Truyền Thuyết Là Gì? I.khái Niệm Về Truyền Thuyết : 1.khái Niệm :…

--- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Truyền Thuyết Lớp 6
  • I.khái Niệm Về Truyền Thuyết : 1.khái Niệm :
  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Định Nghĩa Truyền Thuyết Đô Thị Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Truyền Thuyết Đô Thị
  • Truyện Con Rồng Cháu Tiên Thuộc Thể Loại Văn Học Nào
  • Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

    2.Phân biệt truyền thuyết với thần thoại và cổ tích : a. Truyền thuyết và thần thoại :

    Tiêu chí nhân vật chính:

    Nhân vật chính trong thần thoại là thần hoặc bán thần. Nhân vật chính trong truyền thuyết giàu nhân tính hơn.

    Tiêu chí nội dung:

    Thần thoại nêu lên khát vọng hiểu biết, khám phá những hiện tượng của vũ thụ, loài người mang tính suy nguyên. Truyền thuyết thuyết tập trung vào những vấn đề xã hội.

    Thời kỳ ra đời:

    Thần thoại ra đời từ thời nguyên thủy. Truyền thuyết ra đời ở xã hội giai đọan sau.

    b.Truyền thuyết và cổ tích Về cốt truyện và nhân vật:

    Ðặc điểm nổi bật của cốt truyện và nhân vật cổ tích là tính hư cấu, tưởng tượng. Cốt truyện và nhân vật truyền thuyết có xu hướng bám sát lịch sử.

    Về nội dung:

    Truyện cổ tích phản ánh những xung đột trong gia đình và xã hội, đặc biệt là trong gia đình phụ quyền và xã hội phong kiến. Truyền thuyết hướng về đề tài lịch sử, nhân vật lịch sử.

    Về kết thúc truyện:

    Truyện cổ tích kết thúc có hậu hoặc không có hậu , nhân vật chính mãi mãi hạnh phúc hoặc trở thành biểu tượng của nhân phẩm. Truyền thuyết thường kết thúc mở, nhân vật vẫn tồn tại và sẽ tham gia vào những sự kiện mới của lịch sử.

    3.Phân kỳ truyền thuyết :

    Cơ sở để phân kỳ truyền thuyết : Dựa vào sự phân kỳ lịch sử xã hội và đặc điểm nội dung, nghệ thuật của truyền thuyết. Cần chú ý phân biệt truyền thuyết về một thời kỳ và truyền thuyết của một thời kỳ. Việc xác định truyền thuyết về một thời kỳ có thể dựa vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm truyền thuyết. Muốn biết truyền thuyết của một thời kỳ nào cần phải biết thời điểm ra đời của tác phẩm. Ðiều nầy là rất khó đối với chúng ta ngày nay.

    Truyền thuyết Việt Nam gồm các thời kỳ sau : Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang, truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc, truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc.

    II.NỘI DUNG TRUYỀN THUYẾT :

    1.Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang :

    Họ Hồng Bàng mở đầu thời kỳ lập quốc của dân tộc ta kéo daì 2622 năm (2879tcn-258tcn) , từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân và các đời Hùng Vương. Theo Ðaị Việt sử ký toàn thưcủa sử thần Ngô Sĩ Liên, cho đến thời vua Hùng cương vực nước Văn Lang traỉ rộng , phía đông giáp Nam Haỉ, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam giáp nước Hồ Tôn ( nước Chiêm Thành).

    Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng là hệ thống truyền thuyết mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh của người Văn Lang. Các nhân vật Vua Hùng, Sơn Tinh ( Thần Tản Viên) Phù Ðổng Thiên Vương là những biểu tượng của quốc gia Văn Lang trong thời kỳ đang lớn mạnh Hình tượng Lạc Long Quân-Âu Cơ có ý nghĩa khái quát hoá cho công cuộc chinh phục tự nhiên mở mang bờ coĩ của người Văn Lang.

    Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng : Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Thánh Gióng.

    2.Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc :

    Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện. Vua Hùng ( Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia,vị vua có uy tín với con người, tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần Văn Lang.

    Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257tcn-208tcn) .Sở dĩ ta gắn thời kỳ Âu Lạc vào thời Bắc thuộc vì lịch sử Âu Lạc cũng như truyền thuyết An Dương Vương mang tính chất bi hùng. Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ(207tcn-938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu dành độc lập của dân tộc ta.Trong hơn một ngàn năm bị nô lệ, dân tộc ta đã không bị đồng hoá hay bị diệt vong như nhiều dân tộc trên thế giới, đó là điều hết sức phi thường.

    Truyền thuyết thời kỳ này đã phản ánh và chứng minh được sức sống và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nhờ có sức sống mãnh liệt và bản lĩnh cao, dân tộc ta đã vượt qua thời kỳ bị uy hiếp và thử thách gay go, lâu dài.

    Truyền thuyết phản ánh cả lịch sử chiến thắng và lịch sử chiến bại của dân tộc. Nhiều truyền thuyết thời kỳ nầy mà trong đó truyện An Dương Vương là tiêu biểu, có kết cấu hai phần: phần đầu là lịch sử chiến thắng, phần sau là lịch sử chiến bại.

    3.Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ :

    Truyền thuyết phản ánh được tất cả các cuộc vũ trang khởi nghĩa chống xâm lược thời kỳ Bắc Thuộc (Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí …).

    Truyền thuyết thời kỳ này cho thấy tác giả dân gian nhận thức được dân tộc, nhận thức được bản chất kẻ thù ( chẳng hạn như bản chất tàn bạo, âm mưu thâm độc của các tên quan đô hộ như Tô Ðịnh, Mã Viện, Cao Biền…)ì và ngày càng đi sát lịch sử hơn (Bám sát lịch sử về nội dung cũng như hình thức biểu hiện : tên người, sự kiện …). Yếu tố thần kỳ tuy có giảm so truyền thuyết giai đoạn trước nhưng vẫn còn khá đậm đặc trong truyền thuyết giai đoạn nầy( An Dương Vương được Rùa Vàng giúp trừ ma quỷ ở núi Thất Diệu…,Hai Bà Trưng bay lên trời…)

    Về phương diện lịch sử, thời kỳ phong kiến tự chủ từ TK X đến TKXIX có những nét lớn như sau:

    Từ TK.X đến chúng tôi giai cấp phong kiến Việt Nam xây dưng một quốc gia thống nhất,gìn giữ, củng cố nền độc lập dân tộc.

    Từ TK. XVI đến TKXIX: sự suy sụp của các triều đại phong kiến và cuối cùng đi đến tan rã quốc gia phong kiến trước thế lực phương Tây.

    Trong suốt chặng daì lịch sử nêu trên, dân tộc ta đã làm nên những chiến tích: nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên-Mông, Lê Lợi quét sạch quân Minh ra khỏi cõi, Nguyễn Huệ đánh tan quân Thanh ở phía Bắc và quân Xiêm ở phía Nam. Bên cạnh đó còn phải kể đến các cuộc nội chiến giữa những tập đoàn phong kiến và các phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình.

    Truyền thuyết thời kỳ nầy gồm các nhóm sau đây: Truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm ( Truyền thuyết về Yết Kiêu, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi…),truyền thuyết về danh nhân văn hóa (Truyền thuyết về Chu Văn An, Trạng Trình…),truyền thuyết về lịch sử địa danh ( Sự tích Hồ Gươm, Sự tích núi Ngũ Hành…),truyền thuyết về anh hùng nông dân (Truyền thuyết về Chàng Lía, Quận He, Ba Vành…)

    4.Ý nghĩa của truyền thuyết :

    So với truyền thuyết thời kỳ trước, yếu tố hoang đường kỳ diệu trong truyền thuyết thời kỳ nầy giảm đi một mức đáng kể. Ðặc biệt, có những truyền thuyết về anh hùng nông dân không có yếu tố thần kỳ(Truyền thuyết về Hầu Tạo, Chàng Lía, Lê Văn Khôi…).

    Hai nhóm truyền thuyết nổi bật của thời kỳ này là: truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm và truyền thuyết về anh hùng nông dân. Nhân vật anh hùng có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc, giàu lòng thương yêu nhân dân. Ðây là những nhân vật có tài năng phi thường, mang vẻ kỳ vĩ, siêu nhiên.

    Về mặt lịch sư:Truyền thuyết là cơ sở cho các nhà sử học tham khảo về các giai đoạn lịch sử dân tộc.

    III.MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỀN THUYẾT : 1.Cốt truyện và nhân vật:

    Về mặt ý thức xã hộiTruyền thuyết giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

    Về mặt văn học nghệ thuật: Truyền thuyết là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nhà thơ sáng tác.

    Truyền thuyết không có kiểu cốt truyện hay như cổ tích. Cốt truyện thường gồm ba phần: hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính, sự nghiệp của nhân vật, chung cục thân thế của nhân vật.

    2.Lời kể trong truyền thuyết:

    Nhân vật trong truyền thuyết là nhân vật lịch sử được tái tạo. Tác giả dân gian hư cấu, sáng tạo trên nền lịch sử (thường là lý tưởng hóa những sự kiện, con người mà họ ca ngợi)

    Nhân vật trong truyền thuyết cũng là hành động của nó như trong cổ tích và có số phận không thể đảo ngược so với sự thật lịch sử. Nhân vật chính có thể là nhân vật trung tâm của một truyện hoặc một chuỗi truyện.

    Nhìn chung, lời kể trong truyền thuyết Việt Nam chưa có giá trị nghệ thuật cao như trong cổ tích và sử thi. Lời kể của một số truyền thuyết rút ra từ thần tích không còn giữ được chất dân gian.

    Phần thực hành : (Bài tập dành cho sinh viên)

    Phân tích một truyền thuyết (An Dương Vương, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Sự tích Hồ Gươm …).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Sự Tích Hồ Gươm Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm (Ngắn Gọn)
  • Truyền Thuyết Con Rồng Cháu Tiên
  • Ai Là Tác Giả Truyền Thuyết Con Rồng Cháu Tiên?
  • ✅ Con Rồng Cháu Tiên
  • Khái Niệm Về Truyền Thuyết St

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 6
  • ✅ Sơn Tinh, Thủy Tinh
  • Câu Hỏi Của Nguyen Thi Thanh Thuy
  • *so Sánh Truyện Truyền Thuyết Với Truyện Cổ Tích *so Sánh Truyện Ngụ Ngôn Với Truyện Cười 5 Sao Cho Bạn Nào Nhanh Nhất Câu Hỏi 177141
  • ✅ Bánh Chưng, Bánh Giầy
  • – Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có vô vàn những tác phẩm có giá trị văn hóa, truyền thống, lịch sử sâu sắc, đó là những truyền thuyết, những câu chuyện cổ, những câu ca dao được lưu truyền từ đời này qua đời khác như một thứ tài sản tinh thần vô giá.

    Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinhlà một trong những truyền thuyết có xuất xứ lâu đời nhất, thể hiện niềm khao khát chế ngự thiên nhiên của nhân dân ta, trước nỗi lo thiên tai bão lụt vẫn thường hoành hành hằng năm.

    – Cuộc chiến của hai vị thần:

    + Thủy Tinh hô mưa gọi gió làm ngập lụt khắp nơi, dân chúng lầm than

    + Sơn Tinh dời núi, bốc đồi, đắp thành lũy ngăn nước, nước dâng cao bao nhiêu Sơn Tinh nâng núi cao bấy nhiêu.

    – Hàng năm vẫn gây thiên tai, bão lũ để đánh Sơn Tinh, nhưng không được mấy thắng lại thua cuộc bỏ về.

    3. Kết bài

    – Nghệ thuật xây dựng cốt truyện ly kỳ hấp dẫn, có nhiều yếu tố kỳ ảo.

    – Hình tượng hóa nhân vật, đại diện cho sức mạnh con người và thiên nhiên

    – Khao khát, niềm tin chế ngự và chiến thắng thiên nhiên của nhân dân ta.

    TOP 2 BÀI VĂN HAY PHÂN TÍCH TRUYỀN THUYẾT SƠN TINH, THỦY TINHPHÂN TÍCH TRUYỀN THUYẾT SƠN TINH, THỦY TINH -MẪU SỐ 1:

    Truyền thuyết Việt Nam là bức tranh đẹp đẽ về đời sống, về trí tưởng tượng tài hoa của ông cha xưa. Trong kho tàng ấy có biết bao câu chuyện làm say đắm các thế hệ người nghe, người đọc và một trong những tác phẩm đó là truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh. Tác phẩm là một thần thoại cổ đã được lịch sử hóa khi gắn với thời đại Hùng Vương và trở thành truyền thuyết trong thời đại các vua Hùng.

