Khái Niệm Siêu Văn Bản

--- Bài mới hơn ---

  • Góp Phần Tìm Hiểu Các Khái Niệm Sự Vật Và Thuộc Tính
  • Sự Vật Là Gì? Tại Sao Sự Vật Hay Đi Cùng Với Hiện Tượng?
  • Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam
  • Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Tội Phạm Theo Luật Hình Sự Mới 2022
  • Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự
  • Khái Niệm Siêu Văn Bản, Tờ Rơi Khai Trương Siêu Thị, Hàng Siêu Trường, Siêu Trọng Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm Xâu, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm C/o, Khái Niệm C, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm P, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm, Khái Niệm Xã Hội Học, Khái Niệm Xã Hội Hóa, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Erp, Khái Niệm Về Số 0, Khái Niệm Về Tục Ngữ, Khái Niệm G, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Xã Hội, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Vô ơn, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm 511, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Oda, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm B/l, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm ê Tô, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm Url, Khái Niệm Usb, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ưu Thế Lai, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm Tk 632, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm U Xơ, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm Uml, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm ước, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Văn Hóa, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Đất, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Về 5s,

    Khái Niệm Siêu Văn Bản, Tờ Rơi Khai Trương Siêu Thị, Hàng Siêu Trường, Siêu Trọng Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Gdp, Khái Niệm Phó Từ, Khái Niệm Xâu, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm C/o, Khái Niệm C, Khái Niệm Giá Trị, Khái Niệm P, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm, Khái Niệm Xã Hội Học, Khái Niệm Xã Hội Hóa, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Erp, Khái Niệm Về Số 0, Khái Niệm Về Tục Ngữ, Khái Niệm G, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Xã Hội, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Vô ơn, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm 511, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Yêu,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Số Thực Là Gì (R Là Tập Số Gì), Định Nghĩa & Tính Chất Số Thực
  • Số Thực Là Gì, Khái Niệm Cơ Bản Về Tập Hợp Số Thực R Và Ví Dụ
  • Khái Niệm Sức Khỏe Cho Người Mới Cần Biết
  • Định Nghĩa: Sức Khỏe Là Gì?
  • Thế Nào Là Nhận Thức Đúng Về Sức Khỏe Toàn Diện
  • Một Số Khái Niệm Văn Bản Và Văn Bản Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Tin Học Lớp 6
  • Khái Quát Về Văn Miêu Tả
  • Luật Bảo Vệ Bí Mật Nhà Nước 2022
  • Đề Cương Ôn Tập Hk2 Tin 10 2022
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Cách Làm Một Số Dạng Văn Nghị Luận
  • Article Index

    2.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật.

    Để tiến hành rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả, cần nắm vững một số khái niệm sau đây:

    2.1.1. Khái niệm văn bản

    Văn bản được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

    Theo nghĩa rộng, văn bản được hiểu là một phương tiện để ghi nhận và truyền đạt các thông tin, quyết định từ chủ thể này sang chủ thể khác bằng một ký hiệu hay ngôn ngữ nhất định nào đó. Ví dụ: các văn bản pháp luật, các công văn, tài liệu, giấy tờ.

    Theo nghĩa hẹp, văn bản được hiểu là các tài liệu, giấy tờ có giá trị pháp lý nhất định, được sử dụng trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, các tổ chức kinh tế…

    Từ khái niệm văn bản, có thể xác định được khái niệm văn bản quy phạm pháp luật.

    Khái niệm này đã được thể hiện trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (năm 1996).

    2.1.2. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. (Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996)

    Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

    1. Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, Luật (bao gồm Bộ luật và Luật), Nghị quyết.

    Văn bản do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành: Pháp lệnh, Nghị quyết.

    2. Văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác ở Trung ương ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đó là:

    a) Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước;

    b) Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;

    c) Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;

    d) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

    đ) Nghị quyết, Thông tư liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị , tổ chức chính trị – xã hội.

    3. Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; Văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp:

    a) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

    b) Quyết định, Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân.

    b) Là văn bản được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự, thủ tục quy định đối với từng hình thức văn bản tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 101/CP ngày 23.9.1997 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    c) Là văn bản có chứa các qui tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần, đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương. Văn bản quy phạm pháp luật không chỉ đích danh một sự việc cụ thể mà chỉ dự liệu trước những điều kiện, hoàn cảnh xảy ra; khi đó con người tham gia các quan hệ xã hội mà văn bản điều chỉnh phải tuân theo quy tắc xử sự nhất định.

    d) Là văn bản được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng biện pháp như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và các biện pháp về tổ chức, hành chính, kinh tế. Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài đối với người vi phạm (chế tài hành sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự.v.v…).

    Những văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng không có đủ 4 yếu tố trên thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn A vì có hành vi đánh cãi nhau, vi phạm điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 49/CP ngy 15/8/1996, hoặc Quyết định của Bộ trưởng Bộ X. về việc bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính đối với Trần Văn B, là một công chức đang công tác tại Bộ X.

    2.1.4. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhưng có kèm theo một văn bản dưới tên gọi khác như: Điều lệ, Quy chế, Bản quy định. Văn bản này là bộ phận không thể tách rời với văn bản quy phạm pháp luật. Hiệu lực của văn bản này phụ thuộc vào hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật mà nó được ban hành kèm theo. Tự bản thân văn bản này không thể tồn tại độc lập với đầy đủ các yếu tố của văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: Quy chế thực hiện dân chủ ở xã được ban hành kèm theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ; hoặc Quy chế về cơ sở giáo dục ban hành kèm theo Nghị định số 32/CP ngày 14/4/1997 của Chính phủ.

    2.1.5. Điều ước quốc tế.

    Điều ước quốc tế – một trong những hình thức văn bản pháp lý chủ yếu chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế. Theo Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế (năm 1998) thì điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế.

    Tên gọi của điều ước quốc tế rất khác nhau: Hiệp ước, Hiệp định, Công ước, Định ước, Nghị định thư, Công hàm trao đổi.v.v….

    Ví dụ: Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được ký kết ngày 19 tháng 10 năm 1998.

    Thông cáo là văn bản để thông báo công khai một quyết định hay một sự kiện quan trọng về đối nội, đối ngoại (ví dụ: Thông cáo về kết quả phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Thông cáo của Bộ Ngoại giao về chuyến đi thăm chính thức Cộng hoà Liên bang Nga của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

    Thông báo là văn bản để thông tin về hoạt động của cơ quan Nhà nước nhằm truyền đạt kịp thời các quyết định của cơ quan có thẩm quyền (ví dụ: Thông báo của Bộ Tư pháp số 2335/TB-BTP ngày 20/12/2000 về việc thực hiện chế độ nghỉ hưu đối với công chức theo quy định của pháp luật hiện hành).

    – Công văn (công thư) là văn bản giao dịch chính thức giữa các cơ quan Nhà nước với nhau hay giữa các cơ quan Nhà nước với đoàn thể, tổ chức xã hội; để trình với cấp trên một đề án, một dự thảo văn bản; đề nghị cơ quan cấp trên giải quyết một việc cụ thể; giải quyết đề nghị của cơ quan cấp dưới; đôn đốc cơ quan cấp dưới thực hiện các quyết định của cấp trên.

    – Công điện là văn bản để thông tin hoặc truyền đạt nhanh lệnh của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền trong những trường hợp cần thiết và cấp bách mà bằng cách gửi công văn thông thường sẽ không kịp thời gian. (Ví dụ Công điện của Thủ tướng Chính phủ gửi ủy ban nhân dân các tỉnh về phòng, chống bão, lũ lụt…)

    2.1.7. Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản áp dụng pháp luật.

    Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành trên cơ sở các quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm pháp luật. Đây là các văn bản mang tính cá biệt, chỉ áp dụng một lần như quyết định bổ nhiệm, nâng bậc lương, khen thưởng, kỷ luật; quyết định xử phạt vi phạm hành chính; quyết định hay bản án của Tòa án.

    2.2 Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật 2.2.1. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật:

    Theo Điều 75, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được tính như sau:

    – Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố.

    Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật này quy định cụ thể ngày có hiệu lực khác thì áp dụng theo quy định đó. Ví dụ: Luật Hôn nhân và Gia đình số 22/2000/QH10 quy định tại Điều 109 là luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2001, thì hiệu lực của luật tính từ thời điểm này mà không tính từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố.

    – Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước có hiệu lực từ ngày đăng Công báo, trừ trường hợp văn bản có quy định ngày có hiệu lực khác.

    – Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác ở Trung ương ban hành có hiệu lực sau mười lăm ngày kể từ ngày ký hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu có quy định tại văn bản đó. Ví dụ: Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày 03/02/2000, căn cứ vào Điều 38 của Nghị định nói trên.

    – Đối với văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp thì có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn.

    2.2.2. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật.

    Theo Điều 76, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới có thể được quy định hiệu lực trở về trước. Nói chung, đối với các trường hợp mà văn bản quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lýhoặc quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn thì văn bản đó không quy định hiệu lực trở về trước.

    2.2.3. Những trường hợp ngưng hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

    Theo Điều 77, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật ngưng hiệu lực trong những trường hợp sau:

    – Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ thi hành, thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc:

    + Không bị hủy bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực;

    + Bị hủy bỏ thì văn bản hết hiệu lực.

    – Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải quy định rõ tại quyết định đình chỉ thi hành, quyết định xử lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền .

    – Quyết định đình chỉ, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải được đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Ví dụ: Nghị định số 18/CP ngày 24/02/1997 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực ngân hàng. Nghị định này đã bị tạm hoãn thi hành bằng Quyết định số 764/TTg ngày 10/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ (đăng trên Công báo số 20, năm 1997, trang 1342).

    2.2.4. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực.

    Theo Điều 78, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hay một phần trong các trường hợp sau:

    – Hết thời hạn có hiệu lực ghi trong văn bản;

    – Được thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan Nhà nước đã ban hành văn bản đó;

    – Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

    – Văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của văn bản hết hiệu lực cũng đồng thời hết hiệu lực cùng với văn bản đó, trừ trường hợp được giữ lại toàn bộ hay một phần vì còn phù hợp với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới. ở đây, cần lưu ý một điểm là trong thực tế, rất nhiều trường hợp văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau chỉ quy định ngắn gọn tại phần “Điều khoản thi hành” một câu “Những quy định trước đây trái với văn bản này đều bị bãi bỏ”. Điều này dẫn đến sự lúng túng của người thực hiện vì có thể giải thích khác nhau và hiểu khác nhau. Có người cho là trái, có người cho là không trái với văn bản mới, do đó dẫn đến hiện tượng áp dụng không thống nhất vì không biết là những quy định trong các văn bản cũ trái hay vẫn còn phù hợp.

    2.2.5. Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng.

    Theo Điều 79, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì:

    – Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước Trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam, trừ trường hợp văn bản có quy định khác. Ví dụ: Luật khiếu nại, tố cáo ngày 02/12/1998 quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Luật này có hiệu lực trong phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam và được áp dụng đối với mọi công dân, cơ quan, tổ chức trong việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

    – Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân có hiệu lực trong phạm vi địa phương. Ví dụ: Chỉ thị số 27/CT-UB-NC ngày 10/8/1996 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc triển khai thực hiện Nghị định số 19/CP ngày 06/4/1996 của Chính phủ ban hành Quy chế giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với những người vi phạm pháp luật. Chỉ thị này có hiệu lực trong phạm vi địa bàn hành chính của thành phố Hồ Chí Minh.

    – Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực đối với cơ quan, tổ chức, người nước ngoài ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật của Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. Ví dụ: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 06/7/1995 quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 5 về việc cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

    2.2.6. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.`

    Theo Điều 80, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì:

    – Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực, trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó;

    – Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn;

    – Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật quy định về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau;

    – Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

    2.3 Tiêu chí đánh giá văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình rà soát, hệ thống hoá.

    2.3.1. Tiêu chí hợp hiến, hợp pháp, thống nhất.

    Đây là tiêu chí đặc biệt quan trọng đối với các văn bản quy phạm pháp luật. Sự vi phạm tiêu chí này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị pháp lý của chính văn bản quy phạm pháp luật đó. Tiêu chí pháp lý được thể hiện cụ thể như sau:

    a. Văn bản quy phạm pháp luật phải là văn bản được ban hành đúng thẩm quyền.

    Thẩm quyền về nội dung và thẩm quyền về hình thức trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước đã được quy định từ Điều 13 đến Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và tại Nghị định số 101/CP ngày 23/9/1997 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật này (xem Phụ lục 4a). Nếu trái với các quy định tại các văn bản nói trên thì văn bản pháp luật đó không đảm bảo tiêu chí pháp lý.

    b. Văn bản quy phạm pháp luật phải có nội dung phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên.

    c. Nội dung của văn bản quy phạm pháp luật phải đồng bộ, không mâu thuẫn, chồng chéo:

    + Tính đồng bộ thể hiện ở sự thống nhất giữa các quy định trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm trong một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể;

    + Mâu thuẫn, là giữa các văn bản đã ban hành điều chỉnh một vấn đề lại có các quy định khác nhau, thậm chí trái ngược nhau;

    + Chồng chéo: Là trường hợp các văn bản do nhiều cơ quan ban hành cùng quy định về một vấn đề (giống nhau hoặc trái ngược nhau).

    2.3.2. Tiêu chí thứ hai: tính phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật.a. Văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với thực tế tình hình kinh tế – xã hội.

    Sự phù hợp này thể hiện ở việc các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không bị “tụt hậu” hoặc “vượt xa” thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước hay của từng địa bàn khu vực. Ví dụ: sau Đại hội Đảng lần thứ VI, khi bước vào kinh tế thị trường, vẫn có những tỉnh ra quyết định không cho nông dân bán nông sản dư thừa – đây là một quyết định “tụt hậu”.

    b. Văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với văn hoá, truyền thống, phong tục, tập quán tiến bộ của dân tộc.

    Các yếu tố văn hoá, truyền thống, phong tục, tập quán và pháp luật trong quá trình phát triển có ảnh hưởng lẫn nhau, cùng tạo ra sức mạnh chung. Nếu văn bản quy phạm pháp luật đi chệch hoặc trái với tiêu chí văn hoá, phong tục, tập quán của dân tộc thì khó phát huy được tác dụng. Về áp dụng phong tục, tập quán. Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”. Đây là một quy định phù hợp với điều kiện Việt Nam.

    c.Văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với đối tượng tác động.

    Để văn bản quy phạm pháp luật được mọi người tự giác thực hiện, các quy định trong văn bản đó phải phản ánh được các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Do vậy, các quy định pháp luật về trách nhiệm của cá nhân hay tổ chức cần phải phù hợp với điều kiện vật chất, tinh thần, độ tuổi, tâm sinh lý, trình độ nhận thức của người thi hành… thì mới đảm bảo được khả năng thi hành cao.

    Nguồn: sotuphap.angiang.gov.vn

    Author: Social Learning Network

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Khái Niệm Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Lý Thuyết Tin Học 10 Bài 14: Khái Niệm Về Soạn Thảo Văn Bản (Hay, Chi Tiết).
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Bài: Văn Bản
  • Soạn Bài Văn Bản Lớp 10
  • Bài 26. Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng
  • Khái Niệm Soạn Thảo Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • .:tra Cứu Tài Liệu Online:.
  • Những Điểm Mới Trong Nghị Định Số 30/2020/nđ
  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Khi Sửa Đổi, Bổ Sung Nghị Định Số 34/2016/nđ
  • Bài 14: Khái Niệm Soạn Thảo Văn Bản
  • Khái Niệm Và Các Vấn Đề Cơ Bản
  • Trang chủHướng dẫn trình bày văn bản

    Khái niệm soạn thảo văn bản 

    Soạn thảo văn bản là một trong những chức năng chính của người thư ký. Để có thể soạn thảo văn bản được tốt, người thư ký cần phải nắm vững các điều cơ bản như sau:

     

    Khái niệm hệ thống văn bản Nhà nước:

    1. Văn bản pháp quy là văn bản chứa các quy tắc chung để thực hiện văn bản luật, do cơ quan quản lý hành chính ban hành.

    2. Văn bản hành chính là loại văn bản mang tính thông tin quy phạm Nhà nước. Nó cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy, giải quyết

    những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý.

     

    Hình thức văn bản pháp quy:

    1. Nghị định: do Chính phủ ban hành để quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của người dân theo Hiến pháp và Luật do Quốc hội ban hành.

    2. Nghị quyết: do Chính phủ hoặc Hội đồng nhân dân các cấp ban hành về các nhiệm vụ kế hoạch, chủ trương chính sách và những công tác khác.

    3. Quyết định: do Thủ trưởng các cơ quan thuộc Nhà nước hoặc Hội Đồng nhân dân các cấp ban hành. Quyết định để điều hành các công việc cụ thể trong đơn vị về các mặt tổ chức, nhân sự, tài chính, kế hoạch, dự án hoặc bãi bỏ các quyết định của cấp dưới.

    4. Chỉ thị: do Thủ trưởng các cơ quan thuộc Nhà nước ban hành hoặc Hội đồng nhân dân các cấp ban hành. Chỉ thị dùng để đề ra chủ trương, chính sách, biện pháp quản lý, chỉ đạo công việc, giao nhiệm vụ cho các bộ phận dưới quyền.

    5. Thông tư: để hướng dẫn giải thích các chủ trương chính sách và đưa ra biện pháp thực hiện các chủ trương đó.

    6. Thông cáo: thông báo của chính phủ đến các tầng lớp nhân dân về một quyết định phải thi hành hoặc một sự kiện quan trọng khác.

     

    Hình thức văn bản hành chính:

    1. Công văn: là giấy tờ giao dịch về công việc của cơ quan đoàn thể, ví dụ như: công văn đôn đốc, công văn trả lời, công văn mời họp, công văn giải thích, công văn yêu cầu, công văn kiến nghị, công văn chất vấn.

    2. Báo cáo: dùng để trình bày cho rõ tình hình hay sự việc, ví dụ như: báo cáo tuần, báo cáo tháng, báo cáo quý, báo cáo năm, báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất, báo cáo chuyên đề, báo cáo hội nghị.

    4. Biên bản: bản ghi chép lại những gì đã xảy ra hoặc tình trạng của một sự việc để làm chứng về sau. Ví dụ: biên bản hội nghị, biên bản nghiệm thu, biên bản hợp đồng, biên bản bàn giao.

