Bài 4: Tiếp Xúc Và Giao Lưu Văn Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Bản Chất Và Phân Loại Giao Tiếp
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Là Gì
  • Bài 5: Giao Tiếp Có Văn Hóa
  • Giáo Dục Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hoá Cho Trẻ Mẫu Giáo Lớn (5 6 Tuổi)
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Sao Để Giao Tiếp Tốt Trong Công Sở
  • Tóm tắt lý thuyết

    • Thuật ngữ tiếp xúc và giao lưu văn hóa được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội như khảo cổ học, dân tộc học, xả hội học, văn hóa học v.v…, tức là những ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là con người và xã hội, nhân văn. Khái niệm tiếp xúc và giao lưu vân hóa được dịch từ những thuật ngủ như cultural contacts, cultural exchanges, acculturation của các nước phương Tây. Nhưng ngay bản thân ở các nước phương Tây, các khái niệm này cũng được dùng bởi những từ khác nhau. Người Anh thích dùng chữ Cultural Change (có thể dịch là trao đổi văn hóa), người Tây Ban Nha dùng chữ Transculturation (có nghĩa là di chuyển văn hóa), người Pháp có thuật ngữ Interpenetration des civilisations (có nghĩa là sự hòa nhập giữa các nền văn minh), người Hoa Kỳ dùng thuật ngữ acculturation. Đương nhiên, nội hàm của các thuật ngữ trên ở các nước có giải hạn chung, nhưng các thuật ngữ đều có những nét khác nhau nhát định về sắc thái.
    • Như vậy, giao lưu và tiếp xúc văn hóa là sự vận động thường xuyên của xã hội, gắn bó với tiến hóa xã hội nhưng cũng gán bó với sự phát triển của văn hóa, là sự vận động thường xuyên của văn hóa.
    • Con người sống thành cộng đồng và đã là con người thì ai cũng có những nhu cạu trong cuộc sống gần như nhau. Để đáp ứng và thỏa mãn nhu câu đó, họ đã chế tạo những công cụ sản xuất cấn thiết vào buổi ban đấu. Trải qua năm tháng, sống trong những hoàn cảnh địa lí và lịch sử khác nhau, từng nhóm dân cư khác nhau đã tạo nên những nền văn hóa riêng biệt, in đậm dấu ấn của họ. “Một hoạt động có ý nghĩa đặc biệt đối với giao lưu văn hóa là trao đổi kinh tế. Giữa các cộng đông sống trên các địa bàn khác nhau thường có sự trao đổi nguyên liệu hoặc sản phẩm với nhau mà sau này là sự trao đổi hàng hóa”(Sự trao đổi kinh tế thường được tiến hành bàng những cuộc tiếp xúc tập thể hay cá nhân tại các địa điểm quy định trên đường biên giới giừa lành thổ của các cộng đống (bộ lạc hay một nhóm bộ lạc…).
    • Trên bước đưòng phát triến của xã hội loài người, cơ sờ kinh tế là nhân tố quyết định. Sự biến đổi này được đẩy nhanh them do giao lưu văn hóa, ban đấu giữa các tộc người gấn gũi nhau, cùng trình độ và về sau, là giữa các tộc người hav dãn tộc có trình độ phát triển xà hội khác nhau. Sự biến đổi của hàn sắc văn hóa dân tộc chịu sự chi phối của nhiểu nhân tố Nhông nét lạc hậu, lỗi thời sẽ dán mất đi để thay thế bằng những gì được khẳng định là vân minh, hiện đại. Ngoài hoạt động trao đổi kinh tế còn có những hoạt đông trao đổi “phi kinh tế” mà ảnh hưởng của chúng đến giao lưu văn hóa không nhỏ (sự trao đổi tặng phẩm, vật phẩm tôn giáo.,.). Sự tiếp xúc văn hóa còn có thể có được nhờ những sự tiếp xúc khác như quan hệ hôn nhân, quan hệ ngoại giao… Các cuộc thiên di lớn nhỏ, luôn luôn xảy ra trong thời nguyên thủy vã cổ trung đại làm cho các tập đoàn người có văn hóa khác nhau đã tiến đến bên nhau hoặc sống xen kẽ vào nhau. Đó cũng là một yếu tố quan trọng tạo ra sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa.
    • Giao lưu văn hóa vừa là kết quả của trao đổi, vừa là chính bán thân sự trao đổi. Cá hiểu như vậy mới thấy hết tấm quan trọng của giao lưu văn hóa trong lịch sử nhân loại, vì sản xuất, trao đổi là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử, như nhận định của Mác và Ăngghen : “Người ta luôn luôn phải nghiên cứu và viết lịch sử loài người gán liển với lịch sử của công nghiệp và của trao đổi), và “Những lực lượng sản xuất, nhất là những phát minh, để đạt được ở một địa phương có mất đi hay không mất đi đối với sự phát triển sau này, điều đó chỉ phụ thuộc vào sự mà rộng của trao đổi thôi.”
    • Nói cách khác, giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể, Quá trình này luôn luôn đặt mỗi tộc ngưùi phải xử lí tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh vã yếu tố ngoại sinh hai yếu tố này luôn có khả nàng chuyến hóa cho nhau và rất khó tách biệt trong một thực thể văn hóa có yếu tố ở giai đoạn này là yếu tố ngoại sinh nhưng đến giai đoạn sau, những tính chất của yếu tổ ngoại sinh ấy không còn hoặc nhạt dán đến nỗi người ta tưởng rằng đó là yếu tố nội sinh. Hơn nữa, kết quả của sự tương tác giữa hai yếu tố này thường diễn ra theo hai trạng thái: một là yếu tố ngoại sinh lấn át, triệt tiêu yếu tố nội sinh; hai là có sự cộng hưởng lẫn nhau, yếu tố ngoại sinh dần dần trở thành yếu tố nội sinh hoặc bị phai nhạt căn tính của yếu tố ngoại sinh. Nhin ở phương diện thái độ của tộc người chủ thể, sự tiếp nhận các yếu tố ngoại sinh cũng có hai dạng thể hiện: một là tự nguyện tiếp nhận ; hai là bị cưõng bức tiếp nhận. Mức độ của sự tiếp nhận trong giao lưu cũng khác nhau: có sự tiếp nhận đơn thuấn vả sự tiếp nhận sáng tạo. Sự tiếp nhận đơn thuần khi nhìn ở ý nghĩa tương đối là phổ biến trong mọi người ở tộc người chủ thể. Trong khi đó, sự tiếp nhận có sáng tạo lại là sự tiếp nhận có sự kiểm soát của lí trí. Và, sự tiếp nhận cô sáng tạo này cũng có ba mức:
      • Thứ nhất là không tiếp nhận toàn bộ mà chỉ chọn lọc lấy những giá trị thích hợp cho tộc người mình.
      • Thứ hai là tiếp nhận cả hệ thống nhưng đâ có sự sáp xếp lại theo quan niệm giá trị của tộc người chủ thể.
      • Thứ ba là mô phỏng và biển thể một số thành tựu của văn hóa tộc người khác bời tộc người chủ thể

