Khái Niệm Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước

--- Bài mới hơn ---

  • Cải Cách Bộ Máy Hành Chính, Nội Dung Quan Trọng Của Cải Cách Hành Chính
  • Cải Cách Hành Chính Là Gì? Tại Sao Chính Phủ Lại Lựa Chọn Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Là Khâu Đột Phá ?
  • Những Vấn Đề Chung Về Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Tim Hieu Ve Cai Cach Bo May Hanh Chinh Nha Nuoc Tai Luan Van Viet
  • Tinh Gọn Bộ Máy, Tăng Hiệu Quả Hoạt Động
  • Trong nền hành chính nhà nước, với tính cách là một thể thống nhất về mặt cơ cấu tổ chức, các cơ quan hành chính nhà nước, là các bộ phận hợp thành giữ vị trí vô cùng quan trọng. Trên phương diện lý luận về nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước được hiểu là hệ thống các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của nền hành chính nhà nước-chức năng chấp hành và điều hành, các cơ quan đó được gọi là cơ quan hành chính nhà nước.

    Do sự khác biệt về chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và xã hội nên bộ máy hành chính nhà nước ở các quốc gia khác nhau được tổ chức không giống nhau. Vì vây, nhiều tác giả cũng có cách tiếp cận khác nhau về bộ máy hành chính nhà nước cụ thể là:

    Theo Từ điển Luật học: “Bộ máy hành chính nhà nước là tổng thể hệ thống các cơ quan chấp hành và điều hành lập ra để quản lý toàn diện hoặc quản lý ngành, lĩnh vực trong cả nước hoặc trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Bộ máy hành chính thường là bộ phận phát triển và phức tạp nhất của bộ máy nhà nước của một quốc gia. Bộ máy hành chính Nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo đơn vị hành chính từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ .

    Như vậy, có thể thấy bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống tổ chức lớn nhất bao gồm nhiều vấn đề quan trọng mà bất cứ tổ chức nào khác đều không có. Hay nói cách khác, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống đặc biệt, vừa chứa dựng bên trong có những nguyên tắc chung vềkhoa học tổ chức, vừa có đặc điểm của bộ máy cai trị mang tính quyền lực công, vừa chứa đựng các yếu tố thuộc về khoa học tổ chức quản lý, nhưng nó cũng có những đặc trưng riêng biệt mà các tổ chức thông thường không có, đó là hoạt động mang tính công quyền (thực hiện quyền hành pháp). Ví dụ (Luật tổ chức Chính Phủ Việt Nam năm 2001, sửa đổi năm 2022).

    Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước được đặt dưới sự giám sát trực tiếp và thường xuyên của các cơ quan quyền lực nhà nước. Bộ máy hành chính nhà nước được thành lập trên cơ sở pháp luật, chịu sự chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cao nhất, trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành để nhằm thực hiện chức năng quản lý, đưa đường lối, chính sách, chủ trương của giai cấp cầm quyền vào cuộc sống.

    Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, thực thi một trong ba ngành của quyền lực nhà nước. Bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện quyền hành pháp. Để thực thi quyền hành pháp hiệu lực và hiệu quả cao nhất, bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thứ bậc, cấp trên lãnh đạo, chỉ đạo, cấp dưới phục tùng, tuân lệnh và chịa sự kiểm soát của cấp trên trong hoạt động. Bộ máy hành chính nhà nước mặc dù là một bộ máy thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến địa phương, song nó thường được chia thành hai bộ phận: một là, bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương tức là bộ máy của Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ có vai trò quản lý nền hành chính toàn quốc; hai là, bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương-bao gồm toàn bộ các cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương nhằm thực thi nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước tại địa phương. Bộ máy hành chính nhà nước Trung ương và địa phương có thể được hiểu như sau:

    Bộ máy hành chính Trung ương: Là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước trung ương hợp thành chỉnh thể thống nhất (chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ…) có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thực hiện quyền hành pháp ở trung ương.

    Trong cơ cấu nhà nước, Chính phủ có một vai trò hết sức quan trọng. Ở các nước trên thế giới, Chính phủ có thể có các tên gọi khác nhau, như Chính phủ, Nội các, Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng nhà nước…, nhưng khái quát nhất, Chính phủ là cơ quan được lập ra để tổ chức thực hiện trên thực tếquyền lực nhà nước, tiến hành hoạt động quản lý, điều hành và đứng đầu hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.

    Trong cơ cấu tổ chức của chính phủ bao gồm: Các bộ, cơ quan ngang bộ. Trong công trình nghiên cứu này gọi chung là cấp bộ. Bộ được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ thuật ngữ hành chính. Bộ là cơ quan hành chính cấp trung ương, có chức năng điều hành, chỉ đạo và quản lý công việc của chính phủ trong phạm vi toàn xã hội, cả nước, có quyền thay mặt chính phủ trong lĩnh vực, ngành được giao. Bộ là

    cơ quan hành chính cấp trung ương mà người đứng đầu thông thường là nhân vật chính trị hoặc chính trị gia.

    Điều 19 luật chính phủ Lào đã quy định: “Bộ và cơ quan ngang bộ là bộ máy chính phủ, có chức năng tham mưu cho chính phủ và quản lý vĩ mô đối với ngành, lĩnh vực trên phạm vi cả nước”. Bộ là cơ quan hành chính ở cấp trung ương, chịu trách nhiệm điều hành và vạch ra chiến lược phát triển ở một hay một số lĩnh vực nhất định. Là cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước về mặt hành pháp và là cơ quan thẩm quyền riêng.

    Trong chính phủ, ngoài các bộ quản lý ngành, lĩnh vực là những đơn vị chủ yếu tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước, còn có các cơ quan thuộc chính phủ được thành lập để thực thi một số hoạt động cụ thể của nhà nước hoặc được trao một số chức năng quản lý nhà nước, nhưng không có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Những cơ quan này được thành lập nhằm thực thi những điều quy định của Hiến pháp và pháp luật trên lĩnh vực cụ thể mà các bộ không có hoặc thực hiện hạn chế. Ở các nước, loại cơ quan này thường được gọi là các cơ quan độc lập, do người đứng đầu hành pháp lập. Một số cơ quan là những nhóm quản lý có quyền giám sát nhưng khu vực đặc biệt của nền kinh tế. Một số cơ quan khác cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho chính phủ hoặc cho xã hội.

    Cơ quan thuộc chính phủ làm việc theo chế độ thủ trưởng. Thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ chịu trách nhiệm trước chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các công việc được giao. Việc thành lập cơ quan thuộc chính phủ linh hoạt hơn việc thành lập các bộ. Số lượng các cơ quan thuộc chính phủ tùy thuộc vào việc thiết kế tổ chức bộ máy chính phủ trong từng nhiệm kỳ. Ví dụ: nhiệm kỳ (2006-2011) chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có 10 cơ quan thuộc chính phủ; năm 2022 giảm xuống chỉ còn lại 1 cơ quan thuộc Chính phủ. Ở Việt Nam cơ quan thuộc chính phủ có 8 cơ quan.

    Bộ máy hành chính địa phương: Bộ máy hành chính địa phuơng có thể được hiểu trên hai phương diện: phương diện thứ nhất là “tập hợp tất cả các tổ chức hành chính địa phương, hay nói cách khác, đó là hệ thống của các tổ chức hành chính địa phương (cơ quan hành chính địa phương); phương diện thứ hai là một thực thể hoạt động quản lý các vấn đề trên một địa phương nhất định. Có thể là những thực thể quản lý chung các vấn đề (Ủy ban nhân dân); cũng có thể là quản lý một vấn đề cụ thể”[10, tr 201].

    Điều 2 Luật hành chính địa phương CHDCND Lào quy định: Hành chính địa phương là cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương được phân chia thành 3 cấp: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp bản (làng). Cấp tỉnh có tỉnh và thành phố, trong trường hợp cần thiết có thể thành lập đặc khu; cấp huyện có huyện và thị xã; cấp bản có bản (làng). Chính phủ đã giao trách nhiệm cho chính quyền địa phương quản lý đất đai, tài nguyên môi trường và nhân dân nhằm bảo vệ và xây dựng địa phương có sự phát triển tiến bộ, giàu mạnh và hạnh phúc.

    Bộ máy hành chính địa phương ở CHDCND Lào là cơ quan hành chính địa phương các cấp, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên. Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu một cách chung nhất của bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương được lập ra để thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

    Khái niệm bộ máy hành chính nhà nước

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Và Các Nhân Ở Việt Nam ?
  • Chức Năng, Hình Thức, Bộ Máy Nhà Nước
  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Bộ Máy Nhà Nước?
  • Những Điểm Mới Trong Hiến Pháp 2013 Về Nhà Nước Pháp Quyền Ở Việt Nam
  • Hội Thảo Khoa Học: Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Theo Hiến Pháp Năm 2013 (5
  • Tổ Chức Bộ Máy Quản Lý Nhà Nước Về Thuế

    --- Bài mới hơn ---

  • Phần Mềm Quản Lý Khách Sạn/resort Bravo Pms
  • Cách Quản Lý Nhân Sự Và Điều Hành Khách Sạn, Resort Một Cách Hiệu Quả
  • Top 5 Phần Mềm Quản Lý Resort, Khách Sạn
  • Quản Lý Rừng Bền Vững Là Gì?
  • Tổng Quan Ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng
  • Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập cho đến nay, cùng với sự phát triển của ngành tài chính, tổ chức bộ máy tài chính nói chung và tổ chức bộ máy thu thuế nói riêng được phát triển và hoàn thiện dần, từng bước phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế tài chính phù hợp với tổ chức hành chính Nhà nước và tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh.

    Trước khi tiến hành cải cách hệ thống pháp luật thuế áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế, bộ máy thu thuế Việt Nam được tổ chức như sau:

    Bộ máy thu thuế được tổ chức theo từng thành phần kinh tế, phù hợp với chế độ thu thuế áp dụng cho mỗi thành phần kinh tế, đó là:

    * Bộ máy thu quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp quốc doanh: chịu trách nhiệm quản lý các khoản thu từ xí nghiệp quốc doanh.

    * Bộ máy thu thuế nông nghiệp: chịu trách nhiệm quản lý thu thuế hợp tác xã nông nghiệp và cá thể.

    * Bộ máy thu thuế công thương nghiệp: chịu trách nhiệm quản lý thu thuế công thương nghiệp đối với kinh tế tập thể, cá thể kinh doanh công thương nghiệp.

    Ðối với khu vực xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, Nhà nước thực hiện quản lý và thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thông qua bộ máy thu thuế là Tổng cục hải quan.

    Về hình thức tổ chức cũng có nhiều thay đổi qua các thời kỳ: có lúc bộ máy thu thuế được tổ chức thành hệ thống dọc, trực tuyến từ trung ương xuống đến quận, huyện; có lúc bộ máy thu thuế được tổ chức thành một bộ phận nằm trong cơ cấu bộ máy của cơ quan tài chính các cấp.

    Ðể phù hợp với tình hình mới của đất nước, yêu cầu cấp bách phải tổ chức bộ máy thu thuế thống nhất trong cả nước. Ngày 7/8/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 281/HÐBT về việc thành lập bộ máy thu thuế Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính. Ngày 21/8/1991 Bộ Tài chính ra Quyết định số 316 TC-QÐ/TCCB thành lập Tổng cục Thuế Nhà nước trực thuộc Bộ tài chính làm nhiệm vụ quản lý thuế nội địa. Việc quản lý thuế xuất nhập khẩu do Tổng cục Hải quan tiếp tục thực hiện.

    Nguyên tắc tổ chức hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước về thuế.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế Nhà nước được tổ chức thống nhất từ trung ương đến cơ sở, cùng thực hiện nhiệm vụ tổ chức thực hiện các Luật thuế trong cả nước.