     

    (Theo Cẩm Nang Thư Ký)

    [Trở về]

    Các tin đã đăng:

    • Phương pháp lập một bản báo cáo
    • Những yêu cầu khi soạn thảo một bản báo cáo
    • Công văn là gì ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Văn Bản Tự Sự Là Gì, Văn Tự Sự Là Gì, Đặc Điểm, Yêu Cầu
  • Tổng Hợp Những Điểm Mới Của Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022
  • Items Là Gì ? (Từ Điển Anh Phân Biệt Các Khái Niệm Về Item
  • Lý Thuyết Chu Vi Hình Tam Giác
  • Hình Lăng Trụ Là Gì? Lăng Trụ Tam Giác Đều, Tứ Giác, Lục Giác
  • Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Thông Thường

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Di Chúc Bằng Văn Bản Là Gì ?
  • Công Chứng Là Gì? Phân Biệt Giữa Công Chứng Và Chứng Thực?
  • Kiến Nghị Hoàn Thiện Một Số Quy Định Của Luật Công Chứng
  • Cơ Sở Dữ Liệu Quốc Gia Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Thể Loại Văn Bản Của Đảng
  • Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Là Gì, Khái Niệm Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Thông Tư Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Là Gì, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Có Tên, Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Mẫu Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Có Đặc Điểm Gì, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Có Tên Loại, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Có Mấy Loại, Đặc Điểm Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Có Bao Nhiêu Loại Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Gồm Những Loại Nào, Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Chọn Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Khái Niệm Yêu Thương, 3 Khái Niệm Thích Thương Và Yêu, Khái Niệm Nào Dưới Đây Mô Tả Thương Mại Điện Tử C2c, Khái Niệm Ngân Hàng Thương Mại, Khái Niệm Thế Nào Là Hạnh Phúc, Khái Niệm Hạnh Phúc, Khái Niệm âm Chính, Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước Về Thông Tin Và Truyền Thông, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm Thông Tin, Khái Niệm Thế Nào Là Thông Tin, Bài 7 Khái Niệm Về Mạch Điện Tử Chỉnh Lưu, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Người Chấp Hành Xong Hình Phạt Tù, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Khái Niệm An Toàn Thông Tin, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm 1 Cửa Liên Thông, Khái Niệm Tai Nạn Giao Thông, Khái Niệm Truyền Thông, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Trình Bày Rõ Khái Niệm Giao Thông Là Gì, Khái Niệm An Toàn Giao Thông, Khái Niệm Hệ Thống Điện Quốc Gia, Khái Niệm Thông Tin Kinh Doanh, Thông Báo Niêm Yết Công Khai Thiệt Hại, Trình Bày Khái Niệm Giao Thông Là Gì, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Mẫu Bìa Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Trình Bày Khái Niệm Về An Toàn Giao Thông, Doanh Nghiệp Xã Hội Tại Việt Nam – Khái Niệm, Bối Cảnh, Chính Sách, Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Bảng Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Mẫu Bảng Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Niêm Yết Biên Bản Vi Phạm Hành Chính, Khái Niệm Hệ Thống Thông Tin, Ve Viec Niem Yet Thong Bao Cong Khai Van Ban Phan Chuia Data, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Thô Sơ Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Mẫu Tờ Khai Hàng Hóa Nhập Khẩu (thông Quan) Quy Định Tại Phụ Lục Iii Ban Hành Kèm Theo Thông Tư Số, Thủ Tục Hành Chính Bộ Công Thương, Thủ Tục Hành Chính Sở Công Thương Hà Nội, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Hoá Đơn Bán Hàng Thông Thường Có Phải Kê Khai Thuế Không, Chỉnh Hình Nhi Thực Hành [chấn Thương – Trauma], Mẫu Biên Bản Ghi Lời Khai Vi Phạm Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Đăng Ký Khai Sinh, Biên Bản Ghi Lời Khai Vi Phạm Hành Chính, Triển Khai Hệ Thống Bảo Hành, Mẫu Tờ Khai Cấp Giấy Thông Hành, Khái Niệm “dừng Xe” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Quy Tắc Giao Thông?, Chuyên Đề 7 Hệ Thống Thông Tin Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Hệ Thống Thông Tin Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thông Tư Ban Hành Chương Trình Bòi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên Mầm Non, Hướng Dẫn Về Việc Khen Thưởng Và Thi Hành Kỷ Luật Học Sinh Các Trường Phổ Thông, Thông Tư Hướng Dẫn Thi Hành Các Quy Định Về Minh Bạch Khai Tài Sản, Việc Ban Hành Các Văn Bản Lãnh Đạo, Chỉ Đạo, Triển Khai Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị, Các Quy Định, , Hướng Dẫn Số 823/hd-ct Ngày 20/5/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Quy Định Về Ban Hành Và Triển Khai Thực, Việc Ban Hành Các Văn Bản Lãnh Đạo, Chỉ Đạo, Triển Khai Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị, Các Quy Định,, Báo Cáo Công Khai Tài Chính Theo Thông Tư 61, Tờ Khai Quyết Toán Thuế Mẫu Số 02/qtt-tncn Ban Hành Kèm Theo Thông Tư Số 92/2015/tt-btc, Thủ Tục Hành Chính Sở Thông Tin Và Truyền Thông, Mẫu Tờ Khai Điều Chỉnh Bổ Sung Thông Tin Đăng Ký Thuế, Tờ Khai Điều Chỉnh Bổ Sung Thông Tin Đăng Ký Thuế, Văn Bản Hành Chính Thông Tư 01, Thông Tư 05 Thủ Tục Hành Chính, Thông Tư 55 Về Văn Bản Hành Chính, Thông Tư Văn Bản Hành Chính, Thông Tư 07 Thủ Tục Hành Chính, Hệ Thống Văn Bản Hành Chính, Thông Tư Số 01 Về Văn Bản Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Thông Báo, Thông Tư Số 05 Về Thủ Tục Hành Chính,

    Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Là Gì, Khái Niệm Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Thông Tư Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Là Gì, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Có Tên, Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Mẫu Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Có Đặc Điểm Gì, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Có Tên Loại, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Có Mấy Loại, Đặc Điểm Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Có Bao Nhiêu Loại Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Văn Bản Hành Chính Thông Thường Gồm Những Loại Nào, Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Chọn Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Khái Niệm Yêu Thương, 3 Khái Niệm Thích Thương Và Yêu, Khái Niệm Nào Dưới Đây Mô Tả Thương Mại Điện Tử C2c, Khái Niệm Ngân Hàng Thương Mại, Khái Niệm Thế Nào Là Hạnh Phúc, Khái Niệm Hạnh Phúc, Khái Niệm âm Chính, Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước Về Thông Tin Và Truyền Thông, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm Thông Tin, Khái Niệm Thế Nào Là Thông Tin, Bài 7 Khái Niệm Về Mạch Điện Tử Chỉnh Lưu, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Người Chấp Hành Xong Hình Phạt Tù, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Khái Niệm An Toàn Thông Tin, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm 1 Cửa Liên Thông, Khái Niệm Tai Nạn Giao Thông, Khái Niệm Truyền Thông, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Trình Bày Rõ Khái Niệm Giao Thông Là Gì, Khái Niệm An Toàn Giao Thông, Khái Niệm Hệ Thống Điện Quốc Gia,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 62: Ôn Tập Văn Bản Biểu Cảm
  • Tìm Hiểu Về Các Loại Văn Bản Thường Dùng Trong Văn Học
  • Khái Niệm Và Cách Sử Dụng Các Loại Văn Bản Trong Văn Học Việt
  • Văn Biểu Cảm Là Gì? Cách Làm Văn Biểu Cảm
  • Khái Niệm Văn Bản Nhật Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Là Gì? Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?
  • Văn Bản Thuyết Minh Là Gì?
  • Văn Thuyết Minh Là Gì, Phương Pháp Thuyết Minh, Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì? Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Phương Pháp Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Khái Niệm Thế Nào Là Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Khí Hậu, Khái Niệm Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Nhất Về Este, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Thời Tiết, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Khái Niệm ước Chung Lớn Nhất, Khái Niệm Nào Là Đầy Đủ Nhất Về Các Nguồn Gây ô Nhiễm Môi Trường Đất Hi, Khái Niệm “dừng Xe” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Quy Tắc Giao Thông?, Quan Niệm Nào Sau Đây Về Mặt Đối Lập Biện Chứng Là Quan Niệm Đúng Đắn Nhất, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Rủi Ro Tín Dụng, Quan Niệm Nào Sau Đây Về Phạm Trù Kết Quả Là Quan Niệm Đúng Nhất, Khái Niệm Nào Đúng Cho Máy Thu Hình, 1 Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Đúng Về Anken, Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khái Niệm Nào Đúng Về Quần Thể Sinh Vật, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Với Khối Chóp, Khái Niệm Quang Hợp Nào Dưới Đây Là Đúng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Khái Niệm Nào Dưới Đây Đúng Khi Nói Về Người Có Đạo Đức, Khái Niệm Nào Về Môi Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Nào Sau Đây Dùng Để Chỉ Hình Thức Tồn Tại Của Vật Chất Xét Về , 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Khái Niệm Nào Về Môi Trường Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Làn Đường Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn, Khái Niệm “khổ Giới Hạn Của Đường Bộ” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Của Văn Phạm Được Sử Dụng Trong Chương Trình Dịch, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Thô Sơ Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, 4 Khái Niệm Có Liên Quan Đến Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Quan Niệm ăn Uống Của Người Nhật, Quan Niệm Tình Yêu Của Người Nhật, Danh Sách 50 Công Ty Niêm Yết Tốt Nhất, ẩn Dụ Khái Niệm, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm Về Tục Ngữ, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm ăn, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Vô ơn, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm Văn Hóa, Khái Niệm 24/7, Khái Niệm âm Vị, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm Đạo Đức, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm Thờ ơ, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm 2g, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm Về Số 0, Khái Niệm âm Tố, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 131, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Uml, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm B/l, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm ước, Khái Niệm R&d, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Url,