    Như thể, quan hệ biện chúng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh đặt ra đòi hỏi với chỉnh tộc người chủ thể là nội lực của chính nó, hay nói cách khác là bàn sắc và truyền thống văn hóa của tộc người tiếp nhận. Trên cái nhìn lịch sử, bản sác và truyền thống không phải là yếu tố nhất thành bất biến Sự vận động của mỗi nên văn hóa trong không gian và trong thôi gian luôn lúôn là sự vận động của các yếu tổ bất biến và khá biến giữa cái cố hữu vã cái cách tân. Cái khạ biến phát triển đến mức độ nào đó sẽ làm thay đổi chỉnh thực thể văn hóa ấy, như quy luật, lượng đổi, chất đổi.

    Ngày nay, chúng ta đã nhận thức được rằng tiếp biến và giao lưu văn hóa là quy luật phát triển của văn hóa, quy luật tất yếu của đời sống, một nhu cầu tự nhiên của con người hiện tại.

    • Muốn nghiên cứu sự giao lưu và tiếp biến trong văn hóa Việt Nam cần hiếu nền tảng tạo ra những yếu tố nội sình của văn hóa Việt Nam. Nền tảng ấy chính là cơ tăng văn hóa Đông Nam Á.
    • Khái niệm vùng Đông Nam Á trong thuật ngữ này rộng hơn nhiều so với vùng Đông Nam Á theo quan niệm của các nhà địa lí hiện đại. Bởi lẽ, hiện tại vùng Đông Nam Á có 10 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Brunây, Xingapo. Nhưng ở vào thời tiễn sử, vùng Đông Nam Á là vùng đất có ranh giới phía bắc tối bờ sông Dương Tử (Trung Quốc), phía nam đến tận quần đảo Nam Dương (Inđônêxia), phía tây kéo đến tận biên giới bang Át Xâm của Ân Độ, phía đông là cả một thế giới bán đảo và đảo nằm cạnh châu Đại Dương. Dựa vào cứ liệu của các ngành nhân loại học, dân tộc học, ngôn ngữ học, ngành khoa học nhãn văn đã xác định được vùng Đông Nam Á có một cơ tầng văn hóa riêng biệt, phi Hoa, phi Ân, không phải như học giả Anh Anthony Christie trong Daivn of Civihsation : Đông Nam Á chảng có gì sáng tạo đáng kể …. ngoài trống đồng và có thể kể thêm cái nơm úp cá! Trên vùng Đông Nam Á thời tiền sử, người Hômosapiôns hậu duệ của cư dân Pithropoid, không rõ khi nào, đã phân hóa thành các đại chứng Môngôlôit và Oxtralôit. Các đại chủng này sống trên đại lục châu Á. Vùng Đông Nam Á là nơi đại chủng Oxtralôit cư trú. Những cư dân này đã sáng tạo nên nền văn hóa của mình. “Nền văn hóa đó có cội nguồn và bản sắc riêng, đã phát triển liên tục trong lịch sử. Đó là phức thể văn hóa lúa nước với ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biến, trong đó yếu tố đồng bằng tuy có sau nhưng dóng vai trò chủ đạo”.
    • Cơ tầng văn hóa chung ây được tạo ra từ nhiẽu yếu tố, Trước hết, cư dân cổ vùng Đông Nam Á đã chuyển từ trồng củ sang trồng lúa từ khoảng thế kỉ VI, V, IV trước công nguyên. Tùy theo địa bàn định cư mà người ta trổng lúa nước hay lúa cạn. Trâu bò, nhất là trâu đã được thuần hóa và được dùng để làm sức kéo. Kim khí, chủ yếu là đồng và sát đã được dùng để chế tạo công cụ, vũ khí, dụng cụ nghi lễ. Cư dân thành thạo trong nghé đi biển. Người phụ nữ có vai trò quvết định trong mọi hoạt động của gia đình, một cộng đồng xã hội nhỏ. Đời sống tinh thần của cư dân vần ở dạng bái vật giáo với việc thờ các thẩn; thấn đất, thần nước, thần lúa. Ngoài ra là tục thờ mặt trôi, thờ cây, thờ đá, thờ hổ, thô cá sáu v.v… Tổ tiên được thờ phụng, dáng lưu ý là quan niệm vể tỉnh chất lường phân, lưỡng hợp của thế giới của cư dân thời kỉ này ; đồng thời là việc sử dụng các ngôn ngữ đơn tố có khả năng phát sinh phong phú bàng tiến tố, hậu tố và trung tố…
    • Những yếu tố nội sinh của văn hóa Việt Nam mang những đặc điểm chung của cơ tầng văn hóa Đông Nam Á như vậy, trong chừng mực nào đó, ý kiến của GS Phạm Đức Dương là chính xác với khía cạnh này. “Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ có đủ ba yếu tố văn hóa núi, đồng bàng và biển, có đủ các sác tộc thuộc các ngữ hệ Autroasiatique, Tibeto-birman. Cùng như các nước Đông Nam Ấ, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc., nhưng ở đây, người Việt đóng vai trò chủ thể. Đó là một cộng đồng tộc người làm ruộng nước được hinh thành trong quá trình khai phá vùng châu thổ sông Hồng”.
    • Khi nhìn văn hóa Trưng Hoa, trong sự đồng đảng với văn hóa Việt lại phải chú ý, ranh giới của văn hóa Trung Hoa không trùng với địa giới Trung Hoa hiện tại. Khoảng 500 năm trước công nguyên trở vế trước, Hoa Nam chưa thuộc vẽ lành thổ của đế chế Trung Hoa – Chu – Tần – Hán. Giáo sư Mỹ W. Eberhand khi viết về các nên văn hóa địa phương ở Nam và Đông Trung Hoa đề cập đến Hoa Nam thời cổ, ông đã gọi là Prechinese China (Trung Hoa trước ngưôi Hoa). Đây là địa bàn của các tộc người phi Hoa, quê hương của các tộc người nói tiêng Tày – Thái, Mèo – Dao, Tạng – Miến, Môn – Khơme, nói khác đi là địa bàn của cư dân Bách Việt.
