Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Văn hóa là gi? Theo GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, Từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.

    Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…). Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…). Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…). Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)…

    Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” .

    Theo Đoàn Văn Chúc cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa – không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa, nơi nào có con người nơi đó có văn hóa.

    Khi nghiên cứu về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.

    Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Cũng chính vì thế văn hóa biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ. Một đất nước giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần.

    Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam. Bộ GD-ĐT, NXB Văn hóa Thông tin – 1999 [tr. 1796] thì là (1) những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nền văn hóa các dân tộc; kho tàng văn hóa dân tộc. (2) Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa; chú ý đời sống văn hóa của nhân dân. (3) Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa; học các môn văn hóa. (4) Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa; gia đình văn hóa mới. (5) Nền văn hóa một thời kì lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn; văn hóa rìu hai vai.

    Trong từ điển học sinh do NXB Giáo dục ấn hành năm 1971 viết: “Văn hóa” là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần (như trình độ sản xuất, khoa học, văn học nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…) mà loài người sáng tao ra nhằm phục vụ những nhu cầu của mình trong quá trình lịch sử. Hay là: “Trình độ hiểu biết về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định”.

    Văn hóa là gì? Khái niệm về văn hóa

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Phân Tích Định Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đôi Nét Về Nội Dung Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Theo Văn Kiện Đại Hội Lần Thứ Xi Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011)
  • Chuyên Đề 1 Khái Niệm, Nguồn Gốc, Quá Trình Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Cùng Bàn Luận Về Khái Niệm Văn Hóa Và Nếp Sống Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hóa Đọc Thời Hiện Đại
  • Đây là những công cụ – khái niệm hay công cụ – nhận thức dùng để tiếp cận những vấn đề nghiên cứu. Chúng thường hay bị, hay được sử dụng lẫn lộn, dù mỗi một khái niệm đều có những đặc trưng riêng của mình. Bạn đang xem bài viết Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm khác trong chuyên mục Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam tại website của mr Tâm Pacific. Chúc cho bạn nghiên cứu thành công tất cả các bài viết về Văn Hóa Việt Nam trên website.

    Khái niệm Văn Hóa

    Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thưở bình minh của xã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa : Xem dáng về con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng ( năm 77-6 trước công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).

    Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ Culture, người Đức có từ Kultur, người Nga có từ Kultura. Những từ này lại có chung gốc La Tinh, là chữ Cultus Animi, là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ Cultus là văn hóa với hai khía cạnh : trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng, để không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản, và thay đổi theo thời gian thuật ngữ văn hóa với nghĩa “Canh Tác Tinh Thần” được sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lý canh tác nông nghiệp.

    Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng, bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh. Ông E.B Taylor là người diện của họ. Theo ông, văn hóa và toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

    Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo F. Boas ý nghĩa văn hóa được quy định do khung giải thích riêng, chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”. Vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa”. Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Theo A.L Kroeber và C.L Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng, và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.

    Khái niệm Văn Minh

    Văn Minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp minh là sáng) chỉ tia sáng của đạo đức, thể hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Trong tiếng Anh, Pháp từ Civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn gốc La Tinh là Civitas với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phát sinh là thị dân, công dân. theo W. Durrant sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hóa, nhờ một trật tự xã hội gây ra, và kích thích. Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức luân lý, và hoạt động văn hóa. Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết.

    Theo F. Ăngghen thì văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại, và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước. Như vậy, khái niệm văn minh thường bao hàm bốn yếu tố cơ bản là đô thị, nhà nước, chữ viết, các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý, tiện lợi cho cuộc sống của con người. Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa. Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa (culture) và văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người. Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, hoặc cả nhân loại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm.

    – Thứ nhất : trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lắt cắt đồng đại.

    – Thứ hai : trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kỷ thuật.

    – Thứ ba : trong khi văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt, thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế.

    Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hóa Trung Quốc, … Mặc dù, giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau, đó là do con người sáng tạo ra.

    Khái niệm Văn Hiến

    Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm Văn Hiến. Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử. Từ đời Lý (1010) người Việt Nam đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”. Đến đời Lê (thế kỷ XV) Nguyễn Trãi viết : “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” – (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng rãi, chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.

    Văn hiến ( hiến = hiền tài ) – truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Giáo Sư Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định : “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời. Nói cách khác là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy Văn Hiến thiên về những giá trị tinh thần, do những người có tài đức chuyền tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.

    Khái niệm Văn Vật ( vật = vật chất )

    Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử, và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”. Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật, cũng thể hiện sâu sắc tinh thần dân tộc, và tính lịch sử. Khái niệm văn hiến, văn vật, thường gắn với phương Đông nông nghiệp, trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị. Như vậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa của văn hóa.

    Từ năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ là A.L Kroeber và C.L Kluckhohn đã trích lục được trên dưới ba trăm định nghĩa, mà các tác giả khác nhau của nhiều nước từng phát ra từ trước nữa cho đến lúc bây giờ. Từ đó đến nay, chắc chắn số lượng định nghĩa tiếp tục tăng lên và đương nhiên, không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hay hòa hợp, bổ sung cho nhau. Chúng tôi xin dẫn một số định nghĩa đã được công bố trong những giáo trình và công trình nghiên cứu về Văn hóa học hay Cơ sở văn hóa Việt Nam. Theo một số học giả Mỹ là “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt, phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Ở trung tâm của văn hóa quyển, là hệ tư tưởng cũng được xem là một hệ văn hóa.

    Ở Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Vì lẻ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Trích trong Hồ Chí Minh toàn tập, in lần 2, của Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội năm 1995 ở tập thứ 3, trang 431.

    Phó Giáo Sư Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận, “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả, và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”.

    Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, Phó Giáo Sư , TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy ra quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Chúng tôi cho rằng, trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa, ta có thể tạm quy về hai loại. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, … Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn, … và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ như xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”. Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, Phó Giáo Sư Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ :

    – Góc rộng hay góc nhìn dân tộc học, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội.

    – Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hằng ngày, còn gọi là góc báo chí.

    Theo cách hiểu góc rộng – văn hóa là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất và tinh thần của từng cộng đồng. Ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Văn hóa từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng hơn, hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, của xã hội. Ngày nay, văn hóa dưới góc báo chí đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả, là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội.

    Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh

    *** Bạn đang xem bài viết :

    Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm Văn Hóa khác

    Link https://tampacific.com/khai-niem-van-hoa-va-cac-khai-niem-van-hoa-khac.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức
  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Quản Lý Văn Hóa Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Văn Hóa Lãnh Đạo, Quản Lý Trước Yêu Cầu Đổi Mới Và Phát Triển Xã Hội Hiện Nay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp, Doanh Nhân
  • Mỗi đất nước, quốc gia, hay vùng lãnh thổ sẽ có nền văn hóa, phong tục tập quán mang bản sắc riêng. Trong đó, có lẽ văn hóa là điều quan trọng nhất. Văn hóa là gì? Thế nào là chuẩn mực văn hóa theo Unesco? Nếu bạn đang quan tâm đến khái niệm này, chúng tôi sẽ giúp bạn giải đáp qua bài viết ngay sau đây.

    Văn hóa là gì?

    Văn hóa được chia làm 2 loại: Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện qua các sản phẩm. Còn văn hóa tinh thần là tổng thể các lý luận và giá trị được con người sáng tạo trong các hoạt động, những tiêu chí, nguyên tắc chi phối các hoạt động ứng xử, kỹ năng của con người tích lũy theo từng giai đoạn lịch sử.

    Ngoài cách giải nghĩa văn hóa là gì như trên, theo giáo sư tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm giải thích ý nghĩa khái niệm văn hóa như sau. Văn hóa được hiểu theo 2 cách chính là nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, từ văn hóa được giới hạn theo chiều sâu là giá trị tinh hoa của nó qua nghệ thuật, nếp sống.

    Còn theo chiều rộng, nó được dùng để chỉ giá trị trong từng lĩnh vực như giao tiếp, kinh doanh. Giới hạn theo không gian thì cụm từ này dùng để chỉ giá trị đặc thù của từng vùng như Bắc bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ… Giới hạn theo thời gian, văn hóa chỉ giá trị trong từng giai đoạn lịch sử như văn hóa Hòa Bình…

    Văn hóa là gì theo nghĩa rộng được hiểu là bao gồm tất cả những gì con người làm ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết rằng: ” Vì lẽ sinh tồn, loài người đã sáng tạo ra ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, cách sống… Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa “.

    Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và đòi hỏi của sự sinh tồn. Định nghĩa về văn hóa của chủ tịch Hồ Chí Minh giúp ta hiểu rõ hơn về khái niệm này. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người, trước hết là vì lẽ sinh tồn.

    Nhưng sau một thời gian dài lặp đi lặp lại, những thói quen đó đã được chắt lọc thành chuẩn mực, tích lũy từ đời này qua đời khác. Cuối cùng thành một kho tàng quý giá của mỗi cộng đồng và góp lại thành di sản văn hóa.

    Một định nghĩa khác về văn hóa, theo tổng giám đốc UNESCO giải thích như sau: “Đối với một số người, văn hóa chỉ là những kiệt tác trong lĩnh vực tư duy sáng tạo. Còn những người khác thì cụm từ này có nghĩa là sự khác biệt giữa các dân tộc, từ phong tục tập quán, lối sống và tín ngưỡng”.

    Thế nào là chuẩn mực văn hóa theo Unesco?

    UNESCO đã đưa ra định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng tể các hoạt động cũng như sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Trải qua các thể kỷ, những hoạt động đó đã tạo nên một giá trị truyền thống riêng – đó là yếu tố xác định các đặc tính của từng dân tộc.”

