Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • a) Khái niệm tư tưởng

    Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới chung quanh. Trong thuật ngữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, khái niệm “tư tưởng” có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. “Tư tưởng” ở đây không phải dùng với nghĩa tinh thần – tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, mà với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học(thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    b) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống hoàn chỉnh.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991) đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta đă khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Văn kiện của Đại hội định nghĩa: “tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc”.

    Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, công tác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc và đạt được những kết quả quan trọng. Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp luận cứ khoa học có sức thuyết phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”!.

    Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:

    Một là, bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh: Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam;tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc Việt Nam.

    Hai là, nguồn gốc tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí minh:

    Chủ nghĩa Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của

    nhân dân ta giành thắng lợi.

    Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.

    Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thống tri thức tổng hợp, bao gồm: tư tưởng triết học: tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Chủ nghĩa Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc: tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là giá trị ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

    Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đều cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.

    Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất. tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thống tri thức tổng hợp bao gồm: tư tưởng triết học; tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam bao gồm: tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội;về Đảng Cộng sản Việt nam;về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế;về dân chủ. Nhà nước của dân, do dân, vì dân: về văn hóa, đạo đức, V.V..

    Giáo trình này vận dụng phương thức tiếp cận thứ hai để giới thiệu và nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Là một hệ thống lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh có cấu trúc lôgích chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Hai Khái Niệm Truyện Cổ Dân Gian Và Truyện Cổ Tích
  • Em Hãy Nêu Định Nghĩa Truyện Cổ Tích? Qua Đó, Em Hãy Làm Rõ Thể Loại Của Tác Phẩm Sọ Dừa.
  • Nêu Khái Niệm Truyện Cổ Tích
  • Thể Loại Truyện Cổ Tích Lớp 6
  • Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • – Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    + Theo nghĩa phổ thông nhất, tư tưởng là suy nghĩ, ý nghĩ. Thế nhưng trong cụm từ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, thuật ngữ “tư tưởng” có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. Nó được dùng với nghĩa là “học thuyết”, là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở hiện thực, thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    + Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống, từ cá nhân các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước đến nhận thức chung của toàn Đảng. Điều này phản ánh quy luật: nhận thức là một, quá trình, giai đoạn sau bao hàm và cao hơn giai đoạn trước, giai đoạn trước làm tiền để, cơ sở cho giai đoạn sau.

    Có thể nói, Đại hội đại biểu toàn quốc lần Ihứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội này, Đảng đã khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tương, kim chỉ nam cho hành động. Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, đội ngũ các nhà giáo, các nhà khoa học đã dày công nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và đạt được những kết quả quan trọng. Những thành tựu nghiên cứu theo cả chiều rộng và chiếu sâu đã cung cấp luận cứ khoa học có sức thuyết, phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) xác định rõ. khá toàn diện và hệ thông những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. kế thừa và phát triển các giá trị truyền thông tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc gắn liền vối chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân. do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân: về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tố thật trung thành của nhân dân.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

    Trong định nghĩa này. Đảng ta đã bước đầu làm rõ được:

    Một là, bản chất cách mạng, khoa học của tư tưỏng Hồ Chí Minh: Đó là hệ thống các quan điểm lý luận, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh xứng tầm một học thuyết, hệ tư tưởng.

    Hai là, nguồn gốc tư tưởng – lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Mác – Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Bốn là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: Soi đường thắng lợi cho cách mạng Việt Nam; tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc.

    – Hệ thống tư tưởng Hồ Chi Minh

    + Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thông lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thông tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thông tri thức tổng hợp, bao gồm tư tưởng triết học: tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về cách mạng Việt Nam, bao gồm: Tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về Đảng Cộng sản Việt Nam; về đại đoàn kết dân tộc; về dân chủ. Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về văn hóa, đạo đức, V.V..

    Cuốn sách này vận dụng phương thức tiếp cận thứ hai đê giới thiệu và nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    + Là một hệ thống lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh có cấu trúc lôgích chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi, đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền vối chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Văn Hóa Của Hồ Chí Minh
  • Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Nhận Thức Và Vận Dụng Nguyễn Mạnh Tường, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chứng Minh Rằng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chính Là Chủ, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng, Hãy Chứng Minh Hiện Tượng Giáo Dục Là Hiện Tượng Xã Hội Đặc Trưng Cho Xã Hội Loài Người, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Quan Niệm Đạo Đức Của Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc, Về Đối Tượng Xét Đề Nghị Tặng Kỷ Niệm Chương Ccb Vn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm C, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm ước, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm Url, Khái Niệm ăn Mặc, Khái Niệm Usb, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Uml, Khái Niệm B/l, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Là Gì, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Lễ Hội,

    Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Nhận Thức Và Vận Dụng Nguyễn Mạnh Tường, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chứng Minh Rằng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chính Là Chủ, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng, Hãy Chứng Minh Hiện Tượng Giáo Dục Là Hiện Tượng Xã Hội Đặc Trưng Cho Xã Hội Loài Người, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Quan Niệm Đạo Đức Của Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc, Về Đối Tượng Xét Đề Nghị Tặng Kỷ Niệm Chương Ccb Vn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm C, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Câu Cảm Thán,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Chứng Minh Rằng Sự Ra Đời Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa Của Hồ Chí Minh
  • Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Hiểu Cho Đúng Khái Niệm “tư Tưởng Hồ Chí Minh” Để Chống Lại Các Quan Điểm Lệch Lạc, Sai Trái
  • b.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin

    – Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tư tưởng của Người góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác-Lênin.

    – Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin ở Hồ Chí Minh nổi lên một số điểm đáng chú ý:

    Một là, Đầu thế kỷ XX, Người tự hoàn thiện vốn văn hoá, vốn chính trị, vốn sống thực tiễn phong phú, nhờ đó đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin như một lẽ tự nhiên. Chủ nghĩa Mác-Lênin là bộ phận văn hoá đặc sắc nhất của nhân loại: tinh tuý nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất và khoa học nhất

    Hai là, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là tìm con đường giải phóng cho dân tộc, tức là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Việt Nam chứ không phải từ nhu cầu tư duy.

    Ba là, Người vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin theo phương pháp mác-xít và theo tinh thần phương Đông, không sách vở, không kinh viện, không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giải pháp riêng, cụ thể cho cách mạng Việt Nam.

    – Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ:

    + Quyết định bản chất thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    + Quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh.

    + Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, là tư tưởng Việt Nam thời hiện đại.

    2. Nhân tố chủ quan

    Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh là:

    + Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, có óc phê phán tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cách mạng trong nước và trên thế giới.

    + Hồ Chí Minh có sự khổ công học tập, rèn luyện chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để tiếp cận với chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách là học thuyết về cách mạng của giai cấp vô sản.

    + Hồ Chí Minh có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng; một trái tim yêu thương nhân dân, thương người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bác Hồ từ một người tìm đường cứu nước đã trở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo.

    II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁ TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

    1. Thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước (1890 – 1911)

    – Nguyễn Sinh Cung sinh ra tại quê hương Kim Liên, Nam Đàn, trong một gia đình nhà nho yêu nước. Anh cũng có quảng thời gian 10 năm sống ở Huế. Anh được hấp thụ tinh thần bất khuất của các phong trào đấu tranh chống Pháp, tinh thần yêu nước, thương dân của những người thân và của nhiều nhà nho yêu nước.

    + Ngoài vốn Nho học và Quốc học, trong hành trang học vấn của anh Nguyễn hồi đó còn có những hấp dẫn về lý tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mà cách mạng Pháp đã khai sinh.

    + Điều đặc biệt ở Nguyễn Tất Thành là anh có sự so sánh, nhận xét về các phong trào yêu nước lúc bấy giờ của các bậc tiền bối Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám và đi đến quyết định nước ngoài ở phương Tây tìm đường cứu nước.

    – Chính truyền thống quê hương và gia đình đã hình thành ở người thanh niên Nguyễn Tất Thành lòng yêu nước, hoài bão cứu nước, lòng nhân ái, thương người, nhất là người nghèo khổ, tha thiết bảo vệ những truyền thống của dân tộc, ham học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.

    2. Thời kỳ từ 1911 – 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

    – 10 năm bôn ba trên thế giới, anh Nguyễn đã rút ra kết luận: trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột và chỉ có một mối tình hữu ái – tình hữu ái vô sản là thật mà thôi.

    – Năm 1919, Bản Yêu sách 8 điểm không được Hội nghị Véc-xây xem xét, nhưng tên gọi Nguyễn Ái Quốc và nội dung Yêu sách đã gây một tiếng vang lớn.

    – Người cũng đã khảo sát, và tìm hiểu cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tham gia Đảng Xã hội Pháp (1919), tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga.

    – Năm 1920, khi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và các vấn đề thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc – con đường cách mạng vô sản, con đường của Lênin.

    – 12/1920, tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, Người đã biểu quyết việc Đảng Xã hội gia nhập Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

    Đây là thời kỳ, từ một thanh niên Việt Nam yêu nước Người trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đây là bước nhảy vọt lớn trong nhận thức của Người, một sự chuyển biến về chất, kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

    3. Thời kỳ 1921 – 1930: hình thành tư tưởng cơ bản về cách mạng Việt Nam

    – 1921 – 1923: Nguyễn Ái Quốc hoạt động với cương vị Trưởng tiểu ban Đông Dương trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp; Thành lập Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản báo Le Paria nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.

    – 1923 – 1924: Người sang Liện Xô tham dự Hội nghị QTND, dự Đại hội V QTCS và các Đại hội QTTN, QT Cứu tế đỏ, QT Công hội đỏ.

    Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu thực hiện một số nhiệm vụ do Đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân giao phó.

    – Năm 1925, Người sáng lập “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”, ra báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tại Pa-ri.

    – Năm 1927, Người xuất bản tác phẩm “Đường Kách Mệnh”.

    – Tháng 2/1930 chủ trì hội nghị hợp nhất và thành lập ĐCSVN, trực tiếp thảo văn kiện “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Điều lệ vắn tắt” và “Chương trình vắn tắt” của Đảng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra
  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Khái Niệm Tư Tưởng Là Gì? Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Gì? Ý Nghĩa Tư Tưởng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Là Gốc
  • Chuyên Đề 4 Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Sức Mạnh Của Nhân Dân, Của Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Giáo Trình Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc
  • Tư tưởng là ý thức của một cá nhân, một cộng đồng. Nó chứa một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học. Các khái niệm mang tính nhất quán, những quan điểm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cá nhân, giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    Quan điểm về tư tưởng xuất phát từ những ý tưởng của những nhà tư tưởng có tầm nhìn cao. Không phải ai có ý tưởng đều được coi là nhà tư tưởng, bởi lẽ theo nhà bác học Lênin cho rằng người đó phải biết cách giải quyết được những vấn đề chính trị, sách lược, tổ chức.

    Tư tưởng không phải những cái có sẵn hay đã được đóng khung từ trước. Nó có thể được sinh ra và phát sinh trong quá trình trao đổi, suy nghĩ của con người. Tư tưởng được mọi người tiếp thu có chọn lọc dưới dạng lĩnh hội lẫn phê phán.

