phát triển VHDN phục vụ việc hình thành các chỉ biểu thực hành quản trị, việc đề xuất một khái niệm độc lập là vô cùng cần thiết. Về bản chất, phát triển VHDN là một tập giao thoa giữa tập khái niệm phát triển và tập khái niệm VHDN, trên cơ sở kế thừa tổng quan các khái niệm phát triển và VHDN, tác giả đề xuất khái niệm: “Phát triển VHDN là quá trình hoàn thiện hệ biểu trưng và phù hợp hóa tính chất của VHDN”. (Hình 1).

    3.2.2. Hoàn thiện hệ biểu trưng văn hóa doanh nghiệp

    Hoàn thiện hệ biểu trưng VHDN được hiểu là quá trình tạo lập một hệ biểu trưng trực quan (hệ giá trị vật chất) của VHDN trên cơ sở chọn lựa tuần tự từng biểu trưng cụ thể. Tác giả đề xuất hệ biểu trưng của VHDN ở Việt Nam cần có 6 nhóm, 21 biểu trưng:

    Biểu tượng (Symbol): Những hình ảnh trực quan ẩn chứa nhiều ý nghĩa bởi văn hóa được tích lũy (Womack, 2005), đại diện cho một ý tưởng – một chỉ báo sâu hơn về chủ thể (DK, 2008). VHDN được thể hiện dưới dạng biểu tượng công khai và việc sử dụng các biểu tượng này tạo ra cảm giác đoàn kết giữa các cá nhân, thể hiện ý thức hệ của DN một cách đơn giản, được nhận diện dễ dàng. Các biểu trưng thuộc nhóm biểu tượng gồm: Đồng phục (uniform), Logo và những Hình tượng biểu trưng khác.

    Giá trị chuẩn mực (Espoused values): Được xác định bởi nhóm quản trị cao cấp nhất và thường được công khai (Bansal, 2003), nhằm đạt được hiệu quả tổ chức, hội nhập xã hội và cam kết của tổ chức (Howell & cộng sự, 2012), định hướng cho suy nghĩ, hành vi ứng xử trong DN (Schein, 2012), các giá trị chuẩn mực có vai trò quan trọng trong duy trì ý tưởng của DN và khuyến khích hành vi từ các thành viên. Các biểu trưng thuộc nhóm giá trị chuẩn mực gồm: Giá trị cốt lõi (core values); Sứ mệnh (mission); Tầm nhìn (vision).

    Khẩu hiệu (slogan): Là một cụm từ súc tích, ấn tượng, dễ nhớ nhằm gợi lên một ý tưởng, mục tiêu xác định (Stevenson, 2010). Cùng với tên DN và logo, khẩu hiệu hợp thành thương hiệu (Dass & cộng sự, 2014). Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô đọng nhất của triết lý hoạt động kinh doanh của DN (Nguyễn Mạnh Quân, 2022). Các biểu trưng thuộc nhóm khẩu hiệu gồm: Câu châm ngôn, thành ngữ (saying, idiom) và Slogan.

    Kiến trúc (Architecture): Như sự thừa nhận và đáp ứng các nhu cầu và giá trị mà nó tương tác (Stephen & Kenney, 1994). Kiến trúc là sự mô tả của VHDN được tích hợp với mọi khía cạnh của đời sống, là kết quả của văn hóa (Parvizi, 2009), là biểu hiện của các giá trị, cách thức xây dựng là sự phản ánh quan niệm về cuộc sống. Các biểu trưng thuộc nhóm kiến trúc gồm: Biển hiệu (shop sign); Kiến trúc ngoại thất (architecture design); Kiến trúc nội thất (furniture design).

    Nghi lễ (Ceremony): Thể hiện yếu tố biểu tượng, biểu cảm, qua đó niềm tin, cảm xúc và danh tính DN có thể được hình thành và thay đổi, ngoài việc ảnh hưởng đến cá nhân, nghi lễ còn đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì cấu trúc DN và nối kết các cá nhân. Nghi lễ là những hoạt động đã được dự kiến từ trước và chuẩn bị kỹ lưỡng dưới hình thức các hoạt động, sự kiện văn hóa – xã hội chính thức, nghiêm trang, tình cảm được thực hiện định kỳ hay bất thường nhằm thắt chặt mối quan hệ và thường được tổ chức vì lợi ích của những người tham dự (Nguyễn Mạnh Quân, 2022). Các biểu trưng thuộc nhóm nghi lễ gồm: Nghi lễ chuyển giao (transfer ceremony); Nghi lễ củng cố (consolidate ceremony); Nghi lễ liên kết (associate ceremony); Nghi lễ nhắc nhở (remind ceremony).