    • Sự giao lưu tiếp biến giữa vân hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa là sự giao lưu, tiếp biến rất dài trong nhiêu thời kỉ của lịch sử Việt Nam. Cho đến hiện nay, không một nhà văn hóa học nào lại phủ nhận ảnh hưởng lớn của văn hóa Trung Hoa đối với văn hóa Việt Nam. Quá trình giao lưu tiếp biến ấy diễn ra cả hai trạng thái: giao lưu cưông bức và giao lưu không cưỡng bức.
    • Trước hết là giao lưu văn hóa một cách cưỡng bức. Việc này xày ra vào những giai đoạn lịch sử mà người Việt bị đô hộ, bị xâm lược: từ thế kỉ I đến thế kỉ X và từ 1407 đến 1427.
    • Suốt trong thiên niên kỉ thứ nhất sau công nguyên, hay thời kì mã các nhà viết sử gọi là thời kì Bắc thuộc, người Hán tổ chức được nền đô hộ, ngoài việc bóc lột ở Giao Châu về mọi phương diện, bộ máy cai trị của người Hán thực hiện chính sách đồng hóa tiêu diệt văn hóa cúa cư dân bản địa câu hỏi lớn nhất của lịch sử đặt ra cho người Việt là giữ gìn bàn sắc văn hóa dân tộc. Trong một thiên niên kỉ Hán hóa, đây quả là một việc không dễ dàng bỏ! kẻ xâm lược thì muốn đồng hóa, người bị xâm lược thì chống đồng hóa. Văn hóa Việt luôn đứng trước một thử thách lớn lao và gav gắt với câu hỏi tồn tại hay không tồn tại
    • Chắc là người Việt đã chống lại một cách quyết liệt chính sách đồng hóa cứa quan lại người Hán
    • Giao lưu văn hóa cưỡng bức còn xảy ra lần thứ hai từ 1407 đến 1427. Đây là giai đoạn nhà Minh xâm lược và cai trị Đại Việt. Trong số các kẻ thù xâm lược từ phương Bắc, giặc Minh là kẻ thù xâm lược tàn bạo nhất đối với văn hóa Đại Việt. Lệnh của Minh Thành tổ với Trương Phụ khi viên tướng này vào xâm lược Đại Việt là bằng chứng tiêu biểu cho điểu này. Chổng lại chủ trương đống hóa người Việt của nhà mình lại là công việc không đơn giàn của cả dân tộc Việt giai đoạn này.
    • Mặt khác, giao lưu, tiếp biến văn hóa một cách tự nguyện lại là dạng thức thứ hai c.ủa quan hệ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa.
    • Trong nền văn hóa Đông Sơn, người ta đã nhận thấy khá nhiều di vật của văn hóa phương Bắc nằm cạnh những hiện vật của văn hóa Dông Sơn. Chảng hạn những đống tiễn thời Tẩn Hán, tiễn Ngũ thù đời Hán, các dụng cụ sinh hoạt của quý tộc Hán như gương đống, ấm đồng v. v… Có thể những sản phẩm ấy là kết quả cửa sự trao đổi, thông thương giữa các nước láng giềng.
    • Sau một ngàn năm Bắc thuộc, đất nước đã độc lập, người phương Bắc không cai trị Đại Việt nữa, nhưng giao lưu, tiếp biến văn hóa vẫn xuẤt hiện và đô là giao lưu Văn hóa tự nguyện Sự mô phòng mô hình Trung Hoa được các triều đại của nhà nước quân chủ Đại Việt đẩy mạnh Nhà Lý, về tổ chức xã hội, chính trị lấy cơ chế của Nho giáo làm gốc, và vẫn chịu ánh hưởng rất đậm của Phật giáo. Nhưng từ nhà Trán, nhà Lé, đã hoàn toàn tự nguyện vã chịu ảnh hưởng của Nho giáo rất đậm, cụ thế là Tồng Nho, quả là : “trong một thời gian dài, Nho giáo được coi là ý thức hệ chính thống”.
    • Cả hai dạng thức của giao lưu, tiếp biến văn hóa cưỡng bức và tự nguyện của mối quan hệ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa đếu là nhân tố cho sự vặn động của văn hóa Việt Nam qua diễn trình lịch sử ! Người Việt đã tạo ra khá nhiều thành tựu trong quá trình giao lưu văn hóa này.
    • Thời Bắc thuộc, với sự giao lưu với phương Bác, người Việt đã tiếp nhận kĩ thuật rèn đúc sắt và gang, kinh nghiệm chất đá làm để ngăn sóng biển, kỉ thuật dùng phân mà dân gian vùng cháu thổ Bắc Bộ gọi là “phân bác” v.v… Đáng lưu ý là việc tiếp nhận chữ Hán, mặc dù tiếng Việt và tiếng Hán là hai thứ tiếng thuộc hai ngữ hệ khác nhau. Một nghìn năm Bác thuộc cũng là một nghìn năm tiếng Việt biến đổi theo xu hướng âm tiết hóa và thanh điệu hóa. Nhưng, tiếng Việt vẫn là tiếng Việt, mà người Việt không bị người Hán đồng hóa về mặt tiếng nói.
    • Thời quân chủ, nhất là từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, các triều đại đã mô phỏng mô hình Trung Hoa, trên cơ tầng văn hóa Đông Nam Á, lại thường xuyên phải giữ độc lập dân tộc, chống xâm lược từ phương Bắc. Ngoài mô hình chính trị, người Việt còn tiếp nhận nhiều thành tố văn hóa khác. Kết quả của sự giao lưu ấy, tạo ra ở Việt Nam một mô hình tổ chức xã hội vừa giống vừa khác mô hình tổ chức xã hội của giai cấp phong kiến Trung Quốc về sở hữu ruộng đất, chế độ bóc lột địa tô và về hệ tư tưởng. Bản thân hệ tư tưởng Nho giáo của giai cấp phong kiến Trung Quốc củng khác hệ tư tưởng Nho giáo ở Việt Nam, bởi Nho giáo ở Việt Nam đã có một độ khúc xạ rất lớn, do những đặc điểm lịch sử – xã hội ở Việt Nam.

