Thể Loại Sử Thi: Khái Niệm, Đặc Trưng, Phân Loại

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Tiếp Cận Mới Về Khái Niệm Sử Thi
  • Sản Xuất Hàng Hóa Là Gì? Ưu Thế Và Điều Kiện Để Sản Phẩm Trở Thành Hàng Hóa
  • Khái Niệm Sản Xuất Hàng Hóa
  • Sản Xuất Hàng Hóa Là Gì? Đặc Trưng Và Ưu Thế
  • Sản Xuất Hàng Hóa Và Các Quy Luật Kinh Tế Của Sản Xuất Hàng Hóa
  • Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

    2. Đặc trưng

    – Nội dung của sử thi có tính rộng lớn, kể về sự kiện trọng đại của quá khứ, biểu hiện toàn bộ đời sống văn hóa, lịch sử của cộng đồng, thể hiện quá trình vận động của tộc người đó qua các giai đoạn khác nhau.

    – Nghệ thuật: sử thi là những câu chuyện kể văn xuôi xen lẫn văn vần, có sử dụng các yếu thành ngữ, tục ngữ, những từ ngữ cổ, hình thức nghệ thuật ngôn từ dân gian.

    3. Phân loại sử thi a. Sử thi anh hùng dân gian

    – Ở dạng cổ xưa nhất của sử thi, tính anh hùng còn hiện diện trong vỏ bọc thần thoại hoang đường (các dũng sĩ không chỉ có sức mạnh chiến đấu mà còn có năng lực siêu nhiên, ma thuật, kẻ địch thì luôn hiện diện dưới dạng quái vật giả tưởng). Những đề tài chính được sử thi cổ xưa miêu tả: chiến đấu chống quái vật (cứu người đẹp và dân làng), người anh hùng đi hỏi vợ, sự trả thù của dòng họ.

    – Các dạng cổ điển của sử thi có nhân vật thường là các dũng sĩ kiêm thủ lĩnh và các chiến binh đại diện dân tộc ở tầm lịch sử; các kẻ thù của họ thường được đồng nhất với bọn xâm lược, những kẻ áp bức, ngoại bang và dị giáo (như người Turk, người Tartar với sử thi Slavơ).

    – Thời gian sử thi ở đây khác với sử thi dân gian, không còn là thời đại sáng chế các thần thoại, mà là quá khứ vinh quang trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc.

    – Được ca ngợi trong các dạng sử thi cổ điển là các nhân vật và biến cố lịch sử (hoặc ngụy lịch sử), mặc dù bản thân sự miêu tả các chất liệu lịch sử bị phụ thuộc vào sơ đồ cốt truyện truyền thống, đôi khi còn sử dụng cả mô hình nghi lễ thần thoại.

    – Các nền sử thi thường là các cuộc đấu tranh của hai bộ lạc hoặc bộ tộc, sắc tộc ít nhiều tương ứng với sự thật lịch sử (như cuộc chiến Troia trong Iliad, việc tranh đoạt Sampo trong Kalevala). Quyền lực được tập trung trong các nhân vật trung tâm có hành động tích cực là các ông vua của thế giới sử thi (như Karl Đại Đế trong bản Anh hùng ca Roland), hay các dũng sĩ. Các nhân vật nổi loạn, cách mạng xung đột với quyền lực (Akhillos trong Iliad, Đăm San trong khan Êđê, Robin Hud trong thiên ballade của Anh, các nhân vật trong Thủy hử ở Trung Hoa) xuất hiện ít ỏi trong giai đoạn tan rã hình thức cổ điển của sử thi anh hùng.

    – Những anh hùng ca, với tư cách là các tác phẩm sử thi anh hùng cỡ lớn, thể hiện sự tương quan giữa yếu tố cá nhân anh hùng và yếu tố sử thi tập thể rõ rệt, đủ để bộc lộ tính tích cực cá nhân, đã trở thành công cụ đắc lực cho sự biểu hiện yếu tố toàn dân, và dân tộc.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • So Sánh Là Gì? Có Mấy Kiểu So Sánh, Cho Ví Dụ Văn 6
  • Chương Trình Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên Mầm Non 2021
  • Giáo Viên Mầm Non Phải Học Quản Lý Cảm Xúc Bản Thân Khi Dạy Trẻ
  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Thường Xuyên Module Gvmn 3
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Chợ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Văn Bản Đi, Văn Bản Đến Và Quản Lý Con Dấu
  • Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Quy Trình Quản Lý Văn Bản Đi Và Đến Trong Doanh Nghiệp
  • Luận Văn: Quản Lý Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Từ Nguồn Vốn Ngân Sách Nhà Nước
  • Quản Lý Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Từ Ngân Sách Nhà Nước Của Thành Phố Hà Nội
  • Trên thực tế tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu mà có rất nhiều khái niệm khác nhau về chợ:

    • Theo định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt đang được lưu hành: “Chợ là nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày hoặc những buổi nhất định”1); “Chợ là nơi tụ họp giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hoá, thực phẩm hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên)…
    • Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ “Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội”.
    • Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư”.

    (1) Phạm vi chợ: là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như: bãi để xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh chợ.

    (2) Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng hoá lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác.

    (2) Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng được bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích quy chuẩn tối thiểu là 3 m 2/điểm.

    Từ những điểm hội tụ chung của nhiều định nghĩa, ta có thể rút ra kết luận: Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định.

    Chợ có những đặc trưng sau:

    • Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau.
    • Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc do quá trình nhận thức tự giác của con người. Vì vậy trên thực tế có nhiều chợ đã được hình thành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của các cấp chính quyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật. Nhưng cũng có rất nhiều chợ được hình thành một cách tự phát do nhu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá của dân cư, chưa được quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ.
    • Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường được diễn ra theo một quy luật và chu kỳ thời gian (ngày, giờ, phiên) nhất định. Chu kỳ họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ và tập quán của từng vùng, từng địa phương quy định.

    Theo từ điển Kinh tế thị trường: “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, dụng cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác”.

    Như vậy, những nét đặc trưng cơ bản của siêu thị khác với chợ là:

    • Siêu thị là một cửa hàng bán lẻ.
    • Siêu thị áp dụng phương thức tự phục vụ.
    • Giá ở siêu thị được niêm yết công khai.
    • Siêu thị thường chú trọng ở nghệ thuật trưng bày hàng hoá.
    • Siêu thị áp dụng các hình thức quản lý, bán hàng và thanh toán bằng những tiến bộ của khoa học, công nghệ (tin học, điện tử, khoa học xã hội trong bán hàng…).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Khái Niệm Xây Dựng Kế Hoạch Tổ Cm Nhung Kn Xay Dung Kh Doc
  • Quản Lý Nhà Nước Về Trật Tự Xây Dựng Đô Thị Trên Địa Bàn Quận Hoàng Mai
  • Luận Văn: Quản Lý Trật Tự Xây Dựng Đô Thị Tại Quận 12 Tphcm, Hot
  • Đề Tài: Quản Lý Về Trật Tự Xây Dựng Đô Thị Tại Tp Tây Ninh, Hay
  • Khái Niệm Vùng Ven Bớ Và Quản Lý Tổng Hợp Vùng Ven Bờ
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Khả Năng Của Một Doanh Nghiệp
  • Cạnh Tranh Là Gì? Cách Phân Loại Cạnh Tranh
  • Các Khái Niệm Về Chất Lượng Sản Phẩm
  • Khái Niệm Chất Lượng Dịch Vụ
  • Khái Niệm Về Chính Sách Công
  • Cùng với sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người luôn đi tìm động lực phát triển trong các hình thái kinh tế xã hội. Đã có thời kỳ, thị trường, cạnh tranh và lợi nhuận được coi như là mặt trái gắn liền với chủ nghĩa tư bản và bị gạt ra khỏi công cuộc xây dựng thể chế kinh tế thời kỳ kế hoạch hóa tập trung. Lúc đó, các Nhà nước xã hội chủ nghĩa coi việc nắm giữ sức mạnh kinh tế kết hợp với yếu tố kế hoạch tập trung như là những động lực cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công bằng, dân chủ và văn minh.

    Với đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam thực sự thực thi những nguyên lý của cơ chế thị trường chưa từng được biết đến trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Chúng ta đã dần quen với việc vận dụng một động lực mới của sự phát triển là cạnh tranh. Cạnh tranh đã đem lại cho thị trường và cho đời sống xã hội một diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội mà trước đây người ta chỉ tìm thấy trong sách vở, như phá sản, kinh doanh gian dối, cạnh tranh không lành mạnh. Qua hơn 20 năm phát triển nền kinh tế thị trường, cạnh tranh không còn mới mẻ trong đời sống kinh tế – xã hội và trong khoa học pháp lý của Việt Nam. Song, trong công tác lập pháp và thực thi pháp luật cạnh tranh, chúng ta còn quá ít kinh nghiệm. Vì thế, việc hệ thống hóa các lý thuyết cạnh tranh mà các nhà kinh tế học, các nhà khoa học pháp lý đã xây dựng qua gần 5 thế kỷ của nền kinh tế thị trường là điều cần thiết.

    Cho đến nay, các nhà khoa học dường như chưa thể thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh. Bởi lẽ với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng có của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học.

    Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh tranh được cuốn Black’Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba” 1.

    Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” 2.

    b. Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh

    Mặc dù được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, song theo các lý thuyết về kinh tế, cạnh tranh là sản phẩm riêng có của nền kinh tế thị trường, là linh hồn và là động lực cho sự phát triển của thị trường. Từ đó, cạnh tranh được mô tả bởi ba đặc trưng căn bản sau đây:

    Một, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh

    Với tư cách là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại những tiền đề nhất định sau đây:

    – Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau. Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể kinh doanh nhằm tranh giành hoặc mở rộng thị trường, đòi hỏi phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp trên thị trường. Một khi trong một thị trường nhất định nào đó chỉ có một doanh nghiệp tồn tại thì chắc chắn nơi đó sẽ không có đất cho cạnh tranh nảy sinh và phát triển. Mặt khác, khi có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp, song chúng chỉ thuộc về một thành phần kinh tế duy nhất thì sự cạnh tranh chẳng còn ý nghĩa gì. Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn nếu các doanh nghiệp thuộc về các thành phần kinh tế khác nhau với những lợi ích và tính toán khác nhau 3.

    – Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do hành xử trên thị trường. Tự do khế ước, tự do lập hội và tự chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm cơ hội phát triển trên thương trường. Mọi kế hoạch để sắp đặt các hành vi ứng xử, cho dù được thực hiện với mục đích gì đi nữa, đều hạn chế khả năng sáng tạo trong kinh doanh. Khi đó, mọi sinh hoạt trong đời sống kinh tế sẽ giống như những động thái của các diễn viên đã được đạo diễn sắp đặt trong khi sự tự do, sự độc lập và tự chủ của các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm khả năng sinh tồn và phát triển trên thương trường không được đảm bảo. Hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp. Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng4.

    Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trường, là thước đo sự thành đạt và là mục đích hướng đến của các doanh nghiệp. Kinh tế chính trị Macxít đã chỉ ra nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng dư mà nhà tư bản tìm kiếm được trong các chu trình của quá trình sản xuất, chuyển hoá giữa tiền – hàng.

    Trong chu trình đó, khách hàng và người tiêu dùng có vai trò là đại diện cho thị trường, quyết định giá trị thặng dư của xã hội sẽ thuộc về ai. Ở đó mức thụ hưởng về lợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người tiêu dùng trong xã hội.

    Hình ảnh của cạnh tranh sẽ được minh họa bằng quan hệ tay ba giữa các doanh nghiệp với nhau và với khách hàng. Các doanh nghiệp đua nhau lấy lòng khách hàng. Khách hàng là người có quyền lựa chọn người sẽ cung ứng sản phẩm cho mình. Quan hệ này cũng sẽ được mô tả tương tự khi các doanh nghiệp cùng nhau tranh giành một nguồn nguyên liệu.

    Hiện tượng tranh đua như vậy được kinh tế học gọi là cạnh tranh trong thị trường. Từng thủ đoạn được sử dụng để ganh đua được gọi là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trường làm cho người chiến thắng mở rộng được thị phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua cuộc chịu mất khách hàng và phải rời khỏi thị trường.

    Ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm.

    Với sự giục giã của lợi nhuận, nhà kinh doanh khi tham gia vào thị trường luôn ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường. Với sự giúp đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ chọn ra người thắng cuộc và trao cho họ lợi ích mà họ mong muốn.

    Các sản phẩm tương tự nhau của các doanh nghiệp khác nhau không thể thay thế cho nhau nếu chúng ở những vùng thị trường địa lý khác nhau vì sự khác nhau đó không đủ làm cho người tiêu dùng thay đổi thói quen sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp này bằng sản phẩm tương tự của doanh nghiệp khác không cùng một khu vực với nó, cho dù có sự thay đổi về giá cả và các điều kiện mua bán có gây bất lợi cho người tiêu dùng.

    (1) Bryan A. Garner, Black’ Law Dictionary (St. Paul, 1999), tr 278.

    (2) Dẫn theo Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam (NXB chính trị quốc gia, 2004), tr 19.

    (3) PGS. Nguyễn Như Phát, TS. Trần Đình Hảo, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam (NXB Công an nhân dân, 2001), chuyên đề “Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam có ảnh hưởng tới Pháp luật cạnh tranh” của PGS Lê Hồng Hạnh.

    (4) PGS. Nguyễn Như Phát & Ths. Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường (Hà Nội: NXB Công an nhân dân, 2001).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cạnh Tranh Là Gì ? Khái Niệm Về Cạnh Tranh ? Bản Chất Của Cạnh Tranh Là Gì ?
  • Khái Niệm Về Cạnh Tranh Và Sức Cạnh Tranh
  • Khái Niệm Cạnh Tranh Và Các Loại Hình Cạnh Tranh
  • Mô Hình Chủ Nghĩa Xã Hội
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Phân Tích Khái Niệm Và Đặc Trưng Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Download Nhung Van De Co Ban Ve Xay Dung Nha Nuoc Phap Quyen Xa Hoi Chu Nghia Viet Nam Cua Nhan Dan, Do Nhan Dan Va Vi Nhan Dan
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Và Vấn Đề Quy Hoạch Sử Dụng Đất Đai
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • Luận Văn:quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Tại Huyện Lệ Thủy,quảng Bình
  • Nguyên Tắc Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Có Hệ Thống Như Thế Nào?
  • Phân tích khái niệm nhà nước (hoặc Phân tích các đặc trưng của nhà nước)

    Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền.

    2 – Phân tích các đặc trưng của nhà nước

    a – Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội

    – Nhà nước là một trong các tổ chức của xã hội nhưng có quyền quản lý xã hội. Để quản lý xã hội, nhà nước phải có quyền lực. Quyền lực nhà nước là khả năng và sức mạnh của nhà nước có thể bắt các tổ chức và cá nhân trong xã hội phải phục tùng ý chí của nó.

