Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • a) Khái niệm tư tưởng

    Tư tưởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người với thế giới chung quanh. Trong thuật ngữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, khái niệm “tư tưởng” có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. “Tư tưởng” ở đây không phải dùng với nghĩa tinh thần – tư tưởng, ý thức tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, mà với nghĩa là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học(thế giới quan và phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    b) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống hoàn chỉnh.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991) đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta đă khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Văn kiện của Đại hội định nghĩa: “tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc”.

    Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, công tác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc và đạt được những kết quả quan trọng. Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp luận cứ khoa học có sức thuyết phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”!.

    Trong định nghĩa này, Đảng ta đã làm rõ được:

    Một là, bản chất cách mạng, khoa học và nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh: Đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam;tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và dân tộc Việt Nam.

    Hai là, nguồn gốc tư tưởng, lý luận của tư tưởng Hồ Chí minh:

    Chủ nghĩa Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của

    nhân dân ta giành thắng lợi.

    Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.

    Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thống tri thức tổng hợp, bao gồm: tư tưởng triết học: tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Chủ nghĩa Mác-Lênin; giá trị văn hóa dân tộc: tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Ba là giá trị ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

    Dựa trên định hướng cơ bản các văn kiện đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đều cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.

    Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thống lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất. tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thống tri thức tổng hợp bao gồm: tư tưởng triết học; tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam bao gồm: tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội;về Đảng Cộng sản Việt nam;về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế;về dân chủ. Nhà nước của dân, do dân, vì dân: về văn hóa, đạo đức, V.V..

    Giáo trình này vận dụng phương thức tiếp cận thứ hai để giới thiệu và nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Là một hệ thống lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh có cấu trúc lôgích chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Hai Khái Niệm Truyện Cổ Dân Gian Và Truyện Cổ Tích
  • Em Hãy Nêu Định Nghĩa Truyện Cổ Tích? Qua Đó, Em Hãy Làm Rõ Thể Loại Của Tác Phẩm Sọ Dừa.
  • Nêu Khái Niệm Truyện Cổ Tích
  • Thể Loại Truyện Cổ Tích Lớp 6
  • Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Văn Hóa Của Hồ Chí Minh
  • Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Nhận Thức Và Vận Dụng Nguyễn Mạnh Tường, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chứng Minh Rằng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chính Là Chủ, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng, Hãy Chứng Minh Hiện Tượng Giáo Dục Là Hiện Tượng Xã Hội Đặc Trưng Cho Xã Hội Loài Người, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Quan Niệm Đạo Đức Của Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc, Về Đối Tượng Xét Đề Nghị Tặng Kỷ Niệm Chương Ccb Vn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm C, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm C/o, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm ước, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm Url, Khái Niệm ăn Mặc, Khái Niệm Usb, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Uml, Khái Niệm B/l, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm Là Gì, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Hóa Trị Lớp 8, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Hàm Số Lớp 9, Khái Niệm Hàm Số Lớp 7, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm L/c, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Lễ Hội,

    Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh? Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, P, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Nhận Thức Và Vận Dụng Nguyễn Mạnh Tường, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chứng Minh Rằng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chính Là Chủ, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Xây Dựng Đảng Về Tư Tưởng, Hãy Chứng Minh Hiện Tượng Giáo Dục Là Hiện Tượng Xã Hội Đặc Trưng Cho Xã Hội Loài Người, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng, Chí, Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Về Phòng, Chống Suy Thoái Tư Tưởng Chí, Quan Niệm Đạo Đức Của Hồ Chí Minh, Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Độc Lập Dân Tộc, Về Đối Tượng Xét Đề Nghị Tặng Kỷ Niệm Chương Ccb Vn, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm C, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Câu Cảm Thán,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cán Bộ, Hay
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí Công Vô Tư
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Chứng Minh Rằng Sự Ra Đời Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử
  • Sự Vận Dụng, Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh Trong Văn Kiện Đại Hội Xii Của Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiểu Thế Nào Cho Đúng Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hcm Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Chứng Minh Rằng Sự Ra Đời Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử
  • Vì Sao Nói Sự Ra Đời Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Một Tất Yếu Lịch Sử?
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức
  • Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

    Đây là bài học, kinh nghiệm được Đảng ta tổng kết, rút ra ở nhiều kỳ đại hội gần đây. Tuy nhiên, riêng ở Đại hội XII, khi rút ra một số bài học sau 30 năm đổi mới, Đảng ta không chỉ đặt lên hàng đầu bài học về kiên định “mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, không chỉ khẳng định cơ sở lý luận, tư tưởng của mục tiêu này là “chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” mà đã mở rộng ra, đến “kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”(1). Đây là điều thể hiện đúng thực tế lịch sử và cả những chặng đường tiếp theo. Bởi, trong quá trình đổi mới nói chung cũng như trong sự nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta không chỉ dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn có cơ sở của truyền thống, tinh hoa dân tộc, nhân loại và cả kinh nghiệm thực tiễn quốc tế.

    Ở đây, có một điểm cần lưu ý khi nhấn mạnh vấn đề kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay là việc cần phải đấu tranh mạnh mẽ, không khoan nhượng với những luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị về con đường, mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn cho dân tộc. Bởi, chính trước và trong thời điểm Đại hội XII, những luận điểm này càng được dồn dập tung ra, tuyên truyền, với nhiều phương thức, thủ đoạn. Các thế lực thù địch vừa trực tiếp phủ nhận, xuyên tạc con đường, mục tiêu này từ gốc rễ tư tưởng, lý luận (khi cho rằng: không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội hoặc tư tưởng Hồ Chí Minh đã hết giá trị, Đảng ta dựa vào đó, bấu víu vào đó như một bức bình phong, lừa gạt nhân dân (?!)) đến thực tiễn về sự không phù hợp của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cả trong lịch sử, hiện thực, tương lai, chỉ có con đường “tuần tự” đi lên chủ nghĩa tư bản, con đường “dân chủ” của Phan Châu Trinh mới là đúng đắn. Họ còn tin tưởng, hi vọng tại Đại hội XII, Đảng ta sẽ “đổi mới lần hai” với ý là sự từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Họ lập ra nhiều hội, nhóm, diễn đàn, viết bài, gửi đơn, kiến nghị… để tuyên truyền, cổ vũ cho luận điểm này. Chính vì vậy, việc Đại hội XII của Đảng ta tiếp tục khẳng định bài học hàng đầu là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng rõ ràng, dứt khoát phủ định những luận điệu chống đối, xuyên tạc.

    Trong phần mục tiêu chung xây dựng Đảng, Đại hội XII nêu rõ: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Điểm mới ở đây là lần đầu tiên trong văn kiện đại hội, cùng với chính trị, tư tưởng, tổ chức, Đảng ta coi xây dựng Đảng về đạo đức là một nội dung trong công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên, nói như vậy, không có nghĩa từ trước đến nay, vấn đề đạo đức trong Đảng, xây dựng Đảng về đạo đức không được Đảng ta quan tâm.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lớp lớp cán bộ, đảng viên đã rèn luyện, phấn đấu theo những giá trị và tấm gương đạo đức cao đẹp được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra như trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Có thể nói, nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không phải phần lớn có được những phẩm chất đạo đức ấy, Đảng ta không thể trở thành một đảng cách mạng vững vàng, chắc chắn, vượt qua mọi thử thách, được nhân dân tin yêu, lãnh đạo toàn dân làm nên những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, như lịch sử đã thấy. Trong sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, Đảng ta vẫn luôn khắc sâu những lời dạy đạo đức đó của Người. Nhiều nhiệm kỳ đại hội, Đảng ta đã phát động phong trào đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, rồi học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người. Trong ba vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta đã coi việc “kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…”(3) trong cán bộ, đảng viên là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất. Cũng chính trên cơ sở những “kết quả quan trọng” đạt được trong công tác xây dựng Đảng của khóa XI, cùng những mặt hạn chế, yếu kém, khuyết điểm còn tồn tại, Đại hội XII đã nêu cao nhiệm vụ “đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI” và trong 6 nhiệm vụ trọng tâm Đại hội xác định cho nhiệm kỳ mới, nhiệm vụ thứ nhất là “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