    Khái Niệm Thế Nào Là Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Khí Hậu, Khái Niệm Văn Bản Nhật Dụng, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Nhất Về Este, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Khi Nói Về Thời Tiết, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Khái Niệm ước Chung Lớn Nhất, Khái Niệm Nào Là Đầy Đủ Nhất Về Các Nguồn Gây ô Nhiễm Môi Trường Đất Hi, Khái Niệm “dừng Xe” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Quy Tắc Giao Thông?, Quan Niệm Nào Sau Đây Về Mặt Đối Lập Biện Chứng Là Quan Niệm Đúng Đắn Nhất, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Rủi Ro Tín Dụng, Quan Niệm Nào Sau Đây Về Phạm Trù Kết Quả Là Quan Niệm Đúng Nhất, Khái Niệm Nào Đúng Cho Máy Thu Hình, 1 Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Đúng Về Anken, Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Xây Dựng Nông Thôn Mới, Khái Niệm Nào Đúng Về Quần Thể Sinh Vật, Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Với Khối Chóp, Khái Niệm Quang Hợp Nào Dưới Đây Là Đúng, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Khái Niệm Nào Dưới Đây Đúng Khi Nói Về Người Có Đạo Đức, Khái Niệm Nào Về Môi Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Nào Sau Đây Dùng Để Chỉ Hình Thức Tồn Tại Của Vật Chất Xét Về , 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Khái Niệm Nào Dùng Để Chỉ Triết Học Phương Tây Thế Kỷ Xv – Xvii, Khái Niệm Nào Về Môi Trường Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Làn Đường Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn, Khái Niệm “khổ Giới Hạn Của Đường Bộ” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Nào Của Văn Phạm Được Sử Dụng Trong Chương Trình Dịch, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Thô Sơ Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, 4 Khái Niệm Có Liên Quan Đến Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Quan Niệm ăn Uống Của Người Nhật, Quan Niệm Tình Yêu Của Người Nhật, Danh Sách 50 Công Ty Niêm Yết Tốt Nhất, ẩn Dụ Khái Niệm, Khái Niệm Dạy Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Nhật Dụng Là Gì? Hình Thức Và Ví Dụ Về Văn Bản Nhật Dụng
  • Bài 11: Ôn Tập Văn Bản Nhật Dụng
  • Văn Bản Nhật Dụng Là Gì ? Tổng Kết Văn Bản Nhật Dụng Lớp 9
  • Khái Niệm Về Các Giao Thức Mạng Máy Tính Quan Trọng
  • Bài Tập Toán Lớp 3: Bài Toán Giải Bằng Hai Phép Tính
  • Ký Hiệu Học Văn Hóa Và Khái Niệm Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Nội Dung Môn Học Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Pháp Luật Và Văn Bản Quy Phạm Nội Bộ
  • Trả Lời Của Bộ Tư Pháp Về Thế Nào Là Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Văn Bản Quy Định Chi Tiết
  • Hệ Thống Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Có thể nhận ra hai khuynh hướng qua động thái phát triển của ký hiệu học trong vòng mươi lăm năm trở lại đây. Khuynh hướng thứ nhất tập trung vào việc san định những khái niệm nền móng và xác lập các liệu pháp của sản phẩm. Tham vọng mô hình hoá một cách chính xác dẫn tới việc sáng lập bộ môn siêu ký hiệu học: đối tượng nghiên cứu của bộ môn này không phải là các văn bản như nó vốn dĩ mà là mô hình các văn bản, là mô hình của các mô hình, v.v… Khuynh hướng thứ hai lại dồn sự quan tâm vào hoạt động ký hiệu học của văn bản thực tế. Với khuynh hướng thứ nhất, nếu sự mâu thuẫn, thiếu hợp lí về phương diện cấu trúc, sự pha trộn các văn bản có kiến tạo khác nhau trong phạm vi tổ chức của một văn bản duy nhất, tính không xác định ngữ nghĩa chỉ là những dấu hiệu ngẫu nhiên, “không hoạt động”, bị loại khỏi siêu cấp độ mô hình hoá văn bản, thì với khuynh hướng thứ hai, chúng lại là những đối tượng được chú ý đặc biệt. Diễn đạt theo hệ thống thuật ngữ của Fecdinand de Saussure, có thể nói, đi theo hướng thứ nhất, nhà nghiên cứu xem xét lời nói như là sự vật chất hoá các luật lệ cấu trúc của ngôn ngữ; theo hướng thứ hai, sự chú ý của nhà nghiên cứu lại nhằm vào các bình diện ký hiệu có sự vênh lệch với cấu trúc ngôn ngữ. Nếu hướng thứ nhất được thực thi trong siêu ký hiệu học, thì hướng thứ hai tất yếu sẽ dẫn tới sự ra đời của môn ký hiệu học văn hoá. Sự ra đời của ký hiệu học văn hoá – một bộ môn khoa học có nhiệm vụ khảo sát sự tương tác giữa các hệ thống ký hiệu có cấu trúc khác nhau, khám phá sự vênh lệch, không đồng bộ tự bên trong của không gian ký hiệu học, nghiên cứu sự cần thiết phải hiểu biết nhiều ngôn ngữ văn hoá và ký hiệu học – sẽ góp phần quan trọng làm thay đổi các quan niệm ký hiệu học truyền thống. Trước hết, khái niệm văn bản sẽ phải thay đổi về cơ bản. Những định nghĩa khởi thuỷ về văn bản – loại định nghĩa thường nhấn mạnh bản chất thống nhất của ký hiệu, hoặc sự thống nhất không thể chia tách của các chức năng trong một ngữ cảnh văn hoá nhất định, hay những phẩm chất khác nào đấy – đều có ý muốn nói một cách kín đáo hay công khai, rằng văn bản là một phát ngôn bằng một ngôn ngữ bất kỳ nào đó. Quan niệm ấy lộ ra ngay sự khiếm khuyết của nó khi phải xem xét khái niệm văn bản trên bình diện ký hiệu học văn hoá. Người ta đã phát hiện ra rằng, một thông báo nào đó để có thể được xem là một “văn bản”, ít nhất, nó phải có hai lần được mã hoá. Chẳng hạn, một thông báo được xem là một “đạo luật” khác với đoạn miêu tả trường hợp phạm tội hình sự nào đó ở chỗ thông báo ấy vừa thuộc ngôn ngữ tự nhiên, vừa thuộc ngôn ngữ pháp luật, bởi lẽ, trong trường hợp thứ nhất, thông báo ấy sẽ sắp xếp một chuỗi ký hiệu có những ý nghĩa khác nhau, còn trong trường hợp thứ hai, đoạn miêu tả lại tổ chức ký hiệu có đôi chút phức tạp với một ý nghĩa duy nhất. Cũng có thể nói như thế về các văn bản thuộc loại “kinh khấn nguyện”.. Hơn nữa, vì ngữ cảnh văn hóa là hiện tượng phức tạp và không đồng chất, nên một văn bản có thể tham gia vào những quan hệ khác nhau với những cấu trúc tầng bậc khác nhau của nó. Cuối cùng, các văn bản, như những tổ chức có định giới và mang tính ổn định cao, thường có xu hướng chuyển từ ngữ cảnh này sang ngữ cảnh khác, và điều này thường xẩy ra với những tác phẩm nghệ thuật có tuổi thọ gần như trường cửu: khi chuyển qua ngữ cảnh văn hoá khác, chúng hành xử như một người cung cấp thông tin được chuyển sang một hoàn cảnh giao tiếp mới,- chúng kích hoạt trước tiên những bình diện tiềm ẩn trong hệ thống mã khoá của mình. Sự “chuyển mã của chính bản thân” cho phù hợp với hoàn cảnh như thế làm lộ ra sự tương đồng giữa hành vi ký hiệu của cá nhân và văn bản. Bởi vậy, một mặt, vì gần giống như một thế giới văn hoá vĩ mô, văn bản trở thành hiện tượng có ý nghĩa quan trọng hơn chính bản thân và sở đắc những đặc điểm của một mô hình văn hoá, mặt khác, nó có khuynh hướng thực hiện một tư cách độc lập tương tự như một cá nhân tự quyết.

