Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tội Phạm Hoàn Thành

--- Bài mới hơn ---

  • Tội Phạm Hoàn Thành Và Tội Phạm Kết Thúc
  • Chế Định Giai Đoạn Phạm Tội Được Quy Định Trong Luật Hình Sự?
  • Phân Biệt Phạm Tội Chưa Đạt Chưa Hoàn Thành Và Chưa Đạt Đã Hoàn Thành
  • Hối Lộ Là Gì ? Khái Niệm Hối Lộ Được Hiểu Như Thế Nào ?
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Hối Lộ Ở Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Một tội phạm được coi là hoàn thành khi hành vi phạm tội đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm.

    Một tội phạm được coi là hoàn thành khi hành vi phạm tội đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm.

    Như vậy, đối với các tội có cấu thành tội phạm hoàn thành, tội phạm hoàn thành khi can phạm thực hiện hết các hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm. Còn đối với các tội có cấu thành tội phạm vật chất chất tội phạm hoàn thành khi có hậu quả xảy ra trên thực tế.

    Thời điểm tội phạm hoàn thành của mỗi một tội phạm cụ thể tuỳ thuộc vào chính sách hình sự của từng nước, phụ thuộc vào yêu cầu phòng chống tội phạm, phụ thuộc vào tính chất đặc trưng của từng loại tội được phản ánh trong cấu trúc của cấu thành tội phạm.

    Cơ sở khoa học của việc xây dựng cấu thành tội phạm hoàn thànhhay cấu thành tội phạm vật chấtcũng là cơ sở khoa học của việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành.

    Lưu ý: Thời điểm tội phạm hoàn thành và thời điểm tội phạm kết thúc có thể là trùng nhau, có thể là khác nhau. Đối với thời điểm tội phạm hoàn thành thì chỉ có một mốc thời điểm duy nhất là thời điểm khi hành vi phạm tội đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội pham. Còn đối với thời điểm tội phạm kết thúc có thể xảy ra trước hoặc trong hoặc sau thời điểm tội phạm hoàn thành.

    Thời điểm tội phạm kết thúc là xét về mặt thực tế thời điểm tội phạm dừng lại. Việc xác định chúng có ý nghĩa trong việc áp dụng một số chế định như: Chế định đồng phạm, chế định phòng vệ chính đáng, chế định thời hiệu truy cứu TNHS. Để áp dụng các chế định này đều bắt đầu từ việc xác định thời điểm tội phạm kết thúc.

    Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trường hợp tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản. (Điều 19 BLHS).

    Điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

    Về thời điểm: Chỉ có thể xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và tội phạm chưa đạt chưa hoàn thành.

    Nếu A vào nhà B lấy ti vi mang ra khỏi nhà của B, mặc dù không bị ai phát hiện nhưng A quyết định đem trả chiếc ti vi ở vị trí cũ. Trường hợp này không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Vì tội phạm bắt đầu dừng lại sau thời điểm tội phạm hoàn thành. Do đó, A vẫn phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản. tuy nhiên A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự nguyện khắc phục hậu quả.

    Về tâm lý: Đối với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, việc dừng lại tội phạm ở những thời điểm trên phải tự nguyện và dứt khoát.

    – Tự nguyện: Tức là do động lực bên trong thúc đẩy chứ không phải do nguyên nhân khách quan chi phối.

    – Dứt khoát: Tức là phải chấm dứt việc thực hiện tội phạm một cách triệt để.

    Trách nhiệm này được quy định tại Điều 19 BLHS, đó là:

    1/ Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định thực hiện.

    2/ Nếu hành vi thực tế đã thực hiện thoả mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm của một tội khác thì người đó phải chịu TNHS về tội đã cấu thành.

    Ví dụ: A có ý định giết B bằng cách dùng dao đâm. Khi A đâm nhiều nhát vào B, thấy B chảy nhiều máu, A dừng lại đưa B đi cấp cứu. B bị thương tỷ lệ thương tật là 30%. Trong trường hợp này, hành vi của A được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, nhưng TNHS của A được xác định là: A được miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người. A phải chịu TNHS về tội cố ý gây thương tích.

    Tổ bộ môn Luật Hình sự – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    1. Nội dung trong bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (chú thích rõ trong bài viết).
    2. Bài viết được sử dụng không nhằm mục đích thương mại, chỉ nhằm mục đích giảng dạy, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Khoa Luật Kinh tế – Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Thống Nhất Nhận Thức Về Các Khái Niệm Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm, Kiến Nghị Khởi Tố Và Các Nguồn Về Tội Phạm
  • Tố Cáo Và Tố Giác Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Đồng Phạm, Che Giấu Tội Phạm Và Không Tố Giác Tội Phạm ?
  • Cấu Thành Tội Phạm, Mức Phạt Tù Đối Với Tội Không Tố Giác Tội Phạm
  • Khái Niệm Tố Cáo, Phân Biệt Tố Cáo Và Tố Giác Tội Phạm
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Ý Nghĩa Của Cấu Thành Tội Phạm

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tội Phạm? Dấu Hiệu Tội Phạm, Cách Xác Định Tội Phạm?
  • Đề Cương Ôn Thi Tội Phạm Học (Ul)
  • Khái Niệm Phòng Chống Tội Phạm
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Quy Định Về Phòng Ngừa Tội Phạm
  • Buôn Lậu Là Gì ? Khái Niệm Về Buôn Lậu ?
  • 60716

    Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của cấu thành tội phạm

      Các đặc điểm của cấu thành tội phạm

      1. Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm đều do luật định
      2. Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm mang tính đặc trưng điển hình
      3. Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm có tính bắt buộc

    1. Khái niệm cấu thành tội phạm

    Như vậy, hiện tượng trộm cắp tài sản rất phong phú, đa dạng. Mỗi trường hợp phạm tội trộm cắp khác nhau thì sự thể hiện về thực tế là khác nhau như: khác nhau về con người thực hiện tội phạm, khác nhau về thủ đoạn phạm tội, khác nhau thời gian, địa điểm, công cụ phương tiện phạm tội, khác nhau về tài sản bị chiếm đoạt, khác nhau về người bị hại, vv… Nhưng bất kỳ một trường hợp phạm tội trộm cắp nào cũng phải thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm trộm cắp tài sản đó là: người phạm tội phải từ đủ 16 tuổi trở lên,có năng lực trách nhiệm hình sự, tội phạm xâm phạm tới quan hệ sở hữu, hành vi lén lút, hành vi bí mật chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý và với hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Các dấu hiệu này được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) tại Điều 138. Các dấu hiệu này được gọi là các dấu hiệu cấu thành tội phạm (CTTP) của tội trộm cắp tài sản.