    Theo đó tư tưởng là gì? Đó là cái gì đó không giới hạn, nó luôn được hình thành trong quá trình tiếp thu của con người .Tư tưởng có thể có dạng tiêu cực và tích cực.

    Tư tưởng chính trị của dân chủ

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng, chính trị… Hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Người đã vận dụng và phát triển thêm những ý tưởng của các nhà bác học. Phát huy những cái tiên tiến và sử đổi những cái chưa tốt.

    Các giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh đã ghi chép, nhận định những vấn đề cũng như hoạt động của người. Các nội dung này được hình thành và phát triển từ các thời kỳ hoạt động của Hồ Chí Minh trong phong trào cách mạng Việt Nam và quốc tế. Các tư tưởng của người được ứng dụng vào trong các cuộc đấu tranh cũng như thực tế lúc bấy giờ.

    Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh nhận định Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam.Tiếp thu các tư tưởng những người đi trước và các tư tưởng tiên tiến. Các tư tưởng được áp dụng như tư tưởng cộng sản Mác- Lênin, tư tưởng cách mạng pháp, tư tưởng văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chính thống của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Những tư tưởng của người được đánh giá rất cao. Là những tư tưởng có tính triết lý cao, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin. Dân tộc Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh luôn coi tư tưởng của Người là khối tài sản lớn, là kim chỉ nam cho mọi hành động.

    Tư tưởng chính trị nằm ở trong tư tưởng. Là những tư tưởng để xây dựng một đất nước yên bình. Nó nằm trong các tư tưởng của những người đi trước. Tư tưởng chính trị nó là sách lược để đất nước ta chống lại quân giặc. Tư tưởng chính trị bị đốt, bị chôn nhưng vẫn sống trong lòng người dân.

    Dân tộc Việt Nam sử dụng chủ nghĩa Mác – Lênin là vũ khí lý luận, là nền tảng tư tưởng chính trị. Các lý luận là kim chỉ nam, chỉ ra phương hướng cho chúng ta trong thực tế. Mỗi cán bộ đều phải học tập để áp dụng vào thực tế.

    Tử tưởng chính trị cũng chính là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Học tập và làm theo tư tưởng này giúp xây dựng Đảng về chính trị vững mạnh.

    Tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt cho nhân dân Việt Nam. Đặc biệt là những tư tưởng tiên tiến, tiến bộ của những người đi trước đã để lại cho nhân dân khối tài sản quý báu. Đặc biệt là tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động của dân tộc ta.

    • Tư tưởng là tất cả những suy nghĩ, định hướng, phân tích, đánh giá hay kết luận… thành ý trong đầu của chúng ta. Ví dụ: khi nhìn thấy con gà, chúng ta thốt lên “Con gà trống đẹp quá!” cũng là chúng ta đang tư tưởng và tư tưởng được bộc lộ ra ngoài bằng lời nói.

    Sự khác nhau giữa tư tưởng và lý luận là gì?

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Quá Trình Hình Thành, Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Ôn Tập Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh Khái Niệm Và Nguồn Gốc
  • Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm
  • Lênin, Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Lạm Phát Là Gì? Những Tác Động Của Lạm Phát Đến Nền Kinh Tế
  • Nguyên Âm Trong Tiếng Việt Là Gì? Số Lượng Và Phân Loại Các Nguyên Âm Đôi
  • Hoàn Thiện Quy Định Về Tội Rửa Tiền
  • Phòng, Chống Rửa Tiền Qua Các Tổ Chức Tín Dụng Theo Pháp Luật Của Hoa Kỳ, Singapore Và Những Gợi Mở Cho Việt Nam
  • Sinh Trưởng Của Vi Sinh Vật Là Gì? Tốc Độ Tăng Trưởng Trong Xlnt Ra Sao?
  • 1. Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng trong thời đại ngày nay

    1.1. Sự ra đời, phát triển và các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác – Lênin

    1.1.1. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin

    Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi mà chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đang trên đà phát triển mạnh mẽ đã tạo ra những điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội thuận lợi cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác. Đặc biệt, sự xuất hiện giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử và cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp này là một trong những điều kiện chính trị – xã hội quan trọng nhất cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác. Trong thời kỳ này, nhiều phát minh khoa học mang tính vạch thời đại xuất hiện. Những phát minh khoa học này không chỉ làm bộc lộ rõ tính hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình mà còn tạo ra cơ sở khoa học để khắc phục phương pháp tư duy siêu hình này. Đồng thời, chúng cũng cung cấp những cơ sở khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác. Chủ nghĩa Mác ra đời còn là kết quả của sự kế thừa có chọn lọc, tiếp thu có phê phán toàn bộ những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng của nhân loại từ cổ đại đến thời đại của C.Mác (1818-1883) và Ph.Ăngghen (1820-1895), nhưng trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác còn là kết quả của các yếu tố chủ quan của C.Mác và Ph.Ăngghen, như: tình yêu thương những người lao động, tinh thần hy sinh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng họ, niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, cùng sự thông minh…

    Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác được V.I.Lênin bổ sung, phát triển trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khoa học về thế giới vi mô phát triển và chủ nghĩa xã hội hiện thực được xây dựng ở nước Nga Xô viết, mở ra giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết khoa học và cách mạng, bởi nó phản ánh đúng quy luật khách quan vận động của lịch sử và đấu tranh xóa bỏ mọi hình thức nô dịch người, xây dựng một xã hội mà ở đó không còn người bóc lột người, người đàn áp người, người nô dịch người và sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự tự do của tất cả mọi người.

    1.1.2. Các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác – Lênin

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học gồm ba bộ phận thống nhất hữu cơ không thể tách rời nhau:

    – Triết học Mác – Lênin là khoa học về những quy luật phổ biến chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; trang bị cho con người thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới.

    – Kinh tế chính trị học Mác – Lênin nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (tức là nghiên cứu quan hệ sản xuất) và trong trao đổi, tiêu dùng; nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với quy luật giá trị thặng dư, chỉ rõ bản chất, những quy luật kinh tế chủ yếu của sự hình thành, phát triển và đưa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tới chỗ diệt vong; chỉ ra những quy luật phát triển của quan hệ sản xuất mới, con đường xây dựng một xã hội không có áp bức bất công, vì tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người – xã hội cộng sản chủ nghĩa, giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.

    – Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật chuyển biến xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội xã hội chủ nghĩa và phương hướng xây dựng xã hội mới; chứng minh rằng, chủ nghĩa tư bản càng phát triển càng tạo ra những tiền đề vật chất đầy đủ cho sự ra đời xã hội mới – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến đó chính là giai cấp vô sản và nhân dân lao động; chỉ ra sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là lật đổ chủ nghĩa tư bản xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa – không còn người áp bức người, không còn người nô dịch người; nghiên cứu những vấn đề chính trị – xã hội có tính quy luật trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa như vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội…

    1.1.3. Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong các giai đoạn lịch sử

    Thời kỳ trước “đổi mới, cải cách, cải tổ”

    Các nhà lý luận của chủ nghĩa xã hội, đứng đầu là các nhà lý luận Xô Viết đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trên tất cả ba bộ phận triết học; kinh tế – chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Họ đã cụ thể hóa và làm giàu thêm những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin bằng thực tiễn đấu tranh giải phóng giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở một loạt nước xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, họ cũng đã kiên quyết đấu tranh bác bỏ những sự xuyên tạc, vu khống ác ý đối với chủ nghĩa Mác – Lênin. Tuy nhiên, sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, ở Liên Xô nói riêng trước đổi mới, cải cách, cải tổ ít nhiều đã bị giáo điều. Chính vì vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trước đổi mới, cải cách, cải tổ có những biểu hiện giáo điều, xơ cứng, bảo thủ, chậm đổi mới.

    Thời kỳ “đổi mới, cải cách, mở cửa”

    Trong thời kỳ đổi mới, cải cách, mở cửa, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng một số Đảng Cộng sản khác đã vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn mỗi nước. Trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng, trong đó đặc trưng “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” vừa là đặc trưng thứ nhất vừa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Trung Quốc đã xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Chủ nghĩa xã hội vẫn tiếp tục được xây dựng ở Cu Ba, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào… Vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn tồn tại và phát triển, vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu con người tiến bộ trên trái đất.

    1.2.Những nội dung chủ yếu thể hiện bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin

    1.2.1. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học thống nhất của ba bộ phận cấu thành không thể tách rời là Triết học Mác – Lênin; Kinh tế chính trị học Mác – Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học.

    Học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của Triết học Mác – Lênin chỉ ra rằng, lực lượng sản xuất theo quy luật khách quan tự thân luôn vận động phát triển và đến một giai đoạn nhất định sẽ mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có, mâu thuẫn này được giải quyết sẽ làm cho phương thức sản xuất mới ra đời, kéo theo nó là một xã hội mới, một hình thái kinh tế – xã hội mới được ra đời từ trong lòng xã hội cũ, hình thái kinh tế – xã hội cũ. Quá trình này diễn ra một cách lịch sử – tự nhiên. Từ trong lòng chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ hình thành những điều kiện, tiền đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

    Học thuyết giá trị thặng dư của Kinh tế chính trị học Mác – Lênin chỉ rõ sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là mục đích và quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chính mâu thuẫn giữa tính xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa mâu thuẫn với tính chất tư bản tư nhân chủ nghĩa của sự chiếm hữu tư liệu sản xuất là nguyên nhân của mọi mâu thuẫn trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân – giai cấp tiến bộ, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ với giai cấp tư sản – giai cấp đại diện cho giai cấp bảo thủ, phản tiến bộ. Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua cách mạng xã hội do giai cấp công nhân thực hiện. Giai cấp công nhân có vai trò lôi cuốn các tầng lớp lao động khác vào cuộc đấu tranh đập tan xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn người bóc lột người mà Chủ nghĩa xã hội khoa học đã phân tích chỉ ra.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống lý luận khoa học là còn bởi lẽ, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin đã kế thừa toàn bộ tinh hoa trong lịch sử tư duy của nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lênin còn có căn cứ cơ sở, tiền đề khoa học; có giai cấp vô sản và thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp này và các phương pháp khoa học, khách quan trong nhận thức tự nhiên, xã hội và tư duy của con người.

    1.2.2. Chủ nghĩa Mác – Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận mácxít

    Trước khi chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa học luôn tách rời nhau. Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại cũng có một số nhà tư tưởng có sự thống nhất giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa học. Tuy nhiên, sự thống nhất này còn ở trình độ thấp. Hơn nữa, cả thế giới quan khoa học, cả phương pháp luận biện chứng khoa học đều còn ở trình độ thô sơ.

    Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật thống nhất hữu cơ với phép biện chứng. Đồng thời, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đều được C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển lên một trình độ mới về chất hơn hẳn so với trước đó. Do đó, sự thống nhất thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa học mácxít là một đặc trưng không thể thiếu của chủ nghĩa Mác – Lênin.