    Tác phẩm tập trung thể hiện hai nội dung chính: cuộc giao tranh của Sơn Tinh và Thủy Tinh để giải thích hiện tượng mưa bão hàng năm và sự việc Sơn Tinh chiến thắng Thủy Tinh phản ánh khát vọng chế ngự thiên nhiên của nhân dân ta.

    Câu chuyện được bắt đầu bằng việc vua Hùng kén rể cho người con gái yêu của mình là nàng Mị Nương. Trong vô vàn những người kiệt xuất, ưu tú thì Sơn Tinh và Thủy Tinh là hai chàng trai xuất sắc nhất. Sơn Tinh là thần núi Tản Viên, có nhiều phép lạ “vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi”, Thủy Tinh cũng không hề kém cạnh, chàng là chúa vùng nước thẳm cũng có những tài năng kì lạ “gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về”. Quả thực tài năng hai người ngang tài ngang sức nhau, trước tình thế đó vua Hùng không biết lựa chọn ai, bèn đưa ra sính lễ: “Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi”, ai mang đến sớm vua Hùng sẽ gả con gái yêu của mình cho người đó. Nhìn vào số đồ sính lễ này ta có thể dễ dàng nhận ra ưu thế đang nghiêng về chàng Sơn Tinh, và bất lợi đang nghiêng về phía chàng Thủy Tinh, đồ sính lễ đều thuộc địa phận cai quản của Sơn Tinh. Và kết quả Sơn Tinh mang sính lễ đến trước và rước được Mị Nương về.

    Thủy Tinh vô cùng giận dữ đem quân đuổi theo đánh Sơn Tinh, cuộc giao tranh diễn ra vô cùng quyết liệt. Thần nước “hô mưa gọi gió, làm thành dông bão, rung chuyển cả đất trời” nước mỗi ngày một dâng cao nhằm đánh bại Sơn Tinh. Nhưng trước sự hung hãn của Thủy Tinh, Thần núi vẫn không hề nao núng, Sơn Tinh “bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất, ngăn chặn dòng nước lũ”. Cuối cùng Thủy Tinh yếu thế đành phải rút lui. Cuộc giao tranh giữa hai vị thần không đơn thuần là cuộc giao tranh để đòi lại người đẹp (Mị Nương) mà nó còn phản ánh sức mạnh của dân tộc ta trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, bão lụt. Thủy Tinh đại diện cho sức mạnh của thiên nhiên hung bạo, Sơn Tinh đại diện cho sức mạnh quật cường của dân tộc Việt. Trước những thiên tai bão lũ dân tộc ta không chịu lùi bước, luôn kiên cường chống đỡ. Đồng thời bằng trí tưởng tượng của mình, các tác giả dân gian còn dùng cuộc đấu tranh giữa hai vị thần về hiện tượng mưa bão, lũ lụt hàng năm.

    Tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm ta không thể không kể đến sự góp công của các yếu tố nghệ thuật. Trước hết là việc xây dựng cốt truyện với tình huống truyện gay cấn, sự kiện sinh động. Không chỉ vậy, xây dựng các nhân vật với tài năng phi thường, các yếu tố kì ảo làm cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn. Ngoài ra còn phải kể đến sự kết hợp hài hòa giữa các yêu tố tưởng tượng kì ảo với yếu tố hiện thực lịch sử. Tất cả các yếu tố đó đã tạo nên sự thành công cho tác phẩm này.

    Sơn Tinh, Thủy Tinh là một truyền thuyết lí thú trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam. Truyện vừa thể hiện cách giải thích của nhân dân ta về hiện tượng mưa bão hàng năm nhưng đồng thời cũng phản ánh sức mạnh, mơ ước chế ngự thiên tai, bảo vệ và xây dựng cuộc sống của nhân dân ta.

    PHÂN TÍCH TRUYỀN THUYẾT SƠN TINH, THỦY TINH -MẪU SỐ 2:

    Vua Hùng thứ XVIII có nàng công chúa tên là Mị Nương, mình ngọc, mặt hoa, đẹp tuyệt trần. Vua cha muốn kén được một chàng rể tài giỏi, nhưng chưa có một chàng trai nào thật xứng đáng.

    Một hôm, cùng một lúc, bỗng có hai vị thần cùng xuất hiện tại cung điện và xin cầu hôn. Một người tự xưng là Sơn Tinh có tài dời non lấp bể, dựng núi xây đồi. Một người tự xưng là Thuỷ Tinh có phép lạ như dâng nước, hô mây, gọi gió, nổi sóng, gây mưa… Vua Hùng băn khoăn ngẫm nghĩ, rồi phán: Cả hai thẩn rất tài giỏi, thật vừa ý ta. Nhưng… ta chỉ có một ái nữ, biết gả cho thần nào? Thôi thì ngày mai, hễ ai đem sính lễ đến trước, ta khắc cho làm rể và cưới con gái ta….

    Mờ sáng hôm sau, Sơn Tinh đến trước mang theo voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi, kèm theo một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng… Vua Hùng vui vẻ nhận lời, rồi cho phép Sơn Tinh làm lễ cưới, rước Mị Nương về núi.

    Thuỷ Tinh chậm chân đến sau, không lấy được Mị Nương, đùng đùng nổi giận. Thần lập tức hô mưa, gọi gió, giông bão mịt mù, dâng nước lên đánh Sơn Tinh, quyết dành lại người đẹp. Cả một vùng Phong Châu rộng lớn chìm trong biển nước. Thuỷ Tinh dâng nước lên cao hao nhiêu thì Sơn Tinh lại hoá phép nâng núi lên cao bấy nhiêu. Hai bên kịch chiến suốt ngày đêm. Núi Tản Viên, sông Đà trở thành bãi chiến trường ác liệt, cây đổ, đất đá ngổn ngang, xác ba ba, thuồng luồng, rắn rết bị giết chết nổi đầy sông. Đánh mãi không được, Thuỷ Tinh hậm hực rút quân về.

    Từ đó, Thuỷ Tinh ôm mối hận thù khôn nguôi. Năm nào cũng vậy, cứ đến tháng 7 tháng 8 ta, Thuỷ Tinh lại đem quân đánh Sơn Tinh để rửa hận, gây ra cảnh mưa gió, bão lụt khắp nơi…

    Truyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh mượn chuyện hai thần tranh giành người đẹp để giải thích hiện tượng giông bão, lũ lụt hàng năm xảy ra trên vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc nước ta. Sơn Tinh đã đánh thắng Thuỷ Tinh. Điều đó nói lên ước mơ và khát vọng của người Việt cổ xưa muôn có sức mạnh thần kì, vô địch đế đẩy lùi và chế ngự thiên tai lũ lụt, để bảo vệ và phát triển nghề trồng lúa nước lâu đời.

    Hình tượng Sơn Tinh hoá phép nâng núi lên cao, lên cao mãi để chiến thắng Thuỷ Tinh là một trong những hình ảnh thần kì tráng lệ trong truyện cổ dân gian Việt Nam.

    ***

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyền Thuyết Về Sơn Tinh
  • Sự Tích Thánh Gióng Phá Giặc Ân
  • Phân Tích Những Yếu Tố Thần Kì Và Chỉ Ra Vai Trò Của Nó Trong Truyền Thuyết “thánh Gióng”
  • Phân Tích Truyền Thuyết Thánh Gióng
  • Thể Loại Truyền Thuyết Lớp 6
  • I.khái Niệm Về Truyền Thuyết : 1.khái Niệm :

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Định Nghĩa Truyền Thuyết Đô Thị Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Truyền Thuyết Đô Thị
  • Truyện Con Rồng Cháu Tiên Thuộc Thể Loại Văn Học Nào
  • Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị Hành Chính H 498
  • Đảng Bộ Khối Doanh Nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc
  • I.KHÁI NIỆM VỀ TRUYỀN THUYẾT : 1.Khái niệm :

    Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

    2.Phân biệt truyền thuyết với thần thoại và cổ tích : a. Truyền thuyết và thần thoại :

    Tiêu chí nhân vật chính:

    Nhân vật chính trong thần thoại là thần hoặc bán thần. Nhân vật chính trong truyền thuyết giàu nhân tính hơn.

    Tiêu chí nội dung:

    Thần thoại nêu lên khát vọng hiểu biết, khám phá những hiện tượng của vũ thụ, loài người mang tính suy nguyên. Truyền thuyết thuyết tập trung vào những vấn đề xã hội.

    Thời kỳ ra đời:

    Thần thoại ra đời từ thời nguyên thủy. Truyền thuyết ra đời ở xã hội giai đọan sau.

    b.Truyền thuyết và cổ tích Về cốt truyện và nhân vật:

    Ðặc điểm nổi bật của cốt truyện và nhân vật cổ tích là tính hư cấu, tưởng tượng. Cốt truyện và nhân vật truyền thuyết có xu hướng bám sát lịch sử.

    Về nội dung:

    Truyện cổ tích phản ánh những xung đột trong gia đình và xã hội, đặc biệt là trong gia đình phụ quyền và xã hội phong kiến. Truyền thuyết hướng về đề tài lịch sử, nhân vật lịch sử.

    Về kết thúc truyện:

    Truyện cổ tích kết thúc có hậu hoặc không có hậu , nhân vật chính mãi mãi hạnh phúc hoặc trở thành biểu tượng của nhân phẩm. Truyền thuyết thường kết thúc mở, nhân vật vẫn tồn tại và sẽ tham gia vào những sự kiện mới của lịch sử.

    3.Phân kỳ truyền thuyết :

    Cơ sở để phân kỳ truyền thuyết : Dựa vào sự phân kỳ lịch sử xã hội và đặc điểm nội dung, nghệ thuật của truyền thuyết. Cần chú ý phân biệt truyền thuyết về một thời kỳ và truyền thuyết của một thời kỳ. Việc xác định truyền thuyết về một thời kỳ có thể dựa vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm truyền thuyết. Muốn biết truyền thuyết của một thời kỳ nào cần phải biết thời điểm ra đời của tác phẩm. Ðiều nầy là rất khó đối với chúng ta ngày nay.

    Truyền thuyết Việt Nam gồm các thời kỳ sau : Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang, truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc, truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc.

    II.NỘI DUNG TRUYỀN THUYẾT :

    1.Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang :

    Họ Hồng Bàng mở đầu thời kỳ lập quốc của dân tộc ta kéo daì 2622 năm (2879tcn-258tcn) , từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân và các đời Hùng Vương. Theo Ðaị Việt sử ký toàn thưcủa sử thần Ngô Sĩ Liên, cho đến thời vua Hùng cương vực nước Văn Lang traỉ rộng , phía đông giáp Nam Haỉ, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam giáp nước Hồ Tôn ( nước Chiêm Thành).

    Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng là hệ thống truyền thuyết mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh của người Văn Lang. Các nhân vật Vua Hùng, Sơn Tinh ( Thần Tản Viên) Phù Ðổng Thiên Vương là những biểu tượng của quốc gia Văn Lang trong thời kỳ đang lớn mạnh Hình tượng Lạc Long Quân-Âu Cơ có ý nghĩa khái quát hoá cho công cuộc chinh phục tự nhiên mở mang bờ coĩ của người Văn Lang.

    Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng : Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Thánh Gióng.

    2.Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc :

    Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện. Vua Hùng ( Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia,vị vua có uy tín với con người, tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần Văn Lang.

    Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257tcn-208tcn) .Sở dĩ ta gắn thời kỳ Âu Lạc vào thời Bắc thuộc vì lịch sử Âu Lạc cũng như truyền thuyết An Dương Vương mang tính chất bi hùng. Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ(207tcn-938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu dành độc lập của dân tộc ta.Trong hơn một ngàn năm bị nô lệ, dân tộc ta đã không bị đồng hoá hay bị diệt vong như nhiều dân tộc trên thế giới, đó là điều hết sức phi thường.

    Truyền thuyết thời kỳ này đã phản ánh và chứng minh được sức sống và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nhờ có sức sống mãnh liệt và bản lĩnh cao, dân tộc ta đã vượt qua thời kỳ bị uy hiếp và thử thách gay go, lâu dài.

    Truyền thuyết phản ánh cả lịch sử chiến thắng và lịch sử chiến bại của dân tộc. Nhiều truyền thuyết thời kỳ nầy mà trong đó truyện An Dương Vương là tiêu biểu, có kết cấu hai phần: phần đầu là lịch sử chiến thắng, phần sau là lịch sử chiến bại.

    3.Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ :

    Truyền thuyết phản ánh được tất cả các cuộc vũ trang khởi nghĩa chống xâm lược thời kỳ Bắc Thuộc (Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí …).