    Chúng ta có thể thấy được mối quan hệ giữa tội phạm với cấu thành tội phạm của một loại tội như sau:

    Tội phạm – hiện tượng

    (Tồn tại trong thực tế khách quan. Đa dạng,

    phong phú).

    Cấu thành tội phạm- Mô hình lý luận

    (Là các dấu hiệu đặc trưng cho một loại tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Chỉ có một cấu thành tội phạm

    cho một loại tội)

    – Khách thể: Quan hệ xã hội trực tiếp bị tội phạm xâm hại.

    – Mặt khách quan: hành vi khách quan, hậu quả, công cụ, phương tiện, phương pháp thủ đoạn, thời gian địa điểm, hoàn cảnh phạm tội.

    – Chủ thể: tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự.

    – Mặt chủ quan: lỗi động cơ, mực đích phạm tội.

    – Khách thể: Quan hệ xã hội trực tiếp bị tội phạm xâm hại.

    – Mặt khách quan: hành vi khách quan, hậu quả, công cụ, phương tiện, phương pháp thủ đoạn, thời gian địa điểm, hoàn cảnh phạm tội.

    – Chủ thể: tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự.

    – Mặt chủ quan: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội.

    Nội dung của cấu thành tội phạm chính là sự phản ánh các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Các dấu hiệu đó là: Quan hệ xã hội bị xâm hại, độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi khách quan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, lỗi,động cơ, mục đích phạm tội.

    Các dấu hiệu bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm là: quan hệ xã hội bị xâm hại, độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi khách quan và lỗi.

    Một cấu thành tội phạm của một loại tội luôn luôn phải chứa đựng đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Đó là: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Song các dấu hiệu trong mỗi một cấu thành tội phạm có thể nhiều ít khác nhau.

    2. Các đặc điểm của cấu thành tội phạm

    a. Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm đều do luật định

    Chỉ Nhà nước mới có quyền quy định một hành vi nào là tội phạm bằng cách là mô tả những dấu hiệu đó và quy định chúng trong Bộ luật Hình sự. Cơ quan giải thích và áp dụng pháp luật chỉ được phép giải thích nội dung những dấu hiệu đã được quy định trong Bộ luật Hình sự. Việc thêm hoặc bớt bất kỳ một dấu hiệu nào đó của cấu thành tội phạm đều có thể dẫn đến tình trạng định tội sai hoặc bỏ lọt tội hoặc làm oan người vô tội.

    Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm của một loại tội được quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự như: tuổi, tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi; và chúng được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự như dấu hiệu: hành vi khách quan, hậu quả của tội phạm, quan hệ xã hội bị xâm hại…

    b. Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm mang tính đặc trưng điển hình

    Một loại tội phạm chỉ được đặc trưng bởi một cấu thành tội phạm và một cấu thành tội phạm chỉ đặc trưng cho một loại tội phạm, đó là dấu hiệu đặc trưng. Dấu hiệu đặc trưng của cấu thành tội phạm còn thể hiện ở chỗ chỉ các dấu hiệu nào nói lên bản chất đặc trưng của loại tội đó để phân biệt tội phạm đó với tội phạm khác mới được ghi nhận trong cấu thành tội phạm.

    Một dấu hiệu có thể được phản ánh trong nhiều cấu thành tội phạm nhưng giũa các cấu thành tội phạm khác nhau phải có ít nhất một dấu hiệu khác nhau Đó là dấu hiệu điển hình.

    Hoặc ví dụ về cấu thành tội phạm trộm cắp với cấu thành tội phạm lừa đảo có rất nhiều dấu hiệu chung giống nhau như: quan hệ sở hữu bị xâm hại, độ tuổi, năng lực TNHS, hành vi chiếm đoạt tài sản, lỗi cố ý trực tiếp. Nhưng giữa 2 cấu thành tội phạm này có 2 dấu hiệu mang tính điển hình cho mỗi cấu thành tội phạm đó là: hành vi lén lút trong tội trộm cắp tài sản và hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Như vậy, giữa 2 cấu thành tội phạm khác nhau phải khác nhau ít nhất một dấu hiệu, đó chính là dấu hiệu điển hình.

    c. Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm có tính bắt buộc

    Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm. Nếu thiếu hoặc thừa bất kỳ một dấu hiệu nào đó thì nó có thể không phải là tội phạm hoặc tội phạm khác. Nghĩa là tất cả dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều là điều kiện cần và đủ để định tội danh.

    Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là các dấu hiệu bắt buộc được quy định ở phần chung hoặc phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự.

    Chú ý: Một số trường hợp trong đồng phạm hoặc phạm tội chưa đạt hay trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì hành vi của người phạm tội thiếu đi một hoặc một số các dấu hiệu trong một cấu thành tội phạm. Trường hợp này khi định tội phải kết hợp các quy phạm pháp luật phần chung về đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm. Vì mỗi quy phạm pháp luật phần các tội phạm cụ thể chỉ phản ánh các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã hoàn thành và đối với trường hợp phạm tội riêng lẻ.

    3. Ý nghĩa của cấu thành tội phạm

    Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự

    Điều 2 BLHS quy định: “Chỉ người nào thực hiện một hành vi phạm tội được quy định trong BLHS mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Cơ sở để xác định một hành vi bị coi là tội phạm khi thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu được phản ánh trong cấu thành tội phạm.

    – Cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Điều kiện cần chỉ có dựa vào các dấu hiệu của cấu thành tội phạm mới xác định được trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

    Điều kiện đủ ngoài những dấu hiệu được phản ánh trong cấu thành tội phạm để xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội không cần xác định bất kỳ một dấu hiệu nào khác.

    – Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của định tội danh

    Để định tội danh cho một trường hợp phạm tội cụ thể người áp dụng pháp luật phải căn cứ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm để đi đến kết luận hành vi đó phạm vào điều nào, khoản nào trong BLHS. Đó cũng chính là kết quả của hoạt động định tội danh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Thành Tội Phạm: Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Các Dấu Hiệu
  • Khái Niệm Và Các Dấu Hiệu Của Tội Phạm
  • Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Khái Niệm, Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu) Của Tội Phạm
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Thuế

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuế Là Gì? Những Đặc Điểm Cơ Bản Của Thuế Hiện Nay
  • Tổng Quan Về Cong Cụ Quản Lí Và Chính Sách Kinh Tế
  • Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Báo Cáo Kết Quả Thảo Luận Các Văn Kiện Của Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Vii Của Đảng
  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Vii Của Đảng
  • Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thông nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau.

    Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: ” Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.”.

    Trên góc độ phân phối thu nhập: ” Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quý tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.”

    Trên góc độ người nộp thuế: ” Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng , nhiệm vụ của nhà nước.”

    Trên góc độ kinh tế học :” Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.”

    Theo từ điển tiếng việt :” Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.”

    Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra được một số đặc trưng chung của thuế là:

    • Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mỗi quan hệ tiền tệ phát sinh dưới nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội.
    • Thứ hai, những mỗi quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ỹ nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước.
    • Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.

    Từ các đặc trưng trên của thuế , ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế là: ” Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.”

    Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, mỗi tiêu thức phân loại có nhiều loại thuế khác nhau:

    Phân loại theo đối tượng chịu thuế.

    Căn cứ vào đối tượng chịu thuế có thể chia hệ thống thuế thành ba loại sau:

    Phân loại theo phương thức đánh thuế

    Theo phương thức đánh thuế thì hệ thống thuế gồm 2 loại sau:

    Phân loại theo mối quan hệ đối với khả năng nộp thuế

    Căn cứ vào khả năng nộp thuế có thể chia hệ thống thuế thành 2 loại:

    Phân loại theo phạm vi thẩm quyền về thuế

    Theo tiêu thức phân loại nay thì hệ thống thuế có thể được chia thành hai loại:

    Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Những đặc trưng đó là:

    Tính bắt buộc

    Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước.

    Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hê tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc động viên mang tính chất bắt buộc của nhà nước.Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân.

    Tính không hòan trả trực tiếp

    Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước. Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.

    Tính pháp lý cao

    Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật.

    Chức năng của thuế là sự thể hiện công dụng vốn có của thuế, và nó có tính ổn định tương đối. Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển thuế luôn luôn thực hiện hai chức năng cơ bản sau.

    Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước

    Ngay từ lúc phát sinh, thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện đông viên nguồn tài chính cho nhà nước, là chức năng cơ bản của thuế. Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Chức năng này đã tạo ra những tiền đề để nhà nước tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội. Thuế là một nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất cho ngân sách nhà nước.

    Chức năng điều tiết kinh tế

    Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế, sử dụng linh họat các ưu đãi và miễn giảm thuế.

    Trên cơ sở đó, nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội. Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã được thực hiện.

    Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế có mỗi quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Chức năng huy động nguồn lực tài chính quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết. Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển. Chức năng huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu nhập cho nhà nước đã tạo ra những điều kiện để nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xã hội. Điều này tạo ra tiền đề tăng thêm thu nhập cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư, do đó mở rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính.

    Cùng với sự thống nhất đó, thì giữa hai chức năng này của thuế cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn. Sự tăng cường chức năng huy động tập trung tài chính làm cho mức thu nhập của nhà nước tăng lên. Điều đó đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng của nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội. Mặt khác, việc tăng cường chức năng huy động một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả của nó là giảm động lực phát triển kinh tế và làm xói mòn vai trò điều tiết kinh tế.

    Do vậy, trong quá trình quản lý thuế, hoạch định các chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau cần phải chú ý đến mỗi quan hệ giữa chức năng điều tiết kinh tế và chức năng huy động nguồn tài chính của thuế.

    Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mỗi quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định của nhà nước trong từng thời kỳ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuế Là Gì? Đặc Điểm Của Thuế? Khái Quát Chung Về Các Loại Thuế?
  • Thuế Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại Thuế
  • Giới Thiệu Văn Bản Hợp Nhất Chính Sách Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp
  • Về Vấn Đề Chính Sách Tài Khóa
  • Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm (Product Development Strategy) Là Gì?
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Nhu Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Nhân Cách Trong Xã Hội Học Là Một Thành Viên Có Ý Thức Của Xã Hội
  • Bài 1: Khái Niệm Chung Về Nhân Cách
  • Bàn Về Khái Niệm Và Chỉ Báo Đo Lường Dư Luận Xã Hội
  • Xã Hội Học : Đối Tượng Và Phương Pháp (É. Durkheim, 1895)
  • Nghiên Cứu Xã Hội Học Ở Việt Nam
  • Khái niệm nhu cầu

    Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật. Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh.

    Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.

    Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt. Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là “tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu cầu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.” (D. W. Chapman 1981),

    Ngoài ra, nhu cầu còn được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhưng “cái gì đó” chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là “nhu cầu”. Nhu cầu đang nói đến lại có thể được xem là hình thức biểu hiện của một nhu cầu khác căn bản hơn. Như vậy khái niệm nhu cầu và nhu cầu mang tính tương đối với nhau. Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc xích của hình thức biểu hiện và nhu cầu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa. Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được cấu thành bởi một nhu cầu và một hình thức biểu hiện.

    Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầu nhất định. Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm thỏa mãn nhu cầu đó. Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau.

    Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshall viết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn”(Alfred Marshall 1902). Về vấn đề cơ bản của khoa học kinh tế – vấn đề nhu cầu con người – hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu không có giới hạn.

    Ở đây, nhu cầu được hiểu là sự sẵn sàng chi trả cho mong muốn được học cao học của sinh viên năn cuối.

