Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

    Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồm: phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý và dân cư. Các yếu tố đó tồn tại trong mối thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau, tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó, phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ toàn bộ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

    Giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự thống nhất biện chứng nhưng không đồng nhất. Mối quan hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung.

    Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể tiếp cận kết cấu của ý thức xã hội từ những phương diện khác nhau.

    Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau, đó là ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học,…

    Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận: ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm…của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiẽn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, qui luật. Ý thức lý luận có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. Ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng.

    Cũng có thể phân tích ý thức xã hội theo hai trình độ và hai phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội, đó là tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Tâm lý xã hội là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí,…của những cộng đồng người nhất định; là sự phản ánh trực tiếp và tự phát đối với hoàn cảnh sống của họ. Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xã hội như: chính trị, triết học, đạo đức, tôn giáo,…; là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội đối với cùng một tồn tại xã hội, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, tuy nhiên, không phải tâm lý xã hội tự nó sản sinh ra hệ tư tưởng xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp thì ý thức xã hội cũng có tính giai cấp, phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất và lợi ích khác nhau, đối lập nhau giữa các giai cấp. Mỗi giai cấp đều có đời sống sinh hoạt tinh thần đặc thù của nó nhưng hệ tư tưởng thống trị xã hội bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, nó có ảnh hưởng đến ý thức của các giai cấp trong đời sống xã hội. Theo quan niệm của Mác và Ăngghen: “giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • a) Khái niệm tồn tại xã hội

    Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

    V.I.Lênin khi nghiên cứu tồn tại xã hội với tính cách vừa là đời sống vật chất vừa là những quan hệ vật chất giữa người và người đã cho rằng: việc anh sống, anh hoạt động kinh tế, anh sinh đẻ con cái và anh chế tạo ra các sản phẩm, anh trao đổi sản phẩm, làm nảy sinh ra một chuỗi tất yếu khách quan gồm những biến cố, những sự phát triển, không phụ thuộc vào ý thức xã hội của anh và ý thức này không bao giờ bao quát được toàn vẹn cái chuỗi đó.

    Các yếu tố chính tạo thành tồn tại xã hội là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số… trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.

    b) Khái niệm và kết cấu của ý thức xã hội

    ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng,… của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

    – Cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân. ý thức của cá nhân đều phản ánh tồn tại xã hội với mức độ khác nhau. Do đó, nó không thể không mang tính xã hội. Song ý thức cá nhân không phải bao giờ cũng thể hiện quan điểm tư tưởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một thời đại xã hội nhất định.

    ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, thâm nhập vào nhau và làm phong phú nhau.

    Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể tiếp cận kết cấu của ý thức xã hội từ những phương diện khác nhau.

    Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, triết học,…

    Theo trình độ phản ánh có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận.

    ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm… của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Trong ý thức xã hội thông thường, tâm lý xã hội là bộ phận rất quan trọng.

    ý thức xã hội thông thường, thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc sống hàng ngày của con người, thường xuyên chi phối cuộc sống đó. ý thức thông thường tuy là trình độ thấp so với ý thức lý luận, nhưng những tri thức kinh nghiệm phong phú đó có thể trở thành tiền đề quan trọng cho sự hình thành các lý thuyết xã hội.

    ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật. ý thức lý luận (lý luận khoa học) có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng.

    Quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.

    Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm, ước muốn, tâm trạng, tập quán… của con người, của một bộ phận xã hội hoặc của toàn xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản ánh đời sống đó.

    Đặc điểm của tâm lý xã hội là phản ánh một cách trực tiếp điều kiện sinh sống hàng ngày của con người, là sự phản ánh có tính chất tự phát, thường ghi lại những mặt bề ngoài của tồn tại xã hội. Nó không có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc bản chất các mối quan hệ xã hội của con người.

    Những quan niệm của con người ở trình độ tâm lý xã hội còn mang tính kinh nghiệm, chưa được thể hiện về mặt lý luận, yếu tố trí tuệ đan xem với yếu tố tình cảm. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tâm lý xã hội trong sự phát triển của ý thức xã hội. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh rất coi trọng việc nghiên cứu trạng thái tâm lý xã hội của nhân dân để hiểu nhân dân, giáo dục nhân dân, đưa nhân dân tham gia tích cực, tự giác vào cuộc đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp.

    Hệ tư tưởng là trình độ nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo), kết quả của sự khái quát hóa những kinh nghiệm xã hội. Hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác nghĩa là tạo ra bởi các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và được truyền bá trong xã hội.

    Cần phải phân biệt hệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng không khoa học. Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính xác, khách quan các mối quan hệ vật chất của xã hội. Hệ tư tưởng không khoa học tuy cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất của xã hội, nhưng dưới một hình thức sai lầm, hư ảo hoặc xuyên tạc.

    Với tính cách là một bộ phận của ý thức xã hội, hệ tư tưởng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khoa học. Lịch sử các khoa học tự nhiên đã cho thấy tác dụng quan trọng của hệ tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học đối với quá trình khái quát những tài liệu khoa học.

    Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, chúng có cùng một nguồn gốc là tồn tại xã hội, đều phản ánh tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên giai cấp tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp. Mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng khoa học tiến bộ) với tâm lý xã hội, với thực tiễn cuộc sống sinh động và phong phú sẽ giúp cho hệ tư tưởng xã hội, cho lý luận bớt xơ cứng, bớt sai lầm. Trái lại hệ tư tưởng, lý luận xã hội, gia tăng yếu tố trí tuệ cho tâm lý xã hội. Hệ tư tưởng khoa học thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh có lợi cho tiến bộ xã hội. Hệ tư tưởng phản khoa học, phản động kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội phát triển.

    Tuy nhiên, hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp từ tâm lý xã hội, không phải là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội.

    Bất kỳ tư tưởng nào khi phản ánh các mối quan hệ đương thời thì đồng thời cũng kế thừa những học thuyết xã hội, những tư tưởng và quan điểm đã tồn tại trước đó. Thí dụ, hệ tư tưởng tôn giáo thời trung cổ ở Tây Âu thể hiện lợi ích của giai cấp phong kiến, nhưng lại ra đời trực tiếp từ những tư tưởng triết học duy tâm có từ thời cổ đại và những tư tưởng của đạo Cơ đốc thời kỳ đầu Công nguyên. Hệ tư tưởng Mác – Lênin cũng không trực tiếp ra đời từ tâm lý xã hội của giai cấp công nhân lúc đó đang tự phát đấu tranh chống giai cấp tư sản, mà là sự khái quát lý luận từ tổng số những tri thức của nhân loại, từ những kinh nghiệm của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, đồng thời kế thừa trực tiếp các học thuyết kinh tế – xã hội và triết học vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX…

    Như vậy, hệ tư tưởng xã hội liên hệ hữu cơ với tâm lý xã hội, chịu sự tác động của tâm lý xã hội, nhưng nó không phải đơn giản là sự “cô đặc” của tâm lý xã hội.

    c) Tính giai cấp của ý thức xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị xã hội của mỗi giai cấp quy định, do đó, ý thức xã hội của các giai cấp có nội dung và hình thức phát triển khác nhau hoặc đối lập nhau.

    Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện ở tâm lý xã hội cũng như ở hệ tư tưởng. Về mặt tâm lý xã hội, mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen riêng, có thiện cảm hay ác cảm với tập đoàn xã hội này hoặc tập đoàn xã hội khác. ở trình độ hệ tư tưởng thì tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện sâu sắc hơn nhiều. Trong xã hội có đối kháng giai cấp bao giờ cũng có những quan điểm tư tưởng hoặc những hệ tư tưởng đối lập nhau: tư tưởng của giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị ở thời đại đó.

    Nếu hệ tư tưởng của giai cấp bóc lột thống trị ra sức bảo vệ địa vị của giai cấp đó thì hệ tư tưởng của giai cấp bị trị, bị bóc lột thể hiện nguyện vọng và lợi ích của quần chúng lao động chống lại xã hội người bóc lột người, xây dựng một xã hội công bằng không có áp bức bóc lột.

    Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân, ngọn cờ giải phóng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, phản ánh tiến trình khách quan của sự phát triển lịch sử. Hệ tư tưởng Mác – Lênin đối lập với hệ tư tưởng tư sản – hệ tư tưởng bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ người bóc lột người. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản hàng thế kỷ nay diễn ra gay gắt trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực hệ tư tưởng.

    Trong điều kiện xã hội ngày nay, cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức hệ vẫn đang tiếp tục diễn ra. Trước những khó khăn và thử thách trên con đường phát triển của chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch đang ra sức tiến công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, muốn phủ nhận, xoá bỏ nó. Do vậy bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện thế giới ngày nay, là một nhiệm vụ quan trọng của cuộc đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ trên thế giới nói chung.

    Khi khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời còn cho rằng, ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động qua lại với nhau. Trong xã hội có áp bức giai cấp, các giai cấp bị trị do bị tước đoạt tư liệu sản xuất, phải chịu sự áp bức về vật chất nên không tránh khỏi bị áp bức về tinh thần, không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, bóc lột. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”1. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tư tưởng giai cấp thống trị đối với xã hội tùy thuộc vào trình độ phát triển ý thức cách mạng của giai cấp bị trị.

    Không những giai cấp bị trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, mà trái lại giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị trị. Đặc biệt ở thời kỳ đấu tranh cách mạng phát triển mạnh, thường thấy một số người trong giai cấp thống trị, nhất là những trí thức tiến bộ từ bỏ giai cấp xuất thân của mình chuyển sang hàng ngũ giai cấp cách mạng, chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp đó. Một số người còn trở thành nhà tư tưởng của giai cấp cách mạng.

    ý thức cá nhân trong xã hội có phân chia giai cấp, về bản chất, là biểu hiện mức độ này hay mức độ khác ý thức giai cấp, do địa vị và những điều kiện sinh hoạt vật chất chung của giai cấp quyết định. Nhưng mỗi cá nhân lại có những hoàn cảnh sinh sống riêng như hoàn cảnh giáo dục, trường đời mà họ trải qua, ảnh hưởng tư tưởng chính trị và tư tưởng khác do họ tiếp thu được khi sống trong môi trường thân cận (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp), v.v.. Tất cả những cái đó làm cho ý thức của mỗi người vừa biểu hiện ý thức giai cấp vừa mang những đặc điểm cá nhân, tạo thành những cá tính và nhân cách riêng của cá nhân, làm cho thế giới tinh thần của cá nhân này khác với thế giới tinh thần của những cá nhân khác cùng giai cấp.

    Tuy nhiên, quá nhấn mạnh những điều kiện sinh hoạt của cá nhân, thổi phồng mặt cá nhân trong ý thức của con người sẽ dẫn tới hiểu sai bản chất của ý thức cá nhân. Vì vậy, khi đánh giá các hiện tượng ý thức trong xã hội có giai cấp phải nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa ý thức giai cấp và ý thức cá nhân.

    Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội không chỉ mang dấu ấn của những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp, mà còn phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc; những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, điều kiện tự nhiên hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của dân tộc. Vì vậy, trong ý thức xã hội, ngoài tâm lý và hệ tư tưởng xã hội của giai cấp, còn bao gồm tâm lý dân tộc, tình cảm, ước muốn, tập quán, thói quen, tính cách, v.v. của dân tộc, phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc, thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống tinh thần của dân tộc, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác tạo thành truyền thống dân tộc.

    Tâm lý dân tộc tuy phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc và mang tính chất toàn dân tộc, nhưng có mối liên hệ hữu cơ với ý thức giai cấp. Giai cấp cách mạng tiến bộ phát huy những giá trị tinh thần của dân tộc, ngược lại những tư tưởng giai cấp phản động mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị đó.

    Giai cấp công nhân được vũ trang bằng hệ tư tưởng Mác – Lênin luôn luôn quan tâm sâu sắc đến việc bảo vệ và phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Công Tác Xã Hội Với Người Cao Tuổi
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì?
  • Khái niệm “tồn tại xã hội” và “ý thức xã hội” phản ánh hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội.

    Nội dung bài viết bao gồm:

    • a. Khái niệm “tồn tại xã hội” và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
    • b. Ý thức xã hội và hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội
    • c. Các hình thái ý thức xã hội

    a. Khái niệm “tồn tại xã hội” và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội

    Khái niệm “tồn tại xã hội” dùng để chỉ mặt sinh hoạt (hoạt động) vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội; tức là các điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn, phát triển của xã hội.