    – Quyền lực nhà nước tồn tại trong mối quan hệ giữa nhà nước với các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Trong mối quan hệ này, nhà nước là chủ thể của quyền lực, các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội là đối tượng của quyền lực ấy, họ phải phục tùng ý chí của nhà nước.

    – Quyền lực nhà nước cũng tồn tại trong mối quan hệ giữa nhà nước với các thành viên cũng như các cơ quan của nó, trong đó thành viên phải phục tùng tổ chức, cấp dưới phải phục tùng cấp trên.

    – Quyền lực nhà nước có tác động bao trùm lên toàn xã hội, tới mọi tổ chức, cá nhân, mọi khu vực lãnh thổ và các lĩnh vực cơ bản của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…

    – Để quản lý xã hội, nhà nước có một lớp người tách ra khỏi lao động sản xuất để chuyên thực thi quyền lực nhà nước, họ tham gia vào bộ máy nhà nước để làm hình thành nên một hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, trong đó có các cơ quan bạo lực, cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, tòa án…

    Quyền lực và bộ máy chuyên thực thi quyền lực đó thì trong xã hội chỉ một mình nhà nước có nên quyền lực nhà nước là đặc biệt, nhờ có quyền lực và bộ máy chuyên thực thi quyền lực đó mà nhà nước có thể điều hành và quản lý xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội, phục vụ và bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền.

    b – Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ

    Neu như các tố chức xã hội khác tập hợp và quản lý dân cư theo mục đích, chính kiến, lý tưởng, nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính… thì nhà nước luôn lấy việc quản lý dân cư theo lãnh thổ làm điểm xuất phát. Người dân không phân biệt huyết thống, dân tộc, giới tính… cứ sống trên một khu vực lãnh thổ nhất định thì chịu sự quản lý của một nhà nuớc nhất định và do vậy, họ thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước ở nơi mà họ cư trú.

    Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình cũng theo địa bàn cư trú của họ hay theo các đơn vị hành chính – lãnh thổ. Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ và quản lý toàn bộ dân cư của minh theo từng đơn vị đó, vì thế, nhà nước là tổ chức có cơ sở xã hội và phạm vi tác động rộng lớn nhất trong quốc gia.

    c – Nhà nước nắm giữ và thực thi chủ quyền quốc gia

    Chủ quyền quốc gia là khái niệm chỉ quyền quyết định tối cao của quốc gia trong quan hệ đối nội và quyền độc lập tự quyết của quốc gia trong quan hệ đối ngoại.

    d – Nhà nước ban hành pháp luật và dùng pháp luật làm công cụ quản lý xã hội

    Nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng nhiều biện pháp: tuyên truyền, phố biến, giáo dục, thuyết phục, tố chức thực hiện, động viên, khen thưởng, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, do đó, pháp luật được triển khai và thực hiện một cách rộng rãi trong toàn xã hội.

    Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước và pháp luật là một trong những công cụ quản lý có hiệu quả nhất của nhà nước.

    đ – Nhà nước quy định và thực hiện việc thu thuế

    Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân buộc phải nộp cho nhà nước theo quy định của pháp luật. Nhà nước là một bộ máy được tách ra khỏi lao động sản xuất trực tiếp để chuyên thực hiện chức năng quản lý xã hội nên nó phải được nuôi dưỡng từ nguồn thuế do dân cư đóng góp, không có thuế bộ máy nhà nước không thể tồn tại được và thuế luôn là quốc sách của mọi nhà nước. Thuế còn là nguồn của cải quan trọng phục vụ cho việc phát triển các mặt của đời sống. Ngoài thuế, nhà nước còn có quyền phát hành tiền, công trái, vì thế, nhà nước có lực lượng vật chất to lớn, không chỉ có thể trang trải cho các hoạt động của nó, những hoạt động cơ bản của xã hội, mà còn có thế hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho một số tổ chức khác.

    Những đặc trưng trên chỉ một mình nhà nước có và thể hiện đầy đủ khái niệm nhà nước.

    Like fanpage Luật sư Online tại: https://www.facebook.com/iluatsu/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1: Khái Niệm Và Đặc Trưng Của Nhà Nước
  • Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương
  • Khái Niệm Độc Quyền Nhà Nước?
  • Vai Trò Của Thành Phần Kinh Tế Tư Bản Nhà Nước: Dự Báo Về Xu Hướng Phát Triển Của Nó Ở Việt Nam
  • Vai Trò Của Thành Phần Kinh Tế Tư Bản Nhà Nước
  • Bài 1: Khái Niệm Và Đặc Trưng Của Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Và Đặc Trưng Của Nhà Nước
  • Download Nhung Van De Co Ban Ve Xay Dung Nha Nuoc Phap Quyen Xa Hoi Chu Nghia Viet Nam Cua Nhan Dan, Do Nhan Dan Va Vi Nhan Dan
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Và Vấn Đề Quy Hoạch Sử Dụng Đất Đai
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • Luận Văn:quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Tại Huyện Lệ Thủy,quảng Bình
  • Tóm tắt lý thuyết

    Trong đời sống xã hội, mỗi con người là một thực thể tự nhiên, độc lập, có ý chí và lợi ích khác nhau, nhưng con người không thể tổn tại ngoài xã hội, không thể tách mình ra khỏi cộng đồng mà phải liên kết với nhau, xác lập quan hệ với nhau nhằm đạt được những mục đích vê vật chất, tinh thần. Lịch sử xã hội loài người đã từng biết đến những hình thái liên kết ấy. Nó có thể dựa trên các yếu tố tự nhicn như quan hệ huyết thống, gia đình; có thể dựa trên những nhu cầu về lợi ích vật chất như các phường hội của những người làm nghề buôn bán; có thể dựa trên những quan điểm chính trị như các đảng phái; hoặc các đặc trưng về nghề nghiệp như Hội Nhà văn, Hội Nhà báo… Nhưng một tổ chức có khả năng liên kết các cá nhân ở mức độ rộng lớn hơn về phạm vi, đa dạng hơn về lợi ích và có sức mạnh chi phối den các tổ chức khác nhau để cộng dồng cùng tồn tại và phát triển, tổ chức dó là nhà nước.

    Trong một quốc gia, cùng với sự tồn tại của Nhà nước còn có các tổ chức chính trị (các đảng phái) hoặc các tổ chức chính trị – xã hội (ví dụ ở Việt Nam: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…). Nhưng trong đó, nhà nước đóng vai trò quan trọng. Nhà nước có khả năng tác động mạnh mẽ đối với toàn xã hội về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, văn học, nghệ thuật, tôn giáo… đến các quyền tự do cá nhân của con người như quyền được sống, quyền được kết hôn… Sự tác động ấy của Nhà nước trước hết nhằm ổn định xã hội, xác lập trật tự cần thiết đe xã hội phát triển, hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. So với các tổ chức khác trong một quốc gia, nhà nước có những dẫu hiệu đặc trưng sau đây:

    Lãnh thổ là một trong ba yếu tố tạo thành một quốc gia (lãnh thổ, dân cư và tổ chức chính quyền). Lãnh thổ của quốc gia gổm đất đai nằm trong biên giới, hải phận và không phận theo quy định của luật pháp quốc tế. Dân cư sinh sống trên lãnh thổ đó có quyển lựa chọn để tổ chức ra nhà nước của mình (tổ chức chính quyền). Theo đó, nhà nước đại diện cho nhân dân thực hiện chủ quyển trên toàn lãnh thổ và bảo vệ lãnh thổ trước sự xâm lược của các quốc gia khác.

    Trong một quốc gia chỉ có một nhà nước, mặc dù có thổ có nhiều đảng phái khác nhau bởi quan điểm chính trị, nhiều tổ chức chính trị – xã hội với những dấu hiệu khác nhau, như: về giới tính (Hội Liên hiệp Phụ nữ), về nghề nghiệp (Hội Nhà văn, Hội Nông dân)… Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính, đồng thời tổ chức chính quyền địa phương tương ứng với các đơn vị hành chính và quản lí hoạt động của dân cư sinh sống trcn đơn vị hành chính đó. Mối liên hệ giữa một cá nhân với nhà nước được quy định bởi luật quốc tịch, không phụ thuộc vào chính kiến, nghề nghiệp, giới tính của họ và nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ công dân của mình.

    Tài nguyên thiên nhiên trôn lãnh thổ ảnh hưởng trực tiếp dến sự giàu có của Nhà nước. Chỉ nhà nước mới có quyền khai thác và phân phối lợi ích đó đến toàn thể dân chúng mà nhà nước là người đại diện. Các đảng phái hoặc các tổ chức khác được hình thành bởi những “nhóm dân cư” với những lợi ích khác nhau nên tính đại diện bị thu hẹp và bị kiểm soát bởi nhà nước.

    Biểu hiện quyền lực chính trị của Nhà nước là: Nhà nước thiết lập hệ thống các cơ quan nhà nước như Nghị viện (Quốc hội), Chính phủ, Toà án, quân đội, cảnh sát, nhà tù. Các cơ quan này được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương. Để vận hành “bộ máy” này, nhà nước tuyển chọn các cá nhân trong số những cư dân trên lãnh thổ của mình theo những tiêu chí nhất định. Trong nhà nước phong kiến, đó là những “quan lại”, ngày nay là “công chức, viên chức nhà nước”. Đây là bộ máy tách biệt khỏi hoạt động sản xuất, chuyên làm nhiệm vụ quản lí, điểu hành xã hội trong khuôn khổ pháp luật (ví dụ: cấp giấy phép kinh doanh; kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá; cấp giấy phép lái xe…); cung cấp các dịch vụ công (ví dụ: giáo dục đào tạo, y tế, bảo hiểm xã hội (BHXH)…) hoặc thực hiện những hoạt động có tính cưỡng chế, trấn áp để đảm bảo trật tự xã hội như: xử phạt vi phạm an toàn giao thông, xét xử người phạm tội. Tầng lớp cán bộ, viên chức là những người không trực tiếp làm ra sản phẩm phục vụ xã hội, nhưng đời sống của họ được nhà nước đảm bảo bằng việc trả lương từ ngân sách nhà nước.

    Quyền lực chính trị của Nhà nước cũng có thể hiểu là khả năng sử dụng vũ lực một cách độc quyền, đây cũng là điểm khác biệt căn bản so với các loại quyển lực khác trong xã hội. Ví dụ, không một lực lượng nào có thể sử dụng bộ máy cưỡng chế như cảnh sát, nhà tù, quân đội để giữ trật tự xã hội trừ nhà nước.

    Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính chính trị pháp lí và thuộc về nhân dân sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia đó. Nhân dân uỷ quyền cho nhà nước thực hiện quyền lực của mình theo Hiến pháp và pháp luật. Do đó, trong một quốc gia chỉ nhà nước mới có khả năng và đủ tư cách đại diện cho nhân dàn thực hiện chủ quyền quốc gia. Cụ thể là:

    Trong quan hệ đối nội, chủ quyển quốc gia được khẳng định bằng việc nhà nước có quyển tối cao trong hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách trên mọi mặt của đời sống xã hội. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của các chính sách là các cư dân và các tổ chức chính trị, tồ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế tổn tại trên lãnh thổ của Nhà nước ây. Sự hình thành và thay đổi của các tổ chức này phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước.

    Ví dụ: Năm 1987, Nhà nước CHXHCN Việt Nam quyết định việc bỏ cơ chế quản lí kinh tế tập trung bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước; công nhận quyến tự do kinh doanh của cồng dân, theo đó các loại hình doanh nghiệp như: DNTN, công ty trách nhiệm hữu hạn… ra đời, tham gia vào đời sống kinh tế trong nước và xuất khẩu, từ đó hình thành hiệp hội của các doanh nghiộp như: Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ…

    Trong quan hệ đối ngoại, chủ quyền quốc gia có ý nghĩa là: Nhà nước có quyển độc lập tự quyết trong quan hệ đối ngoại mà các quốc gia khác, các tổ chức khác không thổ can thiệp. Nhà nước thay mặt nhân dân có quyền hoạch định những mục tiêu riêng và lựa chọn những phương pháp phù hợp để thực hiện những mục tiêu dó; các quốc gia đều bình đẳng, có quyền hạn và nghĩa vụ ngang nhau trên cơ sở luật pháp quốc tế dù đó là nước lớn hay nước nhỏ.

    Ví dụ: Nhà nữớc xác lập, duy trì hoặc chấm dứt quan hẹ ngoại giao với quốc gia khác; Tham gia vào các tổ chức quốc tế; Kí kết và thực thi các đicu ước quốc tế.

    Ví dụ: Bằng quyển lực của mình, thông qua Toà án, nhà nước có thể đưa ra xem xét việc quyết định giải tán hoặc cấm một đảng phái hoạt động khi tổ chức đó vi phạm pháp luật, phương hại đến chủ quyển an ninh quốc gia.

    Thuế là những khoản thu do nhà nước đặt ra. Sở dĩ cần phải có khoản thu này vì nhà nước là một tổ chức không trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội nhưng phải thực hiện rất nhiều những hoạt động khác nhau để quản lí, điểu hành xã hội.

    Ví dụ: Trả lương cho công chức, viên chức nhà nước, các khoản chi cho quốc phòng, an ninh, BHXH, y tế, giáo dục đào tạo, giao thông…

    Vì vậy, việc thu thuế là tạo ra nguồn tài chính cho nhà nước. Tuy nhiên, thuế không chỉ dùng vào mục đích “nuôi” bộ máy nhà nước mà nó còn là một kcnh đầu tư cho xã hội để phát triển. Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước có thể làm thay đổi cơ cáu kinh tế, chuyến dịch cơ cấu kinh tế, tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng hay kìm hãm nển kinh tế của một quốc gia. Thuế còn là một nguồn tài chính rất quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng xã hội của nó thông qua việc tạo ra các quỹ phúc lợi, quỹ tiêu dùng để phân phối lại cho các thành viên trong xã hội, thực hiện mục tiêu an sinh xã hội.

    Các đảng phái, các tổ chức chính trị – xã hội không có quyển thu thuế. Để tồn tại và duy trì được hoạt động của mình, các tổ chức đó củng cấn có nguồn tài chính, nhưng nó được hình thành từ sự đóng góp mang tính tự nguyện của các thành viên, hội viên.

    Ví dụ: Đoàn phí, Công đoàn phí…

    Việc đóng thuế là nghĩa vụ của công dân và mang tính bắt buộc, nếu công dân không thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước, tuỳ theo mức độ vi phạm, họ có thể bị xử lí hành chính hoặc bị kết án. Nhưng nếu các thành viên, hội viên không thực hiện nghĩa vụ tài chính với tổ chức của mình thì họ có thể bị khai trừ ra khỏi tổ chức đó mà không bị cưỡng chế nhà nước như đổi với hành vi trốn thuế.