    Truyền thuyết thời kỳ này cho thấy tác giả dân gian nhận thức được dân tộc, nhận thức được bản chất kẻ thù ( chẳng hạn như bản chất tàn bạo, âm mưu thâm độc của các tên quan đô hộ như Tô Ðịnh, Mã Viện, Cao Biền…)ì và ngày càng đi sát lịch sử hơn (Bám sát lịch sử về nội dung cũng như hình thức biểu hiện : tên người, sự kiện …). Yếu tố thần kỳ tuy có giảm so truyền thuyết giai đoạn trước nhưng vẫn còn khá đậm đặc trong truyền thuyết giai đoạn nầy( An Dương Vương được Rùa Vàng giúp trừ ma quỷ ở núi Thất Diệu…,Hai Bà Trưng bay lên trời…)

    Về phương diện lịch sử, thời kỳ phong kiến tự chủ từ TK X đến TKXIX có những nét lớn như sau:

    Từ TK.X đến chúng tôi giai cấp phong kiến Việt Nam xây dưng một quốc gia thống nhất,gìn giữ, củng cố nền độc lập dân tộc.

    Từ TK. XVI đến TKXIX: sự suy sụp của các triều đại phong kiến và cuối cùng đi đến tan rã quốc gia phong kiến trước thế lực phương Tây.

    Trong suốt chặng daì lịch sử nêu trên, dân tộc ta đã làm nên những chiến tích: nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên-Mông, Lê Lợi quét sạch quân Minh ra khỏi cõi, Nguyễn Huệ đánh tan quân Thanh ở phía Bắc và quân Xiêm ở phía Nam. Bên cạnh đó còn phải kể đến các cuộc nội chiến giữa những tập đoàn phong kiến và các phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình.

    Truyền thuyết thời kỳ nầy gồm các nhóm sau đây: Truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm ( Truyền thuyết về Yết Kiêu, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi…),truyền thuyết về danh nhân văn hóa (Truyền thuyết về Chu Văn An, Trạng Trình…),truyền thuyết về lịch sử địa danh ( Sự tích Hồ Gươm, Sự tích núi Ngũ Hành…),truyền thuyết về anh hùng nông dân (Truyền thuyết về Chàng Lía, Quận He, Ba Vành…)

    4.Ý nghĩa của truyền thuyết :

    So với truyền thuyết thời kỳ trước, yếu tố hoang đường kỳ diệu trong truyền thuyết thời kỳ nầy giảm đi một mức đáng kể. Ðặc biệt, có những truyền thuyết về anh hùng nông dân không có yếu tố thần kỳ(Truyền thuyết về Hầu Tạo, Chàng Lía, Lê Văn Khôi…).

    Hai nhóm truyền thuyết nổi bật của thời kỳ này là: truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm và truyền thuyết về anh hùng nông dân. Nhân vật anh hùng có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc, giàu lòng thương yêu nhân dân. Ðây là những nhân vật có tài năng phi thường, mang vẻ kỳ vĩ, siêu nhiên.

    Về mặt lịch sư:Truyền thuyết là cơ sở cho các nhà sử học tham khảo về các giai đoạn lịch sử dân tộc.

    III.MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỀN THUYẾT : 1.Cốt truyện và nhân vật:

    Về mặt ý thức xã hộiTruyền thuyết giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

    Về mặt văn học nghệ thuật: Truyền thuyết là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nhà thơ sáng tác.

    Truyền thuyết không có kiểu cốt truyện hay như cổ tích. Cốt truyện thường gồm ba phần: hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính, sự nghiệp của nhân vật, chung cục thân thế của nhân vật.

    2.Lời kể trong truyền thuyết:

    Nhân vật trong truyền thuyết là nhân vật lịch sử được tái tạo. Tác giả dân gian hư cấu, sáng tạo trên nền lịch sử (thường là lý tưởng hóa những sự kiện, con người mà họ ca ngợi)

    Nhân vật trong truyền thuyết cũng là hành động của nó như trong cổ tích và có số phận không thể đảo ngược so với sự thật lịch sử. Nhân vật chính có thể là nhân vật trung tâm của một truyện hoặc một chuỗi truyện.

    Nhìn chung, lời kể trong truyền thuyết Việt Nam chưa có giá trị nghệ thuật cao như trong cổ tích và sử thi. Lời kể của một số truyền thuyết rút ra từ thần tích không còn giữ được chất dân gian.

    Phần thực hành : (Bài tập dành cho sinh viên)

    Phân tích một truyền thuyết (An Dương Vương, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Sự tích Hồ Gươm …).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Truyền Thuyết Lớp 6
  • Truyền Thuyết Là Gì? I.khái Niệm Về Truyền Thuyết : 1.khái Niệm :…
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Sự Tích Hồ Gươm Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm (Ngắn Gọn)
  • Truyền Thuyết Con Rồng Cháu Tiên
  • Ngữ Văn 6 Khái Niệm Truyền Thuyết

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Kiến Thức Trọng Tâm Về Truyền Thuyết Ngữ Văn Lớp 6 Học Kì I
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn
  • Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm Trang 39 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Khái Quát Về Thể Loại Truyền Thuyết
  • Thể Loại Truyền Thuyết Lớp 6
  • Văn Lớp 6 Khái Niệm Truyền Thuyết, Ngữ Văn 6 Khái Niệm Truyền Thuyết, Khái Niệm Thế Nào Là Truyền Thuyết, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Theo Thuyết E Khái Niệm Vật Nhiễm Điện, Truyện Ngắn Khái Niệm, Khái Niệm âm Nhạc Cổ Truyền, Ngữ Văn 6 Khái Niệm Truyện Cổ Tích, Khái Niệm Truyền Thông, Khái Niệm Truyện Cổ Tích Ngữ Văn 6, Khái Niệm Bệnh Truyền Nhiễm, Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước Về Thông Tin Và Truyền Thông, Đề Cương Tuyên Truyền Kỷ Niệm 70 Năm Truyền Thống Công Đoàn Quốc Phòng, Học Thuyết ý Niệm, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm 24/7, Khái Niệm 2g, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 131, Khái Niệm 331, Khái Niệm 3d, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm 3t, Khái Niệm 3r, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm 3g, Khái Niệm 4g, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm P, Khái Niệm 5m, Khái Niệm Phó Từ, Bài 1 Khái Niệm Đạo Hàm, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, ẩn Dụ Khái Niệm, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm 1/3, Khái Niệm 1 Pha, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm Oda, Khái Niệm L/c, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm Văn Bản, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm 4k, Khái Niệm Câu Rút Gọn, Khái Niệm ăn Xin, Khái Niệm Đại Từ, Khái Niệm Đạo Đức, Khái Niệm Đào Tạo, Khái Niệm Đất, Khái Niệm Đất 5, Khái Niệm Đất Đai, Khái Niệm Đầu Tư, Khái Niệm ăn Tạp, Khái Niệm Đô Thị, Khái Niệm Đô Thị Hóa, Khái Niệm ăn Mòn Hóa Học, Khái Niệm ăn Mặc, Khái Niệm B/l, Khái Niệm Bạc 925, Khái Niệm Chỉ Từ, Khái Niệm Câu Cảm Thán, Khái Niệm Cảm ơn, Khái Niệm Ca Dao Dân Ca, Khái Niệm C/o, Khái Niệm C, Khái Niệm Cơ Thể Học, Khái Niệm Dân Chủ, Khái Niệm Dân Tộc, Khái Niệm Dân Vận, Khái Niệm Dạy Học, Khái Niệm Di Sản Văn Hóa, Khái Niệm Báo Chí, Khái Niệm E Độc Thân, Khái Niệm ăn Dặm, Khái Niệm 6s, Khái Niệm 635, Khái Niệm 632,

    Văn Lớp 6 Khái Niệm Truyền Thuyết, Ngữ Văn 6 Khái Niệm Truyền Thuyết, Khái Niệm Thế Nào Là Truyền Thuyết, Khái Niệm Văn Thuyết Minh, Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh, Theo Thuyết E Khái Niệm Vật Nhiễm Điện, Truyện Ngắn Khái Niệm, Khái Niệm âm Nhạc Cổ Truyền, Ngữ Văn 6 Khái Niệm Truyện Cổ Tích, Khái Niệm Truyền Thông, Khái Niệm Truyện Cổ Tích Ngữ Văn 6, Khái Niệm Bệnh Truyền Nhiễm, Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước Về Thông Tin Và Truyền Thông, Đề Cương Tuyên Truyền Kỷ Niệm 70 Năm Truyền Thống Công Đoàn Quốc Phòng, Học Thuyết ý Niệm, Khái Niệm Kết Hôn, Khái Niệm 24/7, Khái Niệm 2g, Khái Niệm 2 Góc Kề Bù, Khái Niệm 131, Khái Niệm 331, Khái Niệm 3d, Khái Niệm 4c Bao Gồm Các Yếu Tố Nào Sau Đây, Khái Niệm Hợp âm 7, Khái Niệm In Vết, Khái Niệm 4c, Khái Niệm 4.0 Là Gì, Khái Niệm 4.0, Khái Niệm 3t, Khái Niệm 3r, Khái Niệm 3pl, Khái Niệm Iot, Khái Niệm Ip, Khái Niệm Iso, Khái Niệm 3g, Khái Niệm 4g, Khái Niệm 1/500, Khái Niệm ăn Vặt, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm P, Khái Niệm 5m, Khái Niệm Phó Từ, Bài 1 Khái Niệm Đạo Hàm, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, ẩn Dụ Khái Niệm, Khái Niệm Nào Là,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về Bảo Hiểm Y Tế Tự Nguyện, Hay, 9Đ
  • Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Nhà Nước Về Y Tế Cấp Xã Trên Địa Bàn Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà Nội
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Trên Địa Bàn Huyện Vũ Quang, Tỉnh Hà Tĩnh
  • Phân Cấp Quản Lý Nhà Nước Về Xây Dựng
  • Nội Dung Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Là Gì?
  • Thể Loại Truyền Thuyết: Khái Niệm, Đặc Trưng, Phân Loại

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Khái Niệm Về Các Loại Truyện Truyền Thuyết, Cổ Tích, Ngụ Ngôn…
  • Thành Ngữ Là Gì ? Tất Cả Về Thành Ngữ
  • Thành Ngữ Là Gì, Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ
  • An Ninh Chính Trị Là Gì ? Khái Niệm An Ninh Chính Trị
  • An Ninh Kinh Tế Là Gì? Khái Niệm An Ninh Kinh Tế
  • Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

    2. Phân biệt truyền thuyết với thần thoại và cổ tích :

    a. Truyền thuyết và thần thoại :

    Nhân vật chính trong thần thoại là thần hoặc bán thần. Nhân vật chính trong truyền thuyết giàu nhân tính hơn.

    Thần thoại nêu lên khát vọng hiểu biết, khám phá những hiện tượng của vũ thụ, loài người mang tính suy nguyên. Truyền thuyết thuyết tập trung vào những vấn đề xã hội.

    Thần thoại ra đời từ thời nguyên thủy. Truyền thuyết ra đời ở xã hội giai đọan sau.

    b. Truyền thuyết và cổ tích

    Ðặc điểm nổi bật của cốt truyện và nhân vật cổ tích là tính hư cấu, tưởng tượng. Cốt truyện và nhân vật truyền thuyết có xu hướng bám sát lịch sử.

    Truyện cổ tích phản ánh những xung đột trong gia đình và xã hội, đặc biệt là trong gia đình phụ quyền và xã hội phong kiến. Truyền thuyết hướng về đề tài lịch sử, nhân vật lịch sử.

    Truyện cổ tích kết thúc có hậu hoặc không có hậu , nhân vật chính mãi mãi hạnh phúc hoặc trở thành biểu tượng của nhân phẩm. Truyền thuyết thường kết thúc mở, nhân vật vẫn tồn tại và sẽ tham gia vào những sự kiện mới của lịch sử.

    a. Cơ sở để phân kỳ truyền thuyết:

    – Dựa vào sự phân kỳ lịch sử xã hội và đặc điểm nội dung, nghệ thuật của truyền thuyết. Cần chú ý phân biệt truyền thuyết về một thời kỳ và truyền thuyết của một thời kỳ.

    – Việc xác định truyền thuyết về một thời kỳ có thể dựa vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm truyền thuyết. Muốn biết truyền thuyết của một thời kỳ nào cần phải biết thời điểm ra đời của tác phẩm. Ðiều nầy là rất khó đối với chúng ta ngày nay.

    b. Truyền thuyết Việt Nam gồm các thời kỳ sau:

    + Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang.

    + Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc.

    + Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ

    + Truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc.