    Định nghĩa này nhấn mạnh vào chuẩn mực văn hóa theo Unesco là sự sáng tạo của con người luôn gắn liền với quá trình lịch sử của mỗi dân tộc trong một thời gian dài. Điều này đã tạo nên những giá trị nhân văn chung, tính đặc thù của mỗi nơi và bản sắc riêng của dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Văn Hóa Là Gì? Những Khái Niệm Cần Phải Biết Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Sân Si Là Gì? Ý Nghĩa & Những Điều Cần Biết Về Tham, Sân, Si
  • Hạnh …phúc …là Gì … Bạn Biết Không ?
  • Tình Yêu Là Gì? Bạn Hiểu Thế Nào Là Tình Yêu Đích Thực?
  • Quan Điểm Của Đức Phật Về Dục Lạc
  • Chất Lượng Là Gì (Phần 1)
  • 1. Tìm hiểu các khái niệm về văn hóa.

    Có nhiều định nghĩa về văn hóa nhưng phổ biến và được nhiều người công nhận là khái niệm sau đây: Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau bao gồm tất cả những giá trị tinh thần và vật chất mà con người tạo ra trong quá trình lao động, sinh sống thực tiễn suốt chiều dài lịch sử. Qua văn hóa, người ta có thể đánh giá trình độ phát triển của xã hội qua các thời kì lịch sử cụ thể.

    Nói chung, hiểu một cách đơn giản như theo Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa như sau đại ý như sau vì con người cần phải sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống nên phát minh và sáng tạo ra chữ viết, ngôn ngữ, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, khoa học cũng như văn học nghệ thuật, sáng tạo ra các công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn ở, mặc cùng các phương thức sử dụng. Tất cả những điều mà con người phát minh và sáng tạo ra chính là văn hóa.

    Như vậy, văn hóa do con người sáng tạo ra để phục vụ lợi ích của mình. Văn hóa là của con người và được cộng đồng giữ gìn qua các thế hệ, được dùng để phục vụ đời sống con người có tính lưu truyền và kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Trong văn hóa sẽ bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Dù cũng đều là do con người sáng tạo ra nhưng đây là các loại văn hóa khác nhau. Trong đó:

    Văn hóa vật chất dùng để chỉ năng lực sáng tạo của con người thể hiện qua các vật thể, đồ dùng, dụng cụ do con người làm ra. Từ các vật thể này, chúng ta có thể đánh giá, nhận xét khả năng của con người đã làm ra.

    Văn hóa tinh thần bao gồm các tư tưởng, giá trí tinh thần, những lý luận mà con người sáng tạo ra trong quá trình sinh sống. Văn hóa tinh thần được tạo ra nhằm phục vụ cho các hoạt động tinh thần với những nguyên tắc, tiêu chí có tác động chi phối các hoạt động của con người, các hoạt động tinh thần như ứng xử, kĩ năng, tri thức, giá trị khoa học nghệ thuật. Văn hóa tinh thần cũng là thị hiếu, nhu cầu về tinh thần và cách thỏa mãn nhu cầu đó.

    Tiểu văn hóa dùng để chỉ văn hóa của một động đồng nhỏ hơn sở hữu những sắc thái riêng của mình, khác nhưng không đối lập với nền văn hóa chung của xã hội. Nó là một bộ phận của nền văn hóa chung có những nét khác biệt của mình. Như tiểu văn hóa của dân tộc H’Mông, tiểu văn hóa của khu vực nông thôn, tiểu văn hóa thanh niên, tiểu văn hóa của những người cao tuổi… Nhóm người này có những ứng xử riêng mang đặc trưng của cộng đồng còn được gọi là văn hóa phụ. Mặc dù không đối lập với nền văn hóa chung nhưng các tiểu văn hóa trong xã hội thường có những sự đối lập, thường xảy ra bất đồng.

    Văn hóa nhóm là tập hợp các quan niệm, giá trị và tập tục trong một nhóm người. Văn hóa nhóm sẽ hình thành với sự ra đời của nhóm nhằm duy trì, thiết lập sự hoạt động của nhóm. Các nhóm nhỏ đều có văn hóa riêng của mình nhưng vẫn nằm trong văn hóa chung của xã hội. Văn hóa nhóm của các tập đoàn, các tổ chức xã hội, nhỏ hơn tiểu văn hóa.

    Khác với tiểu văn hóa hay văn hóa nhóm tồn tại không đối lập với nền văn hóa chung, phản văn hóa công khai bác bỏ những giá trị và chuẩn mực trong xã hội. Như vậy, phản văn hóa của một nhóm người trong xã hội gồm các giá trị, chuẩn mực đi ngược lại với các chuẩn mực, giá trị chung của xã hội. Điều này xuất hiện thường thấy trong xã hội.

    Một bên, văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần, còn văn mình nghiêng về giá trị vật chất – kĩ thuật. Về ý nghĩa này, văn minh gần tương đồng với từ văn vật trong lĩnh vực văn hóa mà chúng ta thường đề cập tới. Văn vật, văn hiến là những bộ phận của văn hóa. Văn vật là các di tích, hiện vật, công trình và các nhân tài. Đó là các giá trị vật chất. Còn văn hiến là truyền thống lâu đời còn lưu giữ được qua lịch sử phát triển của dân tộc, thiên về các giá trị tinh thần.

    Văn vật và văn minh tuy có những điểm giống nhau đều là giá trị vật chất nhưng vẫn có điểm khác nhau về tính lịch sử. Nếu văn vật có bề dày quá khứ thì văn minh chỉ trình độ phát triển, một lát cắt đồng đại. Nếu văn hóa mang tính dân tộc với chiều dài lịch sử còn văn minh có tính quốc tế với phạm vi rộng lớn hơn.

    Tóm lại, văn hóa ra đời và phát triển theo hình thái kinh tế – chính trị tương ứng trong mỗi thời kì lịch sử mà ở đó, ý thức hệ của giai cấp thống trị có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề pháp luật, chính sách quản lý văn hóa trong xã hội. Đặc điểm của văn hóa là có tính kế thừa. Trong các xã hội có giai cấp, văn hóa luôn mang tính giai cấp và gắn với bản chất của giai cấp cầm quyền. Khi kinh tế xã hội lành mạnh sẽ có nền văn hóa công bằng, lành mạnh. Ngược lại, kinh tế bất bình đằng sẽ khó có được nền văn hóa lành mạnh.

    Nói một cách đơn giản nhất, văn hóa là sự kết tinh những gì mà con người đã làm, đã suy nghĩ và hành động sau một chu trình lịch sử. Những nét văn hóa đặc trưng hay còn gọi là bản sắc sẽ giúp chúng ta phân biệt văn hóa của thời kì này so với các thời kì khác, văn hóa của dân tộc này so với các dân tộc, quốc gia khác. Như vậy, cộng đồng nào trong quá trình sinh sống đều có bản sắc văn hóa riêng của mình. Không có dân tộc nào, quốc gia nào trên thế giới lại không có văn hóa của mình. Cộng động sinh sống bên cạnh đời sống vật chất sẽ luôn có đời sống tinh thần kèm theo cho nên đều tạo ra văn hóa của riêng mình.

    Đây là các sản phẩm vật chất lâu đời, mang trong mình các giá trị về văn hóa, khoa học và lịch sử nhưng danh lam thắng cảnh, cổ vật, di vật, di tích lịch sử – văn hóa và bảo vật quốc gia.

    2.2. Di sản văn hóa phi vật thể

    Đó là các sản phẩm tinh thần lâu đời mang giá trị về văn hóa, lịch sử và khoa học được người sau lưu truyền qua nhiều hình thức như văn bản chữ viết, trình diễn, truyền miệng, truyền nghề, qua các tác phẩm văn học nghệ thuật, qua nếp sống, lễ hội, y dược cổ truyền, bí quyết nghề thủ công truyền thống, trang phục truyền thống dân tộc, văn hóa ẩm thức, tri thức dân gian, diễn xướng dân gian.

    Danh lam thắng cảnh bao gồm các cảnh quan thiên nhiên, địa điểm có cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc lâu đời có giá trị về thẩm mĩ, khoa học và lịch sử.

    2.4. Di tích lịch sử – văn hóa

    Các di tích này do con người xây dựng nên như các công trình xây dựng, các di vật, bảo vật quốc gia, cổ vật hay địa điểm nào đó mà có giá trị về văn hóa, lịch sử và khoa học.

    Cổ vật là những hiện vật có niên đại lâu đời mang trong mình giá trị về văn hóa, khoa học và lịch sử được lưu truyền lại qua các thế hệ sau. Một hiện vật được coi là cổ vật khi có từ 100 năm tuổi trở lên.

    Di vật cũng là những hiện vật có giá trị về văn hóa, khoa học và lịch sử được người đời sau lưu truyền lại.

    Đây cũng là hiện vật do người sau lưu giữ và truyền lại qua các đời kế tiếp. Nhưng bảo vật quốc gia là hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, thể hiện được những nét văn hóa, khoa học và lịch sử tiêu biểu của đất nước.

    3. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa

    Các đặc trưng của văn hóa bao gồm những điều sau đây:

    a. Văn hóa luôn có tính hệ thống

    Tính hệ thống của văn hóa giúp chúng ta tập hợp, phát hiện những mối liên hệ giữa các sự kiện văn hóa, các hiện tượng, quy luật hình thành, phát triển cùng đặc trưng của nó. Với tính hệ thống, văn hóa góp mặt vào mọi hoạt động của xã hội, giúp tổ chức xã hội tốt hơn.

    b. Văn hóa có tính giá trị của mình

    Giá trị của văn hóa dựa theo mục đích có thể phân thành giá trị vật chất để phục vụ nhu cầu vật chất của con người và giá trị tinh thần phục vụ cho nhu cầu tinh thần của con người. Dựa theo ý nghĩa, văn hóa có thể chia thành giá trị đạo đức, giá trị thẩm mĩ và giá trị sử dụng. Dựa theo thời gian, văn hóa có thể chia thành giá trị nhất thời, giá trị vĩnh cửu.