    Trước khi có nhà nước, những hoạt động chung của con người trong các tổ chức thị tộc được dẫn dắt bởi niềm tin, sự tôn kính và tinh thần tự nguyện dựa trên các quy phạm đạo đức, tín ngưỡng, tập quán (còn gọi chung là quy phạm xã hội), trật tự xã hội nhờ đó dược duy trì.

    Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, các đảng phái, các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện mục tiêu, tôn chỉ của mình thông qua việc ban hành các điều lệ, nội quy, quy chế như: Điều lệ Công đoàn, Điều lệ Đảng… để điều hành và phối hợp hoạt động của các thành viên, hội viên tham gia vào tổ chức đó, nhưng nội dung của chúng không thể trái với những quy dịnh của pháp luật do nhà nước ban hành. Về bản chất, các thành viên, hội viên thực hiện điểu lệ của các tổ chức này hoàn toàn mang tính tự nguyện, họ có thể từ bỏ tổ chức của mình khi thấy không còn phù hợp.

    Đối với nhà nước, ngoài việc sử dụng có chọn lọc các quy phạm đạo dức, tập quán tồn tại trong xã hội, nhà nước đặt ra hệ thống quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự để quản lí, điều hành xã hội. Phạm vi tác động của pháp luật rộng hơn so với tập quán của một cộng đồng dân cư hoặc điều lộ của tổ chức chính trị – xã hội, vì pháp luật dược ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà trước hết là bởi Nghị viện (Quốc hội) là cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân. Mọi cá nhân, mọi tổ chức và chính nhà nước phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Pháp luật được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng biện pháp giáo dục, thuyết phục hoặc các biện pháp cưỡng chế nhà nước khi cần thiết với công cụ bạo lực để bảo vệ trật tự pháp luật.

    Từ những dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước, có thể định nghĩa về nhà nước như sau: Nhà nước là một tổ chức có quyền lực chính trị đặc biệt, có quyền quyết định cao nhất trong phạm vi lãnh thổ, thực hiện sự quản lí xã hội bằng pháp luật và bộ máy được duy trì bằng nguồn thuế đóng góp từ xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Cương
  • Khái Niệm Độc Quyền Nhà Nước?
  • Vai Trò Của Thành Phần Kinh Tế Tư Bản Nhà Nước: Dự Báo Về Xu Hướng Phát Triển Của Nó Ở Việt Nam
  • Vai Trò Của Thành Phần Kinh Tế Tư Bản Nhà Nước
  • Vốn Nhà Nước Là Gì Và Phân Biệt Với Vốn Ngoài Ngân Sách Nhà Nước
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Và Ý Nghĩa Của Cạnh Tranh

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Marketing: 6 Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing
  • Những Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing (Phần Cuối)
  • Những Khái Niệm Cốt Lõi Của Marketing
  • Khái Niệm Quy Luật Cạnh Tranh Là Gì?
  • Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Gia
  • 41040

    Cùng với sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người luôn đi tìm động lực phát triển trong các hình thái kinh tế xã hội. Đã có thời kỳ, thị trường, cạnh tranh và lợi nhuận được coi như là mặt trái gắn liền với chủ nghĩa tư bản và bị gạt ra khỏi công cuộc xây dựng thể chế kinh tế thời kỳ kế hoạch hóa tập trung. Lúc đó, các Nhà nước xã hội chủ nghĩa coi việc nắm giữ sức mạnh kinh tế kết hợp với yếu tố kế hoạch tập trung như là những động lực cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công bằng, dân chủ và văn minh.

    Với đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam thực sự thực thi những nguyên lý của cơ chế thị trường chưa từng được biết đến trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Chúng ta đã dần quen với việc vận dụng một động lực mới của sự phát triển là cạnh tranh. Cạnh tranh đã đem lại cho thị trường và cho đời sống xã hội một diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội mà trước đây người ta chỉ tìm thấy trong sách vở, như phá sản, kinh doanh gian dối, cạnh tranh không lành mạnh. Qua hơn 20 năm phát triển nền kinh tế thị trường, cạnh tranh không còn mới mẻ trong đời sống kinh tế – xã hội và trong khoa học pháp lý của Việt Nam. Song, trong công tác lập pháp và thực thi pháp luật cạnh tranh, chúng ta còn quá ít kinh nghiệm. Vì thế, việc hệ thống hóa các lý thuyết cạnh tranh mà các nhà kinh tế học, các nhà khoa học pháp lý đã xây dựng qua gần 5 thế kỷ của nền kinh tế thị trường là điều cần thiết.

    Cho đến nay, các nhà khoa học dường như chưa thể thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh. Bởi lẽ với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng có của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học.

    Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh tranh được cuốn Black’Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”.

    Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”2.

    2. Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh

    Mặc dù được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, song theo các lý thuyết về kinh tế, cạnh tranh là sản phẩm riêng có của nền kinh tế thị trường, là linh hồn và là động lực cho sự phát triển của thị trường. Từ đó, cạnh tranh được mô tả bởi ba đặc trưng căn bản sau đây:

    Một, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh

    Với tư cách là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại những tiền đề nhất định sau đây:

    – Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau. Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể kinh doanh nhằm tranh giành hoặc mở rộng thị trường, đòi hỏi phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp trên thị trường. Một khi trong một thị trường nhất định nào đó chỉ có một doanh nghiệp tồn tại thì chắc chắn nơi đó sẽ không có đất cho cạnh tranh nảy sinh và phát triển. Mặt khác, khi có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp, song chúng chỉ thuộc về một thành phần kinh tế duy nhất thì sự cạnh tranh chẳng còn ý nghĩa gì. Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn nếu các doanh nghiệp thuộc về các thành phần kinh tế khác nhau với những lợi ích và tính toán khác nhau.

    – Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do hành xử trên thị trường. Tự do khế ước, tự do lập hội và tự chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm cơ hội phát triển trên thương trường. Mọi kế hoạch để sắp đặt các hành vi ứng xử, cho dù được thực hiện với mục đích gì đi nữa, đều hạn chế khả năng sáng tạo trong kinh doanh. Khi đó, mọi sinh hoạt trong đời sống kinh tế sẽ giống như những động thái của các diễn viên đã được đạo diễn sắp đặt trong khi sự tự do, sự độc lập và tự chủ của các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm khả năng sinh tồn và phát triển trên thương trường không được đảm bảo.

    Hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp. Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng.

    Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trường, là thước đo sự thành đạt và là mục đích hướng đến của các doanh nghiệp. Kinh tế chính trị Macxít đã chỉ ra nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng dư mà nhà tư bản tìm kiếm được trong các chu trình của quá trình sản xuất, chuyển hoá giữa tiền – hàng.

    (1) Bryan A. Garner, Black’ Law Dictionary (St. Paul, 1999), tr 278.

    (2) Dẫn theo Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở

    (3) PGS. Nguyễn Như Phát, TS. Trần Đình Hảo, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh hiện nay ở ViệtViệt Nam (NXB chính trị quốc gia, 2004), tr 19.

    Nam (NXB Công an nhân dân, 2001), chuyên đề “Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam có

    Trong chu trình đó, khách hàng và người tiêu dùng có vai trò là đại diện cho thị trường, quyết định giá trị thặng dư của xã hội sẽ thuộc về ai. Ở đó mức thụ hưởng về lợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người tiêu dùng trong xã hội.

    Hình ảnh của cạnh tranh sẽ được minh họa bằng quan hệ tay ba giữa các doanh nghiệp với nhau và với khách hàng. Các doanh nghiệp đua nhau lấy lòng khách hàng. Khách hàng là người có quyền lựa chọn người sẽ cung ứng sản phẩm cho mình. Quan hệ này cũng sẽ được mô tả tương tự khi các doanh nghiệp cùng nhau tranh giành một nguồn nguyên liệu.

    Hiện tượng tranh đua như vậy được kinh tế học gọi là cạnh tranh trong thị trường. Từng thủ đoạn được sử dụng để ganh đua được gọi là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trường làm cho người chiến thắng mở rộng được thị phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua cuộc chịu mất khách hàng và phải rời khỏi thị trường.

    Ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm.

    Với sự giục giã của lợi nhuận, nhà kinh doanh khi tham gia vào thị trường luôn ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường. Với sự giúp đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ chọn ra người thắng cuộc và trao cho họ lợi ích mà họ mong muốn.

    Các sản phẩm tương tự nhau của các doanh nghiệp khác nhau không thể thay thế cho nhau nếu chúng ở những vùng thị trường địa lý khác nhau vì sự khác nhau đó không đủ làm cho người tiêu dùng thay đổi thói quen sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp này bằng sản phẩm tương tự của doanh nghiệp khác không cùng một khu vực với nó, cho dù có sự thay đổi về giá cả và các điều kiện mua bán có gây bất lợi cho người tiêu dùng.

    Dấu hiệu mục đích vì lợi nhuận và vì thị trường phản ánh bản chất kinh tế của hiện tượng cạnh tranh. Từ đó có thể phân biệt cạnh tranh với các hiện tượng xã hội khác có cùng biểu hiện của sự ganh đua như: thi đấu thể thao hay các cuộc thi đua để tranh dành danh hiệu khác trong đời sống kinh tế – xã hội (ví dụ các cuộc thi để dành danh hiệu Sao vàng đất Việt…). Sự ganh đua trong thi đấu thể thao hay trong các cuộc thi tranh dành danh hiệu có thể đem lại vinh quang cho kẻ thắng và nỗi buồn cho người thất bại nhưng lại không đẩy người thua cuộc đi về phía cùng đường trong kinh doanh hay trong đời sống xã hội. Đồng thời, các bên trong cuộc thi đua hay thi đấu tranh dành những phần thưởng, danh hiệu mà Ban tổ chức cuộc thi trao tặng, người thắng cuộc được phần thưởng và những doanh nghiệp thua cuộc ra về tay không (không mất gì cho người thắng). Cạnh tranh đem về thị trường, khách hàng và các yếu tố kinh tế của thị trường của người thua cuộc cho doanh nghiệp thắng cuộc. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cạnh tranh nhau trên thương trường luôn đưa đến kết quả bàn tay vô hình của thị trường sẽ lấy lại phần thị trường, lấy lại các yếu tố thị trường như vốn, nguyên vật liệu, lao động… của người yếu thế và kinh doanh kém hiệu quả hơn để trao cho những doanh nghiệp có khả năng sử dụng hiệu quả hơn. Như thế, sẽ có kẻ mất và người được trong cuộc cạnh tranh. Người được sẽ tiếp tục kinh doanh với những gì đã gặt hái, còn doanh nghiệp thua cuộc phải thu hẹp hoạt động kinh doanh, thậm chí phải rời bỏ thị trường. Có thể nói, với đặc trưng này, cạnh tranh được mô tả như quy luật đào thải rất tự nhiên diễn ra trên thương trường.

    Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường. Nhờ có cạnh tranh, với sự thay đổi liên tục về nhu cầu và với bản tính tham lam của con người mà nền kinh tế thị trường đã đem lại những bước phát triển nhảy vọt mà loài người chưa từng có được trong các hình thái kinh tế trước đó. Sự ham muốn không có điểm dừng đối với lợi nhuận của nhà kinh doanh sẽ mau chóng trở thành động lực thúc đẩy họ sáng tạo không mệt mỏi, làm cho cạnh tranh trở thành động lực của sự phát triển.Theo đó, cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau đây:

    a, Cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

    Trong môi trường cạnh tranh, người tiêu dùng có vị trí trung tâm, họ được cung phụng bởi các bên tham gia cạnh tranh. Nhu cầu của họ được đáp ứng một cách tốt nhất mà thị trường có thể cung ứng, bởi họ là người có quyền bỏ phiếu bằng đồng tiền để quyết định ai được tồn tại và ai phải ra khỏi cuộc chơi. Nói khác đi, cạnh tranh đảm bảo cho người tiêu dùng có được cái mà họ muốn. Một nguyên lý của thị trường là ở đâu có nhu cầu, có thể kiếm được lợi nhuận thì ở đó có mặt các nhà kinh doanh, người tiêu dùng không còn phải sống trong tình trạng xếp hàng chờ mua nhu yếu phẩm như thời kỳ bao cấp, mà ngược lại, nhà kinh doanh luôn tìm đến để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt nhất.

    Với sự ganh đua của môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách hạ giá thành sản phẩm nhằm lôi kéo khách hàng về với mình. Sự tương tác giữa nhu cầu của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh đã làm cho giá cả hàng hoá và dịch vụ đạt được mức rẻ nhất có thể; các doanh nghiệp có thể thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trong khả năng chi tiêu của họ. Với ý nghĩa đó, cạnh tranh loại bỏ mọi khả năng bóc lột người tiêu dùng từ phía nhà kinh doanh.