    1.2.3. Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với việc xác định rõ con đường, lực lượng, phương thức để đạt mục tiêu đó

    Chủ nghĩa Mác – Lênin xuất phát từ con người hiện thực và cũng nhằm mục đích giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác – Lênin không có mục tiêu nào khác là giải phóng con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột. Nhưng để giải phóng con người, trước hết phải giải phóng giai cấp công nhân rồi tiến tới giải phóng nhân loại, giải phóng xã hội. Con đường giải phóng này là con đường đấu tranh cách mạng đập tan nhà nước tư sản bóc lột, xây dựng một nhà nước mới – nhà nước xã hội chủ nghĩa và sau này là cộng sản chủ nghĩa – mà ở đó không còn bất kỳ sự nô dịch, áp bức, bóc lột con người nào. Muốn vậy, giai cấp công nhân phải đoàn kết, tập hợp giai cấp nông dân và những người lao động khác dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để thực hiện cuộc đấu tranh cách mạng này.

    Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng tỏ ý nghĩa nhân văn to lớn của mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người của chủ nghĩa Mác – Lênin. Cả về phương diện lý luận, cả về phương diện thực tiễn đều chứng tỏ, chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa nhân đạo nhất.

    1.2.4. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết mở, không ngừng được đổi mới, được phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại

    Về bản chất, chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết phát triển, là hệ thống mở, luôn được bổ sung, phát triển. Ngay từ năm 1887, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi không phải là một giáo điều, mà là sự giải thích quá trình phát triển, quá trình này bao hàm trong bản thân nó một loạt những giai đoạn kế tiếp nhau”.

    C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không bao giờ tự coi lý luận của các ông là “bất khả xâm phạm”, là hệ thống khép kín, là chân lý tuyệt đích cuối cùng. Trái lại, các ông luôn đòi hỏi những người cộng sản phải biết vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa…của mỗi nước. Sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các Đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế cũng cho thấy bản chất vốn có của chủ nghĩa Mác – Lênin là sáng tạo và phát triển. Chính nhờ có sáng tạo mà chủ nghĩa Mác – Lênin được phát triển, chính phát triển lại là điều kiện cho những người mác-xít vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin.

    2. Tư tưởng Hồ Chí Minh – hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam

    2.1. Khái niệm và nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

    2.1.1. Khái niệm

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của Nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của Nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân…”.

    Nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một hệ thống quan điểm, tư tưởng bao gồm những nội dung cốt lõi:

    Thứ nhất, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Thứ hai, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thứ ba, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Thứ tư, về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thứ năm, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Thứ sáu, về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Thứ bảy, về xây dựng, phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Thứ tám, về đạo đức cách mạng. Thứ chín, về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Thứ mười, về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

    Đảng ta coi tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta giành thắng lợi.

    2.1.2. Nguồn gốc hình thành

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chủ nghĩa Mác – Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin ở nhiều vấn đề lý luận quan trọng, nhất là lý luận về giai cấp – dân tộc và lý luận về chủ nghĩa xã hội.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Hồ Chí Minh là một trong những người con ưu tú của dân tộc. Người đã kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong đó giá trị tiêu biểu là chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lực, tự cường; tinh thần nhân nghĩa; truyền thống đoàn kết tương thân tương ái, truyền thống cần cù, dũng cảm ,thông minh, sáng tạo…

    Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, nhất là những tư tưởng tiến bộ trong Nho giáo, Phật giáo và tư tưởng tiến bộ của Tôn Trung Sơn. Ở đó, Người tìm thấy những yếu tố phù hợp với điều kiện của cách mạng nước ta. Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái và cách mạng phương Tây. Từ đó, Người hướng cách mạng Việt Nam theo những giá trị của nền văn hóa ấy.

    Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu thương Nhân dân vô hạn, một nhân cách lớn. Hồ Chí Minh cũng là người có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, không ngừng học tập để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, kinh nghiệm đấu tranh của các phong trào giải phóng dân tộc.

    Nhân cách, phẩm chất, tài năng và trí tuệ của Hồ Chí Minh đã giúp Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu được các giá trị văn hóa nhân loại và vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam, là tiền đề cho những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

    2.2. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh

    2.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người

    Hồ Chí Minh cho rằng, con đường của cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Trong đó, giải phóng dân tộc để dân tộc ta thoát khỏi cảnh lầm than, nô lệ, áp bức, nô dịch bởi thực dân, đế quốc; giải phóng giai cấp để xóa bỏ áp bức giai cấp, bóc lột giai cấp, đem lại hạnh phúc cho Nhân dân. Giải phóng xã hội để thực hiện công bằng xã hội. Giải phóng con người để mỗi người ai cũng có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được phát triển toàn diện. Tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chủ tịch là dân tộc thì độc lập, dân quyền thì tự do, dân sinh thì hạnh phúc. Chính vì vậy, với Người không có gì quý hơn độc lập, tự do. Nhưng giành được độc lập, tự do rồi mà dân vẫn đói, vẫn rét thì độc lập, tự do cũng vô nghĩa.

    Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi lẽ, giải phóng dân tộc tạo tiền đề, điều kiện để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người. Tuy nhiên, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội và con người sẽ củng cố, khẳng định, bảo vệ giải phóng dân tộc. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, các nước thuộc địa và phụ thuộc phải tiến hành chủ động, sáng tạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Trong các cuộc cách mạng giải phóng ấy thì giải phóng con người là mục tiêu cao nhất của cách mạng, thúc đẩy cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.

    2.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

    Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới vững bền. Nói khác đi, chỉ có lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa mới là con đường bảo vệ và phát triển vững chắc nhất thành quả của độc lập dân tộc, mới bảo đảm cho Nhân dân thực sự được hạnh phúc, đồng bào ta thực sự được ấm no. Tất nhiên, độc lập dân tộc cũng là điều kiện, tiền đề, cơ sở để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh chỉ rõ phát triển lên chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển đúng đắn và hợp quy luật khách quan của Việt Nam. Điều này có các luận cứ:

    Thứ nhất, đây là quy luật phát triển khách quan của lịch sử không ai có thể ngăn cản được. Người khẳng định: “Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa… Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho Nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động thì được nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”.

    Có thể nói, chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người ai cũng có việc làm, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành; các dân tộc trong nước đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Chủ nghĩa xã hội có quan hệ hòa bình, hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc. Rõ ràng, chủ nghĩa xã hội như vậy sẽ không chỉ bảo vệ vững chắc thành quả của độc lập dân tộc mà còn làm cho Nhân dân được hạnh phúc, đồng bào được ấm no, tạo điều kiện phát triển mới cho dân tộc, cho mọi người dân. Do vậy, mà Hồ Chí Minh đã gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và đây là một giá trị bền vững trong tư tưởng của Người.

    2.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

    Sức mạnh dân tộc theo Hồ Chí Minh, đó là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do, ý thức tự lực, tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết. Sức mạnh của thời đại được Hồ Chí Minh đúc kết từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng của Người. Trải qua nhiều nước trên thế giới, Người hiểu rằng, “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Quần chúng nhân dân có vai trò hết sức to lớn đối với sự nghiệp cách mạng. Chính quần chúng nhân dân là chủ thể của lịch sử, chủ thể của mọi sáng tạo, chủ thể của mọi phong trào cách mạng. Trong một quốc gia, quần chúng nhân dân là gốc của nước. Với Hồ Chí Minh “nước lấy dân làm gốc”.

    Với Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân còn là người quyết định lịch sử. Người thường hay trích dẫn câu ca của người dân vùng Quảng Bình, Vĩnh Linh “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” để nói lên vai trò to lớn của quần chúng nhân dân. Vai trò của Nhân dân còn được Người khẳng định rõ: “Ở đâu có dân là có núi, có sông, có biển. Dân có sức mạnh hơn cả sông núi. Nếu ta biết dựa vào dân thì sẽ thành công”. Hồ Chí Minh coi dân chủ thể hiện ở việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Dân chủ không dừng lại với tư cách như là một thiết chế xã hội của một quốc gia, mà còn có ý nghĩa biểu thị mối quan hệ quốc tế, hòa bình giữa các dân tộc. Đó là dân chủ, bình đẳng trong mọi tổ chức quốc tế, là nguyên tắc ứng xử trong các quan hệ quốc tế. Vì vậy, Người yêu cầu phải thực hiện được một nền dân chủ chân chính. Không cho phép ai lợi dụng và lạm quyền “dân chủ” để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và Nhân dân.

    Nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh là khẳng định cội nguồn quyền lực nhà nước ta là ở Nhân dân. “Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ của Nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Bốn là, nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước này là nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà nước thực hiện quyền lực của Nhân dân, dựa vào sức mạnh của Nhân dân, trước hết là Nhân dân lao động.

    Nhà nước của dân là: tất cả quyền bính đều thuộc về Nhân dân, những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia do Nhân dân phán quyết; tức là Nhân dân phải là người thực hiện quyền lực, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các đại biểu của mình “Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên”.

    Nhà nước do dân vì “lực lượng bao nhiêu là nhờ dân hết”. Nhà nước muốn điều hành quản lý xã hội có hiệu quả thì phải dựa vào dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “dân như nước mình như cá”; phải “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân… Chính phủ chỉ giúp kế hoạch cổ động”. Vì vậy, Đảng ta luôn chủ trương dựa vào dân, tạo điều kiện để nhân dân phát huy cao nhất quyền làm chủ, tham gia tích cực vào việc quản lý nhà nước.

    Nhà nước vì dân nghĩa là mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát và vì lợi ích của Nhân dân; việc gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ được; việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.

    2.2.6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

    Hồ Chí Minh sớm nhận ra rằng, muốn giải phóng dân tộc thì phải có lực lượng quân sự và lực lượng này phải có tổ chức, phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng cần kết hợp giáo dục quân sự với chính trị. Bởi lẽ, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Do vậy, ngay sau khi giành chính quyền về tay nhân dân, Người đã kêu gọi nhân dân cả nước tích cực tăng gia sản xuất, quyết tâm diệt giặc dốt và chỉ rõ trách nhiệm “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi”. Với một nước nông nghiệp, Người đưa ra cơ cấu kinh tế nông – công nghiệp; xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu đảm bảo an ninh lương thực để công nghiệp hoá và là hậu phương vững chắc cho sự nghiệp cách mạng. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phải được tạo lập trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất. Hồ Chí Minh là người sớm đưa ra chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất. Người coi trọng vấn đề quản lý, hạch toán kinh tế, cho đó là chìa khoá phát triển kinh tế quốc dân. Người đề xuất chính sách mở cửa và hợp tác với các nước để thu hút ngoại lực và phát huy nội lực. Người cũng đã bước đầu đề cập đến vấn đề khoán trong sản xuất.

    Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá với nghĩa rộng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát triển ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nghĩa là phải nâng cao ý thức giác ngộ cách mạng, độc lập dân tộc, kiên trì phấn đấu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, ý thức tự lực tự cường, không có gì quý hơn độc lập tự do của nhân dân. Phải thực hiện công bằng xã hội. Phải phát triển dân trí, coi giáo dục là quốc sách.