    Khác với Trung Hoa có biên giới đường bộ với Việt Nam, Ấn Độ không có sự tiếp giáp trực tiếp với Việt Nam, nhưng nền văn hóa Ấn Độ lại có ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam. Trên nhiều bình diện, văn hóa Ấn Độ “thẩm thấu” – chữ dùng của GS, TS. Phạm Đức Dương – bằng nhiều hình thức và liên tục.

    Khi xem xét mối quan hệ, giao lưu và tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ, cần thấy, quá trình mức độ của quan hệ giao lưu này có khác nhau qua các thời kì lịch sử và các không gian văn hóa.

    Trong giai đoạn đầu tiên của thiên niên kỉ đầu sau công nguyên, trên dải đất Việt Nam hiện nay có ba nên văn hóa: Văn hóa Việt ở Bắc Bộ, Chămpa ở Trung Bộ, và Óc Eo ở Nam Bộ. Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của văn hóa Ấn Độ với ba nến văn hóa này khác nhau.

    Trước công nguyên, nguyên nhân thúc đẩy người Ấn Độ thông thương buôn bán với cư dân Đông Nam Ấ, trong đó có cư dân của ba nễn văn hóa trên là việc buôn bản năng, sau khi việc buôn bán với thế giới La Mã bị cấm.

    • Thứ nhất là văn hóa Óc Eo, sự biến mất của nên văn hóa này vào thế kỉ VIII làm cho chúng ta hôm nay khó dựng lại được diện mạo của nó, vì thể tìm hiểu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ không phải là việc dễ dàng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã khẳng định nền văn hóa Óc Eo là nền văn hóa của “một quốc gia ngay từ buổi đầu đã được xây dựng trên cơ sở một nền nông nghiệp trổng lúa nước khá phát triển bắt nguồn từ vùng ruộng nương trung nguyên sông Cửu Long của cư dân Môn – Khơme kết hợp với nghề biển cổ truyền của cư dân Nam Đảo. Trên cơ tầng đó, các đạo sỉ Balamôn từ Ấn Độ đã tổ chức một quốc gia mô phỏng theo mô hình Ấn Độ trên tất cả các mặt: tổ chức chính trị, thiết chế xã hội, đô thị hóa, giao thông, kĩ thuật công nghiệp cùng một hệ thống tôn giáo và các nền văn hóa kèm theo, trong đó đạo Bralamôn đóng vai trò chi phối; đạo pháp Bralamôn là tối thượng, chữ Brahmi của Sanscrit là chữ thánh hiền.
    • Thứ hai là nền văn hóa Chămpa. Nhận xét vẽ quan hệ giữa văn hóa Chămpa và văn hóa Ấn Độ, TS. Ngô Vân Doanh khẳng định : “một điều không thể phù nhận được là những ảnh hưởng Ấn Độ đã góp một phần cực kỉ quan trọng vào quá trình hình thành ra vương quốc Chămpa cũng như một nền văn hóa phát triển rực rỡ và đẩy bản sắc – văn hóa Chămpa. Có điều ấy là kết quả của một quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa văn hóa Ấn Độ và văn hóa Chảmpa. Người Chăm tiếp nhận mô hình văn hóa Ấn Độ từ việc xây dựng một chế độ vương quyền đến việc tạo dựng mọi thành tố của nên văn hóa Chămpa. Nhưng ở đây cũng lại có một độ khúc xạ khá lớn giữa văn hóa Ấn Độ và văn hóa Chămpa, chẳng hạn như ở khía cạnh tôn giáo, chữ viết, đảng cấp xã hội v.v…