    Đặc điểm của nhu cầu

    Nhu cầu là mong muốn có được sản phẩm cụ thể dựa trên khả năng mua và thái độ sẵn lòng mua. Nhu cầu được thể hiện cụ thể bằng sức mua.

    Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.

    Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.

    Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu).

    Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu cầu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.

    Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội.

    Nếu bạn đang gặp khó khăn hay vướng mắc về viết luận văn, khóa luận hay bạn không có thời gian để làm luận văn vì phải vừa học vừa làm? Kỹ năng viết cũng như trình bày quá lủng củng?… Vì vậy bạn rất cần sự trợ giúp của dịch vụ thue lam luan van thac si. Hãy gọi ngay tới tổng đài tư vấn luận văn 1080 – 096.999.1080 nhận viết luận văn theo yêu cầu, đảm bảo chuẩn giá, chuẩn thời gian và chuẩn chất lượng, giúp bạn đạt được điểm cao với thời gian tối ưu nhất mà vẫn làm được những việc quan trọng của bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhu Cầu Là Gì? Tháp Nhu Cầu Trong Marketing
  • Nhu Cầu Là Gì? Đặc Điểm Của Nhu Cầu Trong Tâm Lý Học
  • Xây Dựng Xã Hội Học Tập Nhằm Chấn Hưng Nền Giáo Dục Ở Việt Nam
  • Xã Hội Học Tập Là Xu Thế Mới Của Nhân Loại
  • Xã Hội Học Giáo Dục Xhh Giao Duc1 Ppt
  • Cấu Thành Tội Phạm: Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Các Dấu Hiệu

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Ý Nghĩa Của Cấu Thành Tội Phạm
  • Khái Niệm Tội Phạm? Dấu Hiệu Tội Phạm, Cách Xác Định Tội Phạm?
  • Đề Cương Ôn Thi Tội Phạm Học (Ul)
  • Khái Niệm Phòng Chống Tội Phạm
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Quy Định Về Phòng Ngừa Tội Phạm
  • Cấu thành tội phạm là một khái niệm chung nhất được các nhà luật học rút ra từ khái niệm tội phạm và nhiều quy định của phần chung cũng như quy định về từng tội phạm cụ thể của pháp luật hình sự. Do đó, dù cấu thành tội phạm không được quy định thành một điều luật nhưng là cơ sở pháp lý bắt buộc để xác định tội phạm. Trong bài viết này, Tư vấn Việt Luật xin phân tích khái niệm cấu thành tội phạm và các đặc điểm của dấu hiệu cấu thành tội phạm:

    1. Khái niệm cấu thành tội phạm:

    Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Với nội dung này, cấu thành tội phạm được coi là khái niệm pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát một loại tội phạm nhất định trong luật hình sự.

    Quan hệ giữa tội phạm và cấu thành tội phạm là quan hệ giữa hiện tượng và khái niệm. Tội phạm là hiện tượng xã hội cụ thể, khách quan còn cấu thành tội phạm là khái niệm pháp lý của hiện tượng đó.

    Các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm là những dấu hiệu phản ánh nội dung các yếu tố của tội phạm. Nhưng không phải tất cả các dấu hiệu của bốn yếu tố đều được đưa vào cấu thành tội phạm. Có nhứng dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả cấu thành tội phạm, có những dấu hiệu có thể có trong cấu thành tội phạm của tội này nhưng lại không có trong cấu thành tội phạm của những tội khác. Những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm là:

    + Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm;

    + Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặc chủ quan của tội phạm;

    + Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm.

    Ngoài những dấu hiệu trên, còn có những dấu hiệu khác của bốn yếu tố cấu thành tội phạm đều là những dấu hiệu không bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm như dấu hiệu hậu quả, dấu hiệu mục đích phạm tội, dấu hiệu động cơ phạm tội…

    2. Đặc điểm của các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm:

    Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm do luật định:

    Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải được quy định trong luật hình sự. Luật hình sự quy định tội phạm bằng cách mô tả các dấu hiệu của hành vi phạm tội trong phần các tội phạm cũng như quy định những dấu hiệu khác trong phần chung Bộ luật hình sự, từ cơ sở pháp lý đó, các nhà lý luận mới khái quát thành các dấu hiệu đặc trưng chung gọi là cấu thành tội phạm.

    Chính vì thế, Điều tra viên, Kiểm sát viên, hoặc Thẩm phán khi muốn truy cứu trách nhiệm hình sự một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội, họ phải căn cứ vào quy định của Luật hình sự chứ không được giải thích nội dung các dấu hiệu cấu thành tội phạm một cách tùy tiện.

    Để kết luận một hành vi nào đó có phải là tội phạm hay không chỉ cần xác định hành vi đó đã thoả mãn hết tất cả các yếu tố cấu thành tội phạm quy định đối với loại tội phạm đó chưa. Nếu một trong số các dấu hiệu đó không thoả mãn thì hành vi đó không phải là hành vi phạm tội. Tất cả các yếu tố của cấu thành tội phạm là bắt buộc khi xác định tội phạm. Điều này là cần thiết để đảm bảo nguyên tắc pháp chế.

    Tính phổ biến của các yếu tố cấu thành tội phạm thể hiện ở chỗ khi kết hợp với nhau, các yếu tố này sẽ phản ánh đầy đủ bản chất xã hội của một loại tội phạm cụ thể. Nghĩa là, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hiện diện trong tất cả các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, thiếu đi một dấu hiệu thì không thể có tội phạm. Chẳng hạn, tội cố ý gây thương tích cho người khác phải thỏa mãn dấu hiệu khách thể bị xâm hại, dấu hiệu hành vi phạm tội, dấu hiệu lỗi, dấu hiệu chủ thể. Đây là những dấu hiệu bắt buộc phải có ở bất kỳ tội phạm nào được quy định trong Bộ luật hình sự.

    Tính đặc trưng của cấu thành tội phạm cho phép phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác, bởi vì không thể có hai cấu thành tội phạm giống nhau. Nhưng không có nghĩa một dấu hiệu nào đó đã có ở cấu thành tội phạm của tội phạm này thì không có ở tội phạm khác. Cũng với dấu hiệu đó nhưng khi kết hợp với các dấu hiệu đặc thù khác sẽ cấu thành một tội phạm khác.