    2.2.8. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

    Đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên theo Hồ Chí Minh có tầm quan trọng đặc biệt – là gốc, là nền tảng cách mạng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Đạo đức cách mạng là đạo đức mới, trong đạo đức này có sự thống nhất lợi ích của Đảng với lợi ích của dân tộc và lợi ích của nhân loại tiến bộ. Đạo đức cách mạng không đối lập với đạo đức chân chính của dân tộc và đạo đức của nhân loại tiến bộ. Nó chỉ đối lập, xa lạ với đạo đức cũ, đạo đức thủ cựu của giai cấp bóc lột, thống trị. “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”. Vì vậy, xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng và hành động, Hồ Chí Minh luôn kêu gọi, đánh thức, giác ngộ và cổ vũ họ tham gia cách mạng; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, sẵn sàng giao nhiệm vụ và tạo điều kiện để họ được học tập, lao động, cống hiến…

    Để hoàn thành sứ mệnh đó, thế hệ trẻ luôn phải tự giác rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải tích cực làm việc để chuẩn bị cho tương lai. Đó là, phải ra sức học tập, trau dồi tri thức, đặc biệt là rèn luyện đạo đức cách mạng. Thế hệ trẻ phải xung phong trong công tác, đi trước, làm trước, phải có tinh thần sẵn sàng dấn thân “đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm. Việc giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội, nhằm giúp họ tránh những cái độc hại, tiêu cực và tiếp thu, học hỏi những cái hay, tiến bộ trong cuộc sống. Nói về những yêu cầu đạo đức cách mạng của thanh niên, của thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư, tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt uỷ mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”[27]. Những yêu cầu về phẩm chất đạo đức đó cũng là biểu hiện khác của cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư – những phẩm chất đạo đức chân chính trong mỗi con người.

    Hồ Chí Minh cho rằng cần phải tin tưởng ở thế hệ trẻ, phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong xây dựng và kiến thiết đất nước. Muốn phát huy được thế hệ trẻ phải thực sự hiểu thế hệ trẻ; phải quan tâm tới những nguyện vọng, những lợi ích chính đáng của thế hệ trẻ; xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh; nâng cao trách nhiệm của các tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội đối với việc bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ.

    2.2.10. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

    Đảng Cộng sản Việt Nam theo Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Nhưng Đảng không phải là “quan nhân dân”, mà là “công bộc”, “đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”. Hồ Chí Minh viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Bảo Hiểm Nhân Thọ Là Gì
  • Bán Hàng Là Gì? Các Hình Thức Bán Hàng 2022
  • Website Là Gì Và Những Khái Niệm Về Website
  • Tìm Hiểu Về Website Tĩnh Và Website Động
  • Khái Niệm Web Động Và Web Tĩnh
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • 426 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Ke Hoach Bai Giang Tt Hcm2012 Doc
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • a) Khái niệm

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh lần đầu tiên được sử dụng trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) và ngày càng được xác định rõ hơn. Đại hội lần thứ XI của Đảng (2011) chỉ rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi “Định nghĩa này làm rõ:

    Một là, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm lý luận toàn diện và sâu sắc phản ánh những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, mang bản chất khoa học và cách mạng,

    Hai là, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

    Ba là, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

    b) Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Mình

    Xét về nội dung, tư tưởng Hồ Chí Minh làm thành một hệ thống hoàn chỉnh với nhiều bộ phận hợp thành, có cấu trúc chặt chẽ. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân…

    Nội dung cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

    Trong giáo trình này chỉ đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất của hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Ix Của Đảng
  • Qua Nhận Thức Nội Thức Nội Hàm Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh. Hãy Đưa Nhận Xét Về Nhận Thức Của Đảng Cộng Sản Về Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Hiểu Cho Đúng Khái Niệm “tư Tưởng Hồ Chí Minh” Để Chống Lại Các Quan Điểm Lệch Lạc, Sai Trái
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Tư Tưởng Nhân Văn Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm “con Người” Trong Tư Tưởng Nhân Văn Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Quân Sự Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
  • Nguồn Gốc Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam Thông Qua Tại Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xi Của Đảng
  • Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

    Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, từ xưa đến nay, đã có nhiều học thuyết, tư tưởng đề cập đến số phận con người, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người muốn được giải phóng khỏi những bế tắc trong cuộc sống đời thường, giải thoát khỏi những ràng buộc hà khắc, ngặt nghèo của tự nhiên, xã hội và của chính bản thân con người. Đó chính là tư tưởng nhân văn, nhân đạo được thể hiện ở những mức độ, trình độ khác nhau, tiếp cận từ những giác độ, bình diện khác nhau 1.

    Xét về thực chất, nhân văn là một giá trị mang tính phổ quát, tổ hợp các yếu tố Chân – Thiện – Mỹ. Nó thuộc bản chất người và là hiện thân của thiên hướng vươn lên và hoàn thiện không ngừng của chính con người. Vì thế, nhân văn bao giờ cũng là lý tưởng và mục tiêu mà loài người hằng vươn tới; nó tồn tại và biến thiên, ngày càng thể hiện sức sống mãnh liệt của mình trong suốt tiến trình đi lên của xã hội loài người.

    1. Khái niệm tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

    Như chúng ta đều biết tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh bao gồm nhiều bộ phận hợp thành. Về nội dung, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thật rộng lớn, bao quát hết các mặt bản chất con người, đời sống cá nhân và đời sống cộng đồng, môi trường tồn tại, các nhu cầu thể hiện và khát vọng làm chủ mọi mặt cuộc sống v.v…; về hình thức thể hiện, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, rất cô đọng, khái quát, lại rất cụ thể mà không hề trừu tượng, gần gũi với cuộc sống làm người và ai cũng có thể áp dụng được để tự hoàn thiện tính người, hoàn thiện nhân cách làm người.

    Từ việc trình bày khái quát quá trình hình thành, phát triển, các nội dung chủ yếu tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, có thể hình dung diện mạo của tư tưởng đó, chúng tôi cố gắng đi vào xác định khái niệm khoa học. Việc định nghĩa khái niệm ” Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh” phải xuất phát từ định nghĩa khái niệm rộng lớn hơn “Tư tưởng Hồ Chí Minh” và góp phần vào việc cụ thể hóa, xác định rõ hơn khái niệm này. Khi định nghĩa khái niệm ” Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh” chúng tôi dựa vào các nguyên tắc phương pháp luận mácxít.

    Vấn đề đặt ra ở đây là: Thế thì nội dung cốt lõi của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là gì? Nó có trùng hợp với nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung: Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người? Ở đây, chúng ta có thể trả lời câu hỏi đó theo gợi ý và phương pháp luận của Ph.Ăngghen khi nói về chủ nghĩa Mác.

    Vào những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ XIX, khi chuẩn bị xuất bản các tác phẩm của C.Mác với tư cách là một vĩ nhân của thế giới, một giám đốc nhà xuất bản của Ý đã trực tiếp hỏi Ph.Ăngghen: Luận điểm nào của C.Mác thể hiện chính xác, tập trung, nổi bật nhất tinh thần cơ bản của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa nhân văn mácxít? Ph.Ăngghen không cần phải suy nghĩ lâu để trả lời và nói rõ đó là một luận điểm được trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) khi nói về chủ nghĩa cộng sản như là một chế độ xã hội, trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” 2.

    Ở đây, cần lưu ý một điều rất quan trọng: Trong luận điểm nổi tiếng này Ph.Ăngghen đã nhìn thấy hạt nhân và chìa khóa của thế giới quan cộng sản chủ nghĩa của C.Mác và phải hiểu luận điểm đó một cách đầy đủ, trọn vẹn theo nghĩa: Không chỉ sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người, mà sự phát triển tự do của cá nhân chỉ có thể được thực hiện khi xã hội được giải phóng khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, nô dịch và tha hóa. Sự phát triển tự do của cá nhân và sự phát triển tự do của xã hội, vì thế, có quan hệ biện chứng và mang tính chế ước lẫn nhau. Không thể có tự do cá nhân trong một xã hội còn có sự thống trị của chế độ tư hữu, người sản xuất bị tước đoạt và tách biệt hẳn các điều kiện và công cụ lao động.

    Vào đầu thế kỷ XX, khi V.I.Lênin và Plêkhanốp soạn thảo Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Dân chủ – xã hội Nga, V.I. Lênin đề nghị cần phải đưa luận điểm đó của Tuyên ngôn vào Cương lĩnh chính trị của Đảng.

    Cũng như C.Mác, Ph.Ănghen, V.I.Lênin nhìn thấy trong việc phát triển tự do, toàn diện của con người, năng lực và tài năng của nó mục đích cơ bản và sự giàu có chủ yếu của xã hội tương lai. Các ông đồng nhất chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa nhân đạo.

    Sau Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản gần một trăm năm, vào năm 1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài về các điều kiện thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình”3 (chúng tôi nhấn mạnh – P.N.A).

    Các tư liệu lịch sử cho phép chúng ta khám phá ra một điều khá thú vị: Sự thống nhất của các nhà kinh điển Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về mục tiêu phát triển của chế độ xã hội tương lai: Hướng vào sự phát triển tự do toàn diện của con người và đó là một nhu cầu khách quan, có thể sớm hay muộn, nhanh hay chậm do đặc điểm dân tộc và thời đại chi phối, nhưng chắc chắn cuối cùng nhân loại sẽ vươn tới xác lập được một xã hội như vậy, một xã hội do con người làm chủ chính đời sống con người.

    Tinh thần này được Hồ Chí Minh diễn đạt bằng một phương châm khái quát, ngắn gọn: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; độc lập, tự do cho cả dân tộc, cho mỗi cá nhân và cho cả loài người. Với nghĩa đó, độc lập tự do trở thành bản chất cao quý trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, trở thành ngọn cờ chiến đấu và mục tiêu suốt đời hy sinh cống hiến của Người. Vì đó là cái tiên quyết đem lại hạnh phúc và tiến bộ cho nhân dân Việt Nam, cho mỗi người dân và cho cả cộng đồng nhân loại.

    2. Một số đặc trưng chủ yếu của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh có một số đặc điểm tổng quát phản ánh quy luật vận động của lý tưởng nhân văn của loài người, lại rất riêng có của Hồ Chí Minh.

    Một điểm dễ thống nhất với nhau là: Sở dĩ tư tưởng Hồ Chí Minh hiện thân khát vọng thể hiện các giá trị làm người cao quý, là linh hồn, là ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lương tâm của thời đại, có sức sống bền vững và có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân Việt Nam và của nhân dân nhiều dân tộc trên thế giới, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, chính là vì tư tưởng của Người đã kế thừa những giá trị tư tưởng, văn hóa “vĩnh cửu” của nhân loại thấm đượm một chủ nghĩa nhân văn cao cả, đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng cháy bỏng và sâu xa của dân tộc và nhân loại.

    Nói về thái độ của mình đối với một số học thuyết và tôn giáo lớn trên thế giới, chính Hồ Chí Minh đã xác nhận: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.

    Tôn giáo Giê-su có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.

    Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.

    Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.

    Khổng Tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết.

    Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” 4.