    Thứ ba là nền văn hóa Việt ở châu thổ Bắc Bộ. Trước khi văn hóa Ấn Độ tràn vào, văn hóa Việt đã định hình và phát triển. Người Việt ở đây tiếp nhận văn hóa Ấn Độ vừa trực tiếp, vừa gián tiếp. Những thế kỉ đầu công nguyên, châu thổ Bắc Bộ là địa bàn trung chuyển vân hóa Ấn Độ, nhất là tôn giáo. Các nhà sư từ Ấn Độ đi qua Luy Lâu (nay thuộcThuận Thành, Bắc Ninh) để rổi tìm đường lên phương Bác và các nhà sư Trung Quốc sang Ấn Độ tỉm kinh cũng qua Luy Lâu, coi đây là trạm dừng chân. Người Việt tiếp nhận văn htía An Độ trong hoàn cảnh rất đặc biệt. Họ đổi mặt với văn hóa Hán, vừa tiếp nhận vân hóa Hán, vừa lo đối phó với chính trị. Bởi vậy, ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ chi diễn ra trong tầng lớp dân chúng, nhưng lại có sức phát triển rất lớn. Giao Châu trở thành trung tâm Phật giáo lớn ở Đông Nam Ấ… Người Việt thích ứng và tiếp biến đạo Phật một cách dung dị vào cơ táng văn hóa bản địa; bởi đạo Phật vốn có tinh thần bỉnh đấng và bác ái, chủ trương dán chủ, không đang cap Với tỉn ngưởng đa thần, người Việt dề dàng tiếp nhận Phật giáo Đại thừa, mạc dù có thời gian, Phật giáo tiểu thừa đã ngự trị khá vững chắc ở châu thổ Bắc Bộ. Vì thế, có thể nói, ngay từ buổi đấu, ở Bắc Bộ, Phật giáo đã có tính chất dân tộc. Tựu trung, việc giao lưu, tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Ân Độ, qua từng thời kỉ lịch sử và ỏ từng vùng đất diễn ra khác nhau, nhưng cơ bản là giao lưu, tiếp biến một cách tự nhiên, tự nguyện.

    • Không phải đến khi người Pháp vào xâm lược, giao lưu giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa phương Tây mới điền ra. Bởi trong văn hóa của cư dân Ốc Eo, người ta đã nhận thấy nhiều di vật của các cư dân La Mã cổ đại : “2 huy chương hay tiến La Mã, một vật thời Antonies (152 nằm sau công nguyên, 1 vật thời Marcus Anrelius 161-180 sau công nguyên … Những di vật đó nói lên rằng Óc Eo đã có những quan hệ thương mại quốc tế rộng rãi, các linh mục phương Tây đã vào truyền giáo ở vùng Hải Hậu (nay thuộc tỉnh Nam Định), và chúa Trịnh vua Lê ở Đàng Ngoài cũng như các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rối nhà Tây Sơn đều có quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên, quan hệ thực sự diễn ra vào nửa sau thể kỉ XIX, khi thực dân Pháp đánh chiếm cửa Cần Giờ và đặt cách cai trị lên dân tộc Việt Nam. Đây là thời kì biến động lớn về tư tưởng và chính trị, đồng thời văn hóa Việt Nam cũng có sự thay đổi căn bản. Nhìn ở phương diện tính chất giao lưu văn hda ở thời ki này có hai dạng: thứ nhất là giao lưu một cách cưỡng bức, áp đặt; thứ hai là tiếp nhận một cách tự nguyện.
    • Về phía người Pháp, đội quân đi xâm lược và đô hộ rất có ý thức dùng văn hóa như một công cụ cai trị nên bị người dân Việt, phản ứng một cách quyết liệt Có thế thấy thái độ ấy của các nhà nho yêu nước ở Nam Bộ hồi cuối thế kỉ XIX như Nguyễn Đình Chiểu, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực v.v. Vì vậy, người Việt chống lại cả vản hóa mà đội quân đi xâm lược định áp đặt cho họ. Số phận của chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này chính là nàm trong thái độ ấy. Tuy nhiên với người Việt, vận mệnh dân tộc là thiêng liêng nhất, bằng thái độ cởi mở, họ đã tiếp nhận những giá trị, những thành tố văn hóa mới, miễn sao chúng có tác dụng hữu ích trong công cuộc chống ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc. Vì thái độ đối với chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này của các nho sĩ chính là biểu hiện cho điều ấy.