    Thị trường là nơi gặp gỡ giữa sở thích của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng về trình độ công nghệ của người sản xuất. Trong mối quan hệ đó, sở thích của người tiêu dùng là động lực chủ yếu của yếu tố cầu; công nghệ sẽ quyết định về yếu tố cung của thị trường. Tùy thuộc vào khả năng tài chính và nhu cầu, người tiêu dùng sẽ quyết định việc sử dụng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể. Phụ thuộc vào những tính toán về công nghệ, về chi phí…nhà sản xuất sẽ quyết định mức độ đáp ứng nhu cầu về loại sản phẩm, về giá và chất lượng của chúng. Thực tế đã cho thấy, mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng phụ thuộc vào khả năng tài chính, trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Những gì mà doanh nghiệp chưa thể đáp ứng sẽ là các đề xuất từ phía thị trường để doanh nghiệp lên kế hoạch cho tương lai. Do đó, có thể nói nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng (đại diện cho thị trường) có vai trò định hướng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Kinh tế học đánh giá hiệu quả của một thị trường dựa vào khả năng đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng. Thị trường sẽ được coi là hiệu quả nếu nó cung cấp hàng hoá, dịch vụ đến tay người tiêu dùng với giá trị cao nhất. Thị trường sẽ kém hiệu quả nếu chỉ có một người bán mà cô lập với các nhà cạnh tranh khác, các khách hàng khác.

    b, Cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường

    Như một quy luật sinh tồn của tự nhiên, cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực kinh tế tập trung vào tay những doanh nghiệp giỏi, có khả năng và bản lĩnh trong kinh doanh. Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại bỏ những khả năng lạm dụng quyền lực thị trường để bóc lột đối thủ cạnh tranh và bóc lột khách hàng. Vai trò điều phối của cạnh tranh thể hiện thông qua các chu trình của quá trình cạnh tranh. Dẫu biết rằng, cạnh tranh là một chuỗi các quan hệ và hành vi liên tục không có điểm dừng diễn ra trong đời sống của thương trường, song được các lý thuyết kinh tế mô tả bằng hình ảnh phát triển của các chu trình theo hình xoắn ốc. Theo đó, chu trình sau có mức độ cạnh tranh và khả năng kinh doanh cao hơn so với chu trình trước. Do đó, khi một chu trình cạnh tranh được giả định là kết thúc, người chiến thắng sẽ có được thị phần (kèm theo chúng là nguồn nguyên liệu, vốn và lao động…) lớn hơn điểm xuất phát. Thành quả này lại được sử dụng làm khởi đầu cho giai đoạn cạnh tranh tiếp theo. Cứ thế, kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh và cạnh tranh hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp có sự tích tụ dần trong quá trình kinh doanh để nâng cao dần vị thế của người chiến thắng trên thương trường. Trong cuộc cạnh tranh dường như có sự hiện diện của một bàn tay vô hình lấy đi mọi nguồn lực kinh tế từ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả để trao cho những người có khả năng sử dụng một cách tốt hơn. Sự dịch chuyển như vậy đảm bảo cho các giá trị kinh tế của thị trường được sử dụng một cách tối ưu.

    c. Cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất

    Những nỗ lực giảm chi phí để từ đó giảm giá thành của hàng hoá, dịch vụ đã buộc các doanh nghiệp phải tự đặt mình vào những điều kiện kinh doanh tiết kiệm bằng cách sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực mà họ có được. Mọi sự lãng phí hoặc tính toán sai lầm trong sử dụng nguyên vật liệu đều có thể dẫn đến những thất bại trong kinh doanh. Nhìn ở tổng thể của nền kinh tế, cạnh tranh là động lực cơ bản giảm sự lãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên, nhiên, vật liệu được sử dụng tối ưu.

    d, Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh

    Nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận đã thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đáp ứng ngày càng tốt hơn đòi hỏi của thị trường, mong giành phần thắng về mình. Cứ như thế, cuộc chạy đua giữa các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật trong đời sống kinh tế và xã hội. Trên thực tế, sự thay đổi và phát triển liên tục của các thế hệ máy vi tính và sự phát triển của hệ thống viễn thông quốc tế hiện đại cho thấy rõ vai trò của cạnh tranh trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học, kỹ thuật.

    đ. Cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế – xã hội

    Nền tảng của quy luật cạnh tranh trên thị trường là quyền tự do trong kinh doanh và sự độc lập trong sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp. Khi sự tự do kinh doanh bị tiêu diệt, mọi sự thi đua chỉ là những cuộc tụ họp theo phong trào, không thể là động lực đích thực thúc đẩy sự phát triển. Cạnh tranh đòi hỏi Nhà nước và pháp luật phải tôn trọng tự do trong kinh doanh. Trong sự tự do kinh doanh, quyền được sáng tạo trong khuôn khổ tôn trọng lợi ích của chủ thể khác và của xã hội luôn được đề cao như một kim chỉ nam của sự phát triển. Sự sáng tạo làm cho cạnh tranh diễn ra liên tục theo chiều hướng gia tăng của quy mô và nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế. Việc vắng thiếu sự sáng tạo sẽ làm cho cạnh tranh trở thành những tua quay được lặp đi lặp lại ở cùng một mức độ, làm cho ý nghĩa của cạnh tranh – động lực của sự phát triển sẽ chỉ còn là những danh hiệu sáo rỗng.

    Với ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, cạnh tranh luôn là đối tượng được pháp luật và các chính sách kinh tế quan tâm. Sau vài thế kỷ thăng trầm của của kinh tế thị trường và với sự chấm dứt của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, con người ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh đối với sự phát triển chung của đời sống kinh tế. Do đó, đã có nhiều nỗ lực xây dựng và tìm kiếm những cơ chế thích hợp để duy trì và bảo vệ cho cạnh tranh được diễn ra theo đúng chức năng của nó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Khái Niệm Về Lợi Thế Cạnh Tranh
  • Lợi Thế Cạnh Tranh: Định Nghĩa, Nguồn Gốc Và Phương Pháp Xác Định
  • Cơ Sở Lý Luận Về Năng Lực Cạnh Tranh Trong Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Năng Lực Cạnh Tranh
  • Khái Quát Về Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Và Đặc Trưng Của Thị Trường Độc Quyền Nhóm

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Cơ Bản Về Đào Tạo Và Phát Triển Nguồn Nhân Lực
  • Nguồn Nhân Lực Là Gì? Đặc Điểm Vai Trò Của Nguồn Nhân Lực
  • Các Chất Dinh Dưỡng Ảnh Hưởng Tới Cây Trồng
  • Mô Hình Sản Xuất Nông Nghiệp Công Nghệ Cao
  • Một Số Khái Niệm Về Công Nghệ Cao Và Nông Nghiệp Công Nghệ Cao
  • * Khái niệm: Xét từ phía người bán, thị trường độc quyền nhóm là dạng thị trường mà trên đó chỉ có một nhóm nhỏ doanh nghiệp cùng hoạt động. Tuy không phải là một doanh nghiệp duy nhất độc chiếm thị trường, doanh nghiệp độc quyền nhóm thường có quy mô tương đối lớn so với quy mô chung của thị trường. Điều này cho phép nó có một quyền lực thị trường hay khả năng chi phối giá đáng kể. Sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trường độc quyền nhóm có thể giống hệt hoặc gần như giống hệt nhau (những sản phẩm được tiêu chuẩn hóa như thép, hóa chất…), song cũng có thể khác biệt nhau (như ô tô, máy tính, dịch vụ hàng không…). Tính đồng nhất hay khác biệt của sản phẩm không phải là những tính chất đặc thù của thị trường này.

    Tính phụ thuộc lẫn nhau của các doanh nghiệp là đặc điểm nổi bật của thị trường độc quyền nhóm. Nó xuất phát từ quy mô tương đối lớn của mỗi doanh nghiệp trong điều kiện số lượng doanh nghiệp hạn chế. Trong bối cảnh này, hành vi của mỗi doanh nghiệp đều tác động đến lợi ích kinh doanh của các đối thủ. Điều đó không xảy ra trên thị trường độc quyền thuần túy, vì thực tế doanh nghiệp độc quyền không có đối thủ. Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, số lượng doanh nghiệp nhiều, quy mô doanh nghiệp nhỏ, việc thay đổi sản lượng của mỗi doanh nghiệp riêng biệt không tác động gì được đến kết cục chung của thị trường cũng nhưđối thủ. Vả lại, các doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo lại là những người chấp nhận giá, do đó, trên thực tế, chúng không có khả năng theo đuổi cũng như không cần thiết phải theo đuổi một chính sách giá cả riêng. Sau này, chúng ta sẽ thấy, trên thị trường cạnh tranh có tính chất độc quyền, do cũng có rất nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ cùng hoạt động nên hành vi của một doanh nghiệp riêng biệt cũng hầu như không ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác. Chỉ trên thị trường độc quyền nhóm, những phản ứng có thể của các đối thủ mới được các doanh nghiệp xem như một biến số quan trọng cần tính đến mỗi khi ra quyết định. Chẳng hạn, khi một doanh nghiệp độc quyền nhóm dựđịnh tăng giá sản phẩm của mình lên 10%, nó cần phải dựđoán xem các đối thủ của nó sẽ phản ứng như thế nào? Nếu các đối thủ của nó vẫn giữ nguyên các mức giá như cũ, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ trở nên đắt hơn một cách tương đối so với sản phẩm của các đối thủ. Trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ có thể mất đi một lượng khách hàng nhất định và thị phần của nó có thể bị thu hẹp. Nếu sự suy giảm lượng cầu về sản phẩm của doanh nghiệp là đáng kể, việc tăng giá chưa chắc đã đem lại lợi lộc gì mà thậm chí còn làm cho nó thua thiệt. Nếu các doanh nghiệp đối thủ cũng tăng giá theo, thì nó cần dựđoán xem các doanh nghiệp này sẽ tăng giá bao nhiêu? 5, 10 hay hơn 10%? Những cân nhắc như vậy sẽảnh hưởng trở lại đến quyết định tăng giá của doanh nghiệp. Ngược lại, đôi khi doanh nghiệp lại muốn giảm giá để mở rộng thị phần của mình. Trên thị trường độc quyền nhóm, khả năng các đối thủ cũng sẽ giảm giá theo có thể lôi cuốn các doanh nghiệp vào một cuộc cạnh tranh giá cả mà thường thì mọi doanh nghiệp đều bị thua thiệt. Đứng trước khả năng đó, không phải trong mọi trường hợp, quyết định giảm giá đã là hợp lý.

    2. Cạnh tranh và hợp tác trên thị trường độc quyền nhóm

    Sự phụ thuộc lẫn nhau trong việc ra quyết định của các doanh nghiệp trên thị trường độc quyền nhóm khiến cho các doanh nghiệp phải lựa chọn giữa hai phương án: hoặc chúng cạnh tranh với nhau để gạt dần các đối thủ ra khỏi thị trường, hoặc cấu kết, hợp tác với nhau nhằm tránh những tổn thất do cạnh tranh gây ra. Số lượng doanh nghiệp càng nhiều, việc cấu kết càng khó khăn do chi phí giao dịch nhằm hình thành một thỏa thuận công khai hoặc ngấm ngầm và đảm bảo cho nó có hiệu lực thường lớn. Khả năng cấu kết cũng khó thành hiện thực hơn khi sản phẩm của các doanh nghiệp khác biệt nhau, hay khi các điều kiện thị trường (nhu cầu và chi phí) thay đổi nhanh. Nếu các doanh nghiệp không cấu kết được với nhau, đường cầu của mỗi doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào hành vi phản ứng của các đối thủ. Mô hình đường cầu gãy khúc đưa ra một sự giải thích đơn giản về sự phụ thuộc lẫn nhau này.

    * Mô hình đường cầu gãy khúc và hàm ý của nó

    Mô hình này dựa trên giảđịnh rằng, khi một doanh nghiệp giảm giá nhằm mở rộng thị trường, các đối thủ sẽ giảm giá theo để cố gắng giữ nguyên được thị phần của mình. Song nếu doanh nghiệp tăng giá, các đối thủ sẽ không thay đổi giá nhằm đẩy doanh nghiệp trên vào vị thế khó khăn trên thị trường.

    Giả sử doanh nghiệp đang sản xuất với sản lượng là q 0 và định giá P 0 cho mỗi đơn vị sản lượng. Có thể coi trạng thái xuất phát này như một trạng thái cân bằng mà ởđó các đối thủ không có phản ứng gì. Khi doanh nghiệp này tăng giá, vì các doanh nghiệp khác không tăng giá theo nên lượng hàng mà doanh nghiệp có khả năng bán được sụt giảm mạnh. Đường cầu đối diện với doanh nghiệp ở phần nằm phía trên điểm xuất phát A, tương ứng với các mức giá cao hơn P 0, co giãn mạnh theo giá. Ngược lại, khi doanh nghiệp giảm giá, phản ứng của các đối thủ là giảm giá theo khiến cho doanh nghiệp không có lợi thế gì để mở rộng thị phần. Với những mức giá thấp hơn P 0, doanh nghiệp vẫn có thể bán được lượng hàng nhiều hơn do hiệu ứng giảm giá chung trên toàn bộ thị trường khiến những người tiêu dùng tăng lượng cầu của mình. Tuy nhiên phản ứng của các doanh nghiệp khác làm cho lượng hàng mà doanh nghiệp có thể bán được tăng lên không nhiều. Doanh nghiệp đối diện với một phần đường cầu ít co giãn hơn ở phía dưới điểm A, tương ứng với những mức giá thấp hơn P0. Đường cầu D mà doanh nghiệp đối diện bị gãy khúc ởđiểm A kéo theo sự ngắt quãng của đường doanh thu biên MR tại mức sản lượng q0. Doanh thu biên đột ngột giảm xuống tại mức sản lượng q0 khi đường cầu D thay đổi độ dốc của mình và chuyển từ phần cầu co giãn sang phần cầu kém co giãn.

    Với đường cầu gãy khúc như vậy, sản lượng q0 và mức giá P0 là tối ưu đối với doanh nghiệp khi đường MC của nó nằm ở vị trí như trên đồ thị. Thậm chí, khi chi phí của doanh nghiệp thay đổi, đường MC dịch chuyển song vẫn cắt đường MRở khoảng EF dọc theo trục thẳng đứng tại mức sản lượng q0, sản lượng này vẫn là lựa chọn tối ưu của doanh nghiệp. Rõ ràng, mô hình đường cầu gãy khúc cho thấy, trên thị trường độc quyền nhóm, các doanh nghiệp riêng biệt có xu hướng giữổn định sản lượng và giá cả trong một giới hạn nhất định, bất chấp sự thay đổi của chi phí. Đương nhiên, nếu chi phí thay đổi mạnh, khiến cho đường MC dịch chuyển,chẳng hạn, thành MC1, doanh nghiệp sẽ buộc phải thay đổi sản lượng và giá cả.

    Đường cầu Dđối diện với doanh nghiệp gãy khúc ởđiểm A làm cho đường MR trở thành một đường đứt đoạn. Nếu sự dịch chuyển của đường MC chỉ khiến nó cắt đường MR trong khoảng EF, doanh nghiệp sẽ không thay đổi mức giá cũng như sản lượng đã chọn.

    Mô hình đường cầu gãy khúc không giải thích mức giá P0được hình thành như thế nào. Nó chỉ cho chúng ta thấy tình thế khó khăn mà một doanh nghiệp độc quyền nhóm riêng biệt mắc phải khi nó muốn thay đổi mức giá này. Bởi vậy, mức giá xuất phát P0 có thểđược coi là mức giá cấu kết, được sự chấp nhận chung của các doanh nghiệp khác trên thị trường. Vì nó được hình thành trên cơ sở các thỏa thuận, các doanh nghiệp đối thủ sẽ phản ứng theo kiểu trảđũa hay trừng phạt nếu một doanh nghiệp riêng biệt muốn thay đổi mức giá này. Chỉ khi toàn bộđường cầu chung của thị trường hay chi phí chung của ngành thay đổi, mức giá cấu kết P0 mới thay đổi. Khi đó, đường cầu gãy khúc của mỗi doanh nghiệp riêng biệt sẽ dịch chuyển vì điểm giá P0 đã thay đổi.

    * Lý thuyết trò chơi và việc giải thích hành vi của các doanh nghiệp độc quyền nhóm

    Lý thuyết trò chơi nghiên cứu hành vi của con người trong các tình huống mà trong đó các quyết định hành động của họ có tính chất phụ thuộc lẫn nhau. Khi ra quyết định, mỗi người đều phải tính đến phản ứng của những người khác đối với hành động của mình. Do tính phụ thuộc lẫn nhau là đặc trưng của thị trường độc quyền nhóm, nên lý thuyết trò chơi rất hữu ích cho việc giải thích hành vi của các doanh nghiệp trên thị trường này.

