Triết Học Hy Lạp , La Mã Cổ Đại

--- Bài mới hơn ---

  • I. Sự Ra Đời Và Các Thời Kỳ Của Triết Học Hy Lạp
  • Bản Chất Của Siêu Hình Học Là Gì?
  • Vấn Đề Kế Thừa Và Phát Triển Trong Lịch Sử Triết Học
  • Quan Điểm Của C.mác Và Ph.ăngghen Về Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Và Chính Trị
  • Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Thị Trường Và Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Thời Kỳ Quá Độ Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Tanguyễn Gia Thơ
  • CHUYÊN ĐỀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

    TRIẾT HỌC

    TRIẾT HỌC HY LẠP , LA MÃ CỔ ĐẠI

    2

    3

    Trước khi triết học ra đời, hình thức triết lý xưa nhất của nhân loại là

    huyền thoại, mà thần thoại là hạt nhân thế giới quan của nó. Thần thoại ngự trị

    trong ý thức đại chúng cùng với thuyết nhân hình xã hội nguyên thuỷ, vật linh

    thuyết, vật hoạt luận. Người nguyên thủy bị vây bọc trong quyền lực của xúc

    cảm và trí tưởng tượng, những quan niệm của họ còn rời rạc, mơ hồ, phi lôgíc.

    Các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật, tinh thần và vật chất,

    khách quan và chủ quan, hiện thực và suy tưởng, tự nhiên và siêu nhiên ở thần

    thoại còn chưa bị phân đôi. Đỉnh cao phát triển của thần thoại cũng đồng thời

    báo hiệu sự cáo chung tất yếu của nó. Triết học – hình thức tư duy lý luận đầu

    tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại – ra đời, thay thế cho tư duy huyền thoại và

    tôn giáo nguyên thuỷ. Thuật ngữ “triết học” do người Hy Lạp nêu ra1

    (philosophia) theo nghĩa hẹp là “yêu mến sự thông thái”, còn theo nghĩa rộng, là

    khát vọng vươn đến tri thức; nói khác đi, là “quá trình tìm kiếm chân lý”; nhà

    triết học là người yêu mến sự thông thái, khác với nhà bác học (sophos), người

    nắm vững chân lý. Tuy nhiên với thời gian triết học được hiểu theo nghĩa rộng:

    đó là thứ tri thức phổ quát, tìm hiểu các vấn đề chung nhất của tồn tại và tư duy.

    Ở buổi đầu lịch sử tri thức triết học là tri thức bao trùm, là “khoa học của các

    khoa học”. Nói như thế không có nghĩa là tư tưởng đạo đức, chính trị, thẩm mỹ,

    nghệ thuật chưa xuất hiện. Vấn đề là ở chỗ các tư tưởng đó đã được xem là một

    phần của triết học. Trong thời Trung cổ thần học Kytô giáo chiếm vị trí thống trị

    trong sinh hoạt tư tưởng. Nhà nước phong kiến và nhà thơ Thiên chúa giáo chỉ

    lấy “những cái phù hợp” trong triết học Arixtốt (Aristoteles, Aristotle), trường

    phái Platôn (Platon, Plato) để làm chỗ dựa tư tưởng của mình. Triết học trở

    thành nô lệ của thần học, của cái gọi là tư duy chuẩn mực, nhà thờ trở thành

    “nền chuyên chính tinh thần”, lịch sử các vị thánh quan trọng hơn lịch sử các

    danh nhân. Thế kỷ XV – XVI được xem là thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ phong

    kiến sang xã hội tư sản. Tư tưởng nhân văn trở thành trào lưu chủ đạo và xuyên

    suốt, thể hiện ở hầu khắp các lĩnh vực nhận thức và hoạt động thực tiễn, với

    thông điệp con người là trung tâm. Từ thế kỷ XVII – XVIII trở đi tư tưởng triết

    học, khoa học, đạo đức, thẩm mỹ, chính trị mang tính thế tục và duy lý thay thế

    dần thần học vạn năng. Khi trung tâm tri thức chuyển từ Anh và Pháp sang Đức

    từ nửa sau thế kỷ XVIII truyền thống “cổ điển” phương Tây, bắt đầu từ Hy Lạp

    – La Mã, đạt đến đỉnh cao hoàn thiện nhất, mà điển hình là hệ thống Hêghen

    1

    Một số nhà nghiên cứu cho rằng Pythagoras là người đầu tiên tự gọi là philosophos (φιλοσοφος), tức “kẻ yêu

    mến sự thông thái”, nhưng chính Heraklitus mới là người đầu tiên sử dụng từ này trong một đoạn tản văn của

    ông.

    4

    C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 157.

    C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 156.

    5

    C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập; t.20, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 197 và 42.

    6

    7

    dung lẫn hình thức thể hiện.

    Sự phát triển của tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học, phản ánh trình độ

    tư duy chung của nhân loại. Thực tiễn khách quan, hoạt động nhận thức và khoa

    học của con người quy định vị trí của mổi quan điểm, học thuyết. Chẳng hạn

    trong xã hội chiếm hữu nô lệ chưa hình thành các ngành khoa học độc lập,

    chuyên biệt về tự nhiên và xã hội, về các hình thức vận động của vật chất, nên

    triết học thời bấy giờ là kiến thức lý luận nói chung, trên thực tế là dạng kiến

    thức duy nhất. Dần dần các khoa học chuyên biệt ra đời, ranh giới giữa chúng

    với triết học được xác lập. Sự phát triển phong phú tri thức loài người và quá

    trình phân loại, “cá thể hóa” đưa đến chỗ triết học không còn đóng vai trò “khoa

    học của các khoa học” nữa, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tồn

    tại và nhận thức.

    Sinh hoạt tư tưởng trong thời đại hôm nay phản ánh một thế giới mở, sự

    bùng nổ các khám phá khoa học, sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ, kinh tế

    tri thức và sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc vì những mục tiêu nhân loại

    chung; song đó cũng là một thế giới phức tạp, tiềm ẩn các nguy cơ xung đột giá

    trị, trong đó có giá trị tư tưởng, tinh thần. Nhận diện các trào lưu tư tưởng hiện

    đại, giải thích một cách khách quan, khoa học nội dung và thực chất của chúng

    góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm của thời đại, dự báo xu hướng vận động

    của lịch sử.

    Ba nguyên tắc cần nắm trong quá trình tìm hiểu một học thuyết, một trào

    lưu tư tưởng trong lịch sử là: thứ nhất, nguyên tắc lịch sử cụ thể, nghĩa là cần đặt

    đối tượng nghiên cứu, xem xét trong những điều kiện lịch sử nhất định, phù hợp

    với trình độ nhận thức của thời đại đó, đánh giá một cách nghiêm túc, trung thực

    những thành tựu, đóng góp của các nhà tư tưởng vào kho báu tư tưởng nhân

    loại. Không nên áp đặt một cách chủ quan những tính quy định của thời đại hôm

    nay đối với quá khứ, buộc quá khứ làm được những điều mà thời ấy chưa thể

    biết đến. Nói khác đi, quan điểm lịch sử cụ thể đòi một thái độ văn hóa đối với

    những di sản do nhiều thế hệ nhân loại đã tạo nên, tích lũy, sàng lọc qua các thời

    kỳ phát triển. Thứ hai, xác định cái cơ bản nhất, cốt lõi nhất, hay điểm nhấn

    trong toàn bộ bức tranh tư tưởng với tính cách là đối tượng nghiên cứu. Chỉ có

    như vậy mới hiểu biết một cách sâu sắc và cô đọng cái “hồn” sống động nhất

    của từng thời đại, hiểu được “trục chính” trong sinh hoạt tư tưởng thời đại ấy.

    Thứ ba, kết hợp hai cách đánh giá, đánh giá từ góc độ thế giới quan và đánh giá

    từ góc độ giá trị đối với từng học thuyết, vừa làm nổi bật tính đảng phái, vừa chỉ

    8

    ra vai trò, vị trí của từng học thuyết trong đời sống xã hội, trong dòng chảy của

    lịch sử tư tưởng. Thứ tư, chỉ ra mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại, nghĩa là rút

    ra ý nghĩa và bài học lịch sử của việc nghiên cứu một học thuyết, tư tưởng trong

    quá khứ đối với thời đại chúng ta.

    II. SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI

    HY LẠP

    1. Sự hình thành

    Triết học Hy Lạp được hình thành trên cơ sở những biến đổi của thực tiễn

    xã hội, là sự phản ánh nhu cầu nhận thức của con người ở một giai đoạn nhất

    định, khi xã hội chuyển biến sang nấc thang cao hơn, phá vỡ những quan hệ

    thuần chủng huyết thống và tính đồng nhất giản đơn của hệ thống các quan hệ

    xã hội. Sự ra đời của triết học chính là bước ngoặt đầy ý nghĩa trong sự phát

    triển của ý thức con người.

    a. Điều kiện kinh tế – xã hội

    Triết học cổ đại Hy Lạp hình thành vào thời kỳ diễn ra những chuyển biến

    sâu sắc trong đời sống kinh tế – xã hội, trước hết là sự tan rã hoàn toàn chế độ

    thị tộc và thiết lập chế độ nô lệ, sự ra đời hình thức nh nước của người Hy Lạp,

    được gọi là các thị quốc (city – state). Đó là một quá trình lịch sử lâu dài, gắn

    liền với sự phân công lao động xă hội, sự tích luỹ của cải, phân tầng xã hội, sự

    chuyển biến từ quan hệ thuần chủng huyết thống sang quan hệ đa huyết thống,

    sự mở rộng lãnh thổ trên cơ sở hợp nhất các thị tộc bằng các hình thức khác

    nhau. Đất đai của người Hy Lạp xưa kia rộng lớn hơn so với nước Hy Lạp ngày

    nay. Vào các thế kỷ XI – IX TCN (thời đại Homère) diễn ra quá trình tan rã các

    công xã thị tộc. Bước sang thế kỷ VIII – VII TCN nhà nước của người Hy Lạp

    ra đời (các quốc gia – thành bang chiếm hữu nô lệ). Sự phân công lao động, sự

    xuất hiện và phát triển của quan hệ hàng hóa, tiền tệ, sự tan rã của nền kinh tế tự

    nhiên, sơ khai, sự phân hóa giữa giàu và nghèo, sự đối kháng quyết liệt của các

    lực lượng xã hội khác nhau, sự thôn tính đất đai, sự sử dụng lao động nô lệ…

    bấy nhiêu thứ đó khiến cho chế độ thị tộc là chế độ lấy quan hệ huyết thống làm

    cơ sở phải đi đến chỗ bị diệt vong. Thị quốc5 là hình thức nhà nước đặc thù của

    người Hy Lạp, được tổ chức theo kiểu một cụm dân cư, có thành luỹ bao bọc,

    với hệ thống quyền lực được hình thành thông qua sự mở rộng lãnh thổ, cụ thể

    5

    9

    từ một thị tộc, bộ lạc, thành nhiều thị tộc, bộ lạc, nghĩa là thay quan hệ thuần

    chủng huyết thống bằng quan hệ đa huyết thống. Như vậy sự ra đời của nhà

    nước, dù dưới hình thức nào, cũng đều là minh chứng về một giai đoạn phát

    triển cao của xã hội so với trước. Nhà nước ra đời chứng tỏ sự phát triển xă hội

    đă đạt đến nấc thang mới, đòi hỏi thay thế cách tổ chức xă hội công xã nguyên

    thuỷ bằng hệ thống quyền lực công cộng và bộ máy có khả năng điều tiết các

    quan hệ xă hội ngày càng phức tạp. Nói cách khác, nhà nước đã ra đời như một

    tất yếu trên con đường phát triển lịch sử của nhân loại. Ph.Ăngghen viết: “Nhà

    nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định”6.

    Sự chuyển hóa từ chế độ thị tộc sang chế độ chiếm hữu nô lệ là bước

    nhảy vọt trong xã hội loài người.

    Cùng với sự hình thành các thị quốc, nền văn hóa mới cũng được xác lập,

    trở thành bộ phận hữu cơ của đời sống xã hội Hy Lạp cổ đại. Những biểu hiện

    chủ yếu của hệ thống các giá trị tinh thần mới là sự duy lý hóa tư duy, ý thức về

    nhân cách, ca ngợi tính tích cực, lòng quả cảm và năng lực của con người trong

    cuộc đấu tranh với tự nhiên, tinh thần ái quốc, quan niệm về tự do như phạm trù

    đạo đức – chính trị cao quý nhất… Sự hình thành những cơ sở của văn hóa Hy

    Lạp là sự kế thừa các giá trị truyền thống, thể hiện trong các sáng tác dân gian,

    trong thần thoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo, trong những mầm mống của

    tri thức khoa học. Tư tưởng triết học phát sinh và phát triển như một thành tố

    không tách rời của nền văn hóa mới ấy.

    Như vậy, sự chuyển tiếp từ xã hội công xã nguyên thủy sang chế độ chiếm

    hữu nô lệ diễn ra cùng với những biến đổi căn bản trong ý thức, trước hết là nhu

    cầu lý giải nghiêm túc những vấn đề tự nhiên, xã hội. Triết học ra đời theo

    Arixtốt, làm cho sự ngạc nhiên trước thế giới rộng lớn và bí hiểm được giải

    quyết bằng những nỗ lực của lý trí truy tìm nguyên nhân đích thực của vạn vật.

    Theo sử liệu học Pitago (570 – 496 TCN), hoặc có thể Hêraclít (khoảng 544 –

    khoảng 483 TCN), là người đầu tiên tự gọi mình là philosophos, sau đó xuất

    hiện thuật ngữ philosophia, dịch thành triết học, mặc dù Talét (khoảng 624 – 547

    TCN) mới là triết gia đầu tiên của Hy Lạp. Như vậy “Philosophia” (philo – yêu

    mến, sophia – sự thông thái) biểu thị khát vọng của con người vươn tới hiểu biết

    thực sự về mối quan hệ giữa con người với thế giới và với chính mình, vượt qua

    ảnh hưởng của tư duy huyền thoại, đi vào chiều sâu nhận thức thông qua khái

    6

    C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.21, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 252.

    10

    niệm ngày càng đạt được tính trừu tượng hóa cao.

    b. Tiền đề tinh thần của triết học (còn gọi là tiền triết học)

    Ngạc nhiên làm nảy sinh triết lý, triết lý của con người về thế giới ở buổi

    đầu lịch sử thể hiện trong huyền thoại, nhất là trong các câu chuyện thần thoại

    và sinh hoạt tín ngưỡng nguyên thuỷ. Thần thoại là sự đối thoại đầu tiên, đầy

    tính hoang tưởng của con người với thế giới xung quanh.

    Thần thoại (xuất phát từ tiếng Hy Lạp mythologia, trong đó mythos là câu

    chuyện, truyền thuyết, logos là lời nói, học thuyết) là hình thức tư duy phổ biến

    của người nguyên thủy, cùng với thuyết nhân hình, vật linh thuyết, vật hoạt

    luận… Trong thần thoại các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật,

    tinh thần và vật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và tưởng tượng, tự

    nhiên và siêu nhiên còn chưa bị phân đôi. Tuy nhiên tư duy huyền thoại cũng

    trải qua những bước phát triển nhất định, thể hiện sự phát triển của ý thức. Có

    thể nhận thấy điều này trong thần thoại Hy Lạp. Đỉnh cao của thần thoại cũng

    cũng đồng thời báo hiệu sự cáo chung tất yếu của nó, sự thay thế nó bằng hình

    thức thế giới quan mới, đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới ngày càng sâu sắc

    hơn của con người. Quá trình này bắt đầu từ thời đại Hôme (thế kỷ IX – VIII

    TCN) với việc xóa bỏ dần hố sâu ngăn cách giữa thần và người, nêu ra các ý

    tưởng sơ khởi về hỗn mang, về các hành chất, về nguồn gốc thế giới, và cả

    những thông điệp của con người về tình bạn, tình yêu, tinh thần ái quốc. Xu

    hướng này được tiếp tục ở Hêsiốt. Trong “Thần hệ” của Hêsiốt các trạng thái vũ

    trụ được mô tả thông qua các thế hệ thần linh, từ Hỗn mang đến thần Dớt – biểu

    tượng của trật tự, ánh sáng và sự tổ chức cuộc sống trong vũ trụ. Hiện tượng

    Prômêtê lấy trộm lửa của thần Dớt đem đến cho con người hàm chứa ý nghĩa

    sâu xa: lửa – biểu tượng của sức mạnh và lý trí – không còn là đặc quyền của

    thần linh như trước, mà đã cố hữu nơi con người. Con người trở nên tự chủ hơn

    trong quan hệ với thế giới xung quanh.

    Vào khoảng cuối thế kỷ VII – đầu thế kỷ VI TCN, các thị quốc bước vào

    thời kỳ phát triển khá thịnh vượng. Sự phân công lao động lần thứ hai và sự ra

    đời đồng tiền kim khí đã tạo nên những biến đổi lớn trong các lĩnh vực của đời

    sống xã hội. Ở bình diện văn hóa tinh thần “bảy nhà thông thái” xuất hiện, mở

    đường cho một nền triết học thực sự. Trong số họ, Talét được Arixtốt gọi là nhà

    triết học đầu tiên của thế giới phương Tây.

    Con đường từ thần thoại đến triết học, theo Hêghen, là con đường đi từ lý

    11

    tính hoang tưởng đến lý tính tư duy, từ hình thức diễn đạt thông qua biểu tượng

    đến hình thức diễn đạt bằng khái niệm7. Triết học ra đời không có nghĩa thần

    thoại mất đi, mà tiếp tục tồn tại trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, nhưng

    được xem xét ở bình diện khác – bình diện giá trị. Đằng sau những câu chuyện

    thần thoại là cả một triết lý sống, thể hiện những chuẩn mực, những giá trị,

    những bài học đạo đức, nhân văn.

    c. Vai trò của nền văn minh phương Đông trong sự hình thành tư duy triết

    học ở Hy Lạp

    Trong quá trình xây dựng các học thuyết triết học và khoa học người Hy

    Lạp kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của các dân tộc phương Đông,

    vốn hình thành sớm hơn, đồng thời tạo cho mình một phong cách và sắc thái tư

    duy độc đáo, tạo nên truyền thống đặc trưng được tiềp tục bổ sung, phát triển ở

    các thời đại sau.

    Vào các thế kỷ VIII – VII TCN công cuộc di thực được tiến hành ồ ạt.

    Những chuyến vượt biển tìm đất, sự trao đổi, buôn bán thường xuyên với các

    nước phương Đông, nhất là Ai Cập, Babylon, làm cho Hy Lạp có dịp tiếp xúc,

    học hỏi và hòa hợp với các nền văn minh khác. Thông qua những chuyến vượt

    biển tìm đất mới, quan hệ buôn bán, giao lưu, người Hy Lạp tiếp thu chữ viết,

    thành quả khoa học, và cả yếu tố huyền học (occultism) ở các nền văn minh

    phương Đông, nhất là vùng Trung Cận Đông và Bắc Phi. Chữ viết tượng hình

    xuất hiện tại Ai Cập, Mesopotamie và một số dân tộc khác từ khoảng 2700

    TCN. Đến thế kỷ VIII TCN người Phenicie, sau đó người Hy Lạp tiếp thu, cải

    biến và hoàn thiện thêm. Các lĩnh vực tri thức ở phương Đông như toán học,

    thiên văn học, địa lý, hệ thống đo lường, lịch pháp, các mầm mống của y học,

    các khoa học về sự sống đáp ứng phần nào khát vọng khám phá của người Hy

    Lạp, do đó được họ đón nhận một cách nhiệt tình, thúc đẩy quá trình hình thành

    những phác thảo đầu tiên về thế giới quan vào thế kỷ VII – VI TCN. Các nhà

    triết học đầu tiên của Hy Lạp đều có kiến thức khoa học vững vàng nhờ thường

    xuyên giao lưu với phương Đông dưới các hình thức khác nhau. Người Ai Cập

    tính được số pi, diện tích hình tam giác, hình chữ nhật, hình thang, hình bình

    hành, hình tròn. Hệ thống lịch pháp được xác lập vào đầu thiên niên kỷ II TCN.

    Từ phát minh của người Ai Cập ra cách tính thời gian một năm (365 + ¼ ngày

    đêm) sớm nhất thế giới, Babylon hoàn thiện thêm một bước về tháng bổ sung,

    7

    G.W.F.Hêghen, Toàn tập, t.9, Moskva, 1934, tr. 14.

    12

    để đưa năm âm lịch (12 tháng với 354,36 ngày đêm) đến gần với năm dương

    lịch (365,24 ngày đêm). Cách tính giời hiện nay cũng cũng xuất phát từ cách

    tính của Babylon. Tuy nhiên, dù đi trước Hy Lạp ở trình độ phát triển, song tại

    các nước phương Đông láng giềng, triết học đúng nghĩa vẫn chưa xuất hiện. Ở

    phương diện lý luận tại Ai Cập và Babylon các yếu tố huyền học và thuật chiêm

    tinh đan xen với các mầm mống của triết lý vũ trụ, nhân sinh, nhưng mặt thứ hai

    này còn khá mờ nhạt, bị lấn át bởi cách tiếp cận nhân hình hóa. Tại Babylon

    chiêm tinh chiếm vị trí cao trong thang bậc tinh thần, nhà chiêm tinh được tham

    dự vào cả công việc triều chính, giúp nhà vua vạch ra các kế hoạch đối nội, đối

    ngoại, tiến cử nhân sự. Tại Ai Cập, những pho tượng khổng lồ đầu người mình

    thú, đặt bên cạnh những kim tự tháp uy nghi, tráng lệ, cho thấy người Ai Cập

    quan tâm đến thế giới “bên kia” vĩnh cửu. Với thời gian, trong tư duy của người

    Ai Cập xuất hiện một số cách ngôn chứa đựng các yếu của chủ nghĩa hoài nghi,

    chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa khắc kỷ cổ sơ, như “Tôi là tôi”, “Đã vào cõi tử làm

    sao trở về”, “Đừng uổng phí thời gian”… Những cách ngôn đó bị xã hội xem là

    báng bổ thế giới thiêng liêng. Tại Babylon, sau thời kỳ hưng thịnh, những đô thị

    giàu có và sa đoạ bắt đầu suy vong, và sau cùng lùi về dĩ vãng. Sự kiện Babylon

    sa đoạ và sụp đổ đã được nêu ra trong Kinh Thánh Kytô giáo.