    Quá trình giao lưu và tiếp xúc của văn hóa Việt Nam và văn hóa phương Tây giai đoạn này đã khiến người Việt Nam thay đổi cấu trúc lại nền văn hóa của mình, đi vào vòng quay của văn minh phương Tây giai đoạn công nghiệp. Diện mạo văn hóa Việt. Nam thay đổi trên các phương diện:

    • Thứ nhất là chủ Quốc ngữ, từ chỗ là loại chủ viết dùng trong nội bộ một tôn giáo được dùng như chữ viết của một nền văn hóa.
    • Thứ hai là sự xuất hiện của các phương tiện văn hóa như nhà in, máy in ở Việt Nam v.v…
    • Thứ ba là sự xuất hiện của báo chỉ, nhà xuất bản.
    • Thứ tư là sự xuất hiện của một loạt các thể loại, loại hình văn nghệ mới như tiểu thuyết, thơ mới, điện ảnh, kịch nói, hội họa v.v….

    Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, việc giao lưu và tiếp biến văn hóa có sự thay đổi rất rõ nét so với các giai đoạn trước. Với quan điểm mà đồng chí Đỗ Mười đã tuyên bố tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, hoàn cảnh lịch sử của giao lưu và tiếp biến văn hóa đã thay đổi vẽ nhiều phương diện:

    • Thứ nhất sự tiến bộ của các ngành khoa học ki thuật, đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin khiến cho văn hóa, các sản phẩm văn hóa cảng đa dạng và phong phú. Nói khác đi, giao lưu vã tiếp biến văn hóa là giao lưu tiếp biến văn hóa ở thời đại tin học Lịch sử hôm nay có những hình thức sản phẩm giao lưu mà trước kia chưa có, phương tiện giao lưu văn hóa lại đa dạng, phong phú.
    • Thứ hai, công cuộc đổi mới và mở cửa hỏm nay hoàn toàn do dân tộc Việt Nam chữ động dưới sự lành đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khiến cho việc giao lưu văn hóa là hoàn toàn tự nguyện, chủ động, không hề bị áp đặt hay cưỡng bức.

    Tựu trung, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa ở giai đoạn hiện nay vừa có tính cấp thiết, lại nhanh chóng và đa dạng, đồng thời cũng phức tạp hơn xưa. Kết quả của công cuộc giao lưu này đã khiến cho chúng ta thu được những kết quả khả quan trên nhiêu lĩnh vưc từ kinh tế đến xã hội, từ khoa học công nghệ đến văn hóa thông tin. Tuy nhiên, công cuộc giao lưu ấy cũng đặt văn hóa Việt Nam trước những thách thức mới, đòi hỏi việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cảng phải tiến hành khấn trương, khoa học và kiên quyết hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Loại Hình Giao Tiếp Trong Tâm Lý Học
  • Giao Tiếp Không Lời: Giao Tiếp Bằng Cả Ngôn Ngữ Của Cơ Thể
  • Giao Tiếp Bằng Lời Nói
  • Soạn Bài Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ Văn 10
  • Soạn Bài Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ Trang 14 Sgk Ngữ Văn 10, Tậ
  • Giao Lưu Và Tiếp Biến Văn Hoá

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Biến Văn Hóa Vn Trong Bối Cảnh Hội Nhập
  • Bài Giang Môn Cơ Sở Văn Hóa
  • Bài Giảng: Văn Hóa Chính Trị
  • Văn Hóa Chính Trị Việt Nam
  • Một Cách Tiếp Cận Về Văn Hóa Chính Trị
  • ỦNG HỘ WEBSITE BẰNG CÁCH BẤM “ĐĂNG KÝ” OR “SUBSCIREBE” KÊNH YOUTUBE ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ KINH PHÍ DUY TRÌ WEBSITE VÀ ĐĂNG TẢI NHIỀU TÀI LIỆU MỚI CHO BẠN.

    Giao lưu và tiếp biến văn hoá

    Câu 1

    1. Khái niệm

    – Thuật ngữ “giao lưu và tiếp biến văn hoá” được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội như dân tộc học, xã hội học, văn hoá học.v.v… ở phương Tây, khái niệm này được dùng bởi những từ khác nhau. Người Anh dùng Cultural Change (trao đổi văn hoá). Khái niệm Acculturation của người Hoa Kỳ được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam dịch với những nét nghĩa khác nhau: đan xen văn hoá, hỗn dung văn hoá, giao thoa văn hoá. Cách dịch được nhiều người chấp nhận là giao lưu và tiếp biến văn hoá.

    – Nếu quy luật kế thừa là sự khái quát hoá quá trình phát triển văn hoá diễn ra theo trục thời gian thì giao lưu và tiếp biến văn hoá nhìn nhận sự phát triển văn hoá trong mối quan hệ không gian với nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau, tuỳ trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc.