    Thế tiến thoái lưỡng nan của người tù là một bài toán điển hình trong lý thuyết trò chơi mô tả sự tiến thoái lưỡng nan của những người tham gia vào một trò chơi phụ thuộc lẫn nhau trong việc lựa chọn giữa hợp tác (cấu kết) hay bất hợp tác.

    Ta có thể mô tả bài toán này như sau: Giả sử hai phạm nhân A và B vừa bị cảnh sát bắt. Người ta đã có đủ chứng cứđể kết tội mỗi người 3 năm tù do phạm phải tội ăn cắp xe máy. Tuy nhiên, cảnh sát điều tra còn nghi ngờ rằng, hai người này đã cùng nhau phạm một tội khác nghiêm trọng hơn (ví dụ cướp các tiệm vàng) song chưa có các chứng cứ rõ ràng để kết tội này cho họ. Người ta giam giữ những phạm nhân này trong các phòng giam riêng biệt đủđể họ không thể trao đổi thông tin được cho nhau. Giả sử những người có trách nhiệm thỏa thuận với từng phạm nhân như sau: “Vì tội ăn cắp xe máy, anh có thể bị ngồi tù 3 năm. Tuy nhiên, nếu anh nhận tội cướp các tiệm vàng và tố cáo đồng phạm, anh sẽ chỉ bị ngồi tù tổng cộng là 1 năm. Đồng phạm của anh sẽ bị ngồi tù tổng cộng là 20 năm. Nhưng nếu cả hai người đều nhận tội, đương nhiên sự tố cáo của anh đối với đồng phạm trở nên ít giá trị hơn và mỗi người sẽ nhận một bản án tổng hợp là 9 năm tù”.

    Nếu hai người tù A và B này đều là những kẻ ích kỷ, chỉ quan tâm đến việc tối thiểu hóa số năm tù của mình và không quan tâm đến số phận của đồng bọn thì kết cục, họ sẽ hành động như thế nào?

    Trong trường hợp này, mỗi người tù có hai chiến lược hành động: thú tội hoặc im lặng không thú tội. Số năm tù mà mỗi người phải nhận phụ thuộc vào chiến lược mà anh ta lựa chọn cũng như chiến lược mà người bạn tù của anh ta chọn. Các phương án có thể và kết quả của chúng được thể hiện ở bảng 6.1.

    Hãy xem xét xem A sẽra quyết định nhưthếnào? Là một người khôn ngoan, anh ta sẽphải tựhỏi ” Nếu B thú tội, thì mình sẽphải hành động nhưthếnào đểtối thiểu hóa được sốnăm tù mà mình có thểphải nhận?”. Trong trường hợp này, A thấy rằng hoặc là mình sẽbị9 năm tù, nếu chọn chiến lược thú tội, hoặc sẽbị20 năm tù nếu chọn chiến lược không thú tội. Chiến lược tốt nhất của A lúc này là thú tội. Tuy nhiên, do không trao đổi được thông tin cho nhau, A không biết được B sẽhành động nhưthếnào. Vì thế, anh ta phải cân nhắc tiếp “Nếu B không thú tội, thì chiến lược hành động tốt nhất của mình là gì?”. Trong trường hợp này, A hoặc sẽbị1 năm tù nếu chọn chiến lược thú tội hoặc sẽbị3 năm tù nếu chọn chiến lược không thú tội. Động cơích kỷsẽcho thấy chiến lược thú 221 tội là chiến lược tốt nhất mà A sẽlựa chọn. Anh ta chỉcần tối thiểu hóa sốnăm tù của mình, bất chấp điều đó có thể đẩy B vào tình huống bị giam giữ20 năm trong tù. Nhưvậy, trong bài toán trò chơi này, bất chấp B hành động nhưthế nào, chiến lược hành động tốt nhất của A là thú tội. Một chiến lược duy nhất mà A lựa chọn nhưvậy, không phụthuộc vào chiến lược hành động của đối thủ, được gọi là chiến lược trội. Phân tích tương tựcũng cho chúng ta thấy rằng, chiến lược trội của B cũng là thú tội. Bất chấp A hành động nhưthếnào, đối với B thú tội vẫn là hướng hành động tốt nhất đểgiảm thiểu sốnăm phải ngồi tù của mình. Kết quảlà cảA lẫn B đều thú tội, do đó, mỗi người phải nhận 9 năm tù. Cần thấy rằng đây không phải là một kết cục tốt nhất đối với cảA và B. Nếu cảhai đều không thú tội, mỗi người chỉphải nhận 3 năm tù vì tội ăn cắp xe máy. Kết cục này không xảy ra khi mỗi người đều hành động một cách riêng rẽ, nhằm theo đuổi lợi ích riêng của mình. Không cấu kết hay hợp tác được với nhau, họkhông đi đến được một kết cục có lợi nhất cho cảhai người. Nếu hai người này hợp tác với nhau bằng cách thỏa thuận trước rằng, cảhai sẽim lặng không thú nhận tội cướp tiệm vàng, và nếu cảhai đều trung thành với thỏa thuận này, mỗi người sẽchỉbị3 năm tù. Tuy nhiên, khi mỗi người chỉhành động trên cơsởlợi ích cá nhân, thỏa thuận chung nói trên sẽkhông bền vững. Khi biết trước đồng phạm của mình không thú tội, mỗi người tù vẫn thấy có lợi khi chọn chiến lược thú tội (mỗi người muốn mình chỉbịngồi tù 1 năm). Còn khi nghi ngờrằng đồng phạm của mình sẽcó thểkhông trung thành với những điều đã cam kết, mỗi người càng có động cơ đểthú tội. Điều này cho thấy, trong trò chơi này, việc duy trì các thỏa thuận luôn gặp khó khăn. Sựhợp tác hay cấu kết có thể đem lại lợi ích tổng thểtốt nhất cho cảhai người, song nó chỉtồn tại được trên cơsởsựtin tưởng lẫn nhau giữa các người tù và sự hành động của họtrên cơsởlợi ích chung. Khi theo đuổi lợi ích cá nhân, nguy cơvi phạm các thỏa thuận hợp tác luôn là hiện thực. Cạnh tranh và hợp tác trên thịtrường độc quyền nhóm Trên thịtrường độc quyền nhóm, ta vẫn giả định rằng các doanh nghiệp luôn tìm cách tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, một quyết định cụ thểcủa mỗi doanh nghiệp là hợp lý hay không, phụthuộc vào cách thức phản ứng của các doanh nghiệp đối thủ. Sựphụthuộc lẫn nhau của các doanh nghiệp khiến cho hành vi của họgiống nhưhành vi của những người tù trong trò chơi tiến thoái lưỡng nan mà ta vừa đềcập. Giảsửtrên một thịtrường độc quyền nhóm chỉcó hai doanh nghiệp A và B, có những đường chi phí giống hệt nhau. Nếu hai doanh nghiệp này cấu kết được với nhau, chúng có thể ứng xửnhưmột cacten độc quyền. Trong trường hợp này, lựa chọn sản lượng tối ưu đối với toàn ngành cho phép các doanh nghiệp có thể định giá độc quyền khá cao đối với những người tiêu dùng, và tổng lợi nhuận của cảhai doanh nghiệp đạt được mức lớn nhất là 120 tỷ đồng. Để đạt được điều này, mỗi doanh nghiệp đều phải cam kết duy trì sản lượng của mình ởmức thấp (ví dụ mỗi doanh nghiệp sẽchỉsản xuất một nửa mức sản lượng tối ưu nói trên) và sẽthu được 60 tỷ đồng lợi nhuận. Nếu một doanh nghiệp riêng rẽlựa chọn một mức sản lượng cao hơn, giá sản phẩm trên thịtrường sẽhạ xuống một chút. Doanh nghiệp này có thểthu được lợi nhuận cao hơn (ví dụ80 tỷ đồng) do nó hạ được giá thành sản phẩm và bán được một khối lượng sản phẩm lớn hơn. Tuy nhiên, vì giá sản phẩm hạxuống, doanh nghiệp còn lại vẫn duy trì sản xuất ởmức sản lượng thấp nhưcam kết sẽ bịthua thiệt: nó chỉcòn thu được 20 tỷ đồng lợi nhuận. Trong trường hợp doanh nghiệp thứhai cũng sản xuất ởmức sản lượng cao nhưdoanh nghiệp thứnhất, giá cảsản phẩm hạmạnh và tổng lợi nhuận của ngành chỉcòn là 80 tỷ đồng, tức mỗi doanh nghiệp chỉthu được 40 tỷ đồng. Kết quảlợi nhuận của mỗi doanh nghiệp trong các trường hợp trên được trình bày ởbảng 6.2.

    Trong trò chơi này, mỗi doanh nghiệp đều có hai chiến lược hành động: cấu kết (hợp tác) và sản xuất ở mức sản lượng thấp hoặc phớt lờ những thỏa thuận (cạnh tranh) để sản xuất ở mức sản lượng cao. Những người lãnh đạo doanh nghiệp A sẽ suy nghĩ một cách lô gic như sau: “Nếu doanh nghiệp B thực hiện đúng cam kết và duy trì mức sản lượng thấp, doanh nghiệp A của mình hoặc sẽ thu được 80 tỷđồng lợi nhuận nếu sản xuất ở mức sản lượng cao hoặc chỉ thu được 60 tỷđồng lợi nhuận nếu cũng chỉ sản xuất ở mức sản lượng thấp như cam kết. Trong trường hợp này, A sẽ có lợi hơn nếu chọn chiến lược sản lượng cao. Nếu doanh nghiệp B phớt lờ thỏa thuận chung và chọn chiến lược sản lượng cao, A hoặc sẽ thu được 40 tỷđồng lợi nhuận nếu chọn mức sản lượng cao hoặc sẽ chỉ thu được 20 tỷđồng lợi nhuận nếu chọn mức sản lượng thấp nhưđã cam kết. Cũng giống như trường hợp trước, sản xuất với mức sản lượng cao vẫn có lợi hơn đối với doanh nghiệp A. Như vậy, dù doanh nghiệp B hành động như thế nào, để tối đa lợi nhuận của mình, doanh nghiệp A cần lựa chọn chiến lược sản lượng cao”. Nói một cách khác, chiến lược trội của doanh nghiệp A là sản xuất ở mức sản lượng cao. Lập luận một cách tương tự, chúng ta cũng thấy chiến lược sản lượng cao cũng là chiến lược trội của doanh nghiệp B. Kết quả là cả hai doanh nghiệp đều có xu hướng không sản xuất ở mức sản lượng thấp nhưđã cam kết, do đó, mỗi doanh nghiệp chỉ thu được 40 tỷđồng lợi nhuận – một kết cục không đáng được mong đợi nhất đối với các doanh nghiệp này.

    Qua ví dụ trên, chúng ta thấy rằng các doanh nghiệp độc quyền nhóm rất khó thỏa thuận được với nhau để hành động như một cacten độc quyền. Bằng cách cấu kết với nhau đểứng xử như một nhà độc quyền, các doanh nghiệp có thểđịnh giá cao và thu được lợi nhuận độc quyền. Nhưng mỗi doanh nghiệp lại luôn có động cơđể vi phạm các thỏa thuận có tính chất cấu kết nhằm thu lợi riêng cho mình. Sự lừa gạt hay cạnh tranh với nhau khiến cho các doanh nghiệp không đạt được kết cục tốt nhất do hợp tác mang lại.

    Trò chơi “tiến thoái lưỡng nan của người tù” có thể áp dụng để tìm hiểu nhiều trường hợp khác, trong đó những người tham gia luôn luôn phải đối diện với vấn đề hợp tác hay cạnh tranh với nhau trong thế phụ thuộc lẫn nhau. Trong những trường hợp này, lợi ích cá nhân thường xung đột với lợi ích nhóm và việc theo đuổi các lợi ích cá nhân thường ngăn cản sự hợp tác để rốt cục các bên tham gia đều rơi vào tình thế bất lợi. Ta hãy xem xét thêm một vài ví dụ.

    Cạnh tranh giá cả: Trên thị trường độc quyền nhóm, cạnh tranh giá cả cũng là một phương thức mà các doanh nghiệp thường sử dụng đểđối phó với các đối thủ và tìm cách mở rộng thị trường mỗi khi có thể. Do có quyền lực thị trường, doanh nghiệp độc quyền nhóm không phải là người chấp nhận giá mà có khả năng định giá. Nếu cấu kết được với nhau trong vấn đềđịnh giá, các doanh nghiệp có thể tối đa hóa lợi nhuận tổng thể. Mỗi doanh nghiệp phải cam kết định giá ở một mức giá nào đó (ta gọi đó là mức giá cấu kết). Khi định giá theo mức giá cấu kết, mỗi doanh nghiệp đều hy vọng các đối thủ của mình cũng sẽ làm như vậy. Tuy nhiên, nếu các đối thủđịnh giá ở mức giá cao nhưđã cam kết, một doanh nghiệp lại có thể gia tăng được lợi nhuận riêng của mình bằng cách lựa chọn mức giá khác với mức giá cấu kết. Chẳng hạn, bằng cách lựa chọn mức giá thấp hơn, doanh nghiệp có thể thu hút thêm được nhiều khách hàng của các đối thủ, mở rộng được thị phần, nhờđó gia tăng được lợi nhuận, mặc dù điều này làm giảm tổng lợi nhuận chung cũng như lợi nhuận riêng của các đối thủ. Một lần nữa chúng ta lại thấy các doanh nghiệp độc quyền nhóm rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: nếu duy trì các mức giá cấu kết, chúng có thể thu được lợi nhuận cao bằng cách tối đa hóa lợi nhuận tổng thể của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, mức giá cấu kết lại không phải là mức giá tối đa hóa lợi nhuận của từng doanh nghiệp riêng lẻ. Mỗi doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao hơn bằng cách lừa gạt đối thủ (để cho các đối thủđịnh giá theo mức cấu kết, còn mình sẽđịnh giá khác). Khi nghi ngờđối thủ cũng sẽ vi phạm điều đã cam kết, doanh nghiệp sẽ bị lôi cuốn vào cuộc cạnh tranh giá cả. Nếu các đối thủ không còn duy trì mức giá cấu kết, việc định giá thấp hơn để duy trì thị phần vẫn đem lại cho mỗi doanh nghiệp một kết cục tốt hơn so với việc một mình nó định giá theo mức giá cấu kết. Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp vẫn có một chiến lược trội: định giá thấp hơn mức giá cấu kết. Khi tất cả các doanh nghiệp đều hành động như vậy, các doanh nghiệp riêng biệt không mở rộng được thị phần của mình cũng như không gia tăng được lợi nhuận. Trái lại, do phải hạ giá chung, các doanh nghiệp đều phải chấp nhận mức lợi nhuận thấp hơn. Kết quả của cuộc cạnh tranh giá cả là: lợi nhuận của các doanh nghiệp cũng như toàn ngành đều giảm sút so với trường hợp chúng có thể hợp tác được với nhau để duy trì các mức giá tối ưu hơn.