    Tính thống nhất và hệ thống trong tổ chức bộ máy thu thuế được thể hiện ở các điểm sau:

    * Hệ thống thu thuế Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thống nhất trong cả nước về công tác thu thuế và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước đối với tất cả các thành phần kinh tế; không một tổ chức hay cá nhân nào được đứng ra tổ chức thu thuế nếu không được sự ủy quyền của cơ quan thuế.

    * Các nghiệp vụ thu thuế và các khoản thu khác đối với các đối tượng nộp thuế được chỉ đạo và tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn ngành thuế nhằm đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật thuế và các chế độ thu khác.

    * Cơ quan thuế các cấp được tổ chức theo một mô hình thống nhất. Việc quản lý biên chế, cán bộ, kinh phí chi tiêu, thực hiện các chính sách đối với cán bộ cũng như tiêu chuẩn nghiệp vụ của cán bộ thuế được thực hiện thống nhất trong toàn ngành thuế.

    Cơ quan thuế địa phương chịu sự lãnh đạo song trùng của Bộ trưởng Bộ tài chính và Chủ tịch Uớy ban nhân dân tỉnh.

    Các cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương nằm trong hệ thống các cơ quan Nhà nước, có tư cách pháp nhân.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thuế.

    Tổng cục Thuế.

    Các cục thuế địa phương.

    Các Chi cục thuế.

    Tổng cục Hải quan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Doanh Nghiệp Nào Thì Do Cục Thuế Quản Lý ? Chi Cục Thuế Quản Lý ?
  • Trách Nhiệm Và Quyền Hạn Của Cơ Quan Quản Lý Thuế ?
  • Cơ Quan Thuế Tiếng Anh Là Gì?
  • Phân Công Cơ Quan Thuế Trực Tiếp Quản Lý Doanh Nghiệp
  • Xác Định Cơ Quan Thuế Quản Lý Của Doanh Nghiệp Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Cơ Quan, Tổ Chức Có Thẩm Quyền?
  • Nhà Nước Pháp Quyền Xhcnvn Giống Nhau Và Khác Nhau So Với Nhà Nước Pháp Quyền Tbcn Như Thế Nào?
  • Cách Thức Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Quân Chủ Quý Tộc Thời Lý
  • Tài Liệu Những Biểu Hiện Của Mô Hình Nhà Nước Quân Chủ Quý Tộc Thời Lý
  • Bài Tập Luật: Những Biểu Hiện Của Mô Hình Nhà Nước Quân Chủ Quý Tộc Thời Lý
  • Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước.

    Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận của

    bộ máy nhà nước nên cũng có các dấu hiệu chung của các cơ quan nhà nước như sau:

    – Cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí với mục đích hướng tới lợi ích công;

    – Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy đinh;

    – Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền riêng và có những mối quan hộ phối hợp trong thực thi công việc được giao.

    – Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quv định của Pháp lệnh cán bộ, công chức.

    Bên cạnh đó cơ quan hành chính nhà nước có các đặc trưng cơ bản sau:

    – Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quàn lí hành chính nhà nước. Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành (đó là những hoạt động được tiến hành trên cơ sở luật và để thi hành luật) nhằm thực hiện chức nâng quàn lí hành chính nhà nước.

    Như vậy, hoạt động chấp hành – điều hành hay còn gọi là hoạt động quản lí hành chính nhà nước là phương diện hoạt động chủ vếu của cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan nhà nước khác cũng thực hiện những hoạt động quán lí hành chính nhà nước nhưng đó không phải là phương diện hoạt động chủ yếu mà chỉ là hoạt động được thực hiện nhằm hướng tới hoàn thành chức năng cơ bán của các cơ quan nhà nước đó như: chức nàng lập pháp của Quốc hội, chức nàng xet xử của toà án nhân dân, chức năng kiểm sát cúa viên kiểm sát nhân dân. Chỉ các cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước cũng chính là dể nhằm hoàn thành chức năng quản lí hành chính nhà nước.

    – Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ trung ương đến cơ sở đứng đầu là Chính phủ tạo thành một chính thể thống nhất, được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lí hành chính nhà nước.

    – Thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trôn cơ sớ lãnh thổ, ngành hoặc lĩnh vực chuyên môn mang tính tổng hợp. Đó là những quyén và nghĩa vụ pháp lí hành chính chi giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành.

    – Các cơ quan hành chính nhà nuớc đều trực tiếp hay gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực nhà nước.

    – Các cơ quan hành chính nhà nước có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc. Các đơn vị cơ sở của bộ máv hành chính nhà nước là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội. Hầu hết các cơ quan có chức nâng quản lí hành chính đều có các đơn vị cơ sờ trực thuộc. Ví dụ: các trường đại học trực thuộc Bộ giáo dục và đào tạo; các tổng công ty, các công ty nhà máy trực thuộc Bộ công nghiệp, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ giao thông vận tải; các đơn vị công an, quân đội trực thuộc Bộ công an, Bộ quốc phòng…

    Tóm lại: Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máv nhà nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành – điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.

    Tổ bộ môn Luật Hành chính – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    1. Nội dung trong bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (chú thích rõ trong bài viết).
    2. Bài viết được sử dụng không nhằm mục đích thương mại, chỉ nhằm mục đích giảng dạy, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Khoa Luật Kinh tế – Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Chính Có Thẩm Quyền Chung Và Thẩm Quyền Chuyên Môn
  • Thế Nào Là “cơ Quan Nhà Nước Có Thẩm Quyền”?
  • Bản Chất Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Phân Tích Khái Niệm Bộ Máy Nhà Nước?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì ? Đặc Điểm Của Bộ Máy Máy Nhà Nước ? Phân Loại Cơ Quan Nhà Nước ?
  • Bộ Máy Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Biên Giới Quốc Gia Là Gì?
  • Lãnh Thổ Và Biên Giới Quốc Gia Trong Luật Quốc Tế
  • Khái Niệm Bản Đồ Địa Chính Là Gì, Mục Đích Và Nội Dung Của Bản Đồ Địa Chính
  • *Khái niệm bộ máy nhà nước:

    Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước tử TW đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp thống trị.

    *Đặc điểm của bộ máy nhà nước:

    4 đặc điểm

    Mỗi kiểu nhà nước có 1 cách thức tổ chức bộ máy nhà nước riêng tùy thuộc vào bản chất giai cấp, nhiệm vụ, chức năng và mục tiêu hoạt động của nhà nước cũng như các đk hoàn cảnh về ls, VH, truyền thống dân tộc, tương quan lực lượng chính trị trong xã hội.

    Tuy nhiên tất cả các bộ máy nhà nước đều có những đặc điểm chung như sau:

    +Bộ máy nhà nước là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong xã hội, bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp cầm quyền.

    +Bộ máy nhà nước nắm giữ đồng thời 3 loại quyền lực trong xã hội: quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực tinh thần.

    +Bộ máy nhà nước sử dụng pháp luật – phương tiện có hiệu lực nhất để quản lý xã hội và việc quản lý này được tiến hành chủ yếu dưới 3 hình thức pháp lý cơ bản: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật.

    +Bộ máy nhà nước vận dụng 2 phương pháp chung cơ bản là thuyết phục và cưỡng chế để quản lý xã hội (phụ thuộc bản chất của nhà nước…)

    *Cơ quan nhà nước:

    Là bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, là 1 tổ chức chính trị có tính độc lập tương đối về cơ cấu tổ chức, bao gồm 1 nhóm công chức được nhà nước giao cho những quyền hạn và nghĩa vụ nhất định.

    Đặc điểm cơ bản của cơ quan nhà nước:

    _Tính quyền lực nhà nước: thể hiện ở thẩm quyền được nhà nước trao mà tiêu biểu nhất là quyền ban hành những văn bản pháp luật.

    Phân tích khái niệm bộ máy nhà nước?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì?
  • Biến Dị Tổng Hợp: Khái Niệm
  • Một Số Khái Niệm Dùng Trong Ngành Thực Phẩm
  • Một Số Khái Niệm Cần Hiểu Về An Toàn Thực Phẩm Bạn Cần Biết
  • Khái Niệm Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Là Gì?
  • Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Là Gì?
  • Quyền Lực Là Gì? Quyền Lực Chính Trị Là Gì?
  • Bài Giảng: Quyền Lực Chính Trị
  • Đặc Điểm Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Cơ Quan Quyền Lực Nhà Nước
  • “quyền Lực Nhà Nước Là Thống Nhất, Có Sự Phân Công , Phối Hợp, Kiểm Soát Giữa Các Cơ Quan Nhà Nước Trong Việc Thực Hiện Các Quyền Lập Pháp, Hành Pháp Và Tư Pháp” Trong Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Quản lý nhà nước là tư tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản lí hành chính nhà nước thực hiện có hiệu quả các công việc của mình trên các lĩnh vực đã được phân công.

    Theo nghĩa chung nhất, “nguyên tắc” được hiểu là những điều cơ bản nhất thiết phải tuân theo trong một loạt các việc làm. Mỗi ngành khoa học. mỗi lĩnh vực hoạt động cụ thể đề cập vấn đề nguyên tắc theo các góc độ riêng, đặc thù cho ngành khoa học hav lĩnh vực hoạt động đó. Trong khoa học pháp lí, các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước được xác định là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ cơ sớ khoa học của hoạt động quản lí, từ bản chất của chế độ, được quy định trong pháp luật, làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Xem xét một cách cụ thể, ở góc độ cúa luật hành chính, nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước là tổng thể các quv phạm pháp luật hành chính có nội dung là những tư tường chủ đạo làm cơ sớ đe tổ chức thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước.

    Các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước dược ghi nhận trong các văn bán pháp luật của Nhà nước, từ hiến pháp, luật đốn các văn bản dưới luật. Điều này thể hiện tính chất pháp lí của các nguvốn tắc trong quản lí hành chính nhà nước. Nó tạo ra cơ sở để buộc các chủ thổ phải tuân thú một cách thống nhất và chính xác các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước. – đạo luật cơ bản của Nhà nước ghi nhận những

    nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung, trong đó có các cơ quan hành chính nhà nước. Đến lượt mình, các văn bản luật và dưới luật lại cụ thể hóa nội dung các nguyên tắc này trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của Nhà nước. Những nguyên tắc được quy định trong hiến pháp là những nguyên tắc cơ bản và được coi là cơ sớ cúa hệ thống các nguvên tắc trong quản lí hành chính nhà nước.

    Các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước phải được xây dụng, tổng kết và rút ra từ thực liễn quản lí hành chính nhà nước. Vì thế, chúng khổng thể là những nội dung chủ quan theo ý muốn của các chủ thể quản lí hành chính nhà nước mà được xác định trên cơ sở của hoạt động quán lí hành chính nhà nước. Những nguyên tắc quản lí sai lầm. hoàn toàn dựa trên cơ sớ nhận thức chú quan cổ ảnh hưởng không nhỏ tói hiệu quả hoạt đông quán lí hành chính nhà nước và sớm hay muộn chúng sẽ bị đào thải để phù hợp với quy luật phát triến khách quan của xã họi.

    Mặc dù là những nội dung phản ánh thực trạng khách quan của quán lí hành chính nhà nước, các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước lại dược ghi nhận thông qua nhận thức chủ quan cúa con người. Bởi vậy, chúng bao giờ cũng chịu sự chi phối của những điều kiện về chính trị, giai cấp và xã hội; nói cách khác, các nguvên tắc trong quản lí hành chính nhà nước phản ánh bản chất giai cấp của hoạt động quản lí hành chính nhà nươc. Mức độ chi phối của những yếu tố nàv lên các nguyên tắc khác nhau là không giống nhau; Có nguyên tắc thể hiện bản chất giai cấp một cách sâu sắc; ngược lại, có những nguyên tắc ít chịu sự chi phối của các điều kiện chính trị hay giai cấp mà chủ yếu do các yếu tố tổ chức-kĩ thuật của hoạt động quản lí hành chính nhà nước quyết định. Trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, nội dung các nguyên tắc quản lí hành chính nhà nước thể hiện rõ nét bản chất của Nhà nước – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Chúng được xây dựng và ghi nhận xuất phát từ quan điểm của chu nghĩa Mác-Lênin coi nhà nước là công cụ chủ yếu để nhân dân lao động quản lí đất nước, xây dựng xã hội mới.