    Ví dụ, hành vi làm chết người khác nếu với lỗi cố ý thì bị coi là phạm tội giết người, nếu lỗi vô ý thì bị coi là phạm tội vô ý làm chết người. Trong trường hợp sự vô ý đó là do người phạm tội vi phạm một lĩnh vực đặc thù cụ thể nào đó mà dẫn đến làm chết người thì bị coi là phạm tội vi phạm trong lĩnh vực cụ thể đó (ví dụ, vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông gây hậu quả nghiêm trọng (chết người)).

    Mặt khác, có thể các dấu hiệu này là giống nhau nhưng những dấu hiệu này cũng sẽ có bản chất khác nhau trong những trường hợp khác nhau.

    Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm có tính bắt buộc:

    Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm. Nếu thiếu hoặc thừa bất kỳ một dấu hiệu nào đó thì nó có thể không phải là tội phạm hoặc tội phạm khác. Nghĩa là tất cả dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều là điều kiện cần và đủ để định tội danh.

    Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là các dấu hiệu bắt buộc được quy định ở phần chung hoặc phần các tội phạm cụ thể của bộ luật hình sự.

    Chú ý: Một số trường hợp trong đồng phạm hoặc phạm tội chưa đạt hay trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì hành vi của người phạm tội thiếu đi một hoặc một số các dấu hiệu trong một cấu thành tội phạm.

    Trường hợp này khi định tội phải kết hợp các quy phạm pháp luật phần chung về đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm. Vì mỗi quy phạm pháp luật phần các tội phạm cụ thể chỉ phản ánh các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã hoàn thành và đối với trường hợp phạm tội riêng lẻ.

    * Văn bản pháp luật áp dụng: Bộ luật hình sự 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Dấu Hiệu Của Tội Phạm
  • Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Khái Niệm, Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Các Đặc Điểm (Dấu Hiệu) Của Tội Phạm
  • Phạm Tội Có Tổ Chức Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Hình Sự Về Tội Phạm Có Tổ Chức
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Từ Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại Danh Từ, Các Ví Dụ Danh Từ
  • Khái Niệm Ngành Dịch Vụ Điều Bạn Cần Nên Biết
  • Khái Niệm Về Dịch Vụ – Hỗ Trợ, Tư Vấn, Chắp Bút Luận Án Tiến Sĩ
  • Chống “Diễn Biến Hòa Bình” Và Việc Xây Dựng Quân Đội Nhân Dân Vững Mạnh Về Chính Trị
  • Trung Tâm Giáo Dục Quốc Phòng Và An Ninh
  • I. KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP

             Trên phương diện lý thuyết có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp vì suy cho cùng tiếp cận doanh nghiệp ở góc độ nào thì sẽ có khái niệm doanh nghiệp ở góc độ đó. Điều ấy cũng là đương nhiên vì doanh nghiệp, như bao khái niệm khác, được nghiên cứu và xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Theo M.Francois Peroux, “doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.”.

             Còn theo quan điểm phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.”

              Thực chất thì doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp và nó rất phổ biến. Trên thế giới, so với các loại hình doanh nghiệp khác, thì công ty xuất hiện muộn hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19. Trước đó, các hoạt động kinh doanh thực hiện dưới hình thức hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân. Cũng kể từ thế kỷ 19 và đặc biệt trong nửa đầu thế kỷ 20, công ty là loại hình kinh doanh phát triển mạnh mẽ nhất. Nhiều nước trên thế giới hiện nay, thay vì thiết lập luật doanh nghiệp, đã thiên về quy định tổ chức và hoạt động của các loại hình công ty.

             Theo quan điểm của các nước tư bản, công ty là một tổ chức kinh tế được thành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty. Công ty được thành lập dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành, thường gọi là điều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn và được thừa nhận là pháp nhân ở hầu hết các nước.

               Như vậy, dù định nghĩa ở góc độ mở rộng là doanh nghiệp hoặc xem xét ở góc độ hẹp là công ty, thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh. Theo luật doanh nghiệp của Việt Nam thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”

    II. ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP

               Xem xét các khái niệm về doanh nghiệp để rút ra các điểm chung nhất thì có thể thấy rằng một doanh nghiệp có các đặc trưng cơ bản sau đây:

    1. Có hoạt động kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ thường xuyên

              Phần lớn doanh nghiệp được thành lập nhằm mục đích kinh doanh, mua bán hàng hóa tạo lợi nhuận hoặc cung ứng dịch vụ hoặc cả hai để phục vụ lợi ích người tiêu dùng. Tuy nhiên, cũng có một số doanh nghiệp đặc thù, thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Các doanh nghiệp này đa phần là doanh nghiệp công ích hoặc doanh nghiệp xã hội, do Nhà nước thành lập và chủ sở hữu, thực hiện các hoạt động vì lợi ích của cộng đồng và xã hội, chẳng hạn các doanh nghiệp về điện, nước, vệ sinh công cộng…v…v…

              Trong đời sống kinh tế xã hội, bất kỳ thực thể nào cũng có thể làm nảy sinh các hoạt động sản xuất kinh doanh hay cung ứng dịch vụ. Ví dụ: một hộ nông dân, khi thu hoạch mùa vụ, có thể bán thóc gạo của mình để kiếm thêm thu nhập sau khi đã đủ gạo để ăn, họ thực hiện hoạt động này một lần trong trong năm hoặc vài năm một lần một cách rất tự phát. Các hoạt động lẻ tẻ và mang tính cá biệt như vậy không phải đặc trưng của doanh nghiệp, vốn có hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ rất thường xuyên, chuyên nghiệp và liên tục. Một doanh nghiệp phải có đầy đủ hoạt động kinh doanh mà hoạt động đó phải được thực hiện trong một quá trình lâu dài. Theo các quy định hiện hành của Việt Nam, “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.” Như vậy, chỉ khi một tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng một cách chuyên nghiệp, liên tục, thường xuyên, lâu dài thì tổ chức đó mới có thể được coi là một doanh nghiệp.