    Xét về thực chất, hoạt động vật chất của xã hội chính là hoạt động thực tiễn mà trước hết và cơ bản là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự sinh tồn và phát triển của xã hội; đồng thời, gắn liền với hoạt động đó còn là quá trình hình thành, phát triển của các hình thức, phương thức giao tiếp, trao đổi kết quả của sản xuất vật chất giữa con người với nhau cũng như giữa các cộng đồng xã hội khác nhau.

    Các điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn và phát triển của mỗi xã hội bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó có ba yếu tố cơ bản là điều kiện tự nhiên, dân cư và phương thức sản xuất; trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quy định sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội.

    Điều kiện địa lí tự nhiên với tư cách là yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội – đó là toàn bộ những điều kiện vật chất tự nhiên tạo thành những điều kiện khách quan cho sự sinh tồn và phát triển của cộng đồng người trong lịch sử. Một cách hiển nhiên, không thể có cộng đồng người nào, dù là xã hội nguyên thủy hay xã hội hiện đại, có thể tồn tại ngoài những điều kiện vật chất tự nhiên nhất định. Giới tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người. Chính từ trong điều kiện tự nhiên mà con người có thể thực hiện quá trình trao đổi chất, tiến hành sản xuất, cung cấp những điều kiện vật chất đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của mình.

    Yếu tố dân cư bao gồm toàn bộ các phương diện về số lượng, cơ cấu, mật độ phân bố, cấu trúc tổ chức dân cư….tạo thành điều kiện vật chất khách quan đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của xã hội. Thí dụ, cấu trúc cư dân nông nghiệp lúa nước ở Việt Nam, với tổ chức làng xã ổn định có những khác biệt khá lớn so với cách thức cấu trúc dân cư của các cộng đồng dân du mục thường xuyên di động. Sự phân bố và tổ chức dân cư trong xã hội nông nghiệp truyền thống cũng có sự khác biệt cơ bản với xã hội công nghiệp – thị trường ở các nước có trình độ sản xuất vật chất phát triển cao. Trong các xã hội nông nghiệp truyền thống, tổ chức dân cư thường phân tán, tách biệt với quy mô nhỏ, đó là các mô hình “công xã nông thôn” (mô hình tổ chức làng, bản…), việc quan hệ trao đổi hàng hóa rất hạn chế, chỉ là sự liên kết ngẫu nhiên. Ngược lại, trong các xã hội công nghiệp phát triển gắn kết với phương thức kinh tế thị trường, tổ chức dân cư cũng có những biến đổi cơ bản. Đó là quá trình di dân làm hình thành nên những khu công nghiệp và thành thị với quy mô lớn, nhằm tạo ra những điều kiện tiền đề khách quan cho quá trình phát triển nền sản xuất vật chất hiện đại.

    Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên và dân cư là những yếu tố tiền đề cho việc xác lập một phương thức sản xuất nhất định, đồng thời các yếu tố đó cũng biến đổi theo yêu cầu khách quan của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử.

    Phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp quy định sự sinh tồn, phát triển của mỗi con người cũng như của toàn bộ cộng đồng xã hội, quy định trực tiếp phương thức hoạt động vật chất của mỗi xã hội. Phương thức sản xuất nào cũng được tạo nên từ hai mặt, đó là mặt vật chất – kĩ thuật của quá trình sản xuất (biểu hiện tập trung ở trình độ phát triển phương thức kĩ thuật, công nghệ) và mặt kinh tế – xã hội của quá trình ấy (thể hiện tiêu biểu ở trình độ phát triển của phương thức tổ chức kinh tế). Trong hai mặt đó, mặt kinh tế – xã hội phụ thuộc tất yếu vào trình độ phát triển của mặt vật chất – kĩ thuật; nó trực tiếp quy định tính chất và trình độ phát triển của một tồn tại xã hội nhất định.

    Thí dụ, phương thức sinh tồn cơ bản và truyền thống của cư dân người Việt trong lịch sử là phương thức kĩ thuật canh nông lúa nước với trình độ công cụ và lao động thủ công (xét về mặt phương thức kĩ thuật). Thích ứng với phương thức kĩ thuật đó là phương thức tổ chức kinh tế với quy mô nhỏ và phân tán theo nguyên lí lấy tổ chức kinh tế hộ gia đình cùng cấu trúc tổ chức “công xã nông thôn” hay làng xã truyền thống làm cơ sở (phương thức tổ chức kinh tế). Giữa các công xã đó chỉ có sự liên kết không thường xuyên qua hình thức trao đổi hàng hóa dư thừa tương đối để đảm bảo sự cân bằng trong sinh hoạt vật chất giữa các cộng đồng người. Phương thức tổ chức kinh tế ấy là cơ sở trực tiếp quy định tính ổn định theo nhịp điệu tuần hoàn lặp đi lặp lại giữa các chu kì theo tính chất mùa vụ của quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nền sản xuất nông nghiệp truyền thống. Trong lịch sử, người Việt Nam về cơ bản là theo phương thức sản xuất đó.

    Giữa các yếu tố hợp thành tồn tại xã hội có mối quan hệ quy định và chi phối lẫn nhau, tạo nên sự biến đổi trong lĩnh vực hoạt động, sinh hoạt vật chất khách quan của mỗi cộng đồng xã hội. Trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quy định trình độ phát triển của tồn tại xã hội. Khi phương thức sản xuất có sự phát triển nhờ những tiến bộ về kĩ thuật, công nghệ sản xuất, tất yếu sẽ dẫn tới những biến đổi trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên và cơ cấu, phân bố dân cư để đảm bảo cho quá trình xác lập phương thức sản xuất mới.

    Thí dụ, xuất phát từ tính chất đặc thù về điều kiện tự nhiên của đất nước, người Việt Nam trong lịch sử đã tiến hành quá trình sản xuất theo phương thức canh nông lúa nước. Để tiến hành quá trình đó nhất định con người phải liên kết lại dưới hình thức tổ chức lao động gia đình và tổ chức dân cư theo mô hình làng xã ổn định, bền vững. Sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản đó tạo thành điều kiện khách quan cho sự sinh tồn và phát triển của người Việt Nam. Đó cũng chính là cơ sở hiện thực quy định những nội dung và tính chất cơ bản nhất trong đời sống tinh thần, truyền thống của người Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình công nghệ hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp hiện nay tất yếu dẫn tới sự biến đổi trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên truyền thống và làm thay đổi cấu trúc nông thôn Việt Nam sang một hình thức mới, trên cơ sở đó dẫn tới sự biến đổi, phát triển đời sống văn hóa – tinh thần của nông thôn mới và con người mới.

    b. Ý thức xã hội và hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội

    Khái niệm: ý thức xã hội, ý thức cá nhân và ý thức giai cấp

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ mặt tinh thần của đời sống xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội; bao gồm trong đó toàn bộ đời sống tư tưởng và tâm lí xã hội, được biểu hiện phong phú trong sinh hoạt tư tưởng, văn hóa, tập quán…của mỗi cộng đồng xã hội.

    Thuộc về đời sống tinh thần của xã hội, ý thức xã hội không tự tồn tại cảm tính như các hình thức tồn tại của vật chất tự nhiên mà phải thông qua các hình thức văn hóa của xã hội. Thông thường có thể nhận biết nó qua ba hình thức cơ bản và phổ biến: 1) Các sinh hoạt tư tưởng mang tính học thuật như: sinh hoạt chính trị, pháp luật, khoa học… của cộng đồng xã hội; 2) Các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng và xã hội như: sinh hoạt lễ hội truyền thống, tôn giáo, nghệ thuật…; 3) Các tập tục và nếp sống mang đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng người.

    Ngoài ra, ý thức xã hội với tư cách là “cái chung” thuộc đời sống tinh thần của cộng đồng xã hội còn biểu hiện trực tiếp qua nhận thức và nếp sống của mỗi cá nhân con người với tư cách là thành viên của nó. Trong trường hợp này, ý thức cá nhân tồn tại với tư cách là “cái riêng” trong đó có sự biểu hiện của “cái chung” là ý thức xã hội mà ít hay nhiều cá nhân đó đã tiếp nhận được từ sự giáo dục của xã hội.

    Thí dụ, tình cảm yêu nước của dân tộc Việt Nam là cái chung, thể hiện một cách phong phú ở đời sống tình cảm và sinh hoạt của mỗi người Việt Nam trong lịch sử, với mức độ và phương thức biểu hiện khác nhau ở mỗi con người cụ thể, ở mỗi hoàn cảnh cụ thể.

    Ý thức giai cấp và tính giai cấp của ý thức xã hội.

    Khái niệm ý thức giai cấp dùng để chỉ ý thức đặc thù của mỗi giai cấp, phản ánh địa vị và lợi ích của mỗi giai cấp đó trong xã hội. Thí dụ, có sự đối lập giữa ý thức hệ tư tưởng của giai cấp tư sản và hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, phản ánh địa vị và lợi ích căn bản đối lập giữa hai giai cấp ấy trong đời sống xã hội.

    Khác với khái niệm ý thức giai cấp, khái niệm tính giai cấp của ý thức xã hội là khái niệm dùng để chỉ tính chất của ý thức xã hội trong điều kiện mỗi cộng đồng người có sự phân hóa thành các giai cấp nhất định. Thí dụ, trong một cộng đồng dân tộc có sự phân hóa giai cấp thì ý thức dân tộc đó cũng có tính giai cấp và bị chi phối bởi tính giai cấp.

    Trong xã hội có sự phân hóa giai cấp thì ý thức của các giai cấp có sự ảnh hưởng qua lại với nhau. Trong nhiều trường hợp, đời sống tinh thần của giai cấp này không thể không chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố thuộc đời sống tinh thần của các giai cấp khác. Thông thường, ý thức của giai cấp thống trị bao giờ cũng có ảnh hưởng lớn nhất tới ý thức của các giai cấp khác và giữ địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội.

    Mác và Ăngghen viết: “Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.

    Như vậy, khi nghiên cứu về ý thức xã hội, một mặt cần phân tích ý thức giai cấp với tư cách là hiện tượng ý thức đặc trưng, đặc thù của mỗi giai cấp nhất định; mặt khác, cũng cần phải phân tích tính giai cấp của ý thức xã hội, sự ảnh hưởng lẫn nhau về phương diện ý thức giai cấp mới có thể có được cách nhìn nhận đúng đắn về đời sống tinh thần phong phú của mỗi cộng đồng người.

    – Hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội

    Có hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là trình độ phản ánh ở tầm tâm lí xã hội (tình cảm, khát vọng, ý chí….chung của cộng đồng xã hội) và trình độ phản ánh ở tầm các tư tưởng xã hội (các quan niệm, quan điểm chung, có tính chất phổ biến trong mỗi cộng đồng xã hội nhất định) mà hình thức phát triển cao nhất của nó là các học thuyết, các lí luận xã hội, cũng tức là sự phát triển của các tư tưởng xã hội đạt đến cấp độ là hệ tư tưởng xã hội.

    Thí dụ, tình cảm yêu nước, ý chí độc lập tự cường, khát vọng độc lập, tự do…. của cộng đồng dân tộc Việt Nam là sự phản ánh ở trình độ tâm lí xã hội; còn chủ nghĩa yêu nước với những quan niệm, quan điểm về dân tộc độc lập, quyền tự quyết định vận mệnh dân tộc, không có gì quý hơn độc lập tự do… của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước là trình độ phản ánh ở cấp độ hệ tư tưởng xã hội. Toàn bộ đời sống tâm lí và tư tưởng xã hội ấy hợp lại thành tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam.

    Tâm lí xã hội là bộ phận ý thức xã hội phản ánh trực tiếp và tự phát đối với tồn tại xã hội, đối với hoàn cảnh sống khách quan của cộng động, được cấu thành từ các nhân tố tình cảm, khát vọng, ý chí… của các cộng đồng người nhất định. Thí dụ, tình cảm yêu quê hương đất nước, ý chí độc lập tự cường, khát vọng tự do… của cộng đồng người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử là thuộc đời sống tâm lí xã hội.