    Các yếu tố huyền học, khi được du nhập vào Hy Lạp, vẫn phải đóng vai

    trò giá đỡ cho tinh thần phóng khoáng, tự do của người Hy Lạp. Liên minh

    Pitago là một điển hình. Ở đó các yếu tố duy tâm, tôn giáo, vốn được tiếp thu từ

    phương Đông, không che khuất các yếu tố khoa học, duy lý. Có thể khẳng định

    rằng, dù đi sau phương Đông về văn minh, nhưng Hy Lạp không đơn giản làm

    công việc của người kế thừa. Ngược lại, sự hình thành và phát triển của triết học

    Hy Lạp là kết quả phát triển nội tại của tinh thần Hy Lạp, được thể hiện sinh

    động trong huyền thoại, trong văn hóa, trong tín ngưỡng nguyên thủy, chịu sự

    chi phối của các điều kiện kinh tế và xã hội. Trong quá trình tiếp thu có chọn lọc

    các giá trị văn hóa tinh thần phương Đông, người Hy Lạp tạo nên phong cách tư

    duy đặc trưng của mình, trở thành cái nôi của triết học và khoa học phương Tây.

    Vào năm 525 TCN, Ai Cập bị Ba Tư xâm chiếm. Ách thống trị của Ba Tư đã

    đẩy văn minh Ai Cập, cũng như Babylon trước đó, lùi về phía sau, nhưng ngọn

    lửa trí tuệ đã được nhen nhóm lên và rực sáng ở một vùng đất khác.

    Như vậy con đường thương mại, thậm chí cả chiến tranh xâm lược, đã

    thổi vào Hy Lạp luồng sinh khí mới, làm cho đời sống xã hội, văn hóa tinh thần

    thêm phong phú.

    13

    Thuật ngữ “Dân chủ” theo từ nguyên Hy Lạp là “Demokratia” (Δημοκρατια), sự kết hợp Kratos = quyền lực,

    và Dèmos = nhân dân, nghĩa là Quyền lực của nhân dân (tiếng Anh: Democracy).

    14

    15

    rạc, không có mối liên hệ với nhau. Thực ra cho dù lịch sử đã an bài, nhưng nó

    vẫn tiếp tục ám ảnh những đang sống, bởi những cách tiếp cận khác nhau về lịch

    sử.

    Quan điểm máy móc, siêu hình xem lịch sử triết học thuần túy chỉ như lịch

    sử đấu tranh giữa hai hệ thống thế giới quan và hai phương pháp triết học đối lập

    nhau, theo sự phân tuyến đơn giản: tốt – xấu, đúng – sai, khoa học – phản khoa

    học. Lý luận khoa học chân chính không nhìn vấn đề một chiều như thế, mà cố

    gắng làm sáng tỏ bức tranh đa dạng và phức tạp của sự phát triển tư duy triết

    học, từ đó rút ra tính quy luật của nó.

    Triết học là giá trị văn hóa tinh thần cô đọng nhất, tinh tuý nhất, là thời

    đại lịch sử hiện thực được tái hiện dưới hình thức tư tưởng, trong hệ thống các

    vấn đề triết học. C.Mác (K.Marx) viết trong “Bài xã luận báo “Kolnische

    Zeitung số 179″: … Mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần

    của thời đại mình”9. Vậy thế nào là “triết học chân chính”? Đó là triết học được

    sinh ra, chịu sự quy định bởi những điều kiện lịch sử – xã hội của thời đại mình,

    cùng với các học thuyết, các tư tưởng khác làm nên diện mạo tinh thần của thời

    đại, đóng góp vào giá trị chung của nhân loại. Mác lại viết: “Các triết gia không

    mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc

    mình, mà dòng sửa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong

    những tư tưởng triết học”10.

    Ngay từ các bài viết đầu tiên trong thời kỳ chuyển tiếp tư tưởng, C.Mác

    đã nhấn mạnh sự thống nhất của hai cách tiếp cận đối với di sản của quá khứ:

    một mặt cần tuân thủ nguyên tắc tính đảng trong triết học, căn cứ vào việc giải

    quyết vấn đề cơ bản của triết học, chỉ ra rằng cuộc tranh luận về thế giới quan

    tạo nên động lực cơ bản của sự phát sinh, phát triển, sự đan xen, thay thế nhau

    của các học thuyết triết học. Mặt khác, mỗi học thuyết, tư tưởng, trào lưu,

    khuynh hướng triết học bên cạnh việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học

    bằng cách trực tiếp hay ẩn mình trong các luận giải về con người, xã hội, ngôn

    ngữ… đều được thừa nhận như “tinh hoa về mặt tinh thần” của mỗi thời đại,

    góp phần vào sự hoàn thiện nhân cách và tri thức con người trong thời đại ấy.

    Platôn (Plato, Platon), Arixtốt (Aristotle, Aristoteles), Lépních (Leibniz), Cantơ

    (Kant), Hêghen (Hegel) là những nhà duy tâm, nhưng đồng thời là những bộ óc

    lớn, những chân dung văn hóa của thời đại mình. Chúng ta phê phán một cách

    9

    C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb. Chính trị quốc gia, HN,1995, tr. 157

    C. Mác và Ph. Ăngghen, sđd, tr. 156.

    10

    16

    xác đáng chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của Makhơ (Mach), nhưng cũng lưu

    ý rằng ông là nhà bác học lừng danh của thế kỷ XIX, một trong những người

    thầy của Einstein.

    Tương tự như vậy đối với cách đánh giá tư tưởng Nho giáo, Phật giáo,

    Kytô giáo. Mác từng khẳng định “không có đảng phái thì không có sự phát

    triển” 11, nhưng cũng chỉ rõ: “Triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc do

    Hêraclít và Arixtốt đã mở đầu mà thôi”12 .

    Nhân đọc Xôcrát (Socrates) V.I.Lênin viết trong “Bút ký triết học”, “Chủ

    nghĩa duy tâm thông minh gần với chủ nghĩa duy vật thông minh hơn chủ nghĩa

    duy vật ngu xuẩn”13. “Chủ nghĩa duy tâm thông minh” của Xôcrát, Platon,

    Hêghen dù có những hạn chế ở phương diện thế giới quan, song đã để lại nhiều

    tư tưởng có giá trị cho nhân loại ở những khía cạnh khác. V.I.Lênin từng phê

    phán những toan tính xem xét chủ nghĩa Mác bên ngoài văn hoá nhân loại.

    Cần phân tích một cách phân minh, rõ ràng những đóng góp và những

    hạn chế mang tính lịch sử của các học thuyết triết học. Ngược lại, sự mơ hồ, lẫn

    lộn, sự đánh giá thái quá, theo hướng “tả khuynh” lẫn “hữu khuynh” đối với các

    học thuyết triết học, hoặc chủ trương “triết lý cái búa” trong sự đánh giá lịch sử,

    hoặc coi các nhận định trong lịch sử tư tưởng đều là những chân lý tuyệt đỉnh,

    “dành cho mọi thời đại và mọi dân tộc”, là trái với bản chất của triết học, và đều

    đáng bị phê phán như nhau. Ph.Ăngghen (F. Engels) đã phê phán trường hợp

    tương tự ở vị giáo sư cơ học Đuyrinh (Duhring) trong tác phẩm Chống

    Đuyrinh14.

    Phân tích cuộc tranh luận giữa hai khuynh hướng cơ bản trong triết học

    không chỉ nhằm làm sáng tỏ tính quy luật trong sự phát triển của tri thức triết

    học, mà còn chứng minh rằng sự phản biện lẫn nhau giữa các khuynh hướng ấy

    là tất yếu, góp phần vào sự phát triển chung của tư tưởng triết học. Bài học

    Trung cổ Tây Âu, mà nhiều nhà tư tưởng xem như “đêm trường Trung cổ”, là ở

    chỗ, một khi triết học chịu sự chế ngự vô điều kiện của uy quyền, của tín điều,

    không cần đến hệ thống phản biện xã hội, thì nó cũng tự tuyên bố mình như một

    thứ “giáo điều triết học”, một thứ thần học bán chính thức, hay tệ hại hơn, một

    thứ nô lệ của “thần học vạn năng”.

    11

    Sđd, tr. 167.

    Sđd, tr.166.

    13

    V.I.Lênin, Toàn tập, t.29, Tiến bộ, M, 1981, tr. 293.

    14

    Xem: C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, t.20, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 1994, tr. 124.

    12

    17

    Ngoài việc thừa nhận tính quy định (chế định) lịch sử – xã hội đối với các

    học thuyết triết học, cần vạch ra những quy luật cơ bản trong quá trình vận động

    của tri thức triết học

    IV. “ĐƯỜNG LỐI ĐÊMÔCRÍT” VÀ “ĐƯỜNG LỐI PLATÔN”

    TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

    V.I.Lênin cô đọng cuộc tranh luận về thế giới quan giữa CNDV và CNDT

    trong triết học Hy Lạp cổ đại (và cả toàn bộ lịch sử triết học) bằng hình ảnh

    “đường lối Đêmôcrít” và “đường lối Platôn”.

    Vấn đề là ở chỗ chủ nghĩa Makhơ – hình thức thứ hai của chủ nghĩa thực

    chứng, do Ô.Côntơ (A.Comte) sáng lập – vào những năm đầu thế kỷ XX đã

    tuyên bố về sự không thích hợp của việc sử dụng các phạm trù triết học truyền

    thống, đặc biệt phạm trù “vật chất” để thể hiện bức tranh vật lý về thế giới, thay

    vào đó là cụm từ “các yếu tố cảm giác được của thế giới”, nhằm hướng nhận

    thức đến đối tượng trực tiếp, loại trừ sự “khảm nhập” của kinh nghiệm, là cái

    làm cho nhận thức bị “ô nhiễm”. Thực ra toan tính này không mới, vì trước đó

    Côntơ từng tuyên bố về sự cải tổ triết học, xác lập “con đường thứ ba”, vượt qua

    cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy tâm, loại trừ các khái niệm “mơ hồ” của

    Siêu hình học cổ điển. Chỉ khác ở chỗ Côntơ thay Siêu hình học cũ bằng chủ

    nghĩa thực chứng xã hội học, gắn kết các vấn đề của triết học với các vấn đề của

    khoa học chuyên biệt, còn Makhơ và những người theo Makhơ ở Nga đem chủ

    nghĩa kinh nghiệm phê phán gắn kết với “triết học phê phán” của Kant và chủ

    nghĩa duy tâm chủ quan Béccli (Berkeley), với luận đề “tồn tại của thế giới chỉ

    là tổ hợp các cảm giác”, hay “tồn tại nghĩa là được tri giác”. Bác bỏ quan niệm

    này, Lênin viết: “Phải chăng trong hai nghìn năm phát triển của triết học cuộc

    đấu tranh của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, cuộc đấu tranh giữa xu

    hướng hay đường lối của Platôn và của Đêmôcrít trong triết học, cuộc đấu tranh

    giữa khoa học và tôn giáo, cuộc đấu tranh giữa việc phủ nhận và việc thừa nhận

    chân lý khách quan, cuộc đấu tranh giữa những người theo thuyết nhận thức siêu

    cảm giác và những người chống lại họ, đã có thể cũ đi rồi sao? Vấn đề thừa nhận

    hay gạt bỏ khái niệm vật chất… là vấn đề không thể nào cũ đi được!”15.

    Như chúng ta biết, từ việc khắc phục tính trạng khủng hoảng thế giới quan

    trong vật lý học, V.I.Lênin đã nêu ra định nghĩa có tính kinh điển về vật chất,

    15

    V.I.Lênin, Toàn tập, t. 18, Tiến bộ, M, 1980, tr. 151 – 152.

    18

    mà Ăngghen từng phác thảo trong Biện chứng của tự nhiên16.

    1. “Đường lối Đêmôcrít”, hay CNDV trong triết học Hy Lạp cổ đại

    Quá trình hình thành các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại diễn ra thông

    qua sự phê phán thuyết nhân hình hóa, vật linh thuyết, xác lập hệ thống phạm trù

    trừu tượng hóa đầu tiên, nghĩa là thay thế phương thức tư duy hình tượng bằng

    tư duy mang tính khái niệm, chưa hẳn là những khái niệm chặt chẽ như ở các

    thời đại sau. Trong cuộc tranh luận về cơ sở ban đầu của mọi tồn tại, hay bản

    nguyên thế giới, các nhà triết học đã đến gần với các khái niệm cơ bản của triết

    học như “vật chất” (trong tiếng Hy Lạp chỉ có khái niệm tương tự như vật chất,

    chẳng hạn “hyle”, hiểu như “thể chất”) và hình thức (mô thức), ý niệm và sự vật,

    linh hồn và trí tuệ, thống nhất và đa dạng, chuẩn mực và số mệnh, tồn tại và hư

    vô. Điều cần lưu ý ở đây là: các nhà triết học đầu tiên thuộc trường phái Milê

    (Miletos) với nỗ lực vượt qua tư duy huyền thoại đã giải thích bản nguyên thế

    giới từ các yếu tố vật chất sẵn có của thế giới (đất, nước, lửa…). Ho không chỉ

    là những nhà triết học đầu tiên, mà còn là những nhà duy vật tự phát đầu tiên.

    Cuộc tranh luận đầu tiên xoay quanh câu hỏi, mà việc giải đáp nó đáp ứng

    khao khát hiểu biết của thời đại: thế giới xuất hiện từ đâu và đi về đâu? (hoặc

    “thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu?) Đó là câu hỏi về sự bắt đầu của

    những sự bắt đầu, nguyên nhân của mọi tồn tại, bản nguyên của thế giới.

    Từ quan niệm về vũ trụ như thực tại vật thể cảm tính Talét (Thales, 624 –

    547 TCN) đưa ra nhận định rằng mọi thứ đều bắt đầu từ nước và trở về nước.

    Lần đầu tiên nước được hiểu như cái tuyệt đối, cái phổ biến đơn giản.

    Anaximăngđơ (Anaximandros,Anaximander, 610 – 546 TCN), học trò và người

    kế tục Talét, đã hỏi Talét: “Vậy nước bắt đầu từ đâu?” – một câu hỏi đủ khả

    năng lật đổ cả một quan điểm tưởng chừng dứt khoát và chắc chắn. Nước, cũng

    như các hành chất vũ trụ khác, theo Anaximăngđơ, không phải là nguyên nhân,

    mà là kết quả của sự phối hợp các yếu tố nhất định. Đi xa hơn Talét,

    Anaximăngđơ xem apâyrôn (apeiron), hiểu như cái “bất định, vô hạn, vô cùng,

    vĩnh cửu”, là nguyên nhân của sự sinh thành, tồn tại và diệt vong. Như vậy ông

    đã đem đến cho khái niệm bản nguyên (archè) nội dung mới, đến gần với khái

    niệm bản thể, bản chất, thực thể (substance). Anaximăngđơ giải thích 5 đặc tính

    của bản nguyên apâyrôn: – apâyrôn mang tính vật chất, tồn tại với tính cách là

    cái thâm nhập vào tất cả; – apâyrôn vô hạn, làm cơ sở cho mọi sự chuyển hóa

    16

    Xem: C. Mác và Ph. Ăngghen, sđd, t.20, tr.751.

    19

    lẫn nhau của các sự vật; – apâyrôn vô cùng, không trải qua sự sinh diệt; apâyrôn vĩnh cửu, trường tồn, làm nên điểm bắt đầu của mọi sự sinh thành; apâyrôn bất định, làm cầu nối liên kết những cái xác định. Tất cả những đặc tính

    ấy đều quy về đặc tính chung nhất là vận động. Bản nguyên apâyrôn được

    Anaximăngđơ dùng để giải thích nguồn gốc của vũ trụ và sự sống. Tuy nhiên

    cách tiếp cận như thế về bản nguyên tỏ ra xa lạ với người Hy lạp. Anaximen

    (Anaximenes, 585 – 524 TCN), đại diện thứ ba của trường phái Milê, cố gắng

    dung hòa hai đại diện đầu tiên, nghĩa là nguyên nhân ban đầu của thế giới là một

    yếu tố vật chất vừa cụ thể, vừa năng động. Bản nguyên giờ đây là apâyros

    (apeiros), khí, xét theo khuynh hướng chung của trường phái Milê là một yếu tố

    vật lý, ngầm hiểu không khí. Quá trình vũ trụ diễn ra phụ thuộc vào sự “tán” và

    “tự” của apâyros. Khi nóng chảy khí trở thành lửa, khi đông đặc – thành nước,

    đất, các sự vật.

    Nhà triết học xứ Ephesơ Hêraclít (Heraklitos, 520 – 460 TCN) là hiện

    tượng đặc biệt của triết học Hy Lạp, đáng được C. Mác nhắc đến như một trong

    những nhân vật tiêu biểu của thế giới cổ đại phương Tây. Ông vừa là nhà duy

    vật, vừa là nguời đặt nền móng cho tư tưởng biện chứng về thế giới, đồng thời

    lại là người khai mở xu hướng nhân bản hóa trong triết học. “Triết học hiện đại,

    – Mác viết, – chỉ tiếp tục cái công việc do Hêraclít và Arixtốt mở đầu mà thôi”.

    Đối với Hêraclít lửa là bản nguyên năng động nhất của thế giới, cơ sở ban đầu

    của mọi tồn tại. Tất cả bắt đầu từ lửa và chịu sự phán quyết của lửa bằng đại hỏa

    tại vũ trụ, chấm dứt một chu kỳ và mở đầu chu kỳ mới. Là nguyên nhân của vũ

    trụ “lửa luôn luôn đã, đang và sẽ là ngọn lửa sống động vĩnh cửu, là sinh thành

    và hủy diệt, chở che và phán quyết”. Khá nhiều ý tưởng trong diễn đạt này: phủ

    nhận thuyết nguồn gốc thần linh của vũ trụ (vũ trụ không phải là sản phẩm của

    vị hóa công vũ trụ nào), có cả yếu tố vật hoạt luận (ngọn lửa sống động, vĩnh

    cửu), có cả tư tưởng về dòng chuyển biến vô cùng, cái đã qua (quá khứ), cái

    đang tồn tại (hiện tại), cái sẽ đến, hay cái đang mở ra (tương lai). Lửa của

    Hêraclít rất vũ trụ, nhưng cũng rất thần linh và rất nhân tính.

    Chương sử mới trong CNDV Hy Lạp cổ đại gắn liền với phương án “đa

    nguyên”, tức giải thích bản nguyên thế giới căn cứ vào không phải một, mà

    nhiều yếu tố vật chất. Phương án này hợp lý và uyển chuyển hơn phương án

    “nhất nguyên” ở chỗ, một là, nó tạo ra khả năng giải thích tính đa dạng của thế

    giới; hai là, tính bao quát của cách tiếp cận “đa nguyên” cho phép làm sáng tỏ

    các vấn đề của sự sống, từ đơn giản đến phức tạp, từ những mầm mống của thế

    20

    giới hữu cơ đến xã hội loài người, mặc dù còn ở trạng thái chất phác, ngây thơ.

    Phương án “đa nguyên” đánh dấu sự phát triển của tư tưởng duy vật, thể hiện

    những biến đổi của ý thức trong khuôn khổ chế độ chiếm hữu nô lệ. Anaxago

    (Anaxagoras, khoảng 500 – 428 TCN) và Empeđốc (Empedocles, khoảng 490 –

    430 TCN) là những đại diện đầu tiên của phương án “đa nguyên”. Tuy nhiên

    cách xác định bản nguyên của họ rất khác nhau – một người chủ trương về một

    hợp chất đã trừu tượng hóa, người khác kế thừa cách tiếp cận cụ thể cảm tính,

    vốn chiếm vị trí thống trị trong triết học thời sơ khai. Nếu trường phái Elê (Elea)

    đưa ra cách phân tích về lượng vấn đề tồn tại, thì Anaxago lại chú trọng chất của

    tồn tại, cấu tố của nó. Theo ông, cơ sở của mọi cái đang tồn tại là homeomeria –

    “những chất đồng dạng”, hay “những cái tương tự”, những mầm sống, hay hạt

    giống. Có thể phân chia những chất ấy đến vô cùng, bởi lẽ “trong cái bé không

    có cái bé nhất, nhưng luôn có cái bé hơn”. Anaxago xuất phát từ nguyên tắc “tất

    cả trong tất cả”, nghĩa là mỗi sự vật đều chứa đựng trong mình chất của tất cả

    các sự vật. Homeomeria có tính thụ động. Trí tuệ thế giới (Nous) mới là bản

    nguyên tích cực, làm cho thế giới vận động và nhận thức thế giới trong tính toàn

    vẹn của mình. Cách lý giải ấy chứng tỏ nỗ lực trình bày về mặt cơ cấu tồn tại

    của thế giới, cảm nhận tính vô hạn và tính vĩnh cửu của nó.

    Cũng vẫn theo phương án “đa nguyên” song Empeđốc xem các yếu tố vật

    chất cụ thể phổ biến – nước, khí, lửa đất – là những bản nguyên đồng cấp độ đối

    với quá trình hình thành vũ trụ. Quá trình vũ trụ được giải thích từ thuyết nhân

    hình hóa với việc tưởng tượng ra hai đối cực – Tình yêu và Thù hận – quy định

    sự hợp nhất và tách biệt các sự vật, hiện tượng. Empeđốc là nhà triết học cuối

    cùng của chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại vẫn còn chịu ảnh

    hưởng của tư duy huyền thoại. Ngoài thuyết nhân hình hóa, trong quan điểm

    triết học của Empeđốc còn chứa đầy yếu tố của thuyết luân hồi. Ông cho rằng

    linh hồn có thần tính, do phạm tội mà chịu kíp đoạ đày vào thân xác, đầu thai,

    luân hồi “ba lần mười ngàn năm”, nhờ sám hối, thanh tẩy mà trở lại nơi cư ngụ

    thần linh. Tìm lại kiếp xưa trở thành nổi ám ảnh của nhà triết học xứ Agrigentơ,

    đảo Xixin. “Xưa ta là đứa trẻ vị thành niên, cũng có thể là thiếu nữ, thậm chí là

    cây cỏ, chim muông, là cá của đại dương câm lặng” (Thanh tẩy, câu 117). Vì

    thế các nhà nghiên cứu lịch sử triết học nhất trí cho rằng không phải Empeđốc,

    mà Anaxago mới tạo tiền đề cho triết học tự nhiên Hy Lạp cổ đại vươn đến đỉnh

    cao và chấm dứt ở đó.