    Đứng trên truyền thống nhân văn Việt Nam, trước thực trạng đất nước mất độc lập, chủ quyền, Hồ Chí Minh đòi thực hiện yêu cầu nhân bản bao quát nhất: Đòi cho con người được hưởng những gì vốn có, đó là quyền sống, quyền làm người, quyền độc lập tự do; phải trả lại độc lập cho nhân dân Việt Nam để con người Việt Nam làm chủ đất nước mình, tự mình xây dựng cuộc sống. Đưa con người trở về với chính con người, đó là tư tưởng nhân văn cơ bản, điều mà từ thời cổ đại Arixtốt đã từng mong muốn. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh kêu gọi xóa bỏ nô lệ, áp bức, bần cùng, đối xử với con người như là con người chân chính.

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được nâng lên tầm cao hơn khi Người hội tụ được các tư tưởng tiến bộ toàn nhân loại: Văn minh châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, với các hệ tư tưởng nhân văn Phục hưng, Khai sáng, tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Ý, Pháp… Đặc biệt, tư tưởng nhân văn đó trở thành lý luận khoa học, như một lý thuyết vững chắc khi người gặp tư tưởng cộng sản chủ nghĩa với các lãnh tụ thiên tài Mác, Ăngghen, Lênin.

    Tư tưởng cộng sản chủ nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh nâng những yêu cầu có tính nhân bản lên tầm cao đó là tính nhân văn thực thụ. Tính nhân văn ở đây không còn bị giới hạn trong khuôn khổ giải quyết vấn đề vị trí của con người, tách con người khỏi kiếp ngựa trâu do chế độ nô lệ kìm kẹp, làm cho bị tha hóa, mà là giải quyết vấn đề xây dựng vị thế con người trong xã hội mới. Tư tưởng của Người lúc này không chỉ là xóa bỏ tình trạng tha hóa, đưa con người về đúng vị trí của mình mà là phát huy mọi tiềm năng của con người để xây dựng một cuộc sống mới. Thực hiện tư tưởng nhân văn tư bản chủ nghĩa – tự do, bình đẳng, bác ái, từng bước thực hiện lý tưởng nhân văn cộng sản chủ nghĩa, tiến tới một xã hội cộng đồng và hòa nhập, ở đó con người không chỉ có điều kiện để phát huy mọi tiềm lực, tài năng xây dựng xã hội mới, mà còn phát triển toàn diện, hài hòa chính bản thân con người với tư cách là mục đích tối cao của con người. Đây là tính nhân văn cao nhất của con người, của xã hội loài người trên phương diện lý thuyết. Tư tưởng này ở tầm cao hơn, sâu hơn còn bởi vì nó mở ra tính nhân văn vĩ đại của chủ nghĩa cộng sản, về phương hướng thực hiện mục đích tối cao của con người: Con người là mục đích của sự phát triển lịch sử, của mọi hoạt động của chính mình.

    Tinh thần nhân văn đặc sắc của Hồ Chí Minh thể hiện ở khát vọng biến tư tưởng thành hiện thực trên cơ sở một sự hiểu biết chắc chắn các điều kiện hiện tại và quy luật xã hội đặc thù của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu.

    Để thực hiện lý tưởng nhân văn ” không có gì quý hơn độc lập, tự do“, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu bản chất thật sự của chủ nghĩa thực dân, phát hiện các mâu thuẫn trong lòng nó, nắm bắt thấu đáo nhu cầu phát triển khách quan của xã hội Việt Nam, xu thế vận động của thế giới, khảo cứu các cuộc cách mạng điển hình để vạch ra con đường đi cho cách mạng Việt Nam: Con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Xét về lý tưởng nhân văn, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người Việt Nam trong giải phóng dân tộc là cả cộng đồng dân tộc Việt Nam đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân để giành độc lập dân tộc. Con người trong giải phóng giai cấp là các giai cấp cần lao, trước hết là công – nông, đấu tranh để xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa. Còn con người trong giải phóng con người là mỗi con người, với tính cách là cá nhân, phải được giải phóng khỏi mọi sự áp bức, bất công, được tự do hạnh phúc, được phát triển về mọi mặt, được làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên, làm chủ bản thân mình; bằng cách đó tạo điều kiện cho con người thoát khỏi mọi sự tha hóa để có bản chất người tốt đẹp nhất.

    Tính chất thực tiễn cách mạng của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh quy tụ ở mục đích của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giải phóng là xây dựng một xã hội mới không còn áp bức, bóc lột, bất công; một xã hội giàu mạnh, công bằng, văn minh; với những con người mới có phẩm chất cao đẹp, có trình độ phát triển toàn diện. Những con người được đào tạo, giác ngộ đó chính là động lực quyết định nhất của sự phát triển: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa5. Con người xã hội chủ nghĩa là con người phát triển toàn diện, hoàn toàn đi đến không có chủ nghĩa cá nhân, nghĩa là loại bỏ được mọi sự tha hóa dai dẳng nhất, nguy hại nhất của chính bản thân con người.

    Một xã hội đáp ứng được các nhu cầu giải phóng con người, tạo cho con người phát triển toàn diện chỉ có thể là chế độ xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng nhân văn thực tiễn, đầy sinh khí hiện thực được Hồ Chí Minh biến thành mục tiêu cách mạng xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

    Sau khi đất nước được giải phóng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ thì nhiệm vụ tiếp theo của dân tộc ta là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó là lôgíc tất yếu của lý thuyết phát triển theo hướng nhân văn. Về phương diện văn hóa, chủ nghĩa xã hội là kết quả đấu tranh không ngừng của con người theo hướng tiến về phía Chân – Thiện – Mỹ; nó là một trình độ phát triển cao của văn hóa, văn minh; văn hóa hiểu theo nghĩa là trình độ người, bản chất người của toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội. Trên cả hai bình diện đã nêu, không có chế độ xã hội nào tốt đẹp hơn chủ nghĩa xã hội!

    Chủ nghĩa xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa xã hội hiện thực, cụ thể, nó phải được xây dựng trên mảnh đất của một quốc gia gắn liền với đặc điểm lịch sử, truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc. Chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh xây dựng ở Việt Nam là một xây dựng mới công bằng, nhân đạo, tốt đẹp, nhằm mục tiêu cụ thể là dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh, con người hạnh phúc.

    Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh lãnh đạo thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng, phát triển mọi tiềm năng dân tộc và tiềm năng xã hội, cụ thể là giải phóng và phát triển con người. Đó là một sự nghiệp của chính con người vì bản thân con người để đạt tới cả hai loại giá trị: Độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no. Theo Hồ Chí Minh, con người không chỉ được giải phóng về mặt xã hội mà điều chủ yếu và cuối cùng là giải phóng, phát triển toàn bộ bản chất, bản tính tốt đẹp của mình. Bản chất sâu xa lớn lao trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là tất cả cuối cùng đều vì sự phát triển con người Việt Nam. Xóa bỏ tha hóa, trả lại cho con người Việt Nam phẩm chất, phẩm giá làm người, giải phóng toàn bộ tiềm năng thể chất, trí tuệ, tài năng sáng tạo của con người Việt Nam.

    Trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, lòng nhân ái giữ vị trí hàng đầu, song nó không bó hẹp lòng thương người ở tình nghĩa đồng bào, những “người trong một nước phải thương nhau cùng”, mà mở rộng đến khắp năm châu bốn biển. Người luôn coi con người và cuộc sống ở bất cứ nơi đâu đều là giá trị cuối cùng và cao nhất phải đấu tranh giành được.

    Khác với chủ nghĩa nhân văn tư bản chủ nghĩa cực đoan chỉ đề cao chủ nghĩa cá nhân mà không hề đả động đến con người lao động, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đề xướng việc giải phóng hoàn toàn con người, mà trước hết là chủ yếu là giải phóng con người lao động bị áp bức bóc lột, thủ tiêu mọi gông xiềng, nô lệ, bất công, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc, cơm no, áo ấm cho các dân tộc và mỗi con người. Tính giai cấp công nhân gắn liền với tính dân tộc, tính quốc tế và tính thời đại là một đặc trưng nổi bật nhất của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn liền hạnh phúc của những con người bị áp bức, bị đọa đầy thuộc các dân tộc bị thống trị và lệ thuộc ở thuộc địa với độc lập dân tộc, với tự do, giai cấp được giải phóng.

    Lòng thương yêu con người gắn chặt với tình yêu Tổ quốc và dân tộc đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Sau ngày trở thành Chủ tịch nước, mặc dầu bận trăm công nghìn việc, người cũng rất quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, đặc biệt đối với nhân dân miền Nam đang chịu nhiều đau khổ do đế quốc Mỹ và ngụy quyền gây nên. Người nói, “miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Ngay cả trước lúc “đi xa”, Hồ Chí Minh còn nhớ “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”.

    Khi đi thăm bất cứ nước nào, Người đều giành thời gian tiếp xúc với nhân dân lao động. Đối với các cháu thiếu niên, nhi đồng, Hồ Chí Minh không chỉ là “Bác Hồ” của nhân dân, của thiếu nhi Việt Nam, mà còn của cả nhân dân, thiếu nhi nhiều nước trên thế giới. Chính lòng nhân ái, tư tưởng nhân văn của Người là một yếu tố đã chinh phục được nhân dân thế giới.

    Ở chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, không có tình yêu thương con người chung chung, mà chỉ có tình thương yêu dành cho người bị áp bức, nghèo khổ ở bất cứ nước nào. Người đã phân biệt bạn thù rõ rệt, phân biệt nhân dân Pháp, Mỹ với những bọn thực dân đế quốc là người Pháp, Mỹ – những kẻ chủ mưu xâm lược, nuôi mộng thôn tính các dân tộc nhỏ yếu và đẩy nhân dân nước họ đến chỗ chết chóc. Vì vậy, Hồ Chí Minh bao giờ cũng độ lượng khoan dung với những người lầm đường lạc lối đi đánh thuê cho bọn thực dân đế quốc.

    Tình yêu thương dân tộc trong Hồ Chí Minh đã quyện chặt với tình yêu thương nhân loại bị bóc lột, đọa đầy, áp bức. Đó là lý do vì sao tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được ca tụng, được noi theo và dần dần trở thành tư tưởng của thời đại. Nó không chỉ có tác dụng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do mà còn phát huy ảnh hưởng trong công cuộc xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ sau khi các dân tộc đã thoát được ách đô hộ của thực dân.

    2. C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Sự thật, H.1980, t.1, tr.569.

    3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.272.

    4. Trương Niệm Thức: Hồ Chí Minh truyện, Nxb.Bát Nguyệt, Thượng Hải, tháng 6-1949.

    5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.10, tr.310.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm, Nguồn Gốc Và Quá Trình Hình Thành
  • Bài 1: Đối Tượng Nghiên Cứu
  • Ý Nghĩa Của Việc Học Tập Môn Học Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đối Với Sinh Viên
  • Từ Tín Ngưỡng Tự Do Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đến Quyền Tự Do Tín Ngưỡng, Tôn Giáo Trong Hiến Pháp Việt Nam
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Tôn Giáo
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Lực Lượng Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Phân Tích Những Quan Điểm Cơ Bản Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Tư Tưởng Về Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • Li Khai Và Vấn Đề Li Khai Dân Tộc Ở Một Số Nước Đông Nam Á
  • Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn. Ảnh tư liệu

    Với nhãn quan chính trị sắc bén, với tinh thần nhân văn cao cả, suốt cả cuộc đời, Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đoàn kết dân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn Đảng và các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc.