    3.2.3. Phù hợp hóa tính chất văn hóa doanh nghiệp

    Phù hợp hóa tính chất VHDN là quá trình sử dụng các nguồn lực và vận dụng các phương thức quản trị nhằm tác động đến tính chất (hệ giá trị tinh thần) của VHDN, làm thay đổi giá trị hiện tại thành giá trị được tổ chức hay nhà quản trị kỳ vọng. Nghiên cứu xác định tính chất VHDN từ lâu được rất nhiều nhà khoa học quan tâm, trên thế giới hiện có hơn 20 mô hình đo lường tính chất VHDN, tiêu biểu như Hofstede (1980) với Lý thuyết kích thước văn hóa (Hofstede’s cultural dimensions); Mô hình Deal & Kennedy (1982); Mô hình ba lớp văn hóa của Schein (1985); Mô hình đánh giá VHDN DOCS (Denison Organisational Culture Survey) của Denision (1990); Mô hình OCAI (Organization Culture Assessment instrument) của Cameron & Quinn (1996); Mô hình kiểm kê VHDN (Organizational Culture Inventory) bởi Cooke & Lafferty (1987), Thomas và cộng sự (1990), Seago (1997), Ingersoll và cộng sự (2000); Core Employee Opinion Questionnaire (Buckingham & Coffman, 2000)… Tuy nhiên hiện tác giả nhận thấy ở Việt Nam thì OCAI của Cameron & Quinn có khả năng ứng dụng cao vì: mô hình đơn giản nhưng bao quát, bốn dạng văn hóa gia đình; văn hóa thứ bậc; văn hóa thị trường; văn hóa sáng tạo có tính đại diện cao và tương thích với không gian văn hóa Việt Nam; OCAI giúp có cái nhìn trực quan bao quát về VHDN hiện tại tương ứng với mốc thời gian chọn khảo sát và kỳ vọng tương lai, từ đó có thể đưa ra những chiến lược điều chỉnh VHDN phù hợp nhằm tăng khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường (bên trong và bên ngoài); OCAI có tính đa dụng bản hỏi đơn giản với 24 biến quan sát, thống kê, tính toán giá trị giản đơn, dễ thực hiện, không tốn kém chi phí.

    Với nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ biểu trưng VHDN thì mô tả VHDN thông qua quan sát (observational), xác minh biểu trưng (artefactual approach) là biện pháp khả dụng nhất nhằm cung cấp các minh chứng hữu hình về thực trạng hệ biểu trưng trực quan của VHDN. Biên bản xác minh với các phúc đáp được thiết kế dưới dạng có hoặc không có cho 24 tiêu chí thuộc 6 nhóm biểu trưng đã trình bày. Sau khi tính toán các giá trị tỷ lệ sở hữu hệ biểu trưng VHDN, phân loại mức độ sở hữu hệ biểu trưng theo 5 nhóm:

    Trong các nghiên cứu về phát triển VHDN thì vấn đề quan trọng nhất đặt ra cho người nghiên cứu là căn cứ vào đâu để có thể đánh giá được sự phát triển của VHDN, nói một cách khác thì vấn đề ấy có nghĩa là lấy gì làm thước đo sự phát triển của VHDN, giải quyết bài toán này, tác giả giả định các giá trị nghiên cứu thu được ở Bảng 2.

    Ghi chú: n: giá trị ở hiện tại (now); w: giá trị mong đợi ở tương lai (wish); c, h, m, a: giá trị số thu được sau thống kê khảo sát OCAI

    Theo lý thuyết của Cameron & Quinn (1999) thì:

    Để có giá trị số chỉ thị xu hướng phát triển về tính chất của VHDN, tác giả sử dụng giá trị (d: develop) là hiệu số của giá trị mong đợi tương lai và giá trị cảm nhận hiện tại: c d = c w – c n, h d = h w – h n, m d = m w – m n, a d = a w – a n, nếu c d mang giá trị dương thì tính chất C phát triển và ngược lại nếu cd có giá trị âm thì tính chất C suy giảm, tương tự với tính chất H, M, A.

    Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất phương pháp xác định mức độ phát triển VHDN:

    Bước 1. Xác minh hệ biểu trưng trực quan (hệ biểu trưng gồm 24 biểu trưng), sau đó tính tỷ lệ sở hữu biểu trưng VHDN bằng công thức:

    Với: X: tỷ lệ sở hữu hệ biểu trưng trực quan

    x: số lượng biểu trưng đã sở hữu

    Bước 2. Đo lường tính chất VHDN bằng mô hình OCAI, tính toán và xác định giá trị (dmax) của C, H, M hoặc A (tỷ lệ dạng VHDN nổi trội ở hiện tại).

    Bước 3. Xác định mức độ phát triển VHDN bằng công thức (đề xuất trên cơ sở quan niệm và mô hình nghiên cứu phát triển VHDN của tác giả):

    Với: D: mức độ phát triển VHDN

    X: tỷ lệ sở hữu hệ biểu trưng trực quan

    (d) max: tính chất VHDN trọng tâm ở hiện tại

    Sau khi tính toán mức độ phát triển của VHDN, tác giả đề xuất xếp các mức độ này thành 5 nhóm (qua kết quả này, người nghiên cứu đã sắp xếp (sort) được danh sách mong muốn):

    Với: D: mức độ phát triển VHDN

    X: tỷ lệ sở hữu hệ biểu trưng trực quan

    (d) max: tính chất VHDN trọng tâm ở hiện tại

    Mức độ phát triển VHDN được đề xuất phân thành 5 nhóm: VHDN Rất không tròn vẹn; VHDN không tròn vẹn; VHDN trung bình; VHDN tròn vẹn; VHDN rất tròn vẹn.

    Sự phân nhóm này cho phép sắp xếp, so sánh VHDN của các DN khác nhau theo cùng 1 thang độ (có thể áp dụng cho các trường hợp các công ty khác nhau, công ty con trong công ty mẹ, các tổ chức nói chung).

