Nhân Sinh Quan, Thế Giới Quan Là Gì? Khái Niệm Trong Triết Học

--- Bài mới hơn ---

  • Gió Là Gì? Các Nguyên Nhân Sinh Ra Gió Và Các Loại Gió Chính
  • Thủy Triều Là Gì? Nguyên Nhân Sinh Ra Thủy Triều
  • Tính Nhân Bản Và Cái Gốc Văn Hóa
  • Tính Nhân Bản Trong Các Loại Hình Văn Hóa
  • Nhân Sinh Vô Thường Có Nghĩa Là Gì?
  • Nhân sinh quan và thế giới quan là những khái niệm mà rất nhiều trong chúng ta đã nghe qua. Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nhân sinh quan là gì? Thế giới quan là gì? Để giải đáp cho câu hỏi này, mời các bạn tham khảo bài viết bên dưới:

    Vậy nhân sinh quan là quan niệm về sự sống con người.

    Hiểu đơn giản thì nhân sinh quan là sự xem xét, suy nghĩ về sự sống của con người, hoặc nói văn vẻ hơn, nhân sinh quan là quan niệm của mỗi chúng ta về những định luật diễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống của con người.

    Thế giới quan là hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về thế giới (toàn bộ sự vật và hiện tượng thuộc tự nhiên và xã hội), về vị trí con người trong thế giới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trong thực tiễn xã hội. Thế giới quan có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều yếu tố trong đó có hạt nhân là tri thức.

    Nhân sinh quan là một bộ phận của thế giới quan (hiểu theo nghĩa rộng), gồm những quan niệm về cuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? trả lời những câu hỏi đó là vấn đề nhân sinh quan. Khác với loài cầm thú, bất kì người nào cũng có quan niệm của mình về cuộc sống. Trong đời thường, đó là nhân sinh quan tự phát, “ngây thơ” của đại chúng; các nhà tư tưởng khái quát những quan điểm ấy, nâng lên thành lý luận, tạo ra nhân sinh quan tự giác, mang tính nguyên lý triết học.

    Nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội của con người. Nội dung của nó biểu hiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong mỗi chế độ xã hội cụ thể. Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan có tính giai cấp. Giai cấp đang đi lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực, cách mạng; nhân sinh quan của giai cấp đang đi xuống thường mang tính bi quan, yếm thế. nhân sinh quan có tác dụng lớn đến hoạt động; những quan niệm về nhân sinh quan trở thành niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng, mục tiêu cho hoạt động (lí tưởng sống). Nếu phản ánh đúng khuynh hướng khách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp llý; nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên.

    Chủ nghĩa Mác là khoa học về các quy luật phát triển của lịch sử, chỉ rõ hoạt động của con người có tác dụng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, và qua đó mà tự cải tạo, tự nâng mình lên, đó là nhân tố quyết định sự tiến bộ xã hội. Vì vậy, sứ mệnh của mỗi người là thúc đẩy những quá trình phát triển xã hội đã chín muồi, những hoạt động lao động sáng tạo và cải tạo xã hội, đem lại một xã hội tốt đẹp tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người, đồng thời qua đó mà hoàn thiện những năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân mình. Đó là nhân sinh quan cách mạng, mang tính khoa học của giai cấp vô sản và của con người mới trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Để làm cho nhân sinh quan cách mạng chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống xã hội, phải cố gắng về nhiều mặt, trong đó giáo dục chiếm một vị trí quan trọng. Ngoài những giờ học chính khoá, nhà trường còn phải phối hợp với gia đình và xã hội trau dồi nhân sinh quan cách mạng (nhân sinh quan cộng sản) cho học sinh, hình thành cho học sinh một hệ thống tư tưởng, tình cảm hướng tới chân, thiện, mĩ, cùng cộng đồng xây dựng cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh, giàu tính nhân văn, mang lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi gia đình và cả xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘tam Quan’ Không Hợp, Mãi Mãi Chỉ Là Người Dưng Qua Đường
  • Ý Nghĩa Tên Zalo Là Gì, Ý Nghĩa Biểu Tượng Logo Zalo
  • Phong Cách Zen Nhật Bản Là Gì? 10+ Cách Decor Nhà Theo Xu Hướng Thiền
  • Phong Cách Nội Thất Zen Nhật Bản
  • Top 10 Mạng Xã Hội Trung Quốc Được Sử Dụng Phổ Biến Nhất Năm 2022 ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Triết Học Và Thế Giới Quan (World Outlook) Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Triết Học Kinh Viện
  • Tìm Hiểu Về Thuyết Bất Khả Tri
  • Thuyết Bất Khả Tri Là Gì?
  • Triết Học Mac Lê Nin _ Www.bantinsom.com
  • Nghệ Thuật Sống Thế Kỷ 21: Lời Khuyên Từ Triết Học Khắc Kỷ
  • Thế giới quan là hệ thống những nguyên tắc, quan điểm, niềm tin, khái niệm, biểu tượng về toàn bộ thế giới, bao gồm:

    – về những sự vật, hiện tượng

    – về quy luật chung của thế giới

    – về chỉ dẫn phương hướng hoạt động của người, một nhóm người trong xã hội nói chung đối với thực tại (nhằm phát triển sao cho tốt hơn)

    Thế giới quan chính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) đối với thế giới bao gồm cả thế giới bên ngòai, cả con người và cả mối quan hệ của người – thế giới (tức là mối quan hệ của người đối với thế giới). Nó quy định thái độ của con người đối với thế giới và là kim chỉ nan cho hành động của con người.

    2. Nguồn gốc

    Thế giới quan của mỗi cá nhân dựa trên cơ sở kiến thức khoa học của nhân loại ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Kiến thức khoa học đó bao gồm cả các quan điểm triết học, xã hội học, chính trị, đạo đức, kinh tế học và khoa học nói chung.

    Với bất kỳ ai nó chịu ảnh hưởng bởi:

    1. Những kiến thức tiếp nhận được

    2. Những kinh nghiệm cuộc sống đã trải nghiệm

    3. Thành phần của Thế giới quan

    Thế giới quan hình thành gồm những yếu tố thuộc về tất cả thuộc hình thái ý thức xã hội:

    – Quan điểm triết học

    – Quan điểm khoa học, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ

    – Quan điểm tôn giáo: sản phẩm của tâm thức, mô tả kiến thức qua trực giác cảm nhận.

    – Kiến thức Khoa học nhằm đến mục tiêu phương hướng thực tiễn trực tiếp cho con người trong tự nhiên và xã hội dựa theo quan sát và dữ kiện từ thực tiễn, phân tích tổng hợp chặt chẽ và có kiểm nghiệm đối sách khách quan lại với thực tiễn.

    – Các nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức đóng vai trò điều chỉnh những quan hệ qua lại và hành vi của con người.

    – Những quan điểm thẩm mỹ quy định những quan hệ với môi trường xung quanh, với những hình thức, mục tiêu và kết quả của hoạt động.

    Quan điểm và niềm tin triết học tạo nên nền tảng cho thế giới quan đúng đắn bởi:

    – Triết học lý giải về lý luận toàn bộ các dữ liệu của khoa học và thực tiễn

    – Triết học biểu diễn kết quả và hình thức một bức tranh thực tại khách quan nhất.

    4. Ý nghĩa Thế giới quan

    Như vậy từ các hiểu biết về thế giới chúng ta có được bức tranh về thế giới trong ý thức tức THẾ GIỚI QUAN và từ đó nó quyết định lại thái độ và hành vi đối với thế giới.

    Có một thế giới quan đúng đắn sẽ hướng con người hoạt động theo sự phát triển lôgic của xã hội và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.Vì thế, thế giới quan là trụ cột về mặt hệ tư tưởng của nhân cách, là cơ sở cho đạo đức, chính trị và hành vi

    Triết học là khoa học về các quy luật chung của cả tồn tại lẫn tư duy của con người, quá trình nhận thức phải phục tùng.

    Chúng ta có được kiến thức Triết lý, Triết học thì điều kiện cần là:

    1. Điều kiện tiên quyết là dám can đảm nhìn nhận chân lý và tin vào khả năng của lý tính (tư duy).

    2. Điều kiện thứ hai là lý tính không phải là tuyệt đối và thần thánh.

    Vấn đề triết học là vấn đề ý thức của con người về mình, đem mọi chuyện cuộc đời ra ánh sáng dưới lý trí chứ không phải để đem lại ích lợi vật chất.

    Thứ nhất, sống khác với việc đem cuộc sống ra ánh sáng của lý trí. Nó lại không phải như những tư tưởng biệt lập của các ngành khoa học khác mà là phần triết lý toàn diện về đời người. Chính vì vậy nó chiếm một vị trí trong toàn diện đời người. Mặc dù nó là ý thức của con người về đời người và người đời nhưng triết lý của mỗi người mỗi khác do kinh nghiệm sống, suy nghĩ và ý thức của mỗi người mỗi khác. Để có thể đạt được triết lý chung như các dòng triết học chính của toàn nhân loại – người ta phải dựa trên kinh nghiệm thực phổ biến và dùng cái Lý phổ biến, những kết quả của mọi khoa học khác đương đại.

    Vậy để có triết học phải thoả mãn 2 điều kiện

    – Thứ nhất, can đảm nhìn nhận chân lý và tin tưởng vào khả năng của lý trí

    – Thứ hai, lý tính là thước đo kinh nghiệm của con người nên không phải là tuyệt đối hay là thần thánh.

    Con người bước đầu ý thức về mình như 1 thực thể tách khỏi giới tự nhiên. Tư duy con người hướng sự “phản tư” (tiếng Hy Lạp reflxio nghĩa là suy ngẫm, đánh giá) vào chính hoạt động của bản thân mình; từ đó hình thành nên một phương thức mới của tư duy để nhận thức thế giới – tư duy triết học.

    Thuật ngữ Triết học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là ” yêu thích (philos) sự thông thái (sophia) “. Triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức; nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật. Như vậy thời cổ đại, triết học được coi là toàn bộ tri thức cùa nhân loại, mọi cái đều là đối tượng nghiên cứu.

    Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thế kỷ XV, XVI đã ra đời các chuyên ngành khoa học thực nghiệm cả tự nhiên và xã hội nên triết học đã phát triển và phân tách thành 2 dòng chính:

    – Triết học duy vật chủ yếu dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm

    – Triết học duy tâm, tôn giáo

    Đối tượng nghiên cứu của triết học dần dần bị thu hẹp lại.

    – Heghen là người cuối cùng xem triết học là 1 hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học.

    – Mác đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của các khoa hocj” và coi đối tượng nghiên cứu Triết học là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

    – Tất cả các học thuyết triết học đều có chung đối tượng nghiên cứu là những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người và tư duy của con người đối với thế giới.

    Phương pháp nghiên cứu của Triết học là xem xét thế giới như 1 chỉnh thể và tìm cách đưa ra 1 hệ thống các quan niệm về chỉnh thể đó. Điều này có được khi nó dựa trên những thành tựu khoa học mới nhất của thời đại cũng như tổng kết những tư tưởng triết học trong suốt lịch sử của ngành.

    Triết học chính là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận, chính là hạt nhân lý luận của thế giới quan.

    Từ bé, mỗi người đều cần hiểu biết về thế giới và bản thân, ai cũng đặt ra những câu hỏi mà chính là những câu hỏi của triết học mọi thời đại:

    • Nó bắt đầu từ đâu và kết thúc hay không?

    • Sức mạnh nào chi phối sự tồn tại và biến đổi của nó?

    • Con người là gì? Nó được sinh ra như thế nào?

    • Quan hệ của nó với thế giới bên ngoài ra sao?

    • Con người có thể biết gì và làm gì với thế giới đó?

    • Vì sao có người tốt, kẻ xấu?

    • Cuộc sống của con người có ý nghĩa gì?…

    những kiểu như vậy được đặt ra với mức độ sâu sắc khác nhau và được con người từ thời nguyên thuỷ, đến nay và mai sau tìm cách trẻ lời.

    Quá trình tìm tòi giải đáp những câu hỏi trên hình thành nên mỗi người những quan niệm nhất định, hoà trộn cả những yếu tố về cảm xúc, trí tuệ, niềm tin, lý tưởng… thành 1 khối thống nhất gọi là thế giới quan của 1 người, 1 cộng đồng ở 1 thời đại. Đó chính là toàn bộ những quan niệm về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân và cuộc sống của con người và loài người.

    Huyền thoại và Triết học đều đóng góp hình thành nên thế giới quan của 1 người. Huyền thoại yếu tố biểu tượng, cảm tính đóng vai trò chủ đạo còn triết học tư duy lý luận là chủ yếu và thông qua hệ thống các phạm trù triết học.