    Một là, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm về đại đoàn kết, đại đoàn kết dân tộc.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một bộ phận quan trọng hợp thành trong hệ thống tư tưởng của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu toàn bộ di cảo của Người có thể nhận thấy cụm từ “đoàn kết” được Người nhắc tới hơn hai ngàn lần và cụm từ “đại đoàn kết” được Người nhắc tới hơn tám mươi lần, điều đó nói lên sự quan tâm đối với vấn đề đoàn kết ở mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh của lịch sử, đồng thời tỏ rõ tầm chiến lược tư tưởng đoàn kết của Người. Đoàn kết có thể hiểu một cách đơn giản là sự tập hợp, kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó. Còn đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi tức muốn nhấn mạnh tới thành phần, quy mô, lực lượng của khối đoàn kết.

    Hồ Chí Minh nói nhiều tới đoàn kết, đại đoàn kết, tuy nhiên chỉ một lần duy nhất Người định nghĩa về khái niệm đại đoàn kết: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, cái gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” .

    Đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ đơn giản là phương pháp tổ chức, tập hợp lực lượng, mà cao hơn là một bộ phận hữu cơ, một tư tưởng xuyên suốt trong đường lối chiến lược cách mạng, Người khẳng định: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị” .

    Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là một công việc hết sức hệ trọng, to lớn và vô cùng khó khăn. Nhiệm vụ đó chỉ có thể thành công khi quy tụ được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc vì đoàn kết mới tạo nên sức mạnh, tạo nên lực lượng hùng hậu có thể đương đầu và chiến thắng kẻ thù. Thực tiễn cách mạng đã trả lời giữa đoàn kết và thành công có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi phạm vi, mức độ, quy mô của thành công trước hết phụ thuộc vào chính quy mô và mức độ của khối đại đoàn kết. Là người lãnh đạo tối cao cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc đoàn kết không chỉ tạo nên sức mạnh mà là vấn đề có ý nghĩa quyết định tới việc sống còn, thành bại, được mất trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Để lý giải một nước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu lại có thể đương đầu và đánh bại một tên thực dân đầu sỏ có ưu thế tuyệt đối về vật chất, phương tiện chiến tranh, Người nói: “Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, Chỉ có một ý chí: Quyết không chịu mất nước, Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại” .

    Ba là, Hồ Chí Minh chỉ ra lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc là toàn dân trong đó lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng.

    Kế thừa và nâng tầm tư duy chính trị truyền thống của cha ông: “Nước lấy dân làm gốc”; đồng thời thấm nhuần nguyên lý mác xít “Cách mạng là ngày hội của quần chúng”, Hồ Chí Minh đã tìm sức mạnh và cái cẩm nang thần kì của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước ở lực lượng vô địch của nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” …

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế. Nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc tiếp tục được khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”, và sau này Người bổ sung thêm nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc là liên minh giữa công nhân, nông dân với trí thức: “Trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công, nông, trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối” . Do đó Mặt trận không chỉ thu hút được mọi tầng lớp lao động nghèo khổ, bị áp bức, mà còn thu hút được cả tầng lớp trên không thuộc nhân dân lao động và một bộ phận phân hóa trong hàng ngũ của kẻ thù. Trong Mặt trận, xương sống và sức mạnh chủ yếu của khối đại đoàn kết là khối liên minh công nông làm nền tảng, Người nói: “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất” .

    Trong lực lượng phong phú của Mặt trận, Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định là một thành viên, bởi Đảng là bộ phận ưu tú nhất của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, Đảng không phải là một thành viên bình thường, mà là người lãnh đạo của khối đại đoàn kết toàn dân. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng là tuyên truyền, giáo dục để quần chúng giác ngộ sự cần thiết phải đoàn kết lại; chọn lựa những hình thức, phương pháp tổ chức thích hợp để có thể thu hút rộng rãi các lực lượng yêu nước, tiến bộ trong dân chúng; hướng dẫn khối đại đoàn kết toàn dân đấu tranh, lao động sáng tạo theo những mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với lợi ích thiêng liêng của dân tộc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Người cũng nhấn mạnh quyền lãnh đạo Mặt trận không phải Đảng tự phong cho mình, mà phải được nhân dân thừa nhận: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo” . Do chính môi trường, hoàn cảnh sống khác nhau đó nên nhận thức và hành động không thể nhất quán, thậm chí có những xung đột về vấn đề lợi ích. Nhằm quy tụ sức mạnh của cả dân tộc hướng vào mục tiêu chung, tạo nên hợp lực trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, Hồ Chí Minh đã tìm kiếm, trân trọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thống nhất để khắc chế, giải quyết các yếu tố khác biệt, mâu thuẫn. Yếu tố tương đồng để quy tụ sức mạnh của cả dân tộc phải phản ánh được khát vọng cháy bỏng của mọi người Việt Nam yêu nước, đó là tinh thần: “Hy sinh tiền bạc, thời gian và cả máu vì lợi ích các dân tộc bị áp bức; tóm lại, phải vị tha và không ích kỷ, phải tuân thủ theo phương châm “TỔ QUỐC TRÊN HẾT” ở mọi nơi và mọi lúc” và “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” . Chỉ với thái độ như vậy mới thực sự lôi kéo, tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân, phát huy cao nhất sự chủ động sáng tạo của từng người, từng bộ phận, trên mọi lĩnh vực để đưa cách mạng tới thắng lợi.

    Đại đoàn kết được xây dựng trên cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục đối với quần chúng nhân dân.Để tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh rất chú trọng tiến hành công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục quần chúng. Công tác tuyên truyền theo Người là một khoa học, nghệ thuật cách mạng, do vậy các tổ chức và cán bộ cách mạng phải không ngừng tìm tòi lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp để chuyển tải đường lối của Đảng một cách sâu rộng tới nhân dân.

    Muốn làm được điều đó, việc quan trọng hàng đầu đòi hỏi nội dung tuyên truyền, giáo dục, vận động phải phản ánh đúng những nguyện vọng sâu xa và những lợi ích cơ bản nhất của dân chúng. Ở đây có những quyền lợi, nguyện vọng chung có thể gắn kết mọi thành viên của dân tộc nhưng cũng có những nguyện vọng riêng phù hợp với một bộ phận dân chúng, giai cấp. Do đó, nội dung tuyên truyền, giáo dục cần phải đáp ứng được hai yêu cầu trên. Có được nội dung tuyên truyền, vận động đúng đắn là cần thiết, song hiệu quả tập hợp, đoàn kết lực lượng cách mạng còn phụ thuộc vào việc sử dụng các hình thức tuyên truyền, vận động sao cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể, và chính Người là một điển hình mẫu mực về việc sử dụng hiệu quả các hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng.

    Trong công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý giải quyết hai mối quan hệ có tính chất nền tảng, quyết định tới sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, đó là quan hệ giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và quan hệ giữa các tôn giáo. Do những điều kiện lịch sử để lại cùng với âm mưu chia để trị của thực dân phong kiến, mối quan hệ giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, mối quan hệ giữa miền ngược và miền xuôi, giữa đồng bào lương – giáo… có những rạn nứt, nghi hoặc. Người đã đấu tranh kiên trì, bền bỉ để xóa bỏ những hiềm khích, xây dựng khối đoàn kết giữa các dân tộc, trên cơ sở lợi ích chung thống nhất của quốc gia; đoàn kết gắn liền với thực hiện quan hệ dân tộc bình đẳng, tôn trọng, thương yêu và giúp đỡ nhau; đoàn kết trên cơ sở tôn trọng văn hóa, phong tục, tập quán của nhau, kiên quyết chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi: “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn kêu gọi các dân tộc xóa bỏ xích mích do đế quốc và phong kiến gây ra, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ” .

    Như vậy, trong tư tưởng của Người, để không ngừng củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc thì công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng có một vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng. Điều cần lưu ý phải luôn có một nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, từng giai đoạn cách mạng cụ thể và đặc biệt coi trọng giáo dục tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

    Xóa bỏ mặc cảm, định kiến và bệnh hẹp hòi trên tinh thần độ lượng, khoan dung là phương thức quan trọng để xây dựng đại đoàn kết dân tộc.Trải qua gần 100 năm thống trị của đế quốc nước ngoài, và xa hơn là hàng nghàn năm phong kiến với những âm mưu thủ đoạn “chia để trị” của thực dân và thậm chí do những sai lầm ấu trĩ của cán bộ cách mạng nên giữa một bộ phận các dân tộc, tôn giáo, giai cấp… còn có những khoảng cách, nghi hoặc, rạn nứt trong quan hệ. Bởi vậy, những tàn tích của những định kiến quá khứ do đế quốc, phong kiến để lại còn đè nặng lên tư tưởng và tình cảm của quần chúng nhân dân. Muốn xây dựng khối đại đoàn kết, muốn tập hợp, động viên và phát huy sức mạnh của tất cả các lực lượng, theo Hồ Chí Minh tất yếu phải san bằng những hố sâu ngăn cách đó: “Cần phải xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân” . Như vậy, có thể khẳng định, mọi tư tưởng, mọi sự sáng tạo của Hồ Chí Minh đều xuất phát từ lòng yêu thương, kính trọng và tin tưởng ở con người, tin tưởng ở nhân dân. Người từng nói rằng đã là người Việt Nam thì ai cũng có ít nhiều lòng yêu nước. Với tấm lòng nhân ái bao la, lòng tin vô hạn đối với nhân dân, dân tộc, Người đã giành trọn tình yêu thương và sự tin tưởng vào khả năng tiến bộ của con người, biết khơi dậy trong họ những khả năng tiềm tàng, thức tỉnh và giáo dục họ đứng lên đấu tranh cho sự nghiệp chính nghĩa của quốc gia dân tộc.