    Trên phương diện lý thuyết, nghiên cứu cũng đã đề xuất 1 hệ biểu trưng VHDN cho bối cảnh mới gồm 6 nhóm và 24 biểu trưng thành phần. Tác giả đề xuất cần thừa nhận Bộ nhận diện thương hiệu, Bộ quy tắc ứng xử, Mạng xã hội và Trang tin điện tử là những biểu trưng mới của hệ biểu trưng VHDN ở Việt Nam hiện nay.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Amah, E. (2006). Human Resource Management. Amethyst Publishers Port Harcourt.
    2. Andrews, L., Higgins, A., Andrews, M. W., & Lalor, J. G. (2012). Classic grounded theory to analyse secondary data: Reality and reflections. The Grounded Theory Review, 11(1), p.15-25.
    3. Bansal, P. (2003). From issues to actions: The importance of inpidual concerns and organizational values in responding to natural envi-ronmental issues. Organization Science, 14(5), p.520.
    4. Bùi Thế Cường & Đỗ Minh Khuê (2006). Một lịch sử ngắn về quan niệm phát triển. Tạp chí Khoa học xã hội, Viện KHXH vùng Nam Bộ, số 10(98)/2006, tr.178.
    5. Cameron, K. & Quinn, R. (1999). Diagnosing and Changing Organizational Culture: Based on the Competing Values Framework. Reading, Massachusetts: Addison Wesley.
    6. Dass, M., Kohli, C.; Kumar, P.; Thomas, S. (2014). A study of the antecedents of slogan liking. Journal of Business Research. 67, p.12.
    7. Davenport,T.O. (1998). The integration challenge: managing corporate mergers”. Management Review 87, p.28.
    8. Deal T. E. & Kennedy, A. A. (1982). Corporate Cultures: The Rites and Rituals of Corporate Life. Harmondsworth, Penguin Books, 1982.
    9. Deal, T.E. & Kennedy, A.A. (2000). Corporate Cultures. Addison- Wesley.
    1. Denison, D.R. (1985). Corporate Culture and Organizational Effectiveness: A Behavioural Approach to Financial Performance. Wiley-Interscience.
    2. DK – Dorling Kindersley Limited (2008). Signs and Symbols. p.6.
    3. Đỗ Minh Cương (2001). Văn hóa kinh doanh & triết lý kinh doanh, Nxb Chính trị Quốc gia.
    4. Dương Thị Liễu (2008). Bài giảng Văn hóa kinh doanh. Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.234.
    5. Harris, R.J. (1985). A primer of multivariate analysis. 2nd Ed. New York: Academic Press.
    6. Hofstede, G.H. (2001). Culture’s Consequences: Comparing Values, Behaviors, Institutions, and Organizations Across Nations. Sage Publications.
    7. Howell, A., Kirk-Brown, A., & Cooper, B. K. (2012). Does congruence between espoused and enacted organizational values pdict affec-tive commitment in Australian organizations. The International Journal of Human Resource Management, 23(4), p.731-747.
    8. Johnson, G. (1987). Strategic Change and the Management Process. Blackwell, Oxford.
    9. Johnson, G. (1992). Managing strategic change: Strategy, culture & action. Long Range Planning 25(1), p.28.
    10. Jonsen, K., Galunic, C., Weeks, J., & Braga, T. (2015). Evaluating espoused values: Does articulating values pay off?. European Management Journal, 33(5), p.332-340.
    11. Lewin, K. (1951). Field Theory in Social Science. Harper and Row: New York.
    12. Marx, K. (1844). The economic and philosophic manuscript of 1844. London: Lawrence & Wishart.
    13. Marx, K. (1875). Critique of the Gotha programme, English translation. New York: International Publishers.
    14. Nguyễn Đình Thọ (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Nxb Lao động xã hội.
    15. Nguyễn Mạnh Quân (2015), Giáo trình Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty, NXB ĐH Kinh tế quốc dân
    16. Orphan, S. (2006). Blackwell adds 59 journal titles. College & Research Libraries News 67 (2): p.77.
    17. Parvizi, E. (2009). National architecture from the perspective of cultural identity. Journal of national studies, p.3.
    18. Pettigrew A. (1979). On studying organizational cultures. Administrative Science Quaterly, 24(4), p.580-581.
    19. Phạm Xuân Nam (1996). Văn hóa và kinh doanh. Nxb Khoa học Xã hội, tr.21.
    20. Schein, E. (1984). Coming to a new awareness of organizational culture. Sloan Management Review 25, p.3-16.
    21. Schein, E.H. (2012). Organizational Culture and Leadership – VHDN và sự lãnh đạo, Nxb Thời đại, p.42-45.
    22. Schumpeter, J. (1989). Business cycles: a theoretical, historical and statistical analysis of the capitalist process. Philadelphia: Porcupine.
    23. Sen, A. K. (1988). The Concept of Development in H. Chenery and T.N. Srinivasan, eds. Handbook of Development Economics (Amsterdam: North Holland, 1988), p.14-20.
    24. Smirch, L. (1983). Concepts of culture and organizational analysis. Administration Science Quaterly, 28 (3), p.339-342.
    25. Smith, A. (1776). A n inquiry into the nature and causes of the weahh of nations. Republished; edited by R.H. Campbell and A.S. Skinner. Oxford: Clarendon Press.
    26. Smith, E. (2008). Using secondary data in educational and social research. NY: McGraw-Hill Education.
    27. Stephen, F & Kenney, B.S. (1994). Cultural influences on architecture. Texas Tech University.
    28. Stevenson, A., (2010). Oxford Dictionary of English (Vol. III). Oxford University Press. doi:10.1093/acref/9780199571123.001.0001.
    29. Thomas, A. (2000). Meanings and Views of Development. Poverty and development in the 21st Century, Oxford University Press, Oxford.
    30. Trần Ngọc Thêm (2013). Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng, Nxb Văn hóa văn nghệ.
    31. UCC- Universal Copyright Convention, Geneva text (1952). Article VI Archive 2012-11-25 at the Wayback Machine.
    32. UNESCO (2009). UNESCO World Report – Investing in Cultural Diversity and Intercultural Dialogue. The United Nations Educational, Cultural and Scientific Organization, 7 place de Fontenoy 75352 Paris 07 SP (France), p.1.
    33. Vũ Tuấn Huy (2012). Xã hội học và phát triển bền vững. Tạp chí Xã hội học số 4(120), 2012, tr.38.
    34. Womack, M. (2005). Symbols and Meaning: A Concise Introduction. California: AltaMira Press, 2005.