    Nguyên tử luận, do Lơxíp (Leucippos, khoảng 500 – 440 TCN) sáng lập,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Thời Gian Và Ý Nghĩa Của Vấn Đề Giải Thoát Theo Giáo Lý Đạo Phật
  • Về Thời Gian: Tại Sao Triết Học Phương Tây Chỉ Có Thể Dạy Chúng Ta Đến Thế ?
  • Nghiên Cứu Triết Học Tôn Giáo
  • Triết Học Tôn Giáo Là Gì?
  • Trắc Nghiệm Gdcd 10 Bài 5: Cách Thức Vận Động, Phát Triên Của Sự Vật Và Hiện Tượng (Phần 1)
  • Triết Học Hy Lạp Cổ Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ Đại – Kipkis
  • Quan Niệm Về “trí Tuệ” Trong Triết Học Trung Quốc Thời Kỳ Tiên Tần
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Những Ví Dụ Về Quan Điểm Toàn Diện
  • Nội Dung Và Cách Thực Hiện Quan Điểm Toàn Diện? Cho Ví Dụ Minh Họa.
  • Triết Học Hy Lạp
  • 1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội Hy Lạp cổ đại 

    1.1. Trong những nền văn minh cổ đại rực rỡ mà ngày nay người ta biết được thì nền văn minh Hy Lạp – La Mã xuất hiện muộn hơn cả, nhưng nó lại rất phong phú, đặc biệt là về triết học. Điều đó có thể giải thích bằng tính chất điển hình của chế độ chiếm hữu nô lệ ở đây. Hy Lạp và La Mã đã có một chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển tới hình thức cao, mang tính chất điển hình, biểu hiện ở các điểm sau đây:

    – Sự phân hoá giai cấp trong xã hội hết sức rõ rệt thành hai giai cấp chủ yếu là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Nô lệ có số lượng đông đảo trong xã hội và sống tập trung (có tài liệu cho biết: vào thế kỷ IV. chúng tôi A – ten có số dân là 34 vạn, thì 25 vạn là nô lệ).

    – Nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội (trong sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và mậu dịch hàng hải).

    – Mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ ngày càng gay gắt đã làm cho mức độ ác liệt của cuộc đấu tranh giữa nô lệ với chủ nô ngày càng tăng (tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Xpác-ta-cu-xơ vào năm 70 tr.CN). Giai cấp chủ nô cũng phân hoá thành chủ nô quý tộc và chủ nô dân chủ. Chủ nô quý tộc gắn liền với sản xuất nông nghiệp, bảo thủ và chuyên chế. Chủ nô dân chủ gắn liền với công thương nghiệp, tiến bộ hơn, thường đề xuất những chủ trương dân chủ chống lại chủ nô quý tộc. Cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học duy vật và duy tâm thời cổ đại Hy Lạp – La Mã chủ yếu là cuộc đấu tranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc.

    – Tính chất chuyên chế của bộ máy nhà nước chủ nô thường xuất hiện dưới hình thức các thành bang (quốc gia thành thị). Nhà nước được tổ chức theo kiểu cộng hoà hay dân chủ; các kiểu nhà nước này đều là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô.

    1.2. Chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp ra đời từ thế kỷ VI chúng tôi và suy tàn vào thế kỷ V. Sự phát triển của nó đã mở rộng sự phân công xã hội, tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay, tạo điều kiện cho tầng lớp trí thức chủ nô nghiên cứu triết học, khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật. Hơn nữa, qua cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư, nền văn hoá Hy Lạp – La Mã đã kế thừa được nhiều thành tựu văn hoá của phương Đông.

    Về văn học, sớm nhất là Ome (Homère). Về sử học, nổi tiếng nhất là nhà chép sử Hêrôđốt (Hérodote). Về toán học và thiên văn học, có Talét (Thalès), Pitago (Pythagore), Ơclít (Euclide). Về vật lý học, có Acsimét (Archimède). Về y – sinh học, có Híppôcrát (Hippocrate). Về điêu khắc, có đền Páctênôn (Parthénon) của nhà điêu khắc Phiđiát (Phiđias). Về kiến trúc, có tượng thần Vệ nữ (Venus) của Praxiten. Về hội hoạ, có bức Maratông trong chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư v.v.

    Tất cả những tiền đề kinh tế, xã hội, khoa học, văn học, nghệ thuật nói trên là những điều kiện cho sự phát triển rực rỡ của triết học cổ Hy Lạp. Như Ăng-ghen nói, nếu không có chế độ nô lệ, thì cũng không có nhà nước Hy Lạp, không có khoa học và nghệ thuật Hy Lạp.

    2. Sự hình thành, phát triển và suy tàn của triết học Hy Lạp cổ đại

    Lịch sử triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại có thể chia làm ba thời kỳ. Xuyên suốt ba thời kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của Đê-mô-crít và đường lối duy tâm của Pla-tôn.

    2.1. Thời kỳ thứ nhất (thế kỷ VI tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ mới hình thành. Do sự phát triển của sản xuất, thế giới quan cũ có tính chất tôn giáo, thần thoại dần dần nhường chỗ cho những hiểu biết khoa học về con người, về vũ trụ. Trên cơ sở đó, triết học với tư cách là một khoa học bao quát mọi tri thức (khoa học của khoa học) ra đời.

    a. Ba nhà triết học duy vật thuộc trường phái Mi-lê (tên một đô thị cổ Hy Lạp) là Talét, Anaximăngđrơ và Anaximen cho rằng có những thực thể vật chất đầu tiên, vĩnh viễn vận động tạo ra mọi vật trên thế giới. Theo Talét đó là nước, theo Anaximăngđrơ đó là một thực thể vô định và vô hạn, theo Anaximen đó là không khí.

    Hêraclít không thuộc trường phái nói trên, ông cũng cho rằng bản nguyên của vũ trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh ra vạn vật.

    b. Ngược lại, một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở miền nam nước Ý) như Xênôphan, Pácmênít, Dênông và trường phái Pitago lại có những quan điểm duy tâm, siêu hình về nguồn gốc vũ trụ. Họ cho rằng, thế giới là một tồn tại bất động và bất biến (trường phái Êlê), con số là bản nguyên của vũ trụ (trường phái Pitago).

    2.2. Thời kỳ thứ hai (bắt đầu từ thế kỷ V. tr.CN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời kỳ phồn vinh của triết học cổ đại Hy Lạp. Thời kỳ này, đối tượng nghiên cứu của triết học được mở rộng sang các vấn đề về kết cấu của vật chất, nhận thức luận và đời sống chính trị. Trong đó, kết cấu của vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều trường phái triết học.

    a. Theo khuynh hướng duy vật. Ămpeđôclơ cho rằng, bản nguyên của vũ trụ không phải chỉ là một thực thể riêng biệt (như trường phái Milê) mà là gồm 4 thực thể: đất, nước, lửa, không khí. Anaxago lại cho rằng, mọi vật đều được cấu tạo từ hạt cực nhỏ nhờ quá trình phân giải và đồng nhất của chúng.

    Đạt tới đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy vật thời kì này là học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít. Theo ông, tất cả mọi vật đều được cấu thành từ những nguyên tử. Nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, chúng vĩnh viễn vận động, không có điểm kết thúc.

    c. Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp – La Mã, nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ thuyết ý niệm của Platôn; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của mọi sự vật, mà hình thức của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý).

    2.3. Thời kỳ thứ ba (từ thế kỷ thứ III TCN): Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp – La Mã. Cùng với sự suy tàn đó, nền văn hoá mà nó sản sinh ra cũng suy tàn theo. Vào cuối thế kỷ này, chỉ còn Êpiquya và học trò của ông là Lucơrexơ là tiếp tục đường lối duy vật của Đê-mô-crít.

    Triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học mà người ta thường thấy mối quan hệ của nó với các khuynh hướng, các trào lưu triết học sau này.

    Trong những thành tựu triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại, học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít, tư tưởng biện chứng của Hêraclít và lôgích học của Arixtốt là những cống hiến xuất sắc đối với sự phát triển của tư tưởng triết học nhân loại.

    Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng, ngay từ đầu, lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa hai thế giới quan, hai phương pháp luận đối lập nhau. Cuộc đấu tranh ấy phản ánh lợi ích của những tầng lớp, những giai cấp khác nhau trong xã hội có giai cấp đối kháng.

    3. Một số nhà triết học Hy Lạp cổ đại

    3.1. Đêmôcrít (460-370 tr.CN) sinh trưởng trong một gia đình chủ nô dân chủ ở Ápđerơ (Hy Lạp). Ông đã đến Ai Cập, Ba Tư, Ấn Độ, nên đã có dịp tiếp xúc với nền văn hoá phương Đông cổ đại. Ông am hiểu toán học, vật lý học, sinh vật học cũng như mỹ học, ngôn ngữ học và âm nhạc v.v. Ông có đến 70 tác phẩm nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học nói trên. Ông được Mác và Ăng -ghen coi là bộ óc bách khoa đầu tiên của người Hy Lạp.

    Đê-mô-crít là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật cổ đại Hy Lạp. Thuyết nguyên tử là cống hiến nổi bật của ông đối với chủ nghĩa duy vật. Ngoài ra, ông còn có nhiều đóng góp quý giá về lý luận nhận thức.

    a. Thuyết nguyên tử

    Thuyết nguyên tử đã được Lơxíp (Leucippe) nêu lên từ trước. Nhưng phải đến Đêmôcrít học thuyết đó mới trở lên chặt chẽ. Theo ông, vũ trụ được cấu thành từ hai thực thể đầu tiên: nguyên tử và chân không.

    Nguyên tử là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được, không thể phân chia nhỏ hơn được nữa. Nguyên tử không biến đổi, tồn tại vĩnh viễn và vận động không ngừng. Nguyên tử không khác nhau về chất, chúng có mùi vị, âm thanh và mầu sắc. Nguyên tử chỉ khác nhau về hình thức, kích thước, vị trí và trình tự kết hợp của chúng. Có những nguyên tử hình cầu, hình tam giác, hình móc câu, hình lõm v.v., nhờ đó chúng mới có thể bám dính được với nhau. Mọi vật thể đều do sự kết hợp giữa các nguyên tử nên nếu tách rời chúng ra thì vật thể bị tiêu diệt.

    Linh hồn của con người cũng do những nguyên tử hình cầu, nhẹ, và nóng tạo nên. Khi người ta chết, linh hồn sẽ không còn; chúng rời thể xác và tồn tại như những nguyên tử khác.

    Chân không là khoảng không gian trống rỗng. Với Đêmôcrít, chân không cũng cần thiết như nguyên tử, nhờ nó nguyên tử mới vận động được. Nếu tất cả là đặc sệt các nguyên tử thì sẽ không có điều kiện cho vận động. Khác với nguyên tử có kích thước, hình dáng, chân không thì vô hạn và không có hình dáng.

    Trong vũ trụ có hằng hà sa số những nguyên tử vận động theo nhiều hướng, khi thì tản ra, khi tụ lại. Khi tụ vào một điểm nào đó, chúng va chạm vào nhau tạo thành một cơn xoáy tròn (cơn lốc nguyên tử). Cơn lốc này đẩy những nguyên tử nhỏ, nhẹ ra ngoài chu vi, còn những nguyên tử to, nặng quy vào tâm, nhờ đó các hành tinh, kể cả trái đất được hình thành. Những hành tinh xuất hiện và mất đi một cách tự nhiên, không do thần thánh hoặc một ai tạo ra.

    b. Lý luận về nhận thức

    Đêmôcrít đã có công đưa lý luận nhận thức lên một bước mới. Ông và tiếp theo ông là Arixtốt, kể cả Platôn đã rất chú ý đến nhận thức lý tính, đến lôgíc học.

    Theo ông, nhận thức của người ta bắt nguồn từ cảm giác. Nhờ sự vật tác động vào các giác quan mà ta có cảm giác về chúng. Những cảm giác này có nội dung chân thật, nhưng không đầy đủ, không sâu sắc, nó chỉ là sự phản ánh cái vỏ bên ngoài của sự vật, chưa phản ảnh được bản chất của sự vật. Bởi vì, nó chỉ phản ánh được mùi vị, âm thanh, mầu sắc, hình dáng của sự vật, mà không phản ánh được nguyên tử và chân không. Hơn nữa, mọi nguyên tử đều giống nhau về chất, bản thân chúng không có mùi vị, mầu sắc, âm thanh và không trông thấy được. Bởi vậy, những cảm giác này chỉ là chủ quan của con người. Theo ông, muốn nhận thức được nguyên tử và chân không, tức là muốn nhận thức bản chất của sự vật, con người ta không được dừng lại ở cảm giác, mà phải biết quy nạp, so sánh, phán đoán, tức là phải đẩy tới nhận thức lý tính. Do đó, ông chia nhận thức làm hai dạng: dạng nhận thức “mờ tối”(nhận thức cảm tính) và dạng nhận thức “trí tuệ”. Theo ông, dạng nhận thức thứ hai là chủ yếu, đáng tin cậy hơn.

    Từ chỗ coi trọng vai trò của nhận thức lý tính, Đêmôcrít đã có một công lao to lớn nữa đối với triết học, đó là lôgíc học (Tác phẩm “Bàn về lôgíc học” (Canon); tác phẩm này đã bị thất lạc, người ta chỉ biết về nó một cách gián tiếp qua lời của Arixtốt, Platôn). Theo đó thì ông đã nêu ra nhiều vấn đề về lôgíc học như định nghĩa khái niệm, phương pháp so sánh, quy nạp, giả thiết.v.v, trong đó phương pháp quy nạp có vị trí nổi bật. Arixtốt đã coi Đêmôcrít là tiền bối của mình về lôgíc học, là người đầu tiên nghiên cứu lôgíc của khái niệm, lôgíc quy nạp.

    c. Quan niệm về con người

    Theo ông, linh hồn không phải là cái siêu vật chất, mà là cái bản nguyên bằng lửa trong cơ thể; nó cũng được cấu tạo từ các nguyên tử hình cầu giống như lửa và có tốc độ vận động lớn hơn các nguyên tử khác.

    Sự sống và con người không phải do thần thánh tạo ra mà là kết quả của quá trình biến đổi của chính tự nhiên, được phát sinh từ những vật thể ẩm ướt dưới tác động của nhiệt độ. Theo ông, con người là một loại động vật, nhưng về khả năng có thể học được bất kỳ cái gì nhờ có tay chân, cảm giác và năng lực trí tuệ trợ giúp.

    Đêmôcrit đứng trên lập trường vô thần phủ nhận thượng đế và thần linh; thần chỉ là sự nhân cách hóa hiện tượng tự nhiên hay thuộc tính của con người.

    d. Quan điểm chính trị – xã hội

    Đêmôcrit đứng trên lập trường của chủ nô dân chủ, bảo vệ nền dân chủ Aten chống lại chế độ chuyên chính. Ông cho rằng “cái nghèo trong chế độ dân chủ cũng quý hơn cái hạnh phúc của công dân dưới thời quân chủ y như là tự do quý hơn nô lệ”. Nhưng do xuất thân từ tầng lớp chủ nô nên ông chỉ đề cập đến dân chủ của chủ nô và công dân tự do; còn nô lệ phải biết tuân theo người chủ.

    Ông coi nhà nước là trụ cột của xã hội, cần phải xử lý nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay các chuẩn mực đạo đức.

    Tóm lại, triết học Đêmôcrít là sự kế thừa và phát triển lên một trình độ cao các quan điểm duy vật (của trường phái Milê) và tư tưởng biện chứng (của Hêraclít) trước đó, đưa triết học của ông trở thành đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại. Sau này, Êpiquya và Lucơrexơ đã khắc phục những hạn chế của ông và phát triển học thuyết nguyên tử hơn nữa. Lơxíp, Đêmôcrít, Êpiquya trở thành những tên tuổi đại biểu cho phái nguyên tử luận thời cổ đại Hy Lạp – La Mã.

    3.2. Pla-tôn (427 – 347 TCN)

    Pla-tôn xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc ở A-ten. Tên thật của ông là Aristôclơ. Theo Arixtốt, lúc đầu Platôn là học trò của Cratin (người theo thuyết tương đối), sau đó là học trò của Xôcrát (nhà triết học duy lý, duy tâm chủ nghĩa). Khi Xôcrát bị kết án tử hình vì tội hoạt động chống lại chế độ dân chủ chủ nô, Platôn rời Aten đến sống ở miền nam nước Italia. Trong thời gian này ông có liên hệ với phái Pitago và Ơclít. Sau này ông trở lại Hy Lạp, lập trường dạy học ở Aten, gọi là Viện hàn lâm (Académie). Đây là trường Đại học tổng hợp đầu tiên ở châu Âu, học trò rất đông, trong đó có nhà triết học nổi tiếng Arixtốt. Ngót 40 năm giảng dạy và trước tác, ông đã để lại 34 thiên đối thoại và nhiều bức thư triết học. Tác phẩm “Nước cộng hoà” (République) có vị trí đặc biệt trong triết học của ông.

    Platôn là nhà triết học duy tâm khách quan, đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy vật đương thời. Khi nói về hai đường lối, hai trường phái trong triết học, Lênin đã chỉ ra sự đối lập giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn. Tư tưởng triết học của Platôn chịu ảnh hưởng sâu sắc các yếu tố duy tâm trong triết học của Pitago và Xôcrát.

    Ngoài những cống hiến của ông về phép biện chứng của ý niệm, vai trò của ý thức xã hội trong việc hình thành nhân cách và ý thức cá nhân, triết học của ông tiêu biểu cho chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại.

    a. Học thuyết về ý niệm

    Như đã nói ở trên, Pla-tôn chịu ảnh hưởng sâu sắc khuynh hướng duy lý trong triết học Hy Lạp cổ đại (lý luận về cái duy nhất của trường phái Êlê, lý luận về con số của trường phái Pitago, lý luận về cái phổ biến của Xôcrát). Vì vậy ông xem nhẹ vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, của khái niệm. Từ đó ông chia thế giới thành hai loại: thế giới của những ý niệm (khái niệm) và thế giới của những sự vật cảm tính.

    Theo ông, thế giới của những ý niệm là tồn tại chân thực, vĩnh viễn, tuyệt đối, bất biến, nó là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm tính. Còn thế giới các sự vật cảm tính là tồn tại không chân thực, phụ thuộc vào thế giới của các ý niệm, nó là cái bóng của ý niệm.

    Để minh hoạ cho quan niệm thế giới các sự vật cảm tính được sinh ra từ thế giới các ý niệm như thế nào, Platôn đã đưa ra ví dụ “Hang động” như sau: Ở ngoài cửa của một cái hang tối có một đoàn người đi qua; ánh sáng mặt trời chiếu vào cửa hang làm cho bóng của đoàn người được in lên vách đá. Nếu nhìn lên vách hang bên trong, người ta sẽ thấy những bóng người đi qua. Những bóng này chỉ là hình ảnh của đoàn người, chứ không phải bản thân đoàn người. Thế giới các sự vật cảm tính cũng vậy, nó chỉ là cái bóng của ý niệm đã có từ trước mà thôi.

    Như vậy, khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, Platôn cho rằng ý niệm là cái có trước, là nguyên nhân, là bản chất của sự vật. Còn sự vật chỉ là cái có sau, là cái bắt chước, cái mô phỏng, là bản sao của ý niệm.

    b. Lý luận về nhận thức

    Từ cách giải quyết duy tâm khách quan như trên về mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, Platôn cũng rơi vào quan niệm duy tâm, thần bí.

    Theo ông, đối tượng của nhận thức không phải là các sự vật cảm tính khách quan bên ngoài, mà là thế giới ý niệm. Nhận thức cảm tính không phải là nguồn gốc của tri thức; tri thức chân thực chỉ có thể đạt được bằng nhận thức lý tính, được thể hiện ở các khái niệm. Bởi vì, mỗi sự vật đều có một ý niệm về nó; sự vật có thể mất đi, nhưng ý niệm về sự vật không bao giờ mất. Ví dụ cái nhà có thể sụp đổ, hư nát, không còn là cái nhà, nhưng ý niệm về cái nhà (khái niệm nhà) thì không mất.

    Bằng cách nào để có được nhận thức chân thực, đạt được chân lý? Bằng cách hồi tưởng lại những gì linh hồn đã trải qua, nhưng khi nhập vào thể xác con người nó đã bị lãng quên. Tóm lại, Platôn đã quy toàn bộ quá trình nhận thức thành quá trình hồi tưởng của linh hồn bất tử, rất thần bí.

    c. Học thuyết về chính trị – xã hội

    Trong tác phẩm Nước cộng hoà (Chính thể cộng hoà), Pla-tôn chia linh hồn làm ba bộ phận: lý tính hay trí tuệ, xúc cảm và cảm tính. Tương ứng với ba bộ phận ấy là ba hạng trong xã hội. Hạng thứ nhất, là các nhà triết học, nhà thông thái. Hạng này lý tính giữa vai trò chủ đạo, thích hợp với việc lãnh đạo nhà nước. Hạng thứ hai, là những người lính, võ sĩ mà linh hồn của họ tràn đầy xúc cảm gan dạ, biết phục tùng lý trí và nghĩa vụ, thích hợp với việc bảo vệ an ninh của nhà nước cộng hoà. Hạng thứ ba, là đại chúng, gồm những người nông dân, thợ thủ công và thương nhân. Hạng này linh hồn của họ không đi xa hơn những khát vọng cảm tính thích nghi với lao động chân tay, làm ra của cải vật chất phục vụ cuộc sống của nước cộng hoà. Vì vậy, công lý là ở chỗ mọi người phải sống đúng vị trí của mình.

    Để duy trì trật tự xã hội, Platôn cho rằng sự tồn tại của nhà nước là cần thiết, nhưng ba hình thức nhà nước hiện nay đều xấu. Một là nhà nước của bọn vua chúa xây dựng trên khát vọng làm giầu, ham danh vọng, đưa đến chiến tranh. Hai là, nhà nước quân phiệt của một số ít người giầu có, áp bức số đông, đưa đến tội ác. Ba là, nhà nước dân chủ đem lại quyền lực cho số đông; đó là một nhà nước tồi tệ.