    Triết học cũng như thế giới quan được hình thành từ toàn bộ tri thức và kinh nghiệm sống của con người và xã hội loài người. Tri thức của các khoa học cụ thể thì đưa lại cơ sở trực tiếp cho sự hình thành những quan niêm nhất định về từng mặt, từng bộ phận của thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trình Bày Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Khả Năng Và Hiện Thực? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Nào Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Một Sô Ví Dụ Minh Hoạ
  • Khả Năng Và Hiện Thực: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa.
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì?
  • 7 Quy Tắc Kiến Tạo Hạnh Phúc Theo Triết Học Epicurus
  • Đôi Nét Về Chủ Nghĩa Hiện Sinh
  • Bài Giảng Thế Giới Quan Và Thế Giới Quan Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Thực Hiện Nghiên Cứu Khoa Học (Mục Tiêu Nghiên Cứu).
  • Thế Nào Là “cơ Sở Khoa Học” ?
  • Chủng Tộc: Một Khái Niệm Không Có Cơ Sở Khoa Học
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo
  • Tâm Lý Học Định Nghĩa Như Thế Nào Về Sự Sáng Tạo?
  • THẾ GIỚI QUAN VÀ THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC. Thế giới quan và các hình thức cơ bản của thế giới quan. Khái niệm về thế giới quan. Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới ấy. Những hình thức cơ bản của thế giớiquan. Có 3 hình thức cơ bản: Thế giới quan huyền thoại: là thế giới quan có nội dung pha trộn một cách không tự giác giữa thực và ảo. Thế giới quan quan huyền thoại đặc trưng cho “tư duy nguyên thuỷ”, được thê hiện rõ nét qua các các chuyên thần thoại, phản ánh nhận thức về thế giới của con người trong xã hội công xã nguyên thuỷ. Thế giới quan huyền thoại chủ yếu là sản hẩm của nhận thứccảm tính nên n hững gì trừu tượng thường được con người hình dung dưới những dạng sự vật cụ thể. Thiện và ác chẳng hạn. Đây là khái niệm thể hiện sự đáng giá về mặt giá trị của xã hội, song trong huyền thoại, thiện – ác được mô tả là những vật có hình dáng, có kích thước và có cả nơi cất giữ, bảo quản. Thế giới quan đó thể hiện đậm nét trí tưởng tượng của tư duy nguyên thủy. Thế giới quan tôn giáo: là thế giới quan có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lực lượng siêu nhân đối với thế giới, đối với con người, được thể hiện qua các hoạ động có tổ chức để suy tôn, sùng bái lực lượng siêu nhân ấy. Thế giới quan tôn giáo ra đời khi trình độ nhậh thức và khả năng hoạt động thực tiễn của con người rất thấp. Những hình thức sơ khai của thế giới quan này như Bái vật giá, Tôtem giáo, Ma thuật giáo, Linh Vật Giáo, Saman giáo thể hiện sự yếu đuối, bất lực, sợ hãi của con người trước những lực lượng tự nhiên cũng như lực lượng xã hội đã dẫn đến việc con người thần thánh hoá chúng, quy chúng về những sức mạnh tự nhiên và đi đến tôn thờ chúng. Theo Ph. Ăngghen, “tất cả mọi gtôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người -của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế. Đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin cao hơn lý trí, trong đó niềm tin vào một thế giới khác hoàn thiện, hoàn mỹ mà con người sẽ đến sau chết giữ vai trò chủ đạo. V.I.Lênin cho rằng:”Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống như sự bất lực của con người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu, v.v.” Thế giới quan triết học: là thế giới quan được thể hiện bằng hệ thống lý luận thông qua các khái niệm, các phạm trù, các quy luật. Nó không chỉ nêu ra các quan điể, quan niệm của con người về thế giới và về bản thân on người, mà còn chứng minh quan điểm, quan niệm đó bằng lý luận. Thế giới quan triết học và triết học không tách rời nhau. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là bộ phận quan trọng nhấtvì nó chi phối tất cả những quan điểm, quan niệm còn lại của thế giới quan như những quan điểm về đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v. Phân biệt thế giới quan triết học và thế giới quan khác, C.Mác viết:” … các vị hướng về tình cảm, triết học hướng về lý trí, các vị nguyền rủa, than vãn, triết học dạy bảo; các vị hứa hẹn thiên đường và toàn bộ thế giới, triết học không hứa hẹn gì cả ngoài chân lý; các vị đòi hỏi tin tưởng tín ngưỡng của các vị, triết học không đòi hỏi tin tưởng vào các kết luận của nó, nó đòi hỏi kiểm nghiệm những điều hoài nghi; các vị dọa dẫm, triết học an ủi. Và, thật thế, triết học biết cuộc sống khá đầy đủ để hiểu rằng những kết luận của nó không bao dung sự khao khát hưởng lac và lòng vị kỷ – của cả thiên giới lẫn thế giới trần tục”. Thế giới quan còn có thể chia thành thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm; thế giới quan khoa học và thế giới quan phản khoa học Thế giới quan duy vật và lịch sử phát triển thế giới quan duy vật. Thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật. Thế giới quan duy tâm là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới là tinh thần và thừa nhận vai trò quyết định của các yếu tố tinh thần đối với thế giới vật chất nói chung, đối với con người, xã hội loài người nói riêng. Thế giới quan duy tâm thể hiện rất đa dạng dưới nhiều cấp độ khác nhau. Tính đa dạng của thế giới quan duy tâm trước hết phụ thuộc vào tính đa dạng trong quan niệm về “tinh thần” của những người có thế giới quan này. Tinh thần có thể là ý thức của con người như ý trí, tình cảm, tri thức, kinh nghiệm, v.v.; cũng có thể là một bản nguyên bên ngoài con người như “tinh thần tối cao”, “ý niệm tuyệt đối, “đấng sáng tạo”, v.v. Thế giới quan duy vật là thế giới quan thừa nhận bản chất của thế giới vật chất, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị trí, vai trò của con người trong cuo sống hiện thực. Theo thế giới quan duy vật thì chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất không sinh ra, không bị mất đi, nó tồn tại vĩnh viễn, vô hạn, vô tận. Thế giới quan duy vật cũng thừa nhận sự tồn tại của các hiện tượng tinh thần song quan niệm mọi biểu hiện của tinh thần đều có nguồn gốc từ vật chất; vì vậy, trong mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần thì vật chất là cái có trước, tinh thần có sa và bị vật chất quyết định. Phân biệt giữa thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm, V.I.Lênin cho rằng:”Không trừ một trường hợp nào, chúng ta thấy rằng, đằng sau một đống thuật ngữ tinh vi mới, đằng sau cái mớ lộn xộn những nghị luận uyên thâm kinh viện, là hai đường lối cơ bản, hai khuynh hướng cơ bản trong cách giải quyết các vấn đề triết học”. Chủ nghĩa duy vật cho rằng giới tự nhiên là cái có trước, tinh thần là cái co sau; nó đặt tồn tại lên hàng đầu vào tư duy vào hàng thứ hai. Chủ nghĩa duy tâm thì ngược lại”. Như vậy theo Lênin, cơ sở quan trọng nhất để xác định một thếíơi quan nào đó thuộc về duy tâm hay duy vật – cho dù duy tâm dưới bất kỳ hình thứ nào (thô sơ, chất phac, tôn giáo hay văn minh, triết học) – là xem thế giới quan đó quan niệm như thế nào về vị trí, vai trò của vật chất, của ý thức trong mối quan hệ giữa chúng. Lịch sử phát triển của thế giới quan duy vật. Kể từ khi triết học ra đời, sự phát triển của thế giới quan duy vật gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Tương ứng với ba hình thức của của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình, chủ nghĩa duy vật biện chứng là ba hình thức cơ bản của thế giới quan: thế giới quan duy vật chất phác, thế giới quan duy vật siêu hình và thế giới quan duy vật biện chứng. Thế giới quan duy vật chất phác: Là thế giới quan thể hiện trình độ nhận thức ngây thơ, chất phác của những nhà duy vật. Nó thể hiện rõ nét ở thời cổ đại. Thế giới quan duy vật chất phác còn nhiều hạn chế, trong đó: Nhận thức của các nhà duy vật mang nặng tính trực quan, phỏng đoán chứ chưa có những chứng cứ khoa học vững chắc. Quan niệm vật chất là một hay một số chất đầu tiên sản sinh ra vạn vật chứng tỏ các nhà duy vật thời kỳ này đã đồng nhất vật chất với vật thể – một số dạng cụ thể vật chất. Việc đồng nhất vật chất với vật thể là một trong những nguyên hân dẫn đến nhiều hạn chế trong những lĩnh vực khác nhau. Điều này dẫn đến những quan điểm duy vật không triệt để: khi giải quyết các vấn đề về tự nhiên họ đứng trên quan điểm duy vật, còn khi giải quyết các vấn đề về xã hội họ đã trượt sang quan điểm duy tâm. Thế giới quan duy vật thời cổ đại chỉ dừng lại ở việc giải thích thế giới chứ chưa đóng được vai trò cải tạo thế giới. Thế giới quan duy vật siêu hình: Thể hiện rõ nét vào thế kỷ XVII-XVIII ở các nước Tây Âu. Thời kỳ này phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được xác lập ở nhiều nước. Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi khoa học tự nhiên có những bước phát triển mới, nhưng vào thế kỷ thứ XVII-XVIII, hóa học còn ở trong hình thức ấu trĩ, chủ yếu theo thuyết phlôgixtôn, sinh vật học ở trình độ phôi thai, v.v. Trong tất cả các khoa học tự nhiên, chỉ có cơ học về cơ bản đã đạt đến mức độ hoàn bị nên những định luật cơ học được coi là duy nhất đúng với mọi hoạt động nhận thức. Thế giới quan duy vật biện chứng: Thế giới quan duy vật biện chứng được C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng vào giữa thế kỷ XIX, V.I. Lênnin và những người kế tục ông phát triển. Sự ra đời của thế giới quan duy vật biện chứng là kết quả kế thừa tinh hoa các quan điểm về thế giới trước đó, trực tiếp là những quan điểm duy vật của Phoiơbắc và phép biện chứng của Heghen; là kết quả sử dụng tối ưu thành tựu của khoa hoc, trước hết là thành tựu của Vật lý và Sinh học. Sự ra đời của thế giới qun duy vật biện chứng còn là kết quả tổng kết các sự kiện lịch sử diễn ra ở các nước Tây Âu, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành và đã bộc lộ những mặt mạnh cũng như hạn chế của có. Nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng – đem lại cho chúng ta không chỉ một bức tranh trung thực về thế giới mà cò đem lại cho con người một định hướng, một phương pháp tư duy khoa học để con người tiếp tục nhận thứ và cải tạo thế giới. NỘI DUNG, BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỚI TƯ CÁCH LÀ HẠT NHÂN CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC. Nội dung của chủ nghĩa vật biện chứng. Thể hiện qua tất cả các quan điểm, quan niệm của nó song có thể nhận thức nội dung này qua quan điểm duy vật về thế giới nói chung và quan điểm duy vật về xã hội nói riêng. Quan điểm duy vật về thế giới. Kế thừa tư tưởng của các nhà triết học duy vật và căn cứ vào các thành tựu của khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đi đến khẳng định: bản chất của thế giới là vật chất; thế giới thống nhất ở tính vật chất và vật chất là thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức, quyết định ý thức và được ý thức phản ánh. Quan điểm duy vật về xã hội. Quan điểm duy vật về xã hội là một hệ thống quan điểm thống nhất chặt chẽ với nhau, về sự ra đời, tồn tại, vận động phát triển của xã hội và các lực lượng thực hiện nhiệm vụ lịch sử đặt ra trong sự vận động và phát triển ấy. Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng được thể hiện ở việc giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn, ở sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng, ở quan niệm duy vật triệt để và ở tính thực tiễn – cách mạng của nó. Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của Triết học trên quan điểm thực tiễn. Thực tiễn, với tư cách là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo hiện thực mà những dạng cơ bản của nó là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị – xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học, được các nhà duy vật biện chứng coi là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặc trưng cho con người. Hoạt động này là mắt khâu trung gian trong mối quan hệ giữa ý thức của con người với thế giới vật chất. Thông qua thực tiễn, ý thức con người được vật chất hóa, tư tưởng trở thành hiện thực. Thông qua thực tiễn, ý thức con người đã không chỉ phản ánh thế giới mà còn sáng tạo ra thế giới. Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng. Bằng việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với việc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C.Mác và Ph. Ăngghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí để hình thành nên chủ nghĩa duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng. Sự thống nhất này đã đem lại cho con người một quan niệm hoàn toàn mới về thế giới – quan niệm thế giới là một quá trình với tính cách là vật chất không ngừng vận động, chuyển hóa và phát triển. Quan niệm duy vật triệt để. Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để, vì họ không hiểu đúng về vật chất, không hiểu đúng nguồn gốc, bản chất của ý thức, thiếu quan điểm thực tiễn, thiếu phương pháp tư duy biện chứng và một số hạn chế khác về nhận thức, về lịch sử nên khi giải quyết những vấn đề xã hội, họ đã lấy các yếu tố tinh thần như tình cảm, ý chí, nguyện vọng, v.v. làm nền tảng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ là do đã khẳng định nguồn gốc vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, cính trị và tinh thần nói chung; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát trểin của xã hội loài người là một quá trình lịch sử – tự nhiên. Tính thực tiễn – cách mạng. Thể hiện ở: Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại; nó có lợi ích mục đích phù hợp với lợi ích cơ bản, mục đích cơ bản của nhân dân lao động và sự phát triển của xã hội. Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời đã được giai cấp vô sản tiếp nhận như một công cụ định hướng, một vũ khí lý luận trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân loại. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới. Sức mạh cả tạo thế giới của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện ở mối quan hệ mật thiết với hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên mọi lĩnh vực. Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định sự tất thắng cái mới. Ph.Ăngghen cho rằng không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả. Trên mọi sự vật và trong mọi sự vật đều mang dấu ấn của sự suy tàn tất yếu bởi không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao. Tính cách mạng sâu sắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện qua việc nó phản ánh đúng đắn các qui luật chi phối sự vận động và phát triển; qua đó, quá trình xoá bỏ cái cũ, cái lỗi thời để xác lập cái mới, cái tiến bộ hơn là tất yếu. NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG NÓ VÀO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Ở VIỆT NAM. Tôn trọng khách quan. Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Điều này đòi hỏi con người trong nhận thức và hành động của mình phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hành động của mình. Một số biểu hiện của việc tôn trọng khách quan là: Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, việc nhận định đúng thời cơ cách mạng để phát động quần chúng nổi dậy giành thắng lợi quyết định cho cách mạng là vấn đề hết sức quan trọng. Nếu phát động sớm, không đúng thời cơ, cách mạng sẽ gặp nhiều khó khăn, chiu nhiều tổn thất, nhưng trái lại nếu bỏ lỡ thời cơ lại là lỗi lầm lịch sử nguy hại cho cách mạng. Thời cơ có thể do hoàn cảnh bên ngoài đưa lại mang nhiều yếu tố bất ngờ; song nó phải được xem xét trong tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng ở trong nước. Một trong những bài học kinh nghiệm về phương pháp cách mạng của Đảng ta là nắm vũng phương châm chiến lược lâu dài, đồng thời biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đè bẹp quan địch giành thắng lợi cuối cùng. Trong khoảng 10 năm sau khi thống nhất đất nước, bên cạnh những thành tực đã đạt được, chúng ta nôn nóng, tách rời hiện thự, vi phạm nhiều quy luật khách quan trong đó quan trọng nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nên đã phạm những sai lầm trong việc xác định mục tiêu, xác định các bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế. Hiện nay thực trạng trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp; cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chưa đủ, chưa vững chắc, đời sống của nhân dân chưa cao, trong khi chúng ta còn nhiều tiềm năng cả về tài nguyên thiên nhiên, con người cũng như các quan hệ trong và ngoài nước mà chúng ta chưa khai thách một cách tốt nhất thì việc Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện công ngh hoá, hiện đạ hoá; thực hiện chủ trương nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phát huy tối ưu tài lực, trí lực, nhân lực còn tiềm tàng ấy, nhằm tạo ra sự chuyển hoá về chất trong toàn bộ đời sống xã hội để đáp ứng nhu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam đang đặt ra. Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng, phải tổ chức được lượng vật chất để thực hiện nó. Mục đích, đường lối, chủ trương thuộc lĩnh vực tư tưởng. Tự bản thân tư tưởng không thể trở thành hiện thực mà phải thông qua hoạt động của con người. Mặt khác, khi lịch sử đặt ra cho con người những nhiệm vụ phải giải quyết thì nó cũng đã sản sinh ra những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó nên vấn đề trọng yếu trước tiên, quyết định con người thành công hay thất bại là con người có tìm ra, có huy dộng được, có tổ chức được những yếu tố vật chất thành lực lượng vật chất để thực hiện mục đích, đường lối, chủ trương của mình hay không. Thời kỳ chiến tranh, chúng ta rất thành công trong việc huy động, tổ chức sức mạnh của mỗi người, mỗi vùng, sức mạnh của cả nước, sức mạnh trong và ngoài nướx, sức mạnh quá khứ và tương lai tạo nên một lực lượng vật chất khổng lồ của chiến tranh nhân dân, đánh bại những thế lực hơn chúng ta nhiều lần về tiềm lực kinh tế và quân sự để bảo vệ độc lập, chủ quyền hoàn toàn thống nhất đất nước. Ngày nay với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, chúng ta xác định:” động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội” chúng ta kêu gọi kiều bào ở nước ngoài về xây dựng đất nước và bằng chứng là đã có rất nhiều kiều bào ta ở nước ngoài đã trở về quê hương để kinh doanh góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Đây chính là tạo lực lượng vật chất để thực hiện nhiệm cách mạng trong giai đoạn mới. Phát huy tính năng động chủ quan. Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thưc và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa những tính chất ấy. Một số biểu hiện cơ bản: Phải tôn trọng tri thức khoa học. Tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới được khái quát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm. Tri thức khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người vì nó là một trong những động lực phát triển xã hội. Mọi bước tiến trong lịch sử nhân loại đều gắn liền với những thành tựu mới của tri thức khoa học. Tri thức khoa học thể hiện trong các khoa học khác nhau phản ánh những lĩnh vực khác nhau của thế giới, song bản thân các lĩnh vực khác nhau này không tồn tại cô lập, tách rời nhau nên tri thức khoa học phản ánh chúng không cô lập, tách rời nhau. Việc phân chia khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội, khoa học nhân văn hay khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, v.v. chỉ có tính tương đối. Vì vậy tôn trọng tri thức khoa học không chỉ là chống sự tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm, xem thường khoa học mà còn là không tuyệt đối hóa một loại khoa học nào trong hệ thống các khoa học. Đây là tiền đề giúp con người không chỉ hoạt động có hiệu quả trong ngành nghề của mình mà còn giúp con người thực hiện hoạt động ấy theo những giá trị nhân văn của xã hội. Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của khoa học, đối với cách mạng Việt Nam, Đảng và nhà nước ta khẳng định:” Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”; trong đó, “nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” nhằm “đào

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Giới Quan Khoa Học (1)
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?
  • Khám Phá Khoa Học Của Trẻ Mầm Non
  • Dạy Học Dựa Trên Tìm Tòi, Khám Phá Khoa Học
  • Khám Phá Khoa Học Và Sự Phát Triển Của Trẻ Mầm Non
  • Hocthue.net: Mối Quan Hệ Giữa Khách Quan Và Chủ Quan Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • 22 Từ Vựng Tiếng Anh Về Trường Phái Triết Học
  • Từ Lý Luận Triết Học Của C.mác Về Tư Bản, Phê Phán Những Quan Điểm Không Đúng Về Phạm Trù Tư Bản
  • Phải Chăng Việt Nam Đang Đi Theo Con Đường Tư Bản Chủ Nghĩa Và Trá Hình Chủ Nghĩa Xã Hội ?
  • Công Bằng Là Gì?
  •  1. Khái niệm “khách quan” và “chủ quan”

    Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để luận giải cho con người mối quan hệ giữa họ (con người có ý thức) với thế giới có con người (thế giới vật chất). Trong tính hiện thực lịch sử của nó, con người không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới bởi thực tiễn. Thực tiễn của con người, một mặt do có sự tham gia hướng dẫn của ý thức, mặt khác do yêu cầu về tính hiệu quả quy định nên tất yếu phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan.

    Phạm trù “khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thuộc vào một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể đó.

    Nói đến khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên ngoài và không lệ thuộc vào chủ thể hoạt động. Khách quan bao gồm: Những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan. Trong đó, quy luật khách quan luôn giữ vai trò quan trọng nhất. Triết học Mác-Lênin luôn xác định khách quan và chủ quan căn cứ theo những chủ thể nhất định trong mối quan hệ xác định với khách thể. Không phải mọi điều kiện, khả năng và quy luật khách quan bất kì, mà chỉ có những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan nào hợp thành một hoàn cảnh hiện thực thường xuyên tác động đến các hoạt động của một chủ thể xác định mới được coi là thuộc phạm trù khách quan đối với hoạt động của chủ thể ấy. Chính vì thế, với những chủ thể khác nhau, quan hệ khác nhau, lĩnh vực hoạt động khác nhau thì phạm vi, tính chất cái khách quan không hoàn toàn như nhau. Phạm trù khách quan luôn được đặt trong mối quan hệ với phạm trù chủ quan.

    Phạm trù “chủ quan” dùng để chỉ tất cả những gì cấu thành phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định, phản ánh vai trò của chủ thể ấy đối với những hoàn cảnh hiện thực khách quan trong hoạt động nhận thức và cải tạo khách thể.

    Chủ quan, trước hết bao gồm tất cả những gì cấu thành và phản ánh trình độ phát triển về phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định. Theo đó, phải kể đến phẩm chất tư duy, trình độ hiểu biết, đến tình cảm, ý chí, nguyện vọng và thể chất của chủ thể. Nói đến chủ quan là nói đến sức mạnh hiện thực bên trong của chủ thể. Đến lượt nó, sức mạnh ấy lại luôn được biểu hiện ra ở năng lực tổ chức hoạt động (nhận thức và thực tiễn) của chủ thể mà tiêu thức cơ bản, quyết định để đánh giá năng lực ấy là sự phù hợp giữa hoạt động của chủ thể với điều kiện, khả năng và quy luật khách quan.

    Như vậy, phạm trù khách quan và chủ quan không đồng nhất với phạm trù vật chất và ý thức. Bởi vì, phạm trù vật chất và ý thức dùng để khái quát bản chất và mối quan hệ giữa hai hiện tượng chung nhất của thế giới, từ đó để xác định một thế giới quan nhất định – duy vật hoặc duy tâm. Trong khi đó, phạm trù khách quan và chủ quan dùng để khái quát bản chất mối quan hệ giữa thế giới bên ngoài hiện thực với sức mạnh bên trong của một chủ thể xác định (một người, một tập thể, một tập đoàn, một giai cấp…) trong toàn bộ hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới đó. Do đó, khách quan và chủ quan chỉ là nói trong những quan hệ xác định, ngoài quan hệ đó ra, sự phân biệt khách quan, chủ quan chỉ có ý nghĩa tương đối. Có hiện tượng trong quan hệ này thì thuộc về khách quan, nhưng trong quan hệ khác lại thuộc phạm trù chủ quan và ngược lại. Tuy nhiên, nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của triết học Mác-Lênin trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vẫn là cơ sở khoa học để vận dụng vào việc giải quyết mối quan hệ khách quan và chủ quan.

    2. Mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan

    Khách quan và chủ quan là hai mặt, hai yếu tố không thể tách rời trong mọi hoạt động của mỗi chủ thể. Nhưng tính chất của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới lại luôn đòi hỏi chủ thể phải giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan sao cho phù hợp với vai trò, vị trí thực sự của con người trong thế giới – nghĩa là phải phù hợp với lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.

    Trong mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan thì suy đến cùng, khách quan bao giờ cùng là cơ sở, tiền đề và giữ vai trò quyết định chủ quan. Bởi vì, các điều kiện, khả năng và quy luật khách quan, không những luôn tồn tại độc lập không lệ thuộc vào chủ thể, luôn buộc chủ thể phải tính đến trước tiên trong mọi hoạt động, mà còn là cội nguồn làm nảy sinh mọi tri thức, tình cảm, ý chí và nguyện vọng của chủ thể. Cả lí luận và thực tiễn đều cho thấy, nếu chỉ bằng nỗ lực chủ quan của mình, con người chưa và không bao giờ xóa bỏ được bất cứ một điều kiện, khả năng hay quy luật khách quan nào. Trái lại, chính những điều kiện khách quan hợp thành hoàn cảnh, môi trường sống và hoạt động hiện thực của con người và chính việc con người nhận thức được sự vận động, biến đổi của những khả năng và quy luật khách quan là điểm xuất phát, là tiền đề làm nảy sinh ở họ những dự kiến, những kế hoạch, hình thành nên trong họ ý chí, quyết tâm hành động cải biến hiện thực vì nhu cầu lợi ích của mình.

    Do bản chất năng động vốn có của mình quy định nên con người luôn vươn tới tự do trong mọi hoạt động. Nhưng con người chỉ được tự do hành động trong chừng mực họ nhận thức được ngày càng sâu sắc hơn các điều kiện, khả năng và quy luật khách quan. Không phải thế giới khách quan khuôn theo ý chí, nguyện vọng chủ quan của con người, mà trái lại, ý chí, nguyện vọng của con người chỉ đúng khi nó phản ánh được sự vận động biến đổi của những điều kiện, khả năng và quy luật vốn có của thế giới khách quan. Nói cách khác, khách quan quy định nội dung và sự vận động biến đổi của chủ quan.

    Giữa các chủ thể có sự khác nhau là ở tính năng động chủ quan trong nhận thức và hành động. Nhưng giới hạn của tính năng động ấy cũng do khách quan quy định. Chủ thể không thể tùy thích đặt ra cho mình những nhiệm vụ, không thể tự mình sáng tạo ra những mục tiêu, phương pháp khi mà quy luật khách quan không cho phép, khi mà điều kiện lịch sử chưa chín muồi. Nói cách khác, mọi hoạt động của con người chỉ là sự phản ánh và hiện thực hóa những nhu cầu đã chín muồi của đời sống xã hội. Những nhiệm vụ mà con người phải giải quyết là những nhiệm vụ do lịch sử đề ra và quy định nội dung, biện pháp giải quyết. Chúng ta đạt được những thành công trong việc cải tạo hiện thực là do sự phản ánh đúng và hành động theo những quan hệ tất yếu của hiện thực chứ không phải là do những ảo tưởng chủ quan của mình. Tuy vậy, trong khi khẳng định khách quan là nhân tố có vai trò quyết định, triết học Mác-Lênin không những không phủ nhận mà còn đánh giá cao vai trò của tính năng động chủ quan.