    CORPORATE CULTURE DEVELOPMENT IN VIET NAM: PROPOSED CONCEPT AND RESEARCH MODEL

    Master. NGUYEN QUANG TRUNG

    Lecturer, Hoa Sen University

    ABSTRACT:

    In the context of increasing globalization and international economic integration, the standardization and persification of corporate culture are being received more and more attention. By using the method of secondary research and desk research, the author proposed the concept “Corporate culture development is the process of perfecting the symbolic system and fitting the nature of corporate culture” and the model, research methods and calculations related to this proposed concept. It is expected that results os this research will be a useful reference source for managers, managers of enterprises and scientists.

    Keywords: Concept, model, development, corporate culture.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Phát Triển Bền Vững, Doanh Nghiệp Cần Gì?
  • Khái Quát Về Sự Phát Triển Bền Vững Doanh Nghiệp
  • Hành Chính Văn Phòng Và Những Khái Niệm Cơ Bản
  • Khái Niệm Văn Phòng Đóng Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Văn Phòng Đóng
  • Khái Niệm Văn Phòng Là Gì? Chức Năng Ra Sao?
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Văn hóa là gi? Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.

    Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…

    Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” .

    Theo Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa – không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa, nơi nào có con người nơi đó có văn hóa.

    Khi nghiên cứu về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

    Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Cũng chính vì thế văn hóa biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ. Một đất nước giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần.

    Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam. Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin – 1999 [tr. 1796] thì là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai.

    Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tao ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”.

    Văn hóa là gì? Khái niệm về văn hóa

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Phát Triển Văn Hóa Nhà Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Không Gian Văn Hóa Trong Nhà Trường
  • Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm Văn Học Nghệ Thuật
  • Triết Lý Âm Dương Và Tính Cách Người Việt
  • Văn Hóa Ngôn Ngữ Và Vấn Đề Giáo Dục
  • Ngữ Dụng Học Và Văn Hóa
  • Về KN gốc VH, hiện nay, trên thế giới có tới ngoài 300 quan niệm khác nhau; điểm chung của các khái niệm VH là những gì gắn với con người, thuộc con người và đời sống của con người; VH là toàn bộ những giá trị VC và giá trị TT do con người sáng tạo ra.

    Mỗi khi bước vào một NT, ta thường cảm nhận được bầu không khí đặc trưng của NT đó qua hàng loạt các dấu hiệu dễ thấy, hoặc ngầm định khó thấy, những giá trị này không phải tự dưng mà có, mà cần phải xây dựng, nuôi dưỡng, hình thành có chủ định và được mọi người trong tổ chức chấp nhận. Mỗi NT đều tự mình biểu lộ ra bên ngoài một hình ảnh tốt đẹp hoặc tầm thường nào đó. Hình ảnh này được tạo nên bởi người dạy, người học, người quản lý trong NT, được chuyển tải và phản ánh bởi đồng nghiệp trong địa phương và phụ huynh cũng như cộng đồng xã hội xung quanh, bởi cơ quan quản lý và người sử dụng sản phẩm giáo dục – những đối tượng phản ảnh chất lượng sản phẩm giáo dục của NT một cách rõ nét và khách quan.