    Trong đó, giá trị theo thời gian giúp con người có thể đánh giá khách quan, biện chứng hơn về giá trị của văn hóa, tránh được sự phủ nhận sạch trơn hay tán dương hết lời một cách cực đoan. Do đó, ở một hiện tượng, sự vật có thể tồn tại nhiều giá trị khác nhau nhiều hay ít tùy vào việc chúng ta xem xét ở những góc độ nào, dựa trên bình diện gì. Vì vậy, một hiện tượng được đánh giá có thuộc phạm trù văn hóa không sẽ xem xét các giá trị và phi giá trị trong mối tương quan của nó.

    Một hiện tượng có giá trị hay không còn phụ thuộc vào từng thời kì lịch sử với các chuẩn mực văn hóa được lấy làm hệ quy chiếu. Qua việc xem xét các giá trị, văn hóa sẽ có chức năng điều chỉnh xã hội, giúp xã hội không ngừng hoàn thiện, duy trì trạng thái cân bằng, định hướng các chuẩn mực, thích ứng với những biến đổi của cuộc sống xã hội cũng như làm động lực cho xã hội phát triển hơn.

    c. Văn hóa có tính nhân sinh

    Vì do con người tạo ra và phục vụ lợi ích của con người nên văn hóa có tính nhân sinh. Con người biết điêu khắc đã, chạm khảm gỗ là những hoạt động mang tính vật chất và thực hiện các hoạt động mang tính tinh thần như đạt tên cho các danh lam thắng cảnh, xây dựng truyền thuyết về cuộc sống xung quanh. Văn hóa giúp cộng đồng người kết nối với nhau hơn.

    Thời gian giúp phân biệt văn hóa là sản phẩm của một quá trình mà con người tạo ra. Tính lịch sử của văn hóa cho thấy văn hóa được tích lũy qua nhiều thế hệ, có những giai đoạn phát triển khác nhau. Lịch sử của văn hóa tạo nên chiều sâu, bề dày cũng như giúp văn hóa phải điều chỉnh, phân loại lại các giá trị một cách thường xuyên. Truyền thống văn hóa sẽ là cốt lỗi trong lịch sử phát triển của lĩnh vực này. Truyền thống văn hóa gồm các giá trị khá ổn định được tích lũy và phát triển theo thời gian của một cộng đồng người, sau đó được đúc kết thành khuôn mẫu xã hội, lưu truyền dưới dạng ngôn ngữ, nghi lễ, tập quán, phong tục và dư luận, luật pháp…

    a. Chức năng nhận thức của văn hóa

    Khả năng nhận thức, tư duy và học tập của con người một cách có ý thức, có chủ đích là một sự tiến hóa hơn hẳn so với các loài động vật khác trên Trái Đất. Loài vật chỉ sống đơn thuần theo bản năng tồn tại từ khi mới sinh ra. Con người có nhận thức cao nên luôn vươn tới cuộc sống cao hơn. Văn hóa với sự kế thừa giúp con người thực hiện được điều này, hình thành nên một xã hội người hơn, nhân bản hơn.

    b. Chức năng thẩm mĩ của văn hóa

    Đây là chức năng quan trọng của văn hóa để con người, cộng đồng người không ngừng hoàn thiện hơn. Văn hóa là cái đẹp, làm cho con người đẹp hơn lên. Các ngành nghệ thuật được tạo ra nhằm tôn vinh cái đẹp là vì vậy. Nghệ thuật luôn hướng tới cái đẹp, hướng tới tình cảm và khát vọng mà con người luôn hướng tới để tác động vào lý trí, tình cảm của con người giúp họ có những hành động đúng đắn. Nghệ thuật có các hình tượng, biểu tượng nhằm thể hiện nhu cầu của con người với khả năng tác động tới xã hội rất lớn.

    c. Chức năng giáo dục của văn hóa

    Chức năng này sẽ giúp con người nâng cao nhận thức, có thể phát huy tiềm năng của con người. Con người lĩnh hội không chỉ kiến thức học vấn mà còn cả nhân cách, tư tưởng đạo đức và lối sống trong các mối quan hệ xã hội.

    d. Chức năng điều tiết của văn hóa

    Văn hóa với lịch sử và giá trị của mình có thể giúp điều tiết xã hội luôn đi theo định hướng nhất định, làm xã hội luôn vận hành ổn định vì những mục đích chung của cộng đồng. Cụ thể ở đây là pháp luật và văn hóa pháp luật giúp con người luôn chấp hành để giữ trật tự xã hội, giúp mọi người sinh sống tương sinh với nhau.

    e. Chức năng động lực của văn hóa

    Cuối cùng, văn hóa có chức năng làm động lực, định hướng cho xã hội phát triển, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn, nhân văn hơn. Đó là mục tiêu phấn đấu của xã hội loài người, giúp chất lượng sống của con người tốt hơn cả về vật chất và tinh thần.

    Các chức năng của văn hóa không tách biệt, độc lập mà luôn có mối quan hệ mật thiết, mang tính xã hội cao. Chúng ta phân loại các chức năng này để hình dung dễ hơn mặc dù trên thực tế rất khó tách bạch ra thành từng chức năng riêng lẻ.

    Nói chung, văn hóa ra đời cùng cộng đồng xã hội loài người, là sản phẩm của con người. Văn hóa ra đời, hình thành và phát triển theo chiều dài của lịch sử xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển, ổn định của xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Văn Là Gì? Như Thế Nào Là Lối Sống Nhân Văn?
  • Bách Hợp Là Gì, Công Thụ Trong Bách Hợp Là Gì, Fan Bách Hợp Là Gì 2022?
  • Sự Khác Nhau Giữa Abstract Class Và Interface
  • Phân Biệt Lớp Abstract Và Interface Trong Java
  • Spring Boot Là Gì? Giới Thiệu Spring Boot Framework
  • Tinh Dầu Nguyên Chất Là Gì? Và Khái Niệm Các Loại Tinh Dầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Khái Niệm Bột Cà Phê Nguyên Chất Là Gì?
  • Cà Phê Nguyên Chất Là Gì? Dấu Hiệu Nhận Biết Cà Phê Nguyên Chất
  • Cà Phê Nguyên Chất Là Gì?
  • Chương 1: Quản Trị Chất Lượng
  • Luận Văn: Biện Pháp Quản Lý Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học, Hay!
  • Tinh Dầu Nguyên Chất Là Gì? – Khái Niệm Các Loại Tinh Dầu

    1. Tinh dầu nguyên chất là gì?

    Mỗi loại sẽ sở hữu một loại đặc tính riêng cũng như tác dụng chữa bệnh riêng. Nhưng một điểm chung của các loại tinh dầu thiên nhiên nguyên chất là tất cả chúng đều có công dụng diệt khuẩn và đặc tính chữa bệnh dù ít hay nhiều. Những thuộc tính thú vị này của tinh dầu chính là tiêu chuẩn hàng đầu để con người xếp vào hạng top làm đẹp và chữa bệnh.

    Một số đặc trưng của tinh dầu nguyên chất:

    • Các phần tử tinh dầu có xu hướng thay đổi nhanh chóng từ trạng thái lỏng hoặc rắn sang khí ở nhiệt độ phòng.
    • Tinh dầu thật rất dễ bay hơi và mùi thơm có xu hướng phai nhanh hơn các loại tinh dầu kém chất lượng.
    • Vì được chiết xuất 100% từ tự nhiên nên có mùi thơm rất mạnh.
    • Đa số các loại tinh dầu nguyên chất đều trong veo, nhưng cũng có một số loại có màu vàng hoặc hổ phách.
    • Tinh dầu nguyên chất không chứa các chất độc hại, tuyệt đối an toàn, không gây kích ứng khi sử dụng, được dùng cho trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, phụ nữ có thai, sau sinh.

    Nếu không đủ tinh khiết từ thiên nhiên thì tinh dầu không thể làm những điều trên.

    2. Như thế nào là tinh dầu không nguyên chất?

    Tinh dầu không nguyên chất là loại tinh dầu đã pha các thành phần chất hóa học khác, cũng có thể là loại được chiết xuất từ thực vật nhưng không được đảm bảo về chất lượng từ nguyên liệu cũng như phương pháp chiết xuất, khiến trong thành phần tồn tại các tạp chất có hại cho sức khỏe.

    3. Tinh dầu tổng hợp là gì?

    Và đây cũng chính là lý do mà Tinh Dầu Gold khuyến cáo bạn không nên chọn mua những chai tinh dầu có giá rẻ bất thường, vì tiền nào của nấy. Mùi hương của loại nguyên chất được xem là thần dược thì loại tinh dầu tổng hợp này lại là “thuốc độc”, việc hít nhiều sẽ bị đau đầu, ảnh hưởng đến sức khỏe. Ngoài hương thơm ra loại tinh dầu này không có tác dụng trong việc trị liệu và không được khuyến cáo cho mục đích điều trị.

    Loại tinh dầu tổng hợp thường được dùng để tạo hương trong ngành mỹ phẩm, xà phòng, thuốc lá, sản phẩm vệ sinh. Tuy nhận thức được tác hại của loại tinh dầu này, nhưng nhiều cơ sở vẫn áp dụng và cho ra đời những chai tinh dầu được gắn mác “nguyên chất”.

    Vậy là chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu sơ lược về tinh dầu thiên nhiên là gì rồi. Mong rằng qua bài viết này sẽ giúp bạn hiểu hơn về tinh dầu và các loại tinh dầu khác nhau.

    Mua tinh dầu nguyên chất ở đâu?

    Hãy để Tinh Dầu Gold gánh vác nỗi lo ấy. Với nhiều năm trong nghề sản xuất và cung cấp tinh dầu với cam kết với khách hàng sản phẩm được chiết xuất 100% từ tự nhiên không pha lẫn hóa chất, không có thành phần bảo quản. Tinh dầu ở đây sẽ làm cho khách hàng hài lòng từ chất lượng cho tới giá cả.