    Platôn nêu lên mô hình một nhà nước mà ông cho là lý tưởng, đó là nhà nước cộng hoà. Trong nhà nước ấy, quan hệ bất bình đẳng giữa các hạng người phải được duy trì, bởi vì nó hợp với tự nhiên, hợp với sự phân công trong xã hội. Sự tồn tại của nhà nước lý tưởng phải dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất và sự phân công hài hoà giữa các nghề trong xã hội. Để khắc phục sự phân chia giàu nghèo, cần xoá bỏ gia đình và tư hữu. Trẻ con sinh ra được đưa vào các cơ quan giáo dục riêng, lựa chọn những đứa trẻ khỏe mạnh, nuôi dưỡng chúng để trở thành vệ binh. Các nhà thông thái, triết học sẽ được lựa chọn trong số vệ binh này.

    3.3. Arixtốt (384 – 322 TCN)

    Arixtốt là con một thầy thuốc, thuộc xứ Maxêđoan, bắc Hy Lạp. Năm 17 tuổi ông đến Aten học ở Việt hàn lâm của Platôn và trở thành giáo viên của Viện. Khi Platôn qua đời, ông rời Aten đi chu du nhiều nơi thuộc vùng Tiểu Á. Trong thời gian này ông được mời dạy học cho hoàng tử Alếchxăngđrơ (Alexandre) con vua Philíp (Philippe) xứ Maxêđoan (Macédoine). Năm 336 chúng tôi ông trở về Aten lập ra trường phái triết học riêng của mình. Học thức của ông hết sức uyên bác, được Mác coi là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại. Ông đã để lại cho nhân loại nhiều công trình khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Về triết học, có tác phẩm “Siêu hình học”. Về lôgíc học, có tác phẩm “Oóc ga-nôn”. Về khoa học tự nhiên, có tác phẩm “Vật lý học”. Về khoa học xã hội, có tác phẩm “Đạo đức học”, “Chính trị học”, “Thi ca học” v. v.

    Cống hiến nổi bật của Arixtốt là ông đã phê phán một cách cặn kẽ học thuyết về ý niệm của Platôn, đã đặt nền móng cho khoa học lôgíc thời cổ đại. Nhưng vì dao động giữa hai đường lối duy vật và duy tâm, nên triết học của ông mang tính chất chiết trung, không triệt để.

    a. Thế giới quan triết học của A-ri-xtốt

    A-rít-xtốt là học trò xuất sắc của Platon, nhưng chính ông lại nhận ra sai lầm của thầy học mình về học thuyết ý niệm. Sai lầm của Platôn là ở chỗ, ông đã tách rời bản chất khỏi cái có bản chất đó, và biến ngay cái chung (khái niệm) thành cái riêng bên cạnh thế giới cảm tính, quyết định thế giới cảm tính. Nghĩa là, Platôn đã biến những khái niệm được hình thành trong quá trình nhận thức thành một thế giới riêng biệt, siêu cảm giác, tồn tại một cách độc lập đối với những sự vật được phản ánh.

    Theo Arixtốt, bản chất tồn tại (chứa đựng) ngay trong bản thân sự vật. Những bản chất này được nhận thức của con người khái quát thành những cái chung, cái phổ biến dưới dạng, các khái niệm, các phạm trù, các quy luật. Vì vậy, không phải khái niệm phạm trù, quy luật là cái có trước, sinh ra sự tồn tại của sự vật, mà ngược lại. Trong tác phẩm “Các phạm trù”, Arixtốt khẳng định: “Khái niệm không bao giờ lại là nguyên nhân của sự tồn tại của sự vật, mà sự vật, có thể gọi là nguyên nhân chân chính của khái niệm”. Quan niệm đó được Lênin đánh giá là đã tiến sát đến chủ nghĩa duy vật.

    Trên cơ sở phê phán học thuyết ý niệm của Platôn, Arixtốt đã xây dựng hệ thống triết học riêng của mình, ông thừa nhận giới tự nhiên tồn tại một cách khách quan với những sự vật hết sức đa dạng. Vật lý học nghiên cứu các dạng tồn tại cụ thể của nó; ông coi đây cũng là triết học, nhưng là “triết học thứ hai”.

    Siêu hình học nghiên cứu bản chất của tồn tại nói chung và được ông coi là “triết học thứ nhất”.

    Về vấn đề linh hồn, Arixtốt cho rằng con người có phần linh hồn và phần thể xác, tựa như mỗi sự vật đều được hình thành từ vật chất và hình thức. Ông phê phán Platôn xem “thể xác chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn bất tử “. Theo ông, linh hồn không có trong cơ thể chết; không thể có linh hồn nếu không có vật chất. Nhưng ông lại chia linh hồn làm 3 loại: linh hồn thực vật có hoạt động nuôi dưỡng và sinh sản; linh hồn động vật có khả năng cảm ứng với môi trường xung quanh; linh hồn con người có hoạt động lý tính, đây là loại linh hồn cao nhất. Trong con người có cả ba loại linh hồn nói trên. Khi người ta chết, riêng linh hồn lý tính còn tồn tại bất diệt. Quan niệm về linh hồn như trên chứng tỏ rằng Arixtốt là nhà triết học không triệt để, vừa phê phán Platôn, vừa kế thừa quan điểm duy tâm của Platôn.

    b. Lý luận nhận thức của Arixtốt

    Lý luận về nhận thức của Arixtốt là đỉnh cao của sự phát triển các tư tưởng về nhận thức luận thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã đặt ra những vấn đề hệ trọng về nhận thức luận, như các vấn đề: đối tượng của nhận thức, khả năng nhận thức của con người, vấn đề chân lý và khoa học về tư duy. Điểm đặc sắc trong lý luận nhận thức của ông là phương pháp suy luận ba bước (tam đoạn luận) của lôgíc hình thức.

    Khác với Platôn coi ý niệm là đối tượng của nhận thức, ông khẳng định rằng thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc của kinh nghiệm; tự nhiên là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai. Theo ông, mọi tri thức đều bắt nguồn từ cảm giác về những sự vật đơn nhất được khái quát lại mà có. Ông kịch liệt phê phán quan niệm của Platôn coi nhận thức chỉ là sự hồi tưởng của linh hồn. Ông khẳng định rằng, nhận thức của con người không có tính chất bẩm sinh, linh hồn con người khi mới sinh ra hoàn toàn không có tri thức, nó tựa như một tấm bảng sạch chưa có vết phấn (nguyên lý Tabula rasa).

    Ông là người có quan niệm rành mạch về quá trình nhận thức đi từ cảm tính đến lý tính. Tuy hết sức coi trọng nhận thức cảm tính, nhưng theo ông nhận thức cảm tính không có khả năng đi sâu vào bản chất của sự vật. Nếu chỉ bằng cảm giác, con người ta không thể nắm được định lý về tổng các góc của một tam giác bằng hai góc vuông và không giải thích được các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực. Vì vậy, để đạt đến chân lý, nhận thức phải đi từ cảm tính đến lý tính. Đó là quá trình đi từ những cảm giác đơn lẻ, ngẫu nhiên đến cái chung, cái phổ biến, cái bản chất dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật. Nhưng như đã nói ở trên, ông đã tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, coi lý tính là hình thức của mọi hình thức, quyết định bản chất của sự vật.

    Trên con đường tư duy lý tính, Arixtốt rất quan tâm đến phương pháp tư duy: theo ông, cái được coi là chân lý phải là cái phù hợp giữa tư tưởng và thực tế. Muốn vậy, mọi tư duy đáng tin cậy phải được diễn đạt chính xác, có nội dung đáng tin cậy và vững chắc. Từ đó, ông đã nêu lên những nguyên tắc rất cơ bản để xây dựng khái niệm, phạm trù. Ông cũng đã nêu lên những quy luật cơ bản của tư duy logíc (quy luật đồng nhất, quy luật cấm mâu thuẫn trong tư duy, quy luật loại trừ cái thứ ba). Ông đã nêu lên phương pháp suy luận ba bước (tam đoạn luận). Trong đó, kết luận được rút ra từ hai tiền đề đã có (Nếu A thuộc B, B thuộc C, thì A thuộc C. Ví dụ: Đồng là kim loại, mọi kim loại đều dẫn điện, vậy đồng cũng dẫn điện).

    Tuy mới đề cập được một số nguyên tắc của tư duy lôgíc, nhưng ông được coi là người sáng tạo ra lôgíc hình thức cổ điển. Những nguyên tắc lôgíc học của ông, sau này được Bêcơn, Đềcác và các nhà triết học cổ điển Đức kế thừa và phát triển lên một trình độ cao hơn.

    Tóm lại: Arixtốt là nhà triết học vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ đại. Ph. Ăngghen đã gọi ông là con người có “ khối óc toàn diện nhất”. Còn C. Mác đã đánh giá: “ tư tưởng thâm thúy của Arixtốt vạch ra những vấn đề trừu tượng nhất một cách thật đáng kinh ngạc…” Tư tưởng của ông coa ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của triết học và khoa học tự nhiện sau này.

    (Nguồn: ĐH Mỏ Địa chất)

    0.000000

    0.000000

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Điển Triết Học: Bản Thể Luận
  • Cổng Game Online, Review Game Online, Tin Tức Game Online
  • Trên Xa Lộ Của Lịch Sử
  • Vấn Đề “Sống Thử” Của Giới Trẻ Ngày Nay
  • Mục Tiêu Học Tập: 7 Bước Xác Định
  • Triết Học Hy Lạp

    --- Bài mới hơn ---

  • Quán Triệt Nguyên Tắc Khách Quan Và Quan Điểm Toàn Diện Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • I. Triết Học Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học
  • Đối Tượng Và Đặc Điểm Của Triết Học Mác Lênin
  • Khái Niệm “lịch Sử” Trong Sử Học
  • Một Vài Suy Nghĩ Trong Quá Trình Nghiên Cứu Và Giảng Dạy Bài “những Vấn Đề Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử”
  • THAY LỜI NÓI ĐẦU

    SỰ THĂNG HOA CỦA MỘT DÂN TỘC

    Triết gia vĩ đại Hegel nói đại ý rằng, lịch sử nhân loại cũng như lịch sử dân tộc có những nét tương đồng lịch sử một con người, có thuở ấu thơ, thời niên thiếu, giai đoạn trưởng thành, buổi hồi xuân, rồi sau đó đi vào già cỗi và kết thúc bằng cái chết (sự suy vong của một nền văn minh). Sự phát triển tư duy của một dân tộc cũng giống như của một con người cụ thể, có lúc bổng, lúc trầm, lúc ngây thơ, khi sôi nổi, sâu sắc, chín chắn.Từ luận điểm đó có thể đó suy ra, người Hy Lạp cổ đại xứng đáng là một thần đồng triết học. Bởi vì, ngay từ buổi đầu khai sinh nền văn hóa của mình, khi đất nước còn rất non trẻ, họ đã đạt được đỉnh cao của tư duy sáng tạo, làm nên những kỳ tích khoa học “vô tiền khoáng hậu”, nghĩa là trước đó và về sau khó có thể đạt được lần thứ hai như vậy.

    Giải thích lịch sử quá khứ là việc làm bất đắc dĩ, vì nhân chứng sống không còn, chỉ dựa trên những suy luận, đoán định của người hiện tại về nó. Hơn nữa, phương pháp luận nghiên cứu lịch sử cho đến nay vẫn còn là vấn đề tranh luận. Ngoài nguyên tắc thống nhất giữa logic và lịch sử của Hegel (lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy cũng bắt đầu từ đó) và phương pháp luận marxist (tiếp cận lịch sử theo hình thái kinh tế – xã hội), thì cho đến nay, vẫn chưa có một cơ sở khoa học chắc chắn nào hơn cho việc tiếp cận lịch sử. Dựa trên những quan niệm duy vật về lịch sử của Marx, chúng ta có thể khẳng định rằng, nền tảng sự thăng hoa tư duy văn hóa nói chung, triết học nói riêng của người Hy Lạp cổ chính là cơ sở kinh tế giàu có, vững chắc của xã hội đó. Ngay từ thời đại xa xưa, do biết cách làm ăn cũng như do thiên nhiên hào phóng ban tặng của cải (tài nuyên thiên nhiên), nên người Hy Lạp cổ đã đạt được thành tựu kinh tế cao.Trên nền kinh tế dồi dào, giàu có đó, họ có thời gian nhàn rỗi và bỏ nhiều công sức xây dựng một thiết chế văn hóa – xã hội phồn vinh mà triết học là một thành tố cơ bản trong thiết chế đó.

    Hy Lạp cổ đại là một trong ba cái nôi tiêu biểu của văn hóa cổ đại. Văn hoá Hy Lạp đã góp một phần không nhỏ cho kho tàng văn hoá nhân loại. Ở đó, có một nền triết học đa dạng, phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau: triết học tự nhiên, triết học xã hội, nhận thức luận, logic học, mỹ học, v.v. Lịch sử thế giới đã từng chứng kiến một thời kỳ mà một vùng đất Âu – Á rộng lớn đã bị Hy Lạp chiếm đóng rồi thuần hoá.Thông qua những cuộc chiến tranh chinh phạt của Alexandre Macedoin, văn hoá Hy Lạp lan truyền khắp châu Âu, Lưỡng Hà, Trung cận Đông, lan sang cả một phần Ấn Độ. Nhưng rồi cái chết đột ngột của vị tướng lĩnh mới ngoài ba mươi tuổi làm cho sự lan tỏa đó dừng lại, nếu không chắc hẳn Việt Nam chúng ta cũng đã được hưởng lợi từ xu hướng này, nghĩa là có thể tiếp nhận tư tưởng phương Tây sớm hơn hai thiên niên kỷ. Lịch sử châu Âu cũng đã từng trải qua một thời đại Phục Hưng, những trí thức lớn của các quốc gia Italy, Anh, Pháp, đã biết đứng trên vai những người thầy Hy Lạp để trở nên những con người khổng lồ. Thế kỷ XVI – XVIII, người Âu cũng đã tìm thấy những giá trị to lớn trong văn hoá Hy Lạp để từ đó khơi dậy, khôi phục và phát triển nó, tạo tiền đề cho sự phát triển khoa học trong thời đại tư bản chủ nghĩa. Với nghĩa đó, Engels cho rằng, “không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại” . Vậy tại sao người Hy Lạp cổ đại có thể gặt hái được nhiều thành công trong khi các dân tộc châu Âu khác vẫn chìm đắm trong đêm tối, vẫn say giấc trong cơn mê ngủ giáo điều? Muốn trả lời được câu hỏi này, chúng ta phải bắt đầu từ việc nghiên cứu nội dung triết học của dân tộc này.

    Cuốn sách của chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn đọc lịch sử triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại kéo dài gần một nghìn năm, từ nhà thông thái Thales đến triết gia Plotin. Trong gần một thiên niên kỷ đầy vẻ hùng ca và bi tráng này, người Hy Lạp và La Mã đã làm nên những kỳ tích vô tiền khoáng hậu mà cho đến nay người Hy Lạp hiện đại vẫn ngạc nhiên không hiểu tại sao cha ông họ lại có thể làm được những điều như vậy. Sách trình bày theo chương, mỗi chương trình bày tiểu sử, quan điểm triết học của một, một vài trường phái hay của một vài triết gia tiêu biểu. Do nguồn tài liệu còn khan hiếm và thời gian hạn hẹp (vừa giảng dạy vừa nghiên cứu) nên chúng tôi chưa thể trình bày mọi vấn đề một cách chuyên sâu mà chỉ mới dừng lại ở những nét chính. Nghĩa là trình bày những nét thật cơ bản, bao quát mà chưa giải thích vấn đề một cách thật chi tiết, cụ thể. Để vấn đề được nhìn nhận một cách khách quan, chúng tôi cố gằng bám sát nguồn tài liệu văn bản gốc (primary source) của chính các triết gia qua bản dịch của người Nga trước đây và các bản dịch tiếng Việt hiện nay. Tuy nhiên vẫn gặp nhiều khó khăn, vì các bản dịch chưa có tính hệ thống và chưa trọn vẹn mà chỉ là những trích đoạn, nên đôi chỗ vẫn phải dựa trên đánh giá của người khác (secondary source), mong bạn đọc rộng lòng thông cảm.

    Triết học Hy Lạp cổ đại như Marx nói đã đặt ra những vấn đề cơ bản cho triết học hiện đại, từ bản thể luận, nhận thức luận đến triết lý nhân sinh, trong đó những vấn đề về đạo đức, chính trị đến nay vẫn còn nhiều giá trị thời sự. Người Hy Lạp cổ đại đã suy tư về nhiều điều, đặt ra những câu hỏi mà đến tận ngày nay câu trả lời dường như vẫn còn bỏ ngỏ như: Ai (nhóm người, tầng lớp) nào là chủ thể cai quản xã hội thích hợp nhất?

    Xây dựng hình thái nhà nước nào là hợp lý? Quan hệ sở hữu nào (tư hữu, công hữu) là có hiệu quả? Mô hình nhà nước cộng hòa (với sự phác thảo của Plato) liệu có xây dựng được trong tương lai không? Hạnh phúc là gì? Một cuộc sống như thế nào được coi là hợp với lẽ trời và đạo người?

    Sự lạc quan (cười) và bi quan (khóc) trong triết lý Democrite và Heraclite cũng là một điều đáng làm cho chúng ta suy tư trăn trở. Cuộc sống đương đại đòi hỏi con người cần có cả hai trạng thái cực đoan, đối lập đó, sự thể hiện hai trạng thái tâm lý này của hai triết gia quả thật thấu tình, đạt lý. Thời cận đại, khi khởi phát phong trào khai sáng, loài người lạc quan về một xã hội tương lai, trong đó con người như một chúa tể làm chủ thiên nhiên bao nhiêu, thì đến nay loài người lại bi quan về điều đó bấy nhiêu. Họ bi quan vì sự trả thù của tự nhiên đối với con người về những gì do chính con người gây ra. Luật nhân quả mà triết lý Hy Lạp cổ đại nêu ra từ buổi đầu lịch sử đến nay đã quá rõ ràng, không cần phải tranh luận thêm bất kỳ một lời nào nữa. Những thành quả của triết học Hy lạp đã đạt được là nền móng vững chắc để trên đó nhân loại xây dựng lâu đài khoa học sau này. Engels cho rằng, “trong triết học cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của cái dân tộc nhỏ bé đó, cái dân tộc mà năng lực và hoạt động toàn diện của nó đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một dân tộc nào khác có thể mong ước được trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nhưng lý do khác là ở chỗ từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mần mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này. Do đó khoa học tự nhiên lý thuyết buộc phải quay trở lại với người Hy lạp, nếu nó muốn truy cứu lịch sử phát sinh và phát triển của những nguyên lý chung của nó ngày nay”

    Định mệnh loài người đã được dự báo trong triết học của các nhà thông thái Hy Lạp cổ đại, tuy nhiên, gần ba thiên niên kỷ nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên ít ai để ý tới điều đó. Sự bận rộn của đời sống thường nhật lôi cuốn con người vào việc toan tính mưu sinh, làm cho họ quên đi mình là ai, đang đứng ở vị trí nào trong vũ trụ. Theo quan điểm chúng tôi, triết học hiện đại cần có một cuộc phục hưng, các triết gia cần làm một cuộc hành trình quay về quá khứ, tìm kiếm trong đó những giá trị nhân sinh mà cha ông ta đã đặt ra nhưng chưa có điều kiện biến thành hiện thực. Trong một thế giới xung đột và bộn bề công việc như hiện nay, loài người cũng cần có thời gian tĩnh lặng để nhìn về quá khứ, rút ra những bài học thành công và những lỗi lầm thất bại của người xưa để từ đó tìm cho mình một hướng đi hợp lý. Rồi sau đó sẽ sống khác đi và lẽ tất nhiên là theo hướng tốt lên, loại bỏ được những sai lầm đã mắc phải trong quá khứ, tiếp thu những giá trị tích cực của truyền thống trên tinh thần hiện đại để làm nên lịch sử một cách có lý tính hơn, loại bỏ chiến tranh và xung đột.

    Trong Lời nói đầu cho cuốn Triết học lịch sử, Hegel cho rằng, ý niệm của các thời đại quá khứ không biến mất hoàn toàn, chúng có khả năng tích cực tác động đến tương lai, và từ cổ xưa có khả năng đột phá vào các thời đại muộn hợn. Các ý niệm đó trải một thời kỳ “hồi xuân”, và dưới dạng phục sinh lại có khả năng giải phóng phong trào quần chúng khỏi sự mù quáng tự phát, vì chúng được điều chỉnh cho phù hợp với các yêu cầu của thời hiện đại và dùng phong trào đó để trang bị cho bản thân. “Sự hoàn đồng” hay “hồi xuân” trở lại đó (của tinh thần quá khứ trong hiện tại) cho phép nhận thức loài người ngày càng một sâu sắc hơn về mục đích phát triển, góp phần chuyển biến cái tất yếu của lịch sử thành cái tự do. Lênin nhận xét ý tưởng này của Hegel chứa đựng mầm mống của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phản ánh con đường phát triển đi lên của xã hội loài người. Theo đó, tư tưởng của thời đại trước có thể làm tiền đề cho các cuộc cách mạng những thế hệ sau. Marx cho rằng, con người là chủ thể của lịch sử, nghĩa là hướng đi của lịch sử phụ thuộc chủ yếu vào những con người đang thực hiện nó. Vậy, con người phải làm gì để có một hướng đi đúng không phải trong tương lai mà ngay tại thời điểm bây giờ? Câu trả lời đúng chỉ có thể tìm thấy trong triết lý thuận thiên và trên dưới (các đẳng cấp và tầng lớp xã hội) chung sức, đồng lòng mà người xưa đã từng phổ biến.