    Nói đến vai trò của nhân tố chủ quan là nói đến vai trò của con người trong hoạt động (nhận thức và thực tiễn) để cải biến và thống trị thế giới của họ. Con người, do bản chất xã hội của họ quy định, nên luôn có nhu cầu và khả năng tổ chức các hoạt động khám phá thế giới khách quan. Trên cơ sở đó, con người nâng cao tri thức, phát triển ý chí, tình cảm của mình theo hướng ngày càng phù hợp hơn với điều kiện, khả năng và quy luật khách quan của hiện thực. Cũng nhờ đó mà đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như chủ trương, biện pháp mà con người vạch ra ngày càng đúng đắn hơn, ít mang tính chất chủ quan duy ý chí hơn. Nói cách khác, đó cũng chính là quá trình nhân tố chủ quan của chủ thể ngày càng được khách quan hóa. Đồng thời, chính điều đó lại góp phần nâng cao quyền lực của con người trong việc làm biến đổi thế giới khách quan theo ý chí, nguyện vọng và nhu cầu của họ. Điều đó cũng có nghĩa con người ngày càng trở thành chủ thể thực sự của thế giới khách quan, hay thế giới khách quan ngày càng bị chủ quan hóa bởi hoạt động cải biến của con người.

    Mặc dù mọi hoạt động của con người đều phải dựa vào những điều kiện khách quan nhất định, nhưng con người không thụ động chờ đợi sự chín muồi của điều kiện khách quan, mà trái lại, có thể dựa vào năng lực chủ quan của mình để phát hiện các điều kiện khách quan và dựa vào các điều kiện đó để tổ chức, xúc tiến tạo ra những điều kiện khách quan khác cần thiết cho những nhiệm vụ cụ thể của mình. Bằng cách đó, con người có thể thúc đẩy nhanh hơn tiến trình biến khả năng thành hiện thực. Tương tự, trong một phạm vi, một sự vật hiện tượng cụ thể, tiến trình khách quan có thể có nhiều con đường, nhiều khả năng phát triển. Ở đây, vai trò của con người có thể dựa vào năng lực vốn có của mình để lựa chọn, tác động sao cho chỉ một con đường, một khả năng khách quan nào đó phù hợp nhất với tiến trình lịch sử cụ thể và nhu cầu của mình. Bằng cách đó, như thực tế lịch sử cho thấy, con người có thể đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình phát triển của sự vật mà vẫn bảo đảm tính lịch sử tự nhiên của nó. Cuối cùng, vai trò to lớn của nhân tố chủ quan còn thể hiện ở chỗ, mặc dù không xóa bỏ hoặc sáng tạo ra bất cứ quy luật khách quan nào, nhưng bằng năng lực chủ quan của mình, con người có thể điều chỉnh hình thức tác động của quy luật khách quan và kết hợp một cách khéo léo sự tác động tổng hợp của nhiều quy luật theo hướng phục vụ tốt nhất cho mục đích của mình. Sở dĩ như vậy là vì tính tất yếu về sự tác động của quy luật khách quan không mâu thuẫn với tính phong phú về hình thức và trật tự tác động của nó trong những điều kiện cụ thể khác nhau; mà việc làm biến đổi những điều kiện này lại nằm trong khả năng thực tế của con người.

    Tóm lại, “thế giới không thỏa mãn con người, và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình” . Nhưng hành động biến đổi thế giới của con người chỉ có hiệu quả khi nó được thực hiện bởi những công cụ, phương tiện vật chất và phù hợp với quy luật vốn có của thế giới vật chất, nghĩa là hành động ấy luôn là một thể thống nhất giữa nhận thức và thực tiễn. Quá trình thực tiễn – nhận thức – thực tiễn là một quá trình vô tận với sự chuyển hóa không ngừng giữa khách quan và chủ quan theo hướng đứa con người trở thành chủ thể thực sự của thế giới khách quan. Đó chính là quá trình biện chứng “khách quan hóa chủ quan và chủ quan hóa khách quan”, chống “khách quan chủ nghĩa” và chống “chủ quan duy ý chí”.

    Ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

    Việc nghiên cứu mối quan hệ khách quan và chủ quan theo lập trường duy vật biện chứng có ý nghĩa chỉ đạo rất sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.

    Khách quan là nhân tố giữ vai trò quyết định chủ quan nên trong nhận thức và thực tiễn phải nắm vững một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận khoa học là nguyên tắc khách quan. Phải luôn tôn trọng khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan; đóng thời phát huy tính năng động, sáng tạo chủ quan trong nhận thức và thực tiễn.

    Phải lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, thiếu trung thực. Nhận thức đúng đắn khách quan là tiền đề xác định mục tiêu, phương hướng, nội dung, biện pháp phù hợp làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn của chủ thể từng bước cải biến khách quan theo mục đích đặt ra.

    Do vai trò chủ động của nhân tố chủ quan nên trong nhận thức và thực tiễn phải biết trên cơ sở tôn trọng khách quan để phát huy cao độ tính năng động chủ quan. Trên cơ sở “cái” khách quan đã được nhận thức để huy động, phát huy cao nhất mọi phẩm chất và năng lực của chủ thể vào việc nghiên cứu, phát hiện, lựa chọn ra con đường, những biện pháp, hình thức, bước đi, những công cụ và phương tiện phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động. Phát huy tính năng động chủ quan cũng đồng thời bao hàm việc phê phán, đấu tranh khắc phục tư tưởng thụ động, ỷ lại, bó tay, phó mặc trước khó khăn của hiện thực cuộc sống.

    Mặt khác, tôn trọng khách quan cũng đồng thời kiên quyết khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí – lấy ý chí chủ quan áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực. Cần khắc phục thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ trong các hoạt động của con người.

    Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nắm vững quan điểm của triết học Mác-Lênin về mối quan hệ khách quan và chủ quan, vận dụng vào việc xác định đường lối, mục tiêu, phương hướng và phương pháp cách mạng; đồng thời cũng cho thấy, việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ này là cả một quá trình nghiên cứu, tìm tòi với nhiều khó khăn và phức tạp.

    Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện và sâu sắc với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, quyết tâm sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm để đưa cách mạng nước ta tiến lên. Đảng đã rút ra bài học: Mọi đường lối, chủ trơng của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững vừa cần tránh sai lầm chủ quan nóng vội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa phải biết “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam; đổi mới phải dựa vào dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn và luôn luôn sáng tạo. Đồng thời, cũng từ chính những sai lầm, thất bại trong thực tiễn cách mạng mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, phải ra sức học tập lí luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để hành động theo quy luật khách quan, chống duy tâm, duy ý chí, nóng vội chủ quan, cũng như thái độ bảo thủ, tâm lí ỷ lại, thụ động, trì trệ.

    Để tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước toàn diện trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển xã hội; nâng cao trình độ tri thức khoa học cho toàn dân và trình độ chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện xã hội thông tin, văn minh trí tuệ hiện nay. Mặt khác, phải bồi dưỡng lí tưởng, niềm tin, nhiệt tình cách mạng cho quần chúng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên, cán bộ, đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học, phẩm chất và năng lực, đạo đức và tài năng.

    Để khắc phục có hiệu quả bệnh chủ quan, duy ý chí, bảo thủ, trì trệ, thói quen ỷ lại, cần phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết, phải đổi mới tư duy lí luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lí luận; kết hợp đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khách Quan Là Gì, Chủ Quan Là Gì. Phân Biệt Chủ Quan & Khách Quan
  • Ý Thức Là Gì? – Các Thuộc Tính Và Cấu Trúc Của Ý Thức
  • Sáng Tạo Là Gì, Định Nghĩa Đúng Về Sáng Tạo
  • Bản Chất Của Niềm Tin
  • Ý Nghĩa Tên Vũ Là Gì Và Cách Đặt Tên Vũ Cho Bé Trai Và Bé Gái
  • Thế Giới Quan, Vai Trò Của Thế Giới Quan Trong Đời Sống Xã Hội, Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Xác Định Ranh Giới Với Thửa Đất Liền Kề Như Thế Nào Để Làm Sổ Đỏ ?
  • Ranh Giới Với Thửa Đất Liền Kề Được Xác Định Như Thế Nào?
  • Xác Nhận Ranh Giới Thửa Đất Liền Kề Như Thế Nào?
  • Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường
  • Bản Mô Tả Ranh Giới Thửa Đất
  • Vậy thế giới quan là hệ thống những quan niệm, quan điếm của con người vế thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân và cuộc sống của con người nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa cuộc sổng của con người.

    1.2. Nguồn gốc của thế giới quan

    Thế giới quan, tức những quan niệm của con người về thế giới, không phải là cái tồn tại sẵn trong con người, cũng không phải là cái có sẵn trong tự nhiên. Nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức của một người nói riêng, cũng như lịch sử nhận thức của loài người nói chung cho thấy quan niệm về thế giới của cá nhân con người cũng như của cộng đồng xã hội, không phải là cái có sẵn và bất biến, mà nó được hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người phản ánh hiện thực khách quan. Thí dụ, thế giới quan của Mác và Ăngghen cũng có sự thay đổi rất căn bản, chuyển từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng, sang lập trường cộng sản trong quá trình các ông hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn. Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp có điều kiện và hoàn cảnh sống khác nhau, có những nhu cầu và lợi ích khác nhau, do vậy cũng nảy sinh các thế giới quan khác nhau. Các thời đại lịch sử khác nhau, do trình độ phát triển sản xuất và trình độ nhận thức của con người khác nhau, nên thế giới quan của mỗi thời đại cũng khác nhau. Vì vậy thế giới quan là hiện tượng xã hội phức tạp, có nguồn gốc từ thực tiễn xã hội. Thế giới quan là sản phẩm của lịch sử, là kết quả của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người, nó thay đổi trong quá trình phát triển xã hội.

    1.3. Nội dung và hình thức của thế giới quan

    Nội dung phản ánh của thế giới quan bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có thể chia thành ba lĩnh vực cơ bản là: 1) các đối tượng bên ngoài chủ thể; 2) những quá trình diễn ra trong bản thân chủ thể; 3) quan hệ giữa chủ thể và các đối tượng bên ngoài chủ thể. ba lĩnh vực này đều thể hiện nhận thức của con người về thế giới, con người và vị trí của con người trong thế giới đó.

    Hình thức thể hiện của thế giới quan có thể bằng các quan điểm, quan niệm khái quát nhất định nào đó, cũng có thể bằng một hệ thống lý luận với các khái niệm, phạm trù quan hệ chặt chẽ với nhau, thí dụ, hệ thống triết học, hệ thống lý luận chính trị, kinh tế v.v.

    1.4. Kết cấu thế giới quan

    Thế giới quan có kết cấu phức tạp. Đó là sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin, lý trí và tình cảm.

    Để hiểu kết cấu thế giói quan, cần phân biệt thế giới quan với ý thức.

    Khái niệm thế giới quan và khái niệm ý thức có quan hệ với nhau, nhưng không đồng nhất với nhau. Trong triết học khái niệm ý thức chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần diễn ra trong đầu óc con người. Các hiện tượng đó về thực chất đều là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người, là sản phẩm hoạt động chức năng của một dạng vật chất có tổ chức cao là não người trong quá trình phản ánh thế giới. Xét về yếu tố cấu thành ý thức và cấu thành thế giới quan, chúng đều bao gồm tri thức, niềm tin, ý chí, tình cảm. Trong khái niệm ý thức, những yếu tố tri thức, niềm tin, ý chí, tình cảm chưa đòi hỏi phải hoà quyện với nhau thành hệ thống, thành một thể thống nhất. Nó có thể chỉ là những yếu tố rời rạc của ý thức, thậm chí còn có thể mâu thuẫn nhau. Nhưng trong khái niệm thế giới quan thì tri thức, niềm tin, lý trí, tình cảm phải hoà quyện với nhau thành một thể thống nhất, thành các quan niệm nhất quán với nhau trong việc giải thích thế giới và vị trí con người trong thế giới. Có thể nói ý thức là khái niệm bao quát phạm vi rộng hơn khái niệm thế giới quan. Thế giới quan là bộ phận tinh túy của ý thức, là bộ phận ý thức tổng hợp đã được tu chỉnh, sàng lọc, vì vậy thế giới quan trở nên sâu sắc và tương đối ổn định, chính vì vậy, thế giới quan mới đóng vai trò vạch ra phương hưómg cho hoạt động thực tiễn của con người.

    Quan hệ giữa thế giới quan và tri thức là quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận. Thế giới quan là cái toàn thể bao hàm tri thức. Tri thức là bộ phận họp thành của thế giới quan. Tri thức tự bản thân nó chưa phải là thế giới quan. Thí dụ biết tạo ra lửa và biết dùng lửa vào cuộc sống để nấu chín thức ãn, chế tạo đồ gốm V.V., nhưng tri thức đó chỉ là sự hiểu biết đon lẻ về một hiện tượng của thế giới. Tri thức đó vẫn không thể giải thích được bản chất của thế giới trong đó lửa là một hiện tượng và quan hệ giữa thế giới đó với con ngưòi và hiểu biết của con người về thế giới và về lửa như thế nào.

    Tri thức là sự hiểu biết của con người về một lĩnh vực nhất định của thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người. Tri thức có nhiều loại khác nhau: Tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người. Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng tự bản thân nó tri thức chưa phải là thế giới quan. Tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi nó kết họp với các yếu tố lý trí, tình cảm, chuyển thành niềm tin của con người. Chỉ khi biến thành niềm tin, tri thức mới trở nên sâu sắc và bền vững, và mới trở thành cơ sở cho hoạt động của con người. Thí dụ khoa học đã chỉ ra xu hướng phát triển của xã hội loài người là tiến lên chủ nghĩa xã hội, con đường phát triên của xã hội Việt Nam hiện nay là đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên nếu tri thức này không trở thành niềm tin của đông đảo quần chúng nhân dân thì không thể bền vững, không thể là cơ sở cho hoạt động thực tiễn của hàng triệu người. Niềm tin là một trạng thái tinh thần thể hiện ý chí quyết tâm cao trong hoạt động của Cồn người nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định nào đó. Niềm tin có vai trò quan trọng trong đời sống của con người: Nó có thể làm tăng thêm sức lực của con người, giữ vững ý chí quyết tâm, giúp con người vượt qua mọi khó khăn gian khổ, thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho niềm tin đó.

    Trong thế giới quan còn có sự thống nhất giữa lý trí, trí tụê và tình cảm. Lý trí, trí tuệ là sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin. Thế giới quan thể hiện trình độ tương đổi cao của lý trí, trí tuệ. Nhưng lý trí đó không tách rời tình cảm. Tình cảm là một hình thức phản ánh đặc biệt mối quan hệ giữa con người với thế giới và giữa con người với nhau, thể hiện thái độ của con ngưòi về những tác động của thế giới xung quanh đối với bản thân. Tình cảm củng cố thêm lý trí, làm cho lý trí có chiều sâu và có sức mạnh.

    2. Các hình thức thế giới quan cơ bản trong lịch sử

    Trong lịch sử xã hội, thế giới quan được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó chủ yếu là các hình thức: huyền thoại, tôn giáo và triết học.

    2.1. Thế giới quan huyền thoại

    Thế giới quan huyền thoại là hình thức thế giới quan đặc trưng của người nguyên thuỷ, trong giai đoạn sơ khai của lịch sử. Thế giới quan huyền thoại thể hiện qua các huyền thoại mà con người xây dựng nên để phản ánh hiện thực khách quan. Thế giới quan huyền thoại phản ánh những kết quả cảm nhận ban đầu của người nguyên thuỷ về tự nhiên và đời sống xã hội.

    Mỗi dân tộc đều có nhiều huyền thoại để giải thích nguồn gốc các hiện tượng tự nhiên xung quanh và nguồn gốc dân tộc mình. Thí dụ ở Việt Nam có huyền thoại về nàng Âu Cơ và chàng Lạc Long Quân gặp nhau, kết duyên với nhau, đẻ ra một bọc trăm trứng và nở ra 100 người con, 50 người lên rừng, 50 người xuống biển sinh sống cùng nhau. Đó chính là cách giải thích của thế giới quan huyền thoại về nguồn gổc các dân tộc Việt Nam tò xưa đến nay. Hay câu truyện huyền thoại về Son Tinh và Thuỷ Tinh cũng là quan niệm của người xưa về các hiện tượng thiên nhiên và con người đã phải chống chọi với các lực lượng tự nhiên như thế nào. Thần thoại Hy Lạp là bộ phận chủ yếu thể hiện thế giới quan huyền thoại của người Hy Lạp cổ đại. Thần thoại Hy Lạp đã giải thích nhiều hiện tượng tự nhiên như nguồn gốc của thế gian; giải thích về sự ra đời của trái đất, bầu trời, bóng tối, ánh sáng, địa ngục, tình yêu v.v. đều do các vị thần cai quản và quyết định.

    Đặc điểm của thế giới quan huyền thoại là các yếu tố hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và cái hoang đường, lý trí và tín ngưõng, tư duy và cảm xúc chưa phân biệt mà hoà quyện vào nhau. Tuy nhiên, thế giới quan huyền thoại không phải là sự phản ánh trực tiếp hiện thực khách quan, mà thực ra là sự nhận thức cảm tính – có hình ảnh về giới tự nhiên và đời sống xã hội của con người nguyên thuỷ, sự nhận thức mang tính chất liên tưởng cảm tính. Sự nhận thức đó được thực hiện trước hết bằng con đường so sánh môi trường xã hội mà trực tiếp và chủ yếu là quan hệ huyết thống với các hiện tượng tự nhiên đầy bí ẩn. Sự nhận biết, so sánh các hiện tượng tự nhiên và các quan hệ huyết thống như vậy đã diễn ra với một ý thức đang biến đổi, dù rất chậm chạp của con người nguyên thuỷ. Do vậy thế giới quan huyền thoại không nhũng phản ánh quan hệ luôn biến đổi giữa con người với tự nhiên, giữa các hình thức cộng đồng của con người, mà còn phản ánh cả những sự biến đổi, tiến bộ trong bản thân ý thức của “con người có lý tính”, trong bản thân tư duy của “con người có lý tính đó” mà nội dung biểu cảm của nó ngày càng tích tụ thêm các yếu tố lôgic – khái niệm.

    Thế giới quan huyền thoại phản ánh sự phân biệt giữa “cái tôi” và “cái không tôi” trong ý thức của con người nguyên thuỳ vẫn cũng hết sức mờ nhạt. Con người vẫn còn tự coi mình là một bộ phận không thê tách rời của thế giới tự nhiên. Tính chủ quan của con người mới ở tình trạng phôi thai. Đây là đặc trưng rất quan trọng của ý thức con người cổ đại được phản ánh trong thế giới quan huyền thoại.

    Một đặc điểm nữa của thế giới quan huyền thoại là nó phân biệt hết sức mờ nhạt cái chỉnh thể với cái bộ phận, cũng như các bộ phận với nhau. Đối với tư duy huyền thoại, thế giới xung quanh có nhiều điểm chung hơn, thậm chí yếu tố đồng nhất còn là nhiều hơn so với những điểm khác biệt, cá biệt. Theo lôgic đó thì mọi sự vật đều có thể trở thành bất kỳ một sự vật nào khác. Trong huyền thoại, các yếu tố tri thức và lôgic chưa chiếm ưu thế so với niềm tin, tuy nhiên đó lại là cái để phân biệt với tôn giáo.