    Trên thực tế, quan điểm khoan dung, độ lượng và niềm tin vào nhân tính con người đã giúp Hồ Chí Minh: “Đoàn kết tất cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào.Trên nền tảng vững mạnh là lực lượng vô địch của tối đại đa số nhân dân ta (tức là giai cấp công, nông), với một cương lĩnh rộng rãi và một chính sách đúng đắn, với sự đoàn kết nhất trí của tất cả những người xứng đáng là con Lạc cháu Hồng – Mặt trận nhất định sẽ thành công trong việc đánh tan âm mưu Mỹ và bè lũ tay sai của chúng và thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước Việt Nam yêu quý của chúng ta” . Hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã đúc kết một trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta” , , Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.244 , , , Sđd, tập 10, tr.453; tr.376; tr.119-120 Sđd, tập 6, tr.331, tr.130 Sđd, tập 2, tr.513 , Sđd, tập 12, tr.371 Sđd, tập 9, tr.144 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 66. Theo Trang Thông tin điện tử Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dân Tộc Kinh Tiếng Anh Là Gì?
  • Không Có Dân Tộc Kinh (?)
  • Tính Dân Tộc Trong Văn Học
  • Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu
  • Tính Nhân Dân Trong Văn Học
  • Ôn Tập Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh Khái Niệm Và Nguồn Gốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Quá Trình Hình Thành, Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Tư Tưởng Là Gì? Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Gì? Ý Nghĩa Tư Tưởng
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Là Gốc
  • Chuyên Đề 4 Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Sức Mạnh Của Nhân Dân, Của Khối Đại Đoàn Kết Dân Tộc
  • ĐỀ CƯƠNG TƯ TƯỞNG HCM Câu 2: Khái niệm TTHCM ? Phân tích làm rõ nguồn gốc của TTHCM? Trả lời: Ø Khái niệm: TT HCM là 1 hệ thống những quan điểm toàn diện & sâu săc về những vấn đề cơ bản của CM VN, là KQ của sự vận dụng và ↑ sáng tạo CN M_L vào đk cụ thể của nc ta; kế thừa và phát triển các gtri truyền thống tốt đẹp của dân tộc; tiếp thu VH của nhân loại. Ø Bất cứ một TT nào cũng phải có nguồn gốc, cơ sở hình thành, đó chính là tuân theo qui luật hình thành TT từ ít đến nhiều, từ hình thức đến nội dung, bản chất. Vì vậy, TT HCM cũng ko nằm ngoài qui luật đó. – Tư tưởng VH VN: Lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước được hình thành từ rất sớm và trở thành một tính chất của mọi người dân Việt và đây là một yếu tố quan trọng nhất để Nguyễn Tất Thành đi vào con đường cách mạng (Lòng yêu nước là cái vốn có của người dân Việt. Vấn đề đặt ra là Đảng phải khơi gợi). Từ chiến thắng Bạch Đằng của Ngô quyền, hay 3 lần đánh thắng quân nguyên Mông của quân dân nhà Trần…đều là những minh chứng hùng hồn cho 1 trang sử vẻ vang, truyền thống yêu nước chồng giặc ngoại xâm hùng hồn của dân tộc ta. Cho đến nay, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam kể cả thắng lợi công cuộc đổi mới đều có cội nguồn từ lòng yêu nước. Truyền thống đoàn kết, đoàn kết là sự gắn bó hợp tác với nhau để tạo nên sức mạnh. Truyền thống đoàn kết được hình thành cùng với sự hình thành của dân tộc Việt và cũng là cội nguồn của sức mạnh dân tộc Việt. Truyền thống nhân văn nhân ái quý trọng con người, hướng con người vào làm điều thiện, đồng thời xử lý tinh tế các mối quan hệ, gia đình, vợ chồng, anh em, họ hàng và đề cao tình nghĩa, quy tắc ứng xử trong xã hội. Do đó người Việt sống tình cảm hơn, nhân nghĩa hơn, thông minh hơn. Trong lối sống của người Việt: giản dị, khiêm nhường, cởi mở và đặc biệt không cực đoan, cố chấp. Vì vậy có thể tiếp thu những cái hay, cái tốt, cái đẹp của dân tộc khác. Truyền thống văn hiến: Văn hiến là sự kết hợp nhuần nhuyễn của 3 yếu tố sau đây. Tri thức, đạo đức, cái đẹp. Con người VN cần cù thông minh sáng tạo. Dân tộc Việt có khả năng học, hiếu học, coi trọng sự học, luôn luôn tôn vinh những người học cao, đỗ đạt. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào Con người VN luôn lạc quan yêu đời, luôn kiên trì và tin tưởng vào 1 tương lai tốt đẹp nếu có lòng quyết tâm, không nản trí.. Dân ta có câu “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”… Tinh thần nhân nghĩa thủy chung cũng là 1 truyền thống tốt đẹp của con ng VN. – Tinh hoa VH nhân loại: Vượt qua hạn chế của các bậc tiền bối Người đã biết tiếp thu VH nhân loại, “gạn đục khơi trong” làn phong phú VH dân tộc. Trong tư tưởng VN phương đông người tiếp thu tư tưởng nho giáo và phật giáo. Trong nho giáo: Người tiếp thu những mặt tích cực như đề cao VH’, lễ giáo, hướng tới điều thiện đồng thời cũng nhận ra những mặt hạn chế như phân biệt đẳng cấp, xem thường phụ nữ, phê phán chế độ PK chỉ tôn sùng 1 người… Về Phật giáo: HCM tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc cảu các tư tưởng vị tha, từ bi bác ái… chống lười biếng ” nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (1 ngày không làm cả ngày không ăn). Áp dụng vào VN Người nêu lên chủ trương : làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít trừ người già, trẻ em và người khuyết tật. Trong tư tg VH’ phương Tây: Người nghiên cứu và tiếp thu tư tg tự do, bình đẳng bác ái; lòng nhân ái trong thiên chúa giáo. HCM đã nghiên cứu tiếp thu TT văn hoá dân chủ và CM của CM Pháp, CM Mỹ, trong đó có Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp và Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ hay tiếp thu tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp. – CN M_L: Là yếu tố quan trọng nhất, quyết định việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. CN M_L là 1 thế giới quan KH, nhân sinh quan sâu sắc, và là pp tư duy biện chứng triệt để. HCM chọn CN M_L là kim chỉ nam, chọn pp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam vì: + đây là bộ phận tinh túy cảu nhân loại. +là hệ tư tưởng cảu GCCN. + đây là 1 học thuyết CM triệt để, – Các phẩm chất cá nhân của HCM: Hồ Chí Minh có một tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cùng với một đầu óc phê phán tinh tường sáng suốt trong việc tìm hiểu tinh hoa tư tưởng VH’ CM trong nước và trên thế giới. Sự khổ công rèn luyện học tập để chiếm lĩnh những tri thức phong phú của thời đại và với kinh nghiệm đấu tranh trong phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân quốc tế để tiếp cận với chủ nghĩa Mác Lênin một cách khoa học. Có một tâm hồn của nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành và một trái tim yêu nước thương nòi, yêu thương những người cùng khổ, sãn sàng chịu đựng hi sinh cao nhất vì độc lập của tổ quốc, vì hạnh phúc của đồng bào. Kết luận: Tóm lại, TTHCM là sản phẩm của sự tổng hoà và phát triển biện chứng TT văn hoá truyền thống của dân tộc, tinh hoa TT văn hoá của phương Đông và phương Tây với chủ nghĩa M-L làm nền tảng, cùng với thực tiễn của dân tộc và thời đại qua sự tiếp biến và phát triển của HCM – một con người có tư duy sáng tạo, có PP biện chứng, có nhân cách, phẩm chất CM cao đẹp tạo nên. TT HCM là TT VN hiện đại Câu 3: Hãy làm rõ nhận định: TT HCM là 1 quá trình tìm tòi, khảo nghiệm và phát triển gắn liền với sự lớn mạnh của đảng và CM VN? * Giai đoạn 1: (1980-1911): gđ hình thành TT yêu nc và chí khí cứu nc: Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân; sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp; băn khoăn trước những thất bại của các sĩ phu yêu nước chống Pháp; ham học hỏi, muốn tìm hiểu những tinh hoa văn hóa tiên tiến của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở châu Âu, muốn đi ra nước ngoài xem họ làm gì để trở về giúp đồng bào thoát khỏi vòng nô lệ. è mang trong mình hành trang tri thức vào loại bậc nhất thời đại, quê hương không chỉ là cái nôi nuôi dưỡng mà còn TĐ đến qtrinh hình thành và ↑ TT HCM. Trong thời kỳ này, ở Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại. * Giai đoạn 2: (1911-1920) thời kỳ tìm tòi con đg cứu nc, giải phóng dân tộc: – 5/6/1911: tại bến cảng nhà Rồng Người đã ra đi tìm đường cứu nước. -7/1911: Điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình của mình là đất Pháp – nơi sản sinh ra tư tg tự do, bình đẳng, bác ái, Người nghiên cứu, tìm hiểu CS của ng dân P. – 1919: Người gửi bản yêu sách 8 điều (đòi CP P thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của ND An nam) đến hội nghị vecxay- ĐH Đg Pháp nhưng ko đc chấp thuận. – 7/1920: Đọc luận cương của Lenin về vấn đề dân tọc thuộc địa è người đã tìm thấy con đường cứu nc, đó là ánh sáng diệu kỳ soi đường chỉ lối cho bế tắc của CM VN. – 12/1920:tại ĐH Tua HCM biểu quyết tán thành DCS pháp, trở thành người cộng sảnè thành ng CS VN đầu tiên. è Đây là sự chuyển biến về chất trong TTHCM: từ 1 ng yêu nc trở thành ng CS, từ CN yêu nc đến CN M_L, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp. * Giai đoạn 3: (1921-1930): GĐ hình thành cơ bản về CM VN. – 1923: ở Matxcova Người dự nhiều hội nghị QT trong đó đc bầu làm chủ tịch hội nghị nông dân. – Cuối 1924: Người đến QC-TQ mở ra các lớp huấn luyện ctriè đào tạo đội ngũ CB và đưa về nc để truyền bá CN M_L. – Đầu 1925: Ng viết TP ” bản án chế độ TD pháp”. è TP vừa là tư liệu học tập, vừa là bản tố cáo vạch trần bộ mặt vô nhân đạo cảu TD Pháp. – 1927: Ng viết TP “đường Kách mệnh” è TP vừa là văn kiện chỉ dẫn đồng thời Ng vạch rõ con đg & chỉ ra phương hướng cho CM VN. – 1929: CN M_L đã đc thâm nhập vào VN. – 1930: Hợp nhất 3 T/c đảng Thàh lập ĐCS ( theo chỉ thị của QT CS) * Giai đoạn 4: (1930- 1941): Vượt qua KK thử thách & kiên trì quan điển của mình – 10/1930: do ảnh hưởng tả khuynh của QTCS (nóng vội đốt cháy gđ) Đảng ta đã thủ tiêu các văn kiện của Đg ( chánh cg vắn tắt, sách lc vắn tắt) và đổi tên Đg ta thành Đông Dg CS. – 6/1931: Ng bị thực dân Anh bắt ở Hồng Kông. -1933: Ng trở lại matxcova nhưng ko đc giao nhiệm vụ gj mà chỉ đc cử đi học. è mặc dù gặp muôn vàn kk thử thách nhưng Ng vẫn kiên trì BV quan điểm của mình về vấn đề dân tộc, gc… chống lại nhưng biểu hiện “tả khuynh” và biệt phái trong Đảng. Thực tiến đã CM quan điểm của Ng là đúng: -7/1935: ĐH 7 QTCS đã họp và tự phê bình khuynh hướng tả khuynh trc kia. -7/1936: thông qua hội nghị TW 2 đảng ta đa tự phê bình khuynh hướng tả và đề ra phg sách của Đảng. – Đầu 1941: Ng về nc trực tiếp chủ trì hội nghị TW lần thứ 8 (5/1941) 8 Giai đoạn 5 (1941-1969) : gđ phát triển và giành thắng lợi: – đầu năm 1941 Ng về nc lanh đạo nd ta kháng chiến thắng lợi (đi từ thg lợi này đến thắng lợi khác: CM T8/1945, k/chiến chống pháp 1945-1954 ) – Sức của Ng đã yếu, Ng đã giành trọn vẹn tjan còn lại viết bản “di chúc”, trong đó Ng gửi gắm toàn bộ những tư tg, tinh hoa VH’ của nhân laoi cho toàn thể ND ta. – 2/9/1969: Ng đã ra đi để lại bao tiếc thg vô hạn cho toàn thể dân tộc VN cũng như nd toàn TG Tư tưởng HCM hình thành trên cơ sở KH & CM, có quá trình trưởng thành liên tục trong đấu tranh cách mạng chống kẻ thù, chống nhận thức chưa phù hợp giữa trong nước và quốc tế về CMVN, TT HCM là một chân lý, có ý nghĩa lỡn trong những năm đầu thế kỷ này. . Câu 4: Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa? từ đó PT tư tg : Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. Ý 1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác: Dân tộc là sản phẩm của lịch sử. Mác-Ăngghen đã đặt nền tảng lý luận cho việc giải quyết vấn đề dân tộc một cách khoa học. Lênin đã phát triển quan điểm về vấn đề dân tộc thành hệ thống lý luận toàn diện và sâu sắc. Vấn đề dân tộc theo Theo HCM là vấn đề dân tộc thuộc đia: đây thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xoá bỏ áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập”. – Nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa là độc lập dân tộc.Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Tiếp cận vấn đề từ quyền con ng, bác đã khái quát lên thành quyền dân tộc, Trong b ản tuyên ngôn độc lập Ng đã từng nói : “tất cả các dân tộc trên TG đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa. Độc lập hoàn toàn và thật sự trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Trong nền độc lập, mọi người đều được ấm no, tự do, hạnh phúc. Độc lập thật sự phải gắn với hoà bình thật sự. “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hoà bình…kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”. Độc lập dân tộc phải gắn liền với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Ý 2: – chỉ có độc lập mới đảm bảo được các quyền dân tộc cơ bản: đó là quyền được sinh sống tự do và mưu cầu HP.Thực tế CM: cuối TK 19 đầu TK 20 dân ta sống trong cảnh nc mất nhà tan, bị bóc lột 1 cách tàn bạo, ng dân làm việc lam lũ quanh năm mà vẫn ko đủ ăn, không đc hưởng 1 quyền lợi gj…còn khi dân ta janh độc lập về tay mình thì ng dân đc chia ruộng đất, đc tự do canh tác, có quyền bầu cử, quyền tự do sống, học tập và làm việc theo khả năng của mình…. – Độc lập dân tộc gắn với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ . Đúng vậy một dân tộc độc lập phải là một dân tộc có lãnh thổ quốc gia trên bản đồ TG , lãnh thổ đó là giới hạn của một dân tộc , khẳng định sự tồn taị của dân tộc đó trên TG .Vì thế độc lập tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa trên TG .Các dân tộc cần phải đấu tranh để giành lại quyền sở hữu lãnh thổ đó cho dân tộc mình . – Độc lập gắn với quyền tự quyết . Mọi vấn đề của chủ quyền quốc gia do dt đó tự quyết định. Theo HCM độc lập tự do triệt để theo nguyên tắc: Nước VN là của người VN, do dt VN quyết định, nhân dân VN không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài . – Độc lập dân tộc gắn với ấm no hạnh phúc của nhân dân . Trong nền độc lập đó mọi người dân đều ấm no, tự do, hạnh phúc, nếu không độc lập chẳng có nghĩa gì. HCM nói: “chúng ta đã hy sinh, đã giành được độc lập, dân chủ thấy giá trị của độc lập khi ăn đủ no, mặc đủ ấm”. Tư tưởng này thể hiện tính nhân văn cao cả và triệt để cách mạng của HCM. Độc lập tự do là quyền tự nhiên của dt, thiêng liêng và vô cùng quý giá . Bác đấu tranh để đòi hòa bình chân chính trong nền độc lập dt. Nhân dân VN yêu chuộng hòa bình, sống trong hòa bình để xd cuộc sống ấm no hạnh phúc cũng là quyền cơ bản của dt. Hòa bình không thể tách rời độc lập dt, và muốn có hòa bình thật sự thì phải có độc lập thật sự . -Kiên quyết chống lại sự xâm phạm độc lập dân tộc : HCM nêu cao chân lý lớn nhất của thời đại : ” Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập tự do là mục tiêu đấu tranh là nguồn sực mạnh làm nên chiến thắng của dt VN trong TK 20 . Giành được độc lập đã khó song giữ được nền độc lập đó cũng vô cùng khó khăn. Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập, bên cạnh những nguy cơ mang tính hệ quả của toàn cầu hoá và tiến trình hội nhập KT QT , chúng ta còn phải đối mặt với âm mưu diễn biến hoà bình.Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc tôn giáo để chống phá sự nghiệp CM của nước ta (sự biến Tây Nguyên 2/2001 và 4/2004)… Độc lập phải được xem là cái bất bién trong sự thiên biến vạn hoá của nền KT TG đang phát triển với xu thế toàn cầu; bản sắc VH VN cũng phải được xen là cái bất biến trong sự đa dạng của nền VH TG, tiếp thu những cái hay cái đẹp, cái tiên tiến mà vẫn không mất đi cái gốc, cái chất VN trong mỗi con người. Đó cũng là cách để giữ vững nền độc lập dân tộc theo đúng nghĩa của nó. Câu 6: trình bày hệ thống luận điểm của HCM về CM giải phóng dân tộc? -CM giải phóng dân tộc muôn thắng lợi thì phải do đảng của GCCN lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc đã sớm khẳng định: muốn giải phóng dân tộc thành công “trước hết phải có đảng cách mệnh”, “Đảng có vững cách mệnh mới thành công”, “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt” – đó là chủ nghĩa Lênin. Từ thắng lợi của CM Tháng 10 Nga do Đảng CS lãnh đạo, người khẳng định: CM giải phóng dân tộc muốn thắng lợi, trước hết phải có Đảng lãnh đạo, không có Đảng chân chính lãnh đạo CM không thể thắng lợi. Đảng có vững CM mới thành công, người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy. Đầu năm 1930 nguời đã sáng lập ra ĐCSS VN, một chính đảng của GCCN và nhân dân LĐ VN, lấy CN Mac-Lênin “làm côt -CM giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi thì phải đi theo con đường CM VS: Thất bại của phong trào yêu nước ở VN cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chứng tỏ CM chưa có đường lối và phương pháp đấu tranh đúng đắn. HCM đã vượt lên trên những hạn chế tư tưởng của các sĩ phu yêu nước đến với học thuyết CMVS ” CN giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải theo con đường CMVS tức là phải theo đường lối M-L. Con đường cách mạng vô sản ở thuộc địa bao hàm nội dung sau: Làm cách mạng giải phóng dân tộc giành chính quyền, dần dần từng bước “đi tới xã hội CS”. Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân mà đội tiên phong là đảng cộng sản. Lực lượng làm cách mạng là khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công-nông-trí. Cách mạng Việt Nam là bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, phải đoàn kết quốc tế. -cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân trên cơ sở liên minh công-nông: Hồ Chí Minh cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc “là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một, hai người”, vì vậy phải đoàn kết toàn dân, “sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền”. Nhưng trong sự tập hợp đó, phải nhớ “công-nông là người chủ cách mệnh”… “công-nông là gốc cách mệnh”. Sở dĩ Người đánh giá cao vai trò của công-nông và lấy họ làm lực lượng chủ chốt trong CM giải phóng dân tộc vì đây là 2 lực lượng đông đảo nhất, trực tiếp chịu nhiều áp bức bóc lột, công nhân có gốc là nông dân, có quân hệ mật thiết với nông dân và là lực lượng tiên tiến nhất -cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản chính quốc có mối liên hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Đó là MQH bình đẳng chứ không phải là QH lệ thuộc hoặc QH chính-phụ. CN đế quốc là con đỉa 2 vòi phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa CM VS chính quốc với CM thuộc địa. Hồ Chí Minh đã nêu: “cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước…”. èĐây là luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh đóng góp vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin -cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang của nhân dân : Bạo lực cách mạng: Bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. – Hình thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. – Giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình, thương lượng, nhượng bộ có nguyên tắc. Tư tưởng bạo lực cách mạng thống nhất với tư tưởng nhân đạo hoà bình. -Phương châm chiến lược đánh lâu dài trong cách mạng giải phóng dân tộc: “…trường kỳ kháng chiến, địch nhất định thua, ta nhất định thắng… Thắng lợi với trường kỳ phải đi đôi với nhau”. – Tự lực cánh sinh là phương châm chiến lược quan trọng của bạo lực cách mạng. èTóm lại, 5 yếu tố đã phân tích là 5 yếu tố cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định làm nên thắng lợi của CM gpdt trong tư tưởng HCM. 5 yếu tố trên như 5 cánh sao hợp lại sẽ thành 1 ngôi sao toả sáng trên bầu trời hoà bình, độc lập. Thiếu đi 1 cánh không thể thành 1 ngôi sao cũng như thiếu đi 1 yếu tố thì sẽ không thể đem lại chiến thắng cho cuộc CM gpdt của nước ta. Tư tưởng HCM về CM gpdt là 1 cơ sở vững chắc nhất bảo đảm cho dân tộc CM giành được thắng lợi và duy trì được nền độc lập nước nhà. Ngày nay: Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp. Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Câu 7: phân tích đặc trưng cơ bản của CNXH trong TTHCM? Liên hệ với đặc trưng của CNXH VN do ĐH VII (6/1991) nêu ra? Theo Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa xã hội có 5 đặc trưng bản chất. + Về chế độ chính trị: Có chế độ chính trị dân chủ, do nhân dân lao động là chủ và làm chủ, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, dựa trên nền tảng liên minh công-nông-trí thức, do Đảng Cộng Sản lãnh đạo. + Về kinh tế: CNXH là chế độ xã hội có lực lượng sản xuất phát triển cao, gắn với sự phát triển khoa học, kỹ thuật, văn hóa, dân giàu, nước mạnh. + Nền tảng kinh tế là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động. + Về xã hội: Có hệ thống các quan hệ xã hội lành mạnh, công bằng, bình đẳng, không còn bóc lột, áp bức, bất công, không còn sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa thành thị và nông thôn, con người có điều kiện phát triển toàn diện, có sự hài hòa trong phát triển giữa xã hội và tự nhiên. + Về lực lượng: Chủ nghĩa xã hội là của quần chúng nhân dân và do quần chúng nhân dân tự xây dựng lấy. Các đặc trưng này phản ánh bản chất dân chủ, nhân đạo của Chủ nghĩa xã hội, vượt hẳn các chế độ xã hội trước đó. Liên hệ: Quan niệm của Hồ Chí Minh định hướng tư tưởng lý luận cho Đảng ta, nhân dân ta hoàn thiện, cụ thể hóa mô hình Chủ nghĩa xã hội được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (tại ĐH VII T6/1991). Mô hình đó bao gồm 6 đặc trưng cơ bản. Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người đượ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Ke Hoach Bai Giang Tt Hcm2012 Doc
  • 426 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100