    TẠI SAO PHẢI NUÔI DƯỠNG, VUN TRỒNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG. 1. Khái niệm: Về KN gốc VH, hiện nay, trên thế giới có tới ngoài 300 quan niệm khác nhau; điểm chung của các khái niệm VH là những gì gắn với con người, thuộc con người và đời sống của con người; VH là toàn bộ những giá trị VC và giá trị TT do con người sáng tạo ra. Mỗi khi bước vào một NT, ta thường cảm nhận được bầu không khí đặc trưng của NT đó qua hàng loạt các dấu hiệu dễ thấy, hoặc ngầm định khó thấy, những giá trị này không phải tự dưng mà có, mà cần phải xây dựng, nuôi dưỡng, hình thành có chủ định và được mọi người trong tổ chức chấp nhận. Mỗi NT đều tự mình biểu lộ ra bên ngoài một hình ảnh tốt đẹp hoặc tầm thường nào đó. Hình ảnh này được tạo nên bởi người dạy, người học, người quản lý trong NT, được chuyển tải và phản ánh bởi đồng nghiệp trong địa phương và phụ huynh cũng như cộng đồng xã hội xung quanh, bởi cơ quan quản lý và người sử dụng sản phẩm giáo dục - những đối tượng phản ảnh chất lượng sản phẩm giáo dục của NT một cách rõ nét và khách quan. 2. Những biểu hiện của VHNT: Nuôi dưỡng bầu không khí cởi mở, dân chủ, hợp tác, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau; Mỗi cán bộ, giáo viên đều biết rõ công việc mình phải làm, hiểu rõ trách nhiệm, luôn có ý thức chia sẻ trách nhiệm, tích cực tham gia vào việc ra quyết định dạy và học; Coi trọng con người, cổ vũ sự nổ lực hòan thành công việc và công nhận sự thành công của mỗi người; NT có những chuẩn mực để luôn luôn cải tiến, vươn tới; Sáng tạo và đổi mới; Khuyến khích giáo viên cải tiến phương pháp nâng cao chất lượng dạy và học,giáo viên được khuyến khích tham gia đóng góp ý kiến trong mọi họat động của NT; Khuyến khích đối thọai và hợp tác, làm việc nhóm; Chia sẻ kinh nghiệm và trao đổi chuyên môn; Chia sẻ quyền lực,trao quyền, khuyến khích tính tự chịu trách nhiệm,chia sẻ tầm nhìn; NT thể hiện sự quan tâm, có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, lôi kéo cộng đồng cùng tham gia giải quyết những vấn đề của giáo dục. Những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh (phi VH) trong NT cần phải khắc phục: Sự buộc tội đổ lỗi cho nhau; Sự kiểm sóat qúa chặt chẽ đánh mất quyền tự do và tự chủ của cá nhân; Quan liêu, nguyên tắc 1 cách máy móc; Trách mắng HS vì các em không có sự tiến bộ; Thiếu sự động viên khuyến khích; Thiếu sự cởi mở, thiếu sự tin cậy; Thiếu sự hợp tác, thiếu sự chia sẻ học hỏi lẫn nhau; Mâu thuẫn nội bộ không được giải quyết kịp thời. 3. Chức năng của VHNT: Chức năng biểu tượng, chức năng xây dựng, chức năng hướng dẫn, chức năng gây xúc cảm. a- VHNT ảnh hưởng nhiều chiều tới chất lượng và hiệu quả của quá trình GD trong NT, theo chiều hướng phát triển con người hoàn thiện và sáng tạo: Động lực sư phạm được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó văn hoá là một động lực vô hình nhưng có sức mạnh kích cầu hơn cả các biện pháp kinh tế. Cụ thể: +Văn hoá NT giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình làm; + Văn hoá NT phù hợp, tích cực tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa các các cán bộ, giáo viên, nhân viên trong tập thể sư phạm, giữa giáo viên và học sinh; đồng thời tạo ra một môi trường làm việc thoải mái, vui vẻ, lành mạnh. Đó là nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo - điều vô cùng quan trọng đối với hoạt động sư phạm mà đối tượng là tri thức và con người; + Văn hoá NT tích cực giúp cho người dạy, người học và mỗi người trong lực lượng xã hội xung quanh có cảm giác tự hào, hãnh diện vì được là thành viên của tổ chức NT, được làm việc vì những mục tiêu cao cả của NT. Muốn tạo động lực cần khơi dậy nhu cầu và đáp ứng nhu cầu chính đáng của mọi người. Khi khả năng đáp ứng nhu cầu thấp, động lực với người lao động sư phạm là đồng lương, thu nhập và những giá trị vật chất. Khi thu nhập đạt đến một mức nào đó, nhu cầu vật chất thoả mãn một mức độ nào đó, người lao động nói chung, nhà sư phạm nói riêng sẵn sàng đánh đổi, chọn mức thu nhập thấp hơn để được làm việc ở một môi trường hoà đồng, thân thiện, thoải mái, được cống hiến, sáng tạo và được thừa nhận và tôn trọng. b- VHNT ảnh hưởng tới mọi khía cạnh của NT: VH NT hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân bằng các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc và bằng dư luận, truyền thuyết do những thế hệ con người trong tổ chức NT xây dựng lên. Khi NT phải đối mặt với một vấn đề phức tạp, chính VH tổ chức là điểm tựa tinh thần, giúp các nhà quản lý trường học và đội ngũ giáo viên hợp tác, phát huy trí lực để có những quyết định và sự lựa chọn đúng đắn. c- VHNT tạo ra môi trường thuận lợi hỗ trợ cho việc dạy và học: Tổng hợp tất cả các yếu tố trên, từ sự gắn kết, tạo động lực, điều phối kiểm soát và hạn chế những nguy cơ làm giảm sức mạnh của tổ chức, rõ ràng là, VH NT đã làm tăng hiệu quả các hoạt động và hỗ trợ cho việc dạy và học trong NT, trên cơ sở đó mà dần dần tạo nên những phẩm chất đặc trưng khác biệt cho tổ chức trường học. Đó là cơ sở nâng cao uy tín, "thương hiệu" của NT, tạo đà cho các bước phát triển tốt hơn. d-VHNT lành mạnh làm giảm xung đột và tăng tính ổn định của NT: VH NT giúp các thành viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức vấn đề, cách đánh giá, lựa chọn, định hướng và hành động. Nó tựa như chất keo gắn kết các thành viên lại thành một khối, tạo ra những dư luận tích cực hạn chế những biểu hiện tiêu cực trái với quy tắc, chuẩn mực thông thường của tổ chức. Nó hạn chế những nguy cơ mâu thuẫn và xung đột; và, khi xung đột là không thẻ tránh khỏi thì VH NT tạo ra hành lang pháp lý, đạo lý phù hợp để góp phần khắc phục, giải quyết xung đột trên nguyên tắc không để phá vỡ tính chỉnh thể của tổ chức NT. 5.