    II. NỘI DUNG TRUYỀN THUYẾT :

    1. Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang :

    – Họ Hồng Bàng mở đầu thời kỳ lập quốc của dân tộc ta kéo dài 2622 năm (2879 TCN – 258 TCN), từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân và các đời Hùng Vương. Theo Đại Việt sử ký toàn thư của sử thần Ngô Sĩ Liên, cho đến thời vua Hùng cương vực nước Văn Lang trảỉ rộng, phía đông giáp Nam Haỉ, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam giáp nước Hồ Tôn (nước Chiêm Thành).

    – Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng là hệ thống truyền thuyết mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh của người Văn Lang. Các nhân vật Vua Hùng, Sơn Tinh (Thần Tản Viên) Phù Ðổng Thiên Vương là những biểu tượng của quốc gia Văn Lang trong thời kỳ đang lớn mạnh Hình tượng Lạc Long Quân – Âu Cơ có ý nghĩa khái quát hoá cho công cuộc chinh phục tự nhiên mở mang bờ coĩ của người Văn Lang.

    – Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng: Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Thánh Gióng.

    – Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện. Vua Hùng (Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia, vị vua có uy tín với con người, tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần Văn Lang.

    2. Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc:

    – Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257 TCN – 208 TCN). Sở dĩ ta gắn thời kỳ Âu Lạc vào thời Bắc thuộc vì lịch sử Âu Lạc cũng như truyền thuyết An Dương Vương mang tính chất bi hùng. Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ (207 TCN – 938 SCN) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu giành độc lập của dân tộc ta. Trong hơn một ngàn năm bị nô lệ, dân tộc ta đã không bị đồng hoá hay bị diệt vong như nhiều dân tộc trên thế giới, đó là điều hết sức phi thường.

    – Truyền thuyết thời kỳ này đã phản ánh và chứng minh được sức sống và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nhờ có sức sống mãnh liệt và bản lĩnh cao, dân tộc ta đã vượt qua thời kỳ bị uy hiếp và thử thách gay go, lâu dài.

    3. Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ :

    – Về phương diện lịch sử, thời kỳ phong kiến tự chủ từ TK X đến TKXIX có những nét lớn như sau:

    + Từ TK X đến TK XV: giai cấp phong kiến Việt Nam xây dưng một quốc gia thống nhất,gìn giữ, củng cố nền độc lập dân tộc.

    + Từ TK. XVI đến TK XIX: sự suy sụp của các triều đại phong kiến và cuối cùng đi đến tan rã quốc gia phong kiến trước thế lực phương Tây.

    – Truyền thuyết thời kỳ nầy gồm các nhóm sau đây: Truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm (Truyền thuyết về Yết Kiêu, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi…), truyền thuyết về danh nhân văn hóa (Truyền thuyết về Chu Văn An, Trạng Trình…), truyền thuyết về lịch sử địa danh (Sự tích Hồ Gươm, Sự tích núi Ngũ Hành…), truyền thuyết về anh hùng nông dân (Truyền thuyết về Chàng Lía, Quận He, Ba Vành…)

    4. Ý nghĩa của truyền thuyết :

    – Về mặt lịch sử: Truyền thuyết là cơ sở cho các nhà sử học tham khảo về các giai đoạn lịch sử dân tộc.

    III. MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỀN THUYẾT

    – Truyền thuyết không có kiểu cốt truyện hay như cổ tích. Cốt truyện thường gồm ba phần: hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính, sự nghiệp của nhân vật, chung cục thân thế của nhân vật.

    – Nhân vật trong truyền thuyết là nhân vật lịch sử được tái tạo. Tác giả dân gian hư cấu, sáng tạo trên nền lịch sử (thường là lý tưởng hóa những sự kiện, con người mà họ ca ngợi)

    – Nhân vật trong truyền thuyết cũng là hành động của nó như trong cổ tích và có số phận không thể đảo ngược so với sự thật lịch sử. Nhân vật chính có thể là nhân vật trung tâm của một truyện hoặc một chuỗi truyện.

    2. Lời kể trong truyền thuyết:

    Nhìn chung, lời kể trong truyền thuyết Việt Nam chưa có giá trị nghệ thuật cao như trong cổ tích và sử thi. Lời kể của một số truyền thuyết rút ra từ thần tích không còn giữ được chất dân gian.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyền Thuyết Là Gì, 4 Đặc Trưng Của Truyền Thuyết Lớp 6
  • Khái Niệm Nhà Nước, Sự Khác Biệt Giữa Nhà Nước Với Các Thiết Chế Chính Trị Khác Trong Xã Hội?
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • Lý Thuyết Các Khái Niệm Cơ Bản Trong Di Truyền Sinh 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Tần Số Alen Là Gì? Công Thức Tính
  • Sự Khác Biệt Giữa Locus, Gen Và Alen Trong Di Truyền Là Gì?
  • Định Nghĩa Alen Trội Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Alen Trội
  • An Ninh Quốc Gia Là Gì ? Phân Tích Dấu Hiệu Pháp Lý Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia ?
  • Khái Niệm An Ninh Quốc Gia
    • Tính trạng là một đặc điểm về hình thái, cấu tạo, sinh lí … của cơ thể.
    • Tính trạng trội là tính trạng biểu hiện khi có kiểu gen ở dạng đồng hợp tử trội hoặc dị hợp tử.
    • Tính trạng lặn là tính trạng chỉ xuất hiện khi kiểu gen ở trạng thái đồng hợp lặn.
    • Cặp tính trạng tương phản: hai hay nhiều trạng thái khác nhau của cùng một tính trạng.
    • Dòng thuần: đặc điểm di truyền đồng nhất (kiểu gen và kiều hình) thế hệ sau không phân li kiểu hình.

    Gen trội/lặn:

    • Gen trội: trường hợp dị hợp tử, alen (hay gen) này thể hiện ra bên ngoài. Trong biểu đồ gen, những gen trội đều được thể hiện bằng chữ hoa.
    • Gen lặn: trường hợp dị hợp tử, alen (hay gen) này bị lấn át và không thể hiện ra bên ngoài. Trong biểu đồ gen, những gen lặn đều được thể hiện bằng chữ thường.
    • Thể đồng hợp là cơ thể có kiểu gen chứa cặp gen gồm 2 gen tương ứng giống nhau (AA, aa, BB…).
    • Thể dị hợp là cơ thể có kiểu gen chứa cặp gen gồm 2 gen tương ứng khác nhau (Aa, Bb…).

    Alen là các trạng thái khác nhau của cùng một gen cùng quy định một tính trạng (A, a, B, b…).

    • : các trạng thái khác nhau của cùng 1 gen tồn tại trên 1 vị trí nhất định (locut) của cặp NST tương đồng có thể giống hoặc khác nhau về số lượng, thành phần, trình tự phân bố các nuclêôtit.
    • Gen không alen : là các trạng thái khác nhau của các cặp gen không tương ứng tồn tại trên các NST không tương đồng hoặc nằm trên cùng 1 NST thuộc 1 nhóm liên kết.

    Gen đa alen: gen có nhiều hơn 2 alen.

    • Đồng trội: Hai alen có vai trò ngang nhau → thể dị hợp xuất hiện kiểu hình mới khác với kiểu gen đồng hợp ( : Nhóm máu do 3 alen A , O, B quy định, trong đó A, B đồng trội và trội hoàn toàn so với O: AA, và AO → quy định nhóm máu A; BB và BO quy định nhóm máu B; AB quy định nhóm máu AB; OO quy định nhóm máu O).

    : Giao tử là tế bào sinh dục có chứa bộ nhiễm sắc thể đơn bội (n) được hình thành từ quá trình giảm phân của tế bào sinh giao tử (2n) có khả năng thụ tinh tạo ra hợp tử.

    – Có 2 loại giao tử: giao tử đực còn được gọi là tinh trùng và giao tử cái còn được gọi là trứng

    Giao tử thuần khiết: là hiện tượng khi phát sinh giao tử, mỗi giao tử chỉ chứa một nhân tố di truyền trong cặp nhân tố di truyền tương ứng và chỉ một mà thôi.

    là tổ hợp toàn bộ các gen trong tế bào của cơ thể thuộc 1 loài sinh vật.

    : là tập hợp toàn bộ các tính trạng của cơ thể. Kiểu hình thay đổi theo giai đoạn phát triển va` điều kiện của môi trường. Trong thực tế khi đề cập tới kiểu hình người ta chỉ quan tâm tới 1 hay một số tính trạng.

    Biến dị tổ hợp : Là những biến dị xuất hiện do sự tổ hợp lại vật chất di truyền ở bố và mẹ dẫn tới sự tổ hợp lại các tính trạng đã có ở bố mẹ hoặc làm xuất hiện tính trạng mới.

    Lai phân tích: là phép lai giữa cá thể mang tính trạng trội với cá thể mang tính trạng lặn để xác định kiểu gen của các thể mang tính trạng trội (đồng hợp hay dị hợp).

    • Nếu cá thể trội mang kiểu gen đồng hợp → con lai đồng tính
    • Nếu cá thể trội mang kiểu gen dị hợp → con lai phân tính

    Lai thuận nghịch là phép lai thay đổi vị trí của bố mẹ (khi thì dùng dạng này làm bố, khi lại dùng dạng đó làm mẹ) để xác định vị trí của gen quy định tính trạng trong tế bào.

    • Lai thuận giống lai nghịch → gen nằm trên NST thường
    • Lai thuận khác lai nghịch, phân li tính trạng không xuất hiện đều ở hai giới → gen nằm trên NST giới tính.
    • Lai thuận khác lai nghịch, đời con có kiểu hình giống cơ thể mẹ → gen ngoài nhân (ty thể, lạp thể, plasmid).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Khái Niệm Thường Dùng Trong Di Truyền Học, Trắc Nghiệm Hóa Học Lớp 12
  • Bài Giảng Tiết : 6 . Khái Niệm Về Amin
  • Khái Niệm, Phân Loại, Danh Pháp Và Tính Chất Vật Lí Của Amin
  • Khái Niệm An Toàn Giao Thông
  • Adn Là Gì? Những Điều Bạn Cần Biết Về Adn
  • Khái Quát Về Thể Loại Truyền Thuyết

    --- Bài mới hơn ---

  • Thể Loại Truyền Thuyết Lớp 6
  • Phân Tích Truyền Thuyết Thánh Gióng
  • Phân Tích Những Yếu Tố Thần Kì Và Chỉ Ra Vai Trò Của Nó Trong Truyền Thuyết “thánh Gióng”
  • Sự Tích Thánh Gióng Phá Giặc Ân
  • Truyền Thuyết Về Sơn Tinh
  • Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

    2.Phân biệt truyền thuyết với thần thoại và cổ tích :

    a. Truyền thuyết và thần thoại :

    Nhân vật chính trong thần thoại là thần hoặc bán thần. Nhân vật chính trong truyền thuyết giàu nhân tính hơn.

    Thần thoại nêu lên khát vọng hiểu biết, khám phá những hiện tượng của vũ thụ, loài người mang tính suy nguyên. Truyền thuyết thuyết tập trung vào những vấn đề xã hội.

    Thần thoại ra đời từ thời nguyên thủy. Truyền thuyết ra đời ở xã hội giai đọan sau.

    b.Truyền thuyết và cổ tích

    Về cốt truyện và nhân vật:

    Ðặc điểm nổi bật của cốt truyện và nhân vật cổ tích là tính hư cấu, tưởng tượng. Cốt truyện và nhân vật truyền thuyết có xu hướng bám sát lịch sử.

    Truyện cổ tích phản ánh những xung đột trong gia đình và xã hội, đặc biệt là trong gia đình phụ quyền và xã hội phong kiến. Truyền thuyết hướng về đề tài lịch sử, nhân vật lịch sử.

    Truyện cổ tích kết thúc có hậu hoặc không có hậu , nhân vật chính mãi mãi hạnh phúc hoặc trở thành biểu tượng của nhân phẩm. Truyền thuyết thường kết thúc mở, nhân vật vẫn tồn tại và sẽ tham gia vào những sự kiện mới của lịch sử.

    Cơ sở để phân kỳ truyền thuyết : Dựa vào sự phân kỳ lịch sử xã hội và đặc điểm nội dung, nghệ thuật của truyền thuyết. Cần chú ý phân biệt truyền thuyết về một thời kỳ và truyền thuyết của một thời kỳ. Việc xác định truyền thuyết về một thời kỳ có thể dựa vào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm truyền thuyết. Muốn biết truyền thuyết của một thời kỳ nào cần phải biết thời điểm ra đời của tác phẩm. Ðiều nầy là rất khó đối với chúng ta ngày nay.

    Truyền thuyết Việt Nam gồm các thời kỳ sau : Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang, truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc, truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc.