    2.2. Thế giới quan tôn giáo

    Thế giới quan tôn giáo là hình thức thế giới quan phản ánh hiện thực khách quan một cách hư ảo, là sự giải thích thế giới trên cơ sở thừa nhận sự sáng tạo của một lực lượng siêu nhiên, thần bí. Thế giới quan tôn giáo ra đời trong điều kiện trình độ nhận thức và thực tiễn của con người còn hết sức thấp kém, con người bất lực trước những lực lượng tự nhiên như sấm, sét, bão, lụt, động đất… Bên cạnh đó, con người còn bất lực trước cả những hiện tượng xã hội mà con người gặp phải như chiến tranh, áp bức bóc lột, bất công trong xã hội v.v. Con người đã thần thánh hoá những lực lượng tự nhiên và xã hội đó, gán cho chúng một bản chất siêu tự nhiên. Điều đó có nguyên nhân từ chính những quan hệ xã hội hiện thực hay từ tồn tại xã hội.Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghencủa thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” 7 lời nói đầu, c. Mác viết: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng (tức nhà nước, xã hội ấy – DVT nhấn mạnh) là thế giới lộn ngược. Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là lôgic dưới hình thức phổ cập của nó” 7. Như vậy thế giới quan tôn giáo là thế giới quan lộn ngược, phản ánh sai lệch mối quan hệ của hiện thực khách quan, không phải là thế giới quan khoa học. Tuy nhiên, với sự ra đời của tôn giáo, thế eiới auan tìm được một hình thức mới để thể hiện tính đa dạng của mình, đồng thời cũng được củng cố vững chắc và thâm nhập sâu hơn vào cuộc sổng thường ngày của con người. 7. “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim

    Đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin vào sự tồn tại và sức mạnh vô hạn của thế giới thần thánh, của lực lượng siêu tự nhiên, con người bất lực và luôn phụ thuộc vào thế giới siêu nhiên đó. Đối với thế giới thần thánh đó con người chỉ là kẻ cầu xin và phục tùng, chứ không phải là kẻ sáng tạo như trong huyền thoại.

    Tuy nhiên cần thấy một khía cạnh khác của thế giới quan tôn giáo, đó là sự thể hiện khát vọng được giải thoát khỏi những khổ đau, được an ủi về mặt tinh thần và vươn tới một thế giới hạnh phúc, thánh thiện của con người. Mặt này của thế giới quan tôn giáo đáp ứng yêu cầu đời sống tình cảm đạo đức, đời sống tâm linh của con người làm cho thế giới quan tôn giáo tồn tại lâu dài trong hầu hết các dân tộc trên thế giới và ảnh hưởng đến đời sổng tinh thần của xã hội với nhiếu mức độ sâu sắc khác nhau.

    2.3. Thế giới quan triết học

    Thế giới quan triết học là hình thức thế giới quan được thể hiện bằng hệ thống lý luận, hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật. Thế giới quan triết học và triết học không đồng nhất với nhau. Triết học luận giải vấn đề cơ bản của thế giới quan, như bản chất của thế giới là gì, con người, xã hội và ý thức của con người quan hệ với thế giới như thế nào. Khi giải quyết những vấn đề cơ bản của thế giới quan nói trên, triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận của thế giới quan triết học. Thế giới quan triết học ngoài những vấn đề cơ bản đó, còn bao hàm hệ thống quan điểm của con người trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội mà triết học không bao quát. Giống như triết học thế giới quan triết học không đon giản chỉ nêu lên các quan niệm của con người về thế giới mà còn cố gắng tìm cách giải thích, chứng minh các quan niệm đó bằng những tài liệu khoa học và những suy luận lôgic. Sự phát triển của thế giới quan triết học luôn gắn với sự phát triển của nhận thức khoa học và thực tiễn xã hội.

    Thế giới quan triết học và các tài liệu khoa học có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không đồng nhất với nhau. Thế giới quan triết học dựa vào các tài liệu khoa học để đưa ra những quan điểm khái quát, tổng họp về thế giới, về mối quan hệ bản chất của thế giới. Thí dụ, thế giới quan triết học duy vật dựa vào tài liệu sinh học nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh lý của bộ não người và các hiện tượng ý thức. Những tài liệu đó chứng minh rằng con người phải có cấu tạo sinh học bình thường, có bộ não phát triển bình thường mới có quá trình ý thức bình thường. Khái quát những tài liệu đó thế giới quan triết học duy vật đi đến nhận định chung là: Não là cơ quan sinh ra ý thức, ý thức là chức năng của não. Ý thức không tồn tại độc lập ngoài bộ não con người và không thể là nguyên nhân sinh ra bộ não con người nói riêng và thế giới vật chất nói chung.

    Triết học và thế giới quan triết học ra đời trong điều kiện trình độ thực tiễn và trình độ tư duy của con người có bước phát triển cao hơn so với điều kiện ra đời của thế giới quan huyền thoại và tôn giáo. Sự phát triển của sản xuất đã đưa đến sự phân công lao động ngày càng sâu, lực lượng sản xuất phát triển làm xuất hiện chế độ tư hữu, xuất hiện giai cấp và tầng lớp lao động trí óc trong xã hội. Điều đó làm cho tính tích cực của tư duy con người có bước chuyển về chất. Con người bước đầu có ý thức về mình như một thực thể tách khỏi giới tự nhiên. Tư duy con người hướng sự suy ngẫm, sự đánh giá vào chính hoạt động của bản thân mình. Khác với huyền thoại và tôn giáo, triết học diễn tả những vấn đề của thế giới quan triết học không phải bằng những hình tượng huyền thoại, hoặc bằng niềm tin tôn giáo, mà bằng một hệ thống các khái niệm, phạm trù lý luận. Nếu trong huyền thoại yếu tố biểu tượng cảm tính, trong tôn giáo yếu tố niềm tin mãnh liệt vào lực lượng siêu tự nhiên đóng vai trò chủ đạo, thì trong triết học và thế giới quan triết học yếu tố tư duy lý luận đóng vai trò chủ đạo. Triết học và thế giới quan triết học không chỉ nêu ra các quan điểm của mình mà còn chứng minh các quan điểm đó bằng lý tính, hay sự suy luận lôgic. Hơn nữa, ngay từ khi mới ra đời, triết học đã tồn tại như là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vế vị trí của con người trong thế giới đó. Chẳng hạn những vấn đề về bản chất thế giới là gì; nguồn gốc và bản chất ý thức, tư duy con người là gì’ nguôn Pốc bản chẩt tri thức bản chất ợuá trình nhận thức của con người là thế nào? y.v. Đó là những vấn đề chung của thế giới quan mà chỉ có triết học mới có thể giải quyết được. Với ý nghĩa đó, triết học được coi là cơ sở lý luận, là “hạt nhân” lý luận của thể giới quan triết học. Gọi là “hạt nhân” lý luận của thế giới quan triết học vì ngoài các quan điểm triết học, thế giới quan triết học còn thể hiện ở các quan điểm chính trị, kinh tế, đạo đức, thẩm mỹ v.v…, nhưng các quan điểm đó đều dựa trên cơ sở lý luận chung là triết học.

    Tóm lại, triết học là lý luận về thế giới quan triết học, là sự thể hiện cô đọng và tập trung thế giới quan của một giai cấp, một thời đại nhất định. Triết học thể hiện trình độ cao của tư duy con người và trình độ tự giác trong quá trình phát triển của thế giới quan.

    Tuy nhiên không phải triết học nào cũng phản ánh đúng hiện thực khách quan, do vậy không phải íriết học nào cũng là khoa học. Điều đó cho thấy không phải thế giới quan triết học nào cũng là thế giói quan khoa học.

    3. Vai trò của thế giới quan trong đời sống xã hội

    Thế giới quan có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi con người, mỗi giai cấp, mỗi cộng đồng và trong đời sống của xã hội nói chung. Hoạt động của con người luôn bị chi phối bởi một thế giới quan nhất định. Những yếu tố cấu thành thế giới quan như tri thức, niềm tin, lý tri, tình cảm luôn thống nhất với nhau và thống nhất trong các hoạt động của con người, cả hoạt động nhận thức, cả hoạt động thực tiễn để chi phối các hoạt động đó.

    Thế giới quan có thể hướng dẫn con người nhận thức đúng hoặc không đúng sự vật. Nếu được hướng dẫn bởi thế giới quan khoa học, con người sẽ xác định đúng mối quan hệ giữa con người và đối tượng, trên cơ sở đó nhận thức đúng quy luật vận động của đối tượng, từ đó có thể xác định đúng phương hướng, mục tiêu và cách thức hoạt động của con người. Ngược lại, nếu được hướng dẫn bởi một thế giới quan không khoa học, con người không xác định đúng mối quan hệ giữa con người và đối tượng, không nhận thức đúng quy luật của đối tượng, con người sẽ không xác định đúng mục tiêu, phương hướng và cách thức hoạt động, từ đỏ hoạt động không đạt kết quả như mong muốn. Thí dụ, nếu dựa trên thế giới quan tôn giáo, thừa nhận có lực lượng siêu nhiên mà con người hoàn toàn phải phục tùng, con người không có vai trò gì đối với đời sống xã hội, điều đó sẽ làm cho con người không tích cực hoạt động, không phát huy tính chủ động sáng tạo của mình. Vậy, có thể coi thế giới quan đóng vai trò như là “lăng kính”, qua đó con người xem xét, nhìn nhận thế giới và chỉ đạo hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới.

    Vai trò của thế giới quan trong đời sống của con người có thể được thể hiện trên các mặt sau:

    Một là, nhờ xác định được những mối liên hệ chung của thế giới và vị trí của con người ừong thế giới nên thế giới quan giúp con người xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Nói cách khác, thế giới quan giúp con người có thể định hướng cho cuộc sống của mình bằng việc xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật & Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 The Gioi Quan Duy Vay Va Phuong Phap Luan Bien Chung Doc
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 10 Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng ( Tiết 1)
  • Những Điều Cần Biết Về Phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ
  • Phương Tiện Giao Thông Cơ Giới Đường Bộ Gồm Những Gì?
  • Triết Học Phương Đông Và Vật Lí Học Đã Quan Niệm “không Gian ¬ Thời Gian” Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Mqh Tom Tat Cac Quan Niem Cua Cac Nha Duy Vat Truoc Mac Ve Vat Chat Nhu Docx
  • Chương 1 Vật Lý Hiện Đại
  • Vật Lý Học Vat Ly Hoc Doc
  • Những Vấn Đề Chung Về Tạo Động Lực Lao Động
  • Những Phương Pháp Tạo Động Lực Cho Nhân Viên Hiệu Quả Nhất Của Các Nhà Quản Trị
  • Vật lí học, từ khi được coi là một khoa học đã trải qua một quá trình phát triển khoảng bốn trăm năm. Trong khoảng thời gian đó, vật lí học đã trải qua thời kì cổ điển, khắc phục một cuộc khủng hoảng để tiến vào thời kì hiện đại cho đến nay.

    Nói chung, cơ sở triết học của vật lí cổ điển là chủ nghĩa duy vật siêu hình, còn cơ sở triết học của vật lí học hiện đại là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Tuy vậy, cuộc đấu tranh triết học trong vật lí đó gắn liền với cuộc đấu tranh triết học trong xã hội giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, trong cuộc đan xen với cuộc đấu tranh giữa phép siêu hình và phép biện chứng là rất phúc tạp.

    Từ khi bước sang thời kì hiện đại, vật lí học ngày càng đi sâu vào thế giới vi mô, phát hiện ra nhiều thuộc tính mới lạ của vật chất, nền vật lý hiện đại có ảnh hưởng sâu đậm hầu như trên mọi hình thái của xã hội loài người. Nó biến đổi sâu xa điều kiện sống của chúng ta. Thật ra, ảnh hưởng của vật lý hiện đại vượt xa kỹ thuật, nó vươn dài đến tận tư tưởng, văn hoá và dẫn đến một sự thay đổi cơ bản về thế giới quan cũng như mối quan hệ của con người với vũ trụ.

    Các khái niệm vật lý hiện đại cho thấy một sự song song bất ngờ với các quan niệm đã được đề ra trong các nền triết lí đạo đức mà cụ thể ở đây là khái niệm “không gian – thời gian”. Dù sự song hành này chưa được đề cập đến một cách cặn kẽ nhưng nó đã được nhiều nhà vật lý lớn nhất của thế kỷ này ghi nhận.

    Trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hiểu thế nào về khái niệm về không gian và thời gian chiếm vị trí quan trọng, chúng quan trọng ở chỗ không những trong đời sống hàng ngày, mà còn nhờ nó để tìm hiểu thế giới tự nhiên thông qua triết học và khoa học.

    I. Những điểm tương đồng và những điều khác biệt trong nhận thức thế giới

    Một câu hỏi được đặt ra là: Làm sao có thể so sánh được khi mà một bên là nền khoa học chính xác, dựa trên ngôn ngữ phức tạp cua ngành toán hoc hiện đại còn một bên là môn tu học tâm thức, chủ yếu dựa trên thiền định quan sát rồi lại còn cho rằng tri kiến của họ không thể dùng ngôn từ để diễn tả?

    Xuyên suốt toàn bộ lịch sử, ta nhận ra rằng tâm thức con người có hai cách nhận định, hai cách đó có khi được gọi là suy luận và trực giác, suy luận thường được gắn liền với khoa học còn trực giác gắn liền với tôn giáo. Tại phương Tây thì lối tư duy trực giác, tôn giáo hay bị đánh giá thấp so với tư duy khoa học có tính lý luận; trong lúc đó phương Đông quan niệm hầu như ngược lại. Những phát biểu sau đây về tri kiến của 2 nhà tư tưởng vĩ đại Đông Tây nói lên đặc trưng của hai thế đứng: Tại Hy Lạp, Socrates nói câu nổi tiếng: “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả” và tại Trung quốc, Lão Tử nói: “Biết mà cho là không biết, thì cao”. Triết học Trung Quốc hay nhấn mạnh tính chất bổ túc lẫn nhau của trực giác và suy luận và diễn tả chúng bằng cặp hình ảnh nguyên thuỷ Âm, Dương. Tri kiến suy luận được rút tỉa ra từ kinh nghiệm, loại kinh nghiệm do ta thu góp được bằng dụng cụ hay thông qua biến cố xảy ra trong môi trường xung quanh. Chúng nằm trong lĩnh vực của tri thức phán đoán mà công cụ chủ yếu của nó là phân biệt, chia chẻ, so sánh, đo lường và phân loại. Đặc trưng của loại tri kiến này là sự trừu tượng hoá, vì để so sánh và phân loại vô số các dạng hình, các cấu trúc và hiên tượng chung quanh, từ đó để lấy một ít tính chất quan trọng. Tính chất chung quan trọng đó chỉ có thể mô tả thực tại một cách gần đúng và vì thế mọi tri kiến suy luận hiển nhiên chỉ có giới hạn.

    Khoa học tự nhiên tất nhiên là loại khoa học thuộc về tri kiến suy luận, nó đo lường, định lượng, chia loại và phân tích. Sự hạn chế của loại tri thức càng lúc càng rõ trong khoa học hiện đại, đặc biệt trong nền vật lý hiện đại mà câu nói của Werner Heisenberg đã chỉ rõ rằng:

    “Mỗi danh từ hay mỗi khái niệm, dù xem ra rõ rệt tới đâu, cũng chỉ có một khả năng ứng dụng giới hạn”.

    Nghiên cứu khoa học phần lớn dựa trên tri thức và phương pháp có tính suy luận nhưng không chỉ có thế. Sự nghiên cứu thuần tuý lý luận thực ra sẽ vô bổ nếu không có trực giác tham dự vào. Nó giúp nhà khoa học có một tầm nhìn mới và làm họ thêm sáng tạo. Những loại tri kiến trực giác này thường xuất hiện một cách đột ngột, không phải nơi bàn viết bên cạnh một phương trình toán học mà trong phòng tắm, trên bãi biển… dường như trong giai đoạn thư giãn sau hoạt động của đầu óc suy luận thì óc trực giác chiếm ưu thế hơn lý trí dẫn đến một sự tỏ ngộ bất ngờ, đó cũng là niềm vui sướng của các nhà khoa học.

    Tuy thế, tri kiến trực giác chỉ hữu ích cho ngành vật lý khi nó được phát biểu trong một mô hình toán học và được hỗ trợ thêm bằng lý giải trong ngôn ngữ thông thường. Tính mơ hồ và đa nghĩa của ngôn từ thì quan trọng đối với thi sĩ. Nhưng khoa học thì nhắc đến những định nghĩa chính xác và mối quan hệ rõ ràng vì thế khoa học trừu tượng hoá ngôn ngữ thành những dấu hiệu nghiêm ngặt. Thực tế có nhiều nhà toán học nghĩ rằng toán học không phải chỉ là một ngôn ngữ mô tả thế giới tự nhiên, mà bản thân tự nhiên cũng chứa đựng toán học. Cha đẻ của lối nhìn này là Pythagoras – người đã từng nói câu nổi tiếng “vạn sự là con số”.

    Theo quan điểm phương Đông, thì toán học đầy chi tiết và định nghĩa phức tạp chỉ có thể là một phần của bản đồ đầy khái niệm về thực tại chứ không phải là bản thân thực tại. Thực tại, như các nhà đạo học thực chứng thì hoàn toàn không định nghĩa được, không chia chẻ được.

    Phương pháp trừu tượng hoá của khoa học rất hiệu nghiệm, nhưng ta phải trả cho nó một cái giá. Khi chúng ta ngày càng định nghĩa tinh vi, càng trơn tru chặt chẽ hệ thống khái niệm của ta thì nó càng xa rời thực tại. Do đó khi ta cần phải dùng ngôn từ trình bày các mô hình toán học hay các lý thuyết, thì ta phải dùng các khái niệm có thể hiểu được bằng trực giác, nhưng phải chịu chấp nhận là chúng có thể đa nghĩa và thiếu chính xác.

    II. Sự “tương đồng” giữa thí nghiệm khoa học và tri kiến đạo học

    Sự tương đồng giữa thí nghiệm khoa học và tri kiến đạo học có vẽ bất ngờ khi ta xem xét hai tính cách quan sát. một mặt, nhà vật lý thực hiện thí nghiệm của mình bằng cách hợp tác với những người khác, với thiết bị hết sức phức tạp. Trong lúc nhà đạo học chỉ rút về nội tâm, vắng bóng máy móc, chim đắm trong thiền định để đạt tri kiến. Mặt khác, các thí nghiệm khoa học có thể được lặp đi lặp lại bất cứ lúc nào, với mọi ai khác, trong lúc những Thực chứng đạo học chỉ xảy ra cho một số ít người, trong những thời điểm nhất định. Thế nhưng, kiểm chứng kỹ hơn ta sẽ thấy sự khác nhau giữa hai loại quan sát chỉ ở nơi phương cách chứ độ tin cậy và tính phức tạp không khác.

    Khi các nhà đạo học phương Đông trình bày tri kiến của mình bằng huyền thoại, biểu tượng, hình ảnh thi ca hay cách nói nghịch lý các vị đó biết rõ giới hạn của ngôn ngữ và lối tư duy tuyến tính. Ngày nay nền vật lý hiện đại khi nhìn về các mô hình và lý thuyết của mình, cũng điều có một thái độ như thế.

    Chúng cũng chỉ có thể gần đúng và không thể chính xác. Chúng chính là một loại tương tự như huyền thoại, biểu tượng và hình ảnh thi ca của phương Đông và trên bình diện này có sự tương đồng. Thí dụ trong Ấn Độ giáo thì điệu múa vũ trụ của thần Shiva cũng nói lên hình dung về vật chất giống như nhà vật lý nói về một số mặt của lý thuyết trường trong cơ học lượng tử. Cả vị thần nhảy múa lẫn lý thuyết trường đều là sản phẩm của tâm thức: chúng đều là những mô hình để mô tả những tri kiến trực giác về thực tại của tác giả những mô hình đó.