Ảnh hưởng của VH NT đến học sinh : -Một là, tạo ra một môi trường học tập có lợi nhất cho học sinh: học sinh cảm thấy thoải mái, vui vẻ, ham học. Học sinh được tôn trọng, được thừa nhận và cảm thấy mình có giá trị; thấy rõ trách nhiệm của mình. Học sinh tích cực khám phá, liên tục trải nghiệm và tích cực tương tác với giáo viên, nhóm bạn. Nỗ lực đạt thành tích học tập tốt nhất. -Hai là, tạo ra môi trường thân thiện cho học sinh : học sinh cảm thấy an toàn ,cởi mở và chấp nhận các nhu cầu, hoàn cảnh khác nhau. Khuyến khích học sinh phát biểu và bày tỏ quan điểm cá nhân. Xây dựng mối quan hệ ứng xử, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau giữa thầy và trò. Kết luận: Mỗi NT đều có LS tồn tại và PT. Sự tồn tại và PT qua thời gian đã tạo ra những giá trị VH nhất định. Do đó, cần có những khảo sát, đánh giá các giá trị VH đang tồn tại trong NT, đâu là các giá trị tích cực, tiêu cực, đâu là các giá trị VH được nhiều cán bộ, giáo viên trong NT mong muốn nhất. Hiệu trưởng cần phải nhận ra đâu là những giá trị VH đích thực, cốt lõi có tính đặc trưng cùa NT đang tồn tại tạo nên sự khác biệt về bản sắc với các trường khác để nuôi dưỡng, vun trồng. Cách thức phát triển văn hoá NT? Vận dụng thực tiễn? 1. Cách thức phát triển VHNT: 1- Xây dựng bầu không khí dân chủ: cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ lẫn 2- Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá, khen thưởng hợp lý thúc đẩy mọi người nỗ lực làm việc 3- Mỗi cán bộ quản lý, gaío viên, nhân viên trong NT đều có bản mô tả công việc, làm rõ trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ 4- Hiệu trưởng tăng cường dự giờ, trao đổi chuyên môn với giáo viên đứng lớp về cách dạy và học 5- Làm cho học sinh biết là chúng được yêu thương, được quan tâm chăm sóc 6- Đảm bảo học sinh có một tương lai xứng đáng với sự đầu tư của cha mẹ chúng 7- HT chia sẻ quyền lực, mạnh dạn trao quyền cho GV (đề cao vai trò lãn đạo hoạt động dạy và học của GV) 8- HT thể hiện sự nhiệt tâm, trách nhiệm và đầy tình yêu thương học trò 9- HT thường xuyên có mặt trong trường và tăng cường tham dự những sinh hoạt của học sinh 10- HT thường xuyên trau dồi kỹ năng giao tiếp, biết lắng nghe 11- Khuyến khích phụ huynh tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường và làm cho phụ huynh hiểu rõ vai trò của họ 12- HT luôn suy nghĩ để học hỏi, để đổi mới và nâng cao uy tín của mình trong NT 2. Vận dụng thực tiễn: Việc phát triển VH NT thông qua việc đổi mới quản lý nâng cao chất lượng giáo dục, và thực hiện cuộc vận động " xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" tại ngành giáo dục huyện Tiên Yên. Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực đã khiến mối quan hệ thầy - trò trong NT bắt đầu có sự thay đổi. Vị trí trung tâm của người thầy giáo không còn ở nghĩa nguyên thuỷ và đã bắt đầu dịch chuyển sang học sinh. Thầy giáo không chỉ đơn thuần truyền thụ kiến thức cho học trò tiếp nhận mà còn là sự phản ảnh trở lại của trò. Trong thời đại bùng nổ thông tin, khi học sinh có nhiều kênh tiếp nhận thông tin thì trường học phải là kênh duy nhất truyền đạt kiến thức một cách có hệ thống, trong đó, thầy giáo đóng vai trò là người hướng dẫn. Trên quan điểm như vậy, khoảng 3 năm trở lại đây, Ngành giáo dục đào tạo huyện Tiên Yên đã chỉ đạo các trường học trong huyện khuyến khích ý thức tự giác học tập của học sinh, chẩn bị bài mới trước khi đến lớp để có thể hình dung trước những khái niệm, kiến thức sẽ phải tiếp thu và khắc sâu. Trong năm học này, giáo viên trong ngành đều quán triệt phải tăng cường kiểm tra bài học sinh, qua đó góp phần giúp các em có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói một cách có hệ thống, tự tin khi trình bày trước tập thể. Trường THCS Thị trấn được phòng GD&ĐT Tiên Yên chọn để triển khai thí điểm phong trào "trường học thân thiện, học sinh tích cực" ; phát động trong học sinh tham gia dự thi làm ĐDDH sau các tiết học. Đây là cách để kiểm tra mức độ vận dụng của học sinh đồng thời cũng là cơ hội để các em tham gia cải tiến giờ dạy có chất lượng cao hơn. Các trường trong huyện tiến hành xây dựng "trường học thân thiện, học sinh tích cực" thông qua những buổi ngoại khoá, chào cờ đầu tuần được các NT lồng ghép kể chuyện về tấm gương các danh nhân, anh hùng liệt sĩ tiêu biểu của quê hương; giới thiệu các hình thức diễn xướng đặc trưng của huyện. Phát động xây dựng và hoàn thiện nhân cách cho học sinh khi phát động phong trào "Không nói tục chửi thề", "Gọi bạn xưng tên", "Kính trên nhường dưới, lễ phép với thầy cô giáo, người lớn tuổi" Tuy nhiên, để học sinh có điều kiện "tích cực", ngoài hoạt động giảng dạy của giáo viên, thì tổ chức sinh hoạt Đội phải ở mức quy mô liên đội mới có hiệu quả, thu hút sự tham gia của đa phần học sinh. Mục tiêu của "học sinh tích cực" là học sinh được tham gia các hoạt động trong NT một cách chủ động, được bộc lộ quan điểm, rèn luyện các kỹ năng và hình thành quan hệ tốt trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè. một số trường trong huyện đã tổ chức những hoạt động như Trò chơ dân gian, hội thảo về phương pháp học tập, các buổi văn nghệ, thể thao, trò chơi để học sinh tự tham gia nhằm rèn luyện kỹ năng mềm để ứng dụng vào cuộc sống như thuyết trình, xây dựng hình ảnh bản thân, phương pháp làm việc nhóm Từ phong trào xây dựng "trường học thân thiện, học sinh tích cực", các trường học đã hướng đến một tham vọng lớn hơn: xây dựng một môi trường sư phạm thực sự lành mạnh, trong đó, học sinh biết bảo vệ danh dự của NT, của tập thể lớp và của chính bản thân mình; biết bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai Và để làm được điều này, cần phải có sự chung tay của cả gia đình và cộng đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xay Dung Van Hoa Nha Truong
  • Văn Hóa Tổ Chức Trong Nhà Trường Và Phương Hướng Xây Dựng
  • Chuyên Đề Xây Dựng Văn Hóa Nhà Trường
  • Khái Niệm Demon (Ma Quỷ) Trong Văn Hóa Phương Tây
  • Giải Mã Từ A Đến Z Vai Trò Và Khái Niệm Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Di Sản Văn Hóa Với Phát Triển Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Di Sản Văn Hóa Khai Niem Du Lich Ben Vung Doc
  • Khái Niệm Phân Loại Và Vai Trò Của Du Lịch
  • Điểm Du Lịch Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại
  • Tuyến Du Lịch Là Gì? Tuyến Du Lịch Quốc Gia Và Tuyến Du Lịch Địa Phương
  • Hướng Dẫn Viên Du Lịch Quốc Tế
  • Thực tế minh chứng di sản văn hóa tạo sức hấp dẫn vô cùng tận cho điểm đến du lịch. Di sản văn hóa là động cơ, là duyên cớ thôi thúc chuyến đi, là môi trường tương tác và là những trải nghiệm đáng giá cho du khách, qua đó trở thành tài nguyên, nguồn lực chiến lược cho phát triển du lịch. Cũng chính sức cuốn hút ấy của di sản văn hóa đã tạo nên những làn sóng đầu tư vào du lịch di sản, những dòng khách du lịch tấp nập đổ về; người người, nhà nhà làm du lịch…Điều đó mang lại không chỉ những kết quả tăng trưởng lan tỏa nhiều mặt về kinh tế-xã hội, mà còn bảo tồn chính di sản văn hóa. Nhưng cũng chính quá trình vận động du lịch ồ ạt thiếu kiểm soát ở nhiều nơi đang gieo rắc không ít những tác động tiêu cực tới di sản văn hóa trở thành những hệ lụy phải trả giá đắt. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đòi hỏi các bên cùng hành động, có những biện pháp kiểm soát thích đáng để bảo tồn và phát huy bền vững đối với di sản văn hóa trong phát triển du lịch.