    – Khái niệm: Giao lưu và tiếp biến văn hoá là sự gặp gỡ, thâm nhập và học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa. Trong quá trình này, các nền văn hoá bổ sung, tiếp nhận và làm giàu cho nhau, dẫn đến sự biến đổi, phát triển và tiến bộ văn hoá.

    – Giao lưu văn hoá thực chất là sự gặp gỡ, đối thoại giữa các nền văn hoá. Quá trình này đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc. Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan trọng. Nó là “màng lọc” để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình.

    – Quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá thường diễn ra theo hai hình thức:

    + Hình thức tự nguyện: Thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, du lịch, hôn nhân, quà tặng…mà văn hoá được trao đổi trên tinh thần tự nguyện.a

    Giao lưu và tiếp biến văn hoá

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Văn Hóa Việt Nam Từ Góc Độ Giao Lưu
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì?
  • Khái Niệm Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Bàn Về Bản Sắc Dân Tộc Của Văn Hóa Việt Nam
  • Tiếp Xúc Văn Hóa Đông

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Nghệ Thuật (Phần 3)
  • Nghệ Thuật Là Gì? Ngôn Ngữ Và Các Loại Hình Nghệ Thuật Ngày Nay
  • Giá Trị Nghệ Thuật Và Nhân Văn Của Tác Phẩm Âm Nhạc
  • Giá Trị Lịch Sử Và Giá Trị Nghệ Thuật
  • Giá Trị Hiện Thực Và Giá Trị Nhân Đạo Trong Tác Phẩm Văn Học
  • 2.1.3. Bước đầu của việc giao lưu văn hóa với phương Tây

    2.2. Thời cận đại

    2.2.1. Giai đoạn đầu của cuộc tiếp xúc văn hóa Đông Tây (đầu thế kỉ

    XVII đến 1862)

    2.2.2. Giai đoạn thứ hai của cuộc tiếp xúc văn hóa Đông Tây (từ 1862

    đến 1945)

    2.2.3. Tác động của cuộc tiếp xúc văn hóa Đông – Tây

    2.3. Thời hiện đại

    Chương 3: Kết quả tiếp xúc văn hóa Đông – Tây ở Việt Nam

    3.1. Sự thay đổi cấu trúc của nền văn hóa Việt Nam thời cận đại

    3.1.1. Sự hình thành tầng lớp trí thức Tây học

    3.1.2. Sự hình thành lối sống Âu hóa

    3.1.3. Sự xuất hiện những loại hình văn hóa mới

    3.1.4. Sự tiếp biến văn hóa phương Tây trong một số loại hình văn hóa

    truyền thống

    3.2. Toàn cầu hóa văn hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

    3.2.1. Toàn cầu hóa văn hóa – xu thế tất yếu của thế kỉ XXI

    3.2.2. Hội nhập Đông – Tây với vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

    5. Tài liệu tham khảo

    1. Trần Lê Bảo (2012), Giáo trình văn hóa phương Đông, Nxb Đại học

    Sư Phạm Hà Nội, Hà Nội.

    2. Phạm Đức Dương (2002), Từ văn hoá đến văn hoá học, Viện Văn

    hoá và Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội.

    3. Nguyễn Văn Huyên (1996), Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam,

    Nxb KHXH, Hà Nội.

    4. Đỗ Quang Hưng (chủ biên) (2013), Tính hiện đại và sự chuyển biến

    của văn hóa Việt Nam thời cận đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    5. Nguyễn Thị Hường (2008), Giáo trình văn hóa học, Nxb Đại học Sư

    phạm Hà Nội.

    3

    6. N. Konrat (1997), Phương Đông và phương Tây (những vấn đề triết

    học, triết học lịch sử, văn học Đông và Tây) (bản dịch tiếng Việt), Nxb Giáo

    dục, Hà Nội.

    7. Phạm Xuân Nam (2013), Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các

    nền văn hóa – Một góc nhìn từ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    8. Nguyễn Quang (2004), Một số vấn đề giao tiếp nội văn hóa và giao

    văn hóa, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.

    9. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục.

    10. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2014), Giá trị văn hóa Việt Nam –

    truyền thống và biến đổi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    11. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa

    Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    12. Lương Duy Thứ chủ biên (2000), Đại cương văn hoá phương

    Đông, Nxb Đại học Quốc gia Tp HCM.

    13. Trần Quốc Vượng chủ biên (1998), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb

    Giáo dục, Hà Nội.

    14. Trần Quốc Vượng (2006), Thăng Long – Hà Nội tìm tòi và suy

    ngẫm, Nxb Văn hóa thông tin.

    6. Phương pháp đánh giá học phần

    Trọng số:

    Chuyên cần:

    0,1

    Kiểm tra giữa học phần:

    0,3

    Thi kết thúc học phần

    0,6

    Cộng

    1,0

    Tính theo thang điểm:

    A, B, C, D, F

    4

    Chương 1: Văn hóa và tiếp xúc văn hóa

    1.1. Văn hóa, văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây

    1.1.1. Văn hóa

    Văn hóa là một khái niệm đa tầng, đa nghĩa với ngoại diên rất rộng và

    nội hàm rất phong phú. Cho đến nay đã có hàng trăm những định nghĩa về

    văn hóa và con số đó vẫn còn tiếp tục tăng lên. Ở đây chỉ bàn đến văn hóa

    như một khái niệm khoa học chỉ đối tượng nghiên cứu của văn hóa học.