    Tính lặp đi, lặp lại của trò chơi và sự hợp tác

    Chúng ta đã thấy, do động cơ cá nhân có tính ích kỷ, các doanh nghiệp độc quyền nhóm khó duy trì được sự hợp tác hay cấu kết trong hành động. Mỗi doanh nghiệp đều có xu hướng vi phạm các thỏa thuận (công khai hay ngấm ngầm) đã đạt được do chạy theo lợi ích riêng của mình. Dù vẫn biết cạnh tranh hay sự bất hợp tác không đem lại kết cục tốt nhất cho mỗi doanh nghiệp và tổng thể các doanh nghiệp, xu hướng vi phạm này khiến cho các doanh nghiệp không đi đến được những thỏa thuận có tính chất hợp tác với nhau.

    Cần lưu ý rằng, khi chúng ta nói, nếu các doanh nghiệp độc quyền nhóm cấu kết được với nhau, chúng có thể giành được một kết cục có lợi nhất, chúng ta mới chỉ xét theo lợi ích nhóm của chúng. Tuy nhiên, đó có thể không phải là kết cục mà xã hội mong đợi. Việc cấu kết để có thểứng xử như một cacten độc quyền, mặc dù cho phép các doanh nghiệp có thể tối đa hóa được lợi nhuận chung của chúng song lại có thể gây ra tổn thất hiệu quảđối với xã hội (điều này chúng ta sẽ xem xét ở chương 10). Chẳng hạn, việc cấu kết để duy trì sản lượng thấp, định giá cao nhằm thu lợi nhuận độc quyền có thể làm thiệt hại cho những người tiêu dùng. Những người này sẽ phải mua hàng hóa với giá đắt hơn và phải tiêu dùng với một khối lượng hàng hóa ít hơn. Chính vì sự cấu kết của các doanh nghiệp lớn có thể gây ra tổn thất hiệu quả xã hội nên nó thường bị luật pháp ngăn cấm. Thành thử việc cấu kết dưới dạng các thỏa thuận công khai của các doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia thường bị xem là một hành vi bất hợp pháp. Trong điều kiện đó, sự cấu kết, nếu diễn ra thường phải thực hiện dưới dạng các thỏa thuận ngầm. Điều này làm cho việc cấu kết hay hợp tác giữa các doanh nghiệp độc quyền nhóm càng trở nên khó khăn hơn.

    Tuy nhiên, trên thực tế, đôi khi sự cấu kết hay hợp tác vẫn tồn tại trong một số ít trường hợp. Động lực nằm đằng sau quá trình này chính là sự những cân nhắc về lợi ích dài hạn của các doanh nghiệp khi trò chơi được lặp đi, lặp lại nhiều lần.

    Chúng ta trở lại ví dụ về hai doanh nghiệp độc quyền nhóm A và B đứng trước sự lựa chọn giữa hai chiến lược hành động: cấu kết với nhau để duy trì sản lượng thấp hay cạnh tranh với nhau bằng chiến lược sản lượng cao. Nếu trò chơi cấu kết nói trên chỉ diễn ra một lần, động cơđể lừa gạt đối thủ và vi phạm các thỏa thuận chung sẽ tương đối mạnh ở mỗi doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp sẽ sẵn sàng sản xuất ở mức sản lượng cao với kỳ vọng sẽ thu được 80 tỷđồng lợi nhuận trong một kỳ kinh doanh (ví dụ một tháng) thay vì 60 tỷđồng. Khi đối thủ chưa kịp phản ứng do vẫn bị ràng buộc bởi các điều đã thỏa thuận, một doanh nghiệp có thể thu thêm được 20 tỷđồng lợi nhuận trong kỳ bằng cách vi phạm các cam kết. Khoản lợi nhuận tăng thêm khá hấp dẫn để doanh nghiệp lựa chọn chiến lược lừa gạt đối thủ. Tuy nhiên, nếu trò chơi lặp đi, lặp lại nhiều lần, doanh nghiệp sẽ hiểu ngay kết cục dài hạn: một khi nó đã lựa chọn sản xuất với mức sản lượng cao, doanh nghiệp đối thủ sẽ có đủ lý do để không chấp nhận sản xuất ở mức sản lượng thấp nhưđã thỏa thuận. Trong kỳ tiếp theo, doanh nghiệp này cũng sẽ sản xuất ở mức sản lượng cao và lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp chỉ còn 40 tỷđồng. Thay vì triển vọng thu thêm được 20 tỷđồng trong một lần (trong một tháng duy nhất, doanh nghiệp đang có ý định lừa gạt đối thủ sẽđối diện với nguy cơ bị trừng phạt trong dài hạn: mỗi tháng tiếp theo, nó sẽ mất mát 20 tỷđồng lợi nhuận (do lợi nhuận cấu kết 60 tỷđồng sẽ giảm xuống còn 40 tỷđồng khi sự cấu kết mất đi và đối thủđã kịp nâng sản lượng lên mức cao). Cân nhắc về lợi ích dài hạn này có thể khiến doanh nghiệp bỏ qua sự cám dỗ của việc thu thêm 20 tỷđồng một lần nhờ vi phạm thỏa thuận. Rõ ràng, trong trường hợp trò chơi lặp đi, lặp lại nhiều lần, sự cấu kết có khả năng được duy trì. Sự trừng phạt hay trảđũa của đối thủ khi mỗi doanh nghiệp vi phạm các thỏa thuận sẽ khuyến khích chúng có tinh thần hợp tác với nhau hơn.

    * So sánh thị trường độc quyền nhóm, thị trường độc quyền và thị trường cạnh tranh hoàn hảo

    Như vậy, ở trạng thái cân bằng của thị trường độc quyền nhóm, sản lượng của ngành sẽ cao hơn sản lượng độc quyền (sản lượng cấu kết) vì các doanh nghiệp đều có xu hướng tăng sản lượng để mở rộng thị phần và theo đuổi một mức lợi nhuận riêng cao hơn. Khi tất cả các doanh nghiệp đều làm như vậy, giá cả sẽ giảm (so với mức giá cấu kết), tổng lợi nhuận sẽ không được tối đa hóa.

    Trạng thái cân bằng trên thị trường độc quyền nhóm, khi các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau vì động cơ cá nhân, cũng không phải là một kết cục giống như thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Là một người có quyền lực thị trường, hoạt động trên một thị trường chỉ có một nhóm nhỏ các doanh nghiệp, nhà sản xuất độc quyền nhóm sẽ không tăng sản lượng đến mức làm cho giá cả bằng chi phi biên (vì như vậy, doanh thu biên sẽ nhỏ hơn chi phí biên, mức sản lượng của doanh nghiệp sẽ không phải là tối ưu). Như thế, so với kết cục cân bằng trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, sản lượng của các doanh nghiệp độc quyền nhóm sẽ thấp hơn, do đó, mức giá tương ứng sẽ cao hơn.

    Khi số lượng doanh nghiệp trên thị trường độc quyền nhóm tăng lên, thỏa thuận giữa chúng để thiết lập một cacten độc quyền trở nên khó khăn hơn (do chi phí giao dịch đểđi đến thỏa thuận chung và duy trì hiệu lực của nó tăng lên). Khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ lớn hơn. Trong trường hợp các doanh nghiệp không cấu kết được với nhau, mỗi doanh nghiệp phải tự mình ra quyết định về sản lượng và giá cả một cách riêng rẽ. Khi cân nhắc xem có nên sản xuất thêm một đơn vị sản lượng, trong trường hợp mức giá còn cao hơn chi phí biên, doanh nghiệp sẽ thận trọng xem xét ảnh hưởng của việc tăng sản lượng này. Như chúng ta đã biết, khi doanh nghiệp sản xuất thêm đơn vị sản lượng thứ ( q + 1), doanh thu biên nó thu thêm được là: MR(q+1) = q.(+1 – ) + +1. Phần lợi nhuận mà nó có thể thu thêm được do sự chênh lệch giữa giá (+1) và chi phí biên (+1) cần phải được so sánh với phần mất mát về lợi nhuận do giá giảm (thể hiện bằng đại lượng q.(+1 – ), trong đó +1<). Tuy nhiên, khi số lượng doanh nghiệp càng nhiều, mỗi doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ so với quy mô chung của thị trường, ảnh hưởng của nó đến giá cả thị trường càng nhỏ. Trong trường hợp này, doanh nghiệp càng ít quan tâm hơn đến tác động giảm giá của việc tăng sản lượng. Khi coi phần mất mát về lợi nhuận do giá giảm là không đáng kể, nó có xu hướng tiến gần hơn cách ứng xử của một doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo: tăng sản lượng chừng nào giá cả còn lớn hơn chi phí biên. Điều này cho thấy: khi số lượng doanh nghiệp trên thị trường độc quyền tăng lên, kết cục ở thị trường này càng trở nên giống với kết cục của một thị trường cạnh tranh hoàn hảo.

  • doc quyen nhom
  • ví dụ hình thái thị trường độc quyền nhóm
  • thị trường độc quyền nhoma
  • ví dụ độc quyền nhóm
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương 3: Kỹ Năng Mềm
  • Mô Hình Nghiên Cứu Thực Nghiệm
  • Bai 2 Mo Hinh Nghien Cuu Va Kiem Dinh Su Tin Cay Thang Do
  • Định Nghĩa Và Tính Chất Của Bao Bì
  • Định Nghĩa Căn Thức Bậc Hai Là Gì? Tính Chất Của Căn Bậc Hai
  • Khái Niệm Và Đặc Trưng Của Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ

    --- Bài mới hơn ---

  • Doanh Nghiệp Tư Nhân Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Bảo Hiểm Nhân Thọ
  • Đặc Điểm Của Mua Bán Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Mua Bán, Sáp Nhập Doanh Nghiệp
  • Tổng Quan Về Hoạt Động Mua Bán Doanh Nghiệp (M&a)
  • ” Bảo hiểm là một sự thỏa thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (Người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (Phí bảo hiểm) cho tổ chức khác (Người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.”

    – Thỏa thuận hợp pháp về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng và hợp pháp về các nội dung ký kết trong hợp đồng. Ví dụ các điều kiện bảo hiểm, mức phí phù hợp với quy định của pháp luật. Các bên tham gia ký kết hợp đồng phải có đầy đủ tư cách pháp lý.

    – Người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm đại diện cho cả cá nhân hoặc tổ chức (hội, nhóm, công ty…có đăng ký chính thức). Ở Việt Nam, chỉ có các công ty có đăng ký và được cấp phép thì mới được kinh doanh bảo hiểm. Bởi vậy, người bảo hiểm ở đây chỉ bao gồm các công ty bảo hiểm.

    II/ Đặc trưng của bảo hiểm phi nhân thọ. 1/ Đặc điểm chung:

    Bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng và bảo hiểm nói chung có đặc trưng là ngành dịch vụ đặc biệt.

    Nó đặc biệt bởi:

    a/ Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình: thế nào là sản phẩm vô hình?

    Sản phẩm bảo hiểm, về bản chất là một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng. Khách hàng đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai.

    Khác với sản phẩm vật chất mà người mua có thể cảm nhận được qua cac giác quan, người mua sản phẩm bảo hiểm không thể chỉ ra mầu sắc, hình dáng, kích thước hay mùi vị của sản phẩm. Họ cũng không thể cảm nhận được bằng các giác quan như cầm nắm, sờ mó, ngủi hoặc nếm thử…

    b/ Bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược:

    Khác với chu trình sản xuất hàng hóa thông thường, khi giá cả được quyết định sau khi đã biết được chi phí sản xuất ra hàng hóa đó. Như vậy, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hữu hình phải bỏ vốn ra trước, mua các máy móc, nguyên vật liêu, thuê nhân công thì mới sản xuất ra sản phẩm và thực hiện quy trình đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, khi sản phẩm đó bán được doanh nghiệp mới thu tiền về, trong khoản tiền này bao gồm cả vốn doanh nghiệp bỏ ra và lãi doanh nghiệp nhận được. Còn doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn trước, họ nhận phí bảo hiểm trước của người tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên được bảo hiểm khi xảy ra sự cố bảo hiểm. Do vậy, không thể tính được chính xác hiệu quả của một sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán sản phẩm.

    Thông thường, hợp đồng bảo hiểm được coi là có hiệu lực ngay sau khi có sự chấp nhận của Người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo hợp đồng. Phí bảo hiểm mà khách hàng đóng khi ký hợp đồng chính là giá bán một hợp đồng bảo hiểm.

    Ví dụ, công ty bảo hiểm B bán bảo hiểm tai nạn con người. Người tham gia bảo hiểm đóng phí để mua dịch vụ bảo hiểm vào ngày đầu năm. Công ty bảohiểm B có ngay doanh thu từ đầu năm. Các hợp đồng bảo hiểm này sẽ kết thức vào ngày cuối năm, khi đó trách nhiệm của các công ty bảo hiểm B trước các tổn thất – theo như thỏa thuận trong hợp đồng – sẽ chấm dứt. Đến ngày cuối năm, công ty bảo hiểm B mới có thể tính được chi phí triển khai dịch vụ bảo hiểm này. Tương tự như vậy là chi phí hoạt động của công ty. Chu trình kinh doanh của bảo hiểm có đặc điểm là công ty bảo hiểm định giá bán dịch vụ của mình trước khi tính toán được chi phí mình bỏ ra.

    Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đưa loại sản phẩm nào ra thị trường. Nếu một sản phẩm đưa ra được đông đảo người mua chấp nhận, công ty bảo hiểm sẽ thu về một khoản tổng phí bảo hiểm rất lớn. Khi rủi ro xảy ra cho một số khách hàng nào đó, công ty bảo hiểm có đủ khả năng chi trả mà không bị bội chi. Ngược lại, nếu chỉ có một số ít khách hàng chấp nhận, tổng phí thu được nhỏ bé. Công ty bảo hiểm sẽ dễ rơi vào tình trạng thu không đủ chi nếu như nhóm khách hàng đó có tỷ lệ rủi ro quá cao trong khoảng thời gian các hợp đồng bảo hiểm còn có hiệu lực.