    Di sản văn hóa tạo động lực cho du lịch: Di sản văn hóa là tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng nhiều khách tham quan trong nước và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hiện nay, ngành du lịch xem đây là nền tảng, trụ cột quan trọng để phát triển kinh tế du lịch bên cạnh các yếu tố về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành và nguồn nhân lực. Di sản văn hóa cũng là công cụ hỗ trợ tích cực trong việc định vị hình ảnh, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam.

    Chúng ta có quyền tự hào về bề dày lịch sử ngàn đời của đất nước với 54 dân tộc anh em đã để lại cho hôm nay một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo. Đến nay đã có 24 di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di sản thiên nhiên được UNESCO vinh danh là di sản thế giới; trong đó có 8 di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể (Vịnh Hạ Long, Hoàng Thành Thăng Long, quần thể danh thắng Tràng An, Thành Nhà Hồ, Phong Nha Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Di tích Mỹ Sơn); 12 di sản văn hóa phi vật thể (Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ, Lễ hội Gióng, Ca Trù, Hát Xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh, Nghi lễ kéo co, Đờn ca Tài tử Nam Bộ; Bài Chòi Trung Bộ); và 4 di sản tư liệu (Bia Tiến sỹ Văn Miếu Quốc Tử Giám, Mộc bản Triều Nguyễn, Châu bản Triều Nguyễn, Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang). Cùng với đó là hàng vạn di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh được công nhận di sản. Chỉ tính riêng di sản văn hóa vật thể ước tính có hơn 3.000 di sản cấp quốc gia và khoảng 7.500 di sản cấp tỉnh và nhiều công trình di tích vẫn đang được thống kê; hệ thống các lễ hội, làng nghề truyền thống; văn hóa ẩm thực của các vùng miền, của các dân tộc; các di sản văn hóa văn nghệ dân gian…

    Trên cơ sở phát huy các giá trị di sản văn hóa đặc trưng riêng có của mỗi loại hình di sản, những năm gần đây, du lịch di sản đã phát triển mạnh mẽ, lượng khách tham quan trong nước và quốc tế không ngừng gia tăng, đặc biệt di sản sau khi được Nhà nước lập hồ sơ công nhận và được UNESCO vinh danh. Sức hấp dẫn của di sản đã tạo động lực cho phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích về thu nhập, việc làm và phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Cụ thể như Quần thể di tích cố đô Huế, năm 2022 đón 3 triệu lượt khách du lịch, trong đó 1,8 triệu khách du lịch quốc tế, thu được 320 tỷ đồng riêng từ vé tham quan; Phố cổ Hội An đón 1,96 triệu lượt khách, thu về 219 tỷ đồng riêng từ vé tham quan. Các di sản nổi tiếng như Hạ Long, Phong Nha-Kẻ Bàng, Tràng An, Yên Tử, Núi Bà Đen… những năm gần đây không ngừng được đầu tư phát triển. Qua đó, du lịch di sản đã đóng góp to lớn vào sự phát triển vượt bậc của ngành du lịch thời gian qua. Cụ thể giai đoạn từ 2010 đến nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp hơn 2,5 lần, từ 5 triệu lượt năm 2010 lên 12,9 triệu lượt năm 2022, trung bình tăng 14,5% năm (đặc biệt năm 2022 tăng tới 29,1% so với 2022). Khách du lịch nội địa tăng gấp 2,6 lần, từ 28 triệu lượt năm 2010 lên 73,2 triệu lượt năm 2022, tăng trung bình 14,6%. Tổng thu du lịch tăng trên 5 lần, từ 96.000 tỷ năm 2010 lên 510.000 tỷ năm 2022, trung bình tăng 26,9%, đóng góp trên 7% GDP và tác động lan tỏa trên 13,9% GDP; tạo ra trên 1,2 triệu việc làm trực tiếp và 3,6 triệu việc làm gián tiếp. Nhiều sản phẩm du lịch di sản đã trở thành thương hiệu đặc trưng cho du lịch Việt Nam. Đặc biệt, di sản văn hoá còn là yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt cho hệ thống điểm đến và sản phẩm du lịch của Việt Nam, kết nối và đa dạng hoá các tuyến du lịch xuyên vùng và quốc tế.