    Tất cả các loại tinh dầu mà Gold đang sở hữu đều nằm trong các chỉ số mà Dược điển Việt Nam công bố. Chỉ cần 1 chỉ số không thuộc mức mà Dược Điển Việt Nam công bố thì Tinh Dầu đó đã bị pha thêm thành phần khác. Rất khó có cơ sở đạt được những con số lý tưởng này, và tinh dầu Gold là một trong số ít cơ sở đạt mức hoàn hảo đó.

    MUA TINH DẦU NGUYÊN CHẤT TẠI ĐÂY

    Thông tin liên hệ:

    • Địa chỉ: 47/30/6 Đường số 19, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP.HCM
    • Hotline: 0909 559 080
    • Website: tinhdaucaocap.com.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cà Phê Nguyên Chất Định Nghĩa Như Thế Nào?
  • Cà Phê Nguyên Chất Là Gì, Cách Nhận Biết Và Giá Bán
  • Cà Phê Nguyên Chất Là Gì, Cách Phân Biệt Cafe Nguyên Chất
  • Chuong 1 Dong Hoc Chat Diem
  • Khái Niệm Độ Dời, Quãng Đường, Vận Tốc, Gia Tốc.
  • Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Hóa Giao Thông Là Gì Tại Việt Nam
  • Nhà Nước Là Gì ? Dấu Hiệu Đặc Trưng Của Nhà Nước Là Gì ?
  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước
  • Khái Niệm Nhà Nước, Sự Khác Biệt Giữa Nhà Nước Với Các Thiết Chế Chính Trị Khác Trong Xã Hội?
  • Truyền Thuyết Là Gì, 4 Đặc Trưng Của Truyền Thuyết Lớp 6
  • Chủ nhật – 27/07/2008 08:08

    Văn hóa và một số khái niệm về văn hóa

    Những năm gần đây, nhận thức về vai trò quyết định của văn hóa ở nước ta được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Ngay từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Nó vừa là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, vừa là một trong những mục tiêu của chúng ta. Các chính sách về văn hóa của Đảng ta thể hiện quan điểm: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta đang chủ trương xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để làm được điều đó thì việc giữ gìn, phát huy và chấn hưng văn hóa dân tộc được đặt ra một cách cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều giới.

    Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người. Văn đối lập với vũ, vũ công, vũ uy dùng sức mạnh để cai trị. Ơ nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độhọc vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội.

    Ơ phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú. Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên.

    Con người là từ tự nhiên mà ra, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển. Văn hóa trước hết là một sự thích nghi chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, đồng thời lại là sự phát triển của sự thích nghi ấy. Với tính cách là một sinh vật, con người có một bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên. Nhưng với tính cách là một sinh vật có ý thức và sống thành xã hội thì con người lại có bản chất thứ hai, đó là bản chất văn hóa, vượt ra khỏi bản chất tự nhiên, điều này đưa đến quan niệm coi văn hóa là tự nhiên thứ hai được hình thành và phát triển trên cơ sở tự nhiên thứ nhất tự tại: Là văn hóa, những gì không phải tự nhiên.

    Việc xác định khái niệm văn hóa không đơn giản, bởi vì mỗi một học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu để đưa ra các khái niệm về văn hóa. Chính vì thế mà Sapovalop trong tác phẩm Những cơ sở triết học của thời đại – cội nguồn của thế kỷ XX đã cho rằng Văn hóa đó là một khái niệm không thích hợp với loại định nghĩa một định nghĩa. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà trong các tài liệu triết học có rất nhiều loại định nghĩa khác nhau và mỗi định nghĩa này chỉ ra những mặt riêng của hiện tượng văn hóa.

    Khi tiếp cận khái niệm văn hóa, tùy từng mục tiêu, mục đích khác nhau của người nghiên cứu mà dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và từ đó hình thành các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa. Xem xét mối tương quan giữa văn hóa và xã hội chúng ta có thể lựa ra bốn cách tiếp cận chủ yếu sau, đó là: tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký hiệu học. Cả bốn góc tiếp cận này tuy khác nhau nhưng chúng đều dựa trên những nguyên tắc chung đó là dựa trên mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, dựa trên hình thái kinh tế xã hội và những nguyên tắc hoạt động của triết học Mác như nguyên tắc thực tiễn¦

    Trong bốn cách tiếp cận trên thì cách tiếp cận giá trị học có một lịch sử lâu đời, đa dạng và cho đến tận bây giờ nó vẫn thể hiện vai trò thống trị của mình. Cách tiếp cận này không chỉ thâm nhập vào triết học mà còn có cả lý luận văn hóa, mỹ học, đạo đức học cùng nhiều bộ môn khoa học khác và đã dấy lên những cuộc tranh luận đến tận bây giờ. Quá trình phát triển của tiếp cận giá trị học đã thể hiện sự tìm kiếm bản chất của văn hóa theo ba cấp độ đối tượng: cấp độ vật chất, cấp độ chức năng và cấp độ hệ thống. Tương ứng với cấp độ vật chất của đối tượng là định nghĩa mô tả văn hóa như thế giới các đồ vật được con người sáng tạo và sử dụng trong quá trình lịch sử. Trong công trình: Được sáng tạo bởi nhân loại Iu.V.Brômlây và R.C.Pađôlưi đã khẳng định: Văn hóa trong ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là tất cả những cái đã và đang được tạo ra bởi nhân loại. Hoặc trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Như vậy với cách định nghĩa này thì nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người. Thứ hai, những giá trị mà con người sáng tạo ra đó phải mang tính nhân tính nghĩa là nó phải mang tính người. Điều đó có nghĩa là có những giá trị do con người sáng tạo ra những nó không phải là giá trị văn hóa bởi vì nó không mang tính người, nó hủy hoại cuộc sống của con người¦ do đó không được cộng đồng chấp nhận như: bom nguyên tử, các vũ khí giết người hay chủ nghĩa khủng bố; một vấn đề nổi cộm trong giai đoạn hiện nay¦

    Như vậy với định nghĩa giá trị về văn hóa trên, chúng ta có thể sử dụng để nghiên cứu lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử của một dân tộc, một cồng đồng người. ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là chúng ta nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Ngoài ra với định nghĩa trên cũng giúp phân biệt được đâu là một giá trị văn hóa, đâu không phải là giá trị văn hóa.

    Tóm lại, trên bình diện phương pháp luận, xem xét mối tương quan giữa văn hóa và xã hội có thể lựa ra bốn cách tiếp cận chủ yếu về văn hóa đã nêu ở trên. Từ đó có các định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Mỗi định nghĩa đều có điểm mạnh, điểm yếu của nó. Có thể nó chỉ đề cập đến một khía cạnh này mà bỏ qua khía cạnh kia của khái niệm văn hóa. Nhiệm vụ của chúng ta là phải xuất phát từ đối tượng nghiên cứu mà chọn định nghĩa cho phù hợp, để qua định nghĩa đó nó sẽ giúp chúng ta có thể làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu và làm cho việc nghiên cứu thuận lợi và có hiệu quả hơn. Nhưng dù các định nghĩa có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì bao giờ nó cũng có điểm chung như đã nói ở phần đầu đó là văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên. Đây chính là điểm mà các nhà nghiên cứu văn hóa cần nắm vững để tránh bị sa lầy vào một mê hồn trận các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa từ đó làm cản trở công việc nghiên cứu của mình.

    Tác giả bài viết: Phạm Quang Tùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Khái Niệm Về Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Liên Quan
  • Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Về Văn Hóa
  • Khái Niệm Và Hệ Thống Tư Tưởng Hồ Chí Minh?
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chuyên Đề “tư Tưởng Hồ Chí Minh”
  • Khái Niệm Thuật Ngữ Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bullet Journal Là Gì? Hướng Dẫn Sử Dụng Bullet Journal
  • Hướng Dẫn Cách Làm Bullet Journal Cơ Bản Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Học Ngoại Ngữ Bằng Bullet Journal Như Thế Nào?
  • 8 Lý Do Nên Sử Dụng Bullet Journal. Lý Do Cuối Vô Cùng Hữu Ích
  • 8 Ý Tưởng Để Học Ngoại Ngữ Dễ Dàng Hơn Với Bullet Journal
  • Thuật ngữ văn hóa đã xuất hiện từ thời cổ đại và không ngừng được hoàn thiện cả nội hàm cùng ngoại diện của nó. Văn hóa ngày càng phát triển và tồn tại ở trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống. Tương ứng như thế, số lượng định nghĩa, quan niệm của văn hóa cũng rất đa dạng và phong phú. Trong bài viết Văn hóa – Tổng quan phê phán về các khái niệm và định nghĩa, A.L Krober và Clyde Kluckhohn cho rằng tiếp cận khái niệm văn hóa theo các giai đoạn lịch sử, có thể thấy ba giai đoạn trong quá trình sử dụng thuật ngữ văn hóa:

    – Đầu tiên, thuật ngữ này xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII ở một nhóm các nhà nghiên cứu lịch sử mà Herder là người nổi tiếng nhất. Ở đây, văn hóa vẫn mang ý nghĩa là sự tiến triển trong sự tu dưỡng, hướng tới sự khai sáng nhưng phạm vi chỉ là một bước để tới xu hướng quan điểm mà Klemm đã viết và từ văn hóa bắt đầu mang ý nghĩa hiện đại của nó.

    – Giai đoạn thứ hai, bắt đầu gần như đồng thời với giai đoạn trên nhưng có phần kéo dài hơn, là một xu hướng triết học chính thức, từ Kant tới Hegel mà ở đó, văn hóa là mối quan tâm bị giảm sút. Nó là thời kỳ nở rộ cuối cũng của khái niệm về tinh thần.