    Các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước có tính ổn định. Do bản thân các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước là sự phản ánh các quy luật khách quan của quản lí hành chính nhà nước nên tính ổn định của chúng trong từng thời kì, từng giai đoạn phải được đảm bảo. Tuy vậy, tính ổn định đó chỉ có ý nghĩa tương đối. Tính ổn định của các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước không loại bỏ việc không ngừng đổi mới về nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện các nguyên tắc. Việc xây dựng và áp dụng các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước luôn gắn liền với quá trình phát triển của xã hội, quá trình tích lũy kinh nghiệm, thành quả của khoa học trong các lĩnh vực. Cần phải có quan điểm lịch sử cụ thc trong việc nhìn nhận và vận dụng các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước. Trong từng thời kì, từng giai đoạn, tương ứng với nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể của chúng mà có các hình thức và phương pháp khác nhau đổ thực hiện các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước. Đổng thời bản thân các nguyên tắc luôn được xem xét, nghiên cứu kịp thời đê loại bỏ những nội dung khống phù hợp, bổ sung những nội dung mới, nguyên tắc mới. Quan niệm một cách khoa học như vậy về việc hình thành và vận dụng các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước sẽ góp phần tạo nên một cơ chê quán lí năng động, hữu hiệu nhằm tăng cường hiệu lực quản lí hành chính nhà nước.

    Mỗi nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những quy luật khách quan khác nhau trong quản lí hành chính nhà nước. Vì vậy, có nhiều nguyên tắc khác nhau được đặt ra trong quản lí hành chính nhà nước. Những nguyên tắc này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành một hệ thống thống nhất. Việc thực hiộn tốt nguyên tắc này tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiộu quả các nguyên tắc khác. Tính thống nhất này có được là nhờ bản thân nội dung các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước đều thể hiện bản chất của nhà nước, đều được xây dựng xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quản lí nhà nước. Hơn nữa, nội dung các nguyên tắc này đều đề cập các khía cạnh khác nhau của cùng một hoạt động quản lí hành chính nhà pước. Do vậy, tính hệ thống, thống nhất của các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước trở thành một thuộc tính vốn có của chúng.

    Trên thực tế, việc tiến hành hoạt dộng quản lí hành chính nhà nước cần phải dựa trên rất nhiều nguycn tắc tổ chức và hoạt động khác nhau, trong đó có những nguyên tắc được xác định là những nguyên tắc cơ bản trong quản lí hành chính nhà nước. Đây là những nguyên tắc có tính bao trùm, chi phối toàn bộ các mặt hoạt động cơ bản của quản lí hành chính nhà nước đồng thời là cơ sỏ đế hình thành, xây dựng và tổ chức thực hiộn những nguyên tắc khác trong quản lí hành chính nhà nước, về phương diện pháp luật, như đã nêu ở phần trên, nội dung của những nguyên tắc cơ bản trong quản lí hành chính nhà nước được ghi nhận trong Hiến pháp và chúng được coi là cơ sở của hệ thống các nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước. Trong phạm vi của chương này, chúng ta chỉ đề cập những nguyên tắc cơ bản trong quản lí hành chính nhà nước.

    Tổ bộ môn Luật Hành chính – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

    1. Nội dung trong bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy (chú thích rõ trong bài viết).
    2. Bài viết được sử dụng không nhằm mục đích thương mại, chỉ nhằm mục đích giảng dạy, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Khoa Luật Kinh tế – Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Quản Lý Nhà Nước Đối Với Hoạt Động Bảo Hiểm Xã Hội
  • Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Nhà Nước Pháp Quyền Là Gì? Đặc Điểm Của Nhà Nước Pháp Quyền?
  • Đề Kiểm Tra Hk 2 Môn Gdcd Lớp 11 Năm 2022
  • Nguyên Tắc Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Trong Hiến Pháp 2013

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Thảo Khoa Học: Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Theo Hiến Pháp Năm 2013 (5
  • Những Điểm Mới Trong Hiến Pháp 2013 Về Nhà Nước Pháp Quyền Ở Việt Nam
  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Bộ Máy Nhà Nước?
  • Chức Năng, Hình Thức, Bộ Máy Nhà Nước
  • Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Và Các Nhân Ở Việt Nam ?
  • Hiến pháp (sửa đổi) năm 2013, những thành tựu của lịch sử lập hiến nước nhà, với sự đồng thuận của nhân dân, Hiến pháp mới đã được sửa đổi, bổ sung cả về nội dung, bố cục và kỹ thuật lập hiến, bảo đảm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Một trong những nội dung quan trọng được Hiến pháp mới tiếp tục kế thừa và phát triển, đó là nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Tiếp tục tổng kết thực tiễn, hoàn thiện và phát triển quan điểm nói trên của Cương lĩnh 1991 trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đếnnăm 2001, Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó đã thể chế các quan điểm trên của Đảng trở thành một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động chủ đạo của bộ máy nhà nước ta. Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi (2001) ghi rõ: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. So với Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh 2011 đã thể hiện sự nhận thức đúng đắn của Đảng ta trước bối cảnh lịch sử mới. Cương lĩnh không chỉ khẳng định rõ ràng: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN” mà còn đưa một nội dung mới vào nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là: “Kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Sự bổ sung và phát triển này có ý nghĩa to lớn, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong giai đoạn lịch sử mới hiện nay.

    Có thể nói, tư tưởng về sự thống nhất quyền lực, có sự phân công, phối hợp với nhau trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đã được thể hiện nhất quán trong tư duy lý luận của Đảng ta. Đây là một trong những quan điểm quan trọng, thể hiện sự phát triển về nhận thức lý luận của Đảng và Nhà nước trong quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, trở thành nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách, xây dựng bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.

    Thực tế cho thấy, trong bối cảnh một Đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị, dựa trên nền tảng là khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam; mục đích của việc giành chính quyền không phải là giành quyền thống trị cho riêng mình, mà để giải phóng toàn xã hội, đưa người lao động, đưa nhân dân lên địa vị làm chủ, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”, Hiến pháp mới đã có những bước tiến quan trọng khi bổ sung, hoàn thiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tại Điều 2 của Hiến pháp. Cụ thể là, Hiến pháp mới khẳng định:

    “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

    Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

    Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soátgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Nguyên lý này không những được quy định trong các bản Hiến pháp của nước ta mà hầu hết các nước có chế độ chính trị dân chủ và pháp quyền trên thế giới. Theo đó, nhân dân thực hiện quyền dân chủ đại diện bằng cách trao một phần quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tư pháp, đồng thời giữ lại một phần quyền lực của mình để thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp. Theo Điều 84 của Hiến pháp năm 1992, nhân dân chỉ trao cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ: quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao; quyền hạn và nhiệm vụ về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Kế thừa tư tưởng đó, Hiến pháp mới tiếp tục khẳng định rõ nguyên tắc phân công phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp khi quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọngcủa đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

    Tuy nhiên, kiểm soát quyền lực nhà nước là một vấn đề phức tạp và quyền lực nhà nước chỉ có thể được kiểm soát khi Nhà nước có cơ chế xác định rõ ràng và có các điều kiện cần thiết cho sự vận hành của nó trên thực tế. Cơ chế đó bao gồm hình thức kiểm soát theo chiều ngang (là sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước) và hình thức kiểm soát theo chiều dọc (là sự kiểm soát giữa trung ương và địa phương thông qua việc phân công, phân cấp, phân quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với các cơ quan nhà nước ở địa phương; sự kiểm soát của nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước đối với các cơ quan được ủy quyền thực thi quyền lực nhà nước). Theo đó, những nội dung này đã được Hiến pháp mới thể hiện một cách rõ hơn.

    Đây là mối quan hệ kiểm soát quyền lực bên trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ở trung ương: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    Một là, Hiến pháp mới đã thể hiện rõ sự phân công quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

    Kế thừa bản chất và mô hình tổng thể của bộ máy nhà nước ta theo Hiến pháp năm 1992, thể chế hóa các quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp mới xác định rõ hơn chức năng của các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và điều chỉnh lại một số nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này.

    Đối với các cơ quan ở trung ương, Hiến pháp mới khẳng định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Chính phủ được khẳng định là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội; Tòa án nhân dân được xác định là cơ quan xét xử và là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Bên cạnh đó, việc phân biệt rõ ràng các nhóm quyền thuộc ba quyền này cũng được Hiến pháp mới quy định.

    Hai là, Hiến pháp mới thể hiện rõ hơn sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực thi quyền lực nhà nước.

    Như vậy, mặc dù Nhà nước ta không thừa nhận cơ chế tam quyền phân lập nhưng Hiến pháp mới đã thể hiện rõ nội dung “ba quyền được xác lập” khi đã ghi nhận rõ ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Hiến pháp mới và trên thực tế. Sự phân công rành mạch ba quyền này không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyên nghiệp hóa các quyền mà còn là yếu tố đầu tiên tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Thực tiễn cho thấy, chỉ trên cơ sở phân công một cách đúng đắn, hợp lý, minh bạch, rõ ràng giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để cho các quyền này có điều kiện thực hiện đầy đủ và đúng đắn ý nguyện của nhân dân đã được ghi nhận thành các quy định của Hiến pháp và các đạo luật thì việc kiểm soát quyền lực nhà nước mới có hiệu quả.

    Đối với việc phân cấp giữa trung ương và chính quyền địa phương: để tạo cơ sở hiến định cho việc đổi mới tổ chức chính quyền địa phương, Hiến pháp mới không quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp chính quyền địa phương mà quy định theo hướng: “Chính quyền địa phương được tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên” (Khoản 1, Điều 112); “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và ở mỗi cấp chính quyền địa phương” (Khoản 2, Điều 112). Cách quy định như vậy không những tạo sự phân công, phân nhiệm rành mạch mà còn tạo cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới tổ chức chính quyền địa phương và sẽ được quy định cụ thể trong luật.

    Cùng với sự phân công rành mạch chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước còn được thực hiện thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, tránh sự lấn sân, chồng chéo khi thực thi các chức năng, nhiệm vụ đó.

    a) Cơ chế phối hợp trong việc thực hiện quyền lập hiến, lập pháp:

    Hiến pháp mới khẳng định Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp.Theo đó, sự phối hợp, kiểm soát hoạt động của Quốc hội cũng được thể hiện ở việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ này. Cụ thể:

    Quyền lập hiến: Hiến pháp mới quy định rõ việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp như sau: “1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; 2. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định; 3. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến nhân dân và trình Quốc hội về dự thảo Hiến pháp; 4. Dự thảo Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểuQuốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định”. Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề sáng kiến lập pháp, Hiến pháp mới tiếp tục ghi nhận các chủ thể có quyền trình các dự án luật tại Điều 84 như sau: “Chủ tịch nước, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội. Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật trước Quốc hội”. Trên thực tế ở nước ta hiện nay, có hơn 95% các dự án luật là do Chính phủ trình, một số văn bản luật do Tòa án nhân dân tối cao soạn thảo và trình Quốc hội. Sự tham gia của các cơ quan trong quá trình soạn thảo và trình các dự án luật đã thể hiện rõ sự phối hợp giữa Quốc hội với các cơ quan hành pháp, tư pháp trong việc thực hiện quyền lập pháp.

    Bênh cạnh đó, Chủ tịch nước cũng tham gia vào quá trình lập pháp này với vai trò sáng kiến lập pháp, công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Trong quá trình công bố các văn bản pháp luật, Chủ tịch nước cũng có quyền không công bố pháp lệnh đã được UBTVQH thông qua và có quyền đề nghị UBTVQH xem xét lại Pháp lệnh đó. Trong trường hợp UBTVQH vẫn tán thành quyết định đó thì Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội xem xét lại ở kỳ họp gần nhất. Đây là cách thức Chủ tịch nước vừa tham gia, vừa kiểm soát quyền ban hành Pháp lệnh của UBTVQH.