    II.NỘI DUNG TRUYỀN THUYẾT :

    1.Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang :

    Họ Hồng Bàng mở đầu thời kỳ lập quốc của dân tộc ta kéo daì 2622 năm (2879tcn-258tcn) , từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân và các đời Hùng Vương. Theo Ðaị Việt sử ký toàn thưcủa sử thần Ngô Sĩ Liên, cho đến thời vua Hùng cương vực nước Văn Lang traỉ rộng , phía đông giáp Nam Haỉ, phía tây đến Ba Thục, phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam giáp nước Hồ Tôn ( nước Chiêm Thành).

    Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng là hệ thống truyền thuyết mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh của người Văn Lang. Các nhân vật Vua Hùng, Sơn Tinh ( Thần Tản Viên) Phù Ðổng Thiên Vương là những biểu tượng của quốc gia Văn Lang trong thời kỳ đang lớn mạnh Hình tượng Lạc Long Quân-Âu Cơ có ý nghĩa khái quát hoá cho công cuộc chinh phục tự nhiên mở mang bờ coĩ của người Văn Lang.

    Những truyền thuyết tiêu biểu trong chuỗi truyền thuyết về thời các vua Hùng : Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Thánh Gióng.

    Nhân vật Hùng Vương không phải là nhân vật chính của từng truyện riêng nhưng lại là nhân vật nổi bật trong hệ thống truyện. Vua Hùng ( Hùng Vương thứ sáu, Hùng Vương thứ mười tám, Hùng Vương nói chung) là người đứng đầu quốc gia,vị vua có uy tín với con người, tiếp cận với thần linh, là biểu trưng của sức mạnh và tinh thần Văn Lang.

    2.Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc Thuộc :

    Nước Âu Lạc của An Dương Vương tồn tại khoảng 50 năm (257tcn-208tcn) .Sở dĩ ta gắn thời kỳ Âu Lạc vào thời Bắc thuộc vì lịch sử Âu Lạc cũng như truyền thuyết An Dương Vương mang tính chất bi hùng. Thời kỳ Bắc thuộc hơn 10 thế kỷ(207tcn-938) là thời kỳ bị xâm lược và chiến đấu dành độc lập của dân tộc ta.Trong hơn một ngàn năm bị nô lệ, dân tộc ta đã không bị đồng hoá hay bị diệt vong như nhiều dân tộc trên thế giới, đó là điều hết sức phi thường.

    Truyền thuyết thời kỳ này đã phản ánh và chứng minh được sức sống và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nhờ có sức sống mãnh liệt và bản lĩnh cao, dân tộc ta đã vượt qua thời kỳ bị uy hiếp và thử thách gay go, lâu dài.

    Truyền thuyết phản ánh cả lịch sử chiến thắng và lịch sử chiến bại của dân tộc. Nhiều truyền thuyết thời kỳ nầy mà trong đó truyện An Dương Vương là tiêu biểu, có kết cấu hai phần: phần đầu là lịch sử chiến thắng, phần sau là lịch sử chiến bại.

    Truyền thuyết phản ánh được tất cả các cuộc vũ trang khởi nghĩa chống xâm lược thời kỳ Bắc Thuộc (Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí …).

    Truyền thuyết thời kỳ này cho thấy tác giả dân gian nhận thức được dân tộc, nhận thức được bản chất kẻ thù ( chẳng hạn như bản chất tàn bạo, âm mưu thâm độc của các tên quan đô hộ như Tô Ðịnh, Mã Viện, Cao Biền…)ì và ngày càng đi sát lịch sử hơn (Bám sát lịch sử về nội dung cũng như hình thức biểu hiện : tên người, sự kiện …). Yếu tố thần kỳ tuy có giảm so truyền thuyết giai đoạn trước nhưng vẫn còn khá đậm đặc trong truyền thuyết giai đoạn nầy( An Dương Vương được Rùa Vàng giúp trừ ma quỷ ở núi Thất Diệu…,Hai Bà Trưng bay lên trời…)

    3.Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ :

    Về phương diện lịch sử, thời kỳ phong kiến tự chủ từ TK X đến TKXIX có những nét lớn như sau:

    Từ TK.X đến chúng tôi giai cấp phong kiến Việt Nam xây dưng một quốc gia thống nhất,gìn giữ, củng cố nền độc lập dân tộc.

    Từ TK. XVI đến TKXIX: sự suy sụp của các triều đại phong kiến và cuối cùng đi đến tan rã quốc gia phong kiến trước thế lực phương Tây.

    Trong suốt chặng daì lịch sử nêu trên, dân tộc ta đã làm nên những chiến tích: nhà Trần ba lần đánh tan quân Nguyên-Mông, Lê Lợi quét sạch quân Minh ra khỏi cõi, Nguyễn Huệ đánh tan quân Thanh ở phía Bắc và quân Xiêm ở phía Nam. Bên cạnh đó còn phải kể đến các cuộc nội chiến giữa những tập đoàn phong kiến và các phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình.

    Truyền thuyết thời kỳ nầy gồm các nhóm sau đây: Truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm ( Truyền thuyết về Yết Kiêu, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi…),truyền thuyết về danh nhân văn hóa (Truyền thuyết về Chu Văn An, Trạng Trình…),truyền thuyết về lịch sử địa danh ( Sự tích Hồ Gươm, Sự tích núi Ngũ Hành…),truyền thuyết về anh hùng nông dân (Truyền thuyết về Chàng Lía, Quận He, Ba Vành…)

    So với truyền thuyết thời kỳ trước, yếu tố hoang đường kỳ diệu trong truyền thuyết thời kỳ nầy giảm đi một mức đáng kể. Ðặc biệt, có những truyền thuyết về anh hùng nông dân không có yếu tố thần kỳ(Truyền thuyết về Hầu Tạo, Chàng Lía, Lê Văn Khôi…).

    Hai nhóm truyền thuyết nổi bật của thời kỳ này là: truyền thuyết về anh hùng chống ngoại xâm và truyền thuyết về anh hùng nông dân. Nhân vật anh hùng có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc, giàu lòng thương yêu nhân dân. Ðây là những nhân vật có tài năng phi thường, mang vẻ kỳ vĩ, siêu nhiên.

    4.Ý nghĩa của truyền thuyết :

    Về mặt lịch sư:íTruyền thuyết là cơ sở cho các nhà sử học tham khảo về các giai đoạn lịch sử dân tộc.

    Về mặt ý thức xã hộiTruyền thuyết giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

    Về mặt văn học nghệ thuật: Truyền thuyết là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nhà thơ sáng tác.

    . III.MẤY NÉT VỀ THI PHÁP TRUYỀN THUYẾT

    a1.Cốt truyện và nhân vật:

    Truyền thuyết không có kiểu cốt truyện hay như cổ tích. Cốt truyện thường gồm ba phần: hoàn cảnh xuất hiện nhân vật chính, sự nghiệp của nhân vật, chung cục thân thế của nhân vật.

    Nhân vật trong truyền thuyết là nhân vật lịch sử được tái tạo. Tác giả dân gian hư cấu, sáng tạo trên nền lịch sử (thường là lý tưởng hóa những sự kiện, con người mà họ ca ngợi)

    Nhân vật trong truyền thuyết cũng là hành động của nó như trong cổ tích và có số phận không thể đảo ngược so với sự thật lịch sử. Nhân vật chính có thể là nhân vật trung tâm của một truyện hoặc một chuỗi truyện.

    2.Lời kể trong truyền thuyết:

    Nhìn chung, lời kể trong truyền thuyết Việt Nam chưa có giá trị nghệ thuật cao như trong cổ tích và sử thi. Lời kể của một số truyền thuyết rút ra từ thần tích không còn giữ được chất dân gian.

    Tìm hiểu thêm:

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm Trang 39 Sgk Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn
  • Những Kiến Thức Trọng Tâm Về Truyền Thuyết Ngữ Văn Lớp 6 Học Kì I
  • Ngữ Văn 6 Khái Niệm Truyền Thuyết
  • Luận Văn: Quản Lý Nhà Nước Về Bảo Hiểm Y Tế Tự Nguyện, Hay, 9Đ
  • Nêu Khái Niệm Về Các Loại Truyện Truyền Thuyết, Cổ Tích, Ngụ Ngôn…

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Ngữ Là Gì ? Tất Cả Về Thành Ngữ
  • Thành Ngữ Là Gì, Tác Dụng Và Lấy Ví Dụ
  • An Ninh Chính Trị Là Gì ? Khái Niệm An Ninh Chính Trị
  • An Ninh Kinh Tế Là Gì? Khái Niệm An Ninh Kinh Tế
  • Khái Niệm Adn Là Gì? Vai Trò Của Adn Trong Đời Sống?
  • Đây là đề mik tự chế thui nhưng ai có câu trả lời hay nhất sẽ đc tick nhìu nhất lun

    Câu 1:Nêu khái niệm về các loại truyện:truyền thuyết,cổ tích,ngụ ngôn và truyện cười.

    Câu 2:Phát biểu cảm nghĩ của em về hình tượng Thánh Gióng.

    Câu 3:Nêu khái niệm về danh từ,cụm danh từ và chỉ từ.

    Câu 4:Kể về kỉ niệm của em vói 1 thầy cô giáo

    Câu 5:Phát biểu cảm nghĩ về truyện Con Rồng Cháu Tiên.

    • Câu 1:

      – Truyền thuyết là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

      – Truyện cổ tích là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật Đây loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ …

      – Truyện ngụ ngôn là truyện kể dân gian bằng văn xuôi hay bằng thơ, mượn chuyện về loài vật, đồ vật, cây cỏ… làm ẩn dụ, hoặc chính chuyện con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện đời, chuyện người, nhằm nêu lên bài học luân lí.

      Truyện cười (còn gọi là truyện tiếu lâm) một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước…

      Truyền thuyết Thánh Gióng xuất hiện từ thời Hùng vương dựng nước và được nhân dân ta lưu truyền từ đời này sang đời khác cho đến tận ngày nay. Đây là một truyền thuyết hay vào bậc nhất trong những truyền thuyết nói về truyền thống giữ nước của dân tộc ta.

      Hình tượng Thánh Gióng với nhiều yếu tố thần kì là biểu tượng rực rỡ của ý thức và sức mạnh bảo vệ đất nước, đồng thời thể hiện quan niệm và ước mơ của nhân dân ta về người anh hùng cứu nước chống ngoại xâm.

      Người xưa cho rằng đã là anh hùng thì phải phi thường, phải có khả năng như thần thánh, do trời sai xuống giúp đời. Do đó mà cậu bé làng Gióng là một nhân vật kì lạ. Bà mẹ Gióng có thai cũng khác thường: Một hôm, bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai… Bà có thai không phải chín tháng mười ngày mà tròn mười hai tháng. Đây là sự tưởng tượng của dân gian về nhân vật phi thường của mình.

      Điều kì lạ nữa là Gióng lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi cứ đặt đâu thì nằm đấy. Những chi tiết kỳ ảo đó càng thu hút người nghe. Gióng không nói nhưng khi nghe sứ giả rao loa thì bỗng dưng cất tiếng nói. Tiếng nói đầu tiên của Gióng là tiếng nói tự nguyện đánh giặc. Lời nói yêu nước, cứu nước ấy cũng không phải là lời nói bình thường ở tuổi lên ba.

      Chi tiết thần kì ấy ca ngợi ý thức đánh giặc, cứu nước của nhân dân ta được gửi gắm trong hình tượng Gióng. Ý thức trách nhiệm đối với đất nước được đặt lên hàng đầu với người anh hùng và tạo cho người anh hùng những khả năng hành động phi thường.

      Còn năm ngửa trên chõng tre mà Gióng đòi có ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để đánh tan quân giặc. Ba tuổi, Gióng vẫn chưa biết đi nhưng tới lúc giặc đến thì vươn vai hoá thành tráng sĩ, nhảy lên mình ngựa, phi thẳng ra chiến trường. Khi cần có sức lực, tầm vóc để cứu nước thì Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa may xong đã căng đứt chỉ.

      Dân gian kể rằng: Gióng ăn một bữa bảy nong cơm, ba nong cà, uống một hớp nước cạn đà khúc sông. Dấy là cách nói cường điệu của dân gian để tô đậm tính chất phi thường cho nhân vật mà mình yêu mến. Mẹ Gióng nuôi không nổi, bà con trong làng nô nức gom góp gạo thóc nuôi cậu bé, vì ai cũng mong cậu lớn nhanh để giết giặc cứu nước. Gióng đã lớn lên bằng thức ăn, thức mặc, bằng sự yêu thương, đùm bọc của dân làng. Gióng đâu chỉ là con của một bà mẹ mà là con của mọi người, của nhân dân. Một người cứu nước sao đặng? Phải toàn dân góp sức chuẩn bị cho sự nghiệp đánh giặc. Như vậy mới đủ sức mạnh để chiến thắng quân thù. Gióng lớn lên từ trong lòng nhân dân và do nhân dân nuôi dưỡng. Sức mạnh dũng sĩ của Gióng được nuôi bằng cơm gạo quê hương và tình thương vô hạn của bà con.