    – Giai đoạn thứ ba từ khoảng 1859 trở đi, ở đây văn hóa ngày càng được hiểu theo nghĩa hiện đại của nó. Nói chung là trong giới trí thức cũng như ký thuật. Trong số những người khởi xướng là Klemm, nhà dân tộc học và Burkhardt, một nhà lịch sử văn hóa. Và trong sự phát triển của nó có sự đóng góp đáng kể của những nhân vật như Katian Rickert và Spengler” .

    GS Phạm Đức Dương cũng đã tiếp cận văn hóa với cấu trúc hai bậc:

    – Cấu trúc bề mặt (được gọi là biểu tầng). Trên bình diện cấu trúc bề mặt – hay biểu tầng người ta có thể phân loại thành hai hệ thống: ký hiệu biểu thị và ký hiệu biểu tượng. Đương nhiên ở đây không thể vạch một ranh giới rạch ròi mà có sự đan xen, lồng vào nhau và có mối quan hệ tương tác. Hệ thống ký hiệu biểu thị mang ý nghĩa trực tiếp thuộc tư duy khái niệm, tư duy khoa học. Đó là hệ thống ngôn ngữ, chữ viết, tư tưởng, khoa học công nghệ, hệ thống các ký hiệu xã hội như những thiết chế, những phù hiệu, biển hiệu… Hệ thống ký hiệu biểu tượng mang ý nghĩa gián tiếp bao gồm nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán… là những biểu tượng hàm nghĩa thuộc tư duy hình tượng. Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt, vừa là hệ thống ký hiệu biểu thị vừa là hệ thống ký hiệu biểu tượng

    – Cấu trúc chiều sâu (được gọi là cơ tầng) là cấu trúc bên trong của văn hóa, ít biến đổi. Nó là cái gốc điều chỉnh mọi sinh hoạt đời sống giữ cho xã hội tính liên tục và tính ổn định và nằm sâu trong tâm thức, trong đức tin tâm linh của con người. Đó chính là những đức tin tâm linh, những hệ thống giá trị. Các giá trị được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống của mỗi dân tộc, được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc dân tộc và được lưu truyền từ đời này qua đời khác, trở thành vốn quý giúp cho dân tộc đó phát triển. Giữa biểu tầng và cơ tầng có mối quan hệ tương tác, qui định lẫn nhau .

    Để phù hợp với đối tượng nghiên cứu của chúng tôi về vấn đề thương hiệu dưới góc độ văn hóa học (chúng tôi giả thuyết thương hiệu như một thực thể văn hóa), luận án chọn cách tiếp cận văn hóa thông qua hệ thống biểu tượng. Theo quan niệm của Unesco trong Toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa của Unesco thì: “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng qui định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành cộng đồng riêng biệt” [99, tr.164].

    Một là, khi nói đến văn hóa là nói đến hoạt động đặc thù của con người, luôn gắn với con người và phản ánh con người thông qua hoạt động thực tiễn và tinh thần.

    Hai là, văn hóa chính là những hoạt động văn hóa nhằm sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần, hướng tới các giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Những giá trị ấy được biểu đạt bằng hệ thống biểu tượng.

    Ba là, các giá trị văn hóa được sáng tạo và lựa chọn có sự chi phối và quyết định, định hướng phát triển đời sống xã hội. Do đó, văn hóa trở thành nhu cầu thường xuyên của cộng đồng xã hội.

    Khái niệm thuật ngữ văn hóa

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • What Are Junk Bonds And How Are Junk Bonds Rated?
  • Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Java
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Java: Khái Niệm, Đặc Điểm,ứng Dụng Cơ Bản
  • Java Là Gì? Giới Thiệu Ngôn Ngữ Java
  • Java: Java: Một Số Thuật Ngữ Cần Nắm Chắc Khi Tìm Hiểu Về Java Nio
  • Khái Niệm Tôn Giáo Từ Góc Độ Nhân Học Văn Hóa (2)

    --- Bài mới hơn ---

  • (Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,phân Loại ,tác Dụng, Ví Dụ),so Sánh ,ẩn Dụ,nhân Hóa,hoán Dụ,nói Quá ,nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ
  • Lý Thuyết Các Nhân Tố Tiến Hóa Sinh 12
  • Các Nhân Tố Tiến Hóa Và Cơ Chế Tiến Hóa
  • Bài 4: Các Nhân Tố Tiến Hóa (Phần 1)
  • Sinh Học 12 Các Nhân Tố Tiến Hóa
  • Định nghĩa tôn giáo từ góc độ nhân học

    Thực tế, khó có một định nghĩa duy nhất về tôn giáo, mà chỉ có những luận điểm của các nhà nghiên cứu đứng từ nhiều góc độ khác nhau. Định nghĩa tôn giáo là một thách thức, khi thì quá rộng, khi thì không rõ ràng làm mất đi nhiều ý nghĩa của nó. Nhiều định nghĩa đưa ra quá hẹp vì chúng chỉ áp dụng vào một số nền văn hóa và một số hiện tượng mà các nhà nhân học đặt chúng trong một số phạm trù của tôn giáo một cách truyền thống. Những định nghĩa như vậy thường mang tính vị chủng, chỉ bao gồm những ý tưởng cho là “tôn giáo” đối với nền văn hóa đó.

    Ngay trong nhân học tôn giáo, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những khái niệm tôn giáo từ nhiều góc độ khác nhau. Những người theo trường phái chức năng quan tâm đến vai trò của tôn giáo trong văn hóa – xã hội(4). Tôn giáo gắn kết xã hội bằng cách kết nối các thành viên lại vói nhau trong nghi lễ và lễ hội cộng đồng. Tôn giáo tác động lên các cá nhân làm giảm bớt đi nỗi lo lắng, tính không chắc chắn bằng cách cung cấp những lời giải thích và ý nghĩa cuộc sống. Ví dụ, tôn giáo cung cấp những giải thích về việc con người đối đầu với những vấn đề khó khăn, rủi ro, bất trắc, hoạn nạn. Hay tôn giáo giải thích về những sự kiện như điều gì xảy ra sau khi chết, tại sao lại có những phép lạ, tại sao lại có những trải nghiệm khác thường. Tôn giáo không chỉ cung cấp những giải thích từ góc độ tâm linh, tình cảm đơn giản, mà tôn giáo còn góp phần an ủi giúp cho con người đối đầu với cái chết hay những điều rủi ro khác. Tôn giáo còn là hệ thống đạo đức, ban thưởng, trừng phạt, quở trách của thánh thần đối với những ai vi phạm điều cấm, vi phạm cái thiêng.

    Một khái niệm, định nghĩa chung nhất về tôn giáo mà chúng ta thường gặp: tôn giáo là một hệ thống các niềm tin và ứng xử, dựa vào hệ thống biểu tượng. Bên cạnh những định nghĩa về tôn giáo mà Nguyễn Quốc Tuấn đưa ra trong bài viết của mình(5), tôi muốn cung cấp thêm một số những định nghĩa khác nhấn mạnh vào sự trải nghiệm cá nhân, tình cảm và khía cạnh văn hóa, xã hội của tôn giáo. Một định nghĩa nhân học sớm nhất về tôn giáo là hậu duệ trực tiếp của các định nghĩa thời đại Khai sáng ở phương Tây của nhà triết học, nhà thơ thuộc trường phái siêu hình Edward Herbert (1582/3-1648). Có thể coi ông là người đầu tiên đưa ra một định nghĩa ‘tôn giáo tự nhiên’. “Ý kiến chung về tôn giáo [theo Herbert] là: 1) có một vị Thần tối cao; 2) vị Thần đó phải được thờ cúng; 3) đức hạnh kết hợp với mộ đạo là phần chủ yếu của cúng thần; 4) con người phải ăn năn về tội lỗi của họ và từ bỏ chúng; 5) thưởng và phạt sau đó đến từ lòng tốt và công minh của Thần, cả trong cuộc sống này lẫn sau đó. Năm điều này chứa đựng toàn bộ học thuyết của nhà thờ Công giáo thực sự, có nghĩa là tôn giáo lý trí”(6).

    Clifford Geertz đưa một định nghĩa được phổ biến rộng rãi nhất: tôn giáo là “1) một hệ thống biểu tượng hoạt động nhằm 2) thiết lập những tâm trạng và động cơ mạnh mẽ, rộng khắp, và tồn tại lâu dài trong con người bằng cách 3) hình thành nên những khái niệm về một trật tự chung của sự tồn tại và 4) khoác lên những khái niệm này bằng hào quang của sự thật mà 5) những tâm trạng và động cơ dường như là hiện thực duy nhất”(11). Trong khi đó, Otto Rank nghĩ rằng tôn giáo là trải nghiệm huyền bí của cái “thiêng” 12); Freud thì cho rằng tôn giáo là sự thể hiện của quá trình tâm lý vô thức(13); Lucien Lévy-Bruhl thì coi tôn giáo là sản phẩm của “tâm thức nguyên thủy”(14).

    Các nhà khoa học không thống nhất quan điểm về khái niệm, những biểu hiện của tôn giáo. Họ nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau của tôn giáo, như niềm tin và ý tưởng, nghi lễ, tình cảm, đạo đức, cộng đồng, xã hội. Hơn nữa, họ còn bàn về những quan điểm khác nhau trong khái niệm: thế nào là “thần thánh”, “chúa trời”, “niềm tin”, “cái thiêng”, hay “sự linh thiêng”. Cuối cùng, tôn giáo đề cập đến cái gì đó có thực “ở thế giới ngoài kia” và cái gì đó “ở trong chính chúng ta”.