    Tâm lí xã hội khi đã trở thành yếu tố bền vững của một cộng đồng người thì nó thường được thể hiện trong các phong tục, tập quán…của cộng đồng đó. Khi đó chúng đã được văn hóa và trở thành các thành tố quan trọng trong nền văn hóa truyền thống. Thí dụ, trong truyền thống của người Việt Nam, tình cảm yêu nước, khát vọng độc lập, tình yêu quê hương xóm làng… đã được thăng hoa thành một nét đẹp truyền thống, được thể hiện qua các biểu tượng văn hóa, các lễ hội, các sinh hoạt văn hóa dân gian… Những yếu tố này giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hiện thực của cộng đồng.

    Tư tưởng xã hội là bộ phận ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách tự giác và gián tiếp; chúng tồn tại dưới hình thức là những quan niệm, quan điểm có tính chất phổ biến trong một cộng đồng người. Thí dụ, tinh thần yêu nước của người Việt Nam không phải chỉ được phân tích từ giác độ là tình cảm yêu nước, ý chí độc lập…mà còn được phân tích từ giác độ là những quan niệm, quan điểm về dân tộc và dân tộc độc lập… thậm chí có thể đạt tới tầm là chủ nghĩa yêu nước – tức hệ thống quan niệm, quan điểm nhất định. Như vậy, giữa khái niệm tư tưởng xã hội và khái niệm hệ tư tưởng xã hội là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất. Về mặt ngoại diên, khái niệm hệ tư tưởng xã hội nằm trong khái niệm tư tưởng xã hội. Tư tưởng xã hội không nhất thiết ở tầm hệ tư tưởng xã hội, chỉ khi những quan niệm của con người đạt tới trình độ có tính hệ thống thì khi đó nó trở thành hệ tưởng xã hội. Thí dụ, những triết lí trong cuộc sống của một cộng đồng xã hội chưa phải là ở trình độ hệ tư tưởng xã hội nhưng nó không phải là yếu tố tâm lí xã hội với đặc tính phản ánh tự phát và trực tiếp đối với hoàn cảnh sống của cộng đồng.

    Tâm lí xã hội và tư tưởng xã hội là hai lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần của mỗi cộng đồng người nhất định nên có mối quan hệ biện chứng với nhau và đều cùng bị quy định bởi tồn tại xã hội của cộng đồng đó, do vậy giữa chúng có thể phát sinh mối quan hệ cộng hưởng. Tuy nhiên, đây là hai trình độ và phương thức phản ánh khác nhau đối với tồn tại xã hội nên giữa chúng cũng có thể phát sinh mối quan hệ loại trừ – bất cộng hưởng, có thể làm triệt tiêu các giá trị của nhau ở một mức độ nhất định và ở một số phạm vi nhất định. Thí dụ, trong tinh thần yêu nước của người Việt Nam thì giữa tình cảm yêu nước và tư tưởng yêu nước thường phát sinh quan hệ cộng hưởng, bổ sung cho nhau, được thể hiện song trùng và tích hợp trong mỗi hoạt động của cộng đồng. Ngay trong một lễ hội truyền thống của người Việt Nam đã có sự tích hợp và cộng hưởng giữa tình cảm và nhưng quan niệm, thậm chí có thể đạt tới những triết lí sống thể hiện những quan niệm về đất nước và dân tộc. Ngay trong “Bài thơ thần” tương truyền của Lý Thường Kiệt đã bao hàm trong đó cả khát vọng, ý chí và quan niệm thuộc tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hệ tưởng xã hội không phải là cái được nảy sinh trên cơ sở tâm lí xã hội. Cũng không phải có tâm lí xã hội thì sẽ có được tư tưởng và hệ tư tưởng xã hội. Sở dĩ như vậy là vì phương thức hình thành của tâm lí xã hội và hệ tư tưởng xã hội là khác nhau. Vấn đề là ở chỗ, nếu tư tưởng xã hội và tâm lí xã hội có sự phù hợp với nhau thì sẽ phát sinh mối quan hệ cộng hưởng, ngược lại sẽ phát sinh mối quan hệ loại trừ.

    c. Các hình thái ý thức xã hội

    Phân tích đời sống tinh thần của xã hội thành các hình thái ý thức xã hội là một phương pháp tiếp cận phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Phương pháp tiếp cận như vậy cho thấy tính chất phong phú của đời sống tinh thần của xã hội bởi vì mỗi hình thái ý thức xã hội đều có những đặc trưng riêng của nó. Đó là các hình thái ý thức xã hội đều có những đặc trưng riêng của n ó. Đó là các hình thái ý thực: chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, khoa học, thẩm mĩ… Mỗi hình thái ý thức xã hội đều bao gồm trong nó hai trình độ phản ánh là trình độ phản ánh tâm lí và trình độ phản ánh ở mức độ tư tưởng xã hội. Tuy nhiên, về cơ bản, các hình thái ý thức xã hội thường được phân tích ở trình độ là hệ tư tưởng xã hội.

    – Hình thái ý thức chính trị

    Hình thái ý thức chính trị là hình thái ý thức chỉ xuất hiện và tồn tại trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia, cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước.

    Hệ tư tưởng chính trị của một giai cấp nhất định phản ánh trực tiếp tập trung lợi ích giai cấp của chính nó. Hệ tư tưởng chính trị được thể hiện trong đường lối, cương lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trong luật pháp, chính sách nhà nước, công cụ của giai cấp thống trị. Hệ tư tưởng chính trị được hình thành một cách tự giác. Nó được các nhà tư tưởng của giai cấp xây dựng và truyền bá. Hệ tư tưởng chính trị gắn với các tổ chức chính trị. Thông qua các tổ chức chính trị mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh về ý thức hệ vì lợi ích của giai cấp của mình.

    Ý thức chính trị (đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Thông qua tổ chức nhà nước, nó tác động trở lại cơ sở kinh tế và có thể, trong những giới hạn nhất định thay đổi cơ sở kinh tế. Hệ tư tưởng chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, đồng thời thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác.

    Tác động tích cực hoặc tiêu cực của hệ tư tưởng chính trị (cũng như ý thức chính trị nói chung) phụ thuộc vào tính chất tiến bộ, cách mạng hoặc phản tiến bộ, phản cách mạng của giai cấp mang hệ tư tưởng đó. Khi giai đoạn còn tiến bộ, cách mạng – tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của lịch sử, thì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác dụng tích cực đến sự phát triển xã hội. Khi giai cấp đó trở thành lạc hậu, phản động, thì hệ tư tưởng chính trị của nó tác động tiêu cực, kèm hãm sự phát triển xã hội.

    – Hình thái ý thức pháp quyền

    Hình thái ý thức pháp quyền là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ cho nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội, cùng với nhận thức và tình cảm của con người trong việc thực thi luật pháp của nhà nước.

    Cũng như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước. Giữa hai hình thái này có sự gần nhau về cả nội dung và hình thức. Ý thức pháp quyền phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết là các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật.

    Trong xã hội có giai cấp, pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện thành luật, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm chính quyền. Nhưng trong xã hội có giai cấp đối kháng, các giai cấp khác nhau lại có những ý thức khác nhau về pháp luật, phản ánh lợi ích của giai cấp mình. Do đó, hiệu lực của pháp luật không những phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật của xã hội.

    – Hình thái ý thức đạo đức

    Hình thái ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm, những hiểu biết và các trạng thái xúc cảm tâm lí chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.

    Hình thái ý thức đạo đức là một trong những hình thái ý thức ra đời từ rất sớm trong lịch sử, ngay từ xã hội nguyên thủy.

    Sự ý thức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng… phản ánh khả năng tự chủ của con người là sức mạnh đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản quy định đạo đức của con người, cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con người. Với ý nghĩa đó, sự phát triển ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ xã hội.

    Trong ý thức đạo đức, yếu tố tình cảm đạo đức là yếu tố đặc biệt quan trọng, nếu thiếu nó thì những khái niệm, phạm trù đạo đức và mọi tri thức đạo đức thu nhận được bằng con đường lí tính không thể chuyển hóa thành hành vi đạo đức.

    Trong tiến trình phát triển của xã hội đã hình thành những giá trị đạo đức mang tính toàn nhân loại, tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khác nhau. Đó là những quy tắc đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi của con người, cần thiết cho việc giữ gìn trật tự xã hội chung và sinh hoạt thường ngày của mọi người.

    Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, nội dung chủ yếu của đạo đức phản ánh quan hệ giai cấp và có tính giai cấp. Trong các phạm trù đạo đức thường phản ánh địa vị và lợi ích của giai cấp. Mỗi giai cấp trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội đều có những quan niệm đạo đức riêng của mình. Giai cấp tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của xã hội thì đại diện cho một nền đạo đức tiến bộ, còn các giai cấp phản động thì đại diện cho một nền đạo đức suy thoái. Ăngghen viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp, hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức”.

    – Hình thái ý thức khoa học

    Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, hình thái ý thức khoa học là hệ thống tri thức phản ánh chân thực dưới dạng logic trừu tượng về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Đối tượng phản ánh của ý thức khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là một trong những sự khác biệt giữa ý thức khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác.

    Hình thức biểu hiện chủ yếu của ý thức khoa học là phạm trù, định luật, quy luật,… Ý thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác, hình thành các khoa học tương ứng với từng hình thái ý thức đó. Thí dụ: Ý thức chính trị và chính trị học, ý thức đạo đức và đạo đức học, ý thức nghệ thuật và nghệ thuật học… Nhờ ý thức khoa học, con người không ngừng vươn tới cái mới, sáng tạo ra “thế giới nhân tính hóa” và ngày càng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình.

    Xét theo đối tượng nghiên cứu, có thể phân chia khoa học thành: khoa học tự nhiên; khoa học xã hội – nhân văn và khoa học về tư duy. Các khoa học đó đều có mục đích khám phá những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học là một khoa học bởi nó nghiên cứu những quy luật chung nhất của mọi tồn tại trong tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng nên phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Trong mỗi khoa học có thể phân chia thành các cấp độ kinh nghiệm và lí luận (hay lí thuyết). Cấp độ kinh nghiệm là những tư liệu hiện thực đã tích lũy được qua sự tổng kết quan sát và thí nghiệm; lí luận là sự khái quát kinh nghiệm thể hiện trong những lí thuyết về quy luật và nguyên lí tương ứng. Cấp độ lí luận của các khoa học cụ thể kết hợp với nhau trong sự giải thích các nguyên lí và quy luật chung được phát hiện ở tầm nghiên cứu triết học, hình thành thế giới quan và phương pháp luận của toàn bộ nhận thức khoa học.

    – Hình thái ý thức thẩm mĩ

    Hình thái ý thức thẩm mĩ là sự phản ánh hiện thực vào ý thức con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức và sáng tạo “cái đẹp”. Trong các hình thức hoạt động thưởng thức và sáng tạo cái đẹp thì nghệ thuật là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm mĩ.

    Nghệ thuật ra đời từ rất sớm, ngay từ khi xã hội chưa phân chia thành giai cấp. Quá trình hình thành nghệ thuật gắn liền với lao động của con người, với thực tiễn xã hội. Những dấu vết đầu tiên của nghệ thuật đều thuộc về thời kì con người đã biết sản xuất ra những công cụ bằng đá, xương, sừng…

    Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, nghệ thuật bắt nguồn từ tồn tại xã hội. Nếu khoa học và triết học phản ánh thế giới hiện thực bằng khái niệm, phạm trù, quy luật thì nghệ thuật lại phản ánh thế giới một cách sinh động, cụ thể bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật tuy cũng phản ánh bản chất của đời sống hiện thực nhưng phản ánh thông qua cái cá biệt, cụ thể – cảm tính, sinh động. Hình tượng nghệ thuật cũng nhận thức cái chung trong cái riêng, nhận thức cái bản chất trong cái hiện tượng, nhận thức cái phổ biến trong cái cá biệt, song cái cá biệt trong nghệ thuật phải là cái cá biệt có tính điển hình và nếu nhà nghệ thuật tạo ra cái điển hình thì phải là cái điển hình đã được cá biệt hóa.

    Sự phát triển của nghệ thuật, cả về nội dung và hình thức, không thể tách khỏi sự phát triển của tồn tại xã hội. Nhưng nghệ thuật có tính độc lập tương đối rất rõ nét trong sự phát triển của mình. Nó không phải bao giờ cũng phản ánh tồn tại xã hội một cách trực tiếp, dễ thấy.

    Nghệ thuật chân chính gắn bó với đời sống hiện thực của nhân dân; là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ xã hội thông qua việc đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ của con người. Khi phản ánh thế giới hiện thực trong các hình tượng nghệ thuật chân thực và có giá trị thẩm mĩ cao, nghệ thuật đã tác động đến lí trí và tình cảm của con người, kích thích tính tích cực của con người, xây dựng ở con người những hành vi đạo đức tốt đẹp.

    Trong xã hội có giai cấp, nghệ thuật bao giờ cũng mang tính giai cấp. Tính giai cấp của nghệ thuật biểu hiện trước hết ở chỗ nó không thể k hông chịu sự tác động của thế giới quan, các quan điểm chính trị của một giai cấp, không thể đứng ngoài chính trị và các quan hệ kinh tế. Do vậy không thể phủ nhận được mối liên hệ giữa nghệ thuật và chính trị.

    Khi nhấn mạnh tính giai cấp của nghệ thuật trong xã hội có giai cấp, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin không phủ nhận tính nhân loại chung của nó. Không ít tác phẩm nghệ thuật mà giá trị của chúng được lưu truyền khắp thế giới qua các thời đại, mặc dù tác giả là đại biểu của một giai cấp nhất định. Có những nền nghệ thuật của một dân tộc nhất định nhưng đã trở thành những giá trị văn hóa tiêu biểu của cả nhân loại. Tính giai cấp của nghệ thuật cách mạng và tiến bộ không những không mâu thuẫn với tính nhân loại, mà ngược lại còn làm sâu sắc những giá trị toàn nhân loại.

    – Hình thái ý thức tôn giáo

    Ý thức tôn giáo với tư cách là hình thái ý thức xã hội bao gồm tâm lí tôn giáo và tư tưởng tôn giáo.

    Tâm lí tôn giáo là toàn bộ những biểu tượng, tình cảm, tâm trạng thói quen của quần chúng về tín ngưỡng tôn giáo. Tư tưởng tôn giáo là các quan niệm, quan điểm tôn giáo do các giáo sĩ, các nhà thần học tạo ra và truyền bá trong xã hội. Đứng về mặt lịch sử, tâm lí tôn giáo và tư tưởng tôn giáo là hai giai đoạn phát triển của ý thức tôn giáo, nhưng chúng liên hệ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau.

    Ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thực hiện “chức năng đền bù hư ảo” trong một xã hội cần đến sự đền bù hư ảo. Chức năng đó làm cho tôn giáo có một đời sống lâu dài, một vị trí đặc biệt trong xã hội. Chức năng đền bù hư ảo nói lên khả năng của tôn giáo có thể bù đắp, bổ sung tâm lí hay tư tưởng cho cái hiện thực mà trong đó con người còn bất lực, chưa làm chủ được trước những sức mạnh tự nhiên và những điều kiện khách quan của đời sống xã hội. Những mâu thuẫn của đời sống hiện thực, những bất lực trong thực tiễn của con người được giải quyết theo phương thức đền bù hư ảo trong ý thức của họ. Vì vậy, trong lịch sử, tôn giáo đã từng được một số giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ để thực hiện sự cai trị của nó.

    Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, điều kiện tiên quyết để khắc phục những hạn chế của tôn giáo (với tư cách là một hình thái ý thức xã hội) là phải xóa bỏ nguồn gốc xã hội của nó, nghĩa là phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội triệt để nhằm cải tạo cả tồn tại xã hội lẫn ý thức xã hội. Bằng hoạt động tích cực cách mạng của mình, quần chúng không những cải tạo xã hội mà còn cải tạo bản thân, giải phóng ý thức mình khỏi những quan niệm sai lầm, những ảo tưởng tôn giáo trong đời sống tinh thần của chính họ. Mặt khác, trong ý thức tôn giáo cũng bao hàm những nhân tố tư tưởng tích cực cần được nghiên cứu, kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • Hocthue.net: Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Cục Hải Quan Đồng Nai
  • Tư Vấn Hải Quan Trực Tuyến :: Tuvantructuyen
  • Xuất Nhập Khẩu Tại Chỗ Là Gì, Thủ Tục Hải Quan Với Hàng Hóa Xuất Khẩu, Nhập Khẩu Tại Chỗ
  • Vai Trò, Ưu Nhược Điểm Của Các Hình Thức Xuất Khẩu
  • Xuất Khẩu Hàng Hóa Và Những Hình Thức Xuất Khẩu Hàng Hóa
  • Khái niệm “tồn tại xã hội” và “ý thức xã hội” phản ánh hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội.

    Nội dung bài viết bao gồm:

    • a. Khái niệm “tồn tại xã hội” và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội
    • b. Ý thức xã hội và hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội
    • c. Các hình thái ý thức xã hội

    a. Khái niệm “tồn tại xã hội” và các yếu tố cơ bản của tồn tại xã hội

    Khái niệm “tồn tại xã hội” dùng để chỉ mặt sinh hoạt (hoạt động) vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội; tức là các điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn, phát triển của xã hội.

    Xét về thực chất, hoạt động vật chất của xã hội chính là hoạt động thực tiễn mà trước hết và cơ bản là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự sinh tồn và phát triển của xã hội; đồng thời, gắn liền với hoạt động đó còn là quá trình hình thành, phát triển của các hình thức, phương thức giao tiếp, trao đổi kết quả của sản xuất vật chất giữa con người với nhau cũng như giữa các cộng đồng xã hội khác nhau.

    Các điều kiện vật chất khách quan quy định sự sinh tồn và phát triển của mỗi xã hội bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó có ba yếu tố cơ bản là điều kiện tự nhiên, dân cư và phương thức sản xuất; trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quy định sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội.

    Điều kiện địa lí tự nhiên với tư cách là yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội – đó là toàn bộ những điều kiện vật chất tự nhiên tạo thành những điều kiện khách quan cho sự sinh tồn và phát triển của cộng đồng người trong lịch sử. Một cách hiển nhiên, không thể có cộng đồng người nào, dù là xã hội nguyên thủy hay xã hội hiện đại, có thể tồn tại ngoài những điều kiện vật chất tự nhiên nhất định. Giới tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người. Chính từ trong điều kiện tự nhiên mà con người có thể thực hiện quá trình trao đổi chất, tiến hành sản xuất, cung cấp những điều kiện vật chất đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của mình.

    Yếu tố dân cư bao gồm toàn bộ các phương diện về số lượng, cơ cấu, mật độ phân bố, cấu trúc tổ chức dân cư….tạo thành điều kiện vật chất khách quan đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của xã hội. Thí dụ, cấu trúc cư dân nông nghiệp lúa nước ở Việt Nam, với tổ chức làng xã ổn định có những khác biệt khá lớn so với cách thức cấu trúc dân cư của các cộng đồng dân du mục thường xuyên di động. Sự phân bố và tổ chức dân cư trong xã hội nông nghiệp truyền thống cũng có sự khác biệt cơ bản với xã hội công nghiệp – thị trường ở các nước có trình độ sản xuất vật chất phát triển cao. Trong các xã hội nông nghiệp truyền thống, tổ chức dân cư thường phân tán, tách biệt với quy mô nhỏ, đó là các mô hình “công xã nông thôn” (mô hình tổ chức làng, bản…), việc quan hệ trao đổi hàng hóa rất hạn chế, chỉ là sự liên kết ngẫu nhiên. Ngược lại, trong các xã hội công nghiệp phát triển gắn kết với phương thức kinh tế thị trường, tổ chức dân cư cũng có những biến đổi cơ bản. Đó là quá trình di dân làm hình thành nên những khu công nghiệp và thành thị với quy mô lớn, nhằm tạo ra những điều kiện tiền đề khách quan cho quá trình phát triển nền sản xuất vật chất hiện đại.

    Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên và dân cư là những yếu tố tiền đề cho việc xác lập một phương thức sản xuất nhất định, đồng thời các yếu tố đó cũng biến đổi theo yêu cầu khách quan của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử.

    Phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp quy định sự sinh tồn, phát triển của mỗi con người cũng như của toàn bộ cộng đồng xã hội, quy định trực tiếp phương thức hoạt động vật chất của mỗi xã hội. Phương thức sản xuất nào cũng được tạo nên từ hai mặt, đó là mặt vật chất – kĩ thuật của quá trình sản xuất (biểu hiện tập trung ở trình độ phát triển phương thức kĩ thuật, công nghệ) và mặt kinh tế – xã hội của quá trình ấy (thể hiện tiêu biểu ở trình độ phát triển của phương thức tổ chức kinh tế). Trong hai mặt đó, mặt kinh tế – xã hội phụ thuộc tất yếu vào trình độ phát triển của mặt vật chất – kĩ thuật; nó trực tiếp quy định tính chất và trình độ phát triển của một tồn tại xã hội nhất định.

    Thí dụ, phương thức sinh tồn cơ bản và truyền thống của cư dân người Việt trong lịch sử là phương thức kĩ thuật canh nông lúa nước với trình độ công cụ và lao động thủ công (xét về mặt phương thức kĩ thuật). Thích ứng với phương thức kĩ thuật đó là phương thức tổ chức kinh tế với quy mô nhỏ và phân tán theo nguyên lí lấy tổ chức kinh tế hộ gia đình cùng cấu trúc tổ chức “công xã nông thôn” hay làng xã truyền thống làm cơ sở (phương thức tổ chức kinh tế). Giữa các công xã đó chỉ có sự liên kết không thường xuyên qua hình thức trao đổi hàng hóa dư thừa tương đối để đảm bảo sự cân bằng trong sinh hoạt vật chất giữa các cộng đồng người. Phương thức tổ chức kinh tế ấy là cơ sở trực tiếp quy định tính ổn định theo nhịp điệu tuần hoàn lặp đi lặp lại giữa các chu kì theo tính chất mùa vụ của quá trình sản xuất và tái sản xuất trong nền sản xuất nông nghiệp truyền thống. Trong lịch sử, người Việt Nam về cơ bản là theo phương thức sản xuất đó.

    Giữa các yếu tố hợp thành tồn tại xã hội có mối quan hệ quy định và chi phối lẫn nhau, tạo nên sự biến đổi trong lĩnh vực hoạt động, sinh hoạt vật chất khách quan của mỗi cộng đồng xã hội. Trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản và trực tiếp nhất quy định trình độ phát triển của tồn tại xã hội. Khi phương thức sản xuất có sự phát triển nhờ những tiến bộ về kĩ thuật, công nghệ sản xuất, tất yếu sẽ dẫn tới những biến đổi trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên và cơ cấu, phân bố dân cư để đảm bảo cho quá trình xác lập phương thức sản xuất mới.

    Thí dụ, xuất phát từ tính chất đặc thù về điều kiện tự nhiên của đất nước, người Việt Nam trong lịch sử đã tiến hành quá trình sản xuất theo phương thức canh nông lúa nước. Để tiến hành quá trình đó nhất định con người phải liên kết lại dưới hình thức tổ chức lao động gia đình và tổ chức dân cư theo mô hình làng xã ổn định, bền vững. Sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản đó tạo thành điều kiện khách quan cho sự sinh tồn và phát triển của người Việt Nam. Đó cũng chính là cơ sở hiện thực quy định những nội dung và tính chất cơ bản nhất trong đời sống tinh thần, truyền thống của người Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình công nghệ hóa, hiện đại hóa trong sản xuất nông nghiệp hiện nay tất yếu dẫn tới sự biến đổi trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên truyền thống và làm thay đổi cấu trúc nông thôn Việt Nam sang một hình thức mới, trên cơ sở đó dẫn tới sự biến đổi, phát triển đời sống văn hóa – tinh thần của nông thôn mới và con người mới.

    b. Ý thức xã hội và hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội

    Khái niệm: ý thức xã hội, ý thức cá nhân và ý thức giai cấp

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ mặt tinh thần của đời sống xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội; bao gồm trong đó toàn bộ đời sống tư tưởng và tâm lí xã hội, được biểu hiện phong phú trong sinh hoạt tư tưởng, văn hóa, tập quán…của mỗi cộng đồng xã hội.

    Thuộc về đời sống tinh thần của xã hội, ý thức xã hội không tự tồn tại cảm tính như các hình thức tồn tại của vật chất tự nhiên mà phải thông qua các hình thức văn hóa của xã hội. Thông thường có thể nhận biết nó qua ba hình thức cơ bản và phổ biến: 1) Các sinh hoạt tư tưởng mang tính học thuật như: sinh hoạt chính trị, pháp luật, khoa học… của cộng đồng xã hội; 2) Các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng và xã hội như: sinh hoạt lễ hội truyền thống, tôn giáo, nghệ thuật…; 3) Các tập tục và nếp sống mang đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng người.

    Ngoài ra, ý thức xã hội với tư cách là “cái chung” thuộc đời sống tinh thần của cộng đồng xã hội còn biểu hiện trực tiếp qua nhận thức và nếp sống của mỗi cá nhân con người với tư cách là thành viên của nó. Trong trường hợp này, ý thức cá nhân tồn tại với tư cách là “cái riêng” trong đó có sự biểu hiện của “cái chung” là ý thức xã hội mà ít hay nhiều cá nhân đó đã tiếp nhận được từ sự giáo dục của xã hội.

    Thí dụ, tình cảm yêu nước của dân tộc Việt Nam là cái chung, thể hiện một cách phong phú ở đời sống tình cảm và sinh hoạt của mỗi người Việt Nam trong lịch sử, với mức độ và phương thức biểu hiện khác nhau ở mỗi con người cụ thể, ở mỗi hoàn cảnh cụ thể.

    Ý thức giai cấp và tính giai cấp của ý thức xã hội.

    Khái niệm ý thức giai cấp dùng để chỉ ý thức đặc thù của mỗi giai cấp, phản ánh địa vị và lợi ích của mỗi giai cấp đó trong xã hội. Thí dụ, có sự đối lập giữa ý thức hệ tư tưởng của giai cấp tư sản và hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, phản ánh địa vị và lợi ích căn bản đối lập giữa hai giai cấp ấy trong đời sống xã hội.

    Khác với khái niệm ý thức giai cấp, khái niệm tính giai cấp của ý thức xã hội là khái niệm dùng để chỉ tính chất của ý thức xã hội trong điều kiện mỗi cộng đồng người có sự phân hóa thành các giai cấp nhất định. Thí dụ, trong một cộng đồng dân tộc có sự phân hóa giai cấp thì ý thức dân tộc đó cũng có tính giai cấp và bị chi phối bởi tính giai cấp.

    Trong xã hội có sự phân hóa giai cấp thì ý thức của các giai cấp có sự ảnh hưởng qua lại với nhau. Trong nhiều trường hợp, đời sống tinh thần của giai cấp này không thể không chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố thuộc đời sống tinh thần của các giai cấp khác. Thông thường, ý thức của giai cấp thống trị bao giờ cũng có ảnh hưởng lớn nhất tới ý thức của các giai cấp khác và giữ địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội.

    Mác và Ăngghen viết: “Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.

    Như vậy, khi nghiên cứu về ý thức xã hội, một mặt cần phân tích ý thức giai cấp với tư cách là hiện tượng ý thức đặc trưng, đặc thù của mỗi giai cấp nhất định; mặt khác, cũng cần phải phân tích tính giai cấp của ý thức xã hội, sự ảnh hưởng lẫn nhau về phương diện ý thức giai cấp mới có thể có được cách nhìn nhận đúng đắn về đời sống tinh thần phong phú của mỗi cộng đồng người.

    – Hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội

    Có hai trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là trình độ phản ánh ở tầm tâm lí xã hội (tình cảm, khát vọng, ý chí….chung của cộng đồng xã hội) và trình độ phản ánh ở tầm các tư tưởng xã hội (các quan niệm, quan điểm chung, có tính chất phổ biến trong mỗi cộng đồng xã hội nhất định) mà hình thức phát triển cao nhất của nó là các học thuyết, các lí luận xã hội, cũng tức là sự phát triển của các tư tưởng xã hội đạt đến cấp độ là hệ tư tưởng xã hội.

    Thí dụ, tình cảm yêu nước, ý chí độc lập tự cường, khát vọng độc lập, tự do…. của cộng đồng dân tộc Việt Nam là sự phản ánh ở trình độ tâm lí xã hội; còn chủ nghĩa yêu nước với những quan niệm, quan điểm về dân tộc độc lập, quyền tự quyết định vận mệnh dân tộc, không có gì quý hơn độc lập tự do… của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước là trình độ phản ánh ở cấp độ hệ tư tưởng xã hội. Toàn bộ đời sống tâm lí và tư tưởng xã hội ấy hợp lại thành tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam.

    Tâm lí xã hội là bộ phận ý thức xã hội phản ánh trực tiếp và tự phát đối với tồn tại xã hội, đối với hoàn cảnh sống khách quan của cộng động, được cấu thành từ các nhân tố tình cảm, khát vọng, ý chí… của các cộng đồng người nhất định. Thí dụ, tình cảm yêu quê hương đất nước, ý chí độc lập tự cường, khát vọng tự do… của cộng đồng người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử là thuộc đời sống tâm lí xã hội.

    Tâm lí xã hội khi đã trở thành yếu tố bền vững của một cộng đồng người thì nó thường được thể hiện trong các phong tục, tập quán…của cộng đồng đó. Khi đó chúng đã được văn hóa và trở thành các thành tố quan trọng trong nền văn hóa truyền thống. Thí dụ, trong truyền thống của người Việt Nam, tình cảm yêu nước, khát vọng độc lập, tình yêu quê hương xóm làng… đã được thăng hoa thành một nét đẹp truyền thống, được thể hiện qua các biểu tượng văn hóa, các lễ hội, các sinh hoạt văn hóa dân gian… Những yếu tố này giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hiện thực của cộng đồng.

    Tư tưởng xã hội là bộ phận ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách tự giác và gián tiếp; chúng tồn tại dưới hình thức là những quan niệm, quan điểm có tính chất phổ biến trong một cộng đồng người. Thí dụ, tinh thần yêu nước của người Việt Nam không phải chỉ được phân tích từ giác độ là tình cảm yêu nước, ý chí độc lập…mà còn được phân tích từ giác độ là những quan niệm, quan điểm về dân tộc và dân tộc độc lập… thậm chí có thể đạt tới tầm là chủ nghĩa yêu nước – tức hệ thống quan niệm, quan điểm nhất định. Như vậy, giữa khái niệm tư tưởng xã hội và khái niệm hệ tư tưởng xã hội là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất. Về mặt ngoại diên, khái niệm hệ tư tưởng xã hội nằm trong khái niệm tư tưởng xã hội. Tư tưởng xã hội không nhất thiết ở tầm hệ tư tưởng xã hội, chỉ khi những quan niệm của con người đạt tới trình độ có tính hệ thống thì khi đó nó trở thành hệ tưởng xã hội. Thí dụ, những triết lí trong cuộc sống của một cộng đồng xã hội chưa phải là ở trình độ hệ tư tưởng xã hội nhưng nó không phải là yếu tố tâm lí xã hội với đặc tính phản ánh tự phát và trực tiếp đối với hoàn cảnh sống của cộng đồng.

    Tâm lí xã hội và tư tưởng xã hội là hai lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần của mỗi cộng đồng người nhất định nên có mối quan hệ biện chứng với nhau và đều cùng bị quy định bởi tồn tại xã hội của cộng đồng đó, do vậy giữa chúng có thể phát sinh mối quan hệ cộng hưởng. Tuy nhiên, đây là hai trình độ và phương thức phản ánh khác nhau đối với tồn tại xã hội nên giữa chúng cũng có thể phát sinh mối quan hệ loại trừ – bất cộng hưởng, có thể làm triệt tiêu các giá trị của nhau ở một mức độ nhất định và ở một số phạm vi nhất định. Thí dụ, trong tinh thần yêu nước của người Việt Nam thì giữa tình cảm yêu nước và tư tưởng yêu nước thường phát sinh quan hệ cộng hưởng, bổ sung cho nhau, được thể hiện song trùng và tích hợp trong mỗi hoạt động của cộng đồng. Ngay trong một lễ hội truyền thống của người Việt Nam đã có sự tích hợp và cộng hưởng giữa tình cảm và nhưng quan niệm, thậm chí có thể đạt tới những triết lí sống thể hiện những quan niệm về đất nước và dân tộc. Ngay trong “Bài thơ thần” tương truyền của Lý Thường Kiệt đã bao hàm trong đó cả khát vọng, ý chí và quan niệm thuộc tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hệ tưởng xã hội không phải là cái được nảy sinh trên cơ sở tâm lí xã hội. Cũng không phải có tâm lí xã hội thì sẽ có được tư tưởng và hệ tư tưởng xã hội. Sở dĩ như vậy là vì phương thức hình thành của tâm lí xã hội và hệ tư tưởng xã hội là khác nhau. Vấn đề là ở chỗ, nếu tư tưởng xã hội và tâm lí xã hội có sự phù hợp với nhau thì sẽ phát sinh mối quan hệ cộng hưởng, ngược lại sẽ phát sinh mối quan hệ loại trừ.

    c. Các hình thái ý thức xã hội

    Phân tích đời sống tinh thần của xã hội thành các hình thái ý thức xã hội là một phương pháp tiếp cận phổ biến trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Phương pháp tiếp cận như vậy cho thấy tính chất phong phú của đời sống tinh thần của xã hội bởi vì mỗi hình thái ý thức xã hội đều có những đặc trưng riêng của nó. Đó là các hình thái ý thức xã hội đều có những đặc trưng riêng của n ó. Đó là các hình thái ý thực: chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, khoa học, thẩm mĩ… Mỗi hình thái ý thức xã hội đều bao gồm trong nó hai trình độ phản ánh là trình độ phản ánh tâm lí và trình độ phản ánh ở mức độ tư tưởng xã hội. Tuy nhiên, về cơ bản, các hình thái ý thức xã hội thường được phân tích ở trình độ là hệ tư tưởng xã hội.

    – Hình thái ý thức chính trị

    Hình thái ý thức chính trị là hình thái ý thức chỉ xuất hiện và tồn tại trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia, cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước.

    Hệ tư tưởng chính trị của một giai cấp nhất định phản ánh trực tiếp tập trung lợi ích giai cấp của chính nó. Hệ tư tưởng chính trị được thể hiện trong đường lối, cương lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trong luật pháp, chính sách nhà nước, công cụ của giai cấp thống trị. Hệ tư tưởng chính trị được hình thành một cách tự giác. Nó được các nhà tư tưởng của giai cấp xây dựng và truyền bá. Hệ tư tưởng chính trị gắn với các tổ chức chính trị. Thông qua các tổ chức chính trị mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh về ý thức hệ vì lợi ích của giai cấp của mình.

    Ý thức chính trị (đặc biệt là hệ tư tưởng chính trị) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Thông qua tổ chức nhà nước, nó tác động trở lại cơ sở kinh tế và có thể, trong những giới hạn nhất định thay đổi cơ sở kinh tế. Hệ tư tưởng chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, đồng thời thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác.

    Tác động tích cực hoặc tiêu cực của hệ tư tưởng chính trị (cũng như ý thức chính trị nói chung) phụ thuộc vào tính chất tiến bộ, cách mạng hoặc phản tiến bộ, phản cách mạng của giai cấp mang hệ tư tưởng đó. Khi giai đoạn còn tiến bộ, cách mạng – tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của lịch sử, thì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác dụng tích cực đến sự phát triển xã hội. Khi giai cấp đó trở thành lạc hậu, phản động, thì hệ tư tưởng chính trị của nó tác động tiêu cực, kèm hãm sự phát triển xã hội.

    – Hình thái ý thức pháp quyền

    Hình thái ý thức pháp quyền là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ cho nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội, cùng với nhận thức và tình cảm của con người trong việc thực thi luật pháp của nhà nước.

    Cũng như ý thức chính trị, ý thức pháp quyền ra đời cùng với nhà nước. Giữa hai hình thái này có sự gần nhau về cả nội dung và hình thức. Ý thức pháp quyền phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội, trước hết là các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật.

    Trong xã hội có giai cấp, pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện thành luật, do đó mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật của giai cấp nắm chính quyền. Nhưng trong xã hội có giai cấp đối kháng, các giai cấp khác nhau lại có những ý thức khác nhau về pháp luật, phản ánh lợi ích của giai cấp mình. Do đó, hiệu lực của pháp luật không những phụ thuộc vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật của xã hội.

    – Hình thái ý thức đạo đức

    Hình thái ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm, những hiểu biết và các trạng thái xúc cảm tâm lí chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.

    Hình thái ý thức đạo đức là một trong những hình thái ý thức ra đời từ rất sớm trong lịch sử, ngay từ xã hội nguyên thủy.

    Sự ý thức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng… phản ánh khả năng tự chủ của con người là sức mạnh đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản quy định đạo đức của con người, cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con người. Với ý nghĩa đó, sự phát triển ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ xã hội.

    Trong ý thức đạo đức, yếu tố tình cảm đạo đức là yếu tố đặc biệt quan trọng, nếu thiếu nó thì những khái niệm, phạm trù đạo đức và mọi tri thức đạo đức thu nhận được bằng con đường lí tính không thể chuyển hóa thành hành vi đạo đức.

    Trong tiến trình phát triển của xã hội đã hình thành những giá trị đạo đức mang tính toàn nhân loại, tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khác nhau. Đó là những quy tắc đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi của con người, cần thiết cho việc giữ gìn trật tự xã hội chung và sinh hoạt thường ngày của mọi người.

    Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, nội dung chủ yếu của đạo đức phản ánh quan hệ giai cấp và có tính giai cấp. Trong các phạm trù đạo đức thường phản ánh địa vị và lợi ích của giai cấp. Mỗi giai cấp trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội đều có những quan niệm đạo đức riêng của mình. Giai cấp tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của xã hội thì đại diện cho một nền đạo đức tiến bộ, còn các giai cấp phản động thì đại diện cho một nền đạo đức suy thoái. Ăngghen viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ. Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp, hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức”.

    – Hình thái ý thức khoa học

    Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, hình thái ý thức khoa học là hệ thống tri thức phản ánh chân thực dưới dạng logic trừu tượng về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Đối tượng phản ánh của ý thức khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là một trong những sự khác biệt giữa ý thức khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác.

    Hình thức biểu hiện chủ yếu của ý thức khoa học là phạm trù, định luật, quy luật,… Ý thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác, hình thành các khoa học tương ứng với từng hình thái ý thức đó. Thí dụ: Ý thức chính trị và chính trị học, ý thức đạo đức và đạo đức học, ý thức nghệ thuật và nghệ thuật học… Nhờ ý thức khoa học, con người không ngừng vươn tới cái mới, sáng tạo ra “thế giới nhân tính hóa” và ngày càng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình.

    Xét theo đối tượng nghiên cứu, có thể phân chia khoa học thành: khoa học tự nhiên; khoa học xã hội – nhân văn và khoa học về tư duy. Các khoa học đó đều có mục đích khám phá những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học là một khoa học bởi nó nghiên cứu những quy luật chung nhất của mọi tồn tại trong tự nhiên, xã hội và tư duy, xây dựng nên phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Trong mỗi khoa học có thể phân chia thành các cấp độ kinh nghiệm và lí luận (hay lí thuyết). Cấp độ kinh nghiệm là những tư liệu hiện thực đã tích lũy được qua sự tổng kết quan sát và thí nghiệm; lí luận là sự khái quát kinh nghiệm thể hiện trong những lí thuyết về quy luật và nguyên lí tương ứng. Cấp độ lí luận của các khoa học cụ thể kết hợp với nhau trong sự giải thích các nguyên lí và quy luật chung được phát hiện ở tầm nghiên cứu triết học, hình thành thế giới quan và phương pháp luận của toàn bộ nhận thức khoa học.

    – Hình thái ý thức thẩm mĩ

    Hình thái ý thức thẩm mĩ là sự phản ánh hiện thực vào ý thức con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức và sáng tạo “cái đẹp”. Trong các hình thức hoạt động thưởng thức và sáng tạo cái đẹp thì nghệ thuật là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm mĩ.

    Nghệ thuật ra đời từ rất sớm, ngay từ khi xã hội chưa phân chia thành giai cấp. Quá trình hình thành nghệ thuật gắn liền với lao động của con người, với thực tiễn xã hội. Những dấu vết đầu tiên của nghệ thuật đều thuộc về thời kì con người đã biết sản xuất ra những công cụ bằng đá, xương, sừng…

    Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, nghệ thuật bắt nguồn từ tồn tại xã hội. Nếu khoa học và triết học phản ánh thế giới hiện thực bằng khái niệm, phạm trù, quy luật thì nghệ thuật lại phản ánh thế giới một cách sinh động, cụ thể bằng hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật tuy cũng phản ánh bản chất của đời sống hiện thực nhưng phản ánh thông qua cái cá biệt, cụ thể – cảm tính, sinh động. Hình tượng nghệ thuật cũng nhận thức cái chung trong cái riêng, nhận thức cái bản chất trong cái hiện tượng, nhận thức cái phổ biến trong cái cá biệt, song cái cá biệt trong nghệ thuật phải là cái cá biệt có tính điển hình và nếu nhà nghệ thuật tạo ra cái điển hình thì phải là cái điển hình đã được cá biệt hóa.

    Sự phát triển của nghệ thuật, cả về nội dung và hình thức, không thể tách khỏi sự phát triển của tồn tại xã hội. Nhưng nghệ thuật có tính độc lập tương đối rất rõ nét trong sự phát triển của mình. Nó không phải bao giờ cũng phản ánh tồn tại xã hội một cách trực tiếp, dễ thấy.

    Nghệ thuật chân chính gắn bó với đời sống hiện thực của nhân dân; là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ xã hội thông qua việc đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ của con người. Khi phản ánh thế giới hiện thực trong các hình tượng nghệ thuật chân thực và có giá trị thẩm mĩ cao, nghệ thuật đã tác động đến lí trí và tình cảm của con người, kích thích tính tích cực của con người, xây dựng ở con người những hành vi đạo đức tốt đẹp.

    Trong xã hội có giai cấp, nghệ thuật bao giờ cũng mang tính giai cấp. Tính giai cấp của nghệ thuật biểu hiện trước hết ở chỗ nó không thể k hông chịu sự tác động của thế giới quan, các quan điểm chính trị của một giai cấp, không thể đứng ngoài chính trị và các quan hệ kinh tế. Do vậy không thể phủ nhận được mối liên hệ giữa nghệ thuật và chính trị.

    Khi nhấn mạnh tính giai cấp của nghệ thuật trong xã hội có giai cấp, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin không phủ nhận tính nhân loại chung của nó. Không ít tác phẩm nghệ thuật mà giá trị của chúng được lưu truyền khắp thế giới qua các thời đại, mặc dù tác giả là đại biểu của một giai cấp nhất định. Có những nền nghệ thuật của một dân tộc nhất định nhưng đã trở thành những giá trị văn hóa tiêu biểu của cả nhân loại. Tính giai cấp của nghệ thuật cách mạng và tiến bộ không những không mâu thuẫn với tính nhân loại, mà ngược lại còn làm sâu sắc những giá trị toàn nhân loại.

    – Hình thái ý thức tôn giáo

    Ý thức tôn giáo với tư cách là hình thái ý thức xã hội bao gồm tâm lí tôn giáo và tư tưởng tôn giáo.

    Tâm lí tôn giáo là toàn bộ những biểu tượng, tình cảm, tâm trạng thói quen của quần chúng về tín ngưỡng tôn giáo. Tư tưởng tôn giáo là các quan niệm, quan điểm tôn giáo do các giáo sĩ, các nhà thần học tạo ra và truyền bá trong xã hội. Đứng về mặt lịch sử, tâm lí tôn giáo và tư tưởng tôn giáo là hai giai đoạn phát triển của ý thức tôn giáo, nhưng chúng liên hệ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau.

    Ý thức tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thực hiện “chức năng đền bù hư ảo” trong một xã hội cần đến sự đền bù hư ảo. Chức năng đó làm cho tôn giáo có một đời sống lâu dài, một vị trí đặc biệt trong xã hội. Chức năng đền bù hư ảo nói lên khả năng của tôn giáo có thể bù đắp, bổ sung tâm lí hay tư tưởng cho cái hiện thực mà trong đó con người còn bất lực, chưa làm chủ được trước những sức mạnh tự nhiên và những điều kiện khách quan của đời sống xã hội. Những mâu thuẫn của đời sống hiện thực, những bất lực trong thực tiễn của con người được giải quyết theo phương thức đền bù hư ảo trong ý thức của họ. Vì vậy, trong lịch sử, tôn giáo đã từng được một số giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ để thực hiện sự cai trị của nó.

    Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, điều kiện tiên quyết để khắc phục những hạn chế của tôn giáo (với tư cách là một hình thái ý thức xã hội) là phải xóa bỏ nguồn gốc xã hội của nó, nghĩa là phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội triệt để nhằm cải tạo cả tồn tại xã hội lẫn ý thức xã hội. Bằng hoạt động tích cực cách mạng của mình, quần chúng không những cải tạo xã hội mà còn cải tạo bản thân, giải phóng ý thức mình khỏi những quan niệm sai lầm, những ảo tưởng tôn giáo trong đời sống tinh thần của chính họ. Mặt khác, trong ý thức tôn giáo cũng bao hàm những nhân tố tư tưởng tích cực cần được nghiên cứu, kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học – Phần Iii
  • Chính Trị: Bài 3 Những Quy Luật Cơ Bản Về Sự Phát Triển Xã Hội
  • Xã Hội Và Đặc Điểm Cơ Bản Của Qui Luật Xã Hội – Kipkis
  • Đánh Giá Hiệu Quả Của Dự Án Đầu Tư, Hiệu Quả Kinh Tế Và Hiệu Quả Xã Hội
  • Hiệu Quả Xã Hội Xét Như Là Mục Tiêu – Kipkis
  • Lenin_Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Chất Của Ý Thức Là Gì ? Cho Ví Dụ ?
  • Ý Thức Tôn Giáo Là Gì ?
  • Ý Thức Pháp Luật Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì ? Phân Tích Cấu Trúc Của Ý Thức Pháp Luật
  • Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội Cau 39 Doc
  • Published on

    1. 1. NHÓM 13 1.BÙI LAN ANH 2.NGUYỄN THỊ XUÂN HOA 3.TRẦN NGỌC THIÊN LAM 4.VÕ BẢO NGỌC 5.LÝ TRUNG HÀO
    2. 2. Hả? Tui đâu phải con người! sao biết?
    3. 3. VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN TRONG TRIẾT HỌC GỌI LÀ TỒN TẠI XÃ HỘI VÀ Ý THỨC XÃ HỘI
    4. 4. Trình bày các khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Cho ví dụ. Trình bày vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội. (cho ví dụ cụ thể từng tính chất) Sự khác nhau trong tích cách của con người Việt Nam ở ba miền Bắc, Trung Nam, tại sao? NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
    5. 5. 1. Tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. * Bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là: điều kiện tự nhiên – địa lý, điều kiện dân số – dân cư, và phương thức sản xuất.
    6. 6. VD: Điều kiện tự nhiên – địa lý
    7. 7. Điều kiện tự nhiên – địa lý
    8. 8. Điều kiện dân số – dân cư
    9. 9. Phương thức sản xuất
    10. 10. 2. Ý thức xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội. * Nó bao gồm những quan điểm, tư tưởng, học thuyết cùng những tình cảm, phong tục tập quán truyền thống của các cộng đồng xã hội nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong các giai đoạn lịch sử xác định.
    11. 12. Học thuyết
    12. 13. Phong tục tập quán
    13. 14. Ý thức xã hội Ý thức xã hội thông thường Ý thức lý luận Ý thức xã hội Hệ tư tưởng xã hội xã hội Tâm lý xã hội
    14. 15. – Tri thức,quan niệm được hình thành từ hoạt động thực tiễn hằng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát thành lý luận VD: Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng bay vừa thì râm
    15. 16. – Những tư tưởng quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát thành các học thuyết xã hội và trình bày dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật Học thuyết Lamac và Đacuyn
    16. 17. – Là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xã hội như: chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo… – Là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội Truyền thống hiếu học của dân tộc ta
    17. 18. – Là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí của những cộng đồng nhất định – Là sự phản ánh trực tiếp và tự phát đối với hoàn cảnh sống của họ Học thuyết Mác – Lênin
    18. 19. 2. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội * Tồn tại xã hội nào ứng với một ý thức xã hội nhất định: trong đó tồn tại xã hội quyết định về nguồn gốc, nội dung, bản chất, kết cấu của ý thức xã hội.
    19. 20. * Mỗi khi tồn tại xã hội( nhất là phương thức sản xuất ) thay đổi thì ý tức xã hội sớm muộn gì cũng phải thay đổi theo sao cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể lúc đó. * Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội không phải trực tiếp mà trường thông qua các khâu trung gian. * VD:
    20. 21. Xã hội nguyên thủy Xã hội chiếm hữu nô lệ
    21. 22. Xã hội phong kiến Xã hội tư bản
    22. 23. 3. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội và tồn tại xã hội * Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội: ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội nên có sau; do tính bảo thủ của một số hình thức hình thái ý thức xã hội cụ thể; giai cấp thông trị lỗi thời luôn cố găng duy trì những tư tưởng cũ. * VD:
    23. 24. Bói toán Lên đồng
    24. 25. * Tính vượt trước của tư tưởng khoa học: khoa học nhờ những tiến bộ của mình có thể nắm bắt được quy luật từ đó đưa ra những dự báo về những khả năng của vật chất. * VD:
    25. 26. Galile Copecnic
    26. 27. * Ý thức có tính kế thừa trong quá trình phát triển của mình: ý thức xã hội luôn hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những tài kiệu của quá khứ. * VD:
    27. 29. * Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong quá trình phát triển của chúng. * VD: Hy Lạp cổ đại Pháp nửa sau thế kỷ XVIII
    28. 30. * Ý thức xã hội và tồn tại xã hội tác động qua lại lẫn nhau * VD: Công cuộc đổi mới ở Việt Nam
    29. 32. Miền Trung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc Của Ý Thức
  • Ý Thức, Nguồn Gốc, Kết Cấu Của Ý Thức
  • Trình Bày Nguồn Gốc Của Ý Thức (Nguồn Gốc Tự Nhiên Và Xã Hội)
  • Sự Hình Thành Và Phát Triển Ý Thức
  • Bài 5: Sự Hình Thành Và Phát Triển Ý Thức
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì?
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì? Quy Định Về Xuất Nhập Khẩu Tại Chỗ
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì? Những Quy Định Về Xuất Nhập Khẩu Tại Chỗ
  • Câu hỏi: Khái niệm tồn tại xã hội? Khái niệm và kết cấu của ý thức xã hội?

    Đáp án:

    1. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội

    Tồn tại xã hội là toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội (bao gồm phương thức sản xuất, điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số… trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất) được đặt trong phạm vi hoạt động thực tiễn (hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học).

    Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, thói quen v.v. của cộng đồng xã hội được hình thành trên cơ sở của tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.

    2. Kết cấu của ý thức xã hội

    Cấu trúc của ý thức xã hội được tiếp cận nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau:

    – Ở góc độ sinh thành, ý thức xã hội được phân chia thành: Ý thức xã hội của xã hội cộng sản nguyên thủy; ý thức xã hội của xã hội chiếm hữu nô lệ; ý thức xã hội của xã hội phong kiến v.v..

    – Ở góc độ chủ thể ý thức, ý thức xã hội được phân chia thành: ý thức của giai cấp nông dân, ý thức của giai cấp công nhân v.v..

    – Ở góc độ phản ánh, ý thức xã hội được phân chia thành các hình thái ý thức xã hội như: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo v.v…

    – Ở góc độ trình độ và cấp độ của sự phản ánh, ý thức xã hội được phân chia thành: ý thức lý luận và ý thức thường ngày; tâm lý xã hội và hệ tư tưởng.

    Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tiếp cận tìm hiểu ý thức xã hội ở góc độ trình độ và cấp độ của sự phản ánh.

    a) Ý thức thường ngày và ý thức lý luận

    – Ý thức thường ngày là các quan điểm, tư tưởng chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa, nó phản ánh trực tiếp các sự kiện, các hiện tượng diễn ra trong cuộc sống thường ngày nhằm đáp ứng nhu cầu tức thời của chủ thể về mặt nhận thức.

    Tri thức của ý thức thường ngày chưa được hệ thống hóa, tính khái quát của nó còn yếu, nhưng nó gắn với thực tiễn sinh động vì thế nó gần gũi với đời sống hiện thực. Những kinh nghiệm của ý thức thường ngày chính là kho tàng để cho các khoa học tìm kiếm nội dung của mình. Trước đây (thời cổ đại) ý thức thường ngày xa lạ với khoa học, còn ngày nay ý thức thường ngày chứa đựng tri thức khoa học.

    – Ý thức lý luận là toàn bộ tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Tri thức của ý thức lý luận mang tính hệ thống, tính hợp lý, nó phản ánh hiện thực khách quan một cách sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối quan hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. Tri thức của ý thức lý luận mang tính trừu tượng hóa, khái quát hóa cao được trình bày dưới dạng các phạm trù, quy luật, phạm vi ứng dụng của nó rất rộng, đòi hỏi khi vận dụng phải có năng lực. Ý thức lý luận phản ánh gián tiếp sự vật, hiện tượng nên có khả năng xa rời sự vật, trở nên xơ cứng và giáo điều.

    b) Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng

    – Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm, xúc cảm, kinh nghiệm, thói quen v.v. của con người, được hình thành tự phát dưới tác động trực tiếp của đời sống hàng ngày và phản ánh đời sống đó.

    Đặc điểm của tâm lý xã hội là phản ánh một cách trực tiếp hoàn cảnh xã hội, là sự phản ánh có tính chất tự phát, nó chỉ phản ánh hiện thực bề ngoài của tồn tại xã hội chứ chưa vạch ra được một cách đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc các mối liên hệ bản chất, quy luật của xã hội. Tâm lý xã hội tác động thường xuyên đến hành vi con người và tồn tại một cách dai dẳng trong ý thức. Trong xã hội có giai cấp thì tâm lý xã hội mang tính giai cấp, do các giai cấp có điều kiện, hoàn cảnh sinh sống khác nhau cho nên các giai cấp có quan niệm, tình cảm, tâm trạng, thói quen… khác nhau. Ngoài tâm lý giai cấp, tâm lý xã hội còn mang đặc điểm của tâm lý dân tộc, do mỗi dân tộc có lịch sử khác nhau cho nên đã hình thành truyền thống, thị hiếu, tập quán … khác nhau.

    – Hệ tư tưởng là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, quan niệm của một giai cấp đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận, thành các học thuyết xã hội. Những lý luận và học thuyết này phản ánh một cách gián tiếp hoàn cảnh xã hội, phản ánh một cách tự giác và sâu sắc lợi ích giai cấp, là vũ khí đấu tranh giai cấp của một giai cấp hay một lực lượng xã hội nhất định.

    Hệ tư tưởng là trình độ cao của ý thức xã hội, hình thành khi con người nhận thức sâu sắc hơn về những điều kiện sinh hoạt vật chất của mình. Nó có khả năng phản ánh các mối liên hệ bản chất của các quan hệ xã hội. Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội. Khác với tâm lý xã hội hình thành một cách tự phát, hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác, là kết quả tư duy khoa học của các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và được truyền bá trong xã hội.

    Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là hai giai đoạn, hai trình độ thấp và cao của ý thức xã hội, chúng đều phản ánh tồn tại xã hội, giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Tâm lý xã hội, tình cảm giai cấp tạo điều kiện cho việc tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp; ngược lại hệ tư tưởng của giai cấp sẽ củng cố, phát triển tâm lý xã hội và tình cảm giai cấp.

    Cần phải phân biệt hệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng không khoa học. Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính xác, khách quan các mối quan hệ vật chất của xã hội. Còn hệ tư tưởng không khoa học thì phải phản ánh sai lầm, xuyên tạc, hư ảo các mối quan hệ vật chất của xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Tồn Tại Xã Hội Quyết Định Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội? Khái Niệm Và Kết Cấu Của Ý Thức Xã Hội?
  • Thế Nào Là Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quy Định Hiện Hành?
  • Đề Tài: Xuất Khẩu Mặt Hàng Chè Của Vn Sang Hòa Kỳ, 9 Điểm,hay!
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì?
  • Xuất Khẩu Tại Chỗ Là Gì? Quy Định Về Xuất Nhập Khẩu Tại Chỗ
  • a) Khái niệm tồn tại xã hội, ý thức xã hội

    Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

    Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồn phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý và dân cư. Các yếu tố do tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội. Trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

    Giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự thống nhât biện chứng nhưng không đồng nhất. Mối quan hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.

    Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể tiếp cận kết cấu của ý thức xã hội từ những phương diện khác nhau.

    Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học…

    Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận. Ý thức xã hội thông thừơng là toàn bộ những tri thức, những quan niệm của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành trực tiếp từ hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Ý thức lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật. Ý thức lý luận khoa học có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. Ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống, tạo thành các hệ tư tưởng.

    Cũng có thể phân tích ý thức xã hội theo hai trình độ và hai phuơng thức phản ánh đối với tồn tại xã hội. Đó là tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Tâm lý xã hội là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí,… của những cộng đồng người nhất định; là sự phản ánh trực tiếp và tự phát đối với hoàn cảnh sống của họ. Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xã hội như: chính trị. triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo…: là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội. Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức xã hội đối với cùng một tồn tại xã hội, chúng có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tuy nhiên, không phải tâm lý xã hội tự nó sản sinh ra hệ tư tưởng xã hội.

    Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội cũng có tính giai cấp, phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất và lợi ích khác nhau, đối lập nhau giữa các giai cấp. Mỗi giai cấp đều có đời sống sinh hoạt tinh thần đặc thù của nó nhưng hệ tư tưởng thống trị xã hội bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, nó có ảnh hưởng đến ý thức của các giai cấp trong đời sống xã hội. Theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen: “Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.

    b) Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội

    Một trong những công lao to lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen là đã phát triển chủ nghĩa duy vật đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, giải quyết một cách khoa học vấn đề sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội. Các ông đã chứng minh rằng, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất: rằng không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa là không thể tìm trong đầu óc con nguời mà phải tìm trong hiện thực vật chất. Sự biến đổi của một thời đại nào đó sẽ không thể giải thích được chính xác đến nguyên nhân cuối cùng của nó nếu chỉ căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Theo C.Mác: “… không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại đó. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội”.

    Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của ý thức xã hội không phải dừng lại ở chỗ xác định sự phụ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội, mà còn chỉ ra rằng: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội không phải một cách giản đơn trực tiếp mà thường thông qua các khâu trung gian. Không phải bất cứ tư tưởng, quan niệm, lý luận hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, mà chỉ khi nào xét đến cùng thì chúng ta mới thấy rõ những mối quan hệ kinh tế được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong các tư tưởng ấy.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Các Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội
  • Khái Niệm Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Lí Thuyết Xung Đột (Conflict Theory) Là Gì? Các Nội Dung Về Lí Thuyết Xung Đột
  • Bài 8. Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Tình Cảm Và Lý Trí Trong Ý Thức Đạo Đức
  • Cách Sử Dụng Hàm Iferror Trong Excel Dễ Hiểu Nhất
  • Kết Hợp Hàm Iferror Và Vlookup
  • Cách Xử Lý Lỗi N/a, Name, Value Của Hàm Vlookup
  • Hàm Isnumber Và Các Cách Dùng Isnumber Trong Excel
  • 1. Tồn tại xã hội

    – Khái niệm: Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, bao gồm môi trường tự nhiên, dân số và phương thức sản xuất.

    – Các yếu tố của tồn tại xã hội:

    a. Môi trường tự nhiên

    – Bao gồm những điều kiện địa lý tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.

    – Là điều kiện sinh sống tất yếu, thường xuyên của sự tồn tại và phát triển của xã hội, có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống của con người và sự tiến bộ của xã hội.

    b. Dân số

    – Là điều kiện tất yếu và thường xuyên của sự tồn tại và phát triển của xã hội vì mỗi quốc gia, dân tộc đều cần có một số dân nhất định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    – Dân số và tốc độ phát triển dân số của mỗi nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển mọi mặt của nước đó.

    c. Phương thức sản xuất (giữ vai trò quyết định trong tồn tại xã hội)

    – Là cách thức con người làm ra của cải vật chất trong những giai đoạn nhất định của lịch sử, bao gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

    – Lực lượng sản xuất: là sự thống nhất giữa tư liệu sản xuất và người sử dụng tư liệu ấy để sản xuất ra của cải vật chất.

    – Quan hệ sản xuất: là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất của cải vật chất, bao gồm: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất (quyết định các quan hệ khác), quan hệ trong tổ chức, quản lý, và quan hệ trong phân phối sản phẩm.

    – Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:

    • Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
    • Quan hệ sản xuất có sự tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất.

    2. Ý thức xã hội

    a. Ý thức xã hội là gì?

    – Là cái phản ánh tồn tại xã hội, bao gồm toàn bộ những quan niệm, quan điểm của các cá nhân trong xã hội, từ các hiện tượng tình cảm, tâm lý đến các quan điểm và các học thuyết về chính trị, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật, khoa học, triết học…

    b. Hai cấp độ của ý thức xã hội.

    – Tâm lý xã hội là toàn bộ những tâm trạng, thói quen, tình cảm của con người, được hình thành một cách tự phát do ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện sinh sống hàng ngày, chưa được khái quát thành lý luận.

    – Hệ tư tưởng là toàn bộ những quan niệm, quan điểm đã được hệ thống hóa thành lý luận, học thuyết về đạo đức, chính trị, pháp quyền…, được hình thành một cách tự giác do các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định xây dựng nên, luôn mang tính giai cấp.

    3. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

    a. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội

    – Tồn tại xã hội là cái có trước, cái quyết định ý thức xã hội. Khi tồn tại xã hội (quan trọng nhất là phương thức sản xuất) thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức xã hội cũng thay đổi theo, thay đổi về nội dung phản ánh của các hình thái ý thức xã hội.

    b. Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội

    – Những ý thức xã hội tiên tiến có thể phản ánh đúng đắn các quy luật khách quan, chỉ đạo con người trong hoạt động thực tiễn đạt kết quả cao, thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển và hoàn thiện hơn.

    – Những ý thức xã hội lạc hậu có tác động kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội.

    * Bài học

    – Ủng hộ các ý thức xã hội đúng như: chính sách môi trường, dân số của Nhà nước.

    – Phê phán những ý thức xã hội lạc hậu, lỗi thời như: trời sinh voi, sinh cỏ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Hàng Hóa Và Hai Thuộc Tính Hàng Hóa
  • Phương Thức Tồn Tại Của Vật Chất Theo Quan Điểm Của Triết Học Duy Vật
  • Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Chúng?
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Phân Tích Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Niệm Của Ph.ăngghen Về Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình Trong Tác Phẩm “nguồn Gốc Của Gia Đình, Của Chế Độ Tư Hữu Và Của Nhà Nước”
  • Cách Dùng Hàm Iserror Tromg Excel
  • Cách Phân Biệt Dạng Dữ Liệu Trong Excel Với Nhóm Hàm Isnumber, Isnontext, Istext
  • Cách Dùng Hàm Sumproduct Tính Tổng Nhiều Điều Kiện Hiệu Quả Trong Excel
  • Hàm Vlookup Là Gì? Cách Sử Dụng Hàm Vlookup Trong Excel
  • Phân tích tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Bài tập học kỳ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin 8 điểm.

    Các khái niệm tồn tại xã hội, ý thức xã hội:

    * Tồn tại xã hội là toàn bộ đời sống vật chất của XH và những điềukiện sinh hoạt vật chất của nó. Đây là hình thức biểu hiện của vật chất trong lĩnh vực XH, bao gồm 3 yếu tố cơ bản:

    + Phương thức SX: đầu tiên nhất, quyết định nhất.

    + Môi trường tự nhiên

    + Điều kiện dân số * Ý thức xã hội là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng, những tâm tư, tình cảm, những tập tục truyền thống, những thiên hướng, hứng thú… của XH phản ánh lại tồn tại XH ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định.

    – Nếu phân chia theo chiều ngang (tạo các cấp độ cao thấp) thì ý thức xã hội XH bao gồm 2 cấp độ cơ bản:

    + Ý thức xã hội thông thường

    + Ý thức lý luận (ý thức xã hội khái quát từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn) Trong hai cấp độ trên, thì vai trò quan trọng nhất thuộc về hai yếu tố là tâm lý XH và hệ tư tưởng.

    + Tâm lý XH là bộ phận của ý thức xã hội thông thường, nó bao gồm những tâm tư tình cảm, những tập tục truyền thống, những thói quen, tập quán… của XH phản ánh trực tiếp những điều kiện sinh hoạt vật chất hàng ngày của XH, đây là bộ phận có tính bền vững và bảo thủ cao.

    + Hệ tư tưởng là bộ phận của ý thức lý luận, nó bao gồm những quan điểm tư tưởng đã được hệ thống hóa thành chỉnh thể học thuyết để phản ánh những lợi ích cơ bản và địa vị của một giai cấp nhất định.

    – Nếu phân chia ý thức xã hội theo chiều dọc thì ý thức xã hội bao gồm các hình thái ý thức xã hội khác nhau: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, triết học, khoa học…

    Về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội:

    Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội:

    Theo quan điểm thế giới quan duy vật thì vật chất có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức. Trong lĩnh vực XH thì quan hệ này được biểu hiện là: tồn tại xã hội có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức xã hội, điều đó được thể hiện cụ thể là:

    – Tồn tại xã hội nào thì sinh ra ý thức xã hội ấy. Tức là người ta không thể tìm nguồn gốc tư tưởng trong đầu óc con người, mà phải tìm nó trong chính tồn tại xã hội. Do đó phải tồn tại xã hội để lý giải cho ý thức xã hội.

    – Khi tồn tại xã hội thay đổi một cách căn bản, nhất là khi phương thức SX đã thay đổi thì sớm hay muộn thì ý thức xã hội cũng phải thay đổi theo.

    Tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội:

    Sự lệ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội không phải lúc nào cũng diễn ra trực tiếp mà cần phải xét đến cùng qua nhiều khâu trung gian mới thấy được, bởi vì ý thức xã hội có tính độc lập của mình. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội được thể hiện dưới các hình thức sau:

    – Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Sở dĩ như vậy bởi vì:

    + Do nó chỉ là phản ánh của tồn tại xã hội nên thường biến đổi sau;

    + Do nó có những bộ phận có tính bền vững, tính bảo thủ cao (tâm lý XH, tôn giáo…);

    + Do có những lực lượng XH luôn tìm cách duy trì tính lạc hậu trên (nhằm cai trị ND, nô dịch ND…).

    – Vai trò tiên phong vượt trước của tri thức khoa học, bộ phận này trong ý thức xã hội có khả năng nắm bắt các quy luật vận động khách quan, từ đó đưa ra được những dự báo, tiên đoán về sự phát triển của XH, nên có thể đi tồn tại xã hội nên có thể đi trước một bước so với tồn tại xã hội (VD dự báo của Mác về sự sụp đổ của CNTB…).

    – Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội có thể làm cho nó có một trình độ phát triển cao hơn so với tồn tại xã hội. Nên có những dân tộc với trình độ kinh tế, chính trị kém phát triển nhưng đời sống tinh thần lại rất phát triển, chẳng hạn dân tộc Đức ở thể kỷ XIX: kinh tế lạc hậu so với Châu Âu, nhưng văn hóa tinh thần cực kỳ phát triển (âm nhạc, hội họa….).

    – Sự tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội có thể tạo ra những quy luật đặc thù, chi phối sự phát triển của ý thức xã hội, làm cho nó không hoàn toàn lệ thuộc vào tồn tại xã hội. Cụ thể là ở những giai đoạn nhất định thường nổi lên một hình thái ý thức xã hội chủ đạo, chi phối các hình thái ý thức còn lại (làm cho toàn bộ XH phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức chủ đạo: thời trung cổ thì tôn giáo chi phối xã hội, ngày nay khoa học chi phối xã hội).

    – Do có tính độc lập tương đối nên ý thức xã hội có thể tác động trở lại lên tồn tại xã hội theo 2 xu hướng:

    + Nếu ý thức xã hội phản ánh đúng đắn các quy luật khách quan của tồn tại xã hội thì nó có thể thúc đẩy sự phát triển của tồn tại xã hội. Vai trò này thuộc về ý thức của những giai cấp tiến bộ và cách mạng.

    + Nếu ý thức xã hội phản ánh sai lệch, xuyên tác các quy luật khách quan của tồn tại xã hội thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội. Tác động này thuộc về ý thức của những giai cấp cũ, lạc hậu, phản động. Sự tác động của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội phụ thuộc vào mức độ thâm nhập của nó vào trong phong trào của quần chúng nhân dân. Cho nên phải thường xuyên đấu tranh để phổ biến tri thức khoa học và lý luận cách mạng cho quần chúng nhân dân, đồng thời để đấu tranh để loại bỏ những tàn dư của văn hóa, tư tưởng cũ, phản động ra khỏi quần chúng (không ảnh hưởng đến quần chúng nhân dân).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Triết Lý Là Cái Gì Vậy?
  • Truyện Cười Triết Học, Cho Cuộc Sống Vui Vẻ Hơn
  • Tồn Tại Xã Hội Là Gì? Ý Thức Xã Hội Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Và Vai Trò Của Nó Trong Đời Sống Xã Hội
  • Đôi Nét Về Chủ Nghĩa Hiện Sinh
  • 7 Quy Tắc Kiến Tạo Hạnh Phúc Theo Triết Học Epicurus
  • Cơ Sở Hạ Tầng Là Gì?
  • Khả Năng Và Hiện Thực: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa.
  • – Khái niệm tồn tại xã hội

    + Khái niệm:

    Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ toàn bộ sinh hoạt vật chất và điều kiện sinh hoạt vật chất của mỗi cộng đồng người trong những điều kiện lịch sử xác định.

    + Các yếu tố cơ bản tạo thành điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, gồm có:

    Một là, phương thức sản xuất ra của cải vật chất của xã hội đó. Ví dụ, phương thức kỹ thuật canh nông lúa nước là nhân tố cơ bản tạo thành điều kiện sinh hoạt vật chất truyền thống của người Việt Nam.

    Hai là, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý, như: các điều kiện khí hậu, đất đai, sông hồ,… tạo nên đặc điểm riêng có của không gian sinh tồn của cộng đồng xã hội.

    Ba là, các yếu tố dân cư, bao gồm: cách thức tổ chức dân cư, tính chất lưu dân cư, mô hình tổ chức dân cư,…

    Các yếu tố đó tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.

    Ví dụ, trong điều kiện địa lý tự nhiên nhiệt đới, gió mùa, nhiều sông ngòi,… tất yếu làm hình thành nên phương thức canh tác lúa nước là thích hợp nhất đối với người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm qua. Để tiến hành được phương thức đó, người Việt buộc phải co cụm lại thành tổ chức dân cư làng, xã, có tính ổn định bền vững,…

    – Khái niệm ý thức xã hội

    + Khái niệm:

    Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.

    + Kết cấu của ý thức xã hội.

    Có thể phân tích từ những góc độ khác nhau:

    Một là, theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái khác nhau, đó là ý thức chính trị, ý thức pháp quvền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học,…

    Hai là, theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể phân biệt ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận. Ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm… của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt dộng thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Ý thức lý luận là những tư tương, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật. Ý thức lý luận khoa học có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật và hiện tượng. Ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng.

    Ba là, cũng có thể phân tích ý thức xã hội theo hai trình độ và hai phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội. Đó là tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Tâm lý xã hội là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí…. của những cộng đồng người nhất định; là sự phản ánh trực tiếp và tự phát đối với hoàn cảnh sống của họ. Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xã hội như: chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo,…; là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hạnh Phúc Là Gì Trong Mắt Các Nhà Triết Học Vĩ Đại?
  • Triết Học Phật Giáo (Nền Tảng Của Đạo Phật)
  • Bàn Về Triết Học Giáo Dục
  • Giai Cấp Là Gì? Đặc Trưng Và Kết Cấu Xã Hội Của Giá Cấp
  • Giai Cấp Là Gì? Định Nghĩa Giai Cấp? Nguồn Gốc, Điều Kiện Của Giai Cấp?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100