    Ba là, cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước

    b) Cơ chế phối hợp trong việc thực hiện quyền hành pháp

    Hiến pháp mới khẳng định: Chính phủlà cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Theo đó, Chính phủ có quyền ban hành các chính sách, văn bản độc lập để thực hiện nhiệm vụ của mình. Đây là một điểm mới được quy định trong Hiến pháp mới so với Hiến pháp năm 1992. Nếu như Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định Chính phủ có quyền ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH thì Hiến pháp mới đã khẳng định sự độc lập của Chính phủ trong việc ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý thống nhất các cơ quan trong bộ máy nhà nước­ của mình. Quốc hội với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được trao thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn cụ thể của đất nước.

    Về hình thức kiểm soát theo chiều dọc

    Kiểm soát quyền hành pháp: Cơ chế kiểm soát đối với quyền hành pháp được thực hiện trước hết từ cơ quan lập pháp. Theo đó, Hiến pháp mới tiếp tục khẳng định Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng Chính phủ; có quyền phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng… Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản pháp luật sai trái của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội và thực hiện quyền giám sát hoạt động của Chính phủ, xem xét báo cáo của Chính phủ.

    Sau khi Nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm được thông qua thì một cơ chế kiểm soát mới từ phía Quốc hội đối với Chính phủ được thực hiện. Theo đó, Quốc hội có quyền lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu như Thủ tướng Chính phủ, phê chuẩn như Phó Thủ tướng, các bộ trưởng… Về phía các cơ quan tư pháp, việc thực hiện cơ chế kiểm soát từ phía tư pháp đối với cơ quan thực hiện quyền hành pháp cũng được xác lập thông qua cơ chế phán quyết của Tòa hành chính đối với các quyết định hành chính và hành vi hành chính của cán bộ thuộc cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

    Kiểm soát quyền tư pháp: Tòa án được xác địnhlà cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Hiện nay, trong cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước, Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp tham gia vào quyền lập pháp.

    Theo Hiến pháp mới, cơ chế kiểm soát từ phía lập pháp đối với quyền tư pháp được thể hiện thông qua việc Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do mình bầu ra như Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đối với cách tiếp cận giám sát từ dưới lên: nhân dân có quyền nêu ý kiến, nguyện vọng của mình đối với Quốc hội, các cơ quan và tổ chức hữu quan thông qua các đại biểu do mình bầu ra…

    Thứ hai, về sự phân cấp, phân quyền, kiểm soát giữa trung ương và địa phương: Hiến pháp mới ghi nhận HĐND và UBND là một thể thống nhất (dưới tên chung là chính quyền địa phương), có vị trí quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Điều 111, Hiến pháp mới quy định: “1.Chính quyền địa phương tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. HĐND, UBND được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp, phân quyền do luật định”.

    “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương”.

    Từ phía cơ quan hành pháp, bên cạnh chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo công tác của UBND các cấp, Chính phủ có quyền kiểm tra HĐND trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Bộ Phận Cấu Thành Của Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Quan Niệm Biến Dị Cá Thể Theo Đacuyn
  • Ai Là Người Đầu Tiên Đưa Ra Khái Niệm “biến Dị Cá Thể?
  • Khái Niệm, Phân Loại, Cấu Tạo Và Nguyên Lí Hoạt Động Của Biến Tần
  • Tổ Chức Bộ Máy Hệ Thống Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Phân Tích Những Nguyên Tắc Cơ Bản Trong Đổi Mới Hệ Thống Chính Trị Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Linux Là Gì? Hệ Điều Hành Linux
  • Bạn Đã Biết Gì Về Hệ Điều Hành Linux?
  • Tìm Hiểu Về Hệ Điều Hành Android
  • Apple Phát Hành Ios 13.4 Và Ipados 13.4 Có Gì Hot
  • Thể chế chính trị gắn bó hữu cơ với tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, trở thành điều kiện, tiền đề của nhau. Bởi vì không ai khác, chính bộ máy hệ thống chính trị là chủ thể xây dựng, hoàn thiện và vận hành thể chế phát triển mà trước hết là thể chế chính trị. Đến lượt nó, thể chế chính trị trở lại quy định, thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Trên cơ sở nhận thức ấy, bài viết mong muốn lý giải về vai trò, vị trí, ý nghĩa, thực trạng, những vấn đề đặt ra và những giải pháp nhằm tích cực hóa tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, một nhân tố có ý nghĩa sống còn đối với thể chế chính trị nói riêng và thể chế phát triển đất nước nhanh, bền vững trong điều kiện hiện nay.

    1. Vai trò, tầm quan trọng của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị đối với thể chế phát triển

    1) Khái niệm “Hệ thống chính trị” bắt đầu được sử dụng từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989), để thay cho khái niệm “Hệ thống chuyên chính vô sản”. Đây là một bước nhận thức mới của Đảng ta về vai trò, vị trí, tính chất của hệ thống quyền lực trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

    Hệ thống chính trị của chúng ta gồm ba “tiểu hệ thống” là Đảng Cộng sản, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc tập hợp các đoàn thể, tổ chức nhân dân. Ba “tiểu hệ thống” chính trị gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên CNXH, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ba “tiểu hệ thống” ấy gắn bó chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống chính trị thống nhất, vận hành theo quan hệ chức năng có tính nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

    Hệ thống chính trị nước ta nắm giữ toàn bộ hệ thống các quyền lực xã hội trên thực tế, từ quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước đến các quyền lực khác trong xã hội, trong đó có các quyền lực về xây dựng, hoàn thiện, tổ chức thực thi, kiểm sát việc thực thi hệ thống thể chế phát triển. Chính vì thế, việc hoàn thiện và thực thi có hiệu quả thể chế phát triển chỉ có thể xảy ra khi có một tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tốt, hợp lý, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    2) Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không thể tách rời công tác cán bộ. Đây là hai lĩnh vực gắn bó hữu cơ, phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau. Trong tác phẩm “Làm gì”, V.I.Lênin đã sớm nhận thấy sức mạnh của tổ chức đảng đối với cách mạng vô sản khi cho rằng: “Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo lộn nước Nga lên”(1). Nên nhớ rằng, V.I.Lênin nói đến “tổ chức” là tổ chức của “những người cách mạng”, một “lực lượng” những người có đủ năng lực thực sự để tham gia vào cuộc cách mạng vĩ đại. Người nhấn mạnh: “Muốn trở thành một lực lượng chính trị như thế trước con mắt công chúng thì phải cố gắng rất nhiều và bền bỉ để nâng cao tính tự giác, óc sáng kiến và nghị lực của chúng ta lên, chứ chỉ đem dán cái nhãn hiệu “đội tiên phong” vào lý luận và thực tiễn của đội hậu vệ thì không đủ”(2). Nói cách khác, V.I.Lênin yêu cầu phải có lực lượng những người cán bộ ngang tầm nhiệm vụ cách mạng, những người cán bộ có đủ tri thức, năng lực và phẩm chất để có thể thực thi những trách nhiệm công tác nặng nề trong tổ chức. Khi những con người có lý tưởng cách mạng, có năng lực công tác như thế tập hợp thành một tổ chức hợp lý, chặt chẽ sẽ tạo nên một sức mạnh có thể cải tạo cách mạng, “đảo lộn” xã hội nước Nga đương thời.

    Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”(3). Vì vai trò có ý nghĩa quyết định của công tác cán bộ như vậy nên Người yêu cầu “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”(4). Theo người, việc “dạy cán bộ và dùng cán bộ” thể hiện ở 6 việc là: 1. Phải biết rõ cán bộ; 2. Phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng; 3. Phải khéo dùng cán bộ; 4. Phải phân phối cán bộ cho đúng; 5. Phải giúp cán bộ cho đúng; 6. Phải giữ gìn cán bộ(5). Tất cả những công việc đó đều là công việc của tổ chức, của bộ máy công tác của Đảng và cả hệ thống chính trị. Chỉ có một tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tốt mới có thể hoàn thành được những công việc về đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, sử dụng, kiểm tra và phát huy đầy đủ năng lực cán bộ. Cán bộ tốt nhưng đặt vào trong một tổ chức bộ máy không tốt thì cán bộ đó hoặc là không thể phát huy được năng lực của mình, hoặc là khó tránh khỏi bị rơi vào những sai lầm, bị lôi kéo vào những khuyết điểm. Ngược lại, cán bộ kém mà đặt vào một tổ chức bộ máy tốt sẽ có điều kiện để được học tập, rèn luyện, giúp đỡ nâng cao trình độ văn hóa, năng lực công tác, có thể trở thành những cán bộ tốt, hoặc ít ra cũng không bị sa vào những sai lầm, khuyết điểm, nhất là những sai lầm, khuyết điểm về chính trị, đạo đức. Hơn thế nữa, đội ngũ cán bộ tốt sẽ đảm bảo cho việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện về tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của nó theo hướng ngày càng tích cực hơn, hiệu quả hơn, cập nhật với tình hình và những yêu cầu mới đặt ra từ thực tế. Từ góc nhìn ấy có thể thấy vai trò quyết định của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong việc xây dựng, hoàn thiện và thực thi thể chế phát triển chung của xã hội.

    2. Những vấn đề đặt ra của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta hiện nay

    Trước hết, cần phải khẳng định rằng, công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị của chúng ta đã có nhiều chuyển biến quan trọng, đạt được nhiều kết quả cơ bản và to lớn trong hơn 30 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng. Tổ chức bộ máy đã có những chuyển biến theo hướng đáp ứng với những đòi hỏi đặt ra của thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Một số cơ quan, tổ chức mới được thiết lập, một số cơ quan, tổ chức không còn phù hợp đã được giải thể hoặc sáp nhập vào các cơ quan, tổ chức thích hợp. Trong nội bộ nhiều cơ quan, tổ chức cũng có những thay đổi về bộ máy, nhân sự theo hướng ngày càng hợp lý hóa với những điều kiện kinh tế – xã hội đã thay đổi. Một số cơ quan nhà nước, nhất là Quốc hội, đã được tăng cường các điều kiện, nguồn lực, ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò và trách nhiệm trong quản lý đất nước. Các quy định, chế độ, hành lang pháp lý cho hoạt động của hệ thống chính trị được bổ sung, phát triển, v.v.. Những kết quả quan trọng trong công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, và gắn bó hữu cơ với nó, những đổi mới về thể chế là những điều kiện cơ bản, quyết định cho những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn nhiều vấn đề đang đặt ra trong công tác tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta hiện nay.

    Thứ nhất, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, ngày càng phình to, thiếu ổn định, không phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội đã có rất nhiều chuyển biến qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã thay thế cho cơ chế quản lý kế hoạch hóa, bao cấp trước đây. Chúng ta đã vượt qua thời kỳ nghèo khó, trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Những thành tựu của công cuộc Đổi mới đã cải thiện mọi mặt đời sống các tầng lớp dân cư. Cơ cấu xã hội đã có thay đổi to lớn, trong đó tầng lớp trung lưu đã phát triển đáng kể. Nhà nước pháp quyền XHCN đã hình thành, phát triển, thay thế cho nhà nước chuyên chính vô sản. Những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ của đất nước và cùng với nó là một nền kinh tế có độ mở cao đã mang lại những điều kiện rất mới cho sự phát triển kinh tế – xã hội, tạo ra lối sống, thói quen tiêu dùng mới, tác động mạnh mẽ vào các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, v.v..