    Đó là những nhận thức cơ bản trong xây dựng Đảng về đạo đức của Đại hội XII. Nó có cơ sở lý luận và thực tiễn rất sâu sắc từ tư tưởng, bài học kinh nghiệm lãnh đạo, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết

    Tại Đại hội XII, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, Đảng ta rút ra kinh nghiệm thứ năm là “lấy lợi ích quốc gia – dân tộc làm mục tiêu cao nhất”. Còn bài học thứ tư trong 5 bài học được Đảng ta rút ra khi nhìn lại 30 đổi mới (1986 – 2022) là: “Phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết”. Như vậy, lần đầu tiên trong tổng kết quá trình lãnh đạo nói chung, Đảng ta khẳng định “phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết” là một trong những bài học quan trọng, cùng với các bài học về “kiên định”; “dân là gốc”; “tôn trọng quy luật, thực tiễn”, “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Không chỉ vậy, trong phương hướng, nhiệm vụ hoạt động đối ngoại, văn kiện Đại hội XII đã nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu là “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc”. Đây là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa chỉ hướng, chi phối mọi hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Nó không chỉ “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” như các đại hội trước của Đảng xác định mà “phải lấy lợi ích quốc gia – dân tộc” làm xuất phát điểm, làm mục tiêu, đích hướng tới để lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động đối ngoại và tham gia hội nhập quốc tế của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

    Những điểm chỉ ra ở trên phản ánh tư duy mới của Đảng ta về giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam với các quốc gia trên thế giới trong tiến trình tham gia toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, xét trong tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, vấn đề lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm, và thực tế, khi nào lợi ích quốc gia – dân tộc được đặt lên hàng đầu, mối quan hệ dân tộc và giai cấp được giải quyết nhuần nhuyễn thì khi ấy cách mạng thắng lợi và ngược lại.

    Như chúng ta đã biết, động lực chủ đạo thúc đẩy, chi phối Hồ Chí Minh trên hành trình tìm đường cứu nước và đến với chủ nghĩa Mác – Lênin chính là tinh thần dân tộc và lợi ích dân tộc. Đối với Người, quyền lợi dân tộc chưa đòi được, thì “quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(4). Vì vậy, khi thời cơ giải phóng dân tộc đến thì “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. Trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Người đã viết: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Và thực tế, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, Người luôn giương cao ngọn cờ, chân lý của dân tộc và thời đại: Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Lợi ích dân tộc đó, với Hồ Chí Minh, còn là cơ sở để phân biệt bạn – thù, tập hợp lực lượng: “Ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kỳ ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc và đồng bào là kẻ thù”(5). Có thể nói, tôn chỉ và hành động của Người là suốt đời phấn đấu vì quyền lợi dân tộc, hạnh phúc của nhân dân.

    Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong thực tiễn 86 năm từ khi ra đời đến nay, Đảng ta có được thành công trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trước hết và chủ yếu là do Đảng đã nhập thân vào dân tộc, hi sinh vì lợi ích dân tộc và đem lại độc lập, thống nhất đất nước.

    Nhìn trong lịch sử, chúng ta thấy, quyền lợi quốc gia – dân tộc luôn được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao. Hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Đảng ta khẳng định “phải đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết”. Đó không chỉ là bài học rút ra qua 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, mà còn là vấn đề có tính quy luật của quá trình nhận thức và đổi mới tư duy của Đảng ta trong lãnh đạo đất nước.

    Như vậy, Đại hội XII của Đảng thành công rất tốt đẹp trên nhiều phương diện, trong đó có thành công về văn kiện Đại hội. Đúng như lời khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khi bế mạc Đại hội: Các văn kiện Đại hội XII đã tiếp tục khẳng định, hoàn thiện quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng ta trên cơ sở vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện nước ta.

    (1) Các trích dẫn văn kiện Đại hội XII của Đảng trong bài viết đều được lấy từ Báo Nhân dân điện tử, ra ngày 25-3-2016.

    (2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 12, tr.403.

    (3) Thông báo Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

    (4) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 7, tr.113.

    (5) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tập 6, tr.18.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tấm Cám (Truyện Cổ Tích)
  • Soạn Bài Sọ Dừa Sbt Ngữ Văn 6 Tập 1: Giải Câu 1, 2, 3 Trang 31 , Dựa Vào Chú Thích…
  • Đầu Xuân Nói Chuyện… Trường Sinh Bất Lão
  • “cổ Tích Thần Kỳ Là Những Hư Cấu Kì Ảo Về Hiện Thực Trong Mơ Ước”. Trình Bày Cách Hiểu Của Em Về Ý Kiến Nói Trên (Minh Hoạ Bằng Truyện “chử Đồng Tử”)
  • Truyện Cổ Tích Là Gì? I.khái Niệm Về Truyện Cổ Tích 1.ðịnh Nghĩa Truyện Cổ Tích Là Những Truyện Truyền Miệng Dân Gian Kể Lại Những Câu
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Quan Hệ Pháp Luật Lao Động
  • Thất Bại Là Gì? Tại Sao Tôi Thất Bại? Khái Niệm Của Kẻ Thất Bại
  • Nếu Bạn Sợ Thất Bại, Hãy Định Nghĩa Nó Theo Cách Khác
  • Định Nghĩa Lại Thất Bại
  • Cách Nhìn Mới Về Tiến Trình Dạy Học Khái Niệm Toán Học Cach Nhin Moi Ve Tien Trinh Day Hoc Khai Niem Toan Hoc Doc
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Định Nghĩa Khái Niệm, Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì, Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Xem Là, Quan Niệm Được Sống Là Chính Mình, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Hình Thành Bởi, Khái Niệm Làn Đường Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm “khổ Giới Hạn Của Đường Bộ” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Đền ơn Đáp Nghĩa, Từ Khái Niệm Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Vận Tốc, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Hình Thành Từ Những Nguồn Gốc Chủ Yếu Nào, Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Học Tư Tưởng Hồ Chí Minh Có ý Nghĩa Gì, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chủ Nghĩa Xã Hội, Chủ Nghĩa Mác Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội, ý Nghĩa Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Về Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Xã Hội Chủ Nghĩa, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội, ý Nghĩa Khái Niệm Tội Phạm, Khái Niệm Nhân Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Vật Chất, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Hình Thành Và Phát Triển Qua Mấy Thời Kì, Khái Niệm Nào Của Văn Phạm Được Sử Dụng Trong Chương Trình Dịch, Câu Thơ Nào Mang Nghĩa Tường Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, Chủ Nghĩa Mác Lênin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Chủ Nghĩa Mác Lênin, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giáo Dục, Chủ Nghĩa Mác Lênin Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đảng, Khái Niệm 2 Phương Trình Tương Đương, ý Nghĩa Khái Niệm Tròn Và Vuông, ý Nghĩa Khái Niệm Thời Gian, ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Bút Pháp Tượng Trung Được Thể Hiện Ntn Trong Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Thô Sơ Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Chủ Nghĩa Mác Lênin Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Luận Văn Về Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Tiểu Luận Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội, ý Nghĩa Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Khái Niệm “phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ” Được Hiểu Thế Nào Là Đúng?, Bai Thu Hoach So Cap Chinh Tri Chuyen De 1 Chu Nghia Mac Le Nin Tu Tuong Ho Chi Minh, Triển Khai Học Tập Và Làm Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Có ý Nghĩa Như Thế Nào Đối Với Sự Nghiệp Cách Mạng Thế Giới, Lien He Ban Than Ve Chu Nghia Mac Le Nin Va Tu Tuong Ho Chi Minh Trong Thoi Ky Hien Nay, Bai Thu Hoach Ve Chu Nghia Mac Lenin Va Tu Tuong Ho Chi Minh Cua Dang Trong Giai Doan Hien Nay, Nội Dung Tâm Đắc Trong Quan Điểm Cyuar Chủ Nghĩa Mác Lê Nin , Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chiến Tranh, Khái Niệm “dừng Xe” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Quy Tắc Giao Thông?, Đảng Cộng Sản Việt Nam Theo Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh Được Coi Là Đảng Của?, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa Niềm Tin, 4 Khái Niệm Có Liên Quan Đến Nội Dung Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định, Khái Niệm Gia Đình, Quan Hệ R Trên 2+ Được Định Nghĩa , Định Nghĩa Nào Của Canvas Được Cho Là Đúng, Không Ai Định Nghĩa Được Tình Yêu, Khái Niệm Quyết Định, Quan Điểm Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Đảng Cộng Sản Về Công Tác Dân Vận,

    Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Đã Chỉ Ra, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó, Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Định Nghĩa Khái Niệm, Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì, Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Khái Niệm Nào Dung Để Chỉ Một Sự Vật Một Hiện Tượng Nhất Đinh, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Đánh Giá Là Tư Tưởng Việt Nam Hiện Đại, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Nền Tảng Tư Tưởng, Kim Chỉ Nam Hành Động Của Dân Tộc, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Xem Là, Quan Niệm Được Sống Là Chính Mình, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Hình Thành Bởi, Khái Niệm Làn Đường Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, ý Tưởng Khái Niệm, Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm “khổ Giới Hạn Của Đường Bộ” Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?, Khái Niệm “dải Phân Cách” Được Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng?, Khái Niệm ước Lệ Tượng Trưng, Khái Niệm Bản Tường Trình, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Đền ơn Đáp Nghĩa, Từ Khái Niệm Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Vận Tốc, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, So Sánh 2 Khái Niệm Văn Minh Và Văn Vật, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Hình Thành Từ Những Nguồn Gốc Chủ Yếu Nào, Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng, Học Tư Tưởng Hồ Chí Minh Có ý Nghĩa Gì, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ, Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chủ Nghĩa Xã Hội, Chủ Nghĩa Mác Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội, ý Nghĩa Môn Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Về Tư Tưởng Hồ Chí Minh, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Xã Hội Chủ Nghĩa, Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chủ Nghĩa Xã Hội,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Đa Diện Lồi
  • Chương I. §3. Phép Vị Tự Và Sự Đồng Dạng Của Các Khối Đa Diện.các Khối Đa Diện Đều
  • Tổng Hợp Kiến Thức Cần Nhớ Về 5 Khối Đa Diện Đều, Khối Tứ Diện Đều, Khối Lập Phương. Khối Bát Diện Đều, Khối 12 Mặt Đều, Khối 20 Mặt Đều
  • Giáo Án Hình Học 12 Chuẩn: Bài Tập Khôí Đa Diện Lồi Và Khối Đa Diện Đều
  • ? Học Tập © ❓ Học Tập Là Gì ? ❓ Học Tập Để Làm Gì ?
  • Qua Nhận Thức Nội Thức Nội Hàm Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh. Hãy Đưa Nhận Xét Về Nhận Thức Của Đảng Cộng Sản Về Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Ix Của Đảng
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh
  • 426 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Ke Hoach Bai Giang Tt Hcm2012 Doc
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm
  • Qua những cuốn sách, các bài viết của các lãnh tụ cùng thời với Hồ Chí Minh, như cuốn “Cách mạng tháng tám” (1946), kháng chiến nhất đinh thắng lợi 1947, chủ nghãi Mác và văn hóa VIệt Nam 1948, của đồng chí Trường Chinh, cuốn “Lãnh tụ của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam” (01/1950); của đồng chí Lê Duẩn; Phạm Văn Đồng viết tác phẩm “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc” (1948)… đã đề cập đến hình ảnh và công lao của Hồ Chí Minh về con đường vẻ vang mà Hồ Chủ tịch đã chọn, sự vận dụng xuất sắc chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh nước ta để đề ra đường lối chủ trương và phương pháp cách mạng đúng đắn.

    Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) đã xác định khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu của nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.Cần hoàn thiện quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng ta trên cơ sở vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện nước ta.

    Nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là thấm nhuần sâu sắc hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, nâng cao thêm lòng yêu nước, phục vụ nhân dân, đạo đức cách mạng của mỗi người, để làm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong hành động của chúng ta.

    Hiện nay, cùng với sự hội nhập quốc tế sâu rộng việc nghiên cứu, học tập, vận dụng đúng đắn, sáng tạo di sản Hồ Chí Minh càng trở nên cấp thiết. Với khát vọng về một thế giới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội thì Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được cả nhân loại hướng đến như là một trong những người soi sáng, dẫn đường. Đảng ta cần nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy di sản của Người phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta và bối cảnh thế giới. Để làm được điều đó, Đảng cần phải thường xuyên tổng kết quá trình nghiên cứu, học tập Hồ Chí Minh qua các thời kỳ và rút ra những bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho đổi mới việc nghiên cứu, học tập vận dụng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiểu Cho Đúng Khái Niệm “tư Tưởng Hồ Chí Minh” Để Chống Lại Các Quan Điểm Lệch Lạc, Sai Trái
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Hãy Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Và Rút Ra Giá Trị Của Nó
  • Khái Niệm Văn Hóa Của Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đảng Cầm Quyền

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Quan Điểm “đảng Ta Là Một Đảng Cầm Quyền”
  • Một Số Vấn Đề Về Đảng Cầm Quyền
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Đảng Cộng Sản Việt Nam Cầm Quyền
  • Nhận Thức Các Khái Niệm Đảng Cầm Quyền, Đảng Lãnh Đạo Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Một Số Khái Niệm Về Quyền Tác Giả, Quyền Liên Quan
  • TNV – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố Đảng, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và mỗi đảng viên chân chính. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng một Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn cách mạng là rất cần thiết.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng cầm quyền là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền có sự phát triển so với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin đó là “Đảng của giai cấp”, “Đảng của cả dân tộc”, “Đảng của toàn dân”, “Đảng ở trong xã hội”, “Đảng do nhân dân tham gia quá trình tổ chức, kiểm tra, giám sát…”.

    Xây dựng Đảng cầm quyền là một vấn đề rất rộng lớn, có ý nghĩa quan trọng, rất khó khăn và phức tạp. “Đảng cầm quyền” là khái niệm dùng trong khoa học chính trị, chỉ một đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền để điều hành, quản lý đất nước nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp mình.

    Khái niệm “đảng cầm quyền” được dùng ở các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa. Các nước tư bản chủ nghĩa, khái niệm này đùng để chỉ một đảng hay một liên minh chính trị gồm nhiều đảng đã nắm được chính quyền, điều hành đất nước trong nhiệm kỳ hiện tại của quốc hội, nhiệm kỳ của tổng thống. Với các nước xã hội chủ nghĩa, khái niệm này được dùng trong thời kỳ từ khi Đảng Cộng sản đã giành được chính quyền, nắm chính quyền, lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chính trị. Như vậy, đảng cầm quyền là đảng giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử dân chủ và cạnh tranh. Từ đó, đảng thành lập chính phủ đưa ra các quyết định chính sách đại diện cho nhân dân.

    Ngay từ trước Cách mạng tháng Mười Nga (năm 1917), Lênin nói rằng Đảng Bônsêvích Nga bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng đứng ra nắm chính quyền. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Đảng Bônsêvích, sau đó là Đảng Công sản Liên Xô trở thành đảng cầm quyền đã có những đóng góp hết sức to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Liên Xô và nhân dân thế giới. Lênin lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm “Đảng Cộng sản cầm quyền” vào ngày 27/3/1922 trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Nga và nhận định ở nước Nga chỉ có “đảng cầm quyền duy nhất”

    Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thuật ngữ này để nói về vai trò cầm quyền của Đảngnhư ”Đảng giành được chính quyền”, ”Đảng nắm chính quyền”, ”Đảng cầm quyền”. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”. Những khái niệm này cũng đã được ghi trong các văn kiện của Đảng ta khi đề cập đến vai trò của Đảng đối với xã hội từ sau khi có chính quyền cách mạng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được Đại hội toàn quốc lần thứ X, XI thông qua có ghi “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền”.

