Khái Niệm Các Tội Phạm Xâm Phạm Quyền Sở Hữu

--- Bài mới hơn ---

  • Tội Xâm Phạm Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Theo Quy Định Bộ Luật Hình Sự
  • Phân Loại Các Tội Phạm Xâm Phạm Quyền Sở Hữu Theo Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Vấn Đề Chuyển Hóa Tội Danh Trong Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu
  • Nội Dung Của Chế Độ Sở Hữu Toàn Dân Đối Với Đất Đai
  • Bài 16. Quyền Sở Hữu Tài Sản Và Nghĩa Vụ Tôn Trọng Tài Sản Của Người Khác Bai 1617 Pptx
  • – Cướp tài sản(Điều 168): Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

    – Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169): hành vi bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt

    – Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170): đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản

    – Tội cướp giật tài sản (Điều 171): hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của người khác một cách nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh sự phản kháng của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản

    – Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172): hành vi lợi dụng sơ hở, vướng mắc của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản để lấy tài sản một cách công khai

    – Tội trộm cắp tài sản (Điều 173): hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý

    – Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174): người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin và giao tài sản để chiếm đoạt tài sản đó

    – Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175): là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    – Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176): hành vi cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được sau khi có yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật

    – Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177): hành vi của một người vì vụ lợi đã khai thác một cách trái phép giá trị sử dụng của tài sản do đang chiếm giữ

    – Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178): gồm hai hành vi phạm tội độc lập. Theo đó, người phạm tội có hành vi tác động vào tài sản thuộc sở hữu của người khác, làm cho tài sản đó bị mất giá trị sử dụng (hủy hoại tài sản) hoặc làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản (làm hư hỏng tài sản)

    – Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179): hành vi của người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước đã không thực hiện đầy đủ các biện pháp quản lý tài sản thuộc trách nhiệm quản lý trực tiếp của mình làm mất mát, hư hỏng, lãng phí tài sản đó

    – Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180): hành vi của một người tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, nhưng cho rằng thiệt hại đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn để mặc cho sự việc xảy ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Có Tính Chiếm Đoạt
  • Chương 14. Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu
  • Giới Thiệu Chung Về Sở Hữu Trí Tuệ
  • Sở Hữu Trí Tuệ Là Gì ? Phương Thức Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Hiện Nay
  • Phân Biệt Khái Niệm Về Nhà Ở Xã Hội Và Nhà Ở Thương Mại
  • Khái Niệm Tội Phạm? Dấu Hiệu Tội Phạm, Cách Xác Định Tội Phạm?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Thi Tội Phạm Học (Ul)
  • Khái Niệm Phòng Chống Tội Phạm
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Quy Định Về Phòng Ngừa Tội Phạm
  • Buôn Lậu Là Gì ? Khái Niệm Về Buôn Lậu ?
  • Tội Buôn Lậu Là Gì Theo Bộ Luật Hình Sự?
  • 1. Tội phạm là gì ?

    Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) thì Tội phạm được quy định như sau:

    Điều 8. Khái niệm tội phạm­­1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

    Qua quy định trên, có thể thấy tội phạm có một số đặc điểm sau:

    1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

    4. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

    2. Dấu hiệu chứng minh tội phạm ?

    Xin hỏi luật sư sự việc như sau: Nhà tôi vừa rồi xảy ra vụ mất cắp không rõ hung thủ, mà người nhà nghi ngờ do chính tôi lấy. Vậy luật sự cho tôi hỏi tôi nên làm như thế nào?

    ” Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”

    Như vậy, nếu bạn không thực hiện hành vi phạm tội thì việc người nhà bạn nghi ngờ chỉ là do ý chí chủ quan và dựa trên những căn cứ chưa phù hợp. Nếu người nhà bạn tố cáo bạn tới cơ quan có thẩm quyền thì có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội vu khống quy định tai Điều 156 Bộ luật Hình sự 2022 sửa đổi bổ sung 2022

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;c) Đối với 02 người trở lên;d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;đ) Đối với người đang thi hành công vụ;e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:a) Vì động cơ đê hèn;b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;c) Làm nạn nhân tự sát.4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Trong trường hợp này bạn nên ngồi lại nói chuyện với cả gia đình mình để gỡ bỏ mọi hiểu nhầm cũng như tránh được những điều không đáng tiếc khi đưa ra tố cáo trước cơ quan công an.

    3. Cách xác định tội phạm?

    Kính chào công ty luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề thắc mắc mong được công ty giải quyết giúp tôi như sau:

    D đang có tiền án về tội cướp giật tài sản, lại bị xét xử về tội đánh bạc và bị Tòa án tuyên phạt 2 năm tù. Khi vừa chấp hành xong hình phạt 2 năm tù về tội đánh bạc. Ra tù được 6 tháng, D đã cùng với K (bạn tù về tội đánh bạc cùng với D) thuê phòng trọ cùng nhau. Để có tiền tiêu sài, hàng ngày D dùng xe SH chở K, đi tìm “mục tiêu” để chiếm đoạt tài sản. Một buổi tối, phát hiện ngôi nhà 3 tầng không sáng đèn. Dũng dừng xe để K đứng ngoài “cảnh giới” rồi trèo lên cổng ngôi nhà, leo lên ban công tầng hai dùng xà beng mang theo, cậy cửa vào nhà.

    D lục soát một số phòng không thu được gì. Dũng thấy một phòng có ánh đèn lờ mờ, nên mở cửa vào phòng thì gặp Bà H (trên 70 tuổi) bị ốm, đang ngủ, Bà H thấy có người xuất hiện liền hô trộm, trộm… thấy vậy, D lao vào bịt miêng bà H và nói nhỏ vào tai bà H: “Nếu bà hô tôi sẽ giết”. Bà H sợ quá nằm im. D mở ngăn tủ lấy tiền USD và vàng, tổng số tài sản trị giá 450 triệu đồng. Khi ra ngoài, D không nói gì với K về việc gặp bà H khi lục tìm tài sản. Tài sản chiếm đoạt được hai tên bàn bạc chia nhau tiêu sài. Khoảng 10 ngày sau cả 2 tên bị bắt.

    1. Xác định tội danh của D và K.

    2. Nếu D khi lấy được tài sản và giao hết tài sản chiếm đoạt được cho K đem bán thì tội danh của K có thay đổi không?

    Trả lời:

    Đối với câu hỏi của bạn công ty Luật Minh Khuê xin hỗ trợ bạn trả lời như sau:

    Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;e) Tái phạm nguy hiểm.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

    Hành vi của D không dừng lại ở mức lén lút lấy trộm tài sản nữa mà là đe dọa sẽ dùng vũ lực nhằm uy hiếp tinh thần bà H để chiếm đoạt tài sản, đây là hành vi thuộc cấu thành tội phạm của tội cưỡng đoạt tài sản.

    Còn K sẽ phạm vào tội trộm cắp tài sản với vai trò là người đồng phạm.

    1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù atừ 06 tháng đến 03 năm:a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;đ) Tài sản là di vật, cổ vật.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;đ) Hành hung để tẩu thoát;e) Tài sản là bảo vật quốc gia;g) Tái phạm nguy hiểm.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

    Biểu hiện cụ thể của tội phạm trộm cắp là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. “Chiếm đoạt” là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình. “Lén lút” là hành vi cố ý giấu diếm, vụng trộm không để lộ ra nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác; việc che giấu có thể là che giấu toàn bộ (với tất cả mọi người) hoặc công khai trước sự chứng kiến của nhiều người nhưng vẫn che giấu hành vi phạm tội với chủ tài sản…

    “1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

    2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

    3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

    Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

    Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

    Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

    Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

    4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành

    Về việc sau khi chiếm đoạt tài sản D giao tài sản cho K đi bán thì theo quan điểm của chúng tôi thì tội danh của K vẫn không thay đổi bởi vì đây là giai đoạn sau khi thực hiện xong hành vi phạm tội việc K làm ở đây là hành vi tẩu tán tài sản và D và K đã bàn bạc trước với nhau rồi.

    4. Phòng vệ chính đáng hay thực hiện tội phạm?

    Xin chào luật Minh Khuê, Tôi đang công tác tại một công ty trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Vừa qua do một số công nhân làm ăn không nghiêm túc…..tôi đã không giao việc cho họ mà giao cho người khác làm….

    Xuất phát lý do trên nên ngày 07/7/2018 có hai vợ chồng công nhân trong số trên đã chửi tôi và vợ tôi (chửi thô tục). Đồng thời đập bàn ghế tại công ty, đe dọa giết tôi, chặt tay chân……thời gian kéo dài khiến tôi áp lực thần kinh không giữ được bình tĩnh. Quả thật tôi đã từng có ý định dùng gậy mục đích đánh què chân (không có ý định giết). Tuy nhiên tôi nín nhịn cho qua chuyện bởi tôi còn nhiều việc khác phải làm.

    – Đặt vấn đề: nếu hiện tượng trên còn tái diễn và tôi thực hiện ý định như đã nêu trên thì xin hỏi Luật sư: – Tôi có thực sự là phòng vệ chính đáng? ( Hoặc nếu người kia cầm dao hoặc hung khí khác đe dọa….) mà vì an toàn tôi chống lại gây thương tích nặng. (Hoặc qua bức xúc mà quá tay gây chết người) thì tôi có phạm tội gì không?

    – Xin Luật sư có lời khuyên. Xin chân thành cảm ơn !

    Điều 22. Phòng vệ chính đáng1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

    c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;…e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

    Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên.3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

    Việc tịch thu, sung quỹ Nhà nước được áp dụng đối với:

    + Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

    + Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứấy mà có;

    + Vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành.

    Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

    Vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho ngưòi phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước.

    Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự – Công ty luật Minh Khuê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Ý Nghĩa Của Cấu Thành Tội Phạm
  • Cấu Thành Tội Phạm: Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Các Dấu Hiệu
  • Khái Niệm Và Các Dấu Hiệu Của Tội Phạm
  • Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Khái Niệm, Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia Là Gì ? Dấu Hiệu Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia, Xâm Phạm Lãnh Thổ ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giao Duc Quoc Phong An Ninh 11
  • Xây Dựng Nền Quốc Phòng Toàn Dân, Anh Ninh Nhân Dân Bảo Vệ Tổ Quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Qpan: Xây Dựng Nền Qptd, Annd
  • Bài 2. Một Số Hiểu Biết Về Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân K12 Nen Qptd Annd Docx
  • Tăng Cường Xây Dựng Tiềm Lực Kinh Tế, Đáp Ứng Yêu Cầu Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Điều 111, bộ luật hình sự năm 2022, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2022 quy định về tội xâm phạm an ninh lãnh thổ, cụ thể:

    Người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt như sau:

    1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân;

    2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm;

    3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    Còn theo quy định tại Điều 81, luật hình sự năm 1999 quy định tội danh:

    Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ

    Người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt như sau:

    1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân;

    2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

    .

    PHÂN TÍCH MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TỘI DANH: 1. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 111 Bộ luật hình sự năm 2022, sửa đổi bổ sung năm 2022)

    An ninh lãnh thổ là một nội dung quan trọng của an ninh quốc gia. Do vậy, hành vi xâm phạm an ninh lãnh thổ được coi là một dạng hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia. Hành vi này vi phạm nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của luật quốc tế. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ được quy định là “xâm nhập lãnh thổ, cỏ hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

    * về trường hợp phạm tội thứ nhất’. Xâm nhập lãnh thố Việt Nam nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hoàXHCNViẹt Nam

    Đây là trường hợp chủ thể CÓ hành vi vượt biên giới (trên đất liền, trên biển, trên không) vào lãnh thổ Việt Nam một cách vực biên giới V.V.. Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý và với mục đích gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của Việt Nam.

    Khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được quy định cho người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.(1)

    Khung hình phạt tù từ 05 năm đến 15 năm được quy định cho những người đồng phạm khác.

    Khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được quy định cho chuẩn bị phạm tội.

    Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là những tội phạm mang tính nguy hiểm đặc biệt cao vì nó xâm phạm tới những quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt. Đó là độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội, chế độ nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì việc xây dựng, hoàn thiện các quy định về loại tội phạm này có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

    Trong Bộ luật hình sự năm 1999, các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại chương đầu tiên của phần các tội phạm – chương XI (từ Điều 78 đến Điều 92). Nhìn chung, các quy định trong chương này đã được xây dựng một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn, song vẫn còn một số quy định chưa hợp lí, chưa lô gíc và khoa học về mặt kĩ thuật lập pháp. Cụ thể như sau:

    2. Về Tội Phản bội Tổ quốc (Điều 78 Bộ luật hình sự) và Tội Gián điệp (Điều 80 Bộ luật hình sự)

    Theo quy định tại Điều 78, “Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì bị xử lý về Tội phản bội Tổ quốc.

    Khoản 1 – Điều 80 quy định về Tội gián điệp: “Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

    a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;

    c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

    Từ quy định tại Khoản 1 – Điều 80 Bộ luật hình sự, có thể thấy Điểm b và Điểm c quy định hành vi khách quan của chủ thể là công dân Việt Nam. Qua việc sử dụng các cụm từ “theo sự chỉ đạo của nước ngoài”, “giúp người nước ngoài”, “cho nước ngoài”, “để nước ngoài sử dụng”, các nhà làm luật cho rằng đối với chủ thể là công dân Việt Nam thì hành vi phạm tội chỉ cấu thành tội gián điệp nếu xuất hiện “yếu tố nước ngoài”.

    Trong khi đó, đặc trưng của Tội Phản bội Tổ quốc (Điều 78) cũng là yếu tố chủ thể (công dân Việt Nam) và hành vi khách quan gắn với “yếu tố nước ngoài”, cụ thể là hành vi “câu kết với nước ngoài”.

    Về vấn đề này, đã có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những giải thích để chứng minh “yếu tố nước ngoài” trong hai tội là khác nhau, song thực tế cho thấy công dân Việt Nam bằng một trong những hành vi “Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại” (điểm b – khoản 1 – Điều 80) hay “Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” (điểm c – khoản 1 – Điều 80) để thực hiện tội phạm thì không thể nói là không có sự liên hệ chặt chẽ (câu kết) với nước ngoài.

    Từ sự phân tích trên, thiết nghĩ các nhà làm luật nên nghiên cứu để mở rộng phạm vi cấu thành tội phạm Tội phản bội Tổ quốc theo hướng: bất kỳ hành vi nào của công dân Việt Nam có sự liên hệ với nước ngoài nhằm gây phương hại cho nền an ninh quốc gia đều bị xử lý về Tội phản bội Tổ quốc. Theo đó, kể cả hành vi gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại, cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài, thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là hành vi khách quan của Tội phản bội Tổ quốc. Vì thế mà chủ thể của Tội gián điệp chỉ có thể là người nước ngoài với các hành vi đặc trưng của Tội gián điệp là: điều tra, thu thập tin tức tình báo chống lại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    3. Về Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79 Bộ luật hình sự)

    Điều 79 Bộ luật hình sự quy định hành vi khách quan của tội phạm là “hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Từ quy định này có thể thấy chỉ phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân nếu người phạm tội đã có một trong hai hành vi:

    – Hành vi thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân: là hành vi của những người đề xướng chủ trương, đường lối, vạch kế hoạch hoạt động của tổ chức hoặc viết cương lĩnh, điều lệ, hiệu triệu, tuyên truyền, lôi kéo người khác vào tổ chức nhằm lật đổ chính quyền.

    – Hành vi tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân: là hành vi gia nhập tổ chức khi biết rõ tổ chức ấy có mục đích lật đổ chính quyền, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, tán thành và tích cực hoạt động theo mục tiêu, kế hoạch của tổ chức đó.

    Như vậy, nếu dùng tên của điều luật là “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” thì hành vi khách quan sẽ còn bao gồm nhiều hành vi khác nữa bởi “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” được hiểu là tất cả các hành vi (chứ không chỉ riêng hai hành vi thành lập và tham gia tổ chức) nhằm thực hiện mục đích cuối cùng là lật đổ chính quyền nhân dân. Điều đó có nghĩa là nội dung và tên gọi của Điều 79 đã có sự mâu thuẫn. Để khắc phục vấn đề này, nên đổi tên Điều 79 Bộ luật hình sự hiện hành thành “Tội thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

    3. Về Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 84 Bộ luật hình sự)

    Điều 84 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân…”

    Đây là một trong những điều luật đã bộc lộ lỗi về kỹ thuật lập pháp, thể hiện sự rườm rà trong lối diễn đạt. Cụ thể là: khi mô tả đối tượng tác động của tội phạm, các nhà làm luật đã xác định đó là “cán bộ, công chức hoặc công dân”. Dễ nhận thấy rằng khái niệm “công dân” đã bao hàm cả “cán bộ, công chức”. Do đó, thay vì quy định đối tượng tác động của tội khủng bố là “cán bộ, công chức hoặc công dân” nên sử dụng ngắn gọn là “con người”, theo đó điều luật sẽ là: “Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của con người…”

    4. Về Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 87) và Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88)

    Theo quy định tại Điều 87 Bộ luật hình sự, hành vi khách quan của Tội phá hoại chính sách đoàn kết gồm bốn hành vi sau:

    – Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;

    – Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

    – Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội;

    – Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.

    Theo quy định tại Điều 88 Bộ luật hình sự, hành vi khách quan của Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm ba hành vi sau:

    – Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

    – Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhan dân;

    – Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Thực tế đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấy: để phá hoại chính sách đoàn kết (thông qua việc thực hiện một trong các hành vi: gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội; gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế), người phạm tội phải sử dụng các thủ đoạn tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam giống như những biểu hiện về hành vi trong Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tức là tuyên truyền hoặc là làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung phá hoại chính sách đoàn kết). Điều này có nghĩa là: người nào thực hiện hành vi tuyên truyền chống nhà nước để phá hoại chính sách đoàn kết thì xử lý về Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 87 Bộ luật hình sự), nếu không xác định được mục đích này thì mới xử lý về Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88 Bộ luật hình sự). Thiết nghĩ, các nhà làm luật nên xoá bỏ Tội phá hoại chính sách đoàn kết bởi vì tội này chỉ là một trong những hình thức biểu hiện của Tội tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Ngoài những vấn đề đã trình bày trên, thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm an ninh quốc gia của các lực lượng chức năng còn gặp những vướng mắc do chưa có sự thống nhất về cách hiểu đối với một số thuật ngữ được sử dụng để mô tả các tội xâm phạm an ninh quốc gia ở Chương XI Bộ luật hình sự. Chẳng hạn như cụm từ “nước ngoài” được sử dụng trong Điều 78, Điều 80 cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể khiến cho xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau khi giải thích (là người nước ngoài, là cơ quan tình báo nước ngoài, là chính phủ nước ngoài, là tổ chức phi chính phủ nước ngoài, là các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài… hay là tất cả các chủ thể đó). Hoặc khái niệm “cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” cũng chưa được hướng dẫn một cách rõ ràng khiến cho có nhiều cách hiểu khác nhau.

    Tóm lại, để góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung, quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia nói riêng, các nhà làm luật cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng:

    Một là, khắc phục sự giao thoa, chồng chéo về nội dung của một số điều luật bằng cách lược bỏ một số hành vi (như trong Tội gián điệp), thậm chí lược bỏ cả những tội danh (như Tội phá hoại chính sách đoàn kết) mà nội dung của điều luật khác đã bao hàm trong đó.

    Hai là, đổi tên Điều 79 Bộ luật hình sự từ “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” thành “Tội thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” cho phù hợp với nội dung được quy định trong điều luật.

    Ba là, thay cụm từ “cán bộ, công chức hoặc công dân” khi mô tả đối tượng tác động của tội Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 84 Bộ luật hình sự) bằng cụm từ “con người” cho đảm bảo tính khoa học, súc tích của một văn bản pháp luật.

    Bốn là, ban hành các văn bản giải thích một số thuật ngữ được sử dụng để mô tả các tội xâm phạm an ninh quốc gia mà trên thực tế đang còn nhiều tranh cãi sao cho cả việc nhận thức và áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm an ninh quốc gia được thống nhất và chính xác hơn.

    Trân trọng cảm ơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Các Tội Phạm Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia
  • Báo Cáo Của Bộ Nn&ptnt Tại Phiên Giải Trình Về An Ninh Nguồn Nước Và An Toàn Đập.
  • An Ninh Nguồn Nước Và Quyền Tiếp Cận Nước Sạch Của Người Dân
  • An Ninh Nguồn Nước: Ẩn Chứa Những Bất An
  • An Ninh Nguồn Nước Là Vấn Đề Hàng Đầu Của An Ninh Môi Trường Trên Toàn Cầu
  • Khái Niệm Tội Xâm Phạm Hoạt Động Tư Pháp (Điều 367)

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Có Tính Chất Chiếm Đoạt, Hot
  • Định Nghĩa Truyện Cười Lớp 6
  • Soạn Bài Tam Đại Con Gà Văn Học Lớp 10
  • Soan Bài Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày Văn Học Lớp 10
  • Sách Giáo Khoa Sinh Học Lớp 6
  • 1. Điều 292 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định khái niệm về các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp theo hướng hẹp, chỉ trong phạm vi hoạt động của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử, thi hành án và do đó, chưa bao quát hết phạm vi các chủ thể tham gia hoạt động tư pháp. Bộ luật hình sự năm 2022 mở rộng khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp một cách khái quát ” là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án”.

    2. Hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi có khả năng làm cho các hoạt động tố tụng và thi hành án trở nê không bình thường, không đúng đắn. Tính đúng đắn ở đây được hiểu là hoạt động theo đúng pháp luật, trên cơ sở pháp luật và theo tinh thần của pháp luật. Như vậy, khách thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Khách thể trực tiếp của tội xâm phạm hoạt động tư pháp còn có thể là các quan hệ nhân thân được thể hiện dưới hình thức quyền và lợi ích chính đáng của con người hay quan hệ sở hữu.

    3. Về hành vi khách quan. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp có thể được thể hiện dưới hình thức vi phạm các quy định pháp luật trong hoạt động tư pháp. Các quy định này nhằm đảm bảo cho cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoạt động một cách đúng đắn. Đó có thể là các quy định của pháp luật về nội dung cũng như pháp luật về hình thức trong tất cả các lĩnh vực hình sự, dân sự hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính, đất đai,…

    Hành vi xâm, phạm hoạt động tư pháp có thể là hành động như trong trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, ép buộc nhân viên tư pháp làm trái luật…Cũng có thể được thực hiện bằng không hành động như trong trường hợp thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn không thi hành án, không tố giác tội phạm.

    Xét về tính chất, hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp có thể là:

    + Hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn vi phạm quy định của pháp luật.

    + Lợi dụng chức vụ, quyền hạn ép buộc, mua chuộc để người người khác vi phạm pháp luật.

    + Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các phán quyết của cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án.

    + Hành vi không thực hiện nghĩa vụ công dân giúp đỡ các cơ quan tư pháp thực hiện nhiệm vụ của mình.

    Hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà các tội xâm phạm họat động tư pháp gây ra hoặc có thể gây ra trước hết là thiệt hại cho hoạt động tư pháp. Thiệt hại này có thể được thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như làm sai lệch tiến trình tố tụng, cản trở quá trình tố tụng.

    Bên cạnh các thiệt hại mà tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp gây ra hoặc có thể gây ra cho hoạt động bình thường của các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng, chúng còn gây ra những thiệt hại khác như thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước (thí dụ như quyền bất khả xâm phạm về tự do thân thể, về chỗ ở, các quyền tự do, dân chủ của công dân).

    4. Chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

    Chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp có thể là chủ thể đặc biệt hoặc chủ thể thường tuy thuộc vào từng tội phạm cụ thể. Có thể phân chia thành các nhóm sau:

    + Các bộ nhân viên của cơ quan tư pháp có nghĩa vụ thực hiện hoạt động tố tụng.

    + Người của các cơ quan tổ chức bổ trợ tư pháp có trách nhiệm thực hiện các hoạt động bổ trợ tư pháp

    + Các cá nhân khác có chức vụ quyền hạn hoặc không có chức vụ quyền hạn.

    5. Mặt chủ quan của tội xâm phạm hoạt động tư pháp

    Tất cả các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn – Điều 376) đều được thực hiện do cố ý.

    Động cơ và mục đích của tội phạm không phải là dấu hiệu định tội trong tất cả các cấu thành tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dấu Hiệu Pháp Lý Của Nhóm Các Tội Xâm Phạm Tính Mạng, Sức Khỏe, Nhân Phẩm, Danh Dự Của Con Người Được Quy Định
  • Các Tội Xâm Phạm Tính Mạng, Sức Khỏe, Danh Dự, Nhân Phẩm
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Xâm Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm Của Con Người Nhằm Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Xã Hội Theo Tinh Thần Hiến Pháp 2013
  • Thế Nào Là Bị Xúc Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm?. Chế Tài Xử Lý. , Hãng Luật Anh Bằng
  • Tội Xúc Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm Của Người Khác Theo Quy Định Của Pháp Luật Hình Sự ?
  • Khái Niệm Tội Phạm Và Tình Hình Tội Phạm Trong Tội Phạm Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tội Phạm Là Gì? Bình Luận Tội Phạm Theo Quy Định Bộ Luật Hình Sự
  • Khái Niệm Tội Phạm Theo Quy Định Của Pháp Luật Hình Sự Hiện Hành
  • Phân Tích Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Truyện Cười Là Gì, Phân Loại Truyện Cười
  • Định Nghĩa Ung Thư Là Gì?
    • 16/06/2020
    • Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

    1. Tư vấn về tội phạm

    Tội phạm là khái niệm pháp lí và là khái niệm khoa học. Khái niệm này dùng để chỉ tất cả những hành vi được luật hình sự quốc gia hoặc quốc tế xác định mà chủ thể thực hiện phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt. Nếu bạn chưa nghiên cứu về vấn đề này, bạn có thể liên hệ tới Luật Minh Gia, luật sư sẽ tư vấn cho bạn những nội dung tư vấn sau đây:

    + Khái niệm tội phạm theo quy định bộ luật hình sự;

    + Dấu hiệu của những hành vi bị coi là tội phạm;

    + Tình hình tội phạm trong tội phạm học;

    Tất cả những hành vi bị coi là tội phạm đều có cùng bản chất xă hội và những đặc điểm nhất định. Trước hết, tội phạm là hiện tượng xă hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật hình sự vì trái với chuẩn mực xă hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác. Nó là hiện tượng xă hội-pháp lí.

    Tội phạm không chỉ là hiện tượng xă hội được phản ánh trong luật hình sự mà đồng thời cũng là hiện tượng xă hội được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu, trong đó có khoa học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự và tội phạm học đều là khoa học về tội phạm. Tuy nhiên, khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự là khoa học về tội phạm có tính pháp lí, còn tội phạm học và khoa học điều tra tội phạm là khoa học về tội phạm không có tính pháp lí (1) hay nói cách khác là khoa học về tội phạm hiện thực.

    Khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng mỗi ngành đều có nội dung mục đích nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu riêng về đối tượng này. Theo đó, trong một số ngôn ngữ tồn tại hai khái niệm khác nhau được dùng trong hai ngành khoa học này. Ví dụ: Trong tiếng Đức, khái niệm Kriminalität được dùng trong tội phạm học còn khái niệm Straftat được dùng trong luật hình sự. (2) Trong tiếng Việt cũng như trong một số ngôn ngữ khác, chỉ có một khái niệm được dùng cả trong khoa học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng bị pháp luật coi là tội phạm ở các nội dung chính sau:

    – Dấu hiệu (đặc điểm) chung của những hành vi bị coi là tội phạm (dấu hiệu về nội dung chính trị-xă hội, dấu hiệu về hình thức pháp lí);

    – Cấu trúc chung của những hành vi bị coi là tội phạm (bốn yếu tố của tội phạm);

    – Dấu hiệu và cấu trúc (bốn yếu tố cấu thành) của từng nhóm tội cũng như của từng loại tội phạm cụ thể;

    – Kĩ thuật phản ánh tội phạm trong luật hình sự (cấu thành tội phạm)…

    Với nội dung như vậy, khoa học luật hình sự phục vụ việc quy định tội phạm trong luật cũng như phục vụ việc giải thích và nhận thức luật để áp dụng. Qua đó, khoa học luật hình sự phục vụ nhiệm vụ truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.

    Tội phạm học nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng tội phạm đă xảy ra trên thực tế ở các nội dung chính sau:

    – Tình hình tội phạm đă xảy ra;

    – Nguyên nhân làm phát sinh tội phạm đă xảy ra;

    – Biện pháp có thể hạn chế, phòng ngừa tội phạm…

    Như vậy, khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng theo hai nghĩa khác nhau. Do có sự khác nhau này mà ở một số quốc gia có hai khái niệm cùng có nghĩa tiếng Việt là tội phạm – một được sử dụng trong khoa học luật hình sự và một được sử dụng trong tội phạm học. Ở các quốc gia không có hai khái niệm khác nhau mà chỉ có một như Việt Nam, mọi người buộc phải hiểu khái niệm tội phạm theo hai nghĩa. (3)

    Với nội dung nghiên cứu riêng của mình, tội phạm học phục vụ trực tiếp việc cảnh báo tội phạm và hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, cộng đồng và người dân có biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp. Để thực hiện nhiệm vụ này, tội phạm học cần có hệ thống các khái niệm làm công cụ nghiên cứu. Tình hình tội phạm (THTP) là một trong những khái niệm được dùng tương đối phổ biến ở Việt Nam khi nghiên cứu về tội phạm học. (4) Trong hầu hết các công trình nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng về tội phạm học ở Việt Nam hiện nay, từ giáo trình đại học, sách nghiên cứu đến luận án tiến sĩ đều sử dụng khái niệm THTP. (5) Có điều tác giả của những công trình này hiểu khái niệm THTP theo nội dung không thống nhất. Do vậy, tình trạng hiểu không rõ ràng, không thống nhất về khái niệm THTP ở người học cũng như người đọc nói chung là không tránh khỏi. Nhiều quan điểm, ý kiến không rõ ràng, không thống nhất trong nghiên cứu tội phạm học có nguyên nhân từ cách hiểu không thống nhất về khái niệm THTP.

    Câu hỏi được đặt ra ở đây: Phải hiểu khái niệm THTP như thế nào?

    Theo “Đại từ điển tiếng Việt” thì “tình hình” được hiểu là “Trạng thái, xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng với tất cả những sự kiện diễn ra, biến đổi ở trong đó”. (6)

    Từ đó, chúng ta có thể hiểu THTP là trạng thái, xu thế vận động của tội phạm. Khi nói THTP có thể hiểu là tình hình của tội phạm nói chung hoặc của nhóm tội như nhóm tội xâm phạm sở hữu hoặc của tội cụ thể như tội giết người. Đồng thời khi nói THTP bao giờ cũng phải gắn với không gian và khoảng thời gian nhất định, vì tội phạm luôn xảy ra trong không gian và thời gian xác định. Do vậy, có thể định nghĩa đầy đủ về THTP như sau:

    THTP là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định.

    Với định nghĩa này có thể phân biệt rõ giữa tội phạm và THTP. Đó là sự khác nhau giữa bản thân hiện tượng với trạng thái và xu thế vận động của hiện tượng đó.

    Loại định nghĩa khác về THTP là những định nghĩa thể hiện sự không rõ ràng giữa tội phạm với THTP. Ví dụ như định nghĩa sau: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xă hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình lịch sử; được thể hiện ở tổng hợp các tội phạm cụ thể đă xảy ra trong xă hội và trong khoảng thời gian nhất định”. (9) Hoặc: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xă hội, pháp lí tiêu cực, được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xă hội (quốc gia) nhất định và khoảng thời gian nhất định”. (10) Hoặc: “Tình trạng phạm tội là hiện tượng xă hội tiêu cực mang thuộc tính xă hội, thường xuyên thay đổi, giai cấp, pháp luật hình sự và được phản ánh bằng toàn bộ tình hình, cơ cấu, diễn biến của tổng thể các loại hoặc của một loại tội phạm đă xảy ra trong khoảng thời gian nhất định và trong một phạm vi nhất định”. (11)

    Các công trình nghiên cứu về tội phạm học không có định nghĩa về THTP thường theo hướng không phân biệt rõ giữa tội phạm và THTP.

    Từ sự không rõ ràng giữa tội phạm với THTP dẫn đến sự không thống nhất trong trình bày một số nội dung giữa các tác giả trong cùng công trình nghiên cứu cũng như của chính một tác giả. Điều này có thể khiến người đọc cho rằng các tác giả đă sử dụng khái niệm tội phạm và khái niệm THTP như hai khái niệm có thể thay thế cho nhau. (12) Ví dụ: Trong cuốn “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, các tác giả khi xác định đối tượng nghiên cứu của tội phạm học đă không thống nhất giữa “nguyên nhân và điều kiện của tội phạm” hay “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm”. Có tác giả viết “nguyên nhân và điều kiện của tội phạm” (tr. 5); có tác giả viết “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” (tr. 81). Điều đáng chú ý hơn là ở chỗ: Kể cả tác giả thuộc quan điểm cho rằng đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” vẫn có nhiều đoạn viết không phù hợp với quan điểm này. Ví dụ như đoạn viết: “… và cũng có những hiện tượng xă hội mà chính chúng lại làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm phát triển và được gọi là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. … Bản chất, các đặc điểm của tội phạm chỉ có thể được làm rõ khi người nghiên cứu đồng thời xem xét các mối liên hệ biện chứng với các quá trình và hiện tượng khác trong đó có các quá trình và hiện tượng là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm”. (13) Trong giáo trình tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội, các tác giả đều thống nhất khẳng định đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là: Tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm… Nhưng nhiều lập luận của các tác giả lại thể hiện có sự đồng nhất giữa tội phạm với THTP. Ví dụ như đoạn phân tích sau: “Căn cứ vào mức độ tác động của các ảnh hưởng, quá trình xă hội, nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội còn được phân chia làm các loại sau đây:

    – Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung;

    – Nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm nhất định;

    – Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể…” (14)

    Với đoạn viết trên, người đọc có thể hiểu: Tác giả của giáo trình muốn thể hiện có tội phạm nói chung, có loại tội phạm và có tội phạm cụ thể. Tương ứng với sự phân loại này cũng có ba loại nguyên nhân và điều kiện. Đó là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm…; nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm…; nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhất định. Như vậy, ở đây, tác giả có sự đồng nhất giữa tội phạm nói chung với THTP. Khi nói nguyên nhân và điều kiện của tội phạm (nói chung) tác giả thể hiện: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm”; còn khi nói nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội phạm và của loại tội phạm cụ thể thì tác giả lại thể hiện: “Nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm hoặc của tội phạm cụ thể”. (15) Sự đồng nhất THTP với tội phạm (nói chung) như vậy cũng được thể hiện trong lập luận của một số tác giả khác. Ví dụ: Trong cuốn “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, tác giả viết: “Chúng ta có thể nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung, có thể nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của một nhóm tội hoặc một loại tội” (tr. 195) hoặc “Mối quan hệ giữa tội phạm và tình hình tội phạm là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng”. (16) Theo nghĩa triết học, chỉ có quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” khi nói tội phạm với tội phạm cụ thể hoặc với nhóm tội phạm cụ thể. Ở đây, tội phạm là “cái chung” còn tội A hay tội B cũng như nhóm tội C hay nhóm tội D là “cái riêng”. Theo chúng tôi, khi khẳng định THTP là “cái chung” và tội phạm là “cái riêng” tác giả đă quan niệm tội phạm nói ở đây là tội phạm cụ thể và THTP được hiểu là tội phạm nói chung. Do quan niệm THTP là tội phạm nói chung nên các tác giả này mới viết: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” (nghĩa là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nói chung) hoặc viết “Phòng ngừa tình hình tội phạm” (nghĩa là phòng ngừa tội phạm nói chung). Do quan niệm về THTP như vậy nên các tác giả này cũng gắn những đặc điểm của tội phạm như tính trái pháp luật hình sự, tính lịch sử… cho THTP. Nhưng khi phân tích về nội dung của THTP thì các tác giả lại quan niệm THTP đúng như chúng tôi quan niệm (Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định).

    Vậy vấn đề đặt ra cần phải hiểu khái niệm THTP như thế nào? Khái niệm đó có thật cần thiết cho tội phạm học không?

    Chúng ta không thể sử dụng khái niệm THTH cùng một lúc theo hai nghĩa khác nhau: THTP là khái niệm chỉ tội phạm nói chung và THTP là khái niệm chỉ trạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Về mặt ngôn ngữ thì khái niệm THTP phải được hiểu theo nghĩa thứ hai. Đó là trạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Trong đó có THTP của tất cả các tội phạm (tội phạm nói chung – tất cả các tội danh); THTP của nhóm tội phạm (nhóm tội danh) và THTP của từng tội phạm (tội danh cụ thể). Tội phạm học nghiên cứu tội phạm ở một số nội dung. Trong đó có hai nội dung:

    – Nghiên cứu tội phạm về mức độ, tính chất và xu hướng vận động;

    – Nghiên cứu tội phạm về nguyên nhân phát sinh.

    Khái niệm THTP khi được hiểu như chúng tôi trình bày sẽ bao trùm hết các biểu hiện cụ thể của nội dung nghiên cứu thứ nhất nêu trên của tội phạm học. Thay vì nói: Mức độ, tính chất và xu hướng vận động của tội phạm chúng ta có thể nói THTP. Điều này thể hiện sự cần thiết của khái niệm THTP. Hơn nữa, khái niệm này đă là khái niệm quen thuộc, được sử dụng nhiều trong tội phạm học Việt Nam.

    Khi đă phân biệt rõ tội phạm với THTP trên cơ sở hiểu THTP như định nghĩa nêu trên chúng ta có thể rút ra được các kết luận sau:

    – Nếu xem tội phạm là hiện tượng xă hội phát sinh bởi nguyên nhân nhất định thì THTP là “bức tranh tổng thể” của những hiện tượng – tội phạm đă xảy ra. Chính những tội phạm đă xảy ra tạo nên “bức tranh tổng thể” đó. Nghiên cứu THTP là nghiên cứu trạng thái của tội phạm và nghiên cứu xu hướng vận động của tội phạm. Đó là hai nội dung nghiên cứu về THTP và cách gọi phổ biến hiện nay là thực trạng và động thái của tội phạm.

    – Cùng với việc nghiên cứu THTP, tội phạm học còn nghiên cứu nguyên nhân làm phát sinh tội phạm để từ đó nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tội phạm có tính tổng thể. Đó là vấn đề nguyên nhân, điều kiện của tội phạm và vấn đề phòng ngừa tội phạm.

    – Tình hình tội phạm là “bức tranh tổng thể” của những tội phạm đă xảy ra nên giữa THTP với nguyên nhân của tội phạm có quan hệ nhất định với nhau. Tuy nhiên, không thể gắn nguyên nhân của tội phạm là nguyên nhân của tình hình tội phạm – “Cái” được tạo bởi các tội phạm đă xảy ra. Do vậy, không thể nói: “Nguyên nhân của tình hình tội phạm” cũng như không thể nói: “Phòng ngừa tình hình tội phạm”. (17)

    Từ định nghĩa: “Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định” có thể rút ra một số đặc điểm của THTP như sau:

    – Đặc điểm về phạm vi: Tình hình tội phạm luôn gắn với các phạm vi – phạm vi đối tượng, phạm vi không gian và phạm vi thời gian. Phạm vi đối tượng thường có ba mức độ: Phạm vi tất cả các tội phạm, phạm vi nhóm tội phạm (như nhóm tội tham nhũng, nhóm tội xâm phạm sở hữu…) và phạm vi tội phạm cụ thể (như tội giết người, tội nhận hối lộ…). Ngoài ra, các phạm vi đó còn có thể được giới hạn tiếp bởi đặc điểm nhất định của tội phạm (như giới hạn trong phạm vi những tội do người chưa thành niên thực hiện hoặc giới hạn trong phạm vi những tội cố ý…). Phạm vi về không gian có thể là phạm vi toàn quốc, phạm vi vùng (như các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long), phạm vi địa phương (như thành phố Hà Nội, tỉnh Sóc Trăng) hoặc phạm vi ngành, lĩnh vực (như lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực ngân hàng hoặc ngành tư pháp). Phạm vi thời gian có thể là khoảng thời gian 5 năm, 10 năm hoặc trong giới hạn bởi mốc bắt đầu và mốc kết thúc nào đó. Đặc điểm này của tình hình tội phạm đ̣i hỏi khi nghiên cứu THTP, người nghiên cứu phải xác định rõ ràng ngay từ đầu các phạm vi này. Trong cả quá trình nghiên cứu, các phạm vi này luôn phải được tuân thủ một cách thống nhất.

    – Đặc điểm về nội dung: Tình hình tội phạm luôn gắn với các đặc điểm về nội dung – đặc điểm về mức độ, đặc điểm về cơ cấu và tính chất, đặc điểm về xu hướng vận động. Đặc điểm về mức độ cùng với đặc điểm về cơ cấu và tính chất hợp thành đặc điểm về thực trạng của tội phạm. (18) Đặc điểm về xu hướng vận động thường được gọi là đặc điểm về động thái của tội phạm. Như vậy, đặc điểm về nội dung đ̣i hỏi người nghiên cứu THTP phải làm rõ đặc điểm về thực trạng và về động thái của tội phạm. (19)

    – Đặc điểm về tính phụ thuộc pháp lí và tính vận động: Tội phạm – hiện tượng xă hội tạo nên “bức tranh tình hình tội phạm” luôn có tính pháp lí vì được phản ánh trong luật hình sự. Chỉ những hiện tượng xă hội xảy ra đă được quy định trong luật hình sự mới có thể là “nguyên liệu” tạo ra “bức tranh tình hình tội phạm”. Thay đổi của luật sẽ làm thay đổi “nguyên liệu” và qua đó làm thay đổi “bức tranh”. Như vậy, có thể nói: THTP có tính phụ thuộc pháp lí. Đồng thời với đặc điểm này, THTP cũng có tính vận động – không ổn định theo thời gian và không gian. THTP có thể thay đổi do tội phạm luôn vận động theo quy luật dưới sự tác động của các hiện tượng, quá trình xă hội khác. Con người có thể chủ động tác động để THTP thay đổi theo hướng giảm thiểu qua việc áp dụng các biện pháp hạn chế, ngăn ngừa tội phạm. Đặc điểm này đ̣i hỏi người nghiên cứu phải chú ý đến các điều kiện kinh tế-xă hội và môi trường pháp lí trong đó có môi trường pháp lí hình sự khi xem xét, đánh giá THTP.

    – Đặc điểm về tính tuyệt đối và tính tương đối: Tình hình tội phạm luôn tồn tại khách quan và có thể nhận thức được nhưng chúng ta chỉ có thể nhận thức được gần đúng vì những lí do khách quan và chủ quan khác nhau. THTP mà chúng ta nhận thức được chỉ là THTP tương đối so với THTP thực là THTP tuyệt đối. Vấn đề đặt ra là cần loại trừ những yếu tố có thể làm sai lệch nhận thức để chúng ta đến gần nhất với THTP tuyệt đối.

    Tình hình tội phạm có thể được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau theo cấp độ và phạm vi.

    Theo cấp độ của tình hình tội phạm chúng ta có thể có tình hình tội phạm ở Việt Nam (cấp quốc gia); tình hình tội phạm ở vùng A, tình hình tội phạm ở tỉnh B (cấp địa phương); tình hình tội phạm ở ngành C (cấp ngành, lĩnh vực).

    Theo phạm vi của tình hình tội phạm chúng ta có thể có tình hình tội phạm ở… (phạm vi toàn bộ các tội phạm); tình hình các tội A ở… (phạm vi nhóm tội); tình hình tội B ở… (phạm vi tội cụ thể).

    Theo phạm vi tình hình tội phạm còn có thể được giới hạn bởi một số đặc điểm khác như đặc điểm về lỗi (giới hạn ở tội cố ý hay vô ý) về chủ thể (như giới hạn ở chủ thể của tội phạm là người chưa thành niên, ở chủ thể của tội phạm là phụ nữ v.v..)./.

    Chú thích:

    (1). Đây là quan điểm của một số nhà khoa học nước ngoài và chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm này. Xem: Hans-Dieter Schwind, Kriminologie, Kriminalistik Verlag, Heidelberg 1995, tr. 5.

    (2). Trong tiếng Đức, tội phạm học là Kriminologie và như vậy là cùng gốc với từ tội phạm – kriminalität được dùng trong tội phạm học.

    (3). Để phân biệt tội phạm trong tội phạm học với tội phạm trong khoa học luật hình sự có tác giả đă dùng trong tội phạm học khái niệm “tội phạm hiện thực” thay thế cho khái niệm tội phạm. (Xem: Can Ueda, Tội phạm và tội phạm học ở Nhật Bản hiện đại, Nxb. CAND, Hà Nội, 1994, tr. 28). Ở Việt Nam, nhiều tác giả lại dùng khái niệm “tình hình tội phạm” để thay thế cho khái niệm “tội phạm”. Về sự thay thế này chúng tôi có ý kiến nhận xét ở phần tiếp theo của bài viết.

    (4). Khái niệm này tương ứng với khái niệm Situation of crime (tiếng Anh) hoặc Situation der Kriminalität (tiếng Đức). Tuy nhiên, khái niệm này được sử dụng ở nước ngoài không phổ biến.

    (5). Cũng có công trình dùng khái niệm “tình trạng phạm tội” như Giáo trình tội phạm học của Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb. ĐHQGHN, 1999.

    (6).Xem: Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hoá – thông tin, H., 1999, tr. 1649.

    (7). Giáo trình tội phạm học của Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb. ĐHQGHN, 1999; Giáo trình tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, 2004; sách Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 1994; sách Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của chúng tôi Nguyễn Xuân Yêm, Nxb. CAND, 2001 là các công trình có định nghĩa tình hình tội phạm; sách “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb. CAND, 2000 là công trình không có định nghĩa về tình hình tội phạm.

    (8).Xem: Nguyễn Xuân Yêm, Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb. CAND năm 2001, tr. 24.

    (9).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. CAND, 2004, tr. 91.

    (10).Xem: Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CTQG, 1994, tr. 14.

    (11).Xem: Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. ĐHQGHN, 1999, tr. 60. (Tác giả dùng khái niệm tình trạng thay khái niệm tình hình).

    (12). Trong buổi toạ đàm ngày 8/4/2009 do Tạp chí luật học và Trung tâm tội phạm học của Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức, một số nhà khoa học đă khẳng định hai khái niệm này được dùng thay thế cho nhau.

    (13).Xem: Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. CAND, 2000, tr. 89.

    (14).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. CAND, 2004, tr. 136.

    (15). Cách lập luận này cũng thấy trong giáo trình tội phạm học của Đại học quốc gia Hà Nội. Trong giáo trình này, tác giả còn nói đến phòng ngừa tình trạng phạm tội và phòng ngừa các loại tội phạm cụ thể. Phòng ngừa tội phạm (nói chung) là phòng ngừa tình trạng phạm tội còn phòng ngừa các tội phạm cụ thể là phòng ngừa tội phạm. Như vậy, tình trạng phạm tội đồng nhất với tội phạm (nói chung) (xem các trang 30, 31).

    (16).Xem: Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb. CAND, 2000; tr. 44. (Thực ra ở đây tác giả cũng đă viết ngược với suy nghĩ của mình – đúng ra là “Mối quan hệ giữa tội phạm và tình hình tội phạm là mối quan hệ giữa “cái riêng” và “cái chung”).

    (17). Trong đời sống có thể nói “nguyên nhân của tình hình tội phạm ” cũng như “phòng ngừa tình hình tội phạm “. Nhưng cách nói này không chính xác. “Nguyên nhân” trước hết làm phát sinh tội phạm và trên cơ sở tội phạm xảy ra mà có “bức tranh” tình hình tội phạm. Tương tự như vậy, “phòng ngừa” là phòng ngừa, hạn chế tội phạm xảy ra và qua đó làm thay đổi “bức tranh” tình hình tội phạm theo hướng tích cực…

    (18). Trong các công trình nghiên cứu khác, đặc điểm thực trạng được coi đồng nhất với đặc điểm mức độ. Theo chúng tôi khi nói đến thực trạng phải nói đến thực trạng về lượng (mức độ) và thực trạng về chất (tính chất và cơ cấu).

    (19). Về nội dung của thực trạng và động thái của tội phạm, xem: Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. CAND, 2008, tr. 219 – 228.

    GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa – Theo: Tạp chí Luật học, số 07 năm 2009

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Tội Phạm
  • Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự
  • Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Tội Phạm Theo Luật Hình Sự Mới 2022
  • Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam
  • Sự Vật Là Gì? Tại Sao Sự Vật Hay Đi Cùng Với Hiện Tượng?
  • Vấn Đề Chuyển Hóa Tội Danh Trong Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Của Chế Độ Sở Hữu Toàn Dân Đối Với Đất Đai
  • Bài 16. Quyền Sở Hữu Tài Sản Và Nghĩa Vụ Tôn Trọng Tài Sản Của Người Khác Bai 1617 Pptx
  • Bài 16. Quyền Sở Hữu Tài Sản Và Nghĩa Vụ Tôn Trọng Tài Sản Của Người Khác
  • Chủ Thể Của Quan Hệ Sở Hữu Là Ai? Theo Quy Định Của Pháp Luật Dân Sự
  • Một Số Đặc Điểm Giao Tiếp Của Sinh Viên Khoa Sư Phạm Trường Đại Học Tây Nguyên
  • Thực tiễn áp dụng các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế hiện nay, Quản lý hành chính là chức năng cơ bản và là bộ phận quan trọng nhất của hoạt động quản lý xã hội. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính ở nước ta còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do công tác đấu tranh phòng

    Quản lý hành chính là chức năng cơ bản và là bộ phận quan trọng nhất của hoạt động quản lý xã hội. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính ở nước ta còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm này vẫn còn một số hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu một các có hệ thống quy định của Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, đánh giá tổng thể “bức tranh” thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự nước ta và những giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định này.

    Chương 1. Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

    Chương 2. Quy định pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính và thực tiễn áp dụng các quy định này.

    Chương 3. Yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ Luật Hình Sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định này.

    Tập 1 – Luật sư và hành nghề luật sư: Giới thiệu những nội dung cơ bản về Luật sư và nghề luật sư. Ngoài ra, Tập 1 cũng đề cập các vấn đề cơ bản nhưng đặc biệt quan trọng mà mỗi Luật sư cần quan tâm, như: Thù lao luật sư; Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư; Hợp đồng dịch vụ pháp lý; Chế độ tài chính, kế toán và thuế mà Tổ chức hành nghề luật sư cần tuân thủ,…

    Tập 2 – Kỹ năng hành nghề luật sư trong tố tụng hình sự, hành chính, dân sự: Giới thiệu những kỹ năng hành nghề của Luật sư khi tham gia tranh tụng trong các vụ án hình sự, hành chính, . Ngoài ra, Tập 2 cũng cung cấp một số vấn đề cơ bản và những kỹ năng mà Luật sư cần có khi tham gia tố tụng trọng tài.

    Tập 3 – Kỹ năng hành nghề luật sư tư vấn trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại: Giới thiệu những kỹ năng hành nghề của Luật sư trong lĩnh vực tư vấn đầu tư, kinh doanh, thương mại, đặc biệt là các lĩnh vực xây dựng, mua bán – sáp nhập (M&A), bất động sản,… Bên cạnh đó, Tập 3 còn cung cấp một số quy trình tư vấn cũng như mẫu văn bản tư vấn cụ thể mà các Luật sư có thể tham khảo khi thực hiện các dịch vụ tư vấn đặc thù.

    Bộ Sổ tay luật sư (3 tập) thực sự là món quà có ý nghĩa của lớp luật sư đàn anh gửi tặng cho các thế hệ đi sau. Tuy nhiên, do đây là công trình của nhiều tác giả và được biên soạn trong một thời gian ngắn nên chắc chắn sẽ còn một số thiếu sót. Mặt khác, lần xuất bản đầu tiên là cấp phát nên đối tượng tiếp cận còn hạn chế. Vì vậy, tập thể tác giả và Nhà xuất bản đã rất cố gắng để lần tái bản này cuốn sách được đến tay nhiều đối tượng hơn.

    Các tác giả và Nhà xuất bản rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để bộ sách tiếp tục được hoàn thiện trong những lần xuất bản

    Ngày 14/6/2019, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV đã thông qua số 41/2019/QH14, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2020.

    Luật Thi hành án hình sự 2022 gồm 16 Chương với 207 Điều, trong đó có những quy định mới nổi bật về chế độ quản lý, giam giữ, giáo dục phạm nhân: Người bị bệnh nặng phải trưng cầu giám định y khoa; bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ của phạm nhân; phải kiểm tra thân thể phạm nhân trước khi đưa vào buồng giam; người đồng tính được bố trí giam riêng; thân nhân được gửi tiền qua đường bưu điện cho phạm nhân; người bị án treo có thể được rút hết thời hạn thử thách; quy định về thi hành án hình sự với pháp nhân thương mại…

    Nhằm góp phần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Luật Thi hành án hình sự mới, đồng thời giải đáp các tình huống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự cho nhân dân, cán bộ, công chức và viên chức, Nhà Xuất bản Lao Động cho xuất bản quyển sách có độ dày 400 trang,giá phát hành 350/c

    & 350 CÂU HỎI ĐÁP VỀ HÌNH SỰ, TỐ TỤNG HÌNH SỰ

    (Luật số 41/2019/QH14 ngày 14-6-2019 của Quốc hội)

    Cuốn sách gồm các phần chính sau:

    Phần thứ nhất. LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 2022

    Phần thứ hai. LUẬT THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM

    Phần thứ ba. VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ, BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

    Phần thứ tư. HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ ÁN HÌNH SỰ, TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

    Phần thứ năm. HỎI ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

    TRUNG TÂM SÁCH LUẬT VIỆT

    P. ĐỘI CẤN P. CỐNG VỊ,Q BA ĐÌNH TP HÀ NÔI

    ZaLo 0909 366 858 – ZaLo 0982 711 282

    Địa chỉ: 282 Nam kỳ khởi nghĩa, P.7, Quận.3, TP. Hồ Chí Minh.

    Hotline: 028 36 36 21 82 – ZaLo 0909 366 858 – ZaLo 0982 711 282

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Loại Các Tội Phạm Xâm Phạm Quyền Sở Hữu Theo Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Tội Xâm Phạm Quyền Sở Hữu Công Nghiệp Theo Quy Định Bộ Luật Hình Sự
  • Khái Niệm Các Tội Phạm Xâm Phạm Quyền Sở Hữu
  • Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Có Tính Chiếm Đoạt
  • Chương 14. Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu
  • Các Khái Niệm Tội Phạm Và Tình Hình Tội Phạm Trong Tội Phạm Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Tố Tụng Hình Sự Là Gì ? Đối Tượng, Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Thi Hành Án Treo Theo Quy Định Của Luật Thi Hành Án Hình Sự
  • Về Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Hình Phạt Bổ Sung Trong Luật Hình Sự
  • Hoàn Thiện Hệ Thống Hình Phạt Trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Qua Tham Khảo Bộ Luật Hình Sự Trung Quốc
  • Khái Niệm, Dấu Hiệu Đồng Phạm
  • Tất cả những hành vi bị coi là tội phạm đều có cùng bản chất xă hội và những đặc điểm nhất định. Trước hết, tội phạm là hiện tượng xă hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật hình sự vì trái với chuẩn mực xă hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác. Nó là hiện tượng xă hội-pháp lí.

    Tội phạm không chỉ là hiện tượng xă hội được phản ánh trong luật hình sự mà đồng thời cũng là hiện tượng xă hội được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu, trong đó có khoa học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự và tội phạm học đều là khoa học về tội phạm. Tuy nhiên, khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự là khoa học về tội phạm có tính pháp lí, còn tội phạm học và khoa học điều tra tội phạm là khoa học về tội phạm không có tính pháp lí (1) hay nói cách khác là khoa học về tội phạm hiện thực.

    Khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng mỗi ngành đều có nội dung mục đích nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu riêng về đối tượng này. Theo đó, trong một số ngôn ngữ tồn tại hai khái niệm khác nhau được dùng trong hai ngành khoa học này. Ví dụ: Trong tiếng Đức, khái niệm Kriminalität được dùng trong tội phạm học còn khái niệm Straftat được dùng trong luật hình sự.(2) Trong tiếng Việt cũng như trong một số ngôn ngữ khác, chỉ có một khái niệm được dùng cả trong khoa học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng bị pháp luật coi là tội phạm ở các nội dung chính sau:

    – Dấu hiệu (đặc điểm) chung của những hành vi bị coi là tội phạm (dấu hiệu về nội dung chính trị-xă hội, dấu hiệu về hình thức pháp lí);

    – Cấu trúc chung của những hành vi bị coi là tội phạm (bốn yếu tố của tội phạm);

    – Dấu hiệu và cấu trúc (bốn yếu tố cấu thành) của từng nhóm tội cũng như của từng loại tội phạm cụ thể;

    – Kĩ thuật phản ánh tội phạm trong luật hình sự (cấu thành tội phạm)…

    Với nội dung như vậy, khoa học luật hình sự phục vụ việc quy định tội phạm trong luật cũng như phục vụ việc giải thích và nhận thức luật để áp dụng. Qua đó, khoa học luật hình sự phục vụ nhiệm vụ truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.

    Tội phạm học nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng tội phạm đă xảy ra trên thực tế ở các nội dung chính sau:

    – Tình hình tội phạm đă xảy ra;

    – Nguyên nhân làm phát sinh tội phạm đă xảy ra;

    – Biện pháp có thể hạn chế, phòng ngừa tội phạm…

    Như vậy, khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng theo hai nghĩa khác nhau. Do có sự khác nhau này mà ở một số quốc gia có hai khái niệm cùng có nghĩa tiếng Việt là tội phạm – một được sử dụng trong khoa học luật hình sự và một được sử dụng trong tội phạm học. Ở các quốc gia không có hai khái niệm khác nhau mà chỉ có một như Việt Nam, mọi người buộc phải hiểu khái niệm tội phạm theo hai nghĩa.(3)

    Với nội dung nghiên cứu riêng của mình, tội phạm học phục vụ trực tiếp việc cảnh báo tội phạm và hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, cộng đồng và người dân có biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp. Để thực hiện nhiệm vụ này, tội phạm học cần có hệ thống các khái niệm làm công cụ nghiên cứu. Tình hình tội phạm (THTP) là một trong những khái niệm được dùng tương đối phổ biến ở Việt Nam khi nghiên cứu về tội phạm học.(4) Trong hầu hết các công trình nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng về tội phạm học ở Việt Nam hiện nay, từ giáo trình đại học, sách nghiên cứu đến luận án tiến sĩ đều sử dụng khái niệm THTP.(5) Có điều tác giả của những công trình này hiểu khái niệm THTP theo nội dung không thống nhất. Do vậy, tình trạng hiểu không rõ ràng, không thống nhất về khái niệm THTP ở người học cũng như người đọc nói chung là không tránh khỏi. Nhiều quan điểm, ý kiến không rõ ràng, không thống nhất trong nghiên cứu tội phạm học có nguyên nhân từ cách hiểu không thống nhất về khái niệm THTP.

    Câu hỏi được đặt ra ở đây: Phải hiểu khái niệm THTP như thế nào?

    Theo “Đại từ điển tiếng Việt” thì “tình hình” được hiểu là “Trạng thái, xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng với tất cả những sự kiện diễn ra, biến đổi ở trong đó”.(6)

    Từ đó, chúng ta có thể hiểu THTP là trạng thái, xu thế vận động của tội phạm. Khi nói THTP có thể hiểu là tình hình của tội phạm nói chung hoặc của nhóm tội như nhóm tội xâm phạm sở hữu hoặc của tội cụ thể như tội giết người. Đồng thời khi nói THTP bao giờ cũng phải gắn với không gian và khoảng thời gian nhất định, vì tội phạm luôn xảy ra trong không gian và thời gian xác định. Do vậy, có thể định nghĩa đầy đủ về THTP như sau:

    THTP là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định.

    Với định nghĩa này có thể phân biệt rõ giữa tội phạm và THTP. Đó là sự khác nhau giữa bản thân hiện tượng với trạng thái và xu thế vận động của hiện tượng đó.

    Loại định nghĩa khác về THTP là những định nghĩa thể hiện sự không rõ ràng giữa tội phạm với THTP. Ví dụ như định nghĩa sau: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xă hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình lịch sử; được thể hiện ở tổng hợp các tội phạm cụ thể đă xảy ra trong xă hội và trong khoảng thời gian nhất định”.(9) Hoặc: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xă hội, pháp lí tiêu cực, được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xă hội (quốc gia) nhất định và khoảng thời gian nhất định”.(10) Hoặc: “Tình trạng phạm tội là hiện tượng xă hội tiêu cực mang thuộc tính xă hội, thường xuyên thay đổi, giai cấp, pháp luật hình sự và được phản ánh bằng toàn bộ tình hình, cơ cấu, diễn biến của tổng thể các loại hoặc của một loại tội phạm đă xảy ra trong khoảng thời gian nhất định và trong một phạm vi nhất định”.(11)

    Các công trình nghiên cứu về tội phạm học không có định nghĩa về THTP thường theo hướng không phân biệt rõ giữa tội phạm và THTP.

    Từ sự không rõ ràng giữa tội phạm với THTP dẫn đến sự không thống nhất trong trình bày một số nội dung giữa các tác giả trong cùng công trình nghiên cứu cũng như của chính một tác giả. Điều này có thể khiến người đọc cho rằng các tác giả đă sử dụng khái niệm tội phạm và khái niệm THTP như hai khái niệm có thể thay thế cho nhau.(12) Ví dụ: Trong cuốn “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, các tác giả khi xác định đối tượng nghiên cứu của tội phạm học đă không thống nhất giữa “nguyên nhân và điều kiện của tội phạm” hay “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm”. Có tác giả viết “nguyên nhân và điều kiện của tội phạm” (tr. 5); có tác giả viết “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” (tr. 81). Điều đáng chú ý hơn là ở chỗ: Kể cả tác giả thuộc quan điểm cho rằng đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” vẫn có nhiều đoạn viết không phù hợp với quan điểm này. Ví dụ như đoạn viết: “… và cũng có những hiện tượng xă hội mà chính chúng lại làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm phát triển và được gọi là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. … Bản chất, các đặc điểm của tội phạm chỉ có thể được làm rõ khi người nghiên cứu đồng thời xem xét các mối liên hệ biện chứng với các quá trình và hiện tượng khác trong đó có các quá trình và hiện tượng là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm”.(13) Trong giáo trình tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội, các tác giả đều thống nhất khẳng định đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là: Tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm… Nhưng nhiều lập luận của các tác giả lại thể hiện có sự đồng nhất giữa tội phạm với THTP. Ví dụ như đoạn phân tích sau: “Căn cứ vào mức độ tác động của các ảnh hưởng, quá trình xă hội, nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội còn được phân chia làm các loại sau đây:

    – Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung;

    – Nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm nhất định;

    – Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể…”(14)

    Với đoạn viết trên, người đọc có thể hiểu: Tác giả của giáo trình muốn thể hiện có tội phạm nói chung, có loại tội phạm và có tội phạm cụ thể. Tương ứng với sự phân loại này cũng có ba loại nguyên nhân và điều kiện. Đó là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm…; nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm…; nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhất định. Như vậy, ở đây, tác giả có sự đồng nhất giữa tội phạm nói chung với THTP. Khi nói nguyên nhân và điều kiện của tội phạm (nói chung) tác giả thể hiện: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm”; còn khi nói nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội phạm và của loại tội phạm cụ thể thì tác giả lại thể hiện: “Nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm hoặc của tội phạm cụ thể”.(15) Sự đồng nhất THTP với tội phạm (nói chung) như vậy cũng được thể hiện trong lập luận của một số tác giả khác. Ví dụ: Trong cuốn “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, tác giả viết: “Chúng ta có thể nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung, có thể nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của một nhóm tội hoặc một loại tội” (tr. 195) hoặc “Mối quan hệ giữa tội phạm và tình hình tội phạm là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng”.(16) Theo nghĩa triết học, chỉ có quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” khi nói tội phạm với tội phạm cụ thể hoặc với nhóm tội phạm cụ thể. Ở đây, tội phạm là “cái chung” còn tội A hay tội B cũng như nhóm tội C hay nhóm tội D là “cái riêng”. Theo chúng tôi, khi khẳng định THTP là “cái chung” và tội phạm là “cái riêng” tác giả đă quan niệm tội phạm nói ở đây là tội phạm cụ thể và THTP được hiểu là tội phạm nói chung. Do quan niệm THTP là tội phạm nói chung nên các tác giả này mới viết: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” (nghĩa là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nói chung) hoặc viết “Phòng ngừa tình hình tội phạm” (nghĩa là phòng ngừa tội phạm nói chung). Do quan niệm về THTP như vậy nên các tác giả này cũng gắn những đặc điểm của tội phạm như tính trái pháp luật hình sự, tính lịch sử… cho THTP. Nhưng khi phân tích về nội dung của THTP thì các tác giả lại quan niệm THTP đúng như chúng tôi quan niệm (Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định).

    Vậy vấn đề đặt ra cần phải hiểu khái niệm THTP như thế nào? Khái niệm đó có thật cần thiết cho tội phạm học không?

    Chúng ta không thể sử dụng khái niệm THTH cùng một lúc theo hai nghĩa khác nhau: THTP là khái niệm chỉ tội phạm nói chung và THTP là khái niệm chỉ trạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Về mặt ngôn ngữ thì khái niệm THTP phải được hiểu theo nghĩa thứ hai. Đó là trạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Trong đó có THTP của tất cả các tội phạm (tội phạm nói chung – tất cả các tội danh); THTP của nhóm tội phạm (nhóm tội danh) và THTP của từng tội phạm (tội danh cụ thể). Tội phạm học nghiên cứu tội phạm ở một số nội dung. Trong đó có hai nội dung:

    – Nghiên cứu tội phạm về mức độ, tính chất và xu hướng vận động;

    – Nghiên cứu tội phạm về nguyên nhân phát sinh.

    Khái niệm THTP khi được hiểu như chúng tôi trình bày sẽ bao trùm hết các biểu hiện cụ thể của nội dung nghiên cứu thứ nhất nêu trên của tội phạm học. Thay vì nói: Mức độ, tính chất và xu hướng vận động của tội phạm chúng ta có thể nói THTP. Điều này thể hiện sự cần thiết của khái niệm THTP. Hơn nữa, khái niệm này đă là khái niệm quen thuộc, được sử dụng nhiều trong tội phạm học Việt Nam.

    Khi đă phân biệt rõ tội phạm với THTP trên cơ sở hiểu THTP như định nghĩa nêu trên chúng ta có thể rút ra được các kết luận sau:

    – Nếu xem tội phạm là hiện tượng xă hội phát sinh bởi nguyên nhân nhất định thì THTP là “bức tranh tổng thể” của những hiện tượng – tội phạm đă xảy ra. Chính những tội phạm đă xảy ra tạo nên “bức tranh tổng thể” đó. Nghiên cứu THTP là nghiên cứu trạng thái của tội phạm và nghiên cứu xu hướng vận động của tội phạm. Đó là hai nội dung nghiên cứu về THTP và cách gọi phổ biến hiện nay là thực trạng và động thái của tội phạm.

    – Cùng với việc nghiên cứu THTP, tội phạm học còn nghiên cứu nguyên nhân làm phát sinh tội phạm để từ đó nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tội phạm có tính tổng thể. Đó là vấn đề nguyên nhân, điều kiện của tội phạm và vấn đề phòng ngừa tội phạm.

    – Tình hình tội phạm là “bức tranh tổng thể” của những tội phạm đă xảy ra nên giữa THTP với nguyên nhân của tội phạm có quan hệ nhất định với nhau. Tuy nhiên, không thể gắn nguyên nhân của tội phạm là nguyên nhân của tình hình tội phạm – “Cái” được tạo bởi các tội phạm đă xảy ra. Do vậy, không thể nói: “Nguyên nhân của tình hình tội phạm” cũng như không thể nói: “Phòng ngừa tình hình tội phạm”.(17)

    Từ định nghĩa: “Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định” có thể rút ra một số đặc điểm của THTP như sau:

    – Đặc điểm về phạm vi: Tình hình tội phạm luôn gắn với các phạm vi – phạm vi đối tượng, phạm vi không gian và phạm vi thời gian. Phạm vi đối tượng thường có ba mức độ: Phạm vi tất cả các tội phạm, phạm vi nhóm tội phạm (như nhóm tội tham nhũng, nhóm tội xâm phạm sở hữu…) và phạm vi tội phạm cụ thể (như tội giết người, tội nhận hối lộ…). Ngoài ra, các phạm vi đó còn có thể được giới hạn tiếp bởi đặc điểm nhất định của tội phạm (như giới hạn trong phạm vi những tội do người chưa thành niên thực hiện hoặc giới hạn trong phạm vi những tội cố ư…). Phạm vi về không gian có thể là phạm vi toàn quốc, phạm vi vùng (như các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long), phạm vi địa phương (như thành phố Hà Nội, tỉnh Sóc Trăng) hoặc phạm vi ngành, lĩnh vực (như lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực ngân hàng hoặc ngành tư pháp). Phạm vi thời gian có thể là khoảng thời gian 5 năm, 10 năm hoặc trong giới hạn bởi mốc bắt đầu và mốc kết thúc nào đó. Đặc điểm này của tình hình tội phạm đ̣i hỏi khi nghiên cứu THTP, người nghiên cứu phải xác định rõ ràng ngay từ đầu các phạm vi này. Trong cả quá trình nghiên cứu, các phạm vi này luôn phải được tuân thủ một cách thống nhất.

    – Đặc điểm về nội dung: Tình hình tội phạm luôn gắn với các đặc điểm về nội dung – đặc điểm về mức độ, đặc điểm về cơ cấu và tính chất, đặc điểm về xu hướng vận động. Đặc điểm về mức độ cùng với đặc điểm về cơ cấu và tính chất hợp thành đặc điểm về thực trạng của tội phạm.(18) Đặc điểm về xu hướng vận động thường được gọi là đặc điểm về động thái của tội phạm. Như vậy, đặc điểm về nội dung đ̣i hỏi người nghiên cứu THTP phải làm rõ đặc điểm về thực trạng và về động thái của tội phạm.(19)

    – Đặc điểm về tính phụ thuộc pháp lí và tính vận động: Tội phạm – hiện tượng xă hội tạo nên “bức tranh tình hình tội phạm” luôn có tính pháp lí vì được phản ánh trong luật hình sự. Chỉ những hiện tượng xă hội xảy ra đă được quy định trong luật hình sự mới có thể là “nguyên liệu” tạo ra “bức tranh tình hình tội phạm”. Thay đổi của luật sẽ làm thay đổi “nguyên liệu” và qua đó làm thay đổi “bức tranh”. Như vậy, có thể nói: THTP có tính phụ thuộc pháp lí. Đồng thời với đặc điểm này, THTP cũng có tính vận động – không ổn định theo thời gian và không gian. THTP có thể thay đổi do tội phạm luôn vận động theo quy luật dưới sự tác động của các hiện tượng, quá trình xă hội khác. Con người có thể chủ động tác động để THTP thay đổi theo hướng giảm thiểu qua việc áp dụng các biện pháp hạn chế, ngăn ngừa tội phạm. Đặc điểm này đ̣i hỏi người nghiên cứu phải chú ý đến các điều kiện kinh tế-xă hội và môi trường pháp lí trong đó có môi trường pháp lí hình sự khi xem xét, đánh giá THTP.

    – Đặc điểm về tính tuyệt đối và tính tương đối: Tình hình tội phạm luôn tồn tại khách quan và có thể nhận thức được nhưng chúng ta chỉ có thể nhận thức được gần đúng vì những lí do khách quan và chủ quan khác nhau. THTP mà chúng ta nhận thức được chỉ là THTP tương đối so với THTP thực là THTP tuyệt đối. Vấn đề đặt ra là cần loại trừ những yếu tố có thể làm sai lệch nhận thức để chúng ta đến gần nhất với THTP tuyệt đối.

    Tình hình tội phạm có thể được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau theo cấp độ và phạm vi.

    Theo cấp độ của tình hình tội phạm chúng ta có thể có tình hình tội phạm ở Việt Nam (cấp quốc gia); tình hình tội phạm ở vùng A, tình hình tội phạm ở tỉnh B (cấp địa phương); tình hình tội phạm ở ngành C (cấp ngành, lĩnh vực).

    Theo phạm vi của tình hình tội phạm chúng ta có thể có tình hình tội phạm ở… (phạm vi toàn bộ các tội phạm); tình hình các tội A ở… (phạm vi nhóm tội); tình hình tội B ở… (phạm vi tội cụ thể).

    Theo phạm vi tình hình tội phạm còn có thể được giới hạn bởi một số đặc điểm khác như đặc điểm về lỗi (giới hạn ở tội cố ý hay vô ý) về chủ thể (như giới hạn ở chủ thể của tội phạm là người chưa thành niên, ở chủ thể của tội phạm là phụ nữ v.v..)./.

    (7). Giáo trình tội phạm học của Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb. ĐHQGHN, 1999; Giáo trình tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, 2004; sách Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 1994; sách Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm củaPGS.TS. Nguyễn Xuân Yêm, Nxb. CAND, 2001 là các công trình có định nghĩa tình hình tội phạm; sách “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nxb. CAND, 2000 là công trình không có định nghĩa về tình hình tội phạm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Chung Về Áp Dụng Pháp Luật Khi Xét Xử
  • Luận Văn: Áp Dụng Pháp Luật Hình Sự Về Các Tội Phạm Về Ma Túy
  • Bộ Luật Hình Sự Là Gì ? Đối Tượng Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Hình Sự Là Gì ?
  • Cách Thức Và Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Hình Sự
  • Phương Pháp Và Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Hình Sự
  • Dấu Hiệu Pháp Lý Của Nhóm Các Tội Xâm Phạm Tính Mạng, Sức Khỏe, Nhân Phẩm, Danh Dự Của Con Người Được Quy Định

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tội Xâm Phạm Hoạt Động Tư Pháp (Điều 367)
  • Luận Văn: Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Có Tính Chất Chiếm Đoạt, Hot
  • Định Nghĩa Truyện Cười Lớp 6
  • Soạn Bài Tam Đại Con Gà Văn Học Lớp 10
  • Soan Bài Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày Văn Học Lớp 10
  • Dấu hiệu pháp lý của nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người được pháp luật quy định như thế nào?

    • Các tội phạm xâm phạm, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người là các tội quy định đối với những người (có năng lực trách nhiệm dân sự và từ đủ 16 tuổi trở lên) thực hiện những hành vi một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới quyền được Hiến pháp và pháp luật hình sự ghi nhận và bảo vệ.
    • Lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu qảu đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; hoặc trường hợp người phạm tội không thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. Ngược lại với lỗi vô ý là lỗi cố ý.

    Các tội này được quy định từ Điều 123 đến Điều 156 chương XIV Bộ luật Hình sự 2022; có thể được chia thành ba nhóm:

      Nhóm các tội xâm phạm tính mạng (có 13 tội thuộc nhóm này): được quy định tại các Điều 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 130, 131, 132, 133, 148, 149 BLHS; trong đó có 2 tội với lỗi vô ý (Điều 128, Điều 129 BLHS); còn lại là các tội với lỗi cố ý.

    Hành vi phạm tội của nhóm này được thể hiện ở hình thức hành động hoặc không hành động (trường hợp người phạm tội có đủ khả năng và điều kiện để hành động để đảm bảo an toàn về tính mạng của người khác nhưng đã không thực hiện và là nguyên nhân gây ra cái chết của nạn nhân).

    Trong nhóm tội này, hậu quả chết người chỉ là dấu hiệu bắt buộc của một số CTTP (Điều 123, 124, 125, 126, 127, 128, 129, 132 BLHS); ở các CTTP còn lại thì hậu quả chết người không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng trong đó có 2 CTTP đòi hỏi phải có dấu hiệu hậu quả là hành vi tự sát của nạn nhân (Điều 130,131 BLHS).

    Ví dụ: đối với tội giết người (Điều 123) hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhin, ở một số trường hợp, nạn nhân không chết những căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

      Nhóm các tội xâm phạm sức khỏe (có 7 tội thuộc nhóm này):được quy định tại các Điều 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140, 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147, 150, 151, 152, 153, 154, 155, 156 BLHS; trong đó có 2 tội với lỗi vô ý (Điều 138, Điều 139 BLHS); còn lại là các tội với lỗi cố ý.

    Hậu quả nhóm tội này đòi hỏi là thương tích hoặc tổn thương khác cho sức khỏe ở mức độ có tỉ lệ thương tật là 11% trở lên hoặc dưới tỉ lệ đó nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 123 BLHS.

    Tỷ lệ thương tật của người bị hại được lấy làm cở sở truy cứu trách nhiệm hình sự phải do chủ thể có thẩm quyền giám định tư pháp tiến hành trên cơ sở đề nghị của cơ quan tiến hành tố tụng.

    • Nhóm tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm (có 14 tội thuộc nhóm này): được quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147, 150, 151, 152, 153, 154, 155, 156 BLHS (hậu quả của những tội phạm này không phải là dấu hiệu bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự).Trong có thể được chia thành 3 nhóm sau:
    • Các tội trực tiếp xâm phạm thân thể: được quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147.

    Trong nhóm tội này, hành vi phạm tội không những đến danh dự, nhân phẩm thậm chí có thể xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại. Vì khi thực hiện những hành vi phạm tội trong nhóm này đã trực tiếp gây tổn hại đến sức khỏe của người bị hại đồng thời danh dự, nhân phẩm cũng bị ảnh hưởng.

    Trong nhóm tội này, lỗi của người phạm tội luôn là lỗi cố ý; CTTP không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người bị hại; người bị hại có thể đồng tình hoặc không đồng tình, có thể biết hoặc không biết, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi theo như quy định trong BLHS thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Theo đó, xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác (Điều 155 BLHS) có thể hiểu là làm tổn thương nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Mức độ nghiêm trọng cụ thể của hành vi phụ thuộc vào thái độ, nhận thức, mục đích của người phạm tội (mong muốn làm nhục người khác) cường độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm; môi trường diễn ra hành vi xúc phạm, sự tác động cụ thể đối với người bị hại (ảnh hưởng về tâm lý)…

    Công ty Luật TNHH Đại Tâm chịu trách nhiệm về nội dung trả lời với câu hỏi trên và giữ bản quyền. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua Tổng đài 24/7 gọi số: 1900.9244 để nhận được sự tư vấn hoặc gửi thắc mắc đến [email protected] để được hỗ trợ cụ thể hơn.

    Rất mong nhận được sự hợp tác!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Tội Xâm Phạm Tính Mạng, Sức Khỏe, Danh Dự, Nhân Phẩm
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Xâm Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm Của Con Người Nhằm Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Xã Hội Theo Tinh Thần Hiến Pháp 2013
  • Thế Nào Là Bị Xúc Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm?. Chế Tài Xử Lý. , Hãng Luật Anh Bằng
  • Tội Xúc Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm Của Người Khác Theo Quy Định Của Pháp Luật Hình Sự ?
  • Pháp Luật Về Tội Phạm Tham Nhũng Và Những Vấn Đề Cần Quan Tâm
  • Khái Niệm Đồng Phạm, Che Giấu Tội Phạm Và Không Tố Giác Tội Phạm ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tố Cáo Và Tố Giác Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Cần Thống Nhất Nhận Thức Về Các Khái Niệm Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm, Kiến Nghị Khởi Tố Và Các Nguồn Về Tội Phạm
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tội Phạm Hoàn Thành
  • Tội Phạm Hoàn Thành Và Tội Phạm Kết Thúc
  • Chế Định Giai Đoạn Phạm Tội Được Quy Định Trong Luật Hình Sự?
  • Đồng phạm, che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm được quy định cụ thể tại Điều 20, điều 21 và điều 22 Bộ luật hình sự 1999, cụ thể như sau:

    Đồng phạm

    + Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

    + Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

    – Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

    – Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

    – Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

    Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

    + Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

    Che giấu tội phạm

    Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp màBộ luật hình sự 1999 quy định.

    Không tố giác tội phạm

    + Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313 của Bộ luật hình sự 1999.

    + Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật hình sự 1999.

    Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

    Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

    Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

    Trân trọng./.

    Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự – Công ty luật Minh Khuê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Thành Tội Phạm, Mức Phạt Tù Đối Với Tội Không Tố Giác Tội Phạm
  • Khái Niệm Tố Cáo, Phân Biệt Tố Cáo Và Tố Giác Tội Phạm
  • Bình Luận Quy Định Về Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm, Kiến Nghị Khởi Tố Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022
  • Quy Định Về Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm, Kiến Nghị Khởi Tố?
  • Phạt Cải Tạo Không Giam Giữ Đối Với Người Phạm Tội Gây Rối Trật Tự Công Cộng
  • Tội Xúc Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm Của Người Khác Theo Quy Định Của Pháp Luật Hình Sự ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Bị Xúc Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm?. Chế Tài Xử Lý. , Hãng Luật Anh Bằng
  • Phòng Ngừa Tội Phạm Xâm Phạm Danh Dự, Nhân Phẩm Của Con Người Nhằm Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Xã Hội Theo Tinh Thần Hiến Pháp 2013
  • Các Tội Xâm Phạm Tính Mạng, Sức Khỏe, Danh Dự, Nhân Phẩm
  • Dấu Hiệu Pháp Lý Của Nhóm Các Tội Xâm Phạm Tính Mạng, Sức Khỏe, Nhân Phẩm, Danh Dự Của Con Người Được Quy Định
  • Khái Niệm Tội Xâm Phạm Hoạt Động Tư Pháp (Điều 367)
  • Hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm ở mức độ nhẹ thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, mức độ nặng hơn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự hiện nay:

    1. Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

    Luật Minh Khuê giải đáp những thắc mắc về Luật Minh Khuê giải đáp những thắc mắc về tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự:

    Luật sư tư vấn quy định pháp luật về tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gọi: 1900.6162

    Đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác có thể bị xử phạt hành chính, bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của người đó và gửi ra công an khu vực, nếu đủ cơ sở chứng minh, tùy theo mức độ, hành vi của người đó có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP như sau:

    “Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

    “1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

    a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”

    Như vậy mức xử phạt có thể bị áp dụng với người có hành vi như bạn đã nêu là từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

    Bộ luật hình sự năm 2022 quy định về tội làm nhục người khác như sau:

    1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

    Làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của con người.

    Người phạm tội phải là người có hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, cạo đầu, cắt tóc, lột quần áo giữa đám đông… Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình. Tất cả hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Nếu hành vi làm nhục người khác lại cấu thành một tội độc lập thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện.

    Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể trả thù chính người bị hại hoặc cũng có thể trả thù người thân của người bị hại.

    Người bị hại phải là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự nhưng thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng là một vấn đề khá phức tạp. Bởi vì cùng bị xâm phạm như nhau nhưng có người bị thấy nhục hoặc rất nhục nhưng có người lại thấy bình thường. Về phía người phạm tội cũng có nhận thức tương tự, họ cho rằng với hành vi như thế thì người bị làm nhục sẽ nhục hoặc rất nhục nhưng người bị hại lại thấy chưa bị nhục. Nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hay người bị hại thì cũng chưa thể xác định một cách chính xác mà phải kết hợp với các yếu tố như trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội, quá trình hoạt động của bản thân người bị hại, phong tục tập quán, truyền thống gia đình… Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của người bị hại bị xâm phạm tới mức nào. Sự đánh giá của xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa rất lớn để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

    Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

    Sau khi tiếp nhận tin báo của, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh với sự việc của bạn. Nếu có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn. Nếu sau khi điều tra xác minh thấy không có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

    2. Ly hôn xong nhưng vẫn bị chồng xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?

    ​Xin chào Ban lãnh đạo Công ty và Luật sư! Tôi không chịu đựng nỗi sự xúc phạm danh dự, nhân phẩm và những trận đòn điên dại của chồng nên chúng tôi đã ly hôn. Chồng tôi luôn miệng chửi tôi, xúc phạm tôi và còn liên tục đánh đập còn đánh tôi. Tôi giải thóat mình bằng cách ly hôn. Nhưng ly hôn xong tôi vẫn không được yên ổn. Chồng tôi tiếp tục nhắn tin xúc phạm tôi. Hâm dọa sẽ giết chết tôi vì tại sao tôi lại phản bội anh ta đi theo trai. Hiện tại Tòa án đã xử cho tôi nuôi con, nhưng chồng tôi thường xuyên hâm dọa sẽ giết tôi, giành con với tôi. Trước đó, lúc tôi có bầu, chồng tôi đã không nhận mà nó nói với tất cả mọi người là tôi đi với trai mới có bầu.

    Xin hỏi quý Công ty, tôi cần làm những thủ tục gì để gửi đơn kiện hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của tôi ?

    Điều 155 Bộ luật Hình sự 2022 quy định về tội làm nhục người khác như sau: ” Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. ”

    * Đối với người phạm tội

    Người phạm tội phải là người có hành vi (hành động) được thể hiện bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự của người khác như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, lột quần áo giữa đám đông người, thoả mãn thú vui của xác thịt v.v…nhưng chưa tới mức cấu thành tội phạm như: Hiếp dâm, cưỡng dâm và không thuộc trường hợp dâm ô với trẻ em, mà chỉ xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác.

    Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực như: bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế đe doạ buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình, nhưng tất cả các hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác.

    * Về phía người bị hại

    Là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự. Việc xác định như thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng cũng là một vấn đề khá phức tạp, bởi vì cùng bị xâm phạm như nhau, nhưng có người bị thấy nhục hoặc rất nhục, nhưng có người lại thấy bình thường, không thấy bị nhục. Những chuẩn mực này, nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hay người bị hại thì cũng chưa thể xác định một cách chính xác được mà phải kết hợp với các yếu tố như: trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội, quá trình hoạt động của bản thân người bị hại, phong tục tập quán, truyền thống gia đình v.v… Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của người bị hại bị xâm phạm tới mức nào. Sự đánh giá của xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa rất lớn để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

    Điều 156 quy định về tội vu khống như sau:

    Điều 156. Tội vu khống

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

    b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

    Người phạm tội phải có một trong các hành vi sau:

    – Bịa đạt những điều không có thực

    Bịa đặt là tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có đối với người khác như: không quan hệ bất chính lại tố cáo là quan hệ bất chính, không nhận hối lộ lại tố cáo là nhận hối lộ…

    – Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt

    Tuy người phạm tội không bịa đặt, nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sáo chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng… Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt còn ai bịa đặt thì không biết.

    Người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là không có thực nếu họ còn bán tin bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.

    – Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền

    Đây là trường hợp tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm mà hoàn toàn không có thực.

    Tất cả những hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt hoặc tố cáo sai người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền đều nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người bị hại.

    Căn cứ vào quy định trên có thể thấy chồng bạn có dấu hiệu của tội làm nhục người khác và tội vu khống; do đó trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

    Yêu cầu khởi tố của bạn có thể được thể hiện dưới hình thức đơn hoặc trình bày trực tiếp. Đơn yêu cầu khởi tố có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu. Trường hợp yêu cầu khởi tố được trình bày trực tiếp thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát lập biên bản ghi rõ yêu cầu khởi tố có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu. Biên bản do viện kiểm sát lập được chuyển ngay cho cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án.

    3. Xử lý hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm và vu khống ?

    Thưa Luật sư, lúc em còn nhỏ, em bị một người khoảng bằng tuổi em lạm dụng tình dục, tuy nhiên chỉ là quan hệ phía ngoài. Lúc đó, em nhỏ quá nên không ý thức được. Sau đó, khi lớn lên thêm một chút, em có tự nguyện quan hệ với một anh. Không hiểu sau đến năm 18 tuổi, em bị mọi người chọc phải bỏ học vì mọi người có quay lén cảnh quan hệ của em.

    Em không dám đứng ra tố cáo vì em sợ do quá sợ và vì 1phần dồn nén quá lâu em bị trầm cảm chỉ dám viết ra chứ kêu em nói em nói không được chính vì vậy mà em đã làm liên lụy gia đình mình đã mấy năm rồi những em vẫn không thể đứng ra tố cáo mặc cho mọi người xung quanh chửi rủa sống như không có gì xảy ra nhưng thật sự em mệt lắm. Em đã cố gắng tự tử để giãi thoát cho mình nhưng em làm cũng không xong. Nay em gửi thư này mong mọi người giúp em có biện pháp bắt chúng ?

    Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi : 1900.6162

    Trước hết, chúng tôi muốn bạn phải bình tĩnh và không có những hành động thiếu suy nghĩ như tự tử hay các hành động tiêu cực khác. Vì chuyện cũng đã xẩy ra, nên bạn phải có suy nghĩ cẩn thận.

    Vấn đề của bạn chúng tôi có những tư vấn như sau.

    Hành vi mà những người trong xóm bạn có thể cấu thành hai hoặc một trong hai tội là Tội làm nhục người khác và Tội vu khống

    – Điều 155 Bộ luật Hình sự 2022 quy định về tội làm nhục người khác như sau: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”

    Điều 156 quy định về tội vu khống như sau:

    Điều 156. Tội vu khống

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

    b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

    Thứ nhất đối với tội “Làm nhục người khác” thì sẽ có các hành vi như : đối với lời nói thì là sỉ nhục , chửi bới, một cách thô tục, tục tĩu…..nhằm vào nhân cách , danh dự với tính chất hạ thấp , nhân cách, danh dự của người bị hại đồng thời làm cho bạn cảm thấy xấu hổ, nhục nhã trước những người khác. Còn về việc làm thì có những hành vi bỉ ổi( có hoạc không kèm theo lời nói tục tĩu) với chính bản thân họ hoạc với bạn trước đám đông để bêu riếu. Nhưng nó phải diễn ra trực tiếp và công khai và trước nhiều người. Để có thể truy cứu được trách nhiệm hình sự những người đó thì hành vi nêu trên phải gây ra những ảnh hưởng xấu ở mức độ nhất định đến danh dự nhân phẩm của người bị hại. Các hành vi quy định tại khoản 1 điều 121 Tội làm nhục người khác chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi bạn có yêu cầu khởi tố.

    Thứ hai còn đối với “Tội vu khống” thì hành vi của tội này đó là có hành vi bịa đặt hoạc người phạm tội không bịa đặt nhưng biết rõ điều đó là bịa đặt mà vấn tiếp tục loan truyền điều bịa đặt đó( như nói cho người khác biết, qua tin nhắn điện thoại hay đưa lên phương tiện thông tin đại chúng cho người khác biết như là trên face book hay là zalo….) nhằm gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

    4. Kể cho người khác chuyện mình đã nghe có phạm tội xúc phạm danh dự người khác không ?

    Xin chào luật Minh Khuê, em có câu hỏi xin được giải đáp: Cho em hỏi em với người bạn khác nghe chuyện con gái của người bạn có quan hệ cùng bạn trai qua một người khác nữa. Một người bạn kia nói lại với bạn em là: “con gái bà tôi nghe người ta nói nó như vậy đó bà coi sao”.Vậy em và bạn em có bị khép tội xúc phạm danh dự của người khác không?

    Tình huống bạn đưa ra có một số dấu hiệu của tội làm nhục người khác và tội vu khống

    – Điều 155 Bộ luật Hình sự 2022 quy định về tội làm nhục người khác như sau:

    “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”

    Điều 156 quy định về tội vu khống như sau:

    Điều 156. Tội vu khống

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

    b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

    Đối với tội làm nhục người khác, cần lưu ý thường thể hiện bằng lời nói như chửi rủa, xỉ nhục ở nơi đông người, bằng viết, vẽ hay những hành động khác có tính chất bỉ ổi. Như vậy đối với hành vi của bạn chưa đủ dấu hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

    Đối với tội vu khống người khác, có một trong các dấu hiệu sau:

    – Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

    – Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

    Nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

    Như vậy đối với hành vi của bạn, xảy ra hai trường hợp:

    Trường hợp thứ nhất, bạn không biết chắc chắn về tính trung thực của thông tin, tức bạn không cố ý lan truyền thông tin sai trái hoặc bạn nhầm tưởng có là thông tin đúng và tính chất chỉ để khuyên ngăn, lưu ý thì không cấu thành tội phạm

    Trường hợp thứ hai, bạn biết chắc chắn đó là thông tin sai nhưng vẫn cố tình lan truyền thông tin đó nhằm xúc phạm danh dự, uy tín, gây thiệt hại cho người khác thì sẽ có thể cấu thành tội vu khống.

    Tuy nhiên ở trường hợp của bạn, vì câu nói của bạn chưa rõ ràng và mang tính chất khuyên ngăn cho bạn của bạn tức là mẹ của bạn gái trong tình huống này vì vậy chưa đến mức cấu thành tội phạm.

    5. Tội vụ khống, xúc phạm danh dự và nhân phẩm cá nhân?

    Kính thưa luật sư, Tôi có câu hỏi muốn nhờ luật sư tư vấn pháp luật cho tôi như sau:- tôi hiện là cư dân ở chung cư, trong chung cư có group dành riêng cho những người trong chung cư trao đổi, phản hồi , đưa những thắc mắc để ban quản trị& ban quản lý xử trí kịp thời. Nhưng thành viên ban quản trị đã lợi dụng group để vu khống tôi ăn cắp.

    Mà không có bằng chứng, một số người hùa theo nói xấu xúc phạm , hạ nhục danh dự tôi bằng những lời lẽ trong group để mọi người coi thường tôi. Tôi có chụp lại những câu chát đó để làm bằng chứng.

    Vậy luật sư tư vấn giúp tôi có được khởi kiện. Hay tố cáo tới cơ quan nào có thẩm quyền. Để phục hồi danh dự và nhân phẩm của tôi trước cộng đồng tôi đang sinh sống rất mong quý luật sư trả lời ?

    Tôi thành thực mang ơn chào luật sư. Chúc thật nhiều sức khỏe để phục vụ mọi người.

    Đối với việc xảy ra đối với bạn thì bạn khi bạn lưu lại tất cả các thông tin làm căn cứ cho việc có người có hành vi xúc phạm là căn cứ để bạn trình báo ra cơ quan có thẩm quyền cùng với đơn trình báo cụ thể là tòa án hoặc cơ quan công an quận/ huyện nơi bạn đang cư trú.

    Thứ nhất, đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm ( Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2022)

    Khi cá nhân có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân khác là xâm phạm quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân đó được pháp luật bảo vệ. Và khi bị xâm phạm về quyền này cá nhân bạn có quyền yêu cầu tòa án buộc người đó phải gỡ bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm của bạn khi tòa án có căn cứ việc đưa ra thông tin đó là hoàn toàn không đúng sự thật, không có căn cứ và buộc người có hành vi vi phạm phải cải chính công khai và xin lỗi bạn, cụ thể:

    1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

    2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

    3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

    4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

    5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

    Thứ hai, hình thức xử lý đối với người có hành vi vi phạm:

    Tùy theo mức độ và tính chất của hành vi vi phạm có gây ảnh hưởng đến bạn đến mức độ nào mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

    Nếu như từ việc group trên mạng xã hội mà dân đến những người dân ở khu dân cư có hành vi không đúng thì họ cũng có thể bị xử phạt theo quy định tại Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về vi phạm quy định về trật tự công cộng:

    1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

    a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

    Hoặc bạn có xác định về người lan truyền thông tin trên group là nguyên nhân dẫn đến thông tin sai sự thật đó được phát tán rộng rãi đến tất cả mọi người trong khu chung cư thì người này có thể bị xử phạt về hành vi sau nếu đủ căn cứ chứng minh theo khoản 3 Điều 99 NGHỊ ĐỊNH 15/2020/NĐ-CP

    3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    Nếu việc lan truyền có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của bạn và gây hậu quả, đủ dấu hiệu của tội sau thì họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2022:

    Điều 155. Tội làm nhục người khác

    1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

    Tuy nhiên theo như chị nêu thì hành vi của chị mới chỉ phát tán trên điện thoại, mạng thì ở đây cũng chưa gây hậu quả đáng nghiêm trọng hơn nữa người kia cũng có những hành vi như vậy, không phải chị bịa đặt vu khống cho họ nên ở đây họ chỉ có thể yêu cầu tòa án buộc chị tháo dỡ thông tin và xin lỗi.

    Các câu hỏi thường gặp

    Câu hỏi: Khái niệm hình phạt trong luật hình sự là gì?

    Trả lời:

    Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.

    Câu hỏi: Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp nào?

    Trả lời:

    a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

    b) Khi có quyết định đại xá.

    Câu hỏi: Phòng vệ chính đáng là gì?

    Trả lời:

    Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

    Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Luật Về Tội Phạm Tham Nhũng Và Những Vấn Đề Cần Quan Tâm
  • Những Quy Định Mới Về Tội Tham Nhũng Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự
  • Kiến Nghị Giải Pháp Phòng Chống Tội Phạm Về Môi Trường
  • Phân Biệt “tội Phạm” Và “phạm Tội”
  • Phân Biệt Tội Phạm Và Phạm Tội
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100