    Tôn giáo có lẽ bao hàm tất cả những điều trên một cách đồng thời, nhưng cũng có những sắc thái khác biệt đối với các tôn giáo khác nhau ở các dân tộc khác nhau. Điểm chung mà tôn giáo chia sẻ với những hành động xã hội và những tổ chức khác là những hành động ngôn từ mang tính nghi lễ, mối quan tâm đến cái tốt, cái xấu, hành động đúng/sai, niềm mong muốn để đạt được một số mục đích, sự thiết lập và duy trì của cộng đồng. Điều làm cho tôn giáo khác biệt với các hành động và tổ chức xã hội khác là những sức mạnh “siêu nhiên”, các thần thánh mà con người có mối quan hệ với họ.

    Từ góc độ nhân học văn hóa, tôn giáo được coi như một phép loại suy của văn hóa “tới cái tối thượng”. Đó cũng là những mốì quan hệ “xã hội”, tác động tương hỗ với nhau. Robin Horton nhấn mạnh: “Trong mỗi một tình huống được gọi chung là mang tính tôn giáo, chúng ta đối mặt với hành động hướng tới đấng tối cao được tin là ứng với một số phạm trù trong văn hóa riêng của chúng ta bao gồm mục đích, trí tuệ, tình cảm… Áp dụng những phạm trù này vào đấng tối cao, tức là chúng ta đã ‘nhân cách hóa’ họ. Mối quan hệ giữa con người và các nhân vật mang tính tôn giáo có thể được xác định xa hơn khi được thống trị bởi một số ý tưởng về mẫu hình và sự bắt buộc như là việc khắc họa các mối quan hệ của con người. Nói một cách ngắn gọn, tôn giáo có thể được xem xét như là sự mở rộng lĩnh vực của mối quan hệ xã hội của con người vượt lên trên giới hạn của xã hội loài người thuần túy”(15).

    Một bằng chứng rõ ràng về xã hội hóa và văn hóa hóa của các đấng siêu nhiên khi chúng ta xem xét con người nói về các vị thánh, chúa trời, và sức mạnh siêu nhiên. Trong Kitô giáo, chúa là cha – cũng là một khái niệm về quan hệ gia đình. Người Việt theo đạo Mẫu gọi Liễu Hạnh là Thánh Mẫu, Mẹ; Trần Hưng Đạo, hay Bát Hải Đại Vương là thánh, cha. Các thần thánh, chúa cũng có một số tính cách như con người, chúa của Do Thái – Cơ đốc, đặc biệt trong kinh Cựu ước, thích mùi thịt nấu, và chúa cũng ghen và tức giận. Trong kinh Tân ước, chúa cũng trải nghiệm yêu thương, sự công bằng và trả thù. Trong bất kể truyền thống tôn giáo nào, các thần thánh hoặc các lực lượng siêu nhiên đều có tính người, họ thân thiện, thù địch, thờ ơ, nói dối, hoặc những đức tính như của con người. Thực sự, tôn giáo tham gia vào các chuẩn mực, giá trị và ý nghĩa của văn hóa, xã hội.

    Đối thoại tôn giáo

    Như đã nói ở trên, nhân học nghiên cứu về sự đa dạng của con người và hãy để chính đối tượng nghiên cứu của chúng ta nói về văn hóa, tôn giáo của họ. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà nhân học bắt đầu viết về các hiện tượng văn hóa, tôn giáo năng động, không phải là những truyền thông tĩnh tại. Một trong những lĩnh vực các nhà nhân học quan tâm là quan điểm của người dân, người bản địa về tôn giáo của họ, những đối thoại của họ với chính phủ, với các tôn giáo được công nhận chính thức khác để bảo vệ những giá trị văn hóa, xã hội trong tôn giáo của họ. Trong phần này, tôi sẽ đưa ra một ví dụ về đối thoại tôn giáo của người Wana trong bài viết “Đối thoại tôn giáo: Thiết lập tôn giáo của một dân tộc thiểu số ở Indonesia” của Atkinson(17). Dân tộc Wana có khoảng 5.000 người sống ở vùng rừng núi nằm sâu trong lục địa của miền Đông Sulawei Tengh, Indonesia. Đa số những người sống ở vùng cao này vẫn là những người ngoại đạo, thực hành tín ngưỡng Saman giáo và gần đây mới có sự du nhập của Kitô giáo, trong khi những dân tộc ở vùng biển và ở chân núi thì chủ yếu theo Hồi giáo. Atkinson mô tả tôn giáo Saman của người Wana và sự hiểu biết của họ về “tôn giáo”, cũng như các ý đồ chính trị tôn giáo trong những năm 70 của thế kỷ trước như hệ quả của một quá trình lịch sử tiếp xúc lâu dài của người Wana với những người theo Hồi giáo và Kitô giáo, và với lịch sử hiện đại của chính phủ Indonesia. Căn cứ vào những hiểu biết về văn hóa của một vùng và một xã hội mà Atkinson dự định nghiên cứu, thì tôn giáo bản địa thường tập trung chủ yếu vào bệnh tật và chữa bệnh. Nhưng thật ngạc nhiên, Saman giáo của người Wana là một tôn giáo đích thực, thể hiện rõ ràng nhất trong khi nói về ăn kiêng và về chính phủ. Người Wana đã thiết lập cho họ một “tôn giáo” phân biệt với tôn giáo của những người láng giềng theo Hồi giáo và Kitô giáo. Người Wana kêu gọi phải công nhận một thực tế mà ý nghĩa “tôn giáo” đối với những người theo tôn giáo thế giới là không rõ ràng, không giống tôn giáo của họ.

    Agama là từ chỉ “tôn giáo” trong đa số các ngôn ngữ của những dân tộc ở Indonesia, bao gồm cả tiếng quốc ngữ Bahasa. Agama là những khái niệm về sự tiến bộ, hiện đại hóa, về sự gắn bó với các mục đích dân tộc. Khái niệm tôn giáo chính thống ở Indonesia bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp bởi quan niệm “tôn giáo” của phương Tây. Các dân tộc thiểu số bị coi là kém phát triển, lạc hậu, hay ít hiểu biết, những con người thực tế là không có tôn giáo, mà chỉ có những thực hành mang màu sắc mê tín dị đoan.

    Chính sách tôn giáo của Indo­nesia cho rằng thành viên của các tôn giáo thế giới có sự đảm bảo tự do và bao dung tôn giáo dưới bảo trợ của sự thống nhất và mục tiêu quốc gia. Đối với người theo những thực hành tôn giáo truyền thống thì bị chỉ trích là không có tôn giáo được nhà nước công nhận chính thức và theo chủ nghĩa dân tộc. Theo lôgíc của nhiều nhà dân tộc chủ nghĩa, những người ngoạiđạo Wana và những người vô thần có chung hai đặc điểm: từ chối theo một tôn giáo chính thức và đối lập với chính phủ. Như vậy, người Wana với thực hành tôn giáo Agama của họ là trung tâm trong mối quan tâm của chính phủ vi tôn giáo của họ mang mầm mống đáng lo ngại về mặt chính trị. Đối với nhiều người Wana, dù họ phải đóng thuế, làm việc cho nhà nước, họ vẫn bị coi là những người không chịu sự điều hành của nhà nước chỉ vì họ không có tôn giáo.

    Để khắc họa tôn giáo của mình, người Wana đã đưa ra những khuôn mẫu tôn giáo thế giới giống với tôn giáo của họ và tạo ra bức tranh về một tôn giáo nên thế nào. Đó là tất cả những quy định về ăn kiêng, chôn cất, phương pháp chữa bệnh, nghi lễ nông nghiệp, phép tắc về tình dục, những đặc trưng về nghi lễ, mối quan hệ với chính phủ, là những đặc tính tôn giáo mà người Wana đưa ra. Chẳng hạn, Hồi giáo là một tôn giáo kiêng ăn một số món, thì người Wana có quan điểm rằng tôn giáo của Wana là một tôn giáo cho rằng tất cả các loại thực phẩm đều ăn được, đặc biệt là thịt lợn và thịt chuột mà cả hai loại thịt này được người Hồi giáo cho là bẩn thỉu. Kitô giáo có phẩn giống đạo của người Wana vì họ không kiêng kỵ một loại thức ăn nào.

    Người Wana chấp nhận một điều rằng agama của họ là tôn giáo ở giai đoạn đầu, nhưng đối với họ ưu thế không phải là tính nguyên thủy mà là giá trị xã hội, và họ có một ý thức về mối quan hệ ruột thịt của các tôn giáo. Họ coi Hồi giáo ở vị trí như là người em của tôn giáo Wana. Người Wana đã đưa ra những khái niệm sơ lược về ý thức tôn giáo trong quá trình hình thành. Trong lời tổng hợp ngắn gọn về quan điểm tôn giáo của người Wanna, có thể trích dẫn tuyên bố của Cliffort Geertz: “Dường như ở khắp nơi quá trình duy lý hoá tôn giáo được gợi mở ra bởi sự lung lay tận gốc nền tảng của trật tự xã hội”(l8). Một khi cho rằng tôn giáo là một trong những hình thức mang tính chính trị ở Indone­sia, thì không khỏi ngạc nhiên hiểu rằng sự đáp lại của người Wana cũng được hiểu tương tự như tuyên bố của Geertz.

    Qua bài viết của Atkinson, chúng ta thấy ngưòi Wana dùng tôn giáo bản địa Agama của mình để đối thoại với tôn giáo thế giới. Nói một cách khác, Atkinson đã thấy người Wana không đơn giản chỉ là “sống với tôn giáo của họ” mà còn sử dụng tôn giáo bản địa của mình trong đối thoại với chính phủ Indonesia, với những cộng đồng láng giềng theo Hồi giáo và Kitô giáo.