    Với các Đảng Cộng sản cầm quyền, thuật ngữ Đảng Cộng sản dùng để chỉ các đảng Cộng sản ở những nước có duy nhất một đảng cầm quyền, nắm chính quyền lãnh đạo mọi mặt trong đời sống xã hội. Đảng cầm quyền có nghĩa là đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước dân tộc. Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói, Đảng chẳng những phải lo những việc to lớn như việc biến đổi kinh tế và văn hóa mà còn còn phải lo đến những việc nhỏ nhặt “tương cà, mắm muối” là những thứ cần thiết cho đời sống thường nhật của nhân dân. Đảng đại diện lợi ích của giai cấp công nhân, cho toàn thể nhân dân lao động, trở thành đội tiên phong chính trị của cả dân tộc. Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng và khoa học, có phương thức lãnh đạo đúng đắn.

    Đảng Cộng sản Việt Nam đã giữ vững được nguyên tắc xây dựng đảng của các nhà nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản, vận dụng sáng tạo, kế thừa có chọn lọc học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin.

    Đảng là một tổ chức của những người tự nguyện cùng chung một chí hướng đấu tranh cho lợi ích của một giai cấp hoặc một tầng lớp nhất định. Ở các nước phương Tây, thuật ngữ “đảng cầm quyền”, “đảng chấp chính”, “đảng nắm chính quyền” đã được dùng từ lâu, dùng để chỉ rõ vai trò, vị thế của một đảng khi đã có chính quyền. Đảng cầm quyền có nghĩa là đảng lãnh đạo chính quyền, chi phối chính quyền, làm cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện tư tưởng, đường lối của đảng đó, phù hợp với lập trường và phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mà đảng đó đại diện.

    Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trước và sau khi giành chính quyền

    Sự lãnh đạo của Đảng khi đã có chính quyền khác rất nhiều so với khi chưa có chính quyền. Trước khi có chính quyền, phương thức lãnh đạo của Đảng chủ yếu là do các tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đến các hội, đoàn thể nhân dân, đến các quần chúng ”cốt cán” của Đảng, thậm chí đến từng người dân, từ đó tổ chức nhân dân thực hiện. Khi đó, quan hệ giữa Đảng với nhân dân là quan hệ máu thịt, mọi sự xa rời nhân dân đều dẫn đến tổn thất cho cách mạng, cho tổ chức đảng. Lúc này, trong Đảng không có điều kiện để phát sinh tệ tham nhũng quan liêu, ức hiếp quần chúng.

    Khi Đảng đã giành được chính quyền thì chính quyền là công cụ mạnh mẽ, sắc bén nhất để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Đảng lãnh đạo chính quyền (Nhà nước) thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Lúc này, Đảng lãnh đạo chính quyền và thông qua chính quyền để nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.

    Ðối với Ðảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề chính quyền đã được giải quyết thông qua con đường cách mạng, phù hợp với những điều kiện lịch sử của đất nước. Trước kia, khi đất nước còn chìm đắm trong ách nô lệ thì nhiệm vụ hàng đầu của Ðảng là lãnh đạo nhân dân làm cách mạng lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Nhưng đến khi đã giành chính quyền thì trọng trách của Ðảng là lãnh đạo gìn giữ chính quyền, bảo vệ Tổ quốc, làm cho chính quyền ấy thực hiện tốt các nhiệm vụ của cách mạng, vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

    Đảng cầm quyền là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội; theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,Đảng là đầy tớ của nhân dân,hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Quyền của Đảng là ở chỗ xác định cho được đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và tổ chức nhân dân thực hiện. Đồng thời Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi đường lối, chủ trương, chính sách đã đề ra. Với tư cách một lãnh tụ của Đảng, Hồ Chí Minh không bao giờ quên nhắc nhở cán bộ đảng viên phải nhớ đến trách nhiệm của một Đảng cầm quyền. Người luôn chú ý giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và toàn Đảng nói chung về trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân, đối với Nhà nước của dân cũng như đối với toàn dân tộc. Cho đến cuối đời, trong Di chúc, Người vẫn không quên nhắc lại: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”.

    Về bản chất của Đảng cầm quyền

    Các văn kiện của Hội nghị hợp nhất Đảng 2/1930, Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp” (Sách lược vắn tắt), “là đội tiên phong của đạo quân vô sản” (Chương trình tóm tắt). Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của giai cấp công nhân, có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng. Hồ Chí Minh nhận thức, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì vậy, “về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo”. Theo Hồ Chí Minh, cái quyền mà Đảng có được, là do dân, nhờ dân và của dân, cho nên, cầm quyền là công bộc thực sự của nhân dân. Hơn nữa, Hồ Chí Minh còn đòi hỏi Đảng phải “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

    Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng bắt tay ngay vào việc xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta, với một hệ thống chính quyền từ Trung ương đến tận cơ sở. Đó là Nhà nước dân chủ nhân dân, đại biểu cho mọi giai tầng xã hội, trước hết là công nhân, nông dân, những người lao động chân tay và trí óc là những giai tầng chiếm tuyệt đại đa số trong dân tộc. Cùng với việc xây dựng bộ máy Nhà nước kiểu mới và ban hành Hiến pháp, pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâm đến việc xây dựng cách lãnh đạo mới của Đảng và cách làm việc mới của cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền.

    Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sảng Đông Dương (từ tháng 2 năm 1951 là Đảng Lao động Việt Nam và từ tháng 12 năm 1976 là Đảng Cộng sản Việt Nam) đã trở thành Đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền, không chỉ lãnh đạo chính quyền, mà còn lãnh đạo toàn xã hội. Vì vậy, Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội.

    Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam qua 2 thời kỳ: từ năm 1930 đến năm l945 là thời kỳ chưa giành được chính quyền; từ năm 1945 đến nay là thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân xóa bỏ được chính quyền thực dân phong kiến để xây dựng chính quyền nhân dân, từ đó trở thành đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là để chỉ vai trò của Đảng khi đã giành được chính quyền, cũng có nghĩa là Đảng lãnh đạo khi đã có chính quyền, lãnh đạo toàn xã hội bằng chính quyền, thông qua chính quyền và các đoàn thể nhân dân

    Năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở “Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

    Năm 1953, trong thư gửi Lớp chỉnh Ðảng Liên khu 5, Hồ Chí Minh đã dặn dò “Mục đích chỉnh Ðảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sĩ xứng đáng là người đầy tớ của nhân dân”.

    Năm 1960, trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Ðảng, Người nhấn mạnh: “Ðảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Ðảng ta không có lợi ích gì khác”.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đảng cầm quyền thì vấn đề quan trọng nhất là phải xác định cho được đường lối đúng đắn để phục hưng và phát triển đất nước, xây dựng thành công CNXH. Để có được đường lối đúng đắn, Đảng phải nâng cao trình độ lý luận, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin để tìm ra quy luật phát triển của cách mạng nước ta. Đặc biệt, Người đã chỉ rõ phải căn cứ vào thực tiễn Việt Nam vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm giải quyết những vấn đề mà thực tiễn Việt Nam đang đặt ra. Do đó, nếu chúng ta có làm khác Liên Xô, Trung Quốc nhưng đem lại lợi ích cho dân cho nước thì như vậy cũng là mácxít. Đó là những chỉ dẫn hết sức quan trọng định hướng cho tư duy lãnh đạo của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng.