    Vấn đề giao tiếp giữa văn bản với siêu văn bản sẽ là trường hợp đặc biệt. Một mặt, văn bản cá biệt này nọ trong quan hệ với ngữ cảnh văn hoá có thể giữ vai trò của một cơ chế miêu tả, mặt khác, đến lượt mình, nó có thể gia nhập vào các quan hệ giải mã và kiến tạo cấu trúc cùng với một số tổ chức siêu ngôn ngữ. Cuối cùng, văn bản này hay văn bản kia có thể thâu nhận vào bản thân cả những yếu tố văn bản lẫn những yếu tố siêu văn bản với tư cách là những cấu trúc ngầm đặc biệt, giống như các tác phẩm của Sterne, “Evgeni Onegin”, các văn bản có tính giễu nhại lãng mạn, hay hàng loạt tác phẩm của thế kỷ XX. Ở trường hợp này, các luồng giao tiếp vận động theo chiều dọc.

    Dưới ánh sáng của những gì đã nói, văn bản hiện lên trước mắt chúng ta không phải là sự thực hiện một thông báo bằng một ngôn ngữ nào đó, mà là một kiến tạo phức tạp, lưu giữ những mã khoá đa dạng có khả năng biến hoá các thông tin nhận được và làm nảy sinh những thông tin mới, giống như một máy phát thông tin có các đặc điểm của một nhân cách trí tuệ. Điều này làm thay đổi quan niệm về mối quan hệ giữa người tiêu dùng và văn bản. Thay vì công thức “người tiêu dùng giải mã văn bản”, cần có một công thức chính xác hơn: “người tiêu dùng giao tiếp với văn bản”. Anh ta cùng với văn bản tham gia vào những cuộc giao tiếp. Quá trình giải mã văn bản ngày càng trở nên vô cùng phức tạp, đang mất dần tính chất một lần và hữu hạn để tiến tới hoạt động quen thuộc với chúng ta, hoạt động giao tiếp ký hiệu học giữa con người với một cá nhân tự quyết, độc lập khác./

    Người dịch: Lã Nguyên

    Nguồn: Лотман Ю. М. – Избранные статьи. Т.I, Таллин, 1992.- стр 129 – 132.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Và Cấu Trúc Ngoài Văn Bản
  • Đặc Điểm Của Văn Nghị Luận
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Cách Làm Một Số Dạng Văn Nghị Luận
  • Đề Cương Ôn Tập Hk2 Tin 10 2022
  • Luật Bảo Vệ Bí Mật Nhà Nước 2022
  • Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Thông Thường
  • Khái Niệm Di Chúc Bằng Văn Bản Là Gì ?
  • Công Chứng Là Gì? Phân Biệt Giữa Công Chứng Và Chứng Thực?
  • Kiến Nghị Hoàn Thiện Một Số Quy Định Của Luật Công Chứng
  • Cơ Sở Dữ Liệu Quốc Gia Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Khái Niệm Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Là Gì, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Khái Niệm Câu Đặc Biệt, Khái Niệm Biết ơn, Khái Niệm Lòng Biết ơn, Khái Niệm 4 Thành Phần Biệt Lập, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Khái Niệm âm Mưu Và Thủ Đoạn Của Chiến Tranh Đặc Biệt, Khái Niệm Nào Sau Đây Cho Biết Độ Mạnh Yếu Của Điện Trường Tại Một Điể, Khái Niệm Nào Dưới Đây Cho Biết Độ Mạnh Yếu Của Điện Trường Tại Một Đ, Văn Bản Hành Chính Cá Biệt Là Gì, Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Mẫu Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Văn Bản Hành Chính Và Văn Bản Cá Biệt, Đặc Điểm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Dự Luật Đơn Vị Hành Chính Kinh Tế Đặc Biệt, Quyết Định Hành Chính Cá Biệt, Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Quyết Định Hành Chính Cá Biệt Là Gì, Khái Niệm Thế Nào Là Hạnh Phúc, Khái Niệm Hạnh Phúc, Nêu Hiểu Biết Của Thầy Cô Về Cải Cách Hành Chính ở Việt Nam, Khái Niệm âm Chính, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Bài 7 Khái Niệm Về Mạch Điện Tử Chỉnh Lưu, Khái Niệm Người Chấp Hành Xong Hình Phạt Tù, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Mẫu Bìa Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Doanh Nghiệp Xã Hội Tại Việt Nam – Khái Niệm, Bối Cảnh, Chính Sách, Mẫu Bảng Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Bảng Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Thông Tư Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Niêm Yết Biên Bản Vi Phạm Hành Chính, Phân Biệt Khác Nhau Của 3 Khái Niệm Tư Vấn Hướng Nghiệp, Hướng Nghiệp, Giáo Dục Hướng Nghiệp, Thủ Tục Hành Chính Đăng Ký Khai Sinh, Biên Bản Ghi Lời Khai Vi Phạm Hành Chính, Mẫu Biên Bản Ghi Lời Khai Vi Phạm Hành Chính, Quan Niệm ở Đời Phải Biết Sống Vì Nhau, Quan Niệm Khác Biệt Nhất Về Hôn Nhân Xưa Và Nay, Hướng Dẫn Số 823/hd-ct Ngày 20/5/2016 Của Tổng Cục Chính Trị Quy Định Về Ban Hành Và Triển Khai Thực, Việc Ban Hành Các Văn Bản Lãnh Đạo, Chỉ Đạo, Triển Khai Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị, Các Quy Định, , Việc Ban Hành Các Văn Bản Lãnh Đạo, Chỉ Đạo, Triển Khai Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị, Các Quy Định,, Bản Vẽ Khai Triển Biệt Thự, Truyện Cổ Tích Không Chỉ Dạy Ta Biết Yêu Biết Ghét Mà Còn Dạy Ta Biết ước Mơ, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Văn Bản Hành Chish Cá Biệt, Bài 12 Thực Hành Thí Nghiệm Nhận Biết, Báo Cáo Thực Hành Nhận Biết ánh Sáng Đơn Sắc, Hướng Dẫn Thi Hành Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt, Chủ Trương, Thái Độ, Quan Điểm Của Chính Phủ, Chính Quyền Cơ Sở Và Các Cơ Quan Đặc Biệt Của Các Nước, Giáo Trình Lý Luận Hành Chính Nhà Nước Học Viện Hành Chính, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm C/o, Khái Niệm 4p, Khái Niệm Iot, Khái Niệm 4m, Khái Niệm 5g, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm 511, Khái Niệm 500 Anh Em, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm 2g, Khái Niệm R&d, Khái Niệm 4r, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, Khái Niệm 4k, Khái Niệm 331, Khái Niệm 3g, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm 3r, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm C, Khái Niệm 3t, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Hợp âm 7, 5 Từ Chỉ Khái Niệm, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm 4g, Khái Niệm In Vết,

    Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Khái Niệm Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Là Gì, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Thông Thường, Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Khái Niệm Câu Đặc Biệt, Khái Niệm Biết ơn, Khái Niệm Lòng Biết ơn, Khái Niệm 4 Thành Phần Biệt Lập, 5 Khái Niệm Các Từ Loại Vận Dụng Để Nhận Biết, Khái Niệm âm Mưu Và Thủ Đoạn Của Chiến Tranh Đặc Biệt, Khái Niệm Nào Sau Đây Cho Biết Độ Mạnh Yếu Của Điện Trường Tại Một Điể, Khái Niệm Nào Dưới Đây Cho Biết Độ Mạnh Yếu Của Điện Trường Tại Một Đ, Văn Bản Hành Chính Cá Biệt Là Gì, Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Mẫu Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Văn Bản Hành Chính Và Văn Bản Cá Biệt, Đặc Điểm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Dự Luật Đơn Vị Hành Chính Kinh Tế Đặc Biệt, Quyết Định Hành Chính Cá Biệt, Soạn Thảo Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Quyết Định Hành Chính Cá Biệt Là Gì, Khái Niệm Thế Nào Là Hạnh Phúc, Khái Niệm Hạnh Phúc, Nêu Hiểu Biết Của Thầy Cô Về Cải Cách Hành Chính ở Việt Nam, Khái Niệm âm Chính, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Bài 7 Khái Niệm Về Mạch Điện Tử Chỉnh Lưu, Khái Niệm Người Chấp Hành Xong Hình Phạt Tù, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận, Mẫu Bìa Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Doanh Nghiệp Xã Hội Tại Việt Nam – Khái Niệm, Bối Cảnh, Chính Sách, Mẫu Bảng Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Bảng Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Thông Tư Hướng Dẫn Niêm Yết Thủ Tục Hành Chính, Niêm Yết Biên Bản Vi Phạm Hành Chính, Phân Biệt Khác Nhau Của 3 Khái Niệm Tư Vấn Hướng Nghiệp, Hướng Nghiệp, Giáo Dục Hướng Nghiệp, Thủ Tục Hành Chính Đăng Ký Khai Sinh, Biên Bản Ghi Lời Khai Vi Phạm Hành Chính, Mẫu Biên Bản Ghi Lời Khai Vi Phạm Hành Chính,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 62: Ôn Tập Văn Bản Biểu Cảm
  • Tìm Hiểu Về Các Loại Văn Bản Thường Dùng Trong Văn Học
  • Khái Niệm Và Cách Sử Dụng Các Loại Văn Bản Trong Văn Học Việt
  • Văn Biểu Cảm Là Gì? Cách Làm Văn Biểu Cảm
  • Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm
  • Bài 14: Khái Niệm Soạn Thảo Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Vấn Đề Cơ Bản
  • Tìm Hiểu Về Các Thể Loại Văn Bản Trong Văn Học Thường Gặp
  • Văn Bản; Văn Bản Nghệ Thuật
  • Đặc Điểm Của Văn Bản Nói Và Văn Bản Viết
  • Ban Hành Hệ Thống Quy Chế Quy Trình Chính Sách
  • §14: KHÁI NIỆM VỀ SOẠN THẢO VĂN BẢN

    1. Các chức năng chung của hệ soạn thảo văn bản.

    a. Nhập và lưu trữ văn bản.