    Vấn đề ngôn ngữ đặt ra cho các nhà đạo học phương Đông y hệt như đối với vật lý hiện đại, thông qua hai câu nói của D.T. Suzuki về phật giáo và Werner Heisenberg về vật lý nguyên tử:

    “Cái mâu thuẫn, cái làm cách tư duy thông thường bị lạc lối xuất phát từ thực tế là ta dùng ngôn ngữ để diễn tả kinh nghiệm nội tâm của ta, mà thể tính của kinh nghiệm đó lại vượt trên ngôn ngữ.”

    “Các vấn đề của ngôn ngữ ở đây là thật sự nghiêm trọng. Chúng ta muốn nói về cơ cấu nguyên tử, nói một cách nào đó… Nhưng chúng ta không thể dùng ngôn ngữ thông thường nói về nguyên tử được.”

    Hai câu nói gần như đồng nhất với nhau. Cả nhà đạo học đều muốn trao truyền kiến giải của mình, nhưng khi họ dùng ngôn từ thì những gì nói ra nghịch lý và đầy mâu thuẫn. Sự nghịch lý này là đặc trưng của những phát biểu tâm linh và từ đầu thế kỷ này, chúng là đặc trưng của ngành vật lý.

    Vật lý hiện đại đã thừa nhận một trong những ý niệm cơ bản của đạo học phương Đông, đó là tất cả khái niệm của ta về tự nhiên đều hạn chế, chúng không phải là thực tại đích thực như ta thường tưởng, mà chỉ là sáng tạo của tâm. Cứ mỗi lần ta mở rộng lĩnh vực của mình là mỗi lần hạn chế của óc tư duy lại hiện rõ và ta phải điều chỉnh, thậm chí từ bỏ khái niệm cũ.

    “Không gian – thời gian” trong vật lí học cổ điển và các tư tưởng triết học

    Vật lý cổ điển đặt nền móng trên một không gian ba chiều, tuyệt đối, nó độc lập với vật thể nằm trong nó và những định luật hình học tuân thủ hình học Euclid, và thời gian cũng là một chiều độc lập, nó trôi chảy điều hoà tuyệt đối. Độc lập với thế giới vật chất. Những yếu tố của Euclid, cho đến đầu thế kỷ này, vẫn là một cuốn sách chuẩn mực cho các trường phái phương Tây. Nó hết chuẩn mực, cho đến khi Einstein chứng minh rằng, hình học không hề nằm trong thiên nhiên mà là một cơ cấu do đầu óc con người nghĩ ra.

    Ngược với người Hy Lạp, triết gia phương Đông đã biết rằng không gian và thời gian là do óc suy luận của con người xây dựng nên. Các nhà đạo học phương Đông xem chúng như những khái niệm suy luận khác, tức là tương đối, hạn chế và có tính ảo giác. Trong một kinh sách Phật giáo ta thấy những câu:

    “Đức Phật dạy, hỡi các tì kheo, rằng…quá khứ, vị lai, không gian… và cá thể không gì khác hơn là danh sắc, ngôn từ sử dụng một cách bình thường, chúng chỉ là những thực tại nông cạn.”

    Thế nên tại Viễn Đông, môn hình học không bao giờ lên tới địa vị của thời Hy Lạp cổ mặc dù điều này cũng không có nghĩa là người Ấn Độ và Trung Quốc không biết đến nó. Họ đã sử dụng nó để xây dựng những đền thờ với dạng hình học chính xác, đo đạc đất đai hay xác định bản đồ của trời sao, nhưng không bao giờ để dùng nó xác định về một thực tại trừu tượng và vĩnh viễn. Thái độ triết học này cũng hiện rõ ở chỗ, khoa học cổ đại của phương Đông cũng không thấy thiên nhiên phải nằm trong một cơ cấu gồm toàn đương thẳng và đường tròn. Ở đây, Joseph Needhous có nêu lên một điều rất thú vị về ngành thiên Trung Quốc.

    “Các nhà thiên văn Trung Quốc không cần những dạng hình học để lý giải – những thành phần của vũ trụ sinh cơ tuân thủ đúng tính chất của chúng trong đạo và sự vận động của chúng được diễn tả chủ yếu bằng số học, phi hình tướng. Do đó mà người Trung Quốc thoát khỏi sự mê say của thiên văn phương Tây với cách nhìn cho vòng tròn là hình tượng hoàn hảo nhất… họ cũng không phải sống trong tù ngục của hình pha lê thời Trung Cổ.”

    “Không gian – thời gian”trong vật lí học hiện đại và tư tưởng triết học

    Triết gia và khoa học cổ đại tại phương Đông đã có một cái nhìn cơ bản về thuyết tương đối, cho rằng hình học không hề là phản ánh tính chất của thiên nhiên mà chỉ là sản phẩm của tư duy.

    Vì không gian – thời gian bây giờ đã trở thành tên gọi có tính chủ quan, mà một quan sát viên dùng để mô tả hiện tượng thiên nhiên, cho nên mỗi người sẽ mô tả hiện tượng để mình quan sát một cách khác nhau. Nếu ta muốn xuất phát tới sự mô tả hiện tượng mà rút ra được những định luật chung về tự nhiên, thì những định luật này phải được phát biểu sao cho chúng đều có dạng giống nhau trong tất cả hệ thống qui chiếu, có nghĩa là thích hợp cho mọi quan sát viên bất kỳ đang ở đâu, đang chuyển động với vận tốc nào. Đòi hỏi này được gọi là nguyên lý tương đối và cũng là bước khởi thủy của thuyết này. Hiện tượng mà chàng trai trẻ Einstin nêu lên và rút ra kết luận là chưa hề biết đến trong ngành vật lý. Trong những năm sau, Einstin nhận ra rằng nguyên lý tương đối có thể dùng để mô tả hiện tượng điện từ nếu tất cả các trị số về không gian và thời gian đều tương đối cả. Sau đó thì định luật của điện động học về lý thuyết của điện và từ được phát biểu chung một trong một cấu trúc tương đối, cấu trúc đó bao gồm ngoài ba chiều không gian thêm chiều thời gian là trục thứ tư, tương đối so với quan sát viên.

    Nhà đạo học phương Đông xem khái niệm thời gian và không gian liên hệ với những dạng ý thức nhất định, những dạng đó có thể vượt qua bằng phép thiền định. Những chứng thức tâm linh cho họ những khái niệm tinh tế hơn về không gian – thời gian, trong nhiều mặt chúng rất gần với khái niệm của vật lý hiện đại, thí dụ thuyết tương đối.

    Quan điểm mới về không gian và thời gian xuất phát từ thuyết tương đối, tương đối ở đây có nghĩa rằng, tất cả mọi đo lương về không gian và thời gian đều tương đối cả. Ví dụ trong không gian ba chiều, ta thấy rõ những xác định không gian như trái, mặt, trên, dưới, … đều phụ thuộc vào vị trí của quan sát viên (trục toạ độ), và như thế chỉ là tương đối. Trật tự thời gian cũng tương đối và tuỳ thuộc trục toạ độ. Trong đời sống hàng ngày, khi ta thấy một trật tự thời gian trong những tiến trình xảy ra quanh ta, những tiến trình này đạt một vận tốc rất nhỏ so với vận tốc ánh sáng, nên ta có cảm giác rằng chúng xảy ra thì ta nhận thấy tức khắc. Điều này không đúng. Ánh sáng cần một thời gian nhất định, để đi từ sự việc đến người quan sát. Vì vậy tính đồng thời đã trở thành khái niệm tương đối và không thể nói vũ trụ một thời điểm nhất định.

    Cuộc cách mạng đích thực tới với thuyết của Einstin, đó là từ bỏ ý niệm xem hệ thống không gian – thời gian là khách quan và một thực tại riêng biệt. Thay vào đó, thuyết này cho thấy trục của không gian – thời gian chỉ là yếu tố của một ngôn ngữ để quan sát viên mô tả môi trường của mình.

    Như trên đã nói, dường như các nhà đạo học phương Đông đã đạt được một ý thức phi thường trong đó họ chuyển hoá được thế giới ba chiều và đề cập đến một thực tại bốn chiều. Có thể các chiều của dạng ý thức này không hẳn là những chiều trong thuyết tương đối, nhưng điều nổi bật là chúng đưa các nhà đạo học đến một khái niệm về “không gian – thời gian” rất giống với những khái niệm của thuyết lượng tử.

    Các nhà đạo học phương Đông có nhận thức trực giác về tính cách không gian – thời gian của thực tại. Có lẽ sự nhận thức được trình bày rõ rệt nhất và triệt để nhất là trong Phật giáo. Đó là ý thức về sự dung thông vô ngại của không gian và thời gian- đây là cách phát biểu toàn hảo về không gian và thời gian và được xem là đặc trưng của tâm giác ngộ. D.T Suzuki viết :

    “Ý nghĩa của Kinh Hoa Nghiêm và tư tưởng của nó sẽ khó hiểu nếu ta chưa bao giờ chứng thực một tình trạng của một sự tan biến hoàn toàn, trong đó không còn có sự phân biệt thân và tâm, giữa chủ thể và khách thể … Ta nhìn quanh và nhận thấy mỗi sự vật đều liên hệ với mọi sự vật khác … Không những trong không gian, mà trong thời gian. Thực tế là trong sự chứng thực thanh tịnh không có không gian phi thời gian, không có thời gian phi không gian, chúng dung thông nhau”

    Với nhận thức trực giác về thời gian của đạo học phương Đông là một lý do giải thích tại sao cái nhìn của họ về thế giới tự nhiên nói chung phù hợp với khoa học hiện đại hơn cái nhìn của phần lớn các triết gia Hy Lạp. Nền triết lý về tự nhiên của Hy Lạp chủ yếu là tĩnh tại và hầu như đặt nền tảng trên suy tư về hình học. Các nhà triết học phương Đông thì ngược lại là những triết gia không gian – thời gian và tri kiến trực giác của họ thường rất gần với thuyết tương đối hiện đại của chúng ta.

    Các bậc thầy hiền nhân phương Đông cũng đã nói đến sự mở rộng của kinh nghiệm về thế giới trong những tình trạng ý thức cao cấp và họ đoán chắc rằng những tình trạng này chứa đựng một sự chứng thực hoàn toàn khác về không gian và thời gian. Họ nhấn mạnh rằng, khi ở trong thiền định, họ không những ra khỏi một không gian ba chiều bình thường – mà còn mạnh hơn – họ còn vượt qua sự cảm nhận thời gian thông thường. Trong ba đoạn văn sau đây ta sẽ nghe ba nhà đạo học nói về chứng thực của họ về các hiện tại vô cùng: Trang Tử nhà hiên nhân Lão giáo, Huệ Năng Lục tổ Thiền tông, và D.T Suzuki, thiền sư Phật giáo của thời đại chúng ta.

    Hãy quên thời gian đang trôi chảy ; hãy quên mọi mâu thuẫn của tư duy. Hãy nghe cái vô cùng réo gọi và hãy đứng tại đó

    Cái phút giây hiện tại này là sự tĩnh lặng vô cùng. Mặc dù nó chỉ hiện hữu trong phút giây này, nó không có biên độ và cũng trong đó mà hiện ra cái miên viễn tuyệt diệu

    Trong thế giới tâm linh này không có phân chia thời gian cũng như quá khứ, hiện tại và tương lai, và các thứ này đã rút lại trong một cái chớp mắt của hiện tại, trong đó đời sống rung động trong ý nghĩa đích thực của nó … Quá khứ và tương lai đã cuốn trùm trong phút giây hiện tại của giác ngộ và cái chớp mắt hiện tại này không hề đứng yên với những gì nó dung chứa, mà vận động tiếp tục không ngừng nghỉ.

    Chúng ta biết rằng, khi một sự vật – hiện tượng được quan niệm trong một cấu trúc bốn chiều, không có một hướng thời gian nhất định, thì không có cái trước, cái sau và ưu thế không có nguyên nhân và hậu quả. Các nhà đạo học phương Đông cũng quả quyết tương tự như thế, rằng khi họ vượt qua thời gian thì họ cũng vượt lên nhân quả.

    Để đúc kết cho sự tương đồng của không gian – thời gian trong vật lý hiện đại và triết học phương Đông. Sự tương đối đó được Lama Govinda viết như sau về phép thiền định Phật Giáo.

    “Và khi nói tới cảm giác về không gian trong thiền định thì ở đây ta có một kích thước hoàn toàn khác về không gian. Trong sự chứng thực về không gian này, cái trước, cái sau trở thành những cái đồng thời, những cái cạnh nhau trong không gian. Rồi cái đó cũng thành tĩnh tại mà thành một thế giới liên tục sinh động, trong đó bao gồm cả không gian và thời gian.

    KẾT LUẬN

    Triết học giáo phương Đông quan tâm đến nhận thức đạo học vượt thời gian, chúng nằm ngoài suy luận và không thể diễn tả bằng chữ nghĩa. Mối quan hệ của nhận thức này với vật lý hiện đại chỉ là một trong những khía cạnh và cũng không thể trình bày tới cùng, và ở đây mối quan hệ đó được biểu hiện ở quan niệm về “không gian – thời gian”.

    Vật lý hiện đại xuất phát và bao trùm thuyết cổ điển, nhưng không ngược lại. Sự tương đồng giữa thế giới quan vật lý hiện đại và của đạo học phương Đông được chỉ rõ : cả hai cùng xuất phát từ chỗ khi tìm hiểu tự tính cốt tuỷ của sự vật hiện tượng – khi đi vào lĩnh vực sâu xa của vật chất trong vật lý – khi đi vào lĩnh vực sâu xa của ý thức trong đạo học thì ta khám phá một thực tại khác nằm sau bộ mặt cơ giới nông cạn của đời sống hàng ngày.

    Hai cách tiếp cận về “không gian – thời gian” hoàn toàn khác nhau, nhưng bổ túc nhau, như chúng ta thường nói trong vật lý. Không có cái nào chứa đựng cái nào, cũng không có cái nào suy ra được từ cái kia, nhưng cả hai chúng đều cần thiết, chúng bổ túc lẫn nhau để có thể hiểu thế giới một cách hoàn toàn. Ta nhắc lại một câu tục ngữ Trung Quốc “Nhà đạo học biết gốc rễ của Đạo nhưng không biết cành ngọn ; nhà khoa học hiểu cành ngọn nhưng không biết gốc rễ”. Khoa học không cần biết tới đạo, đạo học không cần biết tới khoa học, nhưng con người cần cả hai. Vì thế điều ta cần không phải là một sự tổng hợp mà là một sự tương đồng tác dụng giữa trực giác đạo học mà phân tích khoa học

    Sự găp gỡ “không gian – thời gian” trong đạo học phương Đông và vật lý học hiện đại cả hai cách nhìn cơ học và hữu cơ về vũ trị đều có giá trị hữu ích, một cái cho khoa học và kỹ thuật, cái kia cho sự thăng bằng và thoả ứng đời sống tinh thần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Thời Gian Trong Phật Giáo Và Vật Lý Học Hiện Đại
  • Vấn Đề Thời Gian Trong Phật Giáo Và Vật Lý Hiện Đại
  • Sự Phân Tích Của V.i.lênin Về Cuộc Cách Mạng Trong Khoa Học Tự Nhiên Và Nhận Thức Luận Hiện Đại Trong Vật Lý Học Các Hạt Cơ Bản
  • “đời Sống Vật Chất Đầy Đủ Khiến Người Ta Sống Vô Cảm!”
  • Bản Chất Và Quy Luật Của Đời Sống Tinh Thần
  • Mối Quan Hệ Giữa Con Người Và Môi Trường: Tiếp Cận Thế Giới Quan Sinh Thái

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Cho Trẻ Làm Quen Với Môi Trường Xung Quanh
  • Mạng Xã Hội Facebook Phương Tiện Hữu Ích Hỗ Trợ Hoạt Động Của Các Cơ Quan Thông Tin
  • Mạng Xã Hội Là Gì ?
  • Truyền Thông Mạng Xã Hội Và Những Điều Cần Biết Về Social Media
  • Xung Đột : Tổ Hợp Giáo Dục Cml
  • PHAN THỊ HOÀN,

    Viện Khoa họ̣c xã hội vùng Trung Bộ

     

    Tó́m tắ́t: Con người và môi trường tự nhiên có phải là những thực thể tách bạch, đối lập hay có mối quan hệ tương hỗ với nhau trong quá trình tồ̀n tại và phát triển? Câu trả lời cho câu hỏi này là khác nhau tùy theo quan điểm và cách tiếp của mỗi trường phái lý thuyết. Dựa trên tổ̉ng quan một số nghiên cứ́u nhân học về ứ́ng xử (quan niệm, thái độ và hành vi) của một số cộng đồ̀ng đối với môi trường tự nhiên, nghiên cứ́u làm rõ mối quan hệ giữa con người với môi trường dựa trên cách tiếp cận thế giới quan sinh thái (ecocosmology).

    Từ̀ khó́a: Con người; Văn hóa; Môi trường tự nhiên; thế giới quan; thế giới quan sinh thái.

     

    Abstract: Are human beings and the natural environment separated, opposed or mutually related in the process of existence and development? The answers to this question are different, depending on the perspective and approach of different theories. Basing on the literature review of anthropological studies on the behaviors (concepts, attitudes and behaviors) of some communities on the natural environment, this paper clarifies the relationship between human beings and the environment through the lens of ecocosmology.

    Keywords: Human beings; Culture; Natural environment; Worldview; Ecocosmology.

     

    1. Đặt vấn đề̀

    Con người và môi trường tự nhiên có phải là những thể tách bạch, đối lập hay có mối quan hệ với nhau như thế nào trong quá trình tồ̀n tại? Câu trả lời cho câu hỏi này có rất nhiều và khác nhau tùy theo quan điểm và cách tiếp cận của mỗi trường phái triết lý, cũng như là kết quả của cả một quá trình thay đổ̉i trong nhận thứ́c và phương pháp tiếp cận của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là trong khoa học địa lý nhân văn.

    Cuộc tranh luận mang tí́nh triết lý về mối quan hệ giữa con người/văn hóa với môi trường/tự nhiên đã đượ̣c khởi xướng từ lâu, rằng “con người đượ̣c sinh ra để “thống trị” thiên nhiên, làm chủ và sở hữu thiên nhiên (Descartes)? Hay chỉ có những kẻ̉ “điên rồ̀” mới “đem máy móc ra tuyên chiến với thiên nhiên” (Erasme)” (Vernier, 2002, tr.3). Theo đó, một trong những quan niệm truyền thống của phương Tây cho rằng con người có thể “làm chủ”, “thống trị” hay “điều khiển” tự nhiên. Quan niệm này bắt nguồ̀n từ những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật mà người châu Âu đạt đượ̣c trong thời kỳ Phục Hưng, đặc biệt là từ các cuộc cách mạng công nghiệp (ở Tây Âu và sau này lan sang Bắc Mỹ). Quan niệm coi tự nhiên như một dạng “khách thể” đối với con người “chủ thể” – hay còn gọi là thế giới quan “nhị nguyên”, đượ̣c củng cố bởi những triết lý của các nhà khoa học, triết học có ảnh hưởng (như phương pháp khoa học của Francis Bacon, thuyết cấu trúc của Lévi-Strauss,…), đã thấm dần vào tư tưởng xã hội phương Tây. Chí́nh nền tảng quan niệm đó lại là cơ sở để các nhà nhân học phương Tây sau này đặt ra những chất vấn và đưa ra những lập luận mới về một cách nhìn khác khi họ nghiên cứ́u các nền văn hóa ngoài phương Tây, mà cụ thể là ở những cộng đồ̀ng săn bắt hái lượ̣m, sinh sống khu vực châu Á, châu Phi hay ở cả Mỹ La Tinh và Bắc Mỹ. Những kết quả nghiên cứ́u của các nhà nhân học về quan niệm, hành vi và thái độ của các cộng đồ̀ng đối với môi trường tự nhiên mang lại đóng góp quan trọng cả về mặt lý luận lẫ̃n thực tiễn. Bài học thực tiễn để triển khai thành công và hiệu quả đối với các dự án phát triển ở cộng đồ̀ng đó là cần phải thấu hiểu, tôn trọng và vận dụng đượ̣c tri thứ́c và văn hóa của cư dân địa phương đối với môi trường sống của họ. Về mặt lý luận, đó là việc cung cấp thêm một triết lý về vạn vật hoàn toàn khác với quan niệm phương Tây như đã đề cập ở trên, mà theo cách gọi của Croll và Parkin (1992) là “thế giới quan sinh thái” (ecocosmology).