    Nhiệm vụ, mục đích của Đảng

    Nhiệm vụ của Đảng cầm quyền là tổ chức, quản lý đất nước, bảo vệ lợi ích cho nhân dân. Lênin chỉ rõ nhiệm vụ trọng yếu của Đảng Bôn sê vích Nga sau khi giành được chính quyền là “tổ chức, quản lý nước Nga”. Khi Đảng lên cầm quyền, thì Hồ Chí Minh cần phải giải quyết đồng bộ, thống nhất giữa kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội. Vì thế, năm đầu tiên giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo hoạt động của bộ máy chính quyền “việc gì có lợi cho nhân dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Công cụ chỉnh đốn để chỉnh đốn tư tưởng và tổ chức là tự phê bình và phê bình. Người cách mạng càng phải kiên quyết thực hành tự phê bình, nếu không thì không xứng đáng là người cách mạng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là đoàn kết nội bộ từ trên xuống dưới, làm cho công việc tiến bộ hơn, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, chính phủ và nhân dân, sửa chữa những sai lầm khuyết điểm.

    Theo Hồ Chí Minh, mỗi bước chuyển của cách mạng đều phải tiến hành chỉnh đốn Đảng, nhờ vậy mà Đảng ta đã không ngừng lớn mạnh, xứng đáng với niềm tin cậy của nhân dân.

    Ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam- Đảng cầm quyền nhận rõ trách nhiệm của mình trước dân tộc, trước đất nước để đề ra đường lối xây dựng và phát triển đất nước, phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, của toàn xã hội từ đó xác định đúng nội dung và phương thức hoạt động của Đảng, phát huy mặt tích cực, khắc phục hạn chế khó khăn, ngăn ngừa và khắc phục những nguy cơ của một đảng cầm quyền.

    Sau hơn 30 năm đổi mới đất nước, sự lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản càng được thử thách và khẳng định. Trước bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp khó lường Đảng ta kiên định mục tiêu cách mạng, tự chủ, sáng tạo, lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới thu được nhiều kết quả, kinh tế không ngừng phát triển, chính trị xã hội ổn định, đối ngoại mở rộng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Điều đó chứng minh sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định tạo ra những thành tựu cho công cuộc đổi mới đất nước.

    Hồ Chí Minh, Toàn tập, Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 1996, T.12, tr.498

    Hồ Chí Minh, Toàn tập, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, T.6, tr 480

    Lớp D1K3, Học viện TTN Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Niệm Về Đảng Cộng Sản Việt Nam Cầm Quyền
  • Định Nghĩa Chủ Quyền Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Chủ Quyền
  • Chính Quyền Địa Phương Trong Hiến Pháp Năm 2013
  • ‘chính Quyền Đô Thị, Đặc Khu Là Sự Đa Dạng Mô Hình Để Phát Triển’
  • Định Nghĩa Nữ Quyền Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Nữ Quyền
  • Nhận Thức Khái Niệm “đảng Lãnh Đạo”, “đảng Cầm Quyền” Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Trong Điều Kiện Mới
  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Nội Dung, Phương Thức Lãnh Đạo Và Cầm Quyền Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Hiện Nay
  • “đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Trong Điều Kiện Mới
  • Nội Dung, Phương Thức Cầm Quyền Của Đảng: Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
  • Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Cộng Sản Cầm Quyền
  • Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng trong các bài viết, bài nói của mình các khái niệm “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền”. Việc nhận thức rõ các vấn đề đó trong tư tưởng của Người trong giai đoạn hiện nay là vấn đề hết sức cần thiết, làm cơ sở cho Đảng ta tiếp tục đổi mới về phương thức lãnh đạo. Trong phương hướng, giải pháp xây dựng Đảng của nhiệm kỳ Đại hội X, Đảng ta đã xác định: “Nghiên cứu, tổng kết, tiếp tục làm rõ quan điểm về Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền làm cơ sở đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách cơ bản, toàn diện”(1). Tại Đại hội XI, trong phương hướng, giải pháp xây dựng Đảng những năm tới, Đảng ta tiếp tục xác định: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền”(2).

    Trên cơ sở quan điểm của V.I.Lênin về đảng lãnh đạo, Hồ Chí Minh không chỉ bằng hành động thực tiễn là sáng lập ra một đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc để lãnh đạo toàn dân trong công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà đã góp phần làm rõ cả nhận thức khái niệm về Đảng lãnh đạo. Theo Người: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và làm cho tốt”(4); “Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(5).

    Với các luận điểm trên, nội hàm khái niệm “Đảng lãnh đạo” trong quan điểm của Hồ Chí Minh đã được làm rõ qua các nội dung chủ yếu sau:

    Thứ ba, khái niệm Đảng lãnh đạo được hiểu như một hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp cả trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính từ trong cuộc đấu tranh đó, Đảng đã tỏ ra là lực lượng “có sức hấp dẫn lớn”, được quần chúng nhân dân tin yêu, ca ngợi, tự nguyện suy tôn là lực lượng giữ địa vị lãnh đạo. Sau khi Đảng lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, sự suy tôn đó được kiểm chứng chủ yếu qua các đợt bầu cử dân chủ và khi mà có đa số đảng viên của Đảng được bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước các cấp. Tuy nhiên, nhân dân tự nguyện suy tôn địa vị lãnh đạo của Đảng không có nghĩa là Đảng có thể giữ mãi địa vị đó nếu Đảng đánh mất niềm tin của nhân dân, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nếu Đảng không chiến thắng được trong cuộc đấu tranh gian khổ chống chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ rằng: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”(6); rằng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(7).

    Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sớm về Đảng cầm quyền. Tuy không nêu rõ khái niệm “Đảng cầm quyền” là như thế nào, nhưng qua những bài viết, bài nói của Người cho thấy rằng, “Đảng cầm quyền” là khái niệm có những điểm khác với “Đảng lãnh đạo”. Đảng cầm quyền là một khái niệm gắn với quyền lực. Theo Người, Đảng cầm quyền cũng tức là Đảng nắm chính quyền, nghĩa là Đảng có quyền lực trong thực tế. Tuy nhiên, Đảng ta là đội tiên phong không chỉ của giai cấp công nhân mà là của cả dân tộc, “Đảng là đảng của giai cấp lao động, mà cũng là đảng của toàn dân”(10); đồng thời, những cán bộ, đảng viên của Đảng trực tiếp thi hành những nhiệm vụ quản lý trong bộ máy nhà nước đều chỉ là những người được nhân dân “ủy thác”, bầu ra để phục vụ nhân dân. Do vậy, ở nước ta, Đảng nắm chính quyền cũng tức là nhân dân nắm chính quyền, bởi Đảng chỉ là lực lượng tiêu biểu, đại diện cho toàn dân nắm chính quyền. Cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước có quyền lực nhưng quyền lực đó là thuộc về nhân dân. Người viết: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy”(11). Có thể thấy, đây là một nét đặc thù của Đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay. Điều này không có được đối với các đảng cầm quyền ở nhiều nước trên thế giới, khi mà đảng cầm quyền chỉ là đảng đại diện cho một lực lượng trong nhiều lực lượng khác nhau của các giai cấp, tầng lớp dân chúng trong xã hội.

    3. Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền” nêu trên có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta hiện nay trong việc nhận thức đúng đắn nội hàm của các khái niệm đó làm cơ sở để đổi mới phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng một cách đúng hướng.

    Trước hết, trong mối quan hệ, tác động của Đảng đối với Nhà nước mà từ trước đến nay chúng ta coi là quan hệ “lãnh đạo”, “Đảng lãnh đạo Nhà nước” cần phải có sự nhận thức lại rõ hơn. Đây phải được coi là quan hệ gắn với quyền lực, do sự “cầm quyền” của Đảng. Tức Đảng có quyền lực, “Đảng cầm quyền”, nắm quyền lực nhà nước bằng cách “Đảng “hóa thân” sự lãnh đạo của mình trong sự quản lý của Nhà nước, trên từng phương diện của đời sống kinh tế-xã hội”(12). Do vậy, hoạt động của Đảng hiện nay vừa có sự lãnh đạo, vừa có sự cầm quyền với các phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng.

    1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 306.

    2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 255.