    – Nhập: Kích chuột trái tại màn hình nền soạn thảo văn bản. Khi xuất hiện dấu nháy chuột ta

    tiến hành nhập văn bản. Hệ soạn thảo (HST) sẽ tự động xuống dòng khi hết dòng.

    – Lưu trữ văn bản:

    +) Chọn đường dẫn và nhập tên cần lưu vào ô File name

    +) Chọn Save hoặc Enter.

    b.Sửa đổi văn bản

    b.1) Sửa đổi ký tự hoặc từ

    HST văn bản cho phép chèn, xoá hoặc thay thế ký tự hay cụm từ nào đó để sửa chúng một cách nhanh chóng.

    b.2) Sửa đổi cấu trúc văn bản

    Khi làm việc với văn bản ta có thể thay đổi cấu trúc văn bản như: Xoá, sao chép, di chuyển, chèn thêm một đoạn văn bản hay hình ảnh có sẵn.

    c. Trình bày văn bản

    c.1) Định dạng ký tự

    – Phông chữ (.vntime, .vntimeH…….)

    – Cỡ chữ: cỡ 12, 14,15….

    – Kiểu chữ: đậm (B), nghiêng (I), gạch chân(U)

    – Màu chữ

    – Cách đánh chỉ số trên (Ctrl +Shift + =) và cách đánh chỉ số dưới (Ctrl + =)

    – Khoảng cách giữa các ký tự trong một cụm từ và giữa các từ với nhau.

    c.2) Định dạng đoạn văn bản

    – Vị trí lề trái, phải của đoạn văn;

    – Căn lề (trái, giữa, phải, đều 2 bên);

    – Dòng đầu tiên thụt vào hay nhô ra so với cả đoạn văn bản;

    – Khoảng cách giữa các đoạn văn

    – Khoảng cách giữa các dòng trong cùng một đoạn văn bản.

    c.3) Định dạng trang văn bản

    – Lề trên, lề dưới, lề trái, lề phải của trang

    – Hướng giấy (nằm ngang hay dọc)

    – Kích thước trang giấy;

    – Tiêu đề trên, tiêu đề dưới.

    d. Một số chức năng khác

    Tìm kiếm và thay thế

    – Cho phép gõ tắt hoặc tự động sửa lỗi khi gõ sai;

    – Tạo bảng và thực hiện tính toán, sắp xếp dữ liệu trong bảng;

    – Chia văn bản thành các phần với cách trình bày khác nhau;

    – Tự động đánh số trang, phân biệt trang chẵn và trang lẻ;

    – Chèn hình ảnh và ký hiệu đặc biệt vào văn bản;

    – Vẽ hình và tạo chữ nghệ thuật trong văn bản;

    – Kiểm tra chính tả, ngữ pháp;

    – Hiển thị văn bản dưới nhiều góc độ khác nhau.

    2. Một số quy ước trong việc gõ văn bản.

    a. Các đơn vị xử lý trong văn bản

    Ký tự (Character): Là đơn vị nhỏ nhất tạo thành văn bản.

    ví dụ: a, b, c, 1, 2, 3, +, -, *….

    Từ (Word): Một hoặc một vài ký tự ghép với nhau thành một từ. Các từ được cách nhau bởi dấu cách (Space) hoặc dấu ngắt câu.

    – Tập hợp nhiều từ kết thúc bằng một trong các dấu kết thúc câu gọi là câu

    ví dụ: Dấu chấm (.), dấu (?), dấu chấm than (!)

    Dòng văn bản (Line): Tập hợp các ký tự nằm trên cùng một hàng

    b. Một số quy ước khi gõ văn bản.

    – Các dấu ngắt câu như: (.), (,), (, (, (!), (?) phải được đặt sát vào từ đứng trước nó, tiếp theo là dấu cách nếu sau nó vẫn còn nội dung.

    – Giữa các từ chỉ dùng một ký tự trống để phân cách. Giữa các đoạn chỉ xuống dòng bằng một lần ấn phím Enter.

    3. Chữ Việt trong soạn thảo văn bản

    a) Xử lý chữ Việt trong máy tính

    Xử lý chữ Việt trong môi trường máy tính bao gồm:

    – Nhập văn bản chữ Việt vào máy tính.

    – Lưu trữ, hiển thị và in ấn văn bản chữ Việt.

    b. Gõ chữ Việt

    Có hai kiểu chữ Việt phổ biến hiện nay

    – Kiểu Telex

    – Kiểu VNI

    Hai kiểu gõ được trình bày SGK trang97

    c. Bộ mã chữ Việt

    +) Bộ mã chữ Việt dựa trên bộ mã ASCII

    – TCVN3 (hay ABC)

    – VNI

    +) Bộ mã chung cho các ngôn ngữ của các quốc gia trên thế giới : Unicode

    d. Bộ Phông chữ Việt

    – Phông bộ mã TCVN3:

    +) Phông chữ thường: .Vntime, .VnArial

    +) Phông chữ hoa: .VntimeH, .VnArialH

    – Phông dùng bộ mã Unicode: Time new Roman, Arial.

    e) Các phần mềm hỗ trợ chữ Việt

    Hiện nay đã có một số phần mềm tiện ích như : Kiểm tra chính tả, sắp xếp, nhận dạng chữ Việt.

    Share this:

    Like this:

    Like

    Loading…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Đặt Ra Khi Sửa Đổi, Bổ Sung Nghị Định Số 34/2016/nđ
  • Những Điểm Mới Trong Nghị Định Số 30/2020/nđ
  • .:tra Cứu Tài Liệu Online:.
  • Khái Niệm Soạn Thảo Văn Bản
  • Khái Niệm Về Văn Bản Tự Sự Là Gì, Văn Tự Sự Là Gì, Đặc Điểm, Yêu Cầu
  • Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Công Vụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì? Phân Tích Khái Niệm Vbqppl
  • Quy Phạm Pháp Luật Và Văn Bản Qppl Là Gì?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì ? Quy Định Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022
  • Điểm Mới Của Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022
  • 1. Khái niệm: Đơn được viết ra giấy ( theo mẫu hoặc không theo mẫu) để đề đạt mọi nguyện vọng với một người hay một cơ quan, tổ chức có quyền hạn giải quyết nguyện vọng đó.

    – Đơn phải trình bày trang trọng, ngắn gọn và sáng sủa theo một số mục nhất định. Những nội dung bắt buộc trong đơn là: Đơn gửi ai? Ai gửi đơn? Gửi để đề đạt nguyện vọng gì?

    – Phần mở đầu: Quốc hiệu và tiêu ngữ, địa điểm làm đơn và ngày tháng năm làm đơn, tên đơn, nơi gửi đơn.

    + Họ tên, nơi công tác hoặc nơi ở của người viết đơn.

    + Trình bày sự việc, lí do và nguyện vọng (đề nghị).

    + Địa điểm làm giấy đề nghị và ngày tháng năm.

    + Tên văn bản: Giấy đề nghị (hoặc Bản kiến nghị).

    + Nêu sự việc, lí do và ý kiến cần đề nghị với nơi nhận.

    + Địa điểm làm báo cáo và ngày tháng.

    + Nêu lí do , sự việc và các kết quả đã làm được.

    + Địa điểm và thời gian làm tường trình.

    + Người (cơ quan) nhận bản tường trình.

    + Nội dung tường trình: người viết trình bày thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc, nguyên nhân vì đâu, hậu quả thế nào, ai chịu trách nhiệm. Thái độ tường trình nên khách quan, trung thực.

    – Phần kết thúc: Lời đề nghị hoặc cam đoan, chữ kí và họ tên người tường trình.

    – Văn bản thông báo phải cho biết rõ ai thông báo, thông báo cho ai, nội dung công việc, quy định về thời gian, địa điểm,… phải cụ thể, chính xác.

    – Văn bản thông báo phải tuân thủ thể thức hành chính, có ghi tên cơ quan, số công văn, quốc hiệu và tiêu ngữ, tên văn bản, ngày tháng, người nhận, người thông báo, thì mới có hiệu lực.

    + Tên cơ quan chủ quản và đơn vị trực thuộc ( góc trên bên trái).

    + Địa điểm và thời gian làm thông báo

    – Phần nội dung: Nội dung thông báo.

    + Nơi nhận ( phía dưới bên trái).

    + Kí tên và ghi đầy đủ họ tên, chức vụ của người có trách nhiệm thông báo ( phía dưới bên phải).

    Lời văn của biên bản cần ngắn gọn, chính xác.

    – Phần mở đầu ( thủ tục): Quốc hiệu và tiêu ngữ (đối với biên bản sự vụ hành chính), tên biên bản, thời gian, địa điểm, thành phần tham gia và chức trách của họ.

    – Phần nội dung: Diễn biến và kết quả của sự việc.

    – Phần kết thúc: Thời gian kết thúc, chữ kí và họ tên của các thành viên có trách nhiệm chính, những văn bản hoặc hiện vật kèm theo ( nếu có).

    Lời văn của hợp đồng phải chính xác chặt chẽ.