      Vì sao Gióng lại lớn nhanh như vậy? Gióng lớn lên từ khi nào và lớn lên để làm gì? Trước khi có tiếng gọi cứu nước, Gióng chi nằm ngửa, không nói, không cười. Gióng mở miệng nói lời đầu tiên là để đáp lại lời kêu gọi cứu nước. Dường như việc cứu nước có sức mạnh làm cho Gióng vụt lớn lên. Việc cứu nước vô cùng to lớn và cấp bách, Gióng không lớn lên nhanh thì làm sao làm được nhiệm vụ cứu nước ? Cuộc chiến đấu đòi hỏi dân tộc ta phải vươn mình phi thườnq như vậy. Hình ảnh Gióng vươn vai là tượng đài bất hủ về sự trưởng thành vượt bậc, về hùng khí của một dân tộc trước nạn ngoại xâm. Khi lịch sử đặt vấn đề sống còn cấp bách, khi tình thế đòi hỏi dân tộc vươn lên một tầm vóc phi thường thì cả dân tộc vụt đứng dậy như Thánh Gióng, tự thay đổi tư thế, tầm vóc của mình. Hình tượng cậu bé làng Gióng tiêu biểu cho sức mạnh toàn dân trong cuộc chiến tranh cứu nước.

      Gióng chính là hình ảnh của nhân dân. Nhân dân lúc bình thường thì âm thầm lặng lẽ, cũng như Gióng ba năm không nói, không cười. Nhưng khi nước nhà gặp cơn nguy biến thi họ rất mẫn cảm, tự nguyện đứng ra cứu nước cứu nhà. Cũng như Gióng, khi vua vừa phát lời kêu gọi, chú bé đã đáp lời cứu nước.

      Đánh tan giặc Ân, Gióng cưỡi ngựa lên đỉnh núi Sóc, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Gióng ra đời đã khác thường thì ra đi cũng khác thường.

      Nhân dân trân trọng muốn giữ mãi hình ảnh người anh hùng nên đã để Gióng đi vào cõi bất tử, Gióng không quay về triều để được vua ban cho bổng lộc, vinh quang. Gióng biến mất vào cõi hư không. Sinh ra từ cõi lặng im, nay Gióng trở về trong im lặng, không màng phú quý, công danh. Tuy Gióng đã trở về trời nhưng thật ra Gióng luôn luôn ở lại với đất nước, cây cỏ, với dân tộc Việt. Vua phong cho Gióng là Phù Đổng Thiên Vương. Gióng được nhân dân Suy tôn là Thánh và lập đền thờ ngay tại quê hương để muôn đời ghi nhớ công ơn.

      Gióng là hình tượng tiêu biểu, rực rỡ của người anh hùng đánh giặc cứu nước. Trong văn học dân gian Việt Nam, đây là hình tượng người anh hùng đánh giặc đầu tiên, tiêu biểu cho lòng yêu nước của nhân dân ta.

      Gióng là người anh hùng mang trong mình sức mạnh của cả cộng đồng.Trong buổi đầu dựng nước, sức mạnh của thần thánh, tổ tiên thể hiện ở sự ra đời thần kì của chú bé làng Gióng. Sức mạnh của cộng đồng thể hiện ở việc bà con dân làng góp gạo nuôi Gióng.

      Dân tộc Việt Nam anh hùng muốn có hình tượng khổng lổ, tuyệt đẹp và có ý nghĩa khái quát để phản ánh hết được lòng yêu nước, khả năng và sức mạnh quật khởi của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm suốt bốn ngàn năm lịch sử. Hình tượng Thánh Gióng với vẻ đẹp tuyệt vời rực sáng muôn đời đã đáp ứng được điều đó.

      – Danh từ là các từ chỉ người , sự vật ,hiện tượng , …..

      – Cụm danh từ là một nhóm các danh từ đi chung với nhau để làm thành một danh từ chung. Cụm danh từ có thể bao gồm từ hai đến vài danh từ.

      – Chỉ từ là những từ dùng để trỏ vào sự vật , nhằm xác định vị trí của chỉ từ trong không gian hoặc thời gian .

      Trong tuổi thơ của mỗi người, ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ về thầy, cô giáo cũ của mình, những kĩ niệm đẹp xen lẫn nỗi buồn đều được khắc sâu trong trí nhớ của chúng ta. Riêng tôi có một kỉ niệm mà tôi không bao giờ quên, kỉ niệm sâu sắc về một người thầy đáng kính của tôi.

      Năm ấy, khi tôi còn học lớp một, tôi có những kỉ niệm đẹp về thầy giáo chủ nghiệm của mình. Tôi đã bước sang lớp một, ngưỡng cữa của bậc tiểu học, có nhiều bạn mới, thầy cô mới.

      Ngày trọng đại ấy, ngày tôi không bao giờ quên. Sau buổi lễ khai giảng, tất cả các học sinh đều bước vào lớp học của mình để học buổi học đầu tiên và gặp gỡ thầy cô giáo chủ nhiệm của mình và cũng là người sẽ gắn bó với tôi trong suốt thời gian học tiểu học.

      Khi thầy bước vào, dáng người thầy thật nhanh nhẹn và thầy chào chúng tôi. Tôi trông thầy cũng đã đứng tuổi, tóc thầy cũng đã điểm bạc, khuôn mặt thầy gầy, bàn tay thầy có nhiều vết nhăn, chắc thầy đã có mấy chục năm lận đận với học sinh. Thầy bước lên bục giảng, thầy ra hiệu cho chúng tôi im lặng và thầy nói:chào các con, thầy tên là Hồ Viết Cảnh, thầy sẽ chủ nhiệm lớp các con trong suốt bậc tiểu học. Giọng thầy thật ấm áp, nhẹ nhàng, làm cho những suy nghĩ trong đầu tôi về một người thầy giáo chủ nhiệm thật dữ dằn và nghiêm khắc đều tan biến.

      Sau khi ra mắt chúng tôi, thầy bắt đầu dạy cho chúng tôi những bài học đầu tiên mà cũng là những bài học đầu đời dạy tôi nên người. Thầy viết lên bảng những dòng chữ đầu tiên, tôi trông thấy bàn tay thầy run run khi viết, sau này tôi mới biết, thầy phải chịu đựng những cơn đau do tham gia cuộc chiến tranh kháng chiến chống mĩ để viết nên dòng chữ đẹp đó. Sau khi viết xong đề bài, thầy hỏi chúng tôi có thấy rõ không, một và bạn ngồi phía dưới do mắt kém nên không thấy liền được thầy chỗ khác cho phù hợp. Trong buổi học thầy đến tận chỗ của từng người để chỉ cho chúng tôi những chỗ không hiểu. Cuối giờ, thầy cho chúng tôi xếp hàng ra về, mọi người đi về rất thẳng hàng, tiếng cười đùa của một vài bạn đã làm xôn ao khắp sân trường. Buổi học đầu tiên đã kết thúc như vậy đó, thầy đã để lại cho tôi những suy nghĩ về một người thầy mẫu mực.

      Những buổi học sau, thầy nghiêm khắc với những bạn lười học, khen thưởng những bạn ngoan. Giờ ra chơi, thầy đều ra chơi cùng chúng tôi, thầy chơi những rò chơi dân gian cùng với chúng tôi, nhìn khuôn mặt thầy lúc đấy thật đáng yêu, nhìn kĩ thầy, tôi có cảm giác khuôn mặt thầy rất giống khuôn mặt ông nội tôi. Ông tôi đã mất từ khi tôi còn nhỏ, những kỉ niệm đẹp của ôg và tôi đều được tôi khắc ghi. Nhìn thầy, tôi cảm thấy nhớ đến ông, nhớ đến cảnh chơi đùa của hai ông cháu, tôi liền chạy vào phòng học, ngồi trong góc khóc. Lúc đó có một bàn tay đặt lên vai tôi khẽ vỗ về, hình ảnh ông nội vỗ về tôi mỗi khi buồn hiện về, tôi bỗng khóc to lên, không sao có thể kiềm chế được. Thì ra đó chính là thầy, thầy khẽ nói với tôi:” Thành, sao con khóc, nói ra để thầy chia sẽ với con”. Rồi thầy ôm tôi vào lòng, nhận được sự an ủi của thầy, tôi càng khóc to hơn. Sau hôm đó tôi cảm thấy được thầy quan tâm nhiều hơn.

      Vào một hôm, do tôi không học bài nên bị điễm kém, thầy liền mắng tôi, tôi liền chạy về chỗ ngồi, trong lòng tôi cảm thấy rất tức thầy. Vào giờ ra chơi thầy không ra chơi với các bạn như mọi khi, thầy xuống chỗ tôi. Thầy nói:”thầy xin lỗi em vì đã quá nặng lời, nhưng em là lớp trưởng nên phải gương mẩu cho các bạn noi theo…. thầy giảng lại cho tôi bài tôi chưa hiểu. Tôi nhìn thầy lúc đó mà trong lòng cảm thấy hối hận vô cùng, ân hận vì đã làm thầy buồn. tôi tự hứa sẽ cố gắng phấn đấu tốt hơn.

      Vậy đấy, thầy đã để lại cho tôi những kỉ niệm không bao giờ phai mờ về một người thầy giản dị mà thân thương. Tôi hứa sẽ cố gắng học tập để trở thành công dân tốt, có ích cho đất nước và xã hội. Công ơn thầy sẽ mãi được khắc ghi như câu danh ngôn:

      “Ngọc không mài không sáng, người không học không tài.”

      Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, em rất thích truyện Con Rồng, cháu Tiên. Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên hay Sự tích trăm trứng, Lạc Long Quân và Âu Cơ… vốn là một thần thoại có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo như các nhân vật thần linh có nhiều phép lạ và hình tượng cái bọc trăm trứng… đã biến nó thành một truyền thuyết hay và đẹp vào bậc nhất, nhằm giải thích và suy tôn nguồn gốc giống nòi cao quý của dân tộc Việt.

      Lạc Long Quân và Âu Cơ là sản phẩm của trí tưởng tượng hồn nhiên, phong phú của người xưa. Hình tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ được dệt nên từ những chi tiết lạ thường.

      Lạc Long Quân là con trai của thần Long Nữ ở Đông Hải (biển Đông); còn Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, sống ở vùng núi cao phương Bắc. Mỗi thần có một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp của Lạc Long Quân được nhấn mạnh là vẻ đẹp của tài năng. Thân có thân hình Rồng, sống được cả dưới nước lẫn trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ, trấn áp được lũ yêu quái (Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh) làm hại dân lành. Thần lại có lòng thương người, thường dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở.

      Âu Cơ là Tiên nữ xinh đẹp tuyệt trần. Nàng thích đi đây đi đó. Nghe nói vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng bèn tìm đến thăm và tình cờ gặp Lạc Long Quân ở đó.

      Câu chuyện hấp dẫn người nghe bởi những chi tiết ngẫu nhiên lạ lùng: Rồng ở dưới nước gặp Tiên trên non cao rồi yêu nhau, kết duyên thành vợ chồng. Đây là biểu tượng của sự kết hợp giữa hai thành phần chính trong cộng đồng mới hình thành của dân tộc Việt.

      Đời Hùng vương, cư dân Văn Lang chủ yếu là người Lạc Việt và Âu Việt. Họ thường xuyên quan hệ với nhau về kinh tế, văn hóa. Cuộc hôn nhân thần thoại giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ phản ánh mối quan hệ và sự thống nhất giữa cư dân của hai bộ tộc này.

      Truyện Con Rồng, cháu Tiên phản ánh sự hình thành của đất nước Lạc Việt trong buổi bình minh của lịch sử qua các chi tiết: Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đật tên nước là Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ… Khi cha chết thì truyền ngôi cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối ngôi vua đều lấy danh hiệu Hùng Vương, không hề thay đổi.

      Đây là thời kì mở đầu kỉ nguyên độc lập của người Việt, hay còn gọi là thời kì Hùng Vương dựng nước.

      Nội dung truyện nhằm giải thích nguồn gốc dân tộc Việt là con Rồng, cháu Tiên. Tổ tiên ta là hai vị thần khỏe mạnh, tài năng, xinh đẹp, đức độ. Cuộc hôn nhân giữa Long Quân – Âu Cơ như một mối lương duyên tiền định và kết quả thật tạ thường ! Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, nở thành một trăm ngươi con hồng hào, đẹp đẽ… Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần. Dấu ấn thần tiên được khắc sâu trong cuộc sinh nở này.