    Du lịch phát huy giá trị di sản văn hóa: Trên thế giới, du lịch văn hóa đã từ lâu và sẽ mãi mãi là trường phái hay dòng sản phẩm du lịch cơ bản. Đặc biệt đối với các quốc gia, vùng lãnh thổ có chiều sâu văn hóa đo bằng hệ thống di sản đậm đặc như nước ta thì du lịch di sản trở thành một trong những thế mạnh nổi trội. Ngày nay, du lịch di sản hướng thu hút khách tìm đến những giá trị về nguồn, tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm để thẩm thấu những giá trị di sản văn hóa đậm đà bản sắc của các dân tộc, các tộc người. Ở nước ta, chủ trương phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được thể hiện trong Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Du lịch văn hóa vì vậy là một dòng sản phẩm chủ đạo của du lịch Việt Nam, từ tham quan di tích lịch sử văn hóa, hệ thống bảo tàng, các công trình văn hóa, hoạt động nghệ thuật, cho tới tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm văn hóa, lễ hội, lối sống địa phương, thưởng thức ẩm thực, sản vật vùng miền…

    Có thể khẳng định, du lịch đã thúc đẩy việc bảo vệ kho tàng văn hóa của quốc gia. Chính nhu cầu tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách đã thôi thúc chính quyền và người dân biết quý trọng, tự hào, quan tâm chăm lo gìn giữ bảo tồn, phục dựng và làm sáng tỏ, phát huy những giá trị vốn quý của di sản văn hóa. Hoạt động du lịch dựa vào di sản ở nhiều nơi như Huế, Hội An, Hạ Long…đã và đang trở thành cơ sở, động lực sinh kế chính, ngành nghề chủ yếu của người dân cũng như ngành kinh tế chủ lực của địa phương. Du lịch di sản vừa tạo ra thu nhập, việc làm vừa tạo động cơ, vừa tạo ra nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị di sản; đồng thời hỗ trợ tích cực nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng cường hiểu biết, tôn trọng đa dạng và giao thoa các nền văn hóa, làm cơ sở hình thành quy tắc ứng xử phù hợp giữa người dân với khách du lịch và với di sản. Những lợi ích của du lịch di sản là không nhỏ và được chia sẻ đến doanh nghiệp, người dân. Một phần doanh thu từ du lịch di sản được quay trở lại tái đầu tư vào việc bảo tồn, tôn tạo, tôn vinh, phục dựng và quản lý di sản. Với ý nghĩa đó, du lịch di sản đóng góp to lớn cho bảo tồn và phát huy bền vững di sản văn hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Sở Lý Luận Về Du Lịch Và Phát Triển Du Lịch Sinh Thái
  • Du Lịch Sinh Thái Và Các Đặc Điểm Chủ Yếu
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Phát Triển Du Lịch
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Loại Hình Du Lịch Phượt Trong Giới Trẻ Hiện Nay, Hot
  • Định Nghĩa Phượt Là Gì ?
  • Khái Niệm Phát Triển Nguồn Nhân Lực

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Hình Thức Đào Tạo Và Phát Triển Nguồn Nhân Lực
  • Nguồn Nhân Lực Và Vai Trò Nguồn Nhân Lực Trong Tổ Chức
  • Khái Niệm Ngân Hàng Thương Mại Và Chức Năng Của Nhtm Là Gì?
  • Khái Niệm Về Ngân Hàng Thương Mại
  • Khái Niệm Và Phân Loại Ngân Hàng Thương Mại
  • Theo Nguyễn Hữu Dũng (2004), phát triển nguồn nhân lực được hiểu qua mối quan hệ giữa sự lành nghề của dân cư với sự phát triển của đất nước. Đây là theo nghĩa hẹp mà theo đó, trình độ, kỹ năng của người lao động cần phải luôn phù hợp và đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề cũng như yêu cầu của nền kinh tế, đồng thời, trình độ phát triển của nền kinh tế cũng trở thành môi trường quan trọng để thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực .

    Một số nhà kinh tế Việt Nam cũng có những quan niệm tương tự với sự cụ thể hóa hơn về phát triển NNL, tiêu biểu như:

    Trần Xuân cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống lịch sử… Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm con người trưởng thành, có năng lực xã hội và tính năng động cao” . Trong nhận định này, chất lượng NNL được hiểu bao gồm: (1) thể lực của nguồn nhân lực (thể chất và tinh thần); (2) trí lực của nguồn nhân lực (trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ năng của người lao động); (3) phẩm chất tâm lý xã hội (tính kỷ luật, tự giác, trách nhiệm, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp…). Nhận định này nhấn mạnh đến các hình thức triển khai, cách thức thực hiện cùng với những giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng NNL, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

    Còn theo chúng tôi Phạm Đức Thành và chúng tôi Mai Ọuốc Chánh (2001) trong Giáo trình Kinh tế lao động thì phát triển NNL được hiểu là quá trình làm tăng kiến thức, kỹ năng, năng lực và trình độ của cá nhân người lao động được họ hoàn thành công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ [42]. Theo khái niệm này thì phát triển NNL xét trên phạm vi phát triển con người thì đó là sự gia tăng giá trị cho con người về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng…lẫn thể chất.

    Từ sự phân tích các quan niệm về phát triển nguồn nhân lực nêu trên, trong luận án này, tác giả cho rằng, phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu người lao động được phản ánh qua kiến thức, kỹ năng, năng lực, trình độ, đạo đức để ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển ngày càng cao của tổ chức và xã hội.

    Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Nhân Lực Là Gì
  • Nguồn Nhân Lực Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Nguồn Nhân Lực
  • Khái Niệm Nguồn Nhân Lực
  • Bài 9: Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Việt Nam
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100