    Theo quy luật, những điều kiện ấy là cơ sở khách quan và đặt ra những yêu cầu tất yếu của việc đổi mới tổ chức, cơ chế vận hành, tinh giản bộ máy, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, trên thực tế, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta lại ngày càng mở rộng quy mô, phức tạp hóa về cấu trúc. Số lượng biên chế tăng đều từng năm (đến trước thời điểm Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 39, tháng 4 năm 2022). Nhiều bộ phận trung gian, hoạt động không rõ chức năng, nhiệm vụ. Không ít thiết chế được lập ra chưa thật hợp lý, làm cho chức năng, nhiệm vụ chồng chéo, gây khó khăn hoặc giảm trách nhiệm, hiệu lực hoạt động của các cơ quan khác. Chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm công tác giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, giữa các cấp hành chính trong mỗi hệ thống quyền lực, giữa các cấp lãnh đạo quản lý trong nhiều cơ quan, tổ chức không rõ ràng, còn có hiện tượng lấn sân công việc nhưng đùn đẩy trách nhiệm. “Số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước rất lớn” (Nghị quyết Trung ương 6), trong khi năng suất lao động, hiệu suất công tác thấp, làm cho chi ngân sách cho bộ máy ngày càng tăng. Chế độ tiền lương chậm được thay đổi làm cho tiền lương thực tế của cán bộ, viên chức không còn ý nghĩa tích cực trong việc đánh giá hiệu quả công tác, v.v.. Nói tóm lại, chúng ta chưa nhận thức rõ tính chất, cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị nước ta hiện nay. Một khi chưa giải quyết được vấn đề nhận thức ấy thì việc xây dựng và vận hành tổ chức bộ máy hệ thống chính trị còn lúng túng, hạn chế hiệu lực, hiệu quả hoạt động.

    Thứ hai, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ chưa được nhận thức rõ ràng, chưa được đổi mới hoàn thiện trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Trong đường lối và chủ trương chung của Đảng, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành của mỗi “tiểu hệ thống” này và của cả hệ thống chính trị đều đã được xác định khá rõ ràng. Tuy nhiên trên thực tế, việc cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương này diễn ra quá chậm hoặc không đáp ứng yêu cầu, quan điểm, đòi hỏi chung. Tình trạng trên dẫn tới chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo với nhau. Việc phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, chỗ bao biện làm thay, nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng. Về cơ bản, tổ chức bộ máy trong từng “tiểu hệ thống” cũng như trong toàn bộ hệ thống chính trị chưa đổi mới kịp với những thay đổi và yêu cầu của thực tiễn. Trong khi các điều kiện kinh tế, xã hội đã có những thay đổi to lớn thì tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của nó vẫn ít thay đổi hoặc không thay đổi. Mô hình tổ chức cụ thể, chức năng, trách nhiệm, quyền lực, nghĩa vụ của từng “tiểu hệ thống”, cũng như của các cấp, các bộ phận trong mỗi “tiểu hệ thống” còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa hợp lý, chưa phù hợp với điều kiện mới. Mối quan hệ, tác động qua lại giữa các cấp, các bộ phận trong từng “tiểu hệ thống” cũng như của cả hệ thống chính trị không rõ ràng, phân minh. Việc lập ra một số tổ chức mới, xác lập một số quy định, thiết chế vận hành mới nhiều khi chắp vá, không đồng bộ, không giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ mới, các vấn đề mới đặt ra, thậm chí làm cho bộ máy ngày càng phình ra, cơ chế vận hành phức tạp thêm, chức năng các bộ phận trùng giẫm lên nhau hơn.

    Thứ ba, vấn đề kiểm soát quyền lực, giám sát liêm chính bị buông lỏng; kỷ cương, kỷ luật và việc thực thi pháp luật không nghiêm minh dẫn đến tình trạng “quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được đẩy lùi, gây bức xúc xã hội”(6).

    Kiểm soát quyền lực, giám sát liêm chính là vấn đề cơ bản của mọi chế độ nhà nước trong lịch sử cũng như hiện đại. Việc kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm cho nhà nước vận hành hiệu quả, ngăn chặn sự lợi dụng quyền lực mưu cầu lợi ích riêng, lợi ích nhóm. Giám sát liêm chính nhằm ngăn chặn, cảnh báo những hành vi tiêu cực, tham nhũng, lợi dụng chức quyền, bảo vệ sự trong sạch và uy tín của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Kiểm soát quyền lực và giám sát liêm chính tuy hai mà là một, như hai mặt của một vấn đề, gắn bó chặt chẽ với nhau, làm tiền đề và điều kiện cho nhau. Về nguyên tắc, mọi quyền lực trong xã hội đều phải được kiểm soát, mọi cán bộ, công chức, viên chức đều phải được giám sát liêm chính. Càng những cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm giữ quyền lực quan trọng của hệ thống chính trị, các nguồn lực to lớn của xã hội càng phải được kiểm soát, giám sát một cách chặt chẽ, nghiêm khắc. Giáo dục về đạo đức là một yếu tố rất quan trọng, nhưng nếu thiếu sự kiểm tra, kiểm soát, giám sát về quyền lực và liêm chính thì đạo đức rất dễ bị xuyên tạc, mất đi ý nghĩa xã hội.

    Thứ tư, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị hạn chế. Những hạn chế về hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị thể hiện ở một số bình diện sau:

    – Chậm cụ thể hóa các đường lối, chủ trương của Đảng thành các chính sách, quyết định quản lý nhà nước. Không ít chủ trương của Đảng về các lĩnh vực kinh tế – xã hội không được phản ánh đầy đủ trong các chính sách, chế độ, quy định cụ thể. Thậm chí một số quan điểm, chủ trương trong các Nghị quyết của Đảng không được triển khai thực hiện trên thực tế hoặc có triển khai thực hiện nhưng không mang lại kết quả, hiệu quả như yêu cầu.

    – Năng lực, sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức Đảng còn yếu, cá biệt có nơi còn mất đoàn kết. Do đó, tổ chức Đảng không thể đáp ứng yêu cầu về nêu gương, tập hợp lực lượng quần chúng nhân dân, không phát huy được sức mạnh, nguồn lực và các nhân tố tích cực của nhân dân để lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị công tác.

    – Việc triển khai, tổ chức thực hiện các quyết sách của Đảng, các quyết định, chính sách của Nhà nước về xây dựng, phát triển đất nước chưa mang lại hiệu quả như mong đợi, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước, nguồn lực đã đầu tư. Một số doanh nghiệp nhà nước để xảy ra tình trạng thất thoát vốn, đầu tư không hiệu quả, làm cho nợ công tăng cao. Một số chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước không hoàn thành hoặc kết thúc với hiệu quả thấp…

    – Thực hành dân chủ XHCN có nơi, có lúc còn mang tính hình thức. Ở một số nơi, một số tổ chức Đảng, tổ chức Nhà nước còn xa dân, chưa quan tâm chăm lo đời sống mọi mặt của người dân. Cải cách hành chính chậm, có những thủ tục, quy định còn gây khó khăn cho người dân. Nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp, mới nảy sinh từ thực tế nhưng không được quan tâm giải quyết một cách công bằng, hợp lý, dẫn đến những bức xúc trong nhân dân.

    – Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ của một số không ít cán bộ, đảng viên.

    – “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành…”(9). Bệnh chạy chức, chạy quyền, chạy lợi ích, bắt tay giữa cơ quan quyền lực với doanh nghiệp ngày càng phức tạp, nặng nề hơn. Nguồn vốn của Nhà nước được phân bổ vẫn còn những nội dung bất hợp lý, còn bị chi phối nhiều bởi cơ chế “xin – cho”, làm cho hiệu quả sử dụng vốn thấp, gây lãng phí cho nền kinh tế. Tham nhũng vặt tràn lan, trở thành phổ biến như một “chế độ” đương nhiên. Tham nhũng còn dẫn đến mất cán bộ, kể cả cán bộ cao cấp, đoàn kết nội bộ các cơ quan, tổ chức bị xói mòn, gây bức xúc xã hội.

    – Diễn biến tư tưởng trong nhân dân ngày càng phức tạp. Công tác chỉ đạo, quản lý truyền thông, báo chí chuyển biến không theo kịp tình hình thực tế. Phản ứng đối với những vấn đề thời sự, nhạy cảm của thông tin truyền thông không những không chủ động, mà còn chậm, bị động. Thông tin chính thống vẫn chủ yếu và cơ bản là một chiều, minh họa cho nghị quyết, ít thông tin phê bình, phê phán, càng hiếm những thông tin phản biện khoa học. Thông tin trực tiếp, không chính thống trên môi trường mạng ngày càng lấn sân thông tin chính thống, thể hiện sức mạnh chi phối đối với với dư luận xã hội…

    3. Định hướng giải pháp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu của thế chế phát triển đất nước

    Đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một điều kiện hàng đầu bảo đảm cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đó cũng chính là điều kiện để có thể xây dựng, hoàn thiện và thực thi hệ thống thể chế nhằm giữ vững ổn định chính trị – xã hội, khai thác và phát huy những tiềm năng, lợi thế, tận dụng các nguồn lực trong xã hội, thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Vậy, định hướng giải pháp nào để đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong điều kiện hiện nay. Phải chăng đó là:

    Thứ nhất, đổi mới nhận thức lý luận về CNXH và về tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong điều kiện mới.

    Trong nhận thức lý luận, vấn đề quan trọng hàng đầu là dựa chắc vào phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tránh cách nhìn thiên kiến, bảo thủ. Một vấn đề đặc biệt quan trọng tạo nên sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin chính là phương pháp biện chứng, cách nhìn nhận xã hội trong sự vận động không ngừng, phát triển không ngừng. Chính C.Mác, Ph.Ăngghen đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải xem xét những vấn đề của cách mạng một cách biện chứng, không tách rời các điều kiện lịch sử cụ thể. Việc nhanh chóng thay đổi chính sách xây dựng đất nước bằng “Chính sách kinh tế mới” cho thấy V.I.Lênin đã rất quyết liệt vượt qua những rào cản về nhận thức, dám đoạn tuyệt với những tín điều, “công thức” cũ, với cách tiếp cận rất thực tế, rất sáng tạo. Hồ Chí Minh đã diễn đạt cách tiếp cận ấy bằng châm ngôn “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, cũng có nghĩa là mục tiêu cách mạng không thay đổi, nhưng phương pháp, cách thức, biện pháp thì phải luôn sáng tạo, tùy thuộc vào tình hình, điều kiện cụ thể mỗi nơi, mỗi lúc. Đó là phương pháp dựa vào thực tế, nhìn thẳng vào thực tế, nghiên cứu, rút ra những kinh nghiệm hay, bài học tốt. Đồng thời qua thực tiễn để kiểm nghiệm, đánh giá lại những vấn đề lý luận, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đã và đang thực hiện để nhanh chóng điều chỉnh, tìm ra cái sai để sửa, tìm ra giải pháp mới, cách làm mới để đạt được mục đích.

    Từ nhận thức lý luận chung để thấy những cơ sở khoa học, thực tiễn của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị của chúng ta đã có nhiều thay đổi. Đó là những thay đổi chung trên quy mô thế giới, phạm vi nhân loại do sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, do hệ thống tri thức to lớn và những bài học lịch sử phong phú được tích lũy, do trình độ phát triển về văn hóa, xã hội và con người đã được nâng lên, do các hình thái chế độ chính trị – xã hội đã được biến đổi rất nhiều trong quá trình vận động, thích ứng với các điều kiện mới, do sự thể hiện vô cùng phong phú, phức tạp các quan hệ quốc tế và khu vực, v.v.. Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu, làm rõ nội dung, tính chất của những thay đổi đó để từ đó tìm ra những yêu cầu, đòi hỏi khách quan đặt ra cho tổ chức bộ máy hệ thống chính trị; làm sao cho tổ chức bộ máy đó vừa thích ứng với thực tế, vừa bảo đảm định hướng chế độ và thực hiện được mục tiêu phát triển đất nước.

    Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, làm rõ nhận thức lý luận về đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền, về phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới.