    Thay cho lời kết

    Tôn giáo được hiểu như là một hệ thống tư tưởng, giáo lý bằng văn bản, mà những người có đức tin theo, còn những thực hành tôn giáo, niềm tin, nghi lễ dân gian không có hệ thống các nguyên tắc và tổ chức chặt chẽ bị coi là tín ngưỡng đứng hàng thứ yếu. Khái niệm này đã có ảnh hưởng sâu rộng trên khắp thế giới khiến cho một số nhà cải cách tôn giáo ở một số nước đã cải biên lại tôn giáo truyền thống của họ cho “hiện đại” theo những tư tưởng về tôn giáo của phương Tây. Đối với nhân học, những hệ thống giáo lý này lại không phải là trọng tâm nghiên cứu, mà thực hành của người dân, ý nghĩa tôn giáo trong đời sống tâm linh, những vấn đề văn hóa xã hội của các sinh hoạt tôn giáo mới là những vấn đề mà các nhà nhân học quan tâm hàng đầu.

    Bài viết đã một phần nói lên rằng ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới bị tác động nặng nề của thuật ngữ tôn giáo với những khái niệm và sắc thái ý nghĩa Kitô giáo của phương Tây. Một số những hình thức thực hành tôn giáo bản địa của người Kinh cũng như các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam không được công nhận chính thức, và một số hình thức khác như lên đồng, bói toán, bùa chú, đốt vàng mã,… bị coi là mê tín dị đoan và bị hạn chế thực hành. Văn hóa và tôn giáo của một tộc người có một tập hợp ngôn ngữ và biểu đạt riêng. Việc áp dụng thuật ngữ của văn hóa, tôn giáo với sắc thái ý nghĩa của xã hội này vào những xã hội khác có thể dẫn đến những cách hiểu sai lệch, thậm chí còn “chê bai và mai mỉa di sản của người xưa”(19). Để kết thúc bài viết, tôi xin trích câu viết của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Từ xa xưa dân tộc ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác. Còn nói tôn giáo là thờ cúng thì mọi người đều thờ cúng ông bà, họ đều thờ cúng tổ tiên… Từ góc độ văn hóa, tôi thấy đây là một đặc trưng đáng trọng của người Việt Nam, ở chỗ nó là sự tưởng nhớ những người có công trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay trong mỗi gia đình và làng xóm”(20).

    CHÚ THÍCH:

    1. Xem: Frazer, James. The Golden Bough: A Study in Magic and Religion (Cành vàng: Một nghiên cứu ma thuật và tôn giáo).London: Macmillan, 1958: VII.

    2. Xem: Evans-Prichard, E.E. Wichcraft, Oracles, and Magic Among the Azande (Phù thủy, màu nhiệm, và ma thuật của người Azande).New York: oxfordUniversity Press, 1937, tr. 63.

    3. Xem: Eller, Jack David. In­troducing Anthropology of Religion (Nhập môn nhân học tôn giáo).New York: Routledge, 2007, tr.6.

    4. Xem: Malinowski, Bronislaw. Sđd và Durkheim, Emile. The Elemen­tary Foms of the Religious Life(Những hình thức sơ khai của cuộc sống tôn giáo). Bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Joseph Ward Swain. New York: The Free Press, 1965.

    5. Xem: Nguyễn Quốc Tuấn. Đd, tr. 9-10.

    6. Xem: Keyes, Charles F. “The Decline and Rise of the Anthropologi­cal Study of Religion” (Dẫn luận: Sự thăng trầm của nghiên cứu nhân học về tôn giáo”. Đào Thế Đức dịch, trong Những vấn đề nhân học tôn giáo, tạp chí Xưa Nay, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006, tr. 17.

    7. Xem: Tylor, E. B. Primitive Cul­ture: Researches into the development of Mythology, Philosophy, Religon, Language, Art and Custom (Văn hóa nguyên thủy: Nghiên cứu sựphát triển của thần thoại học, triết học, tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật và phong tục). London: J. Muray, 1871.

    8. Xem: Frazer, James. Sđd, tr. 58-59.

    9. Xem: James, William, The Varieties of Religious Experience: A Study in Human Nature ( Sự đa dạng của trải nghiệm tôn giáo: Một nghiên cứu bản chất con người).New York: Mentor Books, 1958, tr. 34.

    10. Xem: Radin, Paul. Primitive Religion: Its Nature and Origin (Tôn giáo nguyên thủy: Bản chất và nguồn gốc).New York: Dover Publications, 1957, tr.3.

    11. Xem: Geertz, Clifford. The Interptation of Cultures (Diễn giải văn hóa).New York: Basic Books, 1973, tr.90.

    12. Xem: Rank, Otto. The Myth of the Birth of the Hero: A Psychological Interptation of Mythology(Thần thoại về sự ra đời của người anh hùng: Lý giải phân tâm học về thần thoại học). The Journal of Nervous and Mental Disease Pub. Co., 1914.

    13. Xem: Freud, Sigmund. The Standard Edition of the Complete Psychological Works of Sigmund Freud(Tuyển tập các công trình phân tâm học của Sigmund Freud), tập XXI: The Future of an Illusion (Tương lai của những ảo tưởng) (1927), James strachey dịch, London: Hogarth Press.

    14. Xem: Lévy-Bruhl, Lucien. The notebooks on primitive mentality: Ex­plorations in interptative sociology (Sách về trí tuệ nguyên thủy: Khám phá trong xã hội học diễn giải). Pub­lisher: Harper & Row, 1975.

    15. Xem: Horton, Robin. “Defini­tion of Religion, and its Uses” (Định nghĩa tôn giáo và ứng dụng của nó). Journal of the Royal Anthropological Institute of Great Britain and Ireland, 90 (2), 1960, tr.201-226.

    16. Xem” Eller, Jack David. Sđd, tr.9-10

    17. Xem: Atkinson, Jane Monnig. “Religions in Dialogue: The Con­struction of an Indonesian Minority Religion” (Đối thoại tôn giáo: Thiết lập tôn giáo của một dân tộc thiểu số của Indonesia). American Ethnologist,Vol. 10, No. 4 (Tháng 11,1987, tr. 684- 696). Bản thảo tiếng Việt do Nguyễn Thị Hiền dịch cho seminar về Nhân học tôn giáo tín ngưỡng và nghi lễ, Bảo tàng dân tộc học Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10 năm 2007.

    18. Xem: Geertz, Cliffort, Sđd, tr.173

    19. Xem: Nguyễn Quốc Tuấn. Đd, tr.3.

    20. Xem: Phạm Văn Đồng. Văn hóa và Đổi mới. Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 1994, tr.75.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Sinh Học 6
  • Bài 34. Thoái Hóa Do Tự Thụ Phấn Và Do Giao Phối Gần
  • Khái Niệm Về Văn Hoá Và Phản Văn Hoá
  • Khái Niệm Chung Về Nhân Cách
  • Nhân Cách Và Sự Hình Thành Nhân Cách
  • Khái Niệm Văn Hóa Tổ Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là “văn Hóa Tổ Chức”?
  • Quản Lý Văn Hóa Việt Nam Trong Tiến Trình Đổi Mới Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Văn Hóa Lãnh Đạo, Quản Lý Trước Yêu Cầu Đổi Mới Và Phát Triển Xã Hội Hiện Nay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp, Doanh Nhân
  • Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nhân
  • Kết quả

    Khái niệm văn hóa tổ chức:

    Có lẽ vì bản chất trừu tượng nên đã có nhiều khái niệm về văn hóa tổ chức được đưa ra.

    Văn hóa tổ chức là thói quen, cách nghĩ truyền thống và cách làm việc trong tổ chức được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong tổ chức (Elliott Jaques, 1952).

    Văn hóa tổ chức là hệ thống những ý nghĩa chung được chấp nhận rộng rãi bởi những người lao động trong thời gian nhất định (Adrew Pettgrew, 1979)

    Văn hóa tổ chức là một loạt các quy phạm và hệ thống giá trị chung nhằm kiểm soát sự tương tác giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các thành viên trong tổ chức với những người bên ngoài tổ chức đó. Văn hóa tổ chức là hệ thống những niềm tin và giá trị chung được xây dựng trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của các thành viên trong tổ chức.

    Văn hóa tổ chức là một hệ thống ý nghĩa chung hàm giữ bởi các thành viên của tổ chức, qua đó có thể phân biệt tổ chức này với tổ chức khác (Robbin, 2000).

    Như vậy, văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, những niềm tin, những quy phạm được chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của những người lao động trong tổ chức.

    Văn hóa tổ chức xác định tính cách của doanh nghiệp. Văn hóa tổ chức thường được xem như là cách sống của mọi người trong tổ chức. Những khái niệm về văn hóa tổ chức ở trên đều gắn với một cái gì đó chung đối vớ mọi thành viên trong tổ chức. Đó là những giả định chung, hệ thống ý nghĩa chung, luật lệ và những kiến thức chung. Những giá trị xác định những hành vi nào là tốt và có thể chấp nhận được và những hành vi xấu hay không thể chấp nhận được. Chẳng hạn, trong một số tổ chức, việc đổ lỗi hay cãi vã với khách hàng khi khách hàng phàn nàn về sản phẩm là không thể chấp nhận được. Khi đó, giá trị của tổ chức – “khách hàng luôn luôn đúng” – sẽ chỉ cho những người trong tổ chức thấy rằng hành động “không cãi vã vớ khách hàng” là chấp nhận được và hành động “cãi vã với khách hàng” là không chấp nhận được. Hơn nữa, những khái niệm về văn hóa tổ chức còn cho thấy tầm quan trọng của việc “chia sẻ” trong sự phát triển của những khái niệm về văn hóa tổ chức. “Sự chia sẻ” ở đây có nghĩa là làm việc với kinh nghiệm chung; khi chúng ta chia sẻ, chúng ta trực tiếp tham gia với những người khác. Ở đây nhấn mạnh sự giống nhau trong cách nghĩ, cách làm của mọi người. Đây là ý nghĩa gắn chặt với các khái niệm về văn hóa tổ chức. Chia sẻ văn hóa nghĩa là mỗi thành viên tham gia và đóng góp vào nền tảng văn hóa lớn hơn, sự đóng góp và kinh nghiệm của mỗi thành viên là không giống nhau. Khi nói đến văn hóa như là một hệ thống ý nghĩa, giá trị, niềm tin và kiến thức, cần phải ghi nhớ rằng văn hóa phụ thuộc vào cả cộng đồng và sự đa dạng hóa. Văn hóa cho phép sự giống nhau nhưng cũng thừa nhận và dựa trên sự khác nhau.