    3. V.I.Lênin: Toàn tập, t. 39, NXB Tiến bộ, Mat-xcơ-va, 1979, tr. 251.

    4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 12, tr. 222.

    5. Hồ Chí Minh. Sđd, t. 10, tr. 323.

    6. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 3, tr. 139.

    7. Hồ Chí Minh, Sđd, t. 12, tr. 557-558.

    8. V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 41, tr. 181.

    9. V.I.Lênin: Sđd, t. 43, tr. 75.

    10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr.231.

    11. Hồ Chí Minh. Sđd, t. 7, tr. 218-219.

    12. Nhị Lê, Về sự cầm quyền của Đảng, Tạp chí Cộng Sản, số 16, 8-2006, tr. 44; Nguyễn Hữu Đổng (chủ biên), Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, tr. 154, 166.

    PGS, TS. Nguyễn Hữu Đổng và TS. Ngô Huy Đức

    Viện Chính trị học, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

    xaydungdang.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Hướng Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo
  • Nol: Bản Chất Của Lãnh Đạo
  • Yếu Tố Ban Lãnh Đạo Trong Lựa Chọn Doanh Nghiệp Đầu Tư
  • Không Ngừng Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Và Sức Chiến Đấu Của Đảng
  • Tiểu Luận Llct Nâng Cao Sức Chiến Đấu Của Tccsđ
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • 426 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Ke Hoach Bai Giang Tt Hcm2012 Doc
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm
  • Phân Tích Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Nhận Thức Và Đấu Tranh Để Chống Lại Các Quan Điểm Xuyên Tạc Của Kẻ Thù
  • Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • a) Khái niệm

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh lần đầu tiên được sử dụng trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) và ngày càng được xác định rõ hơn. Đại hội lần thứ XI của Đảng (2011) chỉ rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi “Định nghĩa này làm rõ:

    Một là, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm lý luận toàn diện và sâu sắc phản ánh những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, mang bản chất khoa học và cách mạng,

    Hai là, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

    Ba là, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

    b) Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Mình

    Xét về nội dung, tư tưởng Hồ Chí Minh làm thành một hệ thống hoàn chỉnh với nhiều bộ phận hợp thành, có cấu trúc chặt chẽ. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân…

    Nội dung cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

    Trong giáo trình này chỉ đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất của hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Ix Của Đảng
  • Qua Nhận Thức Nội Thức Nội Hàm Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh. Hãy Đưa Nhận Xét Về Nhận Thức Của Đảng Cộng Sản Về Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Hiểu Cho Đúng Khái Niệm “tư Tưởng Hồ Chí Minh” Để Chống Lại Các Quan Điểm Lệch Lạc, Sai Trái
  • Những Nội Dung Đặc Sắc Của Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Cách Mạng
  • Phát Huy Dân Chủ Trong Đảng Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • 【Havip】Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Là Gì?
  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Công Tác Tổ Chức, Cán Bộ Của Đảng
  • Về Chủ Nghĩa Dân Túy Và Đấu Tranh Ngăn Ngừa Những Biểu Hiện Của Nó Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Và Lý Thuyết Mị Dân
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Và Phòng, Chống Những Biểu Hiện Của Chủ Nghĩa Dân Túy Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta hệ thống tư tưởng lý luận có giá trị to lớn, trong đó có vấn đề phát huy dân chủ trong Đảng.

    1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy dân chủ trong Đảng

    Dân chủ là một khái niệm thuộc lĩnh vực chính trị. Dân chủ là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên nguyên tắc nhân dân là chủ thể duy nhất của quyền lực. Theo lý luận Mác – Lênin, dân chủ là một phạm trù lịch sử gắn liền với chế độ chính trị và nó ra đời, tồn tại cùng với sự ra đời của nhà nước. Về bản chất, nhà nước mang tính giai cấp cho nên dân chủ cũng mang tính giai cấp.

    Hiện nay, có một số quan điểm nhìn nhận khái niệm “dân chủ” theo ý nghĩa rộng hơn. Dân chủ được xem xét với tư cách là một khái niệm chỉ phương thức quan hệ giữa người với người trên tất cả các lĩnh vực xã hội, giữa các thiết chế xã hội, giữa các con người trong xã hội. Dân chủ là một hình thức tổ chức quan hệ xã hội thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực(1). Theo đó, dân chủ bao quát tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực chính trị. Trong xã hội có giai cấp, dân chủ trong lĩnh vực chính trị có tính chi phối hệ thống chuẩn mực dân chủ trong các lĩnh vực khác.

    Quán triệt nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin xem cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử; kế thừa và phát triển triết lý “thân dân”, “lấy dân làm gốc” trong văn hóa phương Đông và truyền thống dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân – dân là gốc của nước. Triết lý dân là gốc trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nguyên tắc chính trị trong việc khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân – trong nhà nước dân chủ thì dân là chủ và dân làm chủ.

    Dân là chủ – tức là nhân dân là chủ nhân thực sự của đất nước, chủ thể của xã hội “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(2). Quan niệm này, về thực chất, nói lên địa vị và vai trò của nhân dân trong xã hội “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ… Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”(3). Chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ ủy quyền cho Nhà nước, Nhà nước là cơ quan quyền lực của nhân dân, thực thi sự ủy quyền của nhân dân. Quan niệm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt lên trên tất cả các quan niệm của các xã hội Việt Nam trước đó, nâng con người từ vị trí thần dân, thứ dân lên địa vị công dân, hơn nữa là địa vị chủ nhân của đất nước, của xã hội.

    Dân làm chủ – vừa thể hiện quyền của chủ thể xã hội, vừa thể hiện năng lực, bổn phận, trách nhiệm của chủ thể ấy. Trong nhà nước của dân, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ và có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, là người chủ thì nhân dân cũng phải thể hiện năng lực, trách nhiệm làm chủ của mình trong việc tham gia xây dựng và quản lý nhà nước. Quan niệm này thể hiện tính chủ động của chủ thể dân chủ – nhân dân. Như vậy, khái niệm “dân chủ” trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là vấn đề quyền lực, lợi ích của nhân dân gắn với nhà nước và pháp luật, mà còn là giá trị nhân cách và phẩm giá con người. Từ đó, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là động lực của sự tiến bộ và phát triển xã hội.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng việc xây dựng Đảng trở thành tổ chức vững mạnh, xứng đáng là tổ chức duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Phát huy dân chủ trong Đảng được xem là một trong những nguyên tắc cốt lõi của công tác xây dựng Đảng. Trong tư tưởng của Người, việc phát huy dân chủ trong Đảng được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

    Thứ nhất, là vấn đề mang tính nguyên tắc, quyết định đến sức mạnh của Đảng.

    Để xây dựng Đảng ta thành một đảng chân chính, cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải được xây dựng và tổ chức theo những nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, trong đó nguyên tắc quan trọng hàng đầu là tập trung dân chủ, mà Người thường sử dụng cách viết là “dân chủ tập trung”. Đây là nguyên tắc cơ bản, quyết định đến sức mạnh của tổ chức Đảng. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, mục đích là để xây dựng Đảng thành một tổ chức chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người, vừa phát huy sức mạnh của tất cả những ai đã tự nguyện gắn bó với nhau trong một tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ, thực hành lãnh đạo tập trung. Khi nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm, sẽ làm cho Đảng suy yếu, nội bộ Đảng mất đoàn kết, đường lối, chủ trương của Đảng lệch lạc, sai lầm, uy tín của Đảng bị giảm sút, Đảng sẽ dần mất quyền lãnh đạo đối với quần chúng.

    Thứ hai, là cơ sở để đảm bảo quyền lợi của đảng viên.