    Cuốn sách được biên soạn theo phương châm của Max khi ông nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và triết học Epicure nói riêng để chuẩn bị tư liệu cho luận án tiến sĩ. Marx cho rằng, “nhiệm vụ của lịch sử triết học không phải là giới thiệu nhân cách của nhà triết học, dù là nhân cách tinh thần, có thể nói là điểm hội tụ và hình ảnh hệ thống triết học của nhà triết học đó, lại càng không phải đi làm cái việc bới lông tìm vết có tính chất tâm lý học và đưa ra những điều uyên bác. Lịch sử triết học phải chiết xuất trong từng hệ thống triết học, những động cơ có ý nghĩa quy định, những sự kết tinh đích thực và xuyên suốt toàn bộ hệ thống triết học, và tách chúng ra khỏi những bằng chứng, những biện minh dưới dạng đối thoại, tách chúng ra khỏi sự trình bày của các nhà triết học về chúng, vì các nhà triết học đã nhận thức được mình. Khoa lịch sử triết học phải… trình bày hệ thống ấy trong mối quan hệ với sự tồn tại lịch sử của hệ thống ấy, vì sự tồn tại ấy mang tính lịch sử…Bất cứ người nào viết lịch sử triết học cũng đều phân biệt cái thực chất và cái không thực chất, sự trình bày lại và nội dung; nếu không làm thế người viết sử sẽ chỉ làm công việc sao chép, thậm chí chưa chắc đó là công việc dịch thuật, người ấy lại càng ít có thể nói ý kiến của mình hoặc gạch bỏ điều gì đó. Người ấy sẽ chỉ là người chép lại bản sao mà thôi” . Tuân thủ những lời khuyên bảo chân tình đó của Marx, chúng tôi trình bày lịch sử triết học Hy Lạp, La Mã không theo tính “kể lể” hay liệt kê toàn bộ nội dung như nó có, mà chỉ chọn những điểm cốt yếu có giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại, bỏ qua một số nội dung tản mạn, không hệ thống và không cần thiết khác.

    Ngày nay, nghiên cứu triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại sẽ cho chúng ta một cái nhìn mới không chỉ về hiện tại mà còn trang bị hành trang tư tưởng cho cuộc hành trình đi tới tương lai. Hy vọng, qua những gì cảm nhận về nền triết học này sẽ làm chúng ta thay đổi phần nào thái độ sống, chỉnh sửa hành vi của mình đối với thiên nhiên. Và trên hết là quan hệ của chúng ta đối với bản thân mình (tự nhận thức) và đối với tha nhân, đồng loại (đối nhân xử thế). Không biết ngẫu nhiên hay tất yếu mà trong lịch sử hàng ngàn năm tồn tại của mình, người Hy Lạp thăng hoa, trỗi dậy duy nhất có một lần, mà lần đó đã thuộc về một quá khứ, quá khứ đó tuy thật xa xăm, nhưng vẫn là niềm tự hào cho dân tộc này ở thời hiện tại. Nghiên cứu triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại không phải là việc ngắm nhìn quá khứ như đi dạo bảo tàng, cũng không phải chỉ để nghiêng mình sùng bái, kính trọng các bậc cổ nhân như đứng trước bàn thờ tổ tiên, mà để có cơ hội nhìn lại lịch sử xem các nhà thông thái đã đối nhân xử thế như thế nào, họ có suy nghĩ gì trước sự vận hành của vạn vật, trước đời sống nhân sinh, từ đó chuẩn bị hành trang cho cuộc hành trình tiến về phía trước trong cuộc mưu sinh khó khăn, vất vả vì nguồn sống ngày càng cạn kiệt.

    SÁCH KHAI MINH TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Và Cách Thực Hiện Quan Điểm Toàn Diện? Cho Ví Dụ Minh Họa.
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Những Ví Dụ Về Quan Điểm Toàn Diện
  • Quan Niệm Về “trí Tuệ” Trong Triết Học Trung Quốc Thời Kỳ Tiên Tần
  • Triết Học Trung Hoa Cổ Đại – Kipkis
  • Triết Học Hy Lạp Cổ Đại
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.
  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Parmenides được biết đến như là học trò của Pythagoras – một triết gia nổi tiếng khác của Hy Lạp cổ đại. Các tác phẩm thơ và tư tưởng của Parmenides dường như luôn chịu ảnh hưởng đáng kể từ Xanophanes, đến nỗi các sử gia phải băn khoăn rằng, có nên coi ông là học trò của Xanophanes. Trong số các nhà triết học tiền Socrates, Parmenides được liệt kê vào danh sách những người quan trọng nhất.

    Tác phẩm duy nhất của Parmenides được mọi người biết đến là bài thơ có tiêu đề “On Nature” (“Bàn về tự nhiên’). Trong bài thơ này, ông đã cố gắng làm sáng tỏ 1 câu hỏi lớn: Là nó, hay không phải là nó? Thật sự mà nói, những nỗ lực của ông trong việc giải mã bí ẩn triết học này đã dẫn đến một tuyên bố khá nghịch lý chứ không phải là một câu trả lời thỏa đáng. Parmenides cho rằng ta nhận định được tất cả các sự vật là vì chúng có tồn tại. Chúng ta không thể hình dung sự không tồn tại, không hình dung được là không có. Quan niệm về tồn tại của Parmenides mang tính siêu hình, nhưng nó lại là đóng góp lớn của ông cho nền triết học sau này.

    Một nhân vật quan trọng khác của thời kỳ tiền-Socrates là Anaxagoras. Ông sinh ra tại Clazomenae, là một triết gia, một nhà khoa học có sức ảnh hưởng lớn, người đã sống và giảng dạy tại Athens trong gần 30 năm. Quan điểm triết học của ông phần nhiều xoay quanh bản chất của sự vật. Cũng giống như hầu hết các triết gia Hy Lạp cổ đại khác, tư tưởng của ông tương phản và động chạm tới các tư tưởng đương thời. Niềm tin mới mẻ đó đã khiến Anaxagoras phải đối mặt với những hậu quả nguy hiểm cả đến tính mạng.

    Anaxagoras được ghi cho là người đầu tiên mang triết học đến Athens. Đây cũng chính là nơi mà sau này triết học phát triển đến đỉnh cao và tác động vào xã hội cho tới hàng trăm năm sau. Ông dành nhiều thời gian của mình để giải thích bản chất của tự nhiên – lấy vũ trụ như là một khối không phân định cho đến khi nó được xác định trong một phần tinh thần mà ông gọi là ‘nous’. Ông tin rằng trong thế giới vật lý, vạn vật đều có chứa một phần của tất cả mọi thứ khác. Không có gì là tinh khiết hoàn toàn, riêng chỉ có “nous” (tức là trí tuệ) là đơn giản có quyền hạn tối cao và không hòa lẫn với một vật nào. Trí tuệ tự nó tồn tai. Nếu nó không tự nó tồn tại, mà hòa lẫn với một cái khác thì hỗn hợp sẽ cản trở, do vậy nó không thể điều khiển được một vật nào nữa. Nó là một vật nhẹ nhất và thuần khiết nhất, có trí thức đầy đủ về tất cả và có sức mạnh vĩ đại nhất. Trí tuệ điều khiển tất cả những gì có linh hồn.

    Anaximander sinh ra tại Miletus, là một học trò nổi tiếng và là người kế tục của Thales. Ông được xem là triết gia đầu tiên đã ghi chép lại những nghiên cứu của mình. Ông cũng là một nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực sinh học và địa lý buổi sơ khai. Hơn nữa, ông đã dựng nên hình ảnh đầu tiên về thế giới trong một vũ trụ mở, gạt bỏ khái niệm về một vũ trụ đóng, và điều này đã giúp ông trở thành nhà thiên văn học đầu tiên trong lịch sử nhân loại.

    Anaximander tiếp tục phát triển các quan điểm triết học của người thầy Thales – đưa ra một ‘Arche’ hoặc một nguyên lý mà ông tin đó là cơ sở của tất cả vũ trụ. Nhưng không giống như Thales, Anaximander cho rằng cơ sở này đã có một ‘Apeiron’ (một chất không giới hạn) hoạt động như khởi nguồn cho tất cả mọi thứ. Chính khởi nguồn này đã tạo nên những điểm trái ngược trong thế giới như nóng và lạnh, sáng và tối,… Rất có thể phần lớn các tác phẩm của ông đã bị cắt ngắn, đặc biệt là khi rơi vào tay các triết gia thế hệ tiếp theo. Thế nhưng Anaximander vẫn thực sự là một trong những bộ óc vĩ đại nhất của Hy Lạp thời kỳ cổ đại.

    Empedocles là một trong những nhà triết học quan trọng nhất trong thời kỳ tiền Socrates. Xuất sắc hơn nữa là những bài thơ của ông đã tạo nên một sức ảnh hưởng vô cùng lớn tới các nhà thơ thế hệ sau, bao gồm cả những người như Lucretius. Empedocles nổi tiếng nhất là nhờ khởi xướng cho thuyết nguồn gốc vũ trụ tạo bởi bốn nguyên tố cổ điển. Thuyết này nói rằng tất cả các vấn đề về cơ bản đều bao gồm bốn yếu tố chính: đất, không khí, lửa và nước. Mặc dù một số sử gia cho rằng lý thuyết trên là một nỗ lực để phủ nhận thuyết “vạn vật quy nhất” của Parmenides, thế nhưng đây vẫn trở thành một trong những lý thuyết sớm nhất về phân tử vật lý, được mặc nhiên công nhận.

    Empedocles chỉ đơn giản là phủ nhận sự hiện diện của bất kỳ khoảng trống hoặc không gian rỗng nào, do đó quan niệm này mâu thuẫn với tư tưởng triết học của Parmenides. Ông đưa ra ý tưởng về các động lực đối lập cùng hình thành nên thế giới – cụ thể là: Ái tình là nguyên nhân của hòa hợp, và xung đột là nguyên nhân của chia ly. Empedocles cũng đi vào nghiên cứu và trở thành người đầu tiên đưa ra một khoản mục về sự phát triển tiến hóa các loài.

    Vào thời điểm mà hầu hết các triết gia Hy Lạp cổ đại đang xem xét kỹ lưỡng suy luận và kiến thức của mình để giải thích bản chất vốn có của tự nhiên. Zeno Elea lại dành thời gian để làm sáng tỏ các các khúc mắc, nghịch lý về chuyển động và đa nguyên. Giá trị của ông nằm ở chỗ ông là người đã cố gắng để tìm một lời giải thích chi tiết cho những mâu thuẫn hiện diện trong thế giới vật chất, rất lâu trước khi logic phát triển.

    Zeno tiếp tục mở rộng và bảo vệ các hệ tư tưởng triết học mà ông học được của Parmenides, những tư tưởng đã gặp phải nhiều sự phản đối từ số đông dư luận tại thời điểm đó. Ông cũng đưa ra nhiều nghịch lý của mình, trở thành đề tài gây tranh cãi sôi nổi giữa các thế hệ triết gia sau này. Đa phần các đối số đương đại về nghịch lý của ông được sử dụng nhằm dẫn tới sự phân chia thời gian và không gian vô hạn – ví dụ như nếu có một khoảng cách thì sẽ phải có một nửa của khoảng cách đó và tương tự. Zeno là nhân vật đầu tiên trong lịch sử triết học của nhân loại đã tìm ra các khái niệm về tồn tại vô cực.

    Ở trường phái này, Pythagoras đã cố gắng để tìm thấy một sự hòa hợp lẫn nhau giữa cuộc sống thực và các khía cạnh thực tiễn của triết học. Các quan điểm của ông không hoàn toàn khô cứng như những gì chúng ta vẫn nghĩ về triết học, nhưng nó cũng bao gồm một số vấn đề chung như “Những nguyên tắc sống”, “Thực phẩm để ăn hàng ngày”, tương tự như vậy. Pythagoras cho rằng thế giới là một sự hòa hợp hoàn hảo và hướng việc giảng dạy của mình vào mục đích làm thế nào để sống một cuộc sống hài hòa.

    Socrates đã đem lại một cái nhìn hoàn toàn mới về việc ứng dụng triết học vào đời sống hàng ngày một cách thiết thực – Điều mà phần lớn các cách tiếp cận của triết học tiền Socrates đã không làm được.

    Triết học Socrates không có một mục đích nào khác ngoài việc hướng tới con người với những suy tư, trăn trở đời thường của nó. Ông thực sự “là một trong số những khuôn mặt nổi bật nhất nhưng cũng bí ẩn nhất trong lịch sử triết học”.

    Ông là một học trò chịu ảnh hưởng rõ rệt từ cách tiếp cận triết học của người thầy Socrates. Thế nhưng trong khi Socrates không ngừng bận rộn với việc giải thích triết học chỉ dựa trên lý luận về con người, Plato lại đưa ra hướng đi của mình bằng cách kết hợp hai cách tiếp cận chính: siêu hình học tiền Socrates thần học tự nhiên với thần học đạo đức Socratic. Triết học của Platon là một hệ thống triết học duy tâm khách quan lớn và đầu tiên trong lịch sử triết học đã đạt đến sự hoàn chỉnh, nhất quán và triệt để.

    Trong vật lý, ông đồng ý với nhiều quan điểm của trường phái Pytago. Hầu hết các tác phẩm của ông – đặc biệt là tác phẩm nổi tiếng nhất “The Republic” – dường như là sự pha trộn giữa các khía cạnh khác nhau của đạo đức, triết học chính trị và siêu hình của những người khác, làm thành một triết lý có hệ thống, có ý nghĩa và có thể áp dụng.

    Aristotle là triết gia có sức ảnh hưởng lớn nhất trong số các môn đệ của Plato. Cách lý giải sự vật của ông thường dựa trên những điều đã học được từ trải nghiệm thực tế, kết hợp với những cách tiếp cận khác nhau học hỏi từ người thầy Plato. Aristotle đã chứng tỏ bản thân vừa là một nhà văn giàu trí tưởng tượng, vừa là một học giả đầy sáng tạo. Ông ghi lại tất cả các các quan điểm của mình trong tất cả các lĩnh vực ông nghiên cứu.

    Vào thời điểm khi mà các kiến thức chuyên môn của con người vẫn còn ở mức độ quá tổng quát, Aristotle đã phá vỡ sự đồng hoá kiến thức tổng thể, phân chia nó thành các loại khác nhau như đạo đức học, sinh học, toán học và vật lý – mô hình phân loại này vẫn được sử dụng cho tới ngày hôm nay. Aristotle thực sự là một nhân vật chủ chốt trong triết học Hy Lạp cổ đại. Sức ảnh hưởng và tác động của ông không chỉ vượt ra ngoài giới hạn của Hy Lạp cổ đại, mà còn vượt ra cả giới hạn của thời gian.

    Thales được xếp vào vị trí đầu bảng trong danh sách này vì ông là điểm then chốt trong triết học Hy Lạp cổ đại – nơi mà từ đây, các thế hệ tiếp theo của nhiều nhà tư tưởng, nhà lý luận, biện chứng, vật lý học và triết học siêu nổi tiếng sẽ phát triển và thành danh. Các nhà sử học coi Thales như là cha đẻ của triết học Hy Lạp cổ đại. Phần lớn tư tưởng của Thales được truyền lại thông qua những miêu tả của Aristotle – người đã chỉ ra rằng Thales là nhà triết học đầu tiên nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản trong triết học như căn nguyên của vấn đề. Thales cũng được cho là người đã sáng lập ra trường phái triết học tự nhiên.

    Là một triết gia, Thales hiếm khi giới hạn nghiên cứu của mình trong một lĩnh vực hạn chế giữa biển kiến thức sẵn có. Ông đã rất đam mê và tích cực tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của kiến thức như triết học, toán học, khoa học, địa lý, và cả những khía cạnh không tên khác. Ông cũng được cho là người đã phát triển một tiêu chuẩn rõ ràng để đưa ra giả thuyết tại sao trong sự vật lại diễn ra những thay đổi. Ông cho rằng nước là thành phần cơ bản của thế giới. Thales là triết gia được kính trọng bậc nhất trong xã hội Hy Lạp cổ đại.

    Kết luận

    Sự xuất hiện của toàn bộ triết học truyền thống phương Tây có thể đã được bắt nguồn từ thời đại triết học ở Hy Lạp cổ đại. Sự phát triển của niềm đam mê triết học và tư duy phân tích trong các triết gia Hy Lạp cổ đại khoảng thế kỷ 6 TCN đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển tiếp theo của kiến thức như chúng ta biết ngày nay. Trong cuộc hành trình triết học của họ, mỗi người có một cách tiếp cận khác nhau để tìm kiếm câu trả lời cho những nghịch lý nổi tiếng, và từ đó lại tìm ra thêm vô số những nghịch lý khác. Hành trình ấy bắt đầu với những nỗ lực đầu tiên của Thales để nhận thức thế giới từ góc độ phương pháp. Sau đó, thành công của các nhà tư tưởng quan trọng kế cận đã dần tiếp nối nhau, đa dạng hóa phương pháp này thành khoa học tự nhiên, siêu hình học, và cuối cùng, thần học đạo đức – dẫn đến sự phát triển của triết học mà chúng ta biết ngày nay.

    Dịch bởi: Yến Nhi Nguồn dịch: AncientHistoryLists

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Những Khái Niệm Cơ Bản Trong Kinh Doanh
  • Định Nghĩa Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Acsimet – Nhà Bác Học Vĩ Đại Của Hy Lạp

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Định Ly Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Ở Nước Ta Hiện Nay Định Hướng Và Giải Pháp Hoàn Thiện
  • Quy Luật Vũ Trụ Thứ Nhất: Luật Nhất Thể Thần Thánh
  • Hoàn Thiện Chế Định Thanh Tra Chuyên Ngành Trong Hệ Thống Pháp Luật Về Thanh Tra
  • Xem Phim Định Luật Tình Yêu Của Murphy Tập 11 Vietsub
  • Xem Phim Định Luật Tình Yêu Của Murphy Tập 15 Vietsub
  • Acsimet là nhà toán học xuất chúng, nhà kỹ thuật tài ba, nhà khoa học dũng cảm và thiết tha yêu Tổ quốc. Ông là người phát hiện ra định luật đòn bẩy, lý thuyết về trọng tâm, điều kiện nổi của các vật, nguyên lý về tỉ trọng…

    Nhà bác học vĩ đại Acsimet

    Tiểu sử

    Acsimet có nhiều đóng góp to lớn trong lĩnh vực Vật lý, Toán học và Thiên văn học. Về Vật lý, ông là người đã sáng chế ra chiếc máy bơm dùng để tưới tiêu nước cho đồng ruộng Ai Cập, là người đầu tiên sử dụng hệ thống các đòn bẩy và ròng rọc để nâng các vật lên cao, là người đã tìm ra định luật về sức đẩy của nước. Về Toán học, Acsimet đã giải bài toán về tính độ dài của đường cong, đường xoắn ốc, đặc biệt ông đã tính ra số Pi bằng cách đo hình có nhiều góc nội tiếp và ngoại tiếp. Về Thiên văn học, ông đã nghiên cứu sự chuyển động của Mặt Trăng và các vì sao.

    Acsimet suốt cuộc đời say sưa học tập, nghiên cứu. Tương truyền rằng ông đã tìm ra định luật về sức đẩy của nước khi đang tắm. Ông đã sung sướng nhảy ra khỏi bồn tắm, chạy thẳng về phòng làm việc mà quên cả mặc quần áo, miệng kêu lớn: “Ơrêca! Ơrêca (Tìm thấy rồi! Tìm thấy rồi!). Trong cuộc chiến tranh của Hy Lạp chống quân xâm lược Rôma, Acsimet đã sáng chế ra nhiều loại vũ khí mới như máy bắn đá, những cái móc thuyền, đặc biệt trong đó có một thứ vũ khí quang học để đốt thuyền giặc. Thành Xicacudo đã được bảo vệ đến 3 năm mới bị thất thủ. Khi bọn xâm lược hạ được thành, chúng thấy ông vẫn đang say sưa ngồi nghiên cứu những hình vẽ trên đất. Ông đã thét lên: “Không được xóa các hình vẽ của ta”, trước khi bị ngọn giáo của kẻ thù đâm vào ngực. Acsimet đã anh dũng hi sinh như một chiến sĩ kiên cường.

    Acsimet là người yêu nước thiết tha. Trong giai đoạn cuối đời mình ,ông đã tham gia bảo vệ quê hương chống lại bọn xâm lược La Mã .Ông đã lãnh đạo việc xây dựng các công trình có kỹ thuật phức tạp và chế tạo vũ khí kháng chiến. Hơn hai nghìn năm đã trôi qua từ khi Acsimet bị quân La Mã giết hại, song người đời vẫn mãi ghi nhớ hình ảnh một nhà bác học thiết tha yêu nước, đầy sáng kiến phát minh về lý thuyết cũng như về thực hành, hình ảnh một con người đã hiến dâng cả đời mình cho khoa học, cho tổ quốc đến tận giờ phút cuối cùng.

    Những công trình ông tìm ra: 

    1. Công thức tính diện tích, thể tích hình lăng trụ và hình cầu 

    2. Số thập phân của số Pi. Năm -250, ông chứng minh rằng số Pi nằm giữa 223/7 và 22/7 

    3. Phương pháp tính gần đúng chu vi vòng tròn từ những hình lục giác đều nội tiếp trong vòng tròn

    4. Những tính chất của tiêu cự của Parabole 

    5. Phát minh đòn bẩy, đinh vis Acsimet (có thể do Archytas de Tarente), bánh xe răng cưa

    6. Chế ra máy chiến tranh khi Cyracuse bị quân La Mã vây

    7. Chế ra vòng xoắn ốc không ngừng của Acsimet (có thể do Conon de Samos) 

    8. Tính diện tích Parabole bằng cách chia ra thành tam giác vô tận 

    9. Nguyên lý Thủy tĩnh (hydrostatique), sức đẩy Acsimet, trọng tâm Barycentre 

    10. Những khối Acsimet (Solides Acsimet) 

    11. Những dạng đầu tiên của tích phân

    1. Công thức tính diện tích, thể tích hình lăng trụ và hình cầu2. Số thập phân của số Pi. Năm -250, ông chứng minh rằng số Pi nằm giữa 223/7 và 22/73. Phương pháp tính gần đúng chu vi vòng tròn từ những hình lục giác đều nội tiếp trong vòng tròn4. Những tính chất của tiêu cự của Parabole5. Phát minh đòn bẩy, đinh vis Acsimet (có thể do Archytas de Tarente), bánh xe răng cưa6. Chế ra máy chiến tranh khi Cyracuse bị quân La Mã vây7. Chế ra vòng xoắn ốc không ngừng của Acsimet (có thể do Conon de Samos)8. Tính diện tích Parabole bằng cách chia ra thành tam giác vô tận9. Nguyên lý Thủy tĩnh (hydrostatique), sức đẩy Acsimet, trọng tâm Barycentre10. Những khối Acsimet (Solides Acsimet)11. Những dạng đầu tiên của tích phân

    Nhiều công trình của ông đã không được biết đến cho đến thế kỷ XVIIe, thế kỷ XIXe, Pascal, Monge và Carnot đã làm công trình của họ dựa trên công trình của Acsimet.