    2. Doanh nghiệp có tính tổ chức

              Đa phần các doanh nghiệp đều là những thực thể có tính tổ chức. Tính tổ chức được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp được thành lập luôn có cơ cấu nhân sự, có bộ máy tổ chức điều hành, có trụ sở giao dịch hoặc đăng ký và có tài sản riêng để quản lý. Chính vì vậy, pháp luật nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, quy định về tư cách “pháp nhân” của hầu hết các loại hình doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp tư nhân vốn gắn liền với một cá nhân kinh doanh.

    3. Doanh nghiệp có tính hợp pháp

               Tính hợp pháp không chỉ thể hiện ở việc doanh nghiệp xin phép đăng ký và được cấp phép thành lập và hoạt động, để nhà nước ghi nhận sự hình thành hay tồn tại của doanh nghiệp, mà còn thể hiện ở việc, khi tham gia vào các quan hệ xã hội, doanh nghiệp cũng là một thực thể độc lập và phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình, bằng tài sản riêng của mình. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Sở Dữ Liệu Là Gì? Cơ Sở Dữ Liệu Có Quan Trọng Không? Tìm Hiểu Ngay
  • Đặc Điểm Cơ Bản Nhà Nước Và Bộ Máy Nước Chxhcn Việt Nam
  • Thế Nào Là An Toàn Thực Phẩm Và Những Điều Cần Biết Thực Phẩm Sạch
  • 【Full】Alen – Cặp Alen Là Gì Và Hiện Tượng Đa Alen
  • Luật Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Giao Thông Đường Bộ Tạo Đột Phá Về Atgt
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Công Ty Tnhh Một Thành Viên

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Cần Biết Về Chủ Sở Hữu Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • Quy Định Pháp Luật Về Chủ Sở Hữu Doanh Nghiệp
  • Các Quy Định Về Chủ Sở Hữu Công Ty
  • Khái Niệm Về Cấu Trúc Sở Hữu Trong Doanh Nghiệp
  • Làm Rõ Quyền Sở Hữu Trong Hiến Pháp Sửa Đổi
  • Bravolaw xin chia sẻ quý khàng về Khái niệm và đặc điểm Công ty TNHH Một thành viên,đây cũng là một loại hình thành lập công ty được các doanh nghiệp , nhà đầu tư quan tâm, lựa chọn thành lập công ty TNHH này.

    1. Khái niệm Công ty TNHH Một thành viên :

    – Công ty TNHH Một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

    – Công ty TNHH Một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

    – Công ty TNHH Một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.

    2. Đặc điểm Công ty TNHH Một thành viên

    Công ty TNHH Một thành viên là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân hoặc một tổ chức làm chủ sở hữu. Ở loại hình công ty này, chủ sở hữu – thành viên duy nhất của công ty có thể là một cá nhân hoặc là một tổ chức, chứ không bắt buộc phải là một pháp nhân thành lập công ty như trước đây. Vốn điều lệ của Công ty TNHH Một thành viên cũng hoàn toàn do một cá nhân hoặc tổ chức góp vào, không hề có sự liên kết góp vốn với nhà đầu tư khác như các loại hình công ty khác.

    Khi tổ chức góp vốn thành lập công ty thì tổ chức đó có những quyền năng sau đối với Công ty TNHH Một thành viên.

    Nếu chủ sở hữu Công ty TNHH Một thành viên là một cá nhân thì cá nhân đó sẽ có những quyền :

    – Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;

    – Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.

    – Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác.

    – Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty.

    – Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty.

    – Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành các giải thể hoặc phá sản.

    – Các quyền khác quy định tại Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty.

    Nghĩa vụ của cá nhân hoặc tổ chức là chủ sở hữu Công ty TNHH Một thành viên :

    – Góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết

    – Tuân thủ Điều lệ công ty.

    – Xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản của công ty.

    – Chủ sở hữu Công ty TNHH Một thành viên là cá nhân phải tách biệt các chi tiêu của cá nhân và gia đình mình với các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công ty và Giám đốc.

    Mọi chi tiết về Khái niệm và đặc điểm công ty TNHH Một thành viên xin vui lòng liên hệ :

    CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN BRAVOLAW

    Địa chỉ : 349 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Việt Nam.

    Hotline : 1900 6296

    Email : [email protected]

    Từ khóa : công ty TNHH 1 thành viên, công ty TNHH một thành viên, thành lập công ty

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Biệt Giữa Người Đại Diện Pháp Luật Và Chủ Sở Hữu Công Ty
  • Vốn Chủ Sở Hữu Doanh Nghiệp Theo Luật Doanh Nghiệp 2014
  • Chủ Sở Hữu Là Gì ? Quy Định Về Quyền Và Nghĩa Vụ Của Chủ Sở Hữu ?
  • Vốn Chủ Sở Hữu Là Gì? Cách Tính Vốn Chủ Sở Hữu
  • Phân Biệt Chủ Thể Kinh Doanh Và Chủ Sở Hữu Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tội Phạm

    --- Bài mới hơn ---

  • Phạm Tội Có Tính Chất Chuyên Nghiệp Theo Quy Định Bộ Luật Hình Sự
  • Phạm Tội Có Tính Chất Chuyên Nghiệp Là Tình Tiết Tăng Nặng Khi Nào?
  • Phạm Tội Có Tính Chất Chuyên Nghiệp
  • Phạm Tội Có Tính Chất Chuyên Nghiệp?
  • Tình Tiết “phạm Tội Có Tính Chất Chuyên Nghiệp” Là Như Thế Nào?
  • Tội phạm trong bộ luật hình sự khác với các hành vi vi phạm pháp luật khác. Có 4 dấu hiệu để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác như vi phạm dân sự, vi phạm hành chính.

    Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc…

    Khái niệm tội phạm được quy định tại Khoản 1, Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2022 sửa đổi, bổ sung năm 2022 (sau đây gọi là “Bộ luật Hình sự”) như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc xâm phạm chế độ chính trị (thay chế độ XHCN), chế độ kinh tế nền văn hoá quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN.