      Hình ảnh cái bọc một trăm trứng mang ý nghĩa tượng trưng rất thiêng liêng. Nó khẳng định rằng tất cả các dân tộc sống trên đất Việt đều chung một mẹ sinh ra, do đó mối quan hệ giữa các dân tộc là mối quan hệ anh em thân thiết. Hai tiếng đồng bào (cùng một bọc) đã gợi lên đầy đủ và cảm động nghĩa tình keo sơn, máu thịt ấy.

      Sự tích Lạc Long Quân chia tay với Âu Cơ, đem theo năm mươi con xuống biển, còn năm mươi người con theo mẹ lên núi, ngoài lí do kẻ ở trên cạn, người ở dưới nước, tính tình, tập quán khác nhau, khó mà ăn, ở cùng nhau một nơi lâu dài còn nhằm giải thích sự phân bố vùng định cư của các dân tộc trên đất Lạc Việt. Ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc ta đã tiến hành những cuộc sắp đặt giang sơn. Địa bàn đất nước rộng, các dân tộc đã biết phân chia nhau cai quản, Kẻ ở chốn núi rừng, kẻ đồng bằng, người biển cả… lập nghiệp khắp nơi, khắp chốn. Khi có việc quan trọng, lớn lao, họ lại tìm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau.

      Điều đó thể hiện truyền thống đoàn kết tốt đẹp trong suốt mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc ta.

      Con Rồng, cháu Tiên là một truyền thuyết đặc sắc trong kho tàng truyện cổ dân gian. Nó thể hiện lòng tự hào, tự tôn về nguồn gốc cao quý của dân tộc ta, đồng thời khẳng định và ca ngợi mối quan hệ gắn bó thân thiết cùng truyền thống đoàn kết tốt đẹp có từ lâu đời của các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam. Mỗi người chúng ta dù sinh sống ở bất cứ nơi đâu cũng luôn nhớ tới cội nguồn và tự hào là dòng giống Tiên Rồng, là con cháu của các vua Hùng.

      Like (0) Báo cáo sai phạm

    • Câu 2:

      Tuổi thơ của tôi gắn liền với làng quê thanh bình, tươi đẹp, với dòng sông quê hương, cánh đồng mênh mộng và những phiên chợ quê náo nhiệt. Cứ mỗi tháng một lần, tôi lại theo bà đi chợ phiên, những kí ức ấy bây giờ vẫn mãi tồn tại trong tâm trí tôi.

      Chợ phiên quê tôi thường họp vào ngày cuối cùng của mỗi tháng. Cứ mỗi lần gần đến dịp họp chợ phiên, trước đó một , hai ngày bà tôi thường phải chuẩn bị đầy đủ bị, làn cùng dây , bà bảo rằng, chuẩn bị trước như vậy để ngày hôm đó còn đi sớm, và có nhiều thứ cần phải mua. Quả đúng như lời bà nói, ngày họp chợ phiên cuối cùng cũng đến, từ tờ mờ sáng, bà đã đèo tôi trên chiếc xe đạp đi một quãng đường dài. Chợ họp ở trung tâm xã, khi bà cháu tôi đến nơi, trời đã sáng hẳn, khung cảnh chợ náo nhiệt mà tưng bừng như ngày hội.

      Bà đưa tôi đi một vòng quanh chợ, đi đến đâu cũng nhiều những mặt hàng mới mà hàng ngày khó kiếm được. Chợ chia làm ba khu, khu đầu tiên là khu bán các thứ quà, đồ ăn. Mỗi lần đi qua nơi đó, tôi đều bị thu hút bởi hương thơm của các món bánh đặc trưng của quê tôi. Mùi bánh rán thơm phức, những chiếc bánh tròn, nhỏ, vàng ươm, giòn rụm lăn đều trong chảo dầu sôi . Hương vị của bánh lại càng khiến tôi mê mẩn bởi vị ngọt lịm của đỗ, mềm dẻo của bột. Những sạp bán xôi gấc, xôi ngô rồi các thứ chè đậu đỏ, đậu xanh tấp nập người thưởng thức.

      Khu thứ hai là khu bán rau, quả, thịt. Rau xanh mơn mởn được các bác nông dân tự tay trồng, chăm sóc bày trên những chiếc mẹt. Quả chín đến mùa như táo, lê, ổi đầy màu sắc cùng với những thăn thịt heo, thịt bò tươi ngon treo lủng lẳng trước các sạp. Những tiếng mời chào, mua bán rộn ràng khiến cho không gian càng thêm náo nhiệt. Bên cạnh đó, người ra còn bày bán các mặt hàng như vải, cây cảnh, giày dép,…hay đồ dùng gia đình, không thiếu một món hàng gì.

      Nếu nói rằng chợ phiên giống như một chiếc siêu thị thu nhỏ của làng quê quả cũng không có gì sai. Tuy nhiên chợ phiên vẫn mang một nét gì đó cổ truyền, dân giã mà mộc mạc. Tiếng cười nói suồng xã, âm thanh mua bán náo nhiệt, người người qua lại tấp nập để mua được những món đồ tươi ngon, ai cũng làn lớn bị nhỏ xách về đã tạo cho mỗi phiên chợ một nét riêng độc đáo.

      Dù bây giờ đã lớn, không còn ở quê cùng bà thường xuyên như ngày bé nhưng mỗi lần có dịp về chơi, thỉnh thoảng tôi vẫn cùng bà đi chợ phiên. Tôi rất yêu quý những phiên chợ quê tôi, gắn liền với tuổi thơ tôi với bao kỉ niệm tươi đẹp.

      Like (0) Báo cáo sai phạm

    • 7. Hiểu được ý nghĩa các chi tiết tưởng tượng, kì ảo và các đồ vật thần kì trong các văn bản truyền thuyết và cổ tích.

      8. Hiểu nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa của các văn bản đã học.

      9. Nêu các bài học được rút ra từ các văn bản truyện đã học: + Truyện ngụ ngôn: Ếch ngồi đáy giếng; Thầy bói xem voi. + Truyện cười: Treo biển.

      10. Đọc các đoạn văn hay trong các văn bản dựa trên nội dung viết cảm nhận về các đoạn văn (đoạn trích) đó.

    • GIÚP MÌNH VỚI MÌNH CẦN GẤP

      SOẠN BÀI CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG

      TÌM HIỂU VÀ SƯU TẦM TRUYỆN CỐ DÂN GIAN HẢI PHÒNG

      trong câu truyện ĐỒNG TIỀN VẠN LỊCH khi người chồng đánh giậm,Mai thị đã xây dựng cuộc sống gia đình như thế nào?Việc Mai thị nhặt được vàng của Vạn Lịch có ý nghĩa gì?

    • Câu 6:Tìm các từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội trong những câu sau:

      a, Sáng ra bờ suối ,tối vào hang

      Cháo bẹ măng tre vẫn sẵn sàng

      (Hồ Chí Minh,Tức cảnh Pác Pó)

      Khi con tu hú gọi bầy

      Trái chiêm đang chín,trái cây ngọt dần

      Vườn râm dậy tiếng ve ngân

      Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào

      (Khi con tu hú-Tố Hữu)

      b, Ghé tai mẹ,hỏi tò mò

      Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?

      Mẹ cười:Nói cứng,phải xiêu

      Ra khơi ông còn dám,tui chẳng liều bằng ông!

      Nghe ra ông cũng vui lòng

      Tui đi,còn chạy ra sông dặn dò:

      “Coi chừng sóng lớn,gió to

      Màn xanh đây mụ, đắp cho kín mình

      (Mẹ suốt-Tố Hữu)

      c, -Chán quá,hôm nay mình phải nhận con ngỗng cho bài tập làm văn.

      -Trúng tủ,hắn nghiễm nhiên đạt điểm cao nhất lớp

    • SOẠN GIÚP MIK BÀI CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG(PHẦN VĂN VÀ TẬP LÀM VĂN)GIÚP MIK VỚI THANKS

    • Đây là đề mik tự chế thui nhưng ai có câu trả lời hay nhất sẽ đc tick nhìu nhất lun

      Câu 1:Nêu khái niệm về các loại truyện:truyền thuyết,cổ tích,ngụ ngôn và truyện cười.

      Câu 2:Phát biểu cảm nghĩ của em về hình tượng Thánh Gióng.

      Câu 3:Nêu khái niệm về danh từ,cụm danh từ và chỉ từ.

      Câu 4:Kể về kỉ niệm của em vói 1 thầy cô giáo

      Câu 5:Phát biểu cảm nghĩ về truyện Con Rồng Cháu Tiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Loại Truyền Thuyết: Khái Niệm, Đặc Trưng, Phân Loại
  • Truyền Thuyết Là Gì, 4 Đặc Trưng Của Truyền Thuyết Lớp 6
  • Khái Niệm Nhà Nước, Sự Khác Biệt Giữa Nhà Nước Với Các Thiết Chế Chính Trị Khác Trong Xã Hội?
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Định Nghĩa Truyền Thuyết Đô Thị Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Truyền Thuyết Đô Thị

    --- Bài mới hơn ---

  • Truyện Con Rồng Cháu Tiên Thuộc Thể Loại Văn Học Nào
  • Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị Hành Chính H 498
  • Đảng Bộ Khối Doanh Nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Luận Án: Kỹ Năng Thuyết Phục Người Dân Của Công An Xã, Hay
  • Soạn Bài Ôn Tập Truyện Dân Gian Lớp 6 Ngắn Gọn
  • Truyền thuyết là một câu chuyện kể về những sự kiện tuyệt vời hoặc điều đó, trong khi dựa trên các nhân vật hoặc sự kiện có thật, phóng đại hoặc bóp méo hiện thực . Thành phố, trong khi đó, được liên kết với một thành phố (một tập hợp các đường phố và các tòa nhà nơi có một số lượng lớn người dân sinh sống).

    Từ những ý tưởng này, chúng ta có thể tập trung vào khái niệm truyền thuyết đô thị . Đây được gọi là một câu chuyện hư cấu thường được truyền từ miệng sang miệng như thể nó là sự thật .

    Mặc dù chúng có xu hướng có những đặc điểm khác thường hoặc vô lý, nhiều cá nhân tin rằng những sự thật được thuật lại là đúng, ngay cả khi không có bằng chứng hay bằng chứng nào chứng minh chúng. Sự phổ biến này giữa các đồng nghiệp góp phần làm tăng uy tín được cho là của họ, vì nhiều lần tiếp xúc, rõ ràng, đã xảy ra với “một số người quen” (một người bạn của cha tôi, hàng xóm của chú tôi, bạn gái của đồng nghiệp, v.v. ).

    Một truyền thuyết đô thị nổi tiếng chỉ ra rằng nhạc sĩ người Anh Paul McCartney đã chết năm 1966 và kể từ đó, một đôi thay thế ông . Theo phiên bản này, một số album nổi tiếng nhất của The Beatles, như “Tàu ngầm vàng , và đã được ghi lại bởi một kẻ mạo danh McCartney .

    Một truyền thuyết đô thị khác lan truyền trong các khu vực khác nhau ám chỉ một chiếc xe tải màu trắng lưu thông qua các đường phố bắt cóc trẻ em . Mặc dù có thể đã có một số vụ bắt cóc trong đó bọn tội phạm được huy động trong một chiếc xe có những đặc điểm này, nhưng không bao giờ, ở bất kỳ quốc gia nào, là sự tồn tại của một loạt các cuộc tấn công xảy ra trên một chiếc xe tải màu trắng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • I.khái Niệm Về Truyền Thuyết : 1.khái Niệm :
  • Định Nghĩa Truyền Thuyết Lớp 6
  • Truyền Thuyết Là Gì? I.khái Niệm Về Truyền Thuyết : 1.khái Niệm :…
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Sự Tích Hồ Gươm Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Truyền Di Truyền: Các Khái Niệm Và Quyền Thừa Kế

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương 2022
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Chính Quyền Địa Phương
  • Khái Niệm Thẩm Quyền Của Tòa Án
  • Bạn Đã Hiểu Đúng Khái Niệm Về Quỹ Dự Trữ Tài Chính Là Gì Chưa?
  • Chính Quyền Đô Thị Và Quyền Của Người Dân
  • Khái niệm về truyền cha truyền con nối

    Trong văn học pháp lý, việc truyền tải được coi là một tình huống đặc biệt đi chưa thực hiện quyền nhận tài sản thừa kế không phải là người thừa kế, và cho những người khác bằng cách chúc hoặc theo pháp luật. Nó trở thành có thể trong trường hợp cái chết của bên nhận chuyển nhượng, mà xảy ra sau khi thừa kế các thủ tục khai mạc. Một điều kiện quan trọng là người đó không có thời gian để đưa hàng hoá hữu hình và vô hình trong thời hạn quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, khả năng lấy tài sản của một người đã chết ưu đãi với người thân của mình và – theo pháp luật hoặc ý chí, nếu nó xảy ra. Là một phần của truyền di truyền của người thừa kế quá cố gọi transmittentom. Một tự mới, được ưu đãi với các đặc quyền nhận tài sản, gọi transmissarom.