    Tác phẩm ông đã viết về: 

    – Sự cân bằng các vật nổi 

    – Sự cân bằng của các mặt phẳng trên lý thuyết cơ học 

    – Phép cầu phương của hình Parabole 

    – Hình cầu và khối cầu cho Toán. Tác phẩm này xác định diện tích hình cầu theo bán kính, diện tích bề mặt của hình nón từ diện tích mặt đáy của nó

    – Sự cân bằng các vật nổi- Sự cân bằng của các mặt phẳng trên lý thuyết cơ học- Phép cầu phương của hình Parabole- Hình cầu và khối cầu cho Toán. Tác phẩm này xác định diện tích hình cầu theo bán kính, diện tích bề mặt của hình nón từ diện tích mặt đáy của nó

    Ông còn viết những sách về: 

    – Hình xoắn ốc (đó là hình xoắn ốc Acsimet, vì có nhiều loại xoắn ốc) 

    – Hình nón và hình cầu (thể tích tạo thành do sự xoay tròn của mặt phẳng quanh một trục (surface de révolution), những Parabole quay quanh đường thẳng hay Hyperbole 

    – Tính chu vi đường tròn (ông đã cho cách tính gần đúng của con số Pi mà Euclide đã khám phá ra 

    – Sách chuyên luận về phương pháp để khám phá Toán học. Sách này chỉ mới được khám phá ra vào năm 1889 tại Jérusalem 

    – Về trọng tâm và những mặt phẳng: đó là sách đầu tiên viết về trọng tâm barycentre (ý nghĩa văn chương là “tâm nặng”)

    Minh Ly

    Tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trọng Tâm Vật Lý 7 – Dạy Kèm Vật Lý Lớp 7
  • Giải Quyết Tranh Chấp Tài Sản Khi Ly Hôn
  • Phương Pháp Học Tốt Công Thức Vật Lý 11
  • Tổng Hợp Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Vật Lý
  • Một Số Nguyên Tắc, Định Luật Trong Lập Trình
  • I. Sự Ra Đời Và Các Thời Kỳ Của Triết Học Hy Lạp

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Của Siêu Hình Học Là Gì?
  • Vấn Đề Kế Thừa Và Phát Triển Trong Lịch Sử Triết Học
  • Quan Điểm Của C.mác Và Ph.ăngghen Về Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Và Chính Trị
  • Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Thị Trường Và Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Thời Kỳ Quá Độ Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Tanguyễn Gia Thơ
  • Dap An Cau Hoi Triet Hoc (1)
  • I . Sự ra đời và các thời kỳ của triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại

    1. Sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại

    a) Điều kiện kinh tế, xã hội dẫn đến sự ra đời triết học Hy Lạp cổ đại

    Hy Lạp và La Mã đại diện cho thế giới phương Tây cổ đại, trong đó Hy Lạp là chiếc nôi của văn minh phương Tây. Lãnh thổ Hy Lạp xưa kia rộng lớn hơn so với hiện nay gấp nhiều lần, bao gồm phần đất liền cùng vô số hòn đảo trên biển Egiê, vùng duyên hải Bancăng và Tiểu Á. Từ cuộc di thực ồ ạt vào các thế kỷ VIII – VI TCN, người Hy Lạp chiếm thêm miền nam Ý, đảo Xixin, vùng ven biển Đen, lập nên Đại Hy Lạp. Những cuộc viễn chinh toàn thắng của Alếchxăngđơ xứ Maxêđoan vào cuối thế kỷ IV TCN đã đưa đến sự ra đời các quồc gia Hy Lạp hóa trải rộng từ Xixin ở phía Tây sang An Độ ở phía Đông, từ biển Đen ở phía Bắc đến khu vực tiếp giáp sông Nin ở phía Nam. Tuy nhiên trung tâm của Hy lạp cổ đại, trải qua bao thăng trầm, vẫn là vùng biển Egiê, nơi nhà nước và nền văn hóa Hy Lạp đạt tời sự phồn thịnh cao nhất của mình. Nơi đây những nền móng đầu tiên của tri thức khoa học và triết học đã hình thành từ rất sớm.

    Vào thời đại Hôme (thế kỷ XI – IX TCN) ở Hy Lạp đã chớm bắt đầu quá trình tan rã của công xã thị tộc, được thúc đẩy bởi sự phân công lao động, diễn ra trong nông nghiệp giữa trồng trọt và chăn nuôi. “Pôlít” (Polis), khái niệm dùng để xác định nhà nước đặc trưng của người Hy Lạp dưới hình thức các thị quốc (thành bang), vào thời Hôme chỉ là những cụm dân cư, tương đối độc lập, có thành lũy bao bọc xung quanh. Song sự phân hóa xã hội cũng đã bắt đầu và ngày càng trở nên gay gắt. Bước sang thế kỷ VIII TCN kinh tế ở các thị quốc Hy Lạp tiếp tục phát triển với nhịp độ nhanh. Thủ công tách khỏi nghề nông và tiến những bước đáng kể. Hình thức tổ chức quyền lực mang tính nhà nước đã xuất hiện, thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng cũng tạo nên sự phân hóa sâu sắc trong đời sống xã hội. Sự hưng thịnh của kinh tế kích thích quá trình vượt biển tìm đất mới, dẫn đến những cuộc di thực ồ ạt, xâm chiếm các khu vực làng giềng, bắt người làm nô lệ.

    Tóm lại, sự tích lũy tư hữu, phát triển quan hệ hàng hóa, tiền tệ, sự tan rã của nền kinh tế tự nhiên, sự phân hóa giàu nghèo, sự đối kháng giữa các lực lượng xã hội, sự thôn tính đất đai, sử dụng lao động nô lệ… khiến cho chế độ công xã thị tộc, là chế độ lấy quan hệ huyết thống làm cơ sở, phải đi đến chỗ suy vong, và bị thay thế bởi một thiết chế xã hội mới, phù hợp với những quan hệ xã hội mới. Nói cách khác, nhà nước đã ra đời như một tất yếu trên con đướng phát triển lịch sử của nhân loại. Ph. Ăngghen viết:”Nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định”.

    Cùng với sự hình thành các thị quốc, nền văn hóa mới cũng được xác lập, trở thành bộ phận hữu cơ của đời sống xã hội Hy Lạp cổ đại. Những biểu hiện chủ yếu của hệ thống các giá trị tinh thần mới là sự duy lý hóa tư duy, ý thức về nhân cách, ca ngợi tính tích cực, lòng quả cảm và năng lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên, tinh thàn ái quốc, quan niệm về tự do như phạm trù đạo đức – chính trị cao qúy nhất…Sự hình thành những cơ sở của văn hóa Hy lạp là sự kế thừa các giá trị truyền thống, thể hiện trong các sáng tác dân gian, trong thần thoại và các hình thức sinh hoạt tôn giáo, trong những mầm mống của tri thức khoa học. Tư tưởng triết học phát sinh và phát triển như một thành tố không tách rời của nền văn hóa mới ấy.

    Như vậy, sự chuyển tiếp từ xã hội công xã nguyên thủy sang chế độ chiếm hữu nô lệ diễn ra cùng với những biến đổi chăn bản trong ý thức, trước hết là nhu cầu lý giải nghiêm túc những vấn đề tự nhiên, xã hội. Triết học ra đời theo Arixtốt, làm cho sự ngạc nhiên trước thế giới rộng lớn và bí hiểm được giải quyết bằng những nỗ lực của lý trí truy tìm nguyên nhân đích thực của vạn vật. Theo sử liệu học Pitago (570 – 496 TCN), hoặc có thể Hêraclít (khoảng 544 – khoảng 483 TCN),là người đầu tiên tự gọi mình là philosophos, sau đó xuất hiện thuật ngữ philosophia, dịch thành triết học, mặc dù Talét (khoảng 624-547 TCN) mới là triết gia đầu tiên của Hy Lạp. Như vậy “Philosophia” (philo – yêu mến, sophia – sự thông thái) biểu thị khát vọng của con người vươn tới hiểu biết thực sự về mối quan hệ giữa con người với thế giới và với chính mình, vượt qua ảnh hưởng của tư duy huyền thọai, đi vào chiều sâu nhận thức thông qua khái niệm ngày càng đạt được tính trừu tượng hóa cao.

    b) Con đường từ tư duy biểu tượng đến tư duy khái niệm, hay tiền đề tinh thần của triết học

    Ngạc nhiên làm nảy sinh triết lý, triết lý của con người về thế giới ở buổi đầu lịch sử thể hiện trong huyền thoại, nhất là trong các câu chuyện thần thoại và sinh hoạt tín ngưỡng nguyên thuỷ. Thần thoại là sự đối thoại đầu tiên, đầy tính hoang tưởng, của con người với thế giới xung quanh.

    Thần thoại (xuất phát từ tiếng Hy Lạp mythologia, trong đó mythos là câu chuyện, truyền thuyết, logos là lời nói, học thuyết) là hình thức tư duy phổ biến của người nguyên thủy, cùng với thuyết nhân hình, vật linh thuyết, vật hoạt luận…Trong thần thoại các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật, tinh thần và vật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và tưởng tượng, tự nhiên và siêu nhiên còn chưa bị phân đôi. . Tuy nhiên tư duy huyền thoại cũng trải qua những bước phát triển nhất định, thể hiện sự phát triển của ý thức. Có thể nhận thấy điều này trong thần thoại Hy Lạp. Đỉnh cao của thần thoại cũng cũng đồng thời báo hiệu sự cáo chung tất yếu của nó, sự thay thế nó bằng hình thức thế giới quan mới, đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới ngày càng sâu sắc hơn của con người. Quá trình này bắt đầu từ thời đại Hôme (thế kỷ XI – IX TCN) với việc xóa bỏ dần hố sâu ngăn cách giữa thần và người, nêu ra các ý tưởng sơ khởi về hỗn mang, về các hành chất, về nguồn gốc thế giới, và cả những thông điệp của con người về tình bạn, tình yêu, tinh thần ái quốc. Xu hướng này được tiếp tục ở Hêsiốt. Trong “Thần hệ” của Hêsiốt các trạng thái vũ trụ được mô tả thông qua các thế hệ thần linh, từ Hỗn mang đến thần Dớt – biểu tượng của trật tự, ánh sáng và sự tổ chức cuộc sống trong vũ trụ. Hiện tượng Prômêtê lấy trộm lửa của thần Dớt đem đến cho con người hàm chứa ý nghĩa sâu xa: lửa – biểu tượng của sức mạnh và lý trí – không còn là đặc quyền của thần linh như trước, mà đã cố hữu nơi con người. Con người trở nên tự chủ hơn trong quan hệ với thế giới xung quanh.

    Vào khoảng cuối thế kỷ VII – đầu thế kỷ VI TCN, các thị quốc bước vào thời kỳ phát triển khá thịnh vượng. Sự phân công lao động lần thứ hai và sự ra đời đồng tiền kim khí đã tạo nên những biến đổi lớn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở bình diện văn hóa tinh thần “bảy nhà thông thái” xuất hiện, mở đường cho một nền triết học thực sự. Trong số họ Talét được Arixtốt gọi là nhà triết học đầu tiên của thế giới phương Tây.

    Con đường từ thần thoại đến triết học, theo Hêghen, là con đường đi từ lý tính hoang tưởng đến lý tính tư duy, từ hình thức diễn đạt thông qua biểu tượng đến hình thức diễn đạt bằng khái niệm (G. W. F. Hêghen,toàn tập, t. IX, Moskva, 1934, tr. 14 ). Triết học ra đời không có nghĩa thần thoại mất đi, mà tiếp tục tồn tại trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, nhưng được xem xét ở bình diện khác – bình diện giá trị. Đằng sau những câu chuyện thần thoại là cả một triết lý sống, thể hiện những chuẩn mực, những giá trị, những bài học đạo đức, nhân văn.

    c) Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến sự hình thành tư duy triết học và khoa học Hy Lạp

    Trong quá trình xây dựng các học thuyết triết học và khoa học người Hy Lạp kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của các dân tộc phương Đông, vốn hình thành sớm hơn, đồng thời tạo cho mình một phong cách và sắc thái tư duy độc đáo, tạo nên truyền thống đặc trưng được tiềp tục bổ sung, phát triển ở các thời đại sau.

    Thông qua những chuyến vượt biển tìm đất mới, quan hệ buôn bán, giao lưu, người Hy Lạp tiếp thu chữ viết, thành quả khoa học, và cả yếu tố huyền học (occultism) ở các nền văn minh phương Đông, nhất là vùng Trung Cận Đông và Bắc Phi. Chữ viết tượng hình xuất hiện tại Ai Cập, Mesopotamie và một số dân tộc khác từ khoảng 2700 TCN. Đến thế kỷ VIII TCN người Phenicie, sau đó người Hy Lạp tiếp thu, cải biến và hoàn thiện thêm. Các lĩnh vực tri thức ở phương Đông như toán học, thiên văn học, địa lý, hệ thống đo lường, lịch pháp, các mầm mống của y học, các khoa học về sự sống đáp ứng phần nào khát vọng khám phá của người Hy Lạp, do đó được họ đón nhận một cách nhiệt tình, thúc đẩy quá trình hình thành những phác thảo đầu tiên về thế giới quan vào thế kỷ VII – VI TCN. . Các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp đều có kiến thức khoa học vững vàng nhờ thường xuyên giao lưu với phương Đông dưới các hình thức khác nhau. Người Ai Cập tính được số pi, diện tích hình tam giác, hình chữ nhật,, hình thang, hình bình hành, hình tròn. Hệ thống lịch pháp được xác lập vào đầu thiên niên kỷ II TCN. Từ phát minh của người Ai Cập ra cách tính thời gian một năm (365 + ¼ ngày đêm) sớm nhất thế giới, Babylon hoàn thiện thêm một bước về tháng bổ sung, để đưa năm âm lịch (12 tháng với 354,36 ngày đêm) đến gần với năm dương lịch (365,24 ngày đêm). Cách tính giời hiện nay cũng cũng xuất phát từ cách tính của Babylon. Tuy nhiên, dù đi trước Hy Lạp ở trình độ phát triển, song tại các nước phương Đông láng giềng triết học đúng nghĩa vẫn chưa xuất hiện. Ở phương diện lý luận tại Ai Cập và Babylon các yếu tố huyền học và thuật chiêm tinh đan xen với các mầm mống của triết lý vũ trụ, nhân sinh, nhưng mặt thứ hai này còn khá mờ nhạt, bị lấn át bởi cách tiếp cận nhân hình hóa. Tại Babylon chiêm tinh chiếm vị trí cao trong thang bậc tinh thần, nhà chiêm tinh được tham dự vào cả công việc triều chính, giúp nhà vua vạch ra các kế hoạch đối nội, đối ngoại, tiến cử nhân sự. Tại Ai Cập, những pho tượng khổng lồ đầu người mình thú, đặt bên cạnh những kim tự tháp uy nghi, tráng lệ, cho thấy người Ai Cập quan tâm đến thế giới “bên kia” vĩnh cửu. Với thời gian, trong tư duy của người Ai Cập xuất hiện một số cách ngôn chứa đựng các yếu của chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa khắc kỷ cổ sơ, như “Tôi là tôi”, “Đã vào cõi tử làm sao trở về”, “Đừng uổng phí thời gian”. Những cách ngôn đó bị xã hội xem là báng bổ thế giới thiêng liêng. Tại Babylon, sau thời kỳ hưng thịnh, những đô thị giàu có và sa đoạ bắt đầu suy vong, và sau cùng lùi về dĩ vãng. Sự kiện Babylon sa đoạ và sụp đổ đã được nêu ra trong Kinh Thánh Kytô giáo.

    Các yếu tố huyền học, khi được du nhập vào Hy Lạp, chúng vẫn phải đóng vai trò giá đỡ cho tinh thần phóng khoáng, tự do của người Hy Lạp. Liên minh Pitago là một điển hình. Ở đó các yếu tố duy tâm, tôn giáo, vốn được tiếp thu từ phương Đông, không che khuất các yếu tố khoa học, duy lý. Có thể khẳng định rằng, dù đi sau phương Đông về văn minh, nhưng Hy Lạp không đơn giản làm công việc của người kế thừa. Ngược lại, sự hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp là kết quả phát triển nội tại của tinh thần Hy Lạp, được thể hiện sinh động trong huyền thoại, trong văn hóa, trong tín ngưỡng nguyên thủy, chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế và xã hội. Trong quá trình tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa tinh thần phương Đông, người Hy Lạp tạo nên phong cách tư duy đặc trưng của mình, trở thành cái nôi của triết học và khoa học phương Tây. Vào năm 525 TCN, Ai Cập bị Ba Tư xâm chiếm. Ach thống trị của Ba Tư đã đẩy văn minh Ai Cập, cũng như Babylon trước đó, lùi về phía sau, nhưng ngọn lửa trí tuệ đã được nhen nhóm lên và rực sáng ở một vùng đất khác.

    2. Sự phân kỳ triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại

    Triết học Hy Lạp – La Mã trải qua ba chặng đường lớn, phản ánh sự hình thành, phát triển, khủng hoảng và sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ.

    Triết học thời kỳ Hy Lạp hóa, khủng hoảng và suy tàn, hay thời kỳ Hy Lạp – La Mã, bắt đầu từ thế kỷ III TCN đến thề kỷ V CN. Thời kỳ Hy Lạp hóa được bắt đầu từ khi Alécxanđơ xứ Maxêđoan thông qua các cuộc viễn chinh đã phổ biến Ảnh hưởng của Hy Lạp ở phương diện chính trị lẫn văn hóa đến các nước trong vùng. Tinh thần Hy Lạp hoá đó vẫn tiếp tục lan truyền ngay cả khi Hy Lạp bị mất chủ quyền về tay La Mã (khoảng 143 TCN). La Mã đô hộ Hy Lạp về quân sự và chính trị, nhưng về văn hóa Hy Lạp đã Ảnh hưởng một cách tích cực đến La Mã và toàn bộ đế chế La Mã. Những thành tựu văn hóa, khoa học của Hy Lạp được dịp phổ biến rộng rãi, từ từ khu vực Địa Trung hải đến Bắc Phi và vùng Trung Cận Đông; tiếng Hy Lạp được sử dụng chính thức. Nét đặc trưng của triết học thời kỳ hậu Hy Lạp là bên cạnh những vấn đề phổ quát, siêu hình, các triết gia chú trọng nhiều hơn đến thế giới nội tâm của cá nhân, tìm kiếm phương thức giải thóat khỏi những vướng bận của đời thường, hoặc chủ trương đối thoại giữa con người với vũ trụ, thần linh. Trừ phái Êpiquya, phần lớn các nhà triết học thời kỳ Hy Lạp hóa là những người đề cao vai trò của thần trong đời sống tâm linh của con người.

    Sự khủng hoảng của tư tưởng triết học Hy Lạp – La Mã xuất phát từ bản chất của chế độ chiếm hữu nô lệ, khi một bộ phận quần chúng đông đảo trong xã hội bị tướt bỏ quyền làm người, đưa đến những xung đột gay gắt, những cuộc khởi nghĩa của nô lệ và những cuộc chiến tranh triền miên. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của Kytô giáo (Christianity, Christianisme), với tư cách là tôn giáo nhất thần, thay thế tôn giáo đa thần, với thuyết giáo và biểu tượng mới, cũng góp phần báo trước cái chết tất yếu của chế độ chiếm hữu nô lệ. Ở buổi đầu lịch sử Kytô giáo là tôn giáo của quần chúng bị áp bức, chống lại ách thống trị của đế chế La Mã bằng hình thức ôn hòa, tuyên truyền cho lối sống dân chủ, bình đẳng, không phân biệt giàu, nghèo, sang hèn, nam nữ, trở thành chỗ dựa, hay liệu pháp tâm lý, tinh thần của nô lệ và người nghèo. Sau hai thế kỷ bị đàn áp, năm 324 Kytô giáo được công nhận là quốc giáo. Từ thời điểm này, nó trở thành một định chế vững vàng trong xã hội đang đi vào qũy đạo của chế độ phong kiến. Năm 476 Tây bộ đế quốc La Mã bị sụp đổ do những mâu thuẫn bên trong và sự tấn công của các sắc tộc “man di”từ phương Bắc. Năm 529 trường phái Platôn tại Aten chính thức bị đóng cửa, chấm dứt một thiên niên kỷ tồn tại và phát triển của triết học cổ đại Hy Lạp – La Mã, triết học của xã hội chiếm hữu nô lệ. Phong cách tư duy Hy Lạp – La Mã được thay thế bằng phong cách tư duy dựa vào một hệ quy chiếu duy nhất, chịu sự chi phối của Kinh Thánh ở bình diện thế giới quan, nhận thức luận và nhân sinh – xã hội. Triết học Kytô giáo chiếm vị trí độc tôn trong sinh hoạt tư tưởng, tinh thần, thủ tiêu đa nguyên triết lý, vốn là đặc trưng của tư duy cổ đại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Hy Lạp , La Mã Cổ Đại
  • Khái Niệm Thời Gian Và Ý Nghĩa Của Vấn Đề Giải Thoát Theo Giáo Lý Đạo Phật
  • Về Thời Gian: Tại Sao Triết Học Phương Tây Chỉ Có Thể Dạy Chúng Ta Đến Thế ?
  • Nghiên Cứu Triết Học Tôn Giáo
  • Triết Học Tôn Giáo Là Gì?
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.
  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • 1.1.1. Thời kỳ thứ nhất:

    Có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và nhà Tây Chu. Theo các văn bản cổ, nhà Hạ ra đời vào khoảng thế kỷ 21 TCN, đánh dấu sự mở dầu cho chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Hoa. Khoảng nửa đầu thế kỷ 17 TCN, người đứng đầu bộ tộc Thương là Thành Thang đã lật đổ nhà Hạ, lập ra nhà Thương, đóng đô ở đất Bạc( Hà Nam hiện nay). Đến thế kỷ 16 TCN, Bàn Canh rời đô về đất Ân nên nhà Thương còn gọi là nhà Ân. Vào khoảng thế kỷ 11 TCN, Chu Vũ Vương đã giết vua Trụ nhà Ân lập ra nhà Chu ( giai đoạn đầu là Tây Chu), đưa chế độ nô lệ ở Trung Hoa lên đỉnh cao. Nhà Chu đã thực hiện quốc hữu hóa về tư liệu sản xuất (gồm ruộng đất và sức lao động) rất nghiêm ngặt, tất cả đều thuộc quyền quản lý của vua nhà Chu . Đồng thời, thành lập những đô thị lớn tạo nên sự đối lập rất lớn giữa thành thị và nông thôn.