    Một điểm chung nữa của những khái niệm về văn hóa tổ chức nêu trên là tất cả những khái niệm đều nhấn mạnh vào những phương tiện mang tính biểu đạt mà thông qua đó những giá trị trong văn hóa tổ chức được truyền bá tới những người lao động trong tổ chức. Mặc dù, các công ty có thể trực tiếp mô tả những giá trị, những hệ thống ý nghĩa này thông qu những câu chuyện, những ví dụ, thậm chí cả những huyền thoại. Những câu chuyện là phương tiện điển hình để phản ánh những ngụ ý quan trọng của những giá trị trong văn hóa tổ chức.

    Văn hóa của một tổ chức được thể hiện qua 3 cấp độ:

    – Các vật thể hữu hình: cách thức bố trí và trang trí nơi làm việc, các biểu tượng vật chất, trang phục của nhân viên, điều kiện và môi trường làm việc.

    – Các giá trị được tuyên bố: được thể hiện qua phong cách giao tiếp, ứng xử của người lao động trong tổ chức, qua các triết lý kinh doanh của doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo…

    – Các giả định: đó là các giá trị ngầm định. Khi các giá trị được tuyên bố được kiểm nghiệm qua thực tế hoạt động của doanh nghiệp, được người lao động chấp nhận thì sẽ được duy trì theo thời gian và dần dần trở thành các giá trị ngầm định. Các giá trị ngầm định này thường khó thay đổi và ảnh hưởng rất lớn tới phong cách làm việc, hành vi của nhân viên trong tổ chức.

    (quantri.vn biên tập và số hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Là Gì? Khái Niệm Chuẩn Mực Văn Hóa Theo Unesco
  • Dinh Nghia Vanhoa Do Unesco Phat Bieu
  • Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa
  • Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân
  • Vai Trò Của Văn Hóa Kinh Doanh Đối Với Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm: Văn Hóa Cổ Truyền, Văn Hóa Truyền Thống, Và Truyền Thống Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Gd Hn: Bg Về Quản Lý Xã Hội Monhocqlyxahoi Ppt
  • Công Tác Xã Hội Với Người Khuyết Tật
  • Công Tác Xã Hội Với Người Cao Tuổi
  • Xung Đột Xã Hội: Giải Pháp Ngăn Ngừa Và Xử Lý
  • Xung Đột Xã Hội: Chiều Cạnh Triết Học
  • VĂN HÓA CỔ TRUYỀN, VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

    VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA

    GS. Nguyễn Xuân Kính

    (Viện văn hóa dân gian)

    Trong bài này, chúng tôi xin giới thiệu cách hiểu của giới nghiên cứu về ba khái niệm:

    văn hoá cổ truyền, văn hoá truyền thống và truyền thống văn hoá.

    I. Văn hoá cổ truyền

    Thời gian qua, nhiều nhà khoa học dùng từ cổ truyền (trong các khái niệm: văn học dân gian cổ

    truyền, văn nghệ dân gian cổ truyền, văn hoá dân gian cổ truyền, văn hoá cổ truyền) với ý nghĩa

    chỉ thời gian, trong tương quan so sánh với từ hiện đại (trong các khái niệm: văn học dân gian

    hiện đại, văn nghệ dân gian hiện đại, văn hoá dân gian hiện đại và văn hoá hiện đại). Trong cách

    dùng này, cổ truyền là tính từ chỉ những gì ra đời và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám (1945)

    trở về trước, hiện đại là tính từ chỉ những gì ra đời và lưu hành sau Cách mạng tháng Tám

    (1945).

    Trong hai tập Văn học dân gian do GS. Đinh Gia Khánh chủ biên, viết cùng PGS. Chu Xuân

    Diên, xuất bản lần đầu: 1972 (tập I), 1973 (tập II), không ít lần GS. Đinh Gia Khánh sử dụng hai

    từ cổ truyền và hiện đại với cách hiểu vừa nêu:

    + “Những thành tựu đạt được trong việc nghiên cứu văn nghệ dân gian cổ truyền khiến cho nhận

    thức của chúng ta về sự phong phú của nền văn nghệ ấy ngày càng rõ ràng và đầy đủ hơn” (tập

    II, tr. 433, chỗ in nghiêng là do N.X.K nhấn mạnh).

    + “Tóm lại, đối với vốn văn nghệ dân gian cổ truyền mà bộ phận quan trọng là văn học dân gian

    của văn hoá phương Tây tác động quan trọng đến một số lĩnh vực, tuy gốc dân tộc vẫn tồn tại.

    Như vậy khoảng thời gian kéo dài từ thiên niên kỉ thứ I trước Công nguyên cho đến cuối thế kỉ

    XIX, đầu thế kỉ XX” .

    GS. TSKH. Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Tiến trình văn hoá Việt Nam có thể chia thành 6 giai

    đoạn: văn hoá thời tiền sử, văn hoá Văn Lang – Âu Lạc, văn hoá thời chống Bắc thuộc, văn hoá

    Đại Việt, văn hoá Đại Nam và văn hoá hiện đại” . Tác giả cũng dùng

    khái niện văn hoá cổ truyền; qua cách trình bày của ông, người đọc có thể hiểu: từ văn hoá Đại

    Nam trở về trước là văn hoá cổ truyền .

    II. Văn hoá truyền thống

    Bên cạnh các tính từ cổ truyền và hiện đại trong các khái niệm văn hoá cổ truyền, văn hoá hiện

    đại nói trên, còn có các tính từ truyền thống và hiện đại trong các khái niệm: xã hội truyền thống,

    văn hoá truyền thống, xã hội hiện đại, văn hoá hiện đại.

    Khi nói văn hoá truyền thống và văn hoá hiện đại, các nhà chuyên môn không quan tâm đến việc

    phân biệt về thời gian mà chú ý phân biệt về hai phương thức sinh tồn xã hội dựa trên hai mô hình

    tổ chức. Họ đã phân biệt hai loại hình xã hội khác nhau về phương thức sinh tồn xã hội như là sự

    phân biệt của hai loại tập hợp con người và xã hội: một loại tập hợp mang tính chất cộng đồng

    và một tập hợp không mang tính chất cộng đồng. Loại thứ nhất được tổ chức nên bởi các đơn vị

    cộng đồng và loại thứ hai được tổ chức nên bởi các đơn vị tập đoàn. Sự phân biệt cơ bản giữa hai

    loại tập hợp xã hội đó là: các tập hợp có tính chất cộng đồng dựa trên tính trội của truyền thống,

    còn các tập hợp không có tính chất cộng đồng thì dựa trên tính trội của sự suy lí. Cộng đồng là đơn

    vị xã hội truyền thống, còn tập đoàn là đơn vị xã hội duy lí, hiện đại.

    Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã giới thiệu quan niệm trên do học giả Pháp Giăng Poariê

    (Jean Poirier) đề xuất năm 1968 , in sai: “xã hội Việt Nam thời Đại Việt (xã hội của người

    Việt) thuộc loại thứ ba (các xã hội truyền thống chủ nghĩa có chữ viết)”.

    (4) Trong báo cáo “Làm thế nào để duy trì văn hoá dân gian trong dạng sống động – trường hợp

    của Việt Nam”, trình bày tại Hội thảo quốc tế Giá trị và tính đa dạng của folklore châu á trong quá

    trình hội nhập do Viện Nghiên cứu văn hoá và Hội Folklore châu á tổ chức tại Hà Nội, tháng 9

    năm 2005, GS. TSKH. Tô Ngọc Thanh dùng thuật ngữ văn hoá cổ truyền. Trong cách hiểu của

    tác giả, có nhiều nội dung văn hoá cổ truyền giống với nội dung của văn hoá truyền thống. (Xin

    xem Nguồn sáng dân gian, Hà Nội, 2005, số 4, tr. 3 – 5, 43).

    (5) ở vùng kháng chiến trong kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), ở miền Bắc (1955 – 1975),

    ở cả nước (sau 30/4/1975) có sự định hướng của nhà nước ta đối với văn hoá, văn nghệ.

    Tài liệu trích dẫn

    1. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, tái bản, Nxb. Văn hoá dân

    tộc, Hà Nội.

    2. Chu Xuân Diên (2004), “Về khái niệm văn hoá dân tộc và nền văn hoá hiện đại mang bản sắc

    dân tộc”, in trong tập sách của cùng tác giả: Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam,

    Nxb. Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Chu Xuân Diên (2002), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí

    Minh.

    4. Hữu Ngọc chủ biên (1995), Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội.

    5. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, in lần thứ ba, có sửa chữa và bổ

    sung, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.

    6. Ngô Đức Thịnh (2005), “Một cách tiếp cận về lịch sử văn hoá Việt Nam”, Văn hoá dân gian, Hà

    Nội, số 2.

    7. Trần Quốc Vượng chủ biên (1997), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp (Csr) Là Gì ? Phân Tích Về Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp
  • Xã Hội Truyền Thống: Định Nghĩa. Đặc Điểm Của Một Xã Hội Truyền Thống
  • “xã Hội Thông Tin” Trông Ra Sao?
  • Bài 1: Các Khái Niệm Cơ Bản Của Xã Hội Học
  • Khái Niệm Và Các Loại Kiểm Soát Xã Hội
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100