    Những lúng túng trong hoạt động và những hạn chế trong thực tế công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong thời gian vừa qua có một phần nguyên nhân từ chính sự chưa rõ ràng trong nhận thức lý luận. Nguyên tắc chung của mối quan hệ “Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ” đã được xác định từ lâu nhưng nội dung cụ thể của nó như thế nào vẫn chưa được xác định, chưa được thống nhất. Ngay cả khi đã có những định hướng nhất định về mối quan hệ cơ bản ấy thì mức độ, phạm vi thế nào cũng chưa rõ, chưa cập nhật kịp tình hình mới với nhiều thay đổi. Cương lĩnh năm 2011 xác định: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(11). Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 dường như đã diễn đạt phương thức lãnh đạo của Đảng theo một cách cụ thể hơn: “Trong điều kiện Đảng ta là Đảng cầm quyền và có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước”(12). Vấn đề tiếp theo vẫn rất cần phải làm rõ sự thống nhất giữa hai cách diễn đạt đó, xác định rõ tính chất, phạm vi, mức độ, trách nhiệm của sự lãnh đạo của Đảng đến đâu, cơ chế nào bảo đảm sự lãnh đạo đó thực sự hiệu lực, hiệu quả.

    Vấn đề kiểm soát quyền lực, sự liêm chính của cán bộ trong điều kiện duy nhất Đảng Cộng sản lãnh đạo cũng là một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ từ nhận thức đến cơ chế, giải pháp trong thực tế. Cần làm rõ những cơ chế, giải pháp bảo đảm mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ, mọi cán bộ trong hệ thống chính trị phải được giám sát về liêm chính, không có vùng cấm trong bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Cần phải nhớ rằng, giáo dục đạo đức là vô cùng quan trọng, nhưng chỉ dựa vào đạo đức là không đủ. Một chế độ kiểm soát quyền lực, giám sát liêm chính chặt chẽ, nghiêm minh là yêu cầu không thể thiếu để bảo đảm cho bộ máy nhà nước vận hành một cách hiệu lực, hiệu quả. Ngay từ năm 1923, V.I.Lênin đã rất quan tâm đến việc giám sát quyền lực. Người yêu cầu: “những ủy viên Ban kiểm tra trung ương có nhiệm vụ tham dự, với một số lượng nhất định, vào mỗi phiên họp của Bộ Chính trị, sẽ phải là một nhóm cố kết, nó “không được vị nể cá nhân” phải giữ gìn sao cho không một quyền uy nào của Tổng Bí thư hay là của một ủy viên nào trong Ban Chấp hành Trung ương có thể ngăn cản mình chất vấn, kiểm tra các hồ sơ, và nói chung, nắm được tình hình hết sức rõ ràng và xử lý mọi việc hết sức đúng đắn”(13).

    Thứ ba, nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong thời kỳ mới.

    Đây là vấn đề rất khó, đòi hỏi sự công phu, khoa học. Về cơ bản, mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta cần giải quyết tốt mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Yêu cầu đặt ra là sự hợp lý hóa, luật hóa vai trò, trách nhiệm, cơ chế vận hành trong nội bộ từng yếu tố và giữa các yếu tố với nhau, bảo đảm sự tinh gọn, rõ ràng về quyền hạn, chức năng, trách nhiệm, không trùng giẫm lẫn nhau, không bao biện làm thay giữa các cấp, các ngành.

    Một mặt, cần khẳng định vai trò, vị trí của tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong thời gian qua là rất quan trọng, là cơ sở hàng đầu bảo đảm cho những thành tựu to lớn của đất nước trong thời gian qua. Mặt khác, cần thấy rằng việc đổi mới mô hình tổ chức bộ máy hệ thống chính trị nước ta là yêu cầu khách quan, bức thiết, không thể chậm trễ. Nhưng việc thực hiện đổi mới mô hình tổng thể hệ thống chính trị cũng cần phải khoa học, chắc chắn, kế thừa được những yếu tố tích cực đã có, vận dụng được những kinh nghiệm tốt của thế giới, giữ vững được sự ổn định chính trị – xã hội.

    Vấn đề đặt ra trong mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là sự phân công quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng đối với từng cấp, ngành, từng vị trí cán bộ lãnh đạo quản lý. Đưa ra và thực thi nghiêm túc những nguyên tắc, quy định để bảo đảm sự nghiêm khắc, công bằng và bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, xóa bỏ vùng cấm, ngăn chặn sự phát sinh đặc quyền đặc lợi. Đặc biệt, cần ứng dụng các thành tựu khoa học, nhất là công nghệ số để khách quan hóa những quan hệ giao dịch dân sự, nhất là những giao dịch có nguy cơ nảy sinh tiêu cực…

    Thứ tư, xây dựng và thực hiện chiến lược mới về công tác cán bộ. Trong chiến lược cán bộ mới cần có những điều kiện, giải pháp nhằm đào tạo, bồi dưỡng để sớm xây dựng được một đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chiến lược, vừa hồng, vừa chuyên, có năng lực công tác tốt, có nhân cách đạo đức tốt, đáp ứng những yêu cầu của thực tế đang đặt ra. Để đáp ứng yêu cầu đó, cần đổi mới căn bản về nhận thức, về hệ thống tổ chức, về nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ.

    Trước hết, không thể quên rằng, việc đào tạo cán bộ cho hệ thống chính trị bắt đầu ngay từ giáo dục phổ thông. Nếu chức năng giáo dục phổ thông là giáo dục nhân cách, lối sống con người, kỹ năng, lối sống của công dân, thì đây cũng chính là tạo “phôi” cho việc đào tạo cán bộ về sau. Do đó, cần phải có sự kết hợp, liên thông giữa hệ thống giáo dục quốc dân với hệ thống đào tạo, bồi dưỡng chuyên biệt của Đảng, Nhà nước. Sự nhầm lẫn về mục tiêu, nội dung, phương pháp giữa giáo dục phổ thông với đào tạo nghề nghiệp, chuyên gia ở bậc đại học, giữa xã hội hóa giáo dục với thị trường hóa giáo dục, đang có nguy cơ thực tế dẫn đến những thiếu sót ngay từ khâu tạo “phôi” cho công tác đào tạo cán bộ. Đặc biệt, tình trạng xã hội hóa giáo dục biến thành thị trường hóa giáo dục một cách cực đoan, thiếu định hướng hiện nay đang tạo ra sự bất bình đẳng và môi trường giáo dục phân biệt đối xử đối với trẻ em, những chủ nhân tương lai của đất nước. Chắc chắn đó không phải là mong đợi đối với một chế độ xã hội tốt đẹp, hiện đại như chúng ta. Nói cách khác, việc đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải bắt đầu từ việc đổi mới nhận thức, nội dung, phương pháp của hệ thống giáo dục phổ thông.

    Cần thiết nghiên cứu đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, kết hợp đào tạo cơ bản với đào tạo theo chức danh, nhiệm vụ từng vị trí việc làm; giữa đào tạo lý luận chính trị với đào tạo kỹ năng làm việc, phương pháp công tác; giữa đào tạo tập trung chuyên sâu với cập nhật, bổ sung tri thức, kinh nghiệm mới; giữa đào tạo bồi dưỡng tại chỗ với luân chuyển, rèn luyện thực tế…

    Việc xây dựng đội ngũ cán bộ không thể đạt kết quả tốt nếu không làm tốt việc xây dựng, hoàn thiện và thực thi đầy đủ hệ thống quy định, chuẩn mực về đánh giá, bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc; về phân công, phân nhiệm rõ ràng, minh bạch; về chế độ đãi ngộ công bằng, hợp lý đối với cán bộ; về chế độ khen thưởng, kỷ luật, kỷ cương công bằng, hợp lý và nghiêm khắc trong công tác cán bộ.

    Tóm lại, việc xây dựng, hoàn thiện và thực thi thể chế phát triển đất nước nhanh, bền vững không thể tách rời việc đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị. Trong điều kiện hiện nay, đây là hai trong số ít vấn đề sống còn, có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta, trong đó, việc đổi mới tổ chức bộ máy hệ thống chính trị có ý nghĩa trung tâm, là điều kiện trước hết cho việc xây dựng, hoàn thiện thể chế đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững.

    GS. TS. Tạ Ngọc Tấn, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1/2019

    (1), V.I.Lênin: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.162.

    (2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.115.

    (3), (4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.280, 313, 314.

    (6), (7), (8), (9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2022, tr.172, 173, 174-175, 196.

    (10) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2022.

    (11), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88, 144.

    (13) V.I.Lênin: Toàn tập, t.45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.440.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Dựng Htct Cơ Sở Vững Mạnh Trên Địa Bàn Tỉnh Tây Ninh Hiện Nay
  • Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Zalo 093 189 2701
  • Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Hệ Thống Chính Trị Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Bộ Câu Hỏi Tham Khảo Thi Trắc Nghiệm Kỳ Thi Nâng Ngạch Chuyên Viên Chính Năm 2022, Chuyên Đề Xây Dựng Đảng, Chính Quyền, Nhà Nước
  • Chức Năng, Hình Thức, Bộ Máy Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước Là Gì ? Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước Và Các Nhân Ở Việt Nam ?
  • Khái Niệm Bộ Máy Hành Chính Nhà Nước
  • Cải Cách Bộ Máy Hành Chính, Nội Dung Quan Trọng Của Cải Cách Hành Chính
  • Cải Cách Hành Chính Là Gì? Tại Sao Chính Phủ Lại Lựa Chọn Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Là Khâu Đột Phá ?
  • Những Vấn Đề Chung Về Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Bản chất và vai trò của nhà nước thể hiện trực tiếp trong nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ và chức năng ấy.

    a) Nhiệm vụ của nhà nước là mục tiêu mà nhà nước cần đạt tới, là những vấn đề đặt ra mà nhà nước cần giải quyết.

    b) Chức năng của nhà nước là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước.

    Chức năng của nhà nước là phương tiện, công cụ để thực hiện nhiệm vụ, được quy định trực tiếp bởi nhiệm vụ.

    Một nhiệm vụ cơ bản chiến lược thường được thực hiện bởi nhiều chức năng. Ví dụ: nhiệm vụ chung xây dựng CNXH, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội. Một chức năng có thể là phương tiện thực hiện nhiều nhiệm vụ cụ thể, cấp bách. Ví dụ: chức năng kinh tế thực hiện nhiều nhiệm vụ như: đảm bảo tự túc lương thực trong nước và xuất khẩu, chống lạm phát, ổn định đời sống nhân dân…

    Xét ở phạm vi bao quát hơn, chức năng nhà nước được quy định một cách khách quan bởi cơ sở kinh tế- xã hội(kết cấu giai cấp).

    Ví dụ: Chức năng cơ bản của kiểu nhà nước bóc lột (bảo vệ, duy trì chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, trấn áp phản kháng của giai cấp bị trị, tiến hành xâm lược hòng nô dịch các dân tộc khác…) bị quy định bởi quyền tư hữu tư liệu sản xuất và chế độ bóc lột nhân dân lao động.

    Chức năng nhà nước XHCN khác chức năng nhà nước bóc lột: thể hiện ở nội dung và phương thức thực hiện. Cơ sở kinh tế của nhà nước XHCN là chế độ công hữu với tư liệu sản xuất và nhà nước là tổ chức chính trị thể hiện ý chí, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân lao động, là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Các chức năng cơ bản của nhà nước luôn được bổ sung bằng những nội dung mới phù hợp với nhiệm vụ và tình hình của mỗi giai đoạn phát triển xã hội.

    Ví dụ: nhiệm vụ quan trọng hiện nay là xây dựng nền kinh tế phát triển- nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước. Chức năng quản lý kinh tế có nhiều nội dung mới và phương thức thực hiện năng động nhạy bén phù hợp với cơ chế quản lý mới.

    Chức năng nhà nước và chức năng cơ quan nhà nước:

    Chức năng nhà nước là phương diện chủ yếu của cả bộ máy nhà nước mà mỗi cơ quan nhà nước đều phải tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau.

    Ví dụ: chức năng bảo vệ pháp luật và tăng cường pháp chế thuộc về các cơ quan: Quốc Hội, Tòa án, Viện kiểm sát…

    Chức năng của một cơ quan nhà nước là những phương diện hoạt động của cơ quan đó nhằm góp phần thực hiện chức năng chung của nhà nước.