    Trong thời kỳ này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần. Những tư tưởng triết học đã xuất hiện, nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống. Nó đã gắn chặt thần quyền với thế quyền, lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị – xã hội với lĩnh vực đạo đức luân lý. Lúc này cũng đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ.

    Về khoa học, họ đã phát minh ra chữ viết và dựa vào sự quan sát vận hành của mặt trăng, các vì sao, tính chất chu kỳ của nước sông và quy luật sinh trưởng của cây trồng mà họ đã biết làm ra lịch (Âm lịch)

    1.1.2. Thời kỳ thứ hai: là thời kỳ Đông Ch

    u (còn gọi là thời kỳ Xuân Thu – Chiến quốc), thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Sự phát triển của sức sản xuất đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội. Nếu dưới thời Tây Chu, đất đai thuộc sở hữu của nhà vua thì nay thuộc về tầng lớp địa chủ mới lên và chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất hình thành.Từ đó, sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện. Xã hội lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren và chiến tranh xảy ra liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành chế độ phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển.

    Sự phát triển sôi động của xã hội đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của những “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những mẫu hình của một xã hội trong tương lai. Lịch sử gọi đây là thời kỳ “Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh. Đặc điểm của các trường phái này là lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị – đạo đức của xã hội. Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chín trường phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hay Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia. Trừ Phật giáo được du nhập từ ấn Độ sau này, các trường phái triết học được hình thành vào thời kỳ này được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử và tồn tại cho tới thời kỳ cận đại.

    Thứ hai, triết học Trung Hoa cổ, trung đại chú trọng đến lĩnh vực chính trị -đạo đức của xã hội, coi việc thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người. Có thể nói, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận thức luận và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của Trung Hoa.

    Thứ ba, triết học Trung Hoa cổ, trung đại nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa tự nhiên và xã hội, phản đối sự “thái quá” hay”bất cập”.

    Thứ tư, đặc điểm nổi bật của phương thức tư duy của triết học Trung Hoa cổ, trung đại là nhận thức trực giác, coi trọng tác dụng của cái “Tâm”, coi đó là gốc rễ của nhận thức.

    2. Một số học thuyết tiêu biểu của triết học Trung Hoa cổ, trung đại 2.1. Thuyết Âm – Dương, Ngũ hành

    Ở Trung Hoa, những quan niệm triết lý về “âm – dương”, “ngũ hành” đã được lưu truyền từ rất sớm. Tới thời Xuân thu – Chiến quốc, những tư tưởng về Âm dương – Ngũ hành đã đạt tới mức là một hệ thống các quan niệm về bản nguyên và tính biến dịch của thế giới.

    a. Tư tưởng triết học về Âm- Dương

    Triết học Âm – Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật; đó là sự tương tác của hai thế lực đối lập nhau là Âm và Dương.

    “Âm” là một phạm trù rất rộng, phản ánh khái quát những thuộc tính phổ biến của vạn vật như: nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, phía phải, số chẵn (2,4,6…). “Dương” là phạm trù đối lập với “Âm”, phản ánh khái quát những tính chất phổ biến của vạn vật như: cương, cường, sáng, khô, phía trên, phía trái, số lẻ (1,3,5…). Nhưng hai thế lực Âm – Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau theo ba nguyên lý căn bản.

    + Âm – Dương thống nhất trong Thái cực (Thái cực được coi là nguyên lý của sự thống nhất của hai mặt đối lập là âm và dương). Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.

    + Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm – Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực.

    Hai nguyên lý này thường được các học giả phái Âm – Dương khái quát bằng vòng tròn khép kín (tượng trưng cho Thái cực, trong đó được chia thành hai nửa (đen trắng) và trong nửa này đã bao hàm nhân tố của nửa kia (trong phần đen có nhân tố của phần trắng và ngược lại), biểu hiện cho nguyên lý trong Dương có Âm và trong Âm có Dương.

    + Sự khái quát đồ hình Thái cực Âm – Dương còn bao hàm nguyên lý: Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngược lại; đồng thời “Âm thịnh thì Dương khởi”, “Dương cực thì Âm sinh”.

    Để giải thích sự biến dịch từ cái duy nhất thành cái nhiều, đa dạng, phong phú của vạn vật, phái Âm – Dương đã đưa ra lôgíc tất định: Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm – Dương); Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương – Thiếu Âm – Thiếu Dương – Thái Âm) và Tứ tượng sinh Bát quái ( Càn – Khảm – Cấn – Chấn – Tốn – Ly – Khôn – Đoài); Bát quái sinh vạn vật (vô cùng vô tận).

    Tư tưởng triết học về Âm – Dương đạt tới mức là một hệ thống hoàn chỉnh trong tác phẩm Kinh Dịch, trong đó gồm 64 quẻ kép. Mỗi quẻ kép là một động thái, một thời của vạn vật và nhân sinh, xã hội như: Kiền, Khôn, Bĩ, Thái, Truân…; Sự chú giải Kinh Dịch là của nhiều bậc trí thức ở nhiều thời đại khác nhau với những xu hướng khác nhau. Điều đó tạo ra một “tập đại thành” của sự chú giải, bao hàm những tư tưởng triết học hết sức phong phú và sâu sắc.

    b. Tư tưởng triết học về Ngũ hành

    Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, những tương tác (tương sinh, tương khắc) với nhau. Đó là năm yếu tố: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ. Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, phía Tây, v.v.; Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, phía Bắc, v.v.; Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, phía Đông, .v.v.; Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, phía Nam,.v.v.; Thổ tượng trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa,.v.v.

    Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh – khắc với nhau theo hai nguyên tắc:

    + Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ.v.v.

    + Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc và Mộc khắc Thổ.v.v.

    Sự hợp nhất giữa tư tưởng triết học Âm – Dương và Ngũ hành đã làm cho mỗi thuyết có sự bổ túc, hoàn thiện hơn, thể hiện điển hình ở chỗ: các quẻ đơn (Càn – Khảm – Cấn – Chấn – Tốn – Ly – Khôn – Đoài) đều được quy về Ngũ hành để biện giải và ngược lại, Ngũ hành cũng mang tính cách Âm – Dương. Chẳng hạn: Kiền – Đoài thuộc hành Kim; chấn – Tốn thuộc hành Mộc v.v. và Kim cũng có Kim Âm và Kim Dương; Mộc cũng có Mộc Âm và Mộc Dương.

    2.2. Nho gia (thường gọi là Nho giáo)

    Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ 6 TCN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (551 – 479 TCN). Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng – Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.

    Kinh điển chủ yếu của Nho gia gồm Tứ Thư (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu). Các kinh sách này hầu hết đều viết về xã hội, về kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị – đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Những quan niệm đó được thể hiện ở những tư tưởng chủ yếu sau:

    Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị – đạo đức là những quan hệ nền tảng của xã hội, trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ (gọi là Tam cương). Nếu xếp theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua – cha – chồng xếp ở hàng làm chủ. Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia.

    Thứ hai, xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một xã hội đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh nên lý tưởng của Nho gia là xây dựng một “xã hội đại đồng”. Đó là một xã hội có trật tự trên – dưới, có vua sáng – tôi hiền, cha từ – con thảo, trong ấm – ngoài êm trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân. Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến đang lên.

    Thứ ba, Nho gia lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng “đại đồng”. Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội nên nền giáo dục của Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người. Trong bảng giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là “Nhân”. Những chuẩn mực khác như Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu.v .v. đều là những biểu hiện cụ thể của Nhân.

    Thứ tư, Nho gia quan tâm đến vấn đề bản tính con người. Việc giải quyết những vấn đề chính trị -xã hội đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung Hoa thời cổ phải đặt ra và giải quyết vấn đề bản tính con người. Trong học thuyết Nho gia không có sự thống nhất quan điểm về vấn đề này, nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử. Theo ông, “bản tính con người vốn là thiện” (Nhân chi sơ, tính bản thiện). Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi mới sinh ra như: Nhân, Nghĩa, Lễ .v.v.

    Mạnh Tử đã thần bí hóa những giá trị chính trị – đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên, bẩm sinh. Do quan niệm tính thiện nên Nho gia (dòng Khổng – Mạnh) đề cao sự giáo dục con người để con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo đức có sẵn.

    Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là Thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn là ác (Nhân chi sơ, tính bản ác). Mặc dù vậy, nhưng có thể giáo hóa trở thành thiện (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí….). Xuất phát từ quan niệm đó về tính người, Tuân Tử chủ trương đường lối trị nước kết hợp giữa Nho gia và Pháp gia.

    Người sáng lập ra Nho gia là Khổng Tử (551 – 479 tr.CN)

    Trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn. Một mặt, khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời, ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn tự vận động,biến hóa không phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời. ” Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vận hành, vạn vật sinh hóa mãi mãi” (Luận ngữ, Dương Hóa, 18); hay ” cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn, 16). Đó là yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát của ông. Mặt khác, ông lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người (Thiên mệnh). Đó là yếu tố duy tâm khách qua trong quan điểm của ông. Ông nói: “Đạo của ta thi hành ra được cũng do mệnh Trời, mà bị bỏ phế cũng là do mệnh Trời” (Luận ngữ, Hiến vấn, 38); “làm sao có thể cải được mệnh Trời”. Hiểu biết mệnh Trời là một điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn thiện là người quân tử. Cũng như thế, một mặt Khổng Tử tuyên truyền sức mạnh của quỷ thần; nhưng mặt khác ông lại nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt động con người trong đời sống.

    Quan niệm về nhận thức trong học thuyết của Khổng Tử không phát triển, không đặt ra vấn đề chân lý mà chỉ dừng lại ở vấn đề “tri thức luận” (tri thức do đâu mà có). Theo ông, tri thức có hai loại là “thượng trí” (không học cũng biết) và “hạ ngu”(học cũng không biết). Nghĩa là ông đã thừa nhận có tri thức tiên thiên, có trước sự nhận thức của con người. Đối tượng để dạy dỗ, giáo hóa nằm giữa “trí” và “ngu”, nếu chịu khó học tập có thể vươn tới thượng trí. Còn không học thì rơi xuống hạ ngu. Ưu điểm của ông là chủ trương “hữu giáo vô loại” (học thì không phân loại). Khổng Tử cũng nêu ra một số phương pháp học tập có ý nghĩa như: học phải đi đôi với luyện tập; học phải kết hợp với suy nghĩ; phải ôn cũ để biết mới; học phải nắm được cái cốt yếu”Tuy nhiên, hạn chế của Khổng Tử là ở quan niệm học theo lối “hoài cổ”, coi thường tri thức về sản xuất, lao động chân tay.

    Tư tưởng về luân lý, đạo đức, chính trị – xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi trong học thuyết Khổng Tử. Những nguyên lý đạo đức cơ bản nhất trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử là : Nhân, lễ, trí, dũng…cùng với một hệ thống quan niệm về chính trị – xã hội như “nhân trị”, “chính danh”, “thượng hiền”, “quân tử”, “tiểu nhân”…

    Khổng Tử lấy chữ “Nhân” làm nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của mình. Nhân có ý nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong đời sống con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tuỳ theo trình độ, hoàn cảnh mà ông giảng giải về nhân với nội dung khác nhau. “Sửa mình theo lẽ là nhân”, ” Điều gì mình không muốn, đừng đem nó làm cho người khác là nhân”, “yêu thương người là nhân”…Tư tưởng bao trùm của Nhân là yêu thương con người, là đạo làm người.

    Để điều nhân có thể thực hiện được thì phải bằng “lễ”. Lễ ở Khổng Tử là những phong tục, tập quán, những quy tắc, quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật Nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn tế lễ, triều sính, luật lệ, hình pháp…Lễ được coi là hình thức biểu hiện của nhân. Mặc dù kiên trì bảo vệ lễ của nhà Chu , nhưng Khổng Tử cũng đưa thêm những nội dung mới và phát triển nó lên, biến lễ thành một phạm trù có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc.

    Mục đích của Khổng Tử là xây dựng một xã hội có tôn ty trật tự, kỷ cương. Để làm đươc điều đó cần phải có “lễ” và “chính danh”. “Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng”(Luận ngữ, Nhan Uyên,1); “Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đángcủa người ấy, trên dưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh, vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua”(Luận ngữ, Bát Dật, 19)…Theo Khổng Tử, muốn trị nước trước tiên phải sửa mình cho chính danh, vì “danh không chính thì lời nói không thuận; lời nói không thuận thì sự việc không thành công; sự việc không thành công thì lễ nhạc không hưng thịnh; lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không đúng; hình phạt không đúng thì dân không biết theo ai?” (Luận ngữ, Tử Lộ, 3). Xuất phát từ tình hình loạn lạc của xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu, Khổng Tử đã nêu lên thuyết “chính danh”, nhưng trên thực tế, học thuyết này mang tính bảo thủ, bảo vệ cho lợi ích của quý tộc nhà Chu.

    Để thực hiện mục đích của mình, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và chủ trương “thượng hiền”, dùng người không phân biệt đẳng cấp xuất thân của họ. Trong việc chính trị, vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự” (Luận ngữ, Tử Lộ, 2). Việc ông mở trường dạy học chính là nhằm mục đích đào tạo ra những người có tài, đức tham gia vào công cuộc cai trị.

    Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh… của Khổng Tử là nhằm phục vụ mục đích chính trị là “Đức trị”. Ông phản đối việc dùng hình phạt để trị dân vì làm như vậy, dân sợ mà phải theo chứ không phục. Theo ông, làm chính trị mà dùng đức cảm hóa người thì giống như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các sao khác đều chầu đến.

    Tóm lại: So với các học thuyết khác, Nho gia có nội dung phong phú và mang tính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa, nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hơn hai ngàn năm của xã hội phong kiến. Để trở thành hệ tư tưởng chính thống, Nho gia đã được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung đại: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, nhưng tiêu biểu hơn cả là dưới triều đại nhà Hán và nhà Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho như Đổng Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy (thời Tống). Quá trình bổ sung và hoàn thiện Nho gia thời trung đại được tiến hành theo hai xu hướng cơ bản:

    Một là, hệ thống hóa kinh điển và chuẩn mực hóa các quan điểm triết học của Nho gia theo mục đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích thống trị của giai cấp phong kiến; vì thế Đổng Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ đại. Tính duy tâm thần bí của Nho gia trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao. Tính khắc nghiệt một chiều trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường được nhấn mạnh.

    Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ sung bằng các quan điểm triết học của thuyết Âm Dương – Ngũ hành, những quan niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng về pháp trị của Pháp gia v.v. Vì vậy, có thể nói: Nho gia thời trung đại là tập đại thành của tư tưởng Trung Hoa. Nho gia còn có sự kết hợp với cả tư tưởng triết học ngoại lai là Phật giáo. Sự kết hợp các tư tưởng triết học của Nho gia với những tư tưởng triết học ngoài Nho gia đã có ngay từ thời Hán và ít nhiều có cội nguồn từ Mạnh Tử. Tuy nhiên, sự kết hợp đạt tới mức nhuần nhuyễn và sâu sắc chỉ có dưới thời nhà Tống (960 – 1279).

    2.3. Đạo gia (hay học thuyết về Đạo)

    Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ 6 TCN). Học thuyết của ông được Dương Chu và Trang Chu thời Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng ít nhiều khác nhau. Những tư tưởng triết học của Đạo gia được khảo cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh.

    Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về “Đạo” với những tư tưởng biện chứng, cùng với học thuyết “Vô vi” về lĩnh vực chính trị – xã hội.

    Về bản thể luận, tư tưởng về Đạo là nội dung cốt lõi trong bản thể luận của Đạo gia. Phạm trù Đạo bao gồm những nội dung cơ bản sau:

    – “Đạo” là bản nguyên của vạn vật. Tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội nguồn của Đạo.

    – “Đạo” là cái vô hình, hiện hữu là cái “có”; song Đạo và hiện hữu không thể tách rời nhau. Trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo. Bởi vậy, có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại.

    – “Đạo” là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu. Nguyên lý ấy là “đạo pháp tự nhiên”.

    Chính trong quan niệm về “Đạo” đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao về những vấn đề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó.

    Quan niệm về tính biện chứng của thế giới không tách rời những quan niệm về “Đạo”, trong đó bao hàm những tư tưởng chủ yếu sau:

    Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên tắc “bình quân” và “phản phục” (cân bằng và quay trở lại cái ban đầu).

    – Các mặt đối lập trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này đã có cái kia.

    Do nhấn mạnh nguyên tắc “bình quân” và “phản phục” trong biến dịch nên Đạo gia không nhấn mạnh tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn, coi đó là trạng thái lý tưởng. Bởi vậy triết học Đạo gia không bao hàm tư tưởng về sự phát triển.

    Học thuyết chính trị – xã hội với cốt lõi là luận điểm “Vô vi”. Vô vi không phải là cái thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của “Đạo”.

    2.4. Mặc gia

    Phái Mặc gia do Mặc Tử, tức Mặc Địch (khoảng từ 479 -381 chúng tôi sáng lập thời Xuân Thu. Sang thời Chiến Quốc dã phát triển thành phái Hậu Mặc. Đây là một trong ba học thuyết lớn nhất đương thời (Nho – Đạo – Mặc).

    Tư tưởng triết học trung tâm của Mặc gia thể hiện ở quan niệm về “Phi thiên mệnh”. Theo quan niệm này thì sự giàu, nghèo, thọ, yểu…không phải là do định mệnh của Trời mà là do người. Nếu người ta nỗ lực làm việc, tiết kiệm tiền của thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói. Đây là quan niệm khác với quan niệm Thiên mệnh có tính chất thần bí của Nho giáo dòng Khổng – Mạnh.

    Học thuyết “Tam biểu” của Mặc gia mang tính cách là một học thuyết về nhận thức, có xu hướng duy vật và cảm giác luận, đề cao vai trò của kinh nghiệm, coi đó là bằng chứng xác thực của nhận thức.

    Thuyết “Kiêm ái” là một chủ thuyết chính trị – xã hội mang đậm tư tưởng tiểu nông. Mặc Địch phản đối quan điểm của Khổng Tử về sự phân biệt thứ bậc, thân sơ…trong học thuyết “Nhân”. Ông chủ trương mọi người yêu thương nhau, không phân biệt thân sơ, đẳng cấp…

    Phái Hậu Mặc đã phát triển tư tưởng của Mặc gia sơ kỳ chủ yếu trên phương diện nhận thức luận.

    2.5. Pháp gia

    Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng những luật lệ, hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người và củng cố chế độ chuyên chế thời Chiến quốc.

    Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời.

    Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (280 – 233 TCN). Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử dựa trên những luận cứ triết học cơ bản sau:

    Về tự nhiên:

    Ông giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật theo tính quy luật khách quan mà ông gọi là Đạo. Đạo là quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn tồn tại và không thay đổi. Còn mỗi sự vật đều có “Lý” của nó. “Lý” là sự biểu hiện khác nhau của Đạo trong mỗi sự vật cụ thể và là cái luôn luôn biến hóa và phát triển. Từ đó, ông yêu cầu mọi hành động của con người không chỉ dựa trên quy luật khách quan, mà còn phải thay đổi theo sự biến hóa của “Lý”, chống thái độ cố chấp và bảo thủ.

    Về lịch sử:

    Ông thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, khẳng định rằng không thể có chế độ xã hội nào là không thay đổi. Do đó không thể có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội. Ông đã phân chia sự tiến triển của xã hội làm 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn đó xã hội có những đặc điểm và tập quán riêng ứng với trình độ nhất định của sản xuất và văn minh. Đó là:

    + Thời Thượng cổ: Con người biết lấy cây làm nhà và phát minh ra lửa để nấu chín thức ăn.

    + Thời Trung cổ: Con người đã biết trị thủy, khắc phục thiên tai.

    + Thời Cận cổ: Bắt đầu xuất hiện giai cấp và xảy ra các cuộc chinh phạt lẫn nhau.

    Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội được ông quy về sự thay đổi của dân số và của cải xã hội.

    Về thuyết “Tính người”:

    Ông theo quan niệm của Tuân Tử coi tính người là ác, đưa ra học thuyết luân lý cá nhân vị lợi, luôn có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi…Kẻ thống trị phải nương theo tâm lý vị lợi của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội.

    Tư tưởng về pháp trị.

    Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi Tử đã đề ra học thuyết Pháp trị, nhấn mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp. Ông cũng phản đối thuyết nhân trị, đức trị của Nho giáo, phép “vô vi trị” của Đạo gia. Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và thuật, trong đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để thực hiện chính sách đó.

    + “Pháp” là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại. Theo nghĩa hẹp, là quy định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo nghĩa rộng, pháp được coi là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội. Vì vậy, pháp được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, giúp cho mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình.

    + “Thế” là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể.

    + “Thuật” cũng là chính danh, là phương sách trong thuật lãnh đạo của nhà vua nhằm lấy danh mà tránh thực.

    3. Một số nhận định về triết học Trung Hoa cổ, trung đại

    Nền triết học Trung Hoa cổ đại ra đời vào thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên chế độ phong kiến. Trong bối cảnh lịch sử ấy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà tư tưởng Trung hoa cổ đại là những vấn đề thuộc đời sống thực tiễn chính trị – đạo đức của xã hội. Tuy họ vẫn đứng trên quan điểm duy tâm để giải thích và đưa ra những biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng những tư tưởng của họ đã có tác dụng rất lớn trong việc xác lập một trật tự xã hội theo mô hình chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền theo những giá trị chuẩn mực chính trị – đạo đức phong kiến phương Đông.

    Bên cạnh những suy tư sâu sắc về các vấn đề xã hội, nền triết học Trung Hoa thời cổ còn cống hiến cho lịch sử triết học thế giới những tư tưởng sâu sắc về sự biến dịch của vũ trụ. Những tư tưởng về Âm dương – Ngũ hành tuy còn có những hạn chế nhất định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biện chứng của người Trung Hoa thời cổ, có ảnh hưởng lớn đến thế giới quan triết học sau này ở Trung Hoa và một số nước khác trong khu vực.