    Định nghĩa tội phạm về hình thức khác định nghĩa tội phạm về nội dung là nó chỉ rõ ra các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là khách thể của tội phạm. Từ đó thấy được bản chất giai cấp của tội phạm (phục vụ, bảo vệ lợi ích giai cấp nào? Hành vi phạm tội gây nguy hiểm cho lợi ích của giai cấp nào?).

    Như vậy, khái niệm về tội phạm nêu trong Khoản1, Điều 8 của Bộ luật Hình sự là khái niệm tội phạm về nội dung. Bởi vì, trong định nghĩa này nó đã xác định rõ phạm vi các quan hệ xã hội được luật hình sự Việt Nam điều chỉnh và bảo vệ.

    Về bản chất pháp lý thì tội phạm là một trong 4 loại vi phạm pháp luật, trong đó tội phạm là vi phạm pháp luật hình sự nên nó phải chứa đựng đầy đủ các đặc điểm của vi phạm pháp luật nói chung. Song bên cạnh đó nó còn mang các đặc điểm có tính đặc thù riêng của nó để dựa vào đó có thể phân biệt được tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Các đặc điểm đó đã được thể hiện trong khái niệm tội phạm, đó là:

    (i) Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội

    Bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng đối với tội phạm thì tính nguy hiểm cho xã hội luôn ở mức độ cao hơn so với các loại vi phạm pháp luật khác.

    Đây là đặc điểm thể hiện dấu hiệu về nội dung của tội phạm nó quyết định các dấu hiệu khác như tính được quy định trong Bộ luật Hình sự của tội phạm. Chính vì vậy, việc xác định dấu hiệu này có ý nghĩa như sau: Là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa các tội phạm và các vi phạm pháp luật khác; Là dấu hiệu quan trọng nhất quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm; Là căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt.

    Để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chúng ta phải cân nhắc, xem xét, đánh giá một cách toàn diện các yếu tố sau: T ính chất của quan hệ xã hội bị xâm phạm; Phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội; Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe doạ gây ra; Hình thức và mức độ lỗi; Động cơ và mục đích phạm tội; Nhân thân người phạm tội; Hoàn cảnh chính trị xa hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

    Một người thực hiện hành vi phạm tội luôn bị đe doạ phải áp dụng hình phạt – là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Mục đích của hình phạt theo luật hình sự Việt Nam là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà chủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ. Mục đích này chỉ đạt được nếu hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội – tức là khi thực hiện hành vi phạm tội đó họ có đầy đủ điều kiện và khả năng để lựa chọn một biện pháp xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

    (iii) Tính trái pháp luật hình sự

    Bất kỳ một hành vi nào bị coi là tội phạm cũng đều được quy định trong Bộ luật Hình sự. Đặc điểm này đã được pháp điển hoá tại Điều 2 Bộ luật Hình sự “chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, một người thực hiện hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu nhưng hành vi đó chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự thì không bị coi là tội phạm.

    Đặc điểm này có ý nghĩa về phương diện thực tiễn là tránh việc xử lý tuỳ tiện của người áp dụng pháp luật. Về phương diện lý luận nó giúp cho cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi Bộ luật Hình sự theo sát sự thay đổi của tình hình kinh tế – xã hội để công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả.

    Đặc điểm này không được nêu trong khái niệm tội phạm mà nó là một dấu hiệu độc lập có tính quy kết kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự.

    Tính phải chịu hình phạt của tội phạm có nghĩa là bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng bị đe doạ phải áp dụng một hình phạt đã được quy định trong Bộ luật Hình sự .

    Từ việc phân tích các đặc điểm của tội phạm có thể đưa ra khái niệm tội phạm theo các đặc điểm của nó: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt.

    Ý nghĩa của khái niệm tội phạm

    Khái niệm tội phạm là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể và các chế định khác của luật hình sự. Các khái niệm khác tuy độc lập nhưng cũng chỉ là những khái niệm có tính chất cụ thể hoá và hoàn toàn phụ thuộc vào khái niệm tội phạm.

    Khái niệm tội phạm là cơ sở thống nhất cho việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự một cách đúng đắn.

    Bài viết thực hiện bởi: thạc sĩ, luật sư Phạm Ngọc Minh – Công ty Luật TNHH Everest

    1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các luật sư, chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tội Phạm Mạng Là Gì? Làm Thế Nào Để Ngăn Chặn Tội Phạm Mạng?
  • Tội Phạm Về Ma Túy Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Tội Phạm Ma Túy
  • Tội Phạm Ma Túy Là Gì?
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Tội Phạm Ma Túy
  • Khái Niệm Tội Phạm Về Ma Túy
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Thuế Gtgt

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Hiệu Quả Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Giá Trị Thông Thường, Giá Xuất Khẩu
  • Kim Ngạch Xuất Khẩu Là Gì? Tỉ Trọng Của Kim Ngạch Tại Việt Nam
  • Tổng Giá Trị Kinh Tế (Total Economic Value) Là Gì?
  • Khái niệm: Thuế GTGT là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách theo mức độ tiêu thụ hàng hoá dịch vụ.

    Thuế GTGT đánh vào các gia đoạn sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Vì thế, tổng số thuế thu được ở các giai đoạn sẽ bằng với số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.

    Đối tượng điều tiết của thuế GTGT là phần thu nhập của người tiêu dùng sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ. Như vậy về nguyên tắc chỉ cần thu thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng là đủ. Tuy nhiên trên thực tế rất khó phân biệt đâu là tiêu dùng cuối cùng và đâu là tiêu dùng trung gian vì thế cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Nếu là tiêu dùng trung gian thì số thuế đó sẽ tự động chuyển vào giá bán hàng cho người mua ở gia đoạn sau.

    Bên cạnh đó, thuế GTGT còn có tính trung lập kinh tế cao. Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản cộng thêm vào giá bán cho người cung cấp hàng hoá dịch vụ.

    Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế. Như ta đã biết GTGT là phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng tổng GTGT ở tất cả các giai đoạn luân chuyển có giá trị bằng giá bán của sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, nên việc thu thuế trên GTGT ở từng giai đoạn đảm bảo cho tổng số thuế thu được tương đương với số thuế tính trên giá bán trong giai đoạn cuối cùng. Chính vì thế quá trình tổ chức kinh tế và phân chia các chu trình kinh tế có diễn ra dài hay ngắn hay như thế nào đi nữa thì thuế GTGT cũng không bị ảnh hưởng. Và tổng số thuế ở các giai đoạn luôn khớp với số tính thuế trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.

    Ở nước ta thuế GTGT được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bước một (1990) ban hành thành luật và được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá 9 ngày 10/5/97 để chính thức áp dụng từ 01/01/99.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Xác Định Trị Giá Hải Quan Đối Với Hàng Hóa Nhập Khẩu
  • Xác Định Trị Giá Hải Quan Theo Phương Pháp Suy Luận
  • Trị Giá Hải Quan Hàng Xnk
  • Trị Giá Hải Quan Là Gì? Quy Định Về Tờ Khai Trị Giá Hải Quan
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Trị Giá Hải Quan
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Fdi

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Doanh Nghiệp Fdi Là Gì? Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Fdi
  • Fdi Là Gì? Khái Niệm & Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Fdi
  • Khái Niệm Về Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài (Fdi)
  • Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Doanh Nghiệp Fdi Là Gì
  • Một Số Hình Thức Đầu Tư Trực Tiếp Từ Nước Ngoài
  • FDI là gì?

    Vậy đối với Tổ chức Thương mại Thế giới thì FDI là gì? FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) diễn ra khi một nhà đầu tư của một nước (nước chủ đầu tư) có tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư). Đồng thời nhà đầu tư phải có quyền quản lý tài sản đó.

    Nói một cách đơn giản, FDI chính là chỉ hoạt động kinh doanh hoặc mua tài sản kinh doanh ở nước ngoài của một nhà đầu tư. Bao gồm quyền sở hữu hoặc kiểm soát lợi ích ở một công ty nước ngoài.

    Hầu hết các trường hợp cả nhà đầu tư và tài sản thuộc bên chủ đầu tư quản lý ở nước ngoài đều là các cơ sở kinh doanh. Đối với trường hợp này, nhà đầu tư sẽ được gọi là công ty mẹ, tài sản quản lý là công ty con hoặc chi nhánh công ty.

    Đặc điểm của FDI là gì?

    Mục đích hàng đầu của FDI là gì? Đó chính là mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư. Do đó FDI được xem là hình thức đầu tư có hiệu quả kinh tế rất lớn trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay.

    Muốn thu hút đầu tư, các quốc gia được đầu tư cần có hành lang pháp lý rõ ràng. Thu nhập mà chủ đầu tư nhận chỉ là thu nhập kinh doanh, không phải lợi tức. Điều này có nghĩa thu nhập sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả kinh doanh.

    Chủ đầu tư có quyền tự quyết định nhiều vấn đề: đầu tư, sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm tiền lỗ – lãi. Ngoài ra họ cũng được tự do chọn hình thức và lĩnh vực đầu tư. Điều này giúp nhà đầu tư có thể thu lợi nhuận tối đa.

    Chủ đầu tư muốn kiểm soát doanh nghiệp được đầu tư thì cần góp đủ số vốn tối thiểu tùy thuộc quy định mỗi quốc gia. FDI thường được thực hiện bằng hình thức xây mới hoặc mua lại 1 phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động.

    Doanh nghiệp FDI là gì?

    Ngoài việc hiểu được FDI là gì, chúng ta cần phải biết thêm về một định nghĩa khác: Doanh nghiệp FDI. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa và góc nhìn khác nhau về doanh nghiệp FDI.

    Nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

    Theo luật đầu tư của Việt Nam 2005 thì doanh nghiệp FDI được định nghĩa là bao gồm các doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập.Mục đích thực hiện hoạt động đầu tư ở Việt Nam. Hoặc các doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài sáp nhập, mua cổ phần hoặc mua lại để kinh doanh.

    Nói một cách đơn giản, một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và sử dụng nguồn vốn này để hoạt động kinh doanh thì gọi là doanh nghiệp FDI. Hiện nay doanh nghiệp FDI được chia thành:

    • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
    • Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước.

    Trong thời đại kinh tế hội nhập, doanh nghiệp FDI trở thành loại hình khá phổ biến trên thế giới gồm cả Việt Nam. Việt Nam cũng nhờ loại hình này mà tích lũy được nhiều công nghệ hiện đại đặc biệt là trong lĩnh vực hóa chất, khai thác dầu khí, điện tử và viễn thông.

    Vai trò của doanh nghiệp FDI

    Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành và quản lý vốn nên quản lý vô cùng chuyên nghiệp, đảm bảo tính trách nhiệm cao và nguồn vốn sử dụng hiệu quả. Mô hình hoạt động của FDI giúp chủ đầu tư dễ dàng mở rộng quy mô sản xuất, khai thác lợi thế kinh tế của quốc gia được đầu tư.

    Bằng hình thức hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp FDI có thể tiếp nhận công nghệ hiện đại và kinh nghiệm kinh doanh của chủ đầu tư. Đời sống người dân được cải thiện vì có nhiều cơ hội làm việc, tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu. Các doanh nghiệp trong nước có động lực nâng cao tính cạnh tranh, đẩy mạnh năng lực kinh doanh, cải tiến công nghệ.

    Với những kiến thức cơ bản về FDI là gì và tìm hiểu các doanh nghiệp FDI, bạn sẽ thấy nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài là hình thức đầu tư cực kỳ hiệu quả. FDI vừa là thách thức nhưng cũng là động lực giúp doanh nghiệp trong nước đổi mới và cải tiến chất lượng sản phẩm. Đồng thời học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm từ các doanh nghiệp nước ngoài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Nguồn Gốc, Bản Chất Và Vai Trò Của Fdi
  • Fdi Là Gì? Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Fdi?
  • Định Nghĩa Và Cấu Tạo Enzyme
  • Giáo Trình Lý Thuyết Thông Tin
  • Tại Sao Entropy Trở Thành Vấn Đề Trong Cuộc Sống Của Chúng Ta?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100