    – Phần mở đầu: Quốc hiệu và tiêu ngữ, tên hợp đồng, thời gian, địa điểm, họ tên, chức vụ, địa chỉ của các bên kí kết hợp đồng.

    – Phần nội dung: Ghi lại nội dung của hợp đồng theo từng điều khoản đã được thống nhất.

    – Phần kết thúc: Chức vụ, chữ kí, họ tên của đại diện các bên tham gia kí kết hợp đồng và xác nhận bằng dấu của cơ quan hai bên ( nếu có).

    Lời văn ngắn gọn, súc tích, tình cảm chân thành.

    Những tin mới hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Hành Chính Thông Dụng Là Gì? Các Loại Văn Bản Hành Chính
  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Tính Chuẩn Xác, Hấp Dẫn Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Các Hình Thức Kết Cấu Của Văn Bản Thuyết Minh
  • Phương Pháp Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Đặc Điểm Và Tính Chất Của Văn Bản Thuyết Minh Là Gì? Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Muốn nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển, trước tiên phải có một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó. Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hóa. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định nghĩa nào thoả mãn được cả về định tính và định lượng. Điều đó, theo tôi, có những nguyên nhân sau đây:

    Trước hết, trong số những người nghiên cứu văn hóa, hoặc, như người ta thường gọi, những nhà văn hóa, ngoài những định kiến và những hạn chế có tính chất lịch sử, rất nhiều người bị mắc những bệnh nghề nghiệp. Họ thường qui văn hóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể, thường bói văn hóa, cũng như bói cuộc sống nói chung, theo kiểu thầy bói xem voi, bằng cách xem xét những bộ phận cá biệt của nó chứ chưa có một cách tiếp cận tổng thể.

    Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa. Khi đề cập đến nó mỗi người có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của họ là điều dễ hiểu.

    Thứ ba, giống như tất cả các ngành khoa học xã hội khác, ngành văn hóa học có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài trong lịch sử loài người. Trong quá trình lịch sử đó nội dung của khái niệm văn hóa cũng thay đổi theo.

    Tôi cho rằng văn hóa, nói một cách giản dị, là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau. Thông qua mỗi một chu kỳ của sự phát triển, dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác, cái còn lại được gọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hóa.

    Ở đây, tôi gần gũi với cựu Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng địinh bản sắc riêng của mình”.

    Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt. Trong thực tế, không có sự giống nhau tuyệt đối.

    Gần đây, có ý kiến cho rằng trên thế giới đang diễn ra hiện tượng xâm lược về văn hóa như là sự tiếp tục của những cuộc xâm lược bằng súng đạn và kinh tế. Tôi không đồng ý như vậy. Bởi văn hóa là hoà bình, văn hóa là không xâm lược. Cảm giác bị xâm lược, nếu có, chẳng qua là cái cảm giác và sĩ diện của kẻ yếu. Chúng ta đang sống trong một thế giới duy nhất và cũng có thể nói là thống nhất. Chúng ta phải bắt đầu từ mô hình kinh tế mà từng mô tả bằng hình ảnh “con tàu vũ trụ”. Trái đất là một kho chứa hữu hạn các nguồn năng lượng sống và toàn cầu hóa là một quá trình để tiết kiệm nguồn năng lượng ấy bằng cách đảm bảo không sản xuất thừa, không sử đụng nguyên liệu một cách bừa bãi trên phạm vi toàn cầu. Nhưng cùng với quá trình hội nhập về mặt kinh tế còn có một quá trình khác luôn luôn tồn tại bên cạnh, và thậm chí đã đi trước, đó là sự hội nhập về mặt văn hóa. Sự hội nhập về mặt văn hóa chính là quá trình con người đi tìm ngôn ngữ chung cho một cuộc sống chung. Quan niệm về sự xâm lược văn hóa là quan niệm của những cộng đồng người chỉ có kinh nghiệm hình thành trong quan hệ phát triển lưỡng cực, những kinh nghiệm chiến tranh, nhất là chiến tranh lạnh. Văn hóa không phải là ý thức của tôi, của anh hay của bất kỳ ai, mà thuộc về con người một cách tự nhiên. Con người khi sống chung với nhau sẽ gây ảnh hưởng lẫn nhau. Đến phương Tây ta sẽ nhìn thấy rằng trong ngôi nhà nào của người Mỹ, người Anh, người Pháp…cũng có một vài vật dụng gì đó, một vài thứ souvenirs gì đó từ phương Đông. Đôi khi trong xã hội phương Tây người ta có xu hướng xem sự hiện hữu của một vài kỷ vật, một vài đồ trang trí từ phương Đông như là dấu hiệu của tầng lớp thượng lưu hoặc văn minh. Đó là sự đan xen lẫn nhau của cuộc sống, đấy là sự chung sống hoà bình của quá khứ, và đấy cũng chính là cơ sở văn hóa của sự chung sống hoà bình trong tương lai.

    2. Văn hóa và văn minh

    Hai khái niệm rất hay bị đồng nhất này tuy rất gần gũi nhưng thực ra không phải là một và chỉ có thể coi như đồng nghĩa trong một vài trường hợp cụ thể, chẳng hạn khi người ta đối lập văn minh với bạo tàn.

    Thông thường, văn minh được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của nhân loại đến một thời kỳ lịch sử nào đó. Một số nhà nghiên cứu, chẳng hạn , sử dụng chúng để phân chia lịch sử thành văn minh tiền nông nghiệp, văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Có quan điểm lại cho rằng văn minh là một khái niệm rộng hơn văn hóa, rằng văn minh là sự tổng hoà của văn hóa và xã hội, là sự thể hiện được những hình thức thực tiễn cụ thể của văn hóa trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống như lao động sản xuất, lối sống, hành vi ứng xử…

    Trong thực tế, chúng ta thấy có những tộc người chưa có văn minh vẫn có văn hóa của mình. Đôi khi trên sách báo, chúng ta gặp những nhận xét, đánh giá độ cao thấp của các nền văn minh, trong khi đó lại có những người cho rằng các nền văn hóa thực ra là như nhau, rằng việc chúng ta đánh giá cái này cao hơn, cái kia mạnh hơn là do cách nhìn của chúng ta, còn các nền văn minh, những nền văn hóa ở Aztec chẳng hạn, từ cách đây mấy nghìn năm cũng không kém gì nền văn minh ở phương Tây hiện nay…

    Tôi nghĩ rằng, tất cả những nhà nghiên cứu về văn hóa đang lấy cái mẫu của thời xưa, khi chỉ cần sự ngăn cách về địa lý là đủ để ngăn cách các cộng đồng người. Nhân loại hiện đại, bằng các phương tiện của mình, không còn bị giam hãm bởi các khái niệm khu trú như vậy. Nếu như các nhà nghiên cứu văn hóa của thế kỷ XXII mà vẫn lấy hình mẫu của thế kỷ XX để noi theo thì chắc chắn cũng vẫn đi đến những kết luận khác với những kết luận của những nhà nghiên cứu văn hóa của thế kỷ XX.

    Chúng ta phải phân biệt nghiên cứu về văn hóa như một quá trình vận động, như một yếu tố xã hội, với nghiên cứu lịch sử văn hóa, nghĩa là xem xét nó như một phiên bản tĩnh. Chúng ta cũng không nên phê phán những người lấy sự phát hiện và phân biệt những khía cạnh khác nhau của các nền văn minh làm mục đích nghiên cứu. Bởi vì họ nghiên cứu lịch sử văn hóa chứ không phải nghiên cứu văn hóa. Văn hóa đang và sẽ còn bớt đần sự cát cứ, còn nghiên cứu lịch sử văn hóa thì không bao giờ có sự cát cứ như vậy. Nói như vậy không có nghĩa là không có sự khác nhau về ảnh hưởng. Một cộng đồng lớn sẽ có khả năng tạo ra một vùng ảnh hưởng lớn hơn, đa dạng hơn, bởi càng đông thì tính đa dạng càng lớn. Tính đa dạng về mặt tính cách của con người sẽ tạo ra tính đa dạng về mặt đời sống văn hóa. Sự lan toả của một cộng đồng lớn sẽ mạnh hơn.

    Tuy vậy, khi nghiên cứu văn hóa không nên đặt mục tiêu là xác định nó lớn hay bé, mà nên xem nó có độc đáo hay không, có lạ lẫm hay không, có những sáng tạo gì, có đóng góp gì và đặc biệt là nó có đóng góp gì cho văn hóa chung của nhân loại. Tôi nghĩ rằng nghiên cứu như thế mới giúp ta tìm ra được giá trị thật của văn hóa.

    3. Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

    Theo tôi, cách phân chia văn hóa thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần là không thật hợp lý và thấu đáo. Nó phản ánh lối tư duy lưỡng phân điển hình, ảnh hưởng của những định kiến về tư tưởng cần phải xoá bỏ.