    Ví dụ: Tòa án thực hiện chức năng xét xử vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp. Chức năng của Viện kiểm sát là công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

    Căn cứ vào tính chất chức năng phân thành:

    a) Chức năng cơ bản

    b) Chức năng không cơ bản.

    Căn cứ vào thời gian thực hiện chức năng:

    a) Chức năng lâu dài

    b) Chức năng tạm thời

    Căn cứ vào đối tượng của chức năng:

    a) Chức năng đối nội (là chức năng cơ bản)

    b) Chức năng đối ngoại.

    2 loại chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, các chức năng đối ngoại luôn xuất phát từ việc thực hiện chức năng đối nội và phục vụ chức năng đối nội. Thực hiện tốt chức năng đối nội sẽ thuận lợi cho thực hiện chức năng đối ngoại và ngược lại.

    Chức năng đối nội quan trọng và có vai trò quyết định đối với sự tồn tại của nhà nước.

    3. Hình thức và phương pháp thực hiện chức năng:

    Hình thức thực hiện chức năng:

    Hình thức mang tính pháp lý:

    Hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật.

    Tổ chức thực hiện pháp luật .

    Bảo vệ pháp luật

    Hình thức mang tính tổ chức kỹ thuật- kinh tế- xã hội.

    Phương pháp thực hiện chức năng: 2 phương pháp : thuyết phục và cưỡng chế.

    Sự khác nhau căn bản giữa nhà nước XHCN và nhà nước bóc lột: phương pháp chủ yếu của nhà nước XHCN là thuyết phục, giáo dục còn cưỡng chế chỉ được áp dụng khi thuyết phục, giáo dục không đạt kết quả và cũng chỉ với mục đích cải tạo người xấu thành người tốt có lợi ích cho xã hội, ngăn ngừa hiện tượng tiêu cực chứ hoàn toàn không mang tính chất đàn áp.

    Nhà nước bóc lột: cưỡng chế là phương pháp cơ bản, được áp dụng rộng rãi mà chủ yếu là để áp bức , bóc lột nhân dân lao động.

    Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, là phương thức chuyển ý chí giai cấp thống trị thành ý chí nhà nước.

    Hình thức nhà nước bị quy định bởi bản chất nhà nước.

    Có hai loại:

    Hình thức chính thể là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.

    Hình thức chính thể gồm 2 dạng cơ bản:

    Chính thể quân chủ: quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước ( vua, hoàng đế…) theo nguyên tắc thừa kế.

    Chính thể quân chủ được chia thành:

    Chính thể quân chủ tuyệt đối: người đứng đầu nhà nước ( vua, hoàng đế…) có quyền lực vô hạn.

    Chính thể quân chủ hạn chế: quyền lực tối cao được trao cho người đứng đầu nhà nước và một cơ quan cấp cap khác.

    Chính thể cộng hòa: quyền lực nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan đại diện do bầu ra trong một thời gian nhất định.

    Chính thể cộng hòa có 2 hình thức:

    Chính thể cộng hòa dân chủ: pháp luật quy định quyền của công dân tham gia bầu cử thành lập cơ quan đại diện của nhà nước. Nhưng vấn đề này thực hiện được hoặc không thực hiện được còn phụ thuộc vào nhà nước thuộc giai cấp nào.

    Chính thể cộng hòa quý tộc: quyền tham gia bầu cử để thành lập các cơ quan đại diện của nhà nước chỉ dành riêng cho giới quý tộc (dưới chế độ nô lệ và phong kiến).

    Là sự tổ chức nhà nước theo đơn vị hành chính lãnh thổ và tổ chức quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước ở địa phương.

    Có 2 hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu:

    Nhà nước đơn nhất: là nhà nước có lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất, các bộ phận hợp thành nhà nước là các đơn vị hành chính lãnh thổ không có chủ quyền quốc gia và các đặc điểm của nhà nước. Có hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương. Ví dụ: Việt Nam, Lào, Trung Quốc…

    Nhà nước liên bang: không chỉ liên bang có dấu hiệu nhà nước mà các nhà nước thành viên ở mức độ này hay mức độ khác cũng có các dấu hiệu của nhà nước, chủ quyền quốc gia. Nhà nước liên bang có 2 hệ thống cơ quan nhà nước và 2 hệ thống pháp luật.

    Ví dụ: Mỹ, Liên Xô cũ, Braxin…

    Có một loại hình nhà nước khác nữa là nhà nước liên minh: nhà nước liên minh chỉ ra là sự liên kết tạm thời của các quốc gia để thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nhất định. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục đích. Nhà nước liên minh tự giải tán. Cũng có trường hợp phát triển thành nhà nước liên bang.

    Ví dụ: Từ năm 1776 đến năm 1787, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nhà nước liên minh sau trở thành nhà nước liên bang.

    Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức thực hiện theo nguyên tắc tập trung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước.

    Bộ phận cấu thành nhà nước là cơ quan nhà nước. Cơ quan nhà nước là tổ chức chính trị có tính độc lập tương đối về cơ cấu tổ chức, bao gồm những cán bộ, viên chức nhà nước. Cán bộ, viên chức nhà nước là những con người được giao quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ, chức năng trong phạm vi luật định.

    Phân loại cơ quan nhà nước.

    Theo chức năng: cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    Theo vị trí, tính chất, thẩm quyền: cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý, Tòa án, Viện kiểm sát.

      Sự phát triển của bộ máy nhà nước qua các kiểu nhà nước trong lịch sử.

    a) Tính tất yếu khách quan của sự phát triển bộ máy nhà nước.

    Bộ máy nhà nước là phạm trù năng động, luôn vận động, biến đổi để thích nghi với điều kiện khách quan của xã hội.

    Bộ máy nhà nước chịu sự quy định của yếu tố kinh tế, bản chất nhà nước, tương quan lực lượng chính trị- xã hội, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán.

    Bộ máy nhà nước chịu sự quy định của yếu tố chủ quan: quan điểm, nhận thức. b) Quy luật phát triển của bộ máy nhà nước qua các kiểu nhà nước.

    Bộ máy nhà nước được tổ chức từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện trên cơ sở thừa kế những điểm tiến bộ của bộ máy nhà nước trước đó.

    Bộ máy nhà nước luôn được cải cách, đổi mới để thích nghi.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Máy Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Bộ Máy Nhà Nước?
  • Những Điểm Mới Trong Hiến Pháp 2013 Về Nhà Nước Pháp Quyền Ở Việt Nam
  • Hội Thảo Khoa Học: Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Theo Hiến Pháp Năm 2013 (5
  • Nguyên Tắc Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Trong Hiến Pháp 2013
  • Các Bộ Phận Cấu Thành Của Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Cách Thức Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Quân Chủ Quý Tộc Thời Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Những Biểu Hiện Của Mô Hình Nhà Nước Quân Chủ Quý Tộc Thời Lý
  • Bài Tập Luật: Những Biểu Hiện Của Mô Hình Nhà Nước Quân Chủ Quý Tộc Thời Lý
  • Nguyên Tắc Tập Quyền Là Gì? Thể Hiện Qua Hiến Pháp Như Thế Nào?
  • Lại Bàn Về Nguyên Tắc: Quyền Lực Nhà Nước Là Thống Nhất, Có Sự Phân Công Phân Nhiệm Giữa Ba Quyền Lập Pháp, Hành Pháp Và Tư Pháp
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước
  • Cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước quân chủ quý tộc thời Lý – Trần dưới góc độ lịch sử nhà nước. Bài tập học kỳ môn Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam 9 điểm.

    Cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước quân chủ quý tộc thời Lý – Trần dưới góc độ lịch sử nhà nước. Bài tập học kỳ môn Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam 9 điểm.

    Bước sang thế kỷ XI đất nước có sự thay đổi lớn khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua năm 1010 cùng với sự ra đời của Chiếu Dời Đô ông đã dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La( Thăng Long) và bước vào công cuộc xây dựng đất nước theo lối chính quy, từng bước mở rộng quy mô. Bộ máy nhà nước từ thời Lý sang thời Trần được xây dựng và củng cố, nhìn chung có sự hoàn chỉnh hơn so với giai đoạn trước bộ máy nhà nước được thống nhất từ trung ương đến địa phương.

    Được áp dụng triệt để dưới thời Lí – Trần, nguyên tắc Liên kết dòng họ đóng vai trò to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy Nhà nước của hai triều đại Lý, Trần với bản chất: vua lấy hoàng tộc và quốc thích làm hậu thuẫn chính trị cho địa vị của mình.

    Trong thời kỳ Lý Trần, nhà vua là người đứng đầu nhà nước nhưng mức độ tập trung quyền lực chưa cao, quyền lực ấy bị hạn chế bởi Hoàng thân quốc thích và bộ phận trung khu (cơ quan Nhà nước và chức vụ Nhà nước trung gian trọng yếu) được trao quyền hành rất lớn, có vai trò hạn chế quyền lực Nhà vua như Tể tướng, Á tướng, các chức quan đại thần như Tam thái, Tam thiếu, Tam tư.

    Các quan đại thần: gồm 9 quan văn và 3 quan võ, trong đó: Tam thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo), Tam thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo), Tam tư (Tư đồ, Tư mã, Tư không); Các quan võ: Thái úy, Thiếu úy, Binh chương sự.

    Ngoài các chức quan này ở triều đình lúc bấy giờ còn có 2 chức quan Tả hữu gián nghị đại phu để can gián nhà vua và đàn hoặc các quan khác, cùng các chức Điện học sỹ và Hàn lâm học sỹ là các chức quan chuyên thảo chiếu biểu của nhà vua do các bậc danh Nho đảm nhiệm. Các cơ quan này có chức năng tư vấn cao cấp của nhà vua đồng thời trước những quyết định quan trọng nhà vua thường hỏi ý kiến các quan đại thần.

    – Các bộ: Về cơ bản các bộ dưới thời Lý, Trần đều là những cơ quan thực thi quyền hành pháp do nhà vua giao trong từng lĩnh vực cụ thể đồng thời có chức năng tư vấn cho nhà vua trong lĩnh vực mà bộ quản lý. Đứng đầu mỗi bộ là Thượng thư, chức phó thị lang.

    – Các cơ quan chuyên môn: các cơ quan này độc lập với các bộ và giúp nhà vua quản lý các lĩnh vực chuyên môn khác nhau gồm các đài, viện, giám, phủ (Hàn lâm viện, Khu mật viện, Đăng văn viện, Thẩm hình viện, Thái y viện, Ngự sử đài, Quốc sử viện, Tam tư viện, Quốc tử giám, Quốc học viện, Giảng võ đường).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhà Nước Pháp Quyền Xhcnvn Giống Nhau Và Khác Nhau So Với Nhà Nước Pháp Quyền Tbcn Như Thế Nào?
  • Thế Nào Là Cơ Quan, Tổ Chức Có Thẩm Quyền?
  • Khái Niệm Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Của Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • #1 Khái Niệm Quyết Định Hành Chính Trong Quản Lí Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Quản Lý Chất Lượng Sản Phẩm
  • Quy Trình Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Quy Trình Trong Quản Lý Doanh Nghiệp
  • Quy Trình Quản Lý Dự Án
  • Quy Trình Quản Lý Kho Chuẩn Với 7 Bước Cho Các Cửa Hàng Bán Lẻ
  • Quy Trình Quản Lý Chất Lượng Được Chứng Nhận Tuân Thủ Tiêu Chuẩn Iso
  • Xã hội ngày càng phát triển thì càng có nhiều những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Do đó, việc quản lí của nhà nước, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước sẽ càng phức tạp, khó khăn hơn. Để thực hiện tốt chức năng quản lí này đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phải ban hành nhiều quyết định hành chính hơn. Vậy quyết định hành chính là gì, vai trò của nó là như thế nào trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước? Qua bài viết này chúng tôi Luật Quang Huy sẽ đi sâu phân tích và tìm hiểu vấn đề: “Phân tích khái niệm quyết định hành chính và nêu vai trò của quyết định hành chính trong quản lí hành chính nhà nước “.