    Thứ ba, là cơ sở để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, là hạt nhân để thực hiện dân chủ trong xã hội và đoàn kết toàn dân.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện tốt dân chủ trong Đảng, phát huy được nhiều ý kiến và kinh nghiệm tốt của đảng viên, Đảng sẽ xây dựng được đường lối, chính sách, nghị quyết đúng đắn. Sau khi có đường lối, nghị quyết, mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải chấp hành và thực hiện. Đó cũng là cơ sở để củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người chỉ rõ: “Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(5). Nghĩa là, Đảng cần lắng nghe, tập hợp mọi ý kiến khác nhau của đảng viên, của quần chúng, rồi phân tích, nghiên cứu, sắp đặt thành những ý kiến có hệ thống, để tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, làm cho quần chúng nắm vững và thực hành ý kiến đó. Công việc càng khó khăn, Đảng càng phải liên hệ chặt chẽ với quần chúng để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong đấu tranh cách mạng và xây dựng đất nước.

    Thứ tư, là biện pháp hữu hiệu để phòng và chống những biểu hiện tiêu cực trong tổ chức đảng.

    Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ những biểu hiện tiêu cực xuất hiện trong tổ chức đảng: chủ nghĩa cá nhân, bè phái, quan liêu, địa phương chủ nghĩa, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, vô kỷ luật hoặc kỷ luật không nghiêm, ích kỷ, hủ hóa, cậy quyền, cậy thế, tham lam, lười biếng, bảo thủ,… Một trong những nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện tiêu cực trên là: “Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt kỷ luật và chính sách của Đảng và Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới… xa tránh những người tính trực nói thẳng”(6). Để khắc phục những biểu hiện tiêu cực đó, Người cho rằng Đảng cần thật sự phát huy dân chủ để cán bộ, đảng viên được bày tỏ ý kiến về các hoạt động của Đảng; thật thà tự phê bình và phê bình; tăng cường và thực hiện nghiêm minh kỷ luật Đảng.

    2. Các nguyên tắc đảm bảo phát huy dân chủ trong Đảng

    Để thực sự phát huy dân chủ trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản sau:

    Một là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Tập trung là thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng: “Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành. Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo. Thế là tập trung”(7). Dân chủ trong Đảng tức là mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề: “Phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng đều do quần chúng đảng viên tập trung kinh nghiệm và ý kiến lại mà thành”(8); “Các cơ quan lãnh đạo đều do quần chúng đảng viên bầu cử ra”(9). Bởi vậy, quyền lực của các cơ quan lãnh đạo đó cũng là do đảng viên giao phó cho, chứ không tự ai tranh giành được. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau trong một nguyên tắc. Tập trung không phải là cá nhân chuyên chính, độc đoán, chuyên quyền, mà tập trung xây dựng trên nền tảng dân chủ. Người lãnh đạo đại diện cho quần chúng đảng viên, cần phải gần gũi và học hỏi, lắng nghe ý kiến của đảng viên chứ không được lạm quyền. Mặt khác, dân chủ để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung chứ không phải dân chủ theo kiểu tập trung phân tán, vô tổ chức. Đảng viên có quyền nêu ý kiến, nhưng không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và kỷ luật của Đảng. Do vậy, Người yêu cầu: “Đảng viên phải kiên quyết chống nói lung tung, tự do hành động; dân chủ quá trớn”(10); toàn thể đảng viên phải theo đúng đường lối, nghị quyết của Đảng, phải theo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương.

    Hai là, dân chủ phải đi đôi với việc thực hiện kỷ luật đảng.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn mọi chính sách của Đảng thực hiện được thì phải có kỷ luật. Kỷ luật của Đảng là tự nguyện tự giác; đã tự nguyện tự giác là kỷ luật sắt, rất nghiêm, tất cả đảng viên già trẻ, trên dưới đều phải tuân theo. Nếu không giữ gìn nghiêm túc kỷ luật là giảm bớt lực lượng của Đảng, khó thực hiện được nhiệm vụ”(11). Kỷ luật là cơ sở chắc chắn để đảm bảo sự lãnh đạo tập trung làm cho Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Kỷ luật đặt ra cũng là để đảm bảo quyền dân chủ và phát huy dân chủ trong tổ chức đảng. Việc phát huy dân chủ trong Đảng lại phải luôn gắn liền với việc thực hiện kỷ luật Đảng. Đảng viên làm việc gì cũng phải có tính tổ chức, tính kỷ luật, phải bàn với tổ chức, không được đặt mình ngoài tổ chức; phê bình cũng phải trong tổ chức, có kỷ luật. Đảng viên ở địa vị càng cao thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương thực hiện dân chủ trong Đảng.

    Ba là, thật thà tự phê bình và phê bình.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về nguyên nhân của việc cán bộ và đảng viên ít sáng kiến, ít hăng hái, “trước hết là vì: cách lãnh đạo của ta không được dân chủ”(12). Biểu hiện là: đối với cơ quan lãnh đạo, người lãnh đạo, các đảng viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình. Từ đó tạo ra sự cách biệt giữa cấp trên và cấp dưới, trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp, dưới thì có vấn đề không dám nói ra vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù dập. Từ đó, Người đề xuất cách sửa đổi lối làm việc: “Cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới… Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”(13).

    Tự phê bình và phê bình là một phương cách hữu hiệu để phát huy dân chủ trong Đảng, không tự phê bình và phê bình là không tiến bộ, không dân chủ. Trong công tác tự phê bình và phê bình cũng phải có dân chủ. Đó là quyền lợi của mỗi đảng viên cần phải được tôn trọng. Bởi lẽ, quyền phê bình có thể nâng cao tính hăng hái và tinh thần phụ trách của các đảng viên, tăng cường sự đấu tranh của đảng viên với những biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng. Quyền phê bình là vũ khí để chống quan liêu, mệnh lệnh, giúp cải thiện quan hệ giữa cán bộ và đảng viên, cải thiện các công tác của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phê bình là quyền lợi và nhiệm vụ của mọi người, là thực hành dân chủ”(14). Người yêu cầu: “Cán bộ lãnh đạo cần phải làm gương mẫu thực hiện dân chủ phê bình và tự phê bình. Các cán bộ bất kỳ cấp nào cao hay thấp có quyền và có nghĩa vụ đòi hỏi thực hiện dân chủ”(15). Như vậy, tự phê bình và phê bình không chỉ là vũ khí để rèn luyện cán bộ, đảng viên, mà còn là biện pháp để thực hiện tốt dân chủ trong tổ chức đảng.

    Bốn là, nâng cao ý thức, trách nhiệm của đảng viên.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ vai trò tiên phong của đảng viên trong mọi công tác. Theo Người: “Để thực hiện hoàn toàn dân chủ mới (là bước đầu để tiến dần đến chế độ cộng sản) thì mọi người, trước hết là những người đảng viên phải làm kiểu mẫu”(16). Mỗi đảng viên cần nêu cao ý thức, trách nhiệm trong mọi công tác như: luôn cố gắng học tập, để không ngừng nâng cao bản lĩnh, trình độ giác ngộ, năng lực công tác; giữ gìn kỷ luật của Đảng để tăng cường sự đoàn kết, nhất trí, tăng cường sức mạnh của Đảng; thật thà chấp hành chính sách và nghị quyết của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện trái với nghị quyết của Đảng; tuyên truyền, giải thích chủ trương, chính sách của Đảng với quần chúng, vận động quần chúng thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng; gần gũi với quần chúng, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, báo cáo cho tổ chức đảng để đề xuất những giải pháp đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân; thường xuyên thật thà tự phê bình và phê bình để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải lắng nghe ý kiến phê bình từ quần chúng để luôn tiến bộ và phát triển.

    3. Giải pháp phát huy dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

    Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ thực hiện dân chủ là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp phát triển của Đảng. Trong những năm qua, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến việc phát huy dân chủ trong Đảng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong xã hội, trong đó có quyền dân chủ của cán bộ, đảng viên. Trong công tác xây dựng Đảng đã “khắc phục một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ và trong việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(17).