    Thực ra, lối phân chia như thế cũng có tác dụng nào đó. Nó cho ta một cái nhìn tuy khá thô thiển nhưng bao quát về những lĩnh vực đời sống của con người: những sản phẩm tinh thần như khoa học, văn học nghệ thuật, các phong tục tập quán…và những sản phẩm vật chất như đồ đạc, nhà cửa, đường xá…Tuy nhiên, thật khó, và ngày càng khó phân biệt rạch ròi đâu là sản phẩm vật chất, đâu là sản phẩm tinh thần. Mặt khác, không có sản phẩm tinh thần nào lại không được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định và cũng như không có một sản phẩm vật chất nào lại không mang trong nó những giá trị tinh thần. Thật vậy, những nhà cửa, đường phố, cầu cống, và ngay cả những vật dụng tầm thường nhất, kể cả những sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt, cũng là hiện thân của những giá trị văn hóa, thể hiện bản sắc dân tộc, trí tuệ và tài năng của những người làm ra chúng.

    Hiểu được mối liên hệ mật thiết không thể tách rời của những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất là điều vô cùng quan trọng. Liệu chúng ta có thể chỉ sử dụng những giá trị vật chất có nguồn gốc ngoại lai mà không hề bị ảnh hưởng bởi các giá trị tinh thần bao hàm trong đó hay không? Liệu chúng ta có thể trở thành một mắt xích trong hệ thống sản xuất đang trong quá trình toàn cầu hóa vũ bão mà vẫn nguyên vẹn là một người ngoài cuộc về văn hóa hay không?

    Việc hiểu không thấu đáo quan hệ giữa vật chất và tinh thần dẫn đến những lý luận, thoạt nhìn có vẻ rất thanh cao, chẳng hạn cho rằng ngoài khát vọng làm giàu vật chất, cần phải có khát vọng làm giàu về văn hóa. Tôi không nghĩ như vậy. Thế nào là giàu, thế nào là nghèo? Tôi không nghĩ rằng có một dân tộc nào trên đời này không có văn hóa của mình. Mọi cộng đồng người hễ tồn tại đều có yếu tố tinh thần, mà đã có yếu tố tinh thần thì có văn hóa. Vì thế một câu hỏi đại loại như: “Nước Mỹ có văn hóa không?” là câu hỏi ngớ ngẩn.

    Có một luận điểm khác không kém phần cực đoan, cho rằng về mặt đời sống vật chất thì nhân loại đã đi được rất nhiều sau vài thiên niên kỷ, còn về tư tưởng thì đứng nguyên tại chỗ hoặc cùng lắm thì đi được không đáng kể. Thật ra con người đã đi những bước dài cả về vật chất lẫn tinh thần, trong đó những bước đi về tinh thần còn lớn hơn nhiều những bước đi về vật chất, từ chủ nghĩa thần linh qua tôn giáo, đến triết học và các hệ giá trị, các hệ tư tưởng. Con người đang dần dần giải phóng mình ra khỏi các định kiến tinh thần. Đó là những bước đi khổng lồ, là nền tảng của sự phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ. NếuGalileoGalilei không tự giải phóng mình ra khỏi sự ràng buộc của giáo cục đoan thì làm sao bây giờ chúng ta có sự phát triển đến computer, đến Internet?

    Thái độ về sự giàu có vật chất phản ánh một khía cạnh quan trọng trong lịch sử phát triển lâu dài của tư tưởng nhân loại. Thời nào bên cạnh những kẻ say mê vật chất cũng có những người căm ghét sự giàu có. Họ cho rằng vật chất là nguồn gốc dẫn đến sự đồi bại về tinh thần. Lập luận của tôi rất đơn giản: con người sản xuất ra, chế tạo ra, nghe ra những thứ có ích cho con người thì trước hết phải vì yêu mến, vì am hiểu con người. Con người cần vật chất, và sự sùng bái vật chất là có thể hiểu được. Chúng ta cần điều chỉnh nó chứ không cần và cũng không thể tiêu diệt nó. Con người muốn sống trong những điều kiện vật chất ngày càng tốt hơn để có thêm không gian và thời gian thưởng thức chân giá trị của cuộc sống. Đó là điều hoàn toàn chính đáng, chỉ có sự tôn sùng vật chất một cách một chiều và thái quá mới cần lên án mà thôi. Trên thực tế có cả những người nghèo và những người giàu vô đạo. Nhưng người giàu thì ít mà người nghèo thì nhiều. Người giàu mà hư hỏng thì người ta để ý, còn người nghèo hư hỏng thì người ta không để ý. Vì vậy người ta thường lên án sự hư hỏng của người giàu chứ không lên án sự tha hóa của người nghèo. Ngay từ thời cổ đại, Platon đã nhận xét rằng sự nghèo cũng tồi tệ như những sự giàu. Những người nghèo sinh ra đố kỵ, thèm muốn của người khác, đó là cái xấu. Những người giàu sinh ra khinh người, coi thường kẻ khác, họ cho rằng chỉ có tiền là quan trọng nên khinh những người không có tiền, đó cũng là cái xấu.

    Vì vậy trạng thái quá nghèo khổ cũng đầy rẫy tội ác như trạng thái quá giàu có. Liệu chúng ta có thể tìm ra một khoảng hợp lý của sự giàu có trong xã hội hay không? Tôi không tin là có khoảng hợp lý đó. Ở mỗi thời điểm khi con người nhận ra một sự hợp lý thì cuộc sống đã bắt đầu dịch chuyển đến một trạng thái hợp lý khác.

    Trở lại với khái niệm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, như tôi đã nói, phân biệt như vậy là một sự phân biệt thô thiển. Nếu tôi thờ Phật, và nếu nhà tôi giàu thì tôi mua một pho tượng bằng đồng, còn nếu nhà tôi nghèo – tôi sẽ mua một pho tượng bằng gỗ. Nếu tôi không thể mua được một pho tượng bằng đồng hay bằng gỗ, thì tôi mua một bức tranh. Nhưng thái độ văn hóa của tôi với Phật giáo không hề vì thế mà thay đổi. Vật chất chỉ là phương tiện để thể hiện những giá trị tinh thần trong đời sống văn hóa mà thôi.

    4. Về tính giai cấp và tính lịch sử

    Giống như tất cả các lĩnh vực của đời sống văn hóa, một lĩnh vực được xem xét khác nhau dưới các góc độ khác nhau. , tất cả các hiện tượng được nhìn nhận theo quan điểm văn hóa học đều phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan, đặc biệt là: quyền lợi kinh tế, quan điểm và định kiến chính trị, bản chất tâm lý… Đó là những lý do khiến người ta hay nhấn mạnh đến cái gọi là tính giai cấp của văn hóa. Nhưng theo tôi, đó là một quan điểm sai lầm.

    Chúng ta cần phải phân biệt văn hóa với tư cách là một hiện tượng khách quan và những cách lý giải văn hóa, bao giờ cũng mang tính chủ quan. Tôi luôn phản đối cái gọi là thuyết giai cấp. Sự phân loại văn hóa theo giai cấp là một sự phân loại hời hợt. Đạo đức thuộc về con người mà con người có những số phận, những pha khác nhau của cuộc đời. Hôm nay anh là ông chủ, anh thuộc giai cấp bóc lột. Ngày mai anh vỡ nợ anh đi đạp xích lô thì anh thuộc giai cấp lao động. Chẳng lẽ, đạo đức của người ta thay đổi chỉ vì ngày hôm qua là ông chủ ngày hôm sau là người đạp xích lô? Tôi luôn nghĩ rằng đó chỉ là những pha khác nhau của cuộc đời một con người, còn đạo đức thuộc về con người chứ không thuộc vào những pha khác nhau của nó.

    Tôi xin đưa ra một ví dụ: thói đạo đức giả. Trong văn học, nghệ thuật ta thường gặp hình ảnh người cai trị xấu và tồi tệ, nhưng có lẽ trên thực tế không hoàn toàn là như thế. Liệu đây có phải là kết quả của một tâm lý nào đó hay thực sự tầng lớp thống trị xấu xa như vậy? Bên cạnh đạo đức giả của tầng lớp thống trị liệu có đạo đức giả của tầng lớp bị trị hay không? Theo tôi, có cả hai loại. Tầng lớp bị trị cũng nịnh hót, tranh thủ luồn lách, đó cũng là đạo đức giả Tầng lớp cai trị thì tham nhũng về vật chất hay tinh thần. Tham nhũng về vật chất để tư nhân hóa, cá thể hóa tài sản quốc gia, mượn nhà nước, mượn sức mạnh công cộng để bắt nạt thiên hạ… cho những mục tiêu, lợi ích cá nhân. Đạo đức giả thuộc về con người, không kể đó là giai cấp cai trị hay bị trị.

    Các hiện tượng văn hóa không chỉ được đánh giá tuỳ theo các yếu tố chủ quan mà còn tuỳ thuộc vào các điều kiện và hoàn cảnh khách quan.Ở mỗi thời điểm lịch sử, giá trị của một hiện tượng văn hóa cũng như ảnh hưởng của nó phụ thuộc và những điều kiện khách quan và tương quan các điều kiện khách quan ấy. Nếu lần theo đòng lịch sử, chúng ta sẽ thấy rằng những giá trị đó cũng luôn luôn biến đổi. Bao giờ cũng có những giá trị mới đang và sẽ sinh ra để thay thế những giá trị đã và đang lỗi thời. Chủ nghĩa phong kiến đã từng đóng vai trò tiến bộ nhưng rồi nó trở nên phản động và bị thay thế bởi CNTB. Sau đó đến lượt CNTB lại trở thành lỗi thời… chính vì thế, chúng ta có thể nói rằng văn hóa có tính lịch sử.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100