    Mặt khác, chu trình kinh doanh ngược còn có tác dụng chi phối trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất của người được bảo hiểm khi họ đã được một hợp đồng bảo hiểm bảo vệ. Bởi lẽ nếu tổn thất xảy ra ít, giá bán của các hợp đồng bảo hiểm năm sau đó sẽ được giảm đi ( hay nói cách khác, khách hàng sẽ được giảm phí), ngược lại, nếu tỷ lệ tổn thất lớn, khách hàng sẽ phải trả phí cao hơn vào những năm sau.

    c/ Tâm lý người mua hàng không muốn tiêu dùng dịch vụ này:

    Người mua bảo hiểm không mong muốn có sự kiện rủi ro xảy ra để được nhận quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn gấp bội lần so với số phí phải đóng.

    Quá trình mua sản phẩm bảo hiểm chịu sự chi phối của các yếu tố tâm lý. Do chi phối bởi những tập tục, quan niệm có thể mang nặng yếu tố tâm linh, nên nói chung người mua không muốn nói đến rủi ro, không muốn thấy cụ thể những hậu quả của rủi ro có thể được bảo hiểm, điểm hình nhất trong bảo hiểm tử vong hay thương tật.

    Nhưng ngược lại, người mua coi việc mua một sản phẩm bảo hiểm như một chiếc bùa hộ mệnh, giúp họ yên tâm hơn về mặt tinh thần đồng thời có sự đảm bảo về mặt vật chất khi điều không may xảy ra. Người bán cũng dễ bị ý nghĩ chiều lòng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mà thiếu sự cân nhắc cần thiết cho việc lực chọn và đánh giá những rủi ro có thế đảm nhận.

    Trong khi tiến hành giao dịch chào bán dịch vụ, cán bộ bảo hiểm phải chú ý tới đặc điểm này để thuyết phục khách hàng khi họ nói không quan tâm đến rủi ro và không mong muốn rủi ro xảy ra đối với họ. Bởi lẽ, tất cả đều không mong muốn những tai nạn, tổn thất xảy ra. Mặt khác, bảo hiểm là tấm lá chắn cho những điều không mong muốn này. Thông qua thực tế tình hình thiên tai, tai nạn, cũng như giải quyết bồi thường tổn thất tại địa phương, để minh chứng về lợi ích của bảo hiểm và sự cần thiết tham gia bảo hiểm.

    2/ Đặc điểm riêng:

    Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm đã đề cập ở trên, bảo hiểm phi nhân thọ còn có những đặc điểm riêng cơ bản sau:

    a/ Thứ nhất: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là một hợp đồng có thời hạn bảo hiểm thường là một năm hoặc ngắn hơn ( như bảo hiểm cho một chuyến hoạt động từ A đến B hoặc một chuyến du lịch ngắn ngày…)

    b/ Thứ hai: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực

    c/ Thứ ba: Phí bảo hiểm phi nhân thọ được tính cho thời hạn bảo hiểm, thông thường phí tính cho từng năm bảo hiểm hoặc từng chuyến. Phí bảo hiểm cho những năm tiếp theo sẽ có sự thay đổi. Phí bảo hiểm phi nhân thọ còn phụ thuộc mức độ rủi ro. Ví dụ với điều khoản bảo hiểm nếu Người tham gia bảo hiểm giới hạn phạm vi bảo hiểm một vài rủi ro không tham gia thì phí bảo hiểm được xem xét giảm đi, ngược lại nếu mở rộng bảo hiểm thêm một số rủi ro phụ khác thì phí bảo hiểm sẽ tăng lên. Hoặc cùng một thời gian đi du lịch là 2 ngày nhưng nếu tới khu du lịch có mức độ rủi ro lớn hơn, như vùng núi rừng nguy hiểm thì phí bảo hiểm cao hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Marketing Tại Các Công Ty Thương Mại Bán Lẻ Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Khái Niệm Bán Buôn / Bán Lẻ Theo Luật Thương Mại Việt Nam
  • Khái Niệm Về Bán Lẻ Và Cơ Sở Bán Lẻ Của Việt Nam Và Wto
  • Doanh Nghiệp Bị Tuyên Bố Phá Sản Khi Nào?
  • Pháp Luật Về Phá Sản Doanh Nghiệp
  • Thuế Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Trưng Cơ Bản Của Thuế

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tôi Và Tự Tin Dưới Góc Độ Tâm Lý Và Văn Hóa Việt Nam
  • Sự Tự Tin Là Gì? Biểu Hiện Và Cách Rèn Luyện Sự Tự Tin
  • Biến Trở Là Gì, Ý Nghĩa Của Biến Trở, Các Loại Biến Trở Thông Dụng
  • Biến Trở Là Gì ? Cấu Tạo Và Cách Đo Biến Trở
  • Biến Trở Là Gì ? Cấu Tạo ? Nguyên Lý Hoạt Động ? Chức Năng Của Biến Trở
  • Chúng ta thường nhắc đến thuế thư một như một khoản tiền công quỹ phải nộp cho nhà nước mà rất ít ai hiểu tường tận về nó. Vậy thuế là gì? Tất tần tật về thuế mà bạn có thể chưa biết sẽ được chia sẻ trong bài viết này. 

    Thuế là gì? Tất tần tật về thuế. 

    Thuế là gì? Tất tần tật về thuế. 

    1. Thuế là gì?

    Thuế là gì? Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào trên thế giới thống nhất về thuế. Đứng ở các góc độ khác nhau của các nhà kinh tế khác nhau lại có một khái niệm khác nhau về thuế.

    Một trong những khái niệm phổ biến về thuế đó là “Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung”.

    Thuế được áp dụng lần đầu tiên ở Ai Cập cổ đại vào khoảng năm 3000-2900 TCN, nếu không trả tiền hoặc trốn thuế chống lại việc nộp thuế sẽ bị phạt theo quy định của Pháp luật.

    2. Tất tần tật về thuế mà bạn có thể chưa biết

    Nói về thuế, có rất nhiều các vấn mà chúng ta cần biết và tìm hiểu, mỗi công dân phải thực hiện nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước đồng thời cũng là một chủ thể góp phần quản lý nguồn thuế.

    2.1. Tại sao phải đánh thuế? Đặc điểm của thuế

    Khi xã hội loài người được hình thành cần có một tổ chức lãnh đạo được lập ra và hoạt động nhằm đem đến lợi ích cho tất cả mọi người. Điều này đặt ra phải có một quỹ chung để thực hiện và chi cho các công việc cần thiết thuế được hình thành. Hiện nay, thuế đã trở thành một công cụ không thể thiếu dù ở bất cứ xã hội nào. Nhà nước đặt ra chế độ thuế khóa do dân cư đóng góp để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của mình.

    Đặc điểm của thuế:

    Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước là những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.

    • Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.

    • Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất,…).

    • Thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu.

    2.2. Vai trò của thuế

    Thuế giữ vai trò quan trọng trong xã hội hiện tại nếu không có thuế nhà nước sẽ không thể hoạt động vững mạnh.

    Nguồn thu của ngân sách nhà nước: Thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất, mang tính chất ổn định lâu dài và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng.

    Công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.

    Vai trò của thuế và phân loại thuế.

    Vai trò của thuế và phân loại thuế.

    2.3. Phân loại thuế

    Căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau mà người ta phân thuế ra thành nhiều loại để có thể dễ dàng quản lý.

    Phân loại theo hình thức thu gồm:

    • Thuế trực thu: Là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân. VD: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển nhượng quyền sở hữu đất. 

    • Thuế gián thu: Là loại thuế do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cung cấp dịch vụ nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêu dùng chịu. VD: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.

    Phân loại theo tính chất hành chính gồm:

    • Thuế nhà nước (quốc gia): nộp vào ngân sách trung ương

    • Thuế địa phương: nộp vào ngân sách chính quyền địa phương

    Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng.

    Phân loại thuế theo tính chất kinh tế gồm có:

    • Dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế: Thuế được chia thành thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tài sản tiêu dùng, thuế đánh vào tài sản, thuế đánh vào doanh nghiệp

    • Dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế: Thuế có các loại gồm thuế đánh vào doanh nghiệp như: Thuế môn bài, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí, lệ phí khác, tiền thuế đất, thuế đánh vào hộ gia đình, thuế đánh vào sản phẩm.

    • Dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế: Ví dụ thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản…

    2.4. Kế toán thuế

    Nghiệp vụ của kế toán thuế là gì?

    Nghiệp vụ của kế toán thuế là gì?

    Kế toán thuế là một trong những vị trí không thể thiếu ở mỗi doanh nghiệp trong xã hội hiện đại. Quá trình phát triển buôn bán thương mại ngày một tăng cao, kiểm soát thuế là một trong những vấn đề vô cùng khó khăn không chỉ đối với nhà nước mà còn đối với mỗi doanh nghiệp.

    Nghiệp vụ kế toán thuế xảy ra thường xuyên và định kỳ đảm bảo quyền và nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Kế toán thuế có ý nghĩa quan trọng, các thông tin mua bán trao đổi được kế. toán thuế lưu trữ và tổng hợp làm căn cứ xác định thuế mà doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh phải nộp cho nhà nước.

    Trước kia kế toán thuế thường quản lý hóa đơn, chứng từ giấy điều này khiến cho kế toán thuế rất bận và quá tải công việc, còn thường xuyên xảy ra các sai sót không đáng có. Phần mềm hóa đơn điện tử ra đời đánh dấu một bước ngoặt mới trong việc áp dụng công nghệ và quản lý sản xuất.

    Hóa đơn điện tử giúp kế toán thuế có thể quản lý, tra cứu hóa đơn mọi lúc mọi nơi, xuất lập hóa đơn nhanh chóng dễ dàng, đặc biệt chi phí lưu trữ, vận chuyển, bảo quản hóa đơn chứng từ được giảm xuống tối đa đem đến hiệu quả tối ưu cho doanh nghiệp.

    Thuế được công khai minh bạch đảm bảo cho một xã hội phát triển vững mạnh, nộp thuế vừa là trách nhiệm vừa là nghĩa vụ của các doanh nghiệp.

    Qua những chia sẻ của chúng tôi về thuế và các đặc trưng cơ bản của thuế hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn.  Để được tìm hiểm thêm về hóa đơn điện tử và cách áp dụng quản lý hóa đơn chứng từ hiệu quả các bạn có thể tham khảo tại website: https://einvoice.vn/. Hoặc gọi điện trực tiếp theo đường dây nóng 19004767 hoặc 02437545222. Các chuyên viên của chúng tôi luôn sẵn lòng được giúp đỡ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Cổ Phần Môi Trường Đô Thị Đà Nẵng
  • Nỗi Vất Vả Của Công Nhân Vệ Sinh Môi Trường Trong Thời Tiết Khắc Nghiệt
  • Tiếng Trung Nghiêm Thùy Trang
  • Ý Nghĩa Của Câu : «Nhân Vô Thập Toàn»
  • Đô Thị Vị Nhân Sinh Hay Vị Dân Sinh?
  • Thị Trường Văn Hóa, Khái Niệm Và Đặc Trưng

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Vụ Internet Là Gì? Vai Trò Các Nhà Cung Cấp Dịch Vụ (Isp) Và Internet Nhà Mạng Nào Tốt Nhất? (#1) · Issues · Dam Hung / Mang
  • Khái Niệm “đại Lý Internet” Và “đại Lý Dịch Vụ Viễn Thông”
  • Internet Banking Là Gì? Tiện Ích Dịch Vụ Của Internet Banking
  • Khách Sạn Là Gì? Các Khái Niệm Về Khách Sạn, Quảng Bá Khách Sạn Là Gì, Đặt Phòng Trực Tuyến Là Gì, Khach San La Gi, Cac Khai Niem Ve Khach San
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Khám Chữa Bệnh Tại Bệnh Viện Bình Điền, Hay
  • Thị trường, thị trường văn hóa là một thuật ngữ quen thuộc gắn liền với đời sống kinh tế xã hội của cộng đồng. Hàng hóa văn hóa bao gồm các sản phẩm và dịch vụ văn hóa được sáng tạo, sản xuất ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần và trí tuệ của xã hội; chúng cũng được trao đổi mua bán trên cơ sở các quy luật kinh tế như cung cầu, giá trị và cạnh tranh. Ở Việt Nam, thị trường văn hóa có những đặc trưng riêng có. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, sự khác biệt này cần được nhận diện nhằm khơi nguồn các dòng chảy văn hóa trong và ngoài nước, phát triển lành mạnh thị trường văn hóa trong nước, góp phần tích cực vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

    1. Thị trường

    Theo cách hiểu truyền thống, thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa. Đó là loại thị trường hữu hình có không gian, địa điểm cụ thể để người mua, người bán thực hiện các hành vi trao đổi mua bán một loại hàng hóa dịch vụ bất kỳ nhằm thỏa mãn nhu cầu. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, bên cạnh thị trường hữu hình còn có thị trường vô hình với những quan hệ đan xen, phức tạp. Thuật ngữ thị trường hiện nay cũng có nhiều cách hiểu khác nhau như: là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi; là một tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa dịch vụ… Tựu chung, các định nghĩa về thị trường đều nhấn mạnh mối quan hệ ràng buộc giữa các yếu tố mua, bán, hàng hóa, giá cả và các yếu tố khác có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với hành vi và quá trình mua bán hàng hóa của người bán và người mua.

    Thị trường là một quá trình, ở đó các dòng chảy vật chất và phi vật chất vận động liên tục, hàng hóa được di chuyển từ tay các nhà sản xuất kinh doanh và cuối cùng chúng được chuyển giao quyền sở hữu cho người tiêu dùng, sử dụng. Dưới sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan, các quan hệ thị trường trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp. Nhằm đáp ứng nhu cầu hàng hóa của xã hội, ngày càng xuất hiện nhiều lực lượng tham gia sản xuất, kinh doanh hàng hóa, quá trình này làm cho giá cả hàng hóa có xu hướng rẻ hơn, chất lượng của hàng hóa lại có xu hướng tăng lên, hàng hóa trên thị trường ngày càng trở nên hấp dẫn với công chúng tiêu dùng.

    Ở Việt Nam, chúng ta đã làm rõ các loại thị trường và nhấn mạnh việc phát triển đồng bộ các loại thị trường, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc phát triển đồng bộ thị trường bao gồm phát triển các thị trường hàng hóa dịch vụ, tài chính, vốn, tiền tệ, bất động sản, lao động, khoa học và công nghệ. Thị trường văn hóa là một bộ phận cấu thành của thị trường hàng hóa và dịch vụ nhưng có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với các thị trường còn lại, đặc biệt là thị trường khoa học và công nghệ, được coi là bệ đỡ công nghệ cho những sáng tạo và thăng hoa trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Tóm lại, bất kể là loại thị trường nào cũng bao gồm các yếu tố cấu thành: người mua, người bán, hàng hóa, giá cả và cạnh tranh.