    Tags: Tư duy – nhận thức, Văn minh nhân loại, Trung Hoa cổ, Văn hóa Trung Hoa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Những Khái Niệm Cơ Bản Trong Kinh Doanh
  • Định Nghĩa Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Bai Giang Triet Hoc 2/2
  • Triết Học Trung Hoa Cổ Đại – Kipkis

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Niệm Về “trí Tuệ” Trong Triết Học Trung Quốc Thời Kỳ Tiên Tần
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Những Ví Dụ Về Quan Điểm Toàn Diện
  • Nội Dung Và Cách Thực Hiện Quan Điểm Toàn Diện? Cho Ví Dụ Minh Họa.
  • Triết Học Hy Lạp
  • Quán Triệt Nguyên Tắc Khách Quan Và Quan Điểm Toàn Diện Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • II. Triết học Trung Hoa cổ đại

    1. Điều kiện kinh tế – xã hội và đặc điểm của Triết học Trung Hoa cổ đại

    a. Điều kiện kinh tế – xã hội

    • Xã hội Trung Hoa cổ đại kéo dài trong lịch sử từ 2000 năm TCN và có thể chia làm 2 giai đoạn lớn: (từ khoảng 2205 – 221 TCN. Theo gíao trình quốc gia tr 62). (Theo sách LSTH của Nguyễn Hữu Vui viết là xã hội Trung Hoa cổ đại kéo dài trong lịch sử từ thế kỷ XVII – III TCN)
      • Giai đoạn 1: Thời kỳ tan rã của xã hội nguyên thuỷ và sự ra đời của xã hội Nô lệ ở Trung Hoa (Khoảng thế kỷ thứ IX TCN trở về trước): Thời kỳ này những tư tưởng triết học ít nhiều đã xuất hiện nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống

    + Thời Nghiêu – Thuấn là thời kỳ cuối của xã hội nguyên thuỷ Trung Hoa. Lúc đó, đồ đồng được sử dụng phổ biến, kinh tế nông nghiệp phát triển, xã hội Trung Hoa đã bị phân chia giai cấp mở đầu cho thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Chủ nô tóm thâu của cải và người nô lệ trong tay mình. Vua đã nắm quyền lực tối cao của quốc gia. Nhà nước đã xuất hiện. Trong giai đoạn này, nhà Chu là thời thịnh trị, chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến đỉnh cao. Lúc đó, Trung Hoa cổ đại đã có được nền kinh tế định canh, định cư, công cụ đồ sắt khá phổ biến, có chế độ thuế khoá bằng hiện vật. (Nhà Hạ (2205- 1767) rồi tiếp đến là nhàThương (Ân) vào khoảng từ 1767-1112) thay nhau trị nước. Thời kỳ này đồ đồng được sử dụng phổ biến. Vào thế kỷ XIV TCN nhà Thương suy giảm uy tín. Vua cuối cùng của nhà Thương là Trụ Vương đã thực hiện chế độ cai trị rất tàn khốc nên thủ lĩnh của bộ tộc Chu là Chu Văn Vương đứng lên lập đổ Trụ Vương lập nên nhà Chu (từ 1112 – 770) và thực hiện chế độ Tông pháp. Chế độ Tông pháp là chế độ chính trị mà nó phân chia xã hội theo huyết thống (theo thị tộc) và lấy những thi tộc bị chinh phục làm lực lượng sản xuất chính. Có thể nói rằng từ khi Chu Văn Vương cầm quyền thì xã hội Trung hoa cổ đại rất thịnh trị. Nhà Chu thực hiện chế độ” tĩnh điền” “phong hầu kiến quốc” cho các chư hầu. Về văn hoá, Người Trung Hoa cổ đại đã sáng tạo ra chữ viết gọi là chữ giáp cốt, đã làm niên lịch, có nhiều kiến thức về y học, thiên vănv. v

    + Về mặt tư tưởng trong thời kỳ này, giai cấp thống trị đã xem Trời là một quyền uy tối thượng và sử dụng nó để củng cố quyền lực của mình trong xã hội. (Thời nhà Thương thì theo tư tưởng “Trời và tổ tiên của thị tộc là một” nhưng sang đến thời của nhàChu thì tách Trời và thần tổ tiên làm 2. Nhà Chu cho rằng Trời đã ban mệnh cho họ lập ấp và dựng nước nên vua tự xưng mình là thiên tử)

      • Giai đoạn 2: Thời kỳ Xuân thu – chiến quốc (khoảng từ thế kỷ thứ VIII – III TCN). Đây là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang phong kiến.

    + Kể từ thế kỷ thứ VIII thì nhà Chu bắt đầu suy yếu, đặc biệt là đã nảy sinh một mâu thuẫn rất lớn đó là mâu thuẫn giữa chính trị và kinh tế. Về kinh tế thương nghiệp phát triển tạo nên một tầng lớp mới: tầng lớp thương nhân gọi là Hiển tộc. Tầng lớp này nắm toàn bộ sức mạnh kinh tế trong tay. Trong thời kỳ thịnh trị của nhà Chu thì đất đai thuộc về vua, nay lại thuộc hiển tộc, trong khi đó quý tộc nhà Chu lại nắm quyền lực chính trị mà không có thực lực kinh tế. Sự tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên, chết chóc tang thương. Lệnh của nhà Chu không còn được coi trọng, kỷ cương xã hội đảo lộn.

    + Những mâu thuẫn về kinh tế – chính trị trong lòng Trung Hoa cổ đại thời bấy giờ đã làm cho xã hội Trung hoa phân hoá. Một bộ phận tri thức tiếp tục phục vụ nhà Chu còn bộ phận khác bất hợp tác với nhà Chu.Chính bối cảnh lịch sử này đã đặt ra nhiều vấn đề về một xã hội lý tưởng là xã hội như thế nào, vấn đề đạo làm người, vấn đề trị loạn v.v. Từ đó nền triết học Trung hoa cổ đại xuất hiện đồng loạt nhiều trường phái khác nhau như Nho gia, Đạo gia, Pháp gia, Mặc gia.

    Nói một cách khái quát nền triết học Trung Hoa cổ đại nở rộ từ thế kỷ thứ VIII TCN và nó phát triển một cách liên tục trong toàn bộ lịch sử Trung Hoa.

    b. Đặc điểm về tư tưởng Triết học Trung Hoa cổ đại

    • Đặc điểm 1: Đó là một nền triết học có nguồn gốc từ tư tưởng triết học dân gian của người Trung Hoa tối cổ được kết tụ trong các bộ kinh: Thi, thư, lễ, dịch, xuân – thu. Triết học Trung Hoa cổ đại đặt con người trong tương quan với vũ trụ xem trời đất và người là một thể thống nhất gọi là nguyên lý thiện địa nhân nhất thể.
    • Đặc điểm 2: Triết học Trung Hoa cổ đại lấy con người và đời sống chính trị, đạo đức của cộng đồng làm đối tượng thường trực trong tư duy của các triết gia.
    • Đặc điểm 3: Triết học Trung Hoa cổ đại chủ trương lấy thực tế cuộc sống của bản thân triết gia chứng minh cho học thuyết của mình dựa trên nguyên tắc tri hành hợp nhất.
    • Đặc điểm 4: Triết học Trung Hoa cổ đại bị chi phối mạnh mẽ bởi tư tưởng chính trị và đan xen với tư tưởng chính trị.

    2. Một số học thuyết tiêu biểu của triết học Trung Hoa cổ đại

    a. Thuyết Âm – Dương, Ngũ hành

    • Tư tưởng triết học về Âm dương: Vạn vật biến đổi do sự tương tác của 2 yếu tố đối lập nhau: Âm và Dương. Âm phản ánh những thuộc tính phổ biến của vạn vật như: tối, ẩm, nhu, thuận, nặng… còn dương thì sáng, khô, cương, cường, khô, nhẹ…Âm và Dương tồn tại trong Thái cực (Thái cực được hiểu là sự thống nhất giữa 2 mặt đối lập Âm và Dương). Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. (Hình tượng của Thái Cực là vòng trò khép kín, trong đó chia thành hai nửa đối lập (đen, trắng), trong nửa này đã bao hàm nhân tố của nửa kia.) Trong quá trình biến dịch, Thái cực sinh lưỡng nghi (Âm và Dương), lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái dương, thiếu âm, thiếu dương, thái âm), Tứ tượng sinh Bát quái (Càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài), Bát quái sinh vạn vật.
    • Tư tưởng triết học về Ngũ hành: Từ thời Xuân Thu, trong quyển “Tả Truyện” có viết: thổ cùng với kim, thuỷ, mộc, hoả làm thành trăm vật.Trong mỗi yếu tố đó đều bao hàm sự đối lập giữa âm và dương. Do chứa đưng sự đối lập mà chúng chuyển hoá nhau thể hiện ra là tương sinh, tương khắc. Tương sinh là sinh hoá cho nhau theo vòng tuần hoàn: thổ – kim – thuỷ – mộc – hoả.Tương khắc là quan hệ chế ước lẫn nhau. cũng theo vòng tuần hoàn:Mộc – thổ – thuỷ – hoả – kim.

    Như vậy Âm – Dương, Ngũ hành là một hệ thống các quan niệm về bản nguyên và tính biến dịch của thế giới hàm chứa nhiều yếu tố duy vật và biện chứng. Thừa nhận vạn vật biến đổi theo quy luật của nó là tư tưởng là giá trị của thuyết biến dịch của Trung Quốc. Tuy nhiên hạn chế của thuyết này là quan niệm về sự biến đổi của thế giới còn giản đơn: không có cái cao hơn, diễn ra theo vòng tuần hoàn, bị đóng khung trong 2 cực (đến cực kia rồi quay lại: âm cực dương hồi)

    b. Nho gia

    1. Khổng Tử (551- 479 trCN): Khổng Tử sinh năm 551, mất 479 TCN (theo LSTH của Nguyễn Hữu Vui) quê ở làng Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngày nay. Ông là người sáng lập nên Nho gia. Người phương Đông xem ông là bậc thánh của mình, ngày xưa thường gọi là đức thánh “Chí thánh tiên sư, vạn thế sư biểu”. Kinh điển của Nho gia: Kinh điển của Nho gia gồm tứ thư và ngũ kinh. Ngũ kinh (thi, thư, lễ, dịch, xuân thu). Tứ thư là bốn cuốn sách của Nho gia, gồm có: Luận ngữ (Khổng Tử) lấy tác phẩm này làm nền của Nho gia, Đại học (Tăng sâm), Trung dung (Tử tư), Mạnh Tử (Mạnh Tử) tên tác giả được đặt tên cho tác phẩm mà tác giả viết.

    • Vũ trụ quan của Khổng Tử và Nho gia:
      • Khổng Tử là triết gia không tìm bản nguyên của vũ trụ. Khổng Tử viết: Ta không muốn nói, trời có nói gì đâu mà bốn mùa vẫn vận hành, vạn vật vẫn sinh sôi. Tư tưởng này chứng tỏ rằng Khổng Tử nhìn thế giới trong sự tồn tại tự thân.
      • Tuy nhiên ông lại cho rằng “Sống chết con người ta có mệnh”.

    Tóm lại, về mặt vũ trụ quan Khổng Tử luôn dao động giữa hữu thần và vô thần, giữa duy tâm và duy vật.

    • Nhân sinh quan của Khổng Tử: Nhân sinh quan của Khổng Tử được thể hiện ở các học thuyết sau đây:
      • Nhân: bàn cái bên trong của con người, nội giới của con người. Khái niệm nhân của Khổng Tử bao hàm các nghĩa sau đây: Nhân là lòng trung thứ, tức là sự chân thành, độ lượng, đức hy sinh của con người. Nhân chính là lòng yêu thương con người. Nhân là lòng thiết tha làm được những điều có lợi cho con người. Khổng Tử lấy Nhân làm nền trong toàn bộ đời sống đạo đức xã hội.
      • Lễ là hình thức tế lễ của con người đối với thần linh. Lễ là biểu hiện lòng nhân ra bên ngoài. Có thể nói nếu như Nhân là diện mạo đạo đức bên trong của một con người thì Lễ là sự biểu hiện diện mạo ấy ra bên ngoài. Thực chất là trật tự xã hội nhà Chu.
      • Chính danh: Trước hết, Khổng Tử cho rằng “vật các đắc kỳ sở”, tức vạn vật đều có địa vị, tự nhiên của nó (vạn vật đều có bản chất của nó). Vận dụng nguyên lý này vào đời sống đạo đức xã hội Khổng Tử cho rằng: mỗi người đều có bổn phận riêng của mình, thực hiện đúng bổn phận của mỗi người là thực hiện chính danh.

    Có thể nói rằng học thuyết chính danh của Khổng Tử hàm chứa những triết lý căn bản về mặt chính trị xã hội và cả về mặt đạo đức xã hội. Tuy nhiên, học thuyết này về sau các thế lực cầm quyền nhà nước phong kiến tuyệt đối hoá nó để bảo vệ địa vị của mình. Khổng Tử là một triết gia lớn trong nền triết học Trung Hoa cổ đại, học thuyết của ông trở thành nền tảng, tư tưởng cho toàn bộ xã hội phong kiến Trung Hoa và phương Đông. Nhiều nội dung tư tưởng của ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tư tưởng nhập thế của Nho gia và Khổng Tử có giá trị lớn đối với việc hình thành nhân sinh quan của con người phương đông xưa cũng như nay. Tuy nhiên Khổng Tử và Nho gia cũng có những mặt hạn chế là giao động giữa duy vật và duy tâm.

    2. Mạnh Tử (372 – 289 TCN). Học trò Khổng Tử là Mạnh Tử đã phát triển quan điểm của Khổng Tử theo chiều hướng duy tâm. Về đạo đức: Mạnh Tử cho rằng “Nhân chi sơ tính bản thiện”, cho rằng cứ 500 năm thì kết quả cuộc tuần hoàn chu kỳ của ngũ hành nhất định làm xuất hiện một đấng Vương giả hiền đức.

    3. Tuân Tử: (298 – 238 TCN). Tuân Tử tên là Huống tự là Khanh người nước Triệu, từng du học ở Tề, Tần và Sở. Tuân Tử là đại biểu của giai cấp địa chủ đang trên đà phát triển. Ông là triết gia có địa vị đặc biệt, là nhà duy vật kiệt xuất trong lịch sử triết học ở Trung Hoa cổ đại.

    • Vũ trụ quan của Tuân Tử:
      • Tuân Tử đứng trên lập trường duy vật để thể hiện vũ trụ quan của mình, ông cho rằng Trời không phải là một nhân cách chủ quan có ý thức, ý chí mà là một thực thể khách quan tồn tại độc lập với ý thức của con người. Tuân Tử viết rằng: “Thiên hành hữu thường – bất vị Nghiêu tồn, bất vị Kiệt vong” (Trời không làm như thế, không phải vì vua Nghiêu mà nó tồn, cũng không vì vua Kiệt mà nó mất).
      • Hơn nữa Tuân Tử nhìn thế giới tự nhiên trong quá trình vận động và phát triển đi từ thấp đến cao để đạt được sự hoàn thiện cuả nó. Tuân Tử viết “Nước và lửa có khí nhưng vô sinh. Cỏ cây có sinh nhưng vô tri, cầm thú có tri nhưng vô lễ nghĩa, con người vừa có khí vừa có sinh vừa có tri lại vừa có lễ nghĩa. Nên con người là giống quý nhất trong thiên hạ”.

    Tư tưởng này chứng tỏ rằng Tuân Tử đã phát hiện ra biện chứng khách quan của thế giới tự nhiên nên ông hiển nhiên là một triết gia duy vật rất nhất quán trong tư tưởng của mình.

    • Nhân sinh quan của Tuân Tử:
      • Trước hết, quan điểm của Tuân Tử về xã hội: Tuân Tử cho rằng mọi sự biến động xã hội, mọi quá trình biến đổi của lịch sử đều bắt nguồn từ nguyên nhân vật chất. Ông viết: “Dục đa, Nhi vật, quả tắc tranh” (Nhu cầu thì nhiều nhưng của cải ít, ít thì phải tranh giành). Từ đó, Tuân Tử chủ trương để cho đời sống con người thịnh trị tất yếu phải tăng gia sản xuất. Tuân Tử viết “Thiên nhiên không phải là nơi để con người tôn thờ mà nó là cái xưởng để con người làm ra của cải”.
      • Quan niệm về con người của Tuân Tử đối lập với Mạnh Tử. Mạnh Tử cho rằng “Nhân chi sơ, tính bản thiện” (con người vốn tính hiền lành) thì Tuân Tử lại cho rằng “Nhân chi sơ, tính bản ác”. Luận điểm này của Tuân Tử cùng với mệnh đề của Mạnh Tử đã giúp con người cách hiểu về chính mình, bản thân con người được toàn diện hơn.
    • Nhận thức luận của Tuân Tử:
      • Trước hết Tuân Tử cho rằng mọi quá trình nhận thức của con người đều do cái TÂM của con người điều khiển.
      • Tuân Tử viết rằng “Tâm là không sai khiến thì trắng đen trước mắt cũng không thấy được”. Ở đây cho thấy rằng Tuân Tử cảm nhận cái “Tâm” như là bộ não của con người. Tuân Tử còn cho rằng quá trình nhận thức của con người còn bắt nguồn từ kinh nghiệm cảm quan mà thực chất của nó chính là nhận thức cảm tính.
      • Tuân Tử là một triết gia duy vật nhất quán trên mọi vấn đề chung nhất của triết học. Di sản tư tưởng của ông được toả sáng trên nhiều lĩnh vực của đời sống con người. Sự xuất hiện của Tuân Tử đã làm cho nền triết học Trung Hoa cổ đại giàu có và phong phú hơn đặc biệt là tư tưởng thực nghiệm của ông.

    c. Lão Tử và Đạo gia

    Lão Tử là người sáng lập ra Đạo gia, ông là người nước Sở, họ Lý tên Nhĩ, tự là Đam. Sống cùng thời với Khổng Tử (nguồn gốc và năm sinh, mất của ông chưa rõ) Tác phẩm kinh điển của Đạo gia là Đạo đức kinh

    • Vũ trụ quan của Lão Tử và Đạo gia: Lão Tử triết gia nỗ lực đi tìm bản nguyên của vũ trụ. Theo ông ĐẠO là bản nguyên của vũ trụ. Đạo là cái sinh thành ra toàn bộ vũ trụ. “Có một vật không ổn định được sinh ra trước trời đất yên lặng mênh mông, độc lập, không đổi có thể tản mác khắp cả, có thể lấy làm mẹ của thế giới, ta không biết tên tạm đặt là Đạo”. Tư tưởng này chứng tỏ rằng Lão Tử không dựa vào sức mạnh siêu nhiên của thần thánh để luận giải về nguồn gốc của vũ trụ mà xem Đạo là bản nguyên, là một thực thể tồn tại tự thân, chính nó sản sinh ra toàn bộ vũ trụ. Do vậy vũ trụ quan của Lão Tử thể hiện rõ nét lập trường vô thần nghiêng về phía duy vật.
    • Tư tưởng biện chứng của Lão Tử: Kế thừa tư tưởng của kinh dịch và thuyết âm dương ngũ hành, Lão Tử đã phát triển tư tưởng biện chứng lên một bước mới. Ông cho rằng vạn vật đều hàm chứa âm dương: “Vạn vật phụ âm nhi bảo dương, xung khí dĩ vi hoà” (vạn vật đều hàm chứa âm dương, xung khắc mà hoà hợp).
    • Nhân sinh quan của Lão Tử và Đạo gia:
      • Phản ánh tư tưởng, nguyện vọng của tầng lớp quý tộc nhỏ không chuyển biến kịp sang giai cấp địa chủ. Họ bị đại quý tộc áp bức và bị địa chủ mới lên uy hiếp, do vậy có tư tưởng bi quan trước hiện thực.
      • Tư tưởng bao trùm trong nhân sinh quan của Lão Tử và Đạo gia là tư tưởng xuất thế. Từ tư tưởng này Lão Tử chủ trương chủ thuyết “Vô vi”, “Bất tranh”.

    + “Vô vi” là không làm trái với tự nhiên, tức là thuận theo tự nhiên mà làm.

    + “Bất tranh” không tranh giành, không cướp đoạt, không màn đến danh lợi, sống một cách lẫn khuất trong thế giới con người (không tranh mà thắng).

    Từ các tư tưởng trên chính Lão Tử chủ trương đưa con người trở về với xã hội nguyên sơ của nó để cho con người sống ở trạng thái thuần phác mộc mạc. Do vậy có thể nói rằng về nhân sinh quan của Lão Tử còn hạn chế ở chỗ ông phủ nhận sự tiến bộ của lịch sử cũng có nghĩa là phủ nhận sự phát triển khách quan của nhân loại.

    d. Mặc gia: (Khoảng 479 – 381 tr CN)

    Ông chống lại thuyết của Khổng Tử về mệnh trời và nêu thuyết “Phi mệnh”, thuyết “Kiêm ái”, đề cao vai trò của sản xuất vật chất và tự lực,tự cường

    • Về nhận thức, Mặc Tử nêu thuyết “Tam Biểu “cho rằng nhận thức đúng đắn phải dựa trên 3 yếu tố: kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm cảm giác của quần chúng, thực tiễn. Về mặt này, Mặc Tử là người tiêu biểu cho tinh thần khoa học ở Trung Hoa cổ đại. Nhưng có lẽ do chế độ phong kiến Trung Quốc đã thủ tiêu triết học Mặc Tử nên khoa học tự nhiên không phát triển được ở Trung Quốc trong nhiều thế kỷ.
    • Tuy nhiên tư tưởng duy vật của Mặc Tử không triệt để vì ông cònn thừa nhận có thần. Thần là kẻ có lòng kiêm ái để phạt những kẻ vì “biệt “mà ghét nhau

    e. Hàn Phi Tử và Pháp gia. (280-233 trCN)

    Phái này chú trọng vào những tư tưởng chính trị xã hội và đề cao phép trị nước bằng pháp luật dựa vào những quan điểm triết học sau đây

    • Xã hội nhất định sẽ biến đổi cho nên không có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội. Sự thay đổi là do sự thay đổi của dân số và của cải xã hội.
    • Bản tính con người là ác nên phải lấy luật pháp để chế ngự, khôngthể dùng nhân trị.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Giáo trình Triết học Mác Lênin
    • Đại học An Giang

    “Like” us to know more!

    Knowledge is power

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Hy Lạp Cổ Đại
  • Từ Điển Triết Học: Bản Thể Luận
  • Cổng Game Online, Review Game Online, Tin Tức Game Online
  • Trên Xa Lộ Của Lịch Sử
  • Vấn Đề “Sống Thử” Của Giới Trẻ Ngày Nay
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100