    – Định nghĩa của UNESCO trong bản Tuyên bố toàn cầu của UNESCO

    về đa dạng văn hóa (11-2001): “Văn hóa nên được xem là một tập hợp các

    đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay

    một nhóm xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống,

    cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín

    ngưỡng”.

    – Hướng tiếp cận văn hóa từ hệ thống cấu trúc của GS Phạm Xuân

    Nam: “Yếu tố hàng đầu của văn hóa là sự hiểu biết, bao gồm tri thức, kinh

    nghiệm và sự khôn ngoan, tích lũy được trong quá trình học tập, lao động sản

    xuất và đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân

    tộc và các thành viên trong cộng đồng ấy. Nhưng chỉ riêng sự hiểu biết không

    thôi chưa làm nên văn hóa. Sự hiểu biết chỉ trở thành văn hóa khi nó làm nền

    và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu,

    thẩm mĩ, hành vi…) của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng vươn tới cái đúng,

    cái tốt, cái đẹp trong quan hệ với tự nhiên, với xã hội, với người khác và với

    chính bản thân”.

    1.1.2. Văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây

    Theo nghĩa về văn hóa, phương Tây bao gồm các quốc gia châu Âu và

    các quốc gia có nguồn gốc thuộc địa châu Âu ở châu Mỹ và châu Đại dương,

    ví dụ như Hoa Kì, Canada, Australia, New Zealand, Argentina, Brazil. Còn

    phương Đông là khái niệm được hình thành để phân biệt với Phương Tây. Hai

    khái niệm này mang tính tương đối và là sự quy ước của con người, xuất phát

    5

    đầu tiên ở khu vực Nam Âu (Hy lạp và vùng bán đảo Balkans) từ thời cổ đại.

    Lúc đó con người chưa tìm ra Tân lục địa nên người Hy lạp gọi khu vực phía

    mặt trời lặn so với họ là Phương Tây, còn các vùng đất còn lại (Châu Phi và

    Châu Á) gọi là Phương Đông. Từ đó có khái niệm Cận, Trung và Viễn Đông so với Hy Lạp.

    “Trên thế giới có hai nền văn hóa tiêu biểu, văn hóa phương Đông và

    văn hóa phương Tây”, và hai nền văn hóa này có những điểm khác biệt nhau”

    (Huỳnh Ngọc Thu). Triết lý sống của người phương Tây là coi “con người là

    trung tâm” và khẳng định “vai trò cá nhân”, nên ứng xử trong cuộc sống họ

    chú trọng đến cá nhân nhiều hơn cộng đồng và luôn tìm cách để chinh phục tự

    nhiên. Điều này hoàn toàn trái ngược với triết lý sống của người phương

    Đông là quan hệ cộng đồng chặt chẽ và luôn hòa đồng với tự nhiên, xã hội;

    trong cuộc sống không đặt nặng vai trò cá nhân. Có lẽ, chính vì quan điểm

    khác biệt này mà phương Tây đã có nền văn minh phát triển mạnh hơn

    phương Đông, nguyên nhân là do họ khẳng định được vai trò cá nhân và luôn

    tìm cách chinh phục tự nhiên. Yếu tố này đã làm cho các nước phương Tây

    phát triển mạnh trên mọi lĩnh vực, từ quân sự đến khoa học kỹ thuật, kinh

    tế… trong vài thập kỷ qua và đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước

    phương Đông.

    1.2. Tiếp xúc văn hóa

    1.2.1. Khái niệm

    Trong khi nghiên cứu quá trình tương tác giữa hai (hay nhiều) nền văn

    hóa khác nhau, có khá nhiều thuật ngữ được các nhà nghiên cứu đưa ra như

    tiếp xúc văn hóa, giao lưu văn hóa, đối thoại văn hóa, giao tiếp văn hóa, giao

    thoa văn hóa, tiếp biến văn hóa… Và cách hiểu của mỗi nhà nghiên cứu về

    các thuật ngữ nói trên đến nay vẫn còn chưa thống nhất.

    – GS Trần Quốc Vượng: giao lưu, tiếp xúc văn hóa (culture contact) là

    toàn bộ những tương quan hỗ tương nối hai nền văn hóa có quan hệ với nhau,

    6

    trực tiếp hay gián tiếp, thể chất hay không, liên tục hay có hạn, ý thức hay vô

    thức (Văn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn học, 2003).

    – GS. TS Ngô Đức Thịnh: giao tiếp văn hóa là một đặc tính cố hữu của

    con người, các cộng đồng người, nó xuất hiện cùng với con người và xã hội

    loài người và tồn tại dưới nhiều sắc thái và trình độ khác nhau. Ở đây nói tới

    giao tiếp văn hóa với tư cách là giao tiếp giữa các cộng đồng người (ethnic),

    góp phần làm cho văn hóa của cộng đồng người ấy được đổi mới, cách tân.

    Nó được xem như là một nhân tố quan trọng trong quy luật truyền thống và

    đổi mới của văn hóa. Đó là: Truyền thống (Tradition) – Tiếp biến (tiếp nhận

    và biến đổi – acculturation) – Đổi mới (Renovation) (Văn hóa