    Người mua bao gồm những khách hàng đã, đang và sẽ có nhu cầu về loại hàng hóa nhất định và có khả năng thanh toán. Trong những không gian và thời gian khác nhau, phụ thuộc vào từng nhóm khách hàng, họ có những đòi hỏi và thỏa mãn nhu cầu ở các mức độ khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào khả năng, trình độ, môi trường và điều kiện sống của khách hàng. Khách hàng có thể là người mua trung gian (các đại lý, nhà bán buôn, nhà bán lẻ) hoặc người mua cuối cùng (người tiêu dùng, sử dụng).

    Người bán còn gọi là nhà cung cấp, nhà phân phối hàng hóa ra thị trường. Họ vừa là người bán nhưng cũng có thể là người mua với vai trò trung gian trên thị trường. Nhà cung cấp hàng hóa có thể là nhà sản xuất, nhà bán buôn, bán lẻ hoặc là nhà nhập khẩu hàng hóa.

    Hàng hóa – đối tượng trao đổi giữa người bán và người mua, là yếu tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và mối quan hệ giữa người bán và người có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa.

    Giá cả là biểu hiện tiền tệ của giá trị hàng hóa, phân biệt lượng giá trị giữa các loại hàng hóa khác nhau. Thông thường một loại hàng hóa có giá trị lớn, giá của chúng sẽ cao và ngược lại. Trên thị trường, thông thường giá hàng hóa thấp thì cầu hàng hóa cao, sức mua lớn, cung hàng hóa giảm và ngược lại, khi giá tăng, cầu hàng hóa sẽ giảm và cung hàng hóa tăng lên. Các nhà sản xuất kinh doanh trên thị trường thường sử dụng một trong những vũ khí cạnh tranh hiệu quả chính là giá bán của hàng hóa.

    Trong nền kinh tế thị trường đa thành phần, đa sở hữu, cạnh tranh sản xuất, kinh doanh là một quy luật tất yếu khách quan. Cạnh tranh vừa là động lực, vừa là mục tiêu và là vũ khí lợi hại đảm bảo sự phát triển lâu dài của các doanh nghiệp trên thị trường. Cạnh tranh tạo ra sự sôi động của thị trường, làm cho các thành phần, lực lượng tham gia thị trường phát triển, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh đáp ứng tốt nhu cầu hàng hóa dịch vụ cho xã hội.

    2. Thị trường văn hóa

    Thị trường văn hóa là quá trình, trong đó một bên là các nhà cung cấp phân phối, một bên là công chúng thực hiện việc trao đổi, mua bán một hay nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa bằng những cách thức khác nhau để xác định giá cả, số lượng, phương thức thanh toán và phương thức thụ hưởng phù hợp.

    Như vậy, thị trường văn hóa không đơn giản chỉ là nơi diễn ra các quan hệ mua bán, trao đổi sản phẩm và dịch vụ văn hóa mà là một quá trình tương tác phức tạp giữa một bên là các nhà cung cấp, phân phối, một bên là người thụ hưởng sản phẩm và dịch vụ văn hóa.

    Thị trường văn hóa bao gồm các thành phần chính: người sáng tạo, sản xuất văn hóa, người tiêu dùng, thụ hưởng văn hóa. Như vậy, hoạt động sáng tạo, sản xuất văn hóa không còn là hoạt động cá nhân thuần túy của người nghệ sĩ mà được nối liền với toàn bộ xã hội qua trung gian thị trường. Các sản phẩm văn hóa hiện nay được sản xuất công nghiệp với một quy trình khép kín từ đầu vào đến khâu tiêu thụ, tiêu dùng trong xã hội. Hàm lượng kỹ thuật và công nghệ cao ngày càng gia tăng và thấm đẫm trong từng yếu tố của các loại hình sản phẩm dịch vụ văn hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của con người trong xã hội hiện đại.

    Tùy theo nhu cầu và khả năng thanh toán của người thụ hưởng, các nhà sản xuất sẽ tạo ra những phương thức thỏa mãn tiện ích. Người tiêu dùng, thụ hưởng có thể thỏa mãn nhu cầu bằng cách sử dụng các dịch vụ văn hóa công cộng hoặc thưởng thức, thụ hưởng tại nhà; hoặc có nhiều phương thức khác để thỏa mãn nhu cầu cá nhân và tập thể như: đăng ký dịch vụ dùng thử hàng hóa; đăng ký mua hàng qua mạng, qua điện thoại; sử dụng dịch vụ tư vấn miễn phí trước khi mua hàng…

    Khác với các loại thị trường khác, thị trường văn hóa mang tính đặc thù. Các sản phẩm và dịch vụ văn hóa là loại hàng hóa đặc biệt, khi sản xuất lưu thông chúng không thể tính toán, đo lường giá trị, hạch toán lỗ lãi. Giá trị sử dụng của hàng hóa văn hóa thường lớn hơn giá trị nhiều lần và chúng có sức lan tỏa trong không gian, theo thời gian. Khi tiêu dùng, thụ hưởng hàng hóa văn hóa đòi hỏi người thưởng thức phải có sự trải nghiệm sống nhất định… Có những sản phẩm và dịch vụ văn hóa được định giá cao trên thị trường và cùng với thời gian, giá trị này có thể còn tăng lên nhiều lần. Các sản phẩm và dịch vụ văn hóa không chỉ thể hiện giá trị vật chất mà còn bao gồm cả các giá trị tinh thần, tri thức, tình cảm, khả năng thẩm mỹ, sức sáng tạo của một dân tộc. Chính nhờ những giá trị văn hóa ẩn dấu bên trong các sản phẩm và dịch vụ văn hóa cụ thể mà nhiều sản phẩm văn hóa cùng với thời gian ngày càng trở nên giá trị hơn. Bản thân hàng hóa văn hóa chứa đựng nhiều ẩn số thông điệp và giá trị của cuộc sống, mang tính thông tin truyền thông.

    Động cơ mua bán sản phẩm và dịch vụ văn hóa, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần cũng không chỉ đơn giản xuất phát từ mong muốn, đòi hỏi của cá nhân mà chúng chịu sự chi phối và tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia. Việc sản xuất và lưu thông sản phẩm, dịch vụ văn hóa trên thị trường, ngay cả việc tiêu dùng sử dụng của công chúng cũng chịu sự định hướng của Nhà nước. Sản phẩm dịch vụ văn hóa là loại hàng hóa đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần trong xã hội. Trên thị trường, nhiều sản phẩm dịch vụ văn hóa được điều tiết theo giá cả thị trường, giá trị hàng hóa lớn thì giá của chúng cao và ngược lại. Tuy nhiên có không ít các sản phẩm dịch vụ văn hóa trên thị trường có giá trị lớn nhưng không phải là sản phẩm dịch vụ để bán, Nhà nước sử dụng chúng cho mục tiêu đáp ứng nhu cầu hưởng thụ công cộng.

    Quá trình mua bán sản phẩm và dịch vụ văn hóa trên thị trường diễn ra lâu dài và phức tạp, bởi hàng hóa văn hóa đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần – loại nhu cầu hình thành sau nhu cầu vật chất. Khi xem xét thị trường văn hóa cần nhìn nhận đầy đủ các thành tố cũng như các mối quan hệ hữu cơ, tương tác giữa chúng. Các thành tố của thị trường văn hóa, bản thân chúng đi theo một chu trình phát triển nội tại: xuất phát từ nhu cầu sản phẩm, dịch vụ văn hóa của xã hội dẫn đến sự tham gia của các lực lượng sản xuất cung cấp trong và ngoài nước, sản phẩm và dịch vụ văn hóa được sản xuất và đưa ra thị trường với các mức giá khác nhau, sự cạnh tranh diễn ra trên nhiều phương diện.

    3. Đặc trưng của thị trường văn hóa

    Thị trường văn hóa là dạng thị trường đặc thù, bởi thị trường đó lưu thông, phân phối, trao đổi loại hàng hóa thuộc lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Đối với một loại sản phẩm và dịch vụ văn hóa cụ thể, không phải bất cứ đối tượng nào, ở trình độ nào cũng có thể tiêu dùng sử dụng. Người sử dụng sản phẩm dịch vụ văn hóa phải có trình độ nhận thức và trải nghiệm nhất định. Do đó, quá trình xuất hiện nhu cầu mua, hưởng thụ sản phẩm và dịch vụ văn hóa cũng diễn ra lâu dài và phức tạp hơn so với nhu cầu mua tiêu dùng các hàng hóa thông thường khác.

    Tính đặc thù của thị trường văn hóa thể hiện ở chính những đặc trưng của nó trong các quan hệ cung cầu, giá cả và cạnh tranh trên thị trường.

    Đặc trưng về quan hệ cung cầu

    Cầu về sản phẩm dịch vụ văn hóa: cầu hàng hóa được hình thành từ nhu cầu hàng hóa, song nhu cầu đó phải có hai điều kiện cơ bản người có nhu cầu về hàng hóa và nhu cầu có khả năng thanh toán. Thiếu một trong hai điều kiện trên, nhu cầu không thể trở thành cầu.

    Đối với sản phẩm và dịch vụ văn hóa, khi lưu thông trên thị trường phải tuân theo các quy luật kinh tế. Mặt khác, sản phẩm, dịch vụ văn hóa là sản phẩm tinh thần thuộc lĩnh vực văn hóa tư tưởng nên chịu sự điều tiết bởi định hướng tiêu dùng văn hóa của quốc gia. Để nhu cầu trở thành cầu phải trải qua quá trình tuyên truyền, vận động của người bán đối với người mua, người mua phải có một trình độ, năng lực thẩm mỹ nhất định. Vì vậy, nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ văn hóa còn gắn liền với trình độ dân trí và học vấn của xã hội cũng như các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, trong thực tiễn, hành vi mua, hưởng thụ các sản phẩm và dịch vụ văn hóa của xã hội hiện nay còn bị phụ thuộc chủ yếu vào khả năng thu nhập cá nhân.

    Cung về sản phẩm dịch vụ văn hóa: cung là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, cung sản phẩm và dịch vụ văn hóa không hoàn toàn tuân theo quy luật chung. Sản phẩm và dịch vụ văn hóa không đơn giản chỉ là công cụ, phương tiện học tập và giải trí của con người mà chúng còn là vũ khí đấu tranh sắc bén của một giai cấp hay một quốc gia. Do vậy, cung không chỉ đáp ứng cầu sản phẩm và dịch vụ văn hóa trên thị trường mà còn phải định hướng nhu cầu văn hóa của xã hội. Cũng như vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm và dịch vụ văn hóa ngày nay không chỉ đáp ứng những nhu cầu thị trường cần mà phải có khả năng đáp ứng những nhu cầu theo định hướng quốc gia. Nhiều sản phẩm và dịch vụ văn hóa có cầu, thậm chí sức mua lớn, lợi nhuận cao nhưng không có cung (không được phép sản xuất cung cấp trên thị trường). Ngược lại, không ít những sản phẩm và dịch vụ văn hóa có sức mua thấp, thậm chí không có nhu cầu vẫn có cung hoặc cung lớn thực hiện đáp ứng và cung cấp sản phẩm và dịch vụ văn hóa cho xã hội.

    Đặc trưng về quan hệ giá cả

    Giá sản phẩm và dịch vụ văn hóa là giá cả thị trường, chịu tác động của nhiều nhân tố như quy luật cung cầu, cạnh tranh… Sản phẩm, dịch vụ văn hóa là hàng hóa đặc thù, về mặt lý thuyết, giá của chúng được tính bằng lao động sáng tạo của tác giả và chi phí của toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông. Song lao động sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ văn hóa là lao động đặc biệt, rất khó để lượng hóa một cách chính xác. Một sản phẩm hoặc dịch vụ văn hóa có thể đến được với công chúng phải trải qua một quá trình sáng tạo lâu dài. Quãng thời gian hao phí lao động sáng tạo ra sản phẩm và dịch vụ văn hóa là rất lớn, không thể tính hết vào giá thành sản phẩm như các hàng hóa thông thường khác. Vì vậy giữa giá cả và giá trị của sản phẩm, dịch vụ văn hóa thường không đồng nhất và có những khác biệt với giá cả các hàng hóa thông thường.

    Hiện nay, trên thị trường có nhiều sản phẩm, dịch vụ văn hóa có mức giá khác nhau, không tuân theo quy luật giá trị. Có loại sản phẩm và dịch vụ văn hóa giá trị sử dụng rất lớn, nhưng giá bán thấp, có thể thấp hơn giá thành sản phẩm. Sự chênh lệch này hiện được Nhà nước bù đắp bằng chính sách trợ giá, trợ cước phí cho một số mặt hàng. Một số chương trình nghệ thuật đặc sắc, một số loại sách quý hiếm, giá trị lớn cần phổ biến rộng rãi. Các mảng sản phẩm và dịch vụ văn hóa còn lại, được bán theo giá cả thị trường, do sự điều tiết của quy luật thị trường.

    Đặc trưng về cạnh tranh

    Cạnh tranh là bản chất vốn có của thị trường, là sự tìm kiếm lợi ích từ lợi thế hàng hóa, thị trường, khách hàng giữa các lực lượng cung cấp, phân phối sản phẩm dịch văn hóa thông qua giá cả và các dịch vụ bán hàng. Tuy nhiên, đối với thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa, ảnh hưởng của cạnh tranh không chỉ là sự tác động tích cực hay tiêu cực về kinh tế đơn thuần, mà có thể tác động đến an ninh, chính trị, đạo đức, kỷ cương xã hội.

    Sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường giữa các tổ chức doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, sẽ có ảnh hưởng lớn đến xã hội, đặc biệt là nhận thức, lối sống, lý tưởng của giới trẻ hiện nay. Các loại văn hóa phẩm ngoài luồng, thiếu lành mạnh, độc hại nếu không được kiểm soát chặt chẽ, lưu thông phổ biến ngoài thị trường với giá rẻ là một đe dọa lớn đối với sự nghiệp văn hóa và giáo dục của nước ta. Điều này cho thấy vai trò quản lý của Nhà nước đối với thị trường văn hóa là rất lớn trong việc định hướng sản xuất kinh doanh và thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của công chúng, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của xã hội.

    Nguồn : Tạp chí VHNT số 400, tháng 10 – 2021

    Tác giả : ĐỖ THỊ QUYÊN

    Ý kiến bạn đọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Chế Hoạt Động Văn Hóa Và Kinh Doanh Dịch Vụ Văn Hóa Công Cộng
  • Tăng Cường Quản Lý Nhà Nước Đối Với Dịch Vụ Văn Hóa Ở Thị Xã Tam Điệp
  • Tổng Quan Về Nhà Hàng Và Kinh Doanh Nhà Hàng
  • Nhà Hàng Là Gì? Phân Loại Nhà Hàng Bạn Cần Biết
  • Khái Niệm Nhà Hàng Là Gì? Đặc Điểm Và Cách Phân Loại Nhà Hàng
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50