    Luật thừa kế của Liên bang Nga, truyền tải

    Trong pháp luật của Nga, cho sự phát triển và áp dụng các phần thứ ba của Bộ luật Dân sự thừa kế và tư pháp quốc tế, thuật ngữ “truyền cha truyền con nối” đã không được chính thức hóa. Nó được sử dụng duy nhất trong thực tiễn xét xử và các tài liệu khoa học. Tất nhiên, trong Bộ luật Dân sự RSFSR năm 1964 (v. 548) xem xét khả năng chuyển nhượng quyền thừa kế trong trường hợp cụ thể. Khái niệm về “truyền” trong pháp luật thừa kế của Liên bang Nga đã được mô tả và đã chính thức thông qua tháng 3 năm 2002, trong phần thứ ba của Bộ luật Dân sự.

    Bản chất của nó là quyết định thu giàu transmittenta quyền transmissaru (trong trường hợp cái chết của người đầu tiên) sau khi các thủ tục mở tài sản. truyền di truyền xảy ra khi transmittent có đặc quyền làm giàu tại thời điểm ông qua đời, đó không phải là tước đi quyền này tại tòa án, thừa kế, từ bỏ anh ấy theo ý thích. Một thực tế quan trọng cũng là transmissar rằng có thể nhận được một phần của di sản đó có nghĩa là để transmittentu. Nếu sau này sẽ có một vài kế – họ sẽ thừa hưởng với nhau, có thể là trong các phần bằng nhau.

    Đặc điểm của quá trình chuyển đổi quyền thừa kế để transmissaru

    Chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm của cơ chế “truyền cha truyền con nối”. Bộ luật Dân sự (nghệ thuật. 1156, p. 1) cho rằng những đặc quyền thừa kế tài sản xuất hiện trong transmissara transmittenta sau khi chết, không được bao gồm như là một phần của di sản của ông. Nghĩa là, nếu transmissar sẽ chết, không thể thực hiện quyền của mình để chiếm đoạt tài sản, nó không thể đi đến những người thừa kế của mình. Trong trường hợp đó, nếu có transmittenta transmissary khác, những chia sẻ của những người đã khuất sẽ đi với họ, và nếu không muốn nói – để những người thừa kế, những người đã được kêu gọi để mất quyền thừa kế sau cái chết của chính của người lập di chúc. Đôi khi nó xảy ra quá transmittent rằng chết sau cái chết của người lập di chúc, nhưng vẫn đến thời điểm này có thời gian để mất do ông giàu có. Trong trường hợp này, nó được bao gồm trong các thành phần của tài sản riêng của mình, quyền đó sẽ được gửi đến gia đình ông trên một cơ sở chung.

    Việc áp dụng các thừa kế. truyền di truyền trong thực tiễn xét xử

    Để hiểu được tbsp vị trí n. 1. 1156, xem xét ví dụ sau đây. Người lập di chúc chết, nhưng quản lý để làm di chúc, trong đó ông bày tỏ mong muốn cử người kế nhiệm của một nửa-anh trai và một đứa con trai. Một tháng sau khi mở của anh trai thừa kế chết. Bằng cách truyền di truyền của quyền lấy của cải vật chất truyền cho vợ ông, là người thừa kế duy nhất của giai đoạn đầu tiên. Tuy nhiên, vợ của anh trai đã chết đột ngột trước khi ông có thể thực hiện quyền của mình. Do đó, tỷ lệ chính tài sản của người lập di chúc, mà ban đầu được nợ cho chồng, sẽ được trao cho các transmittentu hiện thứ hai – con trai của người lập di chúc.

    transmittenta tài sản cá nhân. Theo thứ tự nào nó sẽ biến người thân của mình?

    Nếu transmittenta cái chết của người thân và bạn bè của mình một cơ hội để thừa hưởng những lợi ích hữu hình và vô hình cá nhân của mình. Đó là, trên thực tế nó chỉ ra rằng những người kế transmittenta ưu đãi với khả năng áp dụng đồng thời hai nguồn lực – một trong đó xuất hiện sau cái chết của người lập di chúc, và rằng trong đó di chuyển chúng theo thứ tự của truyền cha truyền con nối. Cả hai quyền là độc lập và có thể được thực hiện một cách độc lập. Bắt transmittenta thừa kế cá nhân sẽ được thực hiện trên cơ sở nói chung, có nghĩa là, hoặc bằng pháp luật hoặc theo di chúc. Cơ chế của việc mua lại của sự giàu có bằng cách truyền di truyền là hơi khác nhau. Trong trường hợp này, cuộc gọi sẽ chỉ được thực hiện để kế theo pháp luật, và những người thừa kế sẽ được bầu từ các vòng tròn của người thân và người thân của người quá cố. Nhưng có một ngoại lệ cho quy tắc này. Nếu transmittent có thời gian để xây dựng và ký kết một ý chí, trong đó ông bày tỏ mong muốn chuyển toàn bộ tài sản của mình cho một người cụ thể, để nó cũng sẽ chuyển động và quyền định đoạt các thừa kế theo thứ tự truyền. Nếu ít nhất là một phần nhỏ trong những lợi ích hữu hình và vô hình không được quy định trong di chúc (đồ gia dụng, đồ nội thất, vv), truy cập đến tài sản sẽ được chuyển giao cho người thừa kế theo pháp luật. Sự lựa chọn của người được thực hiện theo ưu tiên.

    Việc áp dụng các thừa kế. truyền di truyền: vòng tròn của những người thừa kế

    Bộ luật Dân sự định nghĩa công dân mà theo thứ tự của truyền có thể có được quyền hợp pháp để thực hiện phi vật chất và của cải vật chất. Trong nghệ thuật. 1156 đã chỉ ra rằng khả năng làm giàu, ban đầu còn nợ transmittentu, chuyển giao cho người thừa kế hợp pháp của mình hoặc, nếu tất cả sự giàu có là hoàn toàn ý chí, – người thừa kế thuộc ý chí. Trong tổng số có bảy giai đoạn. Trong trường hợp này, bộ mặt của giai đoạn thứ hai và sau đó có thể mất quyền thừa kế duy nhất nếu không có họ hàng gần gũi hơn (hoặc từ chối thừa kế) từ lượt trước. ưu tiên cao hơn trong sản xuất giàu transmittentu do có vợ hoặc chồng, cha mẹ, cũng như trẻ em, kể cả trong bụng, nhưng quan niệm trong đời của mình.

    Bắt các giá trị theo thứ tự truyền của cha mẹ tước quyền làm cha mẹ

    giai đoạn cho sự chấp nhận của các thừa kế là gì?

    luật của Nga thiết lập một khoảng thời gian mà các thủ tục phải được thực hiện lấy tài sản. Ông là sáu tháng kể từ ngày chết của người lập di chúc, tức là kể từ khi sự xuất hiện của quyền thừa kế. Trong trường hợp của truyền cha truyền con nối thiết lập một thời gian đặc biệt. Nó được tính kể từ ngày khi thừa kế đã được mở ra. Trong trường hợp sau cái chết của transmittenta là ít hơn 3 tháng, giai đoạn này được mở rộng đến giới hạn (90 ngày). Đối với việc áp dụng các tài sản đó thuộc về transmittentu chết trực tiếp, sử dụng khoảng thời gian sáu tháng, tính từ ngày đầu tiên công chiếu. Những người thừa kế là muộn để tạo ra sự giàu có theo thứ tự truyền, thông qua các tòa án có thể được coi là chấp nhận nó. Bên cạnh đó, nếu tòa án cho biết nhận ra rằng nguyên nhân của sự thất bại của sự giàu có trong khoảng thời gian nhất định là thực sự tôn trọng, cuộc sống có thể được phục hồi.

    Gửi và nhận sự giàu có bởi quyền đại diện. Làm thế nào để chúng khác nhau?

    Thừa kế bởi quyền đại diện và việc truyền tải di truyền – họ là hai cơ chế khác nhau cho quá trình chuyển đổi của tài sản và trang thiết bị và lợi ích vô hình từ người đã chết cho người kế nhiệm. Chúng ta hãy xem những gì bản chất của họ. truyền di truyền là khác với sự xuất hiện của quyền thừa kế của một người là kết quả của mở thừa kế, từ chối hoặc đình chỉ người thân khác của người quá cố. Cô cũng có sự phân biệt thừa kế bởi quyền đại diện, podnaznacheniem người thừa kế và increment phần của bất động. Thứ nhất, việc truyền tải bắt đầu hoạt động chỉ trong trường hợp tử vong transmittenta, sau khi mở các tài sản chính của người lập di chúc. Và thừa kế bởi quyền đại diện, nó là có thể, nếu người được yêu cầu của pháp luật được viện dẫn để chiếm đoạt tài sản, chết trước khi mở thừa kế (tức là, trước khi cái chết của người lập di chúc, hoặc đồng thời với nó). Trong trường hợp này, sự giàu có đi với những người nhất định theo thứ tự của chúng. Thứ hai, truyền gen, ngoài việc cung cấp quyền sở hữu của người quá cố, ông điều chỉnh các thủ tục làm giàu. Quyền đại diện, là một đặc quyền chủ quan của cá nhân cụ thể, được thành lập theo pháp luật, thì không. Trong việc thực hiện cơ chế này được quan sát mạch tiêu chuẩn như trong thừa kế bình thường. Thứ ba, theo thứ tự truyền sẽ chuyển sang bên phải transmissaru transmittenta. Khi bạn được thừa hưởng bởi đại diện của tiếp giữa người thừa kế, người đã qua đời trước ngày khai mạc của tài sản, và trẻ em và con cháu của mình ở đó.

    Trong một số trường hợp, cơ chế gửi bị hủy bỏ?

    Luật pháp cung cấp một số trường hợp ngoại lệ, khi thứ tự kế không thể được thực hiện:

    • cùng một lúc, cả hai đều chết – và người lập di chúc và người thừa kế;
    • có một ý chí mà người lập di chúc có kế khác;
    • transmissar đóng vai trò như một người thừa kế bắt buộc.

    Hãy kiểm tra chúng một cách chi tiết. Tình hình đầu tiên không cho phép chuyển nhượng quyền nhận giá trị transmissaru như cái chết đồng thời của người lập di chúc và người thừa kế không trả lời các điều kiện truyền quan trọng nhất gây tử vong transmittenta sau khi thừa kế được mở ra. Tình huống thứ hai: sự sẵn di chúc cũng loại bỏ khả năng của cơ chế truyền dẫn. Bộ luật Dân sự (Art. 1121, p. 2) chỉ được di chúc chọn một người thừa kế (so với lõi) trong trường hợp chết đầu tiên hoặc trước ngày khai mạc của những di sản hoặc từ chối nó. Một điều kiện quan trọng cho điều này là sự cần thiết của ý chí của sở hữu tất cả, chứ không phải là bộ phận của nó. Nếu không, việc truyền tải sẽ có sẵn, và sẽ được lựa chọn người transmissarami từ vòng tròn của những người thừa kế hợp pháp.

    thay vì một kết luận

    Vì vậy, chúng tôi đã xem xét trong bài viết này mà truyền di truyền này và quyền đại diện. Chúng tôi đã mô tả vòng tròn của những người thừa kế, thời gian của mua lại sự giàu có và cơ chế chuyển nhượng transmittenta tài sản cá nhân. Chúng tôi đã học như thế nào thừa kế xảy ra bằng cách truyền cha truyền con nối. Chúng tôi hy vọng thông tin này sẽ có lợi cho bạn và giúp bạn trong trường hợp nhu cầu sử dụng tài sản do.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Định Quyền Thừa Kế Trong Pháp Luật Dân Sự Việt Nam
  • Những Người Bị Tước Quyền Hưởng Di Sản Thừa Kế
  • Quyền Thừa Kế Là Gì? Những Đối Tượng Có Quyền Thừa Kế Theo Pháp Luật?
  • Người Bị Tước Quyền Thừa Kế Và Người Bị Truất Quyền Thừa Kế
  • Một Số Khái Niệm Về Quyền Tác Giả, Quyền Liên Quan
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100