    Vậy “thế giới quan sinh thái” là gì, đượ̣c thể hiện thông qua thái độ và hành vi của các cộng đồ̀ng ấy như thế nào? Điều này sẽ đượ̣c làm rõ hơn ở nội dung tiếp theo của bài viết.

    2. Thuật ngữ “thế giới quan sinh thái”

    Thế giới quan hay nhận thứ́c về thế giới đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi con người, xã hội bởi nó có mối quan hệ mật thiết tới các chuẩ̉n mực hành vi, thế giới quan là “hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về thế giới (toàn bộ sự̣ vật và hiện tượng thuộc tự̣ nhiên và xã hội), về vị trí́ con người trong thế giới đó và về những quy định xử sự̣ do con người đề ra trong thự̣c tiễn xã hội… Thế giới quan không những là sự̣ tổng hợp lí́ luận và ý nghĩa nhận thức, mà còn rấ́t quan trọ̣ng về mặt thự̣c tiễn; nó làm kim chỉ nam cho hành động của con người” (HĐQG chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, 2005, tr.203). Theo quan điểm của Berkes (2008), thế giới quan cũng là lớp tri thứ́c bao quát các lớp tri thứ́c sinh thái truyền thống1, là yếu tố đóng vai trò quyết định trong việc nhìn nhận môi trường và gán cho nó những ý nghĩa nhất định.

    Thuật ngữ “thế giới quan sinh thái” đượ̣c Croll và Parkin (1992) sử dụng trong cuốn tuyển tập bài viết với nhan đề Bush base: Forest farm – Culture, Environment and Development. Mặc dù không đưa ra định nghĩa cụ thể, nhưng qua diễn giải, có thể hiểu rằng thế giới quan sinh thái là ở đó, con người (ở khu vực nghiên cứ́u) “thường xem môi trường là một chủ thể sáng tạo mà họ có nghĩa vụ phải thương thảo, đồ̀ng thời họ cũng tự xem mình là một phần không thể chia tách với chủ thể đó: rừng là con người, theo cách tương tự như tổ̉ tiên là thể nối dài của sự sống”. Điều đó đượ̣c phản ánh trong tiêu đề cuốn sách, tác giả sử dụng cụm từ mang tí́nh đảo nghịch để xóa nhòa sự phân chia truyền thống giữa con người và tự nhiên thể hiện ở việc phân chia tách bạch nơi cư trú (văn hóa) với rừng, bụi rậm (tự nhiên)2. Ngay trong lời giới thiệu của cuốn sách trên, hai tác giả này cũng đã nhấn mạnh rằng “mối quan hệ giữa con người và tự nhiên xung quanh là một mối quan hệ nghịch lý. Con người cố gắng áp đặt tri thứ́c và ý chí́ của mình vào thế giới tự nhiên nhưng đồ̀ng thời cũng gắn mình vào những huyền thoại và niềm tin trong đó phác họa bản thân và thế giới xung quanh thành những thể gắn kết, không ai lấn át ai” (Croll và Parkin,1992).

    “Thế giới quan sinh thái” đượ̣c học giả Århem diễn giải một cách cụ thể hơn, theo đó thuật ngữ này bao hàm hai loại hình thế giới quan bổ̉ sung cho nhau đó là totemism (thuyết vật tổ̉) – dùng hình ảnh trong tự nhiên để gán cho xã hội con người và animism (thuyết vật linh) – dùng mô tả xã hội để xây dựng trật tự tự nhiên. Nói cách khác, nếu hệ thống vật tổ̉ xã hội mô phỏng tự nhiên, thì trong hệ thống vật linh, tự nhiên lại mô phỏng xã hội. Århem (2004, tr.186) nhấn mạnh, “cả hai thế giới quan đó tạo nên một thế giới quan sinh thái tổ̉ng thể giúp định hình nhận thứ́c, chỉ dẫ̃n thực hành và đưa ra ý nghĩa cho đời sống”. Theo lăng kí́nh thế giới quan này, đặc tí́nh của giữa tự nhiên và xã hội đượ̣c hoán đổ̉i cho nhau, tự nhiên và xã hội không phải là hai thể tách bạch riêng biệt mà là sự nối dài mang tí́nh tiếp tục.

    Trong một cách nhìn nhận khác, hai thế giới quan trên đượ̣c biểu đạt bởi hai khái niệm: “tồ̀n tại luận vật linh” (animism ontology) và “tồ̀n tại luận tô tem” (tomemism ontology). Đây là hai trong số 4 loại hình tồ̀n tại luận mà nhà nhân học – triết học người Pháp Phillippe Descola đã đưa ra dựa trên những dữ liệu phong phú từ những nghiên cứ́u dân tộc học ở các bộ tộc vùng Amazon, đặc biệt là về người Achuar, đượ̣c thể hiện trong cuốn sách Beyond Nature and Culture (Descola, 2013). “Thuyết tô tem”, “Thuyết vật linh” đượ̣c xem là những loại hình tôn giáo sơ khai, nhưng dưới nhìn nhận của học giả Philippe Descola, nó đượ̣c làm mới và đượ̣c xem là các loại hình tồ̀n tại luận về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Học giả Descola đã xây dựng một khung lý thuyết – một giản đồ̀ nhận thứ́c nhằm khái quát hóa những trải nghiệm trong đó con người nhận thứ́c và giải thí́ch thực tại – để đưa ra hiểu biết khách quan về những chủ thể khác nhau, tránh sự phân biệt chủ thể – khách thể theo chủ nghĩa nhị nguyên.

    Thế giới quan sinh thái cũng có cách tiếp cận tương tự với mô hình “chủ nghĩa công xã/cộng đồ̀ng” (communalism) trong mối quan hệ con người – tự nhiên mà Gí́lsi Pálsson đã phân biệt (Pálsson, 2004). Theo học giả Pálsson, trong mô hình này, nhiều cộng đồ̀ng không tách biệt giữa tự nhiên – xã hội/ khách thể – chủ thể mà nhấn mạnh tới sự đối thoại giữa con người và tự nhiên, theo đó, sự ứ́ng xử với tự nhiên là sự ứ́ng xử dựa trên những quy tắc về mặt đạo đứ́c, chuẩ̉n mực xã hội. Để rõ hơn, Pálsson (2004) cũng phân biệt thêm hai mô hình “chủ nghĩa phương Đông” (Orientalism) và “chủ nghĩa gia trưởng” (Paternalism). Mô hình “chủ nghĩa phương Đông” là một trong những sản phẩ̉m của sự phát triển về khoa học kỹ thuật thời kỳ Phục Hưng. Mô hình này xem con người có nhiệm vụ khám phá, chinh phục và khai thác môi trường cho các mục đí́ch đa dạng về sản xuất và tiêu thụ. Nó nhấn mạnh tới hành vi khai thác và chế ngự tự nhiên và cũng là mô hình điển hình cho thời kỳ thuộc địa. Quản lý tài nguyên trong bối cảnh này chí́nh là sự quản lý về chuyên môn, là sự phân loại của khoa học tự nhiên đối với thế giới vật chất mà không bị tác động bởi những cân nhắc mang tí́nh đạo đứ́c. Mô hình “chủ nghĩa gia trưởng” giống với mô hình “chủ nghĩa phương Đông” khi cho rằng con người kiểm soát tự nhiên và can thiệp vào tự nhiên thông qua hệ thống phân loại khoa học. Nhưng bên cạnh đó, loài người có cũng có trách nhiệm không chỉ với giống loài mình mà còn với các loài khác. Vì vậy, bên cạnh hoạt động khai thác tự nhiên con người còn có trách nhiệm bảo vệ tự nhiên. Đây là mô hình điển hình ở nhiều quốc gia thời hậu thuộc địa. Hai mô hình sau là hiện thân của thế giới quan “nhị nguyên”, trong khi đó mô hình “chủ nghĩa cộng đồ̀ng” lại thể hiện thế giới quan sinh thái như đã đề cập ở trên.

    Như vậy, theo quan điểm thế giới quan sinh thái, con người là một phần trong môi trường tự nhiên, các loài sinh vật như cây cối, động vật,… cũng đượ̣c xem như là những chủ thể ngang hàng với con người, bởi vậy mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là mối quan hệ mang tí́nh xã hội hay là mối quan hệ giữa chủ thể – chủ thể hay còn gọi là liên chủ thể, có sự đàm phán và trao đổ̉i qua lại lẫ̃n nhau (Bird-David, 1993; Descola, 1996; Ingold, 2000; Descola, 2013; Århem, 2022). Nói cách khác, thuật ngữ “thế giới quan sinh thái” mang tí́nh tổ̉ng thể và khái quát hơn về mối quan hệ giữa con người và môi trường, bởi thuật ngữ “sinh thái” mang hàm ý hệ sinh thái – hệ thống trong đó mọi sinh vật, hiện tượ̣ng, sự vật có mối quan hệ tương tác qua lại lẫ̃n nhau.

    3. Ứng xử của cộng đồng với môi trường: Tiếp cận thế giới quan sinh thái

    Việc ứ́ng xử với môi trường đượ̣c lần lượ̣t xem xét dưới các khí́a cạnh cụ thể về thái độ và hành vi của cộng đồ̀ng đượ̣c nghiên cứ́u chủ yếu thông qua các hoạt động sinh kế (săn bắt, hái lượ̣m) và tri nhận về cảnh quan. Thông qua miêu tả chi tiết, kỹ lưỡng hành vi của cộng đồ̀ng trong hoạt động săn bắt và hái lượ̣m, Ingold (2000), Forbes (2001), Århem (2004), và Descola (2013) chỉ ra rằng hiểu biết và hành vi của cộng đồ̀ng đối với môi trường là những bằng chứ́ng mạnh mẽ cho thấy việc phân chia hệ thống bản thể luận nhị nguyên hay tí́nh lưỡng phân tự nhiên và văn hóa là hoàn toàn không có cơ sở trong thế giới quan của những cộng đồ̀ng này. Điều đó còn đượ̣c thể hiện trong nhiều kết quả nghiên cứ́u chuyên sâu của Croll và Parkin (1992), David (1993), Descola và Pálsson (1996), Descola (1996b), Ingold (2000), Grim (2001), Descola (2013).

    Từ việc phân tí́ch những dẫ̃n chứ́ng, đượ̣c biểu hiện hết sứ́c phong phú trong đời sống lao động và nghi lễ của các cư dân săn bắt hái lượ̣m, học giả này cho rằng mối quan hệ tự nhiên – con người là mối quan hệ liên chủ thể. Quan điểm này cũng đượ̣c minh chứ́ng rõ hơn trong các nghiên cứ́u sâu về cư dân bản địa châu Mỹ (vùng rừng nhiệt đới Amazon).

    Khu vực rừng nhiệt đới Amazon là nơi có đa dạng sinh học cao và đặc biệt là ngôi nhà của hàng trăm bộ lạc thổ̉ dân khác nhau sinh sống với sinh kế chủ đạo là săn bắt và hái lượ̣m. Từ nghiên cứ́u sâu tại vùng Amazon (người Achuar5, người Makuna6, người Jaguar7,…), và so sánh với các bộ lạc vùng Bắc Mỹ (người Objiwa ở Canada), học giả Philippe Descola nhận thấy tuy có những biểu hiện cụ thể khác nhau nhưng có một đặc điểm bao trùm chung trong ứ́ng xử giữa con người với môi trường tự nhiên mà ông gọi là giữa con người (human beings) và phi con người (non-human beings), đó là mối quan hệ giữa hai bên đượ̣c xây dựng dựa trên nền tảng giao tiếp giữa các chủ thể xã hội đồ̀ng đẳng. Đây là một cách kiến tạo tự nhiên về mặt xã hội (social construction of nature) (Descola, 1996a, 1996b, 2013). Điều đó đượ̣c thể hiện trong thái độ và hành vi của họ đối với các loài cây, con trong hoạt động sinh kế hằng ngày của họ.

    Cụ thể, cách ứ́ng xử của thổ̉ dân châu Mỹ (từ những khu rừng rậm rạp ở Amazon cho tới những khu vực băng giá ở Canada) với thú săn: họ không đượ̣c săn bắt thú nhiều hơn nhu cầu họ cần dùng để tránh lãng phí́, không bao giờ tự mãn hay kiêu ngạo trước cái chết của con mồ̀i mà phải nói tránh nói giảm khi bắt đượ̣c thú, đối xử với phần xương còn lại của con thú với thái độ trân trọng. Chẳng hạn, người thợ̣ săn trẻ̉ tuổ̉i Achuar sẽ chỉ ăn một chút í́t hoặc không ăn chút nào thịt con vật mà anh ta săn đượ̣c lần đầu tiên. Bởi nếu không tỏ sự khiêm nhường đó, thì mối quan hệ giữa anh và những con thú khác trong loài đó sẽ xấu đi, chúng sẽ trốn tránh không gặp anh và như thế anh ta sẽ không thể săn đượ̣c loài thú ấy trong tương lai. Sau khi kết thúc việc ăn con thú, những phần còn lại sẽ đượ̣c chôn cất và nhận một nghi lễ. Họ tin rằng sự hiến dâng của con vật cho người thợ̣ săn là một sự hy sinh bởi lòng trắc ẩ̉n của nó cho rằng người thợ̣ săn đang bị đói khát và cần sự trợ̣ giúp của nó. Chí́nh vì thế, mỗi hành động của họ đều tuân theo những quy định về mặt đạo đứ́c và quy chuẩ̉n cụ thể trong ứ́ng xử với thú săn, nếu phá vỡ những quy chuẩ̉n đó, họ sẽ phải gánh chịu hậu quả. Điều này đượ̣c học giả Descola (2013) miêu thuật ngay trong phần đầu công trình của ông, khi ông chứ́ng kiến vợ̣ của người chủ nhà bị rắn độc cắn, và anh ta cho rằng đó là do anh ta đã bắn ba con khỉ đuôi bông bằng súng (gần đây anh có đượ̣c do trao đổ̉i với người khác, trong khi trước đây anh ta dùng ống thổ̉i phi tiêu – loại vũ khí́ này chỉ có thể làm sát thương 1 con trong 1 lần thổ̉i), và bỏ mặc một số con bị thương. Chí́nh vì thế thần trông coi thú rừng đã trừng phạt vợ̣ anh ta.

    Cũng theo học giả này, trong xã hội Achuar, hai mối quan hệ chủ đạo là quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân, điều đó cũng đượ̣c thể hiện qua cách họ quan niệm và đối xử với các loài khác. Cụ thể, mối quan hệ giữa người phụ nữ với các loại cây cối họ trồ̀ng trong vườn nhà cũng giống như mối quan hệ huyết thống giữa mẹ̣ và con. Bởi cái cây cần sự chăm bón, nuôi nấng của người phụ nữ và đặc biệt là cần sự sinh sôi nảy nở như khả năng của người phụ nữ. Trong khi đó, với nam giới, thú săn như những người anh em họ hàng bên vợ̣, vừa là đồ̀ng minh nhưng cũng có thể dễ dàng trở thành đối thủ của nhau nếu có những bất hòa, giống như đặc tí́nh của con thú. Chí́nh vì vậy, săn bắt như là một cuộc đối thoại liên tục giữa những cá thể cần nhau mà không phân biệt thành cặp đối lập giữa kẻ̉ đi săn và con mồ̀i (Descola, 2013).

    Cách ứ́ng xử của họ đối với những không gian đó là bảo vệ, giữ gìn. Một số nghiên cứ́u cũng đã chỉ ra rằng không gian thiêng (rừng núi, sông…) của cộng đồ̀ng, cấm các hoạt động chặt phá cây cối, đánh bắt cá… chí́nh là những khu vực bảo tồ̀n sinh thái cho cộng đồ̀ng đó (Byers và cộng sự, 2001; Wadley và Colfer, 2004). Những cấm kỵ mang tí́nh tâm linh còn đượ̣c xem như là hệ thống cấm kỵ xã hội “vô hình” đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài nguyên địa phương và bảo tồ̀n đa dạng sinh học (Colding và Folke, 2001). Các thực hành đó còn đượ̣c chuyển tải qua các thế hệ thông qua những câu chuyện truyền miệng đượ̣c kể tiếp nối từ đời này sang đời khác, như là sự nhắc nhở về hành vi đượ̣c và không đượ̣c phép đối với khu vực rừng kiêng. Có thể nói, đây là một loại hình tri thứ́c văn hóa đượ̣c gắn chặt trong những câu chuyện về những ngọn đồ̀i, vũng nước, cây cối hay nói cách khác là thông tin văn hóa đượ̣c mã hóa trong môi trường địa lý (Ingold, 2000). Trong đó, những sinh vật cụ thể đóng vai trò là phương tiện chuyển tải ý nghĩa mang tí́nh giáo dục, truyền đạt tri thứ́c cho thế hệ sau thông qua những câu chuyện kể, tất cả đó tạo thành một thế giới quan văn hóa cụ thể. Chí́nh sự ứ́ng xử của các cộng đồ̀ng này cũng dẫ̃n tới quan điểm cho rằng cuộc khủng hoảng môi trường chỉ có thể cải thiện khi con người thay đổ̉i thế giới quan, thái độ, giá trị và hành vi của mình đối với tự nhiên “không tôn giáo đơn thuần nào đượ̣c xem là nguyên nhân hay giải pháp của khủng hoảng sinh thái, nhưng có thể áp dụng những thực hành tôn giáo/tinh thần đó để phát triển sự định hướng và đạo đứ́c thân thiện với môi trường hơn” (Sponsel, 2022).

    Những lý giải này có thể rất khó hiểu với tư duy duy lý hay dưới sự giải thí́ch của những nhà sinh vật học. Tuy nhiên, thật khó để có thể nhận định rằng cách lý giải đó đúng hay sai bởi vì nhiệm vụ của các nhà nhân học là tìm hiểu, giải thí́ch hành vi trên quan điểm của “người trong cuộc”, đi tìm ý nghĩa văn hóa đa dạng ẩ̉n chứ́a đằng sau mỗi ứ́ng xử mà không phải dưới lăng kí́nh của người phán xét văn hóa dựa trên thứ́ bậc cao thấp. Và thế giới quan sinh thái đó chí́nh là cơ sở để giải thí́ch cho nhiều quy tắc về hành vi đượ̣c phép hay không đượ̣c phép sử dụng một loại tài nguyên thiên nhiên nào đó của nhiều cộng đồ̀ng cư dân địa phương. Cũng vì vậy, không nên đặt cộng đồ̀ng dân cư ra khỏi hệ sinh thái, coi như yếu tố khách thể có thể chế ngự, kiểm soát, khai thác mà là một thành phần không thể tách rời khỏi hệ sinh thái đó. Vì con người là tác nhân quan trọng tác động tới tự nhiên thông qua hệ thống kỹ thuật, hành vi. Để hệ sinh thái đượ̣c bền vững, con người cần có những hành động phù hợ̣p để giúp làm hài hòa, cân bằng hệ sinh thái ấy.