    Tuy nhiên hiện nay, việc phát huy dân chủ trong Đảng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã nhìn nhận: dân chủ trong Đảng còn hạn chế, kỷ luật không nghiêm, một số nơi mất đoàn kết nghiêm trọng… Không ít cấp ủy và tổ chức đảng thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới. Không ít cán bộ lãnh đạo chưa quen với ý kiến phản biện, những thông tin ngược chiều, không thích nghe ý kiến khác với ý kiến của mình. Còn thiếu những cơ chế cụ thể có hiệu lực bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Hiện tượng cán bộ lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, mệnh lệnh, trù dập, ức hiếp quần chúng còn xảy ra ở một số nơi. Tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, tự do vô kỷ luật đã phần nào gây bức xúc trong dư luận(18).

    Từ thực trạng đó, Đảng ta đã chủ trương phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, đặc biệt là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp. Trong nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, lần đầu tiên Đảng đã thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và việc thực hiện chất vấn trong Đảng. Điều đó cho thấy bước tiến mới của Đảng ta trong quá trình phát huy, thực hành dân chủ trong Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “Để thực hiện dân chủ trong xã hội, trước hết phải bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy dân chủ trong xã hội”(19). Quan điểm trên phản ánh rõ nhận thức của Đảng ta về tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ trong Đảng.

    Để tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng, làm cơ sở phát huy dân chủ trong toàn xã hội, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ thông qua việc giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng cần xây dựng hệ thống quy chế, quy định đồng bộ, nhất quán bằng văn bản để cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cơ sở để quản lý, điều chỉnh các hành vi, hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và đấu tranh phòng, chống những biểu hiện xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng phải thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò của người đứng đầu tổ chức đảng trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ: “Cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân”(20).

    Hai là, dân chủ phải đi đôi với kiểm tra, giám sát thực hiện kỷ luật Đảng. Trong những năm gần đây, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số quy định, quy chế bảo đảm thực hiện dân chủ và kỷ luật trong Đảng, như: quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; quy chế chất vấn trong Đảng; quy định về những điều đảng viên không được làm; quy định về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm trong Đảng; xây dựng quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII xác định nhiệm vụ: “Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng”(21).

    Ba là, thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mỗi đảng viên cần nhận thức rõ mục đích của công tác tự phê bình và phê bình là nhằm làm cho bản thân mình tốt hơn, cán bộ, đảng viên mình tiến bộ hơn, tổ chức vững mạnh hơn. Trong việc phê bình cần có thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không nể nang, không né tránh. Đồng thời, phải phê bình với tinh thần tôn trọng, giúp đỡ đảng viên được phê bình; tuyệt đối không lợi dụng phê bình để nói xấu, trù dập hay bôi nhọ người khác. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải bảo đảm tính dân chủ, công khai, tránh tình trạng “việc gì cũng không phê bình trước mặt mà để nói sau lưng”(22). Công tác tự phê bình và phê bình cần được tiến hành thường xuyên nhằm phát huy hiệu quả lâu dài, làm cho nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực sự trở thành một thứ vũ khí sắc bén để mỗi đảng viên tốt hơn, Đảng ta ngày càng thêm vững mạnh.

    Bốn là, triển khai hiệu quả công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”(23). Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khóa XII đã nêu nhiệm vụ: “Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra…”(24). Tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ trong Đảng có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng và hoạt động của Đảng ta hiện nay. Vì vậy, phát huy dân chủ trong Đảng vừa là yêu cầu cấp thiết, vừa là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài để tăng cường sức mạnh nội bộ của tổ chức, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thực hiện tốt dân chủ trong Đảng là nền tảng để mở rộng dân chủ trong toàn xã hội, thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

    Ghi chú:

    (1) Phạm Ngọc Quang, Một quan niệm mới về dân chủ, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 1 (74), 2014.

    (2),(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.434, tr.114.

    (3),(4),(6),(7),(8),(9),(10),(15),(16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Sđd, tr.263, tr.264, tr.507, tr.286, tr.286, tr.286, tr.287, tr.143, tr.294.

    (5),(12),(13),(22) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Sđd, tr.330, tr.283, tr.284, tr.298.

    (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Sđd, tr.617.

    (17),(19) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG- ST, H.2016, tr.182-183, tr.170.

    (18) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa  XI, Nxb CTQG-ST, H.2012, tr.22-23.

    (20),(21),(24) http://tulieuvankien.dangcongsan. vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-04nq-tw-ngay-30102016, truy cập ngày 26/12/2019.

    (23) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Sđd, tr.232.

    ThS Nguyễn Thị Liên – Khoa Lý luận Chính trị, Đại học Luật Hà Nội

     

    Theo: https://tcnn.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Chủ Nghĩa Thực Dân Kiểu Mới Và Chủ Nghĩa Thực Dân Kiểu Cũ
  • Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Pháp Luật Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Việt Nam
  • Bảo Hiến, Chủ Nghĩa Lập Hiến Và Nhà Nước Pháp Quyền
  • Nhận Thức Về Dân Chủ Và Quá Trình Dân Chủ Hóa Ở Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Các Hình Thức Dân Chủ Trực Tiếp Ở Một Số Nước Trên Thế Giới Và Gợi Mở Cho Việt Nam
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • – Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    + Theo nghĩa phổ thông nhất, tư tưởng là suy nghĩ, ý nghĩ. Thế nhưng trong cụm từ “tư tưởng Hồ Chí Minh”, thuật ngữ “tư tưởng” có ý nghĩa ở tầm khái quát triết học. Nó được dùng với nghĩa là “học thuyết”, là một hệ thống những quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở hiện thực, thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

    + Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh đi từ thấp đến cao, từ những vấn đề cụ thể đến hệ thống, từ cá nhân các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước đến nhận thức chung của toàn Đảng. Điều này phản ánh quy luật: nhận thức là một, quá trình, giai đoạn sau bao hàm và cao hơn giai đoạn trước, giai đoạn trước làm tiền để, cơ sở cho giai đoạn sau.

    Có thể nói, Đại hội đại biểu toàn quốc lần Ihứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội này, Đảng đã khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tương, kim chỉ nam cho hành động. Kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, đội ngũ các nhà giáo, các nhà khoa học đã dày công nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và đạt được những kết quả quan trọng. Những thành tựu nghiên cứu theo cả chiều rộng và chiếu sâu đã cung cấp luận cứ khoa học có sức thuyết, phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) xác định rõ. khá toàn diện và hệ thông những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. kế thừa và phát triển các giá trị truyền thông tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc gắn liền vối chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân. do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân: về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tố thật trung thành của nhân dân.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

    Trong định nghĩa này. Đảng ta đã bước đầu làm rõ được:

    Một là, bản chất cách mạng, khoa học của tư tưỏng Hồ Chí Minh: Đó là hệ thống các quan điểm lý luận, phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh xứng tầm một học thuyết, hệ tư tưởng.

    Hai là, nguồn gốc tư tưởng – lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa Mác – Lênin; giá trị văn hóa dân tộc; tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Bốn là, giá trị, ý nghĩa, sức hấp dẫn, sức sống lâu bền của tư tưởng Hồ Chí Minh: Soi đường thắng lợi cho cách mạng Việt Nam; tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc.

    – Hệ thống tư tưởng Hồ Chi Minh

    + Dù định nghĩa theo cách nào, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được nhìn nhận với tư cách là một hệ thông lý luận. Hiện nay, tồn tại hai phương thức tiếp cận hệ thông tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh được nhận diện như một hệ thông tri thức tổng hợp, bao gồm tư tưởng triết học: tư tưởng kinh tế; tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự; tư tưởng văn hóa, đạo đức và nhân văn.

    Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về cách mạng Việt Nam, bao gồm: Tư tưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về Đảng Cộng sản Việt Nam; về đại đoàn kết dân tộc; về dân chủ. Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về văn hóa, đạo đức, V.V..

    Cuốn sách này vận dụng phương thức tiếp cận thứ hai đê giới thiệu và nghiên cứu hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

    + Là một hệ thống lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh có cấu trúc lôgích chặt chẽ và có hạt nhân cốt lõi, đó là tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền vối chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Tư Tưởng Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100