    Một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính

    Khái niệm về quyết định hành chính

    Quyết định hành chính là một dạng quyết định pháp luật, là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực Nhà nước thông qua những hành vi của chủ thể được thực hiện quyền hành pháp trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước, tiến hành theo trình tự dưới hình thức nhất định theo quy định pháp luật nhằm đưa ra những chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng những quy tắc đó để giải quyết công việc cụ thể trong đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính của Nhà nước.

    Đặc điểm chung của quyết định hành chính

    *Quyết định hành chính mang tính pháp lý : Quyết định hành chính do nhà nước ban hành đều có giá trị pháp lý, trước hết quyết định hành chính xuất hiện đã tác động ngay đến cơ chế điều chỉnh pháp luật, quyết định hành chính có thể đưa ra những biện pháp, hoặc những chủ trương lớn trong lĩnh vực quản lý hành chính. Ví dụ như : Quyết định số 38/CP, ngày 4/05/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của công dân và tổ chức. Mặt khác tính pháp lý của quyết định hành chính còn thể hiện ở việc làm xuất hiện quy phạm pháp luật thay thế hoạc hủy bỏ quy phạm pháp luật, hoặc làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể ( quyết định áp dụng pháp luật).

    Đặc điểm riêng của quyết định hành chính

    Ngoài những đặc điểm chung của một quyết định pháp luật, thì quyết định hành chính còn mang những đặc trưng riêng gắn liền với đặc thù của hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Đó là tính dưới luật, tính đa dạng, phong phú về nội dung và chủ thể ban hành, về nội dung mục đích và hình thức tồn tại của các loại quyết định hành chính: Thứ nhất, Tính dưới Luật của quyết định hành chính. Chủ thể có thẩm quyền khi ra quyết định hành chính là hoạt động quản lí hành chính nhà nước chủ yếu mà các chủ thể quản lí nhà nước nắm quyền hành pháp tiến hành. Hoạt động quản lí quản lí hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành – điều hành, trong đó nội dung chấp hành xuất phát từ vị trí của cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước. Do vậy, khi chủ thể quản lí hành chính ra quyết định hành chính luôn mang tính dưới Luật sâu sắc, tức là khi chủ thể ban hành quyết định hành chính thì các quyết định phải dựa trên cơ sở là các văn bản Luật do cơ quan quyền lực ban hành. Nội dung và mục đích của quyết định hành chính là để thực hiện Luật, nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật vào đời sống xã hội. Ví dụ: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, do vậy, mọi văn bản do Chính phủ ban hành là văn bản dưới Luật. Nghị định do Chính phủ ban hành là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Luật. Hay là Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ – cơ quan chấp hành của Quốc hội, nên các quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành cũng là văn bản dưới Luật. Ngoài ra các Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cũng là văn bản bản ban hành dưới Luật. Thứ hai, Quyết định hành chính mang tính đa dạng, phong phú về chủ thể ban hành quyết định. Quyết định hành chính do chủ thể quản lí hành chính nhà nước ban hành. Chủ thể quản lí hành chính nhà nước là các cơ quan nhà nước mà chủ yếu và quan trọng nhất là cơ quan hành chính nhà nước, các cá nhân có quyền, cùng các cá nhân, tổ chức khi được nhà nước trao quyền quản lí hành chính nhà nước trong những trường hợp cụ thể. Những chủ thể này ở những cấp quản lí khác nhau, và ở những lĩnh vực không hoàn toàn giống nhau. Sự phân cấp quản lí từ trung ương đến địa phương, từ cơ quan hành chính có thẩm quyền chung, cho đến cơ quan hành chính có thẩm quyền chuyên môn. Ví dụ như : Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, các sở. Do sự đa dạng về chủ thể, nên khi ban hành quyết định hành chính sẽ rất đa dạng, phong phú. Thứ ba, Tính đa dạng, phong phú về nội dung, mục đích của quyết định hành chính. Nội dung và mục đích của quyết định hành chính là rất đa dạng và phong phú, đặc điểm này xuất phát từ đăch điểm của hoạt động quản lía hành chính nhà nước. Đây là một hoạt động phức tạp, thường xuyên biến đổi không ngừng, lien quan đến rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ : Vấn đề lien quan đến kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, các vấn đề lien quan đến đối ngoại, lĩnh vực an ninh quốc phòng, hay các lĩnh vực mang tính chất nhạy cảm như, vấn đề dân số, dân tộc, tôn giáo… Do vậy, ở từng lĩnh vực, các quyết định hành chính được ban hành phải có những nội dung, mục đích phù hợp với từng vấn đề, lĩnh vực cụ thể riêng biệt, nhằm đưa ra những chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng các quy tắc đó giải quyết một công việc cụ thể trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội, và đây là lí do làm cho quyết định hành chính có sự đa dạng và phong phú về nội dung cũng như mục đích của quyết định hành chính. Thứ tư, Quyết định hành chính đa dạng, phong phú về hình thức tồn tại của quyết định hành chính. Mặc dù trong Luật khiếu nại, tố cáo, Luật tố tụng hành chính đưa ra khái niệm hình thức tồn tại của Quyết định hành chính tồn tại dưới hình thức là văn bản. Nhưng đây không phải là hình thức tồn tại duy nhất của quyết định hành chính, mà đây chỉ là hình thức tồn tại chủ yếu và quan trọng nhất trong quyết định hành chính. Bởi vì quyết định hành chính thường cụ thể hóa từ một văn bản Luật, nên nội dung phải thể hiện bằng văn bản. Ví dụ như: NGhị định do Chính phủ ban hành, các thông tư của Bộ, quyết định của Thủ tướng Chính Phủ… Ngoài hình thức văn bản thì quyết định hành chính còn tồn tại dưới dạng như, hành vi, lời nói hay các hành động cụ thể khác. Về hình thức văn bản, quyết định hành chính tồn tại dưới những tên gọi khác nhau như : Nghị định, Chỉ thị, Quyết định, Thông tư. Luật ban hành văn bản quy pham pháp luật năm 2008, và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 đã quy định rõ về vấn đề này.

    Vai trò của quyết định hành chính trong quản lý hành chính nhà nước

    Quyết định hành chính giữ vai trò quan trọng trong quản lí hành chính nhà nước, không có quyết định hành chính thì các quy phạm pháp luật không thể đi vào thực tế cuộc sống được, vai trò của quyết định hành chính được thể hiện qua những nội dung sau:

    Quyết định hành chính đề ra những chủ trương, chính sách lớn trong quản lý hành chính nhà nước.

    Quyết định hành chính có vai trò quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước, thông qua quyết định hành chính cơ quan hành chính nhà nước đề ra những chủ trương, đường lối, nhiệm vụ, biện pháp lớn để quản lý hành chính nhà nước. Nhiều quyết định hành chính quan trọng của Chính phủ đẽ được đưa vào cuộc sống và có tác động tích cực. Ví dụ như : Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP về các biện pháp kiềm chế lạm phát, phát triển ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Nghị quyết 31/2010/NQ-CP do chính phủ ban hành về kế hoạch hành động của Chính phủ giai đoạn 2010-2015. Thực hiện kết luận số 14-KL/TW ngày 01/04/2009 của Bộ chính trị và kết quả 3 năm thực hiện Nghị quyết 47/NQ-TW ngày 22/03/2005 của Bộ chính trị ( Khóa IX) về “tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình.

    Quyết định hành chính hướng dẫn thi hành luật, cụ thể hóa, chi tiết hóa Luật, thể chế đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng

    Là một bộ phận của quyết định pháp luật nói chung, quyết định hành chính chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động quản lí của nhà nước, đó là phương tiện không thể thiếu của các cơ quan quản lí của nhà nước nhằm thực hiện chức năng quản lý. Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước ban hành để thực hiện nhiệm vụ thực thi pháp luật, chuyển tải luật vào cuộc sống, góp phần tạo nên giá trị thực tiễn của luật. Ví dụ như Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật khoáng sản hay nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng là hai văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực môi trường. Hai văn bản này được ban hành theo hướng thông thường hơn, minh bạch hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong lĩnh vực môi trường trong việc thực thi pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khoáng sản cũng như bảo vệ và phát triển rừng. Việc quy định này tạo cơ sỏ cho việc thực hiện Luật dễ dàng hơn làm cho các quy định của luật đi vào cuộc sống.

    Quyết định hành chính có vai trò quan trọng trong việc chuyển tải chủ trương của Đảng vào quản lý hành chính nhà nước. Có thể nói, ở một mức đọ đáng kể, Pháp luật là sự thể chế hóa quan điểm, chính sách của nhà nước. Đường lối chính trị định hướng cho xây dựng pháp luật, định hướng nội dung pháp luật. Nếu pháp luật không kịp thời thể chế hóa quan điểm, chính sách của nhà nước thành các quy phạm pháp luật thì có thể làm chậm trễ quá trình thực hiện các nhiệm vụ, mục đích của nhà nước đặt ra trong quản lý nhà nước; quản lý xã hội. Với tính cách là công cụ điều chỉnh trực tiếp, chi tiết các quá trình xã hội, quyết định hành chính phải thể chế hóa quan điểm, chính sách của nhà nước, các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, một mặt đảm bảo sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mặt khác tích cực mở rộng dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền công dân.

    Thông thường, Đảng ít thường ít can thiệp vào những công việc cụ thể thuộc thẩm quyền của nhà nước nhưng về những vấn đề quan trọng và khi cấp ủy Đảng có thẩm quyền đã có ý kiến chỉ đạo thì các chủ thể quản lí hành chính nhà nước luôn cân nhắc, tôn trọng các ý kiến đó trong việc hình thành nội dung văn bản. Nhờ đó, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước được thực thi có hiệu quả, tạo ra sự biến đổi lớn lao và tích cực cho đời sống xã hội, đạt được thành tựu to lớn và quan trọng.

    Quyết định hành chính đặt ra các quy tắc xử sự để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong thực tiễn quản lí hành chính nhà nước

    Xã hội thường được ví như một cơ thể sống để nói đến sự vận động không ngừng của đời sống xã hội mà ở đó có rất nhiều mối quan hệ khác nhau. Để duy trì trật tự xã hội đòi hỏi phải có quyết định hành chính để điều chỉnh các mối quan hệ đó trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Nhìn một cách khái quá nhất có thể thấy số lượng các quyết định hành chính ngày càng nhiều và chiếm tỉ trọng rất lớn trong số các quyết định pháp luật. Các quyết định hành chính đã bao quát được một phạm vi rộng lớn các quan hệ xã hội cần điều chỉnh. Quy trình xây dựng được thực hiện đúng luật và dân chủ hơn. Chất lượng các quyết định hành chính ngày càng được nâng cao. Đa số các quyết định hành chính được ban hành đáp ứng được các nhu cầu của thực tiễn quản lý, góp phần tích cực vào việc tăng cường pháp chế, ổn định, phát triển xã hội. Ví dụ như nghị định số 130/2005 ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lí đối với cơ quan nhà nước. Nghị định này đặt ra cho các cơ quan nhà nước chế đọ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lí và thông qua đó tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản lí hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tố chức năng, nhiệm vụ được giao, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lí hành chính và nâng cao hiệu quả hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí quản lí hành chính, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức.

    Quyết định hành chính được dùng để giải quyết một công việc cụ thể trong đời sống xã hội nhằm thực hiện hoạt động quản lí hành chính nhà nước( quyết định hành chính áp dụng pháp luật).

    Trân trọng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ra Quyết Định Là Gì? Những Kỹ Năng Ra Quyết Định Chiến Lược
  • Quyết Định Quản Trị Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Của Quyết Định Quản Trị
  • Qa Là Gì? Qc Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Qa Và Qc
  • Qa Là Gì? Công Việc Qa Là Làm Gì?
  • Qa Là Gì? Những Kỹ Năng Cần Thiết Để Trở Thành Nhân Viên Qa Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100