    4. Kết luận

    Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng để giải quyết nhiều vấn đề đương đại, nhưng dù cho nó phát triển đến mứ́c nào, cho đến khi con người vẫ̃n tồ̀n tại thì thái độ, hành vi của con người mới là vấn đề quyết định, khoa học và công nghệ chỉ là công cụ để giúp con người có thể đạt đượ̣c những mục tiêu của mình. Chí́nh vì vậy, cần tôn trọng, công nhận sự tồ̀n tại của thế giới quan sinh thái. Nhận định này không là cổ̉ xúy cho sự mê tí́n dị đoan, mà chí́nh là hướng tới một đạo đứ́c sinh thái dựa trên nền tảng khoa học, mong muốn con người hiện đại có cái nhìn thân thiện hơn với tự nhiên, xây dựng một mối quan hệ qua lại giữa con người và tự nhiên một các h bền vững để bảo vệ hệ sinh thái toàn cầu – hệ sinh thái trái đất. Đó chí́nh là chân giá trị của lối ứ́ng xử biết ơn đối với tự nhiên mà con người cần hướng đến để duy trì sự sinh tồ̀n dài lâu trong vũ trụ bao la này.

     

    Chú thích:

    1. “Tri thứ́c sinh thái truyền thống” là một hệ phứ́c hợ̣p giữa hiểu biết – thự̣c hành – niềm tin, với 4 cấp độ phân tí́ch: thứ́ nhất là lớp hiểu biết về các loài động thực vật và cảnh quan môi trường; lớp tiếp theo là hệ thống kỹ thuật đượ̣c sử dụng để khai thác; lớp thứ́ ba là hệ thống thiết chế xã hội trong việc tổ̉ chứ́c quản lý và sử dụng tài nguyên và lớp bao trùm bên ngoài chí́nh là thế giới quan – hệ thống niềm tin nói chung (Berkes, 2008, tr.17-18).

    2. Bush base: Forest farm: nghĩa là cư trú nơi bụi rậm: canh tác ở rừng hoặc cũng có thể hiểu bụi rậm là nhà, rừng là trang trại.

    3. Tên bộ lạc sinh sống dựa vào săn bắt hái lượ̣m trong rừng nhiệt đới ở khu vực Nilgiri-Wynaad Nam Ấn Độ.

    4. Sinh sống ở Canada.

    5. Sinh sống ở khu vực biên giới Peru và Ecuador.

    6. Sinh sống trong lưu vực sông Pira Paraná và Apaporis thuộc Colombia và Brazil.

    7. Sinh sống theo dọc sông Javari và các chi lưu của nó khu vực biên giới Peru và Brazil.

     

    Tài liệu tham khảo

    Allerton, C. (2009, November). Introduction: spiritual landscapes of Southeast Asia. In Anthropological Forum (Vol. 19, No. 3, pp. 235-251). Routledge.

    Århem, K. (2004). The cosmic food web: human-nature relatedness in the Northwest

    Amazon. In Nature and society: Anthropological Perspectives. Philippe Descola & Gí́sli Pálsson (Eds) (2004). London & New York: Routledge.

    Århem, K. (2016). Chapter 1, Southeast Asian animism in context. In Animism in Southeast Asia (pp. 3-30). Routledge.

    Berkes, F. (2008). Sacred Ecology (Second Edition). Routledge Taylor & Francis Group. New York and London, 336.

    Bird-David N. (1993). Phép ẩ̉n dụ hóa của các bộ lạc đối với mối liên hệ giữa tự nhiên với con người. Trong Readings on Indigenous cosmology - Tài liệu tham khảo các bài giảng Thế giới quan bản địa (pp. 462-466). Århem K. (2004) (chủ biên). Hội Dân tộc học Việt Nam. Hà Nội.

    Byers, B. A., Cunliffe, R. N., & Hudak, A. T. (2001). Linking the conservation of culture and nature: a case study of sacred forests in Zimbabwe. Human Ecology, 29(2), 187-218.

    Colding, J., & Folke, C. (2001). Social taboos: “invisible” systems of local resource management and biological conservation. Ecological applications, 11(2), pp.584-600.

    Croll, E., & Parkin, D. (1992). Bush base: forest farm Culture, environment and development. Routledge.

    Descola, P. (1996a). Tạo dựng tự nhiên: Sinh thái học biểu trưng và thực hành xã hội. Trong Readings on Indigenous cosmology - Tài liệu tham khảo các bài giảng Thế giới quan bản địa. Århem K. (2004) (chủ biên). Hội Dân tộc học Việt Nam. Hà Nội

    Descola, P. (1996b). In the society of nature: A native ecology in Amazonia (Vol. 93). Cambridge University Press.

    Descola, P. (2013). Beyond nature and culture. University of Chicago Press.

    Forbes, J. D. (2001). Nature and culture: Problematic concepts for Native Americans. In Indigenous Traditions and Ecology: The interbeing of cosmology and community. Harvard University Press, pp.103-124.

    Grim, J. A. (Ed.). (2001). Indigenous Traditions and Ecology: The interbeing of cosmology and community. Harvard University Press.

    Hội đồ̀ng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam. (2005). Từ điển bách khoa Việt Nam. Tập 4 T – Z, Nxb Từ điển bách khoa. Hà Nội.

    Ingold, T. (2000). Săn bắt và hái lượ̣m như là những cách thứ́c của sự nhận thứ́c về môi trường. Trong Readings on Indigenous cosmology - Tài liệu tham khảo các bài giảng Thế giới quan bản địa. Århem K. (2004) (chủ biên). Hội Dân tộc học Việt Nam. Hà Nội.

    Pálsson, G. (2004). Human-environmental relations: orientalism, paternalism and communalism. In Nature and Society: Anthropological perspectives. Philippe Descola & Gí́sli

    Pálsson (Eds) (2004). London & New York: Routledge. Pp. 63-81.

    Sponsel, L. E. (2017). Sacred places and biopersity conservation. In Routledge Hanbook of Environmental Anthropology, Routledge, pp.132-143.

    Vernier. (2002). Môi trường sinh thái. Nxb Thế giới. Hà Nội.

    Wadley, R. L., & Colfer, C. J. P. (2004). Sacred forest, hunting, and conservation in West Kalimantan, Indonesia. Human Ecology, 32(3), 313-338.

     

    Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 05 (61) – 2022

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Môi Trường Sinh Thái Và Vai Trò Con Người Đối Với Môi Trường
  • Các Định Nghĩa Về Quan Trắc Môi Trường Tự Động
  • Khái Niệm Quan Trắc Môi Trường Là Gì? Các Quy Định Về Quan Trắc Môi Trường Hiện Nay?
  • Tổng Hợp Tất Cả Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Công Tác Quản Trị Nhân Lực
  • Môi Trường Nhiệt Đới Là Gì? Đặc Điểm Và Khí Hậu Của Môi Trường Nhiệt Đới – Chi Tiết 2022
  • Networking Là Gì? Thiết Lập Các Mối Quan Hệ Rộng Như Thế Nào Cho Hiệu Quả?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ntp Server Là Gì ? Tổng Quan Về Dịch Vụ Ntp (Network Time Protocol) Đồng Bộ Thời Gian
  • Ntp Server Là Gì? Giới Thiệu Về Network Time Protocol
  • Sự Khác Biệt Giữa Stp Và Ntp Là Gì?
  • Giới Thiệu Và Thuật Ngữ Html
  • Oc Có Nghĩa Là Gì? Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Networking là gì?

    Networking được hiểu là một trong những kỹ năng cần thiết để xây dựng, tạo lập nên một mạng lưới các mối quan hệ. Hiện nay, Networking đang ngày càng trở nên phổ biến hơn trong cuộc sống. Thuật ngữ này được áp dụng trong nhiều trường hợp khác nhau như khi bắt chuyện với những người không quen, gặp gỡ bạn cũ…

    Chúng ta đang sống ở một xã hội hoạt động theo nguyên lý dựa trên các mối quan hệ. Tức là bạn không thể tồn tại nếu thiếu đi những mối quan hệ, chẳng khác gì mình bị biệt lập. Sợi dây kết nối này sẽ giúp bạn vượt qua được khó khăn khi được hỗ trợ từ mọi người. Hiện nay, networking được xem là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến thành công của một người.

    Networking rất cần thiết trong đời sống

    Bí quyết networking hiệu quả

    Chọn địa điểm hợp lý để Networking

    Địa điểm là yếu tố rất quan trọng giúp bạn tìm được những người phù hợp. Những buổi gặp mặt, giao lưu chính là địa điểm lý tưởng để Networking. Tại những địa điểm này, bạn sẽ gặp được nhiều đối tượng hơn, giúp cho việc đối thoại, trao đổi thông tin hiệu quả.

    Địa điểm hợp lý sẽ có các mối quan hệ tốt

    Phát triển các mối quan hệ

    Mỗi người trong chúng ta sẽ có những thế mạnh khác nhau, phù hợp với từng ngành nghề. Chắc chắn rằng bạn không phải người quá thông thái để có thể nắm rõ hết mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Do đó, việc phát triển các mối quan hệ là điều rất cần thiết.

    Chẳng hạn khi bạn gặp một vấn đề nào đó ngoài chuyên môn không thể tự giải quyết. Nếu quen những người làm trong lĩnh vực đó sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều. Chính vì vậy, đừng bó hẹp quan hệ của mình trong một nhóm người nhất định. Hãy phát triển các mối quan hệ sâu rộng hơn. Đến một lúc nào đó, bạn sẽ cần sự hỗ trợ từ những mối quan hệ của mình.

    Không nên bó hẹp mình trong mối quan hệ nhỏ

    Chú trọng chất lượng thay vì số lượng

    Đây cũng là điều bạn cần chú ý trong bất cứ việc gì cần tìm mối quan hệ cho mình. Bạn sở hữu mối quan hệ rộng nhưng không chất lượng, khi cần nhờ vả một việc gì chắc chắn sẽ khó được. Có nhiều người thường dựa vào những sự kiện, nơi tập trung đông người để phát danh thiếp của mình cho họ.

    Tuy nhiên, nếu không dành thời gian để bắt chuyện với họ, người ta sẽ chẳng mảy may đến bạn. Trước tiên, bạn cần tạo dựng câu chuyện, cho họ biết ở mình có những ưu điểm gì. Sau khi đã hiểu cơ bản, hãy ngỏ lời khéo léo về việc muốn hợp tác. Chỉ có làm như vậy, bạn mới để lại ấn tượng của mình trong họ.

    Không phải có nhiều mối quan hệ sẽ tốt

    Phong thái tự tin, lịch sự

    Không phải bất cứ ai khi tham gia sự kiện đều tìm được cho mình các mối quan hệ. Bạn cần tạo sự thu hút với mọi người bằng phong thái tự tin, lịch sự. Như vậy sẽ rất gây thiện cảm, ấn tượng với những người mới gặp lần đầu. Hãy chọn cho mình bộ trang phục tươm tấp, lịch sự, phù hợp nhất với từng sự kiện bạn tham dự.

    Bên cạnh đó, hãy chuẩn bị cho mình một vài giới thiệu lưu loát nhất về bản thân, nghề nghiệp… Lời mở đầu có ấn tượng thì người đối diện mới có hứng thú để nghe tiếp những gì bạn muốn nói. Trong lúc trò chuyện, đừng nên đối thoại ấp úp, lắp bắp. Bạn nên tự luyện tập cách chào hỏi, bắt tay, cười nói với người mới sẽ giúp bạn tự tin hơn.

    Sự tự tin quyết định 90% thành công của bạn

    Luôn đặt câu hỏi và lắng nghe

    Dành thời gian cho người khác hiểu ý bạn muốn nói

    Cho đi để nhận lại

    Một mối quan hệ bền vững sẽ phải xuất phát từ hai phía. Tức là, trong lúc bạn gặp khó khăn, nhận được sự giúp đỡ từ người khác. Bạn cần đền ơn đáp nghĩa cho họ trong dịp nào đấy gần nhất. Không phải chỉ khi họ gặp khó khăn bạn mới ra tay giúp đỡ. Hãy tinh tế lên một chút, sẽ giúp mối quan hệ của bạn với mọi người tốt đẹp hơn.

    Yếu tố này rất quan trọng trong Networking

    Theo dõi liên hệ

    Lâu không liên hệ bạn sẽ bị lãng quên

    Nguồn ảnh: Internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • Networking Là Gì? Kỹ Năng Networking Hiệu Quả
  • Networking Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Networking Trong Marketing Thế Nào?
  • Networking Là Gì? Thuật Ngữ Quan Trọng Bạn Nên Biết
  • Ssl: Đặc Điểm Kỹ Thuật Ngữ Nghĩa Ngôn Ngữ
  • Giáo Án Môn Học Ngữ Văn Lớp 9
  • Lực Lượng Sản Xuất Là Gì? Quan Hệ Sản Xuất Là Gì? Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất Có Mối Quan Hệ Như Thế Nào? Từ Việc Hiểu Biết Mối Quan Hệ Đó Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Nào? Cho Ví

    --- Bài mới hơn ---

  • Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất: Quy Luật Mối Quan Hệ Biện Chứng
  • Chân Lý Là Gì? Chân Lý Có Những Tính Chất Chung Nào? Thế Nào Là Chân Lý Tương Đối Và Chân Lý Tuyệt Đối? Chân Lý Có Vai Trò Gì Đối Với Thực Tiễn?
  • Đi Tìm Triết Lý Dạy Học
  • Triết Lí Giáo Dục Của Bạn Là Gì?
  • Triết Học Pháp Luật Trong Hệ Thống Các Khoa Học Pháp Lý
  • – Khái niệm lực lượng sản xuất

    + Khái niệm lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ,… của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người. Với nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò phản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người.

    + Các yếu tố (nhân tố) tạo thành lực lượng sản xuất gồm có: tư liệu sản xuất (trong đó, công cụ sản xuất là yếu tố phản ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của con người) và người lao động (trong đó năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quan trọng).

    Trong hai nhóm yếu tố nói trên, người lao động là nhân tố quan trọng nhất (bởi vì, tư liệu sản xuất có nguồn gốc từ lao động của con người và được sử dụng bởi con người).

    – Khái niệm quan hệ sản xuất

    + Khái niệm quan hệ sản xuất dùng để chỉ tổng thể mối quan hệ kinh tế (quan hệ giữa người với người về mặt thực hiện lợi ích vật chất trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội).

    + Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó.

    Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mổì quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở xuyết định của quan hệ sở hữu vể tư liệu sản xuất.

    – Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

    + Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng (phụ thuộc, ràng buộc nhau, tác động lẫn nhau) tạo thành quá trình sản xuất hiện thực của xã hội.

    Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó. Trong đòi sống hiện thực, không thể có sự kết hợp các nhân tố của quá trình sản xuất để tạo ra năng lực thực tiễn cải biến các đối tượng vật chất tự nhiên lại có thể diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định. Ngược lại, cũng không có một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra trong đời sống hiện thực chỉ với những quan hệ sản xuất không có nội dung vật chất của nó.

    Như vậy, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau. Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quá trình sản xuất hiện thực của xã hội. Tương ứng với thực trạng phát triển nhất định của lực lượng sản xuất cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với thực trạng đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức – quản lý và phân phối. Chỉ có như vậy, lực lượng sản xuất mới có thể được duy trì, khai thác – sử dụng và không ngừng phát triển. Ngược lại, lực lượng sản xuất của một xã hội chỉ có thể được duy trì, khai thác – sử dụng và phát triển trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.

    + Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ biện chứng nhưng trong đó, vai trò quyết định thuộc về lực lương sản xuất, còn quan hệ sản xuất giữ vai trò tác động trở lại lực lượng sản xuất.

    Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định; bởi vì, quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất còn lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó.

    Tuy nhiên, quan hệ sản xuất, với tư cách là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, nó luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất. Sự tác động này có thể diễn ra theo chiểu hướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng và nhu cầu khách quan của sự vận động, phát triển lực lượng sản xuất. Nếu “phù hợp” sẽ có tác dụng tích cực và ngược lại, “không phù hợp” sẽ có tác dụng tiêu cực.

    + Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập làm phát sinh mâu thuẫn cần được giải quyết để thúc đẩy sự tiếp tục phát triển của lực lượng sản xuất.

    Trong phạm vi tương đối ổn định của một hình thức kinh tế xác định, lực lượng sản xuất của xã hội được bảo tồn, không ngừng được khai thác – sử dụng và phát triển trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội.

    Tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất càng cao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển, nhưng chính sự phát triển của lực lượng sản xuất lại luôn luôn tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất của những quan hệ sản xuất từ trước đến nay đóng vai trò là hình thức kinh tế cho sự phát triển của nó. Những quan hệ sản xuất này, từ chỗ là những hình thức phù hợp và cần thiết cho sự phát triển của các lực lượng sản xuất đã trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó, nó đã tạo ra một mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó xuất hiện nhu cầu khách quan phải thiết lập lại mối quan hệ thông nhất giữa chúng theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất.

    Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C. Mác đã từng chỉ ra rằng: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có… trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội”. Chính nhờ các cuộc cách mạng xã hội mà những quan hệ sản xuất cũ của xã hội được thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất đã phát triển, tiếp tục phát huy tác dụng tích cực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một hình thức quan hệ sản xuất mới.

    – Ý nghĩa phương pháp luận

    + Để xác lập, hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất của xã hội, cần phải căn cứ vào thực trạng (tình hình thực tế) phát triển của lực lượng sản xuất hiện có để xác lập nó cho phù hợp chứ không phải căn cứ vào ý muốn chủ quan. Chỉ có như vậy mới có thể tạo ra được hình thức kinh tế thích hợp cho việc bảo tồn, khai thác – sử dụng, tái tạo và phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.

    + Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đang kìm hãm sự phát triển đó thì cần phải có những cuộc cải biến (cải cách, đổi mới,…) mà cao hơn là một cuộc cách mạng chính trị để có thể giải quyết được mâu thuẫn này.

    Ví dụ, trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa vào trước những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí, chưa tuân theo thật đúng yêu cầu của quy luật này. Do đó đã dẫn đến tình trạng lực lượng sản xuất hiện có không được bảo tồn, tái tạo và phát triển tốt. Thực tế đó là nguyên nhân căn bản và sâu xa dẫn tới sự khủng hoảng kinh tế lớn, buộc các nước này phải tiến hành những cuộc cải ách, đổi mới theo hướng tạo lập sự phù hợp của quan hệ sản xuất với thực tế trình độ phát triển lực lượng sản suất, nhờ đó lực lượng sản xuất của xã hội từng bước được phục hồi và phát triển.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Nghĩa Khắc Kỷ, William B. Irvine
  • Chủ Nghĩa Khắc Kỷ (Stoicism) Là Gì?
  • Nghệ Thuật Sống Thế Kỷ 21: Lời Khuyên Từ Triết Học Khắc Kỷ
  • Triết Học Mac Lê Nin _ Www.bantinsom.com
  • Thuyết Bất Khả Tri Là Gì?
  • Thế Giới Quan Khoa Học (1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Thế Giới Quan Và Thế Giới Quan Khoa Học
  • Quy Trình Thực Hiện Nghiên Cứu Khoa Học (Mục Tiêu Nghiên Cứu).
  • Thế Nào Là “cơ Sở Khoa Học” ?
  • Chủng Tộc: Một Khái Niệm Không Có Cơ Sở Khoa Học
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo
  • 1. Tiếp cận

    Khoa học luận, tại sao?

    Với số này xin bắt đầu một loạt bài có tựa chung là “thế giới quan khoa học”, và hy vọng sẽ không với tay quá trán để có thể kết thúc một ngày không xa. Ý đồ của người viết là khảo sát và trình bày sự hình thành của tinh thần khoa học từ cổ sơ tới thời hiện đại. Tại sao không chỉ nói đến tinh thần khoa học hiện đại như nó đang là, mà lại đứng trên quan điểm lịch sử mà bàn về sự hình thành của nó? Hiển nhiên một đặc điểm của khoa học là tính phi thời gian. Cái gì đúng cho ngày hôm nay thì vẫn đúng ba trăm năm (hay nói ba trăm triệu năm cũng được) trước: trái đất đã và vẫn tròn; định lý Pythagore và nguyên lý Archimède đúng trước khi con người phát hiện ra chúng, và ngày nay vẫn còn hữu ích. Vậy lịch sử khoa học phải chăng chỉ có ích cho những nhà viết… sử khoa học?

    Rõ ràng là các thành quả khoa học có tính phi thời gian; nhưng tinh thần khoa học là điều được hình thành trong tư duy con người, và nó có tính lịch sử. Tuy nhiên hình như việc coi nhẹ tinh thần khoa học vẫn lẩn quất ở đâu đó trong các chương trình giáo dục: cho đến thời gian gần đây trên cả thế giới người ta vẫn chỉ dạy và học những thành quả của khoa học, dạy cái đúng, chứ không dạy cách làm thế nào để tìm ra cái đúng, và nhất là làm gì để tìm ra những cái đúng cần thiết. Sự truyền bá về phương pháp tư duy và về tay nghề này hình như chỉ được làm một cách gián tiếp, qua kinh nghiệm của thầy, qua môi trường sống và làm việc… theo câu ngạn ngữ Pháp “cứ rèn đi thì sẽ thành thợ rèn”.

    Tại sao vậy? lý do hiển nhiên là thời gian eo hẹp. Cho dù chỉ phải đi xa trên một trong rất nhiều bộ môn, quãng đời đi học của người thanh niên cứ dài mãi ra. Năm năm hay mười năm mài đũng quần trong giảng đường đại học cũng chỉ đủ cho hắn học hỏi những kết quả thiết yếu của mấy trăm năm tiến bộ trong một ngành. Trong vòng trên dưới hai chục năm phải học hỏi về thành quả của một quá trình mấy trăm năm (nếu không muốn nói là mấy nghìn năm) của cả nhân loại, thì làm sao có thì giờ học về những mày mò của tiền nhân? làm sao biết họ đã sai ra sao? cho dù câu hỏi này hiển nhiên rất có ích về mặt phương pháp luận, vì cũng hiển nhiên là trong những mày mò của con người để trả lời những câu hỏi thực sự mới thì sai lạc hay bế tắc là quy luật, hãn hữu mới có một lần tương đối mới và đúng. Một lý do nữa là cái phương thức giáo dục này cho đến nay vẫn tỏ ra hiệu quả, ít nhất trong những bộ môn trừu tượng ít gắn liền với thực tế: “cứ làm toán đi thì sẽ giỏi toán” vẫn đúng với những người có khiếu. Còn không thì nên chọn nghề khác, cũng may là phần lớn người ta chỉ thích làm những việc người ta làm được.

    Tuy nhiên với phương cách giáo dục cổ điển này dễ thấy là sinh viên trong các nước đang phát triển rất bị thiệt thòi: quả vậy, sinh viên các đại học tại Âu Mỹ đắm chìm trong một môi trường khoa học thực sự, với truyền thống, với quá khứ nghiên cứu khoa học lâu đời, và với cả những bậc thầy cũ và mới đã là các bác học nổi danh và có thể vẫn còn đang nghiên cứu tại trường… vì thế sự truyền bá tinh thần và phương pháp luận khoa học được đảm bảo một cách sống động, “bất thành văn”. Trong khi điều này rất hiếm có tại các nước đang phát triển, do rất ít các bậc thầy kiệt xuất cố gắng làm việc ấy với rất nhiều khó khăn, vì không những nó “ngoài chương trình”, mà còn vì nó đòi hỏi một môi trường cởi mở và tự do tư tưởng, cũng rất hiếm có trong các nước đang phát triển. Trong điều kiện ấy việc sắp xếp lịch sử và phương pháp luận khoa học thành một môn học chính quy là cần thiết. Dù như thế không thể bằng sự truyền bá văn hoá khoa học trực tiếp trong môi trường giảng dạy nghiên cứu theo truyền thống, nhưng có còn hơn không.

    Ngay cả với những lợi thế truyền thống bất thành văn, trong các nước đã phát triển càng ngày người ta thấy càng rõ ràng là cái học “thành văn” về phương pháp luận ít ra cũng quan trọng ngang cái học về kết quả, và thật sự hai khía cạnh này bổ sung cho nhau trong một thời đại mà kiến thức tích tụ càng ngày càng nhiều. Do phải học suốt đời, và do đó tự học là chính, sau khi đã được đào tạo về căn bản và về phương pháp luận. Sau nữa trong thời đại ngày nay các vấn đề ngày càng phức tạp và đòi hỏi nghiên cứu liên ngành. Như thế những người cùng nghiên cứu phải nắm bắt được cái cơ bản trong những lĩnh vực khác, của những người cộng sự; và họ phải có được đồng thuận tối thiểu, “thành văn”, về những chuẩn mực khoa học.

    Ý thức về sự cần thiết của một văn hoá khoa học hoàn chỉnh hơn cho người công dân thế giới tương lai đã khiến bộ môn khoa học luận hay triết lý khoa học (épistémologie, philosophie des sciences) -mà các nội dung chính có liên hệ chặt chẽ với nhau là lịch sử khoa học, tinh thần khoa học, và phương pháp luận khoa học- trở nên có tầm quan trọng đặc biệt. Bộ môn này đang được khuyến cáo đưa vào chương trình đại học của cả các ngành khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội, và điều này đã được nhiều đại học trên thế giới thực hiện.

    Dù không đi vào cuộc cãi vã duy tâm / duy vật “khi phân tích đến tận cùng” câu hỏi: “cái phần nhận thức đó, là nguyên nhân, hay là hậu quả của những thay đổi về kinh tế xã hội?”, ai cũng có thể chấp nhận có ảnh hưởng qua lại giữa nhận thức con người và môi trường tự nhiên và xã hội trong đó hắn sinh sống. Vì vậy giáo dục về tinh thần khoa học là một việc rất có ích cho tiến bộ xã hội, dĩ nhiên đây không phải là điều duy nhất cần có trong nền giáo dục mới.

    Ngược dòng lịch sử

    Nhưng khi suy nghĩ cặn kẽ thế nào là tinh thần khoa học thì câu trả lời không đơn giản. Tinh thần phải được cụ thể hoá thành những nguyên lý, được chấp nhận như sự thực đầu tiên, và thành những nguyên tắc hành xử, được coi như những dẫn dắt hiệu quả nhất trong hoạt động cụ thể… Thế mà những nguyên lý và nguyên tắc này phải đâu đã rõ ràng trên giấy trắng mực đen. Hiện nay, khi mà hoạt động khoa học đã trở thành đối tượng của học thuật từ hơn một thế kỷ, vẫn còn những trường phái khoa học luận khác nhau.

    Thực ra thì trước khi có các khủng hoảng về nền tảng của toán học và vật lý học, và trước những Hiroshima, những hiệu ứng nhà kính, v.v. đã khiến cho các nhà khoa học cũng như các triết gia đặt lại câu hỏi: thế nào là khoa học? khoa học kỹ thuật có thể giải quyết mọi chuyện hay không?; trong thời hoàng kim của khoa học cổ điển từ cuối thế kỷ 17 (với nguyên lý vạn vật hấp dẫn của Newton) đến cuối thế kỷ 19, đã có một sự nhận định rất đồng thuận về khoa học, cùng với niềm tin sắt đá vào khả năng to lớn của nó đem lại hạnh phúc cho loài người. Thời hoàng kim này thoát thai và lớn mạnh trong một giai đoạn kéo dài cả một thế kỷ (từ đầu thế kỷ 17 nếu lấy năm 1600, năm Bruno bị hoả thiêu, làm mốc), trong đó tư duy thuần lý đã phải tranh đấu để thoát ra khỏi những quan niệm giáo điều thời Trung cổ đã bị thực tế phủ nhận, tuy vẫn là cơ sở của quyền lực tinh thần.

    Vậy có phải trước thế kỷ 17 thế giới chưa có khoa học? Nếu coi khoa học như một nỗ lực để hiểu biết một cách hoàn chỉnh, có hệ thống và có hiệu quả về thế giới, với những phương pháp nghiên cứu và đội ngũ nghiên cứu chuyên nghiệp như hiện nay, thì đúng là như thế. Nhưng thế kỷ ánh sáng, cũng như thời đại phục hưng (cả về văn hoá lẫn về đời sống vật chất, kỹ thuật) của Âu châu trước đó, không phải từ trên trời rơi xuống. Nó là kết quả của cả một quá trình tích luỹ, khám phá và du nhập những tiến bộ kinh tế, kỹ thuật, tổ chức xã hội… tiệm tiến trong nhiều thế kỷ trước… trong đó những nỗ lực để hiểu biết và cải tạo thế giới tự nhiên cũng như xã hội không bao giờ vắng mặt, tuy có thể không tự giác và không có hệ thống hoàn chỉnh. Vậy cái gì đã tiềm tàng để sẽ trở thành “tinh thần khoa học” trong thời hiện đại? Và nếu nhìn về Trung Quốc của thế kỷ 13 chẳng hạn thì họ có “tinh thần khoa học” không? khi mà đời sống vật chất cũng như trình độ kỹ thuật và tổ chức xã hội cao hơn ở Âu châu cùng thời một mức đáng kể.

    Và như thế cứ đi ngược thời gian người ta sẽ thấy có những giai đoạn tiến bộ đột phát, và ở khoảng giữa là những giai đoạn tiến triển chậm chạp và kéo dài. Những giai đoạn lịch sử đột phát đó cũng bao gồm những thay đổi sâu rộng về mọi mặt trong đời sống xã hội; trong đó việc cái nhìn của con người trước xã hội và thế giới tự nhiên trở nên “khoa học hơn” chỉ là một khía cạnh.

    Ðột phát, thì chỉ khởi đi từ một chỗ, khó có điều gì tự nhiên đột phát ở nhiều nơi trên thế giới, có lẽ đặc biệt trừ giai đoạn cổ đại, khi các nguồn tư tưởng lớn như Phật, Lão, Khổng, các triết gia Hy Lạp… nảy sinh ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp, chỉ trong vòng vài trăm năm. Có thể cho rằng khoa học kỹ thuật hiện đại chọn châu Âu để nảy sinh là do một tình cờ lịch sử nào đó. Nhưng nói như thế là gạt bỏ vấn đề một cách quá dễ dãi, vì dù sao, nhất là đối với những vùng văn minh ngoài châu Âu, câu hỏi cần đặt ra là: “tại sao cách mạng khoa học kỹ thuật đã bùng nổ tại châu Âu mà không ở những nơi khác?” Quan trọng cũng như câu hỏi “tại sao Hy Lạp?”, đối với sự hình thành của tư duy thuần lý, một đột phát khác. Vì nếu vẫn còn những rào cản về văn hoá, trong tâm thức, hay trong tổ chức xã hội… làm ngăn trở sự bùng nổ đó thì cũng nên nhận diện chúng, trong chừng mực chúng vẫn còn tác hại trên sự tiếp thu khoa học.

    Thế giới quan khoa học

    Thí dụ như thái độ “duy khoa học” của một Voltaire, một Diderot… coi rằng có thể thiết lập một nền đạo đức dựa trên khoa học, dưới cái nhìn phê phán hiện đại còn có phải là một thái độ… khoa học hay chăng? Và ngược lại, không thể không thấy có một cái gì rất khoa học tiềm ẩn trong những thử nghiệm và những phát minh kỹ thuật của một Leonard de Vinci (1452-1519) chẳng hạn; hay trong phát minh máy in đúc chữ rời năm 1440 của Gutenberg, mà ảnh hưởng trên văn minh thế giới là không thể lường được. Mặc dầu thực ra người Hàn Quốc đã phát minh phương pháp in sắp chữ đúc rời bằng đồng trước đó rất lâu (một trong những bản in cũ nhất là một bộ kinh Phật có niên đại 1377 hiện đang được giữ tại Thư viện quốc gia Pháp).

    Vậy trong chữ “lịch sử khoa học” ta cần hiểu “khoa học” trong nghĩa rộng nhất của nó, thay đổi theo và gắn liền với lịch sử. Như thế nó bao gồm cả mặt thực dụng, như một cố gắng duy lý không tự phản tỉnh, nằm đằng sau những phát minh kỹ thuật “tự phát”; và nó bao gồm cả mặt tư tưởng trừu tượng, trong những suy tư triết học bao quát. Vì trước thời hiện đại thì không có sự chuyên môn hoá và khu biệt hoá giữa những người làm khoa học và những triết gia. Tư tưởng nào thuộc phạm vi khoa học và tư tưởng nào nằm ngoài phạm vi ấy… cũng là điều khó rạch ròi.

    Nếu rút ra từ thí dụ trên một vấn nạn về phương pháp luận, thì có thể nói điều rất khó để tìm hiểu quá khứ là chúng ta cần một công cụ phân tích chung qua các thời đại, công cụ này chỉ có thể là những hiểu biết hiện có. Nghĩa là ta cần và chỉ có thể dựa trên những hình thức tư duy, cảm nhận và sinh hoạt hiện tại để làm chỗ dựa cho việc khảo sát quá khứ; trong khi đó thì những khái niệm và ngôn từ thừa hưởng từ quá khứ nhiều khi đã thay đổi ý nghĩa rất nhiều. Do đó câu hỏi thường trực khi nghiên cứu lịch sử tư duy là: những hình thức tư duy trong quá khứ giống hay khác cách hiểu và cảm nhận hiện tại của chúng ta như thế nào. Và ngược lại, dấu vết của những hình thức tư duy quá khứ có thể vẫn còn ngự trị hay ảnh hưởng tới văn hoá khoa học hiện đại như thế nào? Câu hỏi này có tầm quan trọng đặc biệt cho công việc “gạn đục khơi trong” của tinh thần khoa học. Nói như vậy không có nghĩa phải gạt bỏ tất cả những yếu tố không thuần lý đang tiềm ẩn.

    Vậy chúng ta phải chấp nhận một phương pháp luận hình như luẩn quẩn: dựa trên thế giới quan khoa học như hiện có để tìm hiểu sự hình thành của nó qua lịch sử. Chỉ hình như thôi, vì như đã nói ở trên, các thành quả khoa học là phi thời gian và phi không gian, trong nghĩa đó khoa học hiện đại có khả năng hiểu bao quát quá khứ, và ngược lại thì không. Quên điều đó thì sẽ rơi vào tương đối luận, một thứ xa xỉ trong các salon Âu Tây mà người trí thức của các nước đang phát triển nếu chạy theo thì thật chưa thoát khỏi đầu óc bị trị: tại sao đã bị trị? nếu không vì khoa học kỹ thuật thua kém?

    Cái tinh tuý, cái cốt lõi tối thiểu được mọi nhà khoa học chia sẻ hiện nay có lẽ có thể được phát biểu một cách ngắn gọn, như sau: có một thế giới khách quan hiện hữu độc lập với con người, thế giới đó biến chuyển theo những quy luật nhân quả mà con người có tiềm năng hiểu được. Tóm lại, đó là một thế giới quan khoa học. Thế giới quan đó không thường trực nằm trong mọi tư duy, cảm quan và xử thế của con người. Nhưng nó lại có thể nằm ngay trong bản thân những người phủ định nó, nếu đào sâu một chút người ta có thể thấy nó ở những chỗ bất ngờ nhất. Việc người phù thuỷ lên đàn cầu đảo, khấn bái thần linh để cho mưa xuống có gì là khoa học không? Không ư? Tại sao cầu mưa, nếu không biết rằng mưa là nhân, mà mùa màng tốt tươi là quả?

    Sự hình thành thế giới quan khoa học, lộ trình

    Có thể chia lịch sử loài người nói chung thành một số thời đại, và có lý do để tin tưởng rằng lịch sử khoa học cũng đi sát với sự phân chia ấy:

    1) Thời tiền sử: từ khi hình thành con người sinh lý hiện đại (homo sapiens) đến khi có chữ viết. Thời kỳ này được coi như bắt đầu cách đây khoảng 100 nghìn năm, cho đến cách đây khoảng 5000 năm, với nền văn minh Sumer, lần đầu tiên có chữ viết mà ta được biết. (Xem Diễn Ðàn số 130; Văn Ngọc, Sumer 5000 năm sau).

    2) Thời tiền cổ đại: Các nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà… từ -3000 (3000 năm trước công nguyên) cho đến khoảng -600, bắt đầu nền văn minh Hy Lạp, và trước khi nảy sinh các hệ tư tưởng lớn (Hy Lạp, Ấn Ðộ, Trung Quốc).

    3) Thời cổ đại: Hy Lạp, Trung Quốc, Ấn Ðộ: từ -600 đến thế kỷ thứ 5 (tàn lụi của đế quốc La Mã).

    4) Thời tiền cách mạng khoa học: Trung cổ, văn minh Ả Rập; từ thế kỷ thứ 5 đến thời Phục Hưng.

    5) Thời Phục Hưng và cách mạng khoa học: thế kỷ 15-17.

    6) Thời hoàng kim của khoa học cổ điển: thế kỷ 18, 19.

    7) Thời hiện đại: thế kỷ 20.

    Trong mỗi thời đại ta có thể khảo sát những miền tư duy quen thuộc hiện nay để trả lời những câu hỏi về sự hiện hữu của chúng, và về cách hiểu của người xưa khác với người nay như thế nào, trong mỗi miền:

    • tư duy khoa học
    • tư duy về tổ chức xã hội và kinh tế
    • những hoạt động công nghệ và kỹ thuật
    • tư duy triết học
    • tư duy về nghệ thuật
    • tình cảm tôn giáo
    • sáng tạo, ghi nhớ và truyền bá các huyền thoại
    • sáng tạo và cảm nhận về nghệ thuật
    • tư duy ma thuật, thần bí
    • những hoạt động thủ công

    Một thí dụ: trong danh sách những hoạt động tư duy kể trên thì người tổ tiên xa nhất của chúng ta (tổ tiên thực sự trong nghĩa sinh lý, tức là nếu sống lại có thể lấy vợ lấy chồng và đẻ con với người hiện đại, ước lượng đã sống cách đây khoảng 100 000 năm) không làm gì có tất cả. Nhưng ít ra là đã có ba dòng cuối. Về mặt nghệ thuật, chỉ cần nhìn những bức tranh tuyệt đẹp trong động đá. Ảnh hưởng hỗ tương của việc sáng tạo những công cụ thủ công như cái rìu đá, cái lao… trên văn hoá con người là điều đã được nói đến nhiều. Tư duy ma thuật là một khái niệm phức tạp, nảy sinh sớm và sống dai dẳng, mãnh liệt, với loài người cho tới nay. Nếu hình thức tư duy này hoàn toàn vô hiệu quả và vô ích thì đã bị đào thải từ lâu. Không phải chỉ có việc phù thuỷ cầu mưa, chiêm tinh học đã đẻ ra thiên văn học, và giả kim thuật* đã đẻ ra hoá học.

    Hàn Thuỷ

    Diễn Đàn, số 132, tháng 9-2003

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?
  • Khám Phá Khoa Học Của Trẻ Mầm Non
  • Dạy Học Dựa Trên Tìm Tòi, Khám Phá Khoa Học
  • Khám Phá Khoa Học Và Sự Phát Triển Của Trẻ Mầm Non
  • 10 Bộ Phim Khoa Học Viễn Tưởng Khiến Bạn Phải Dọn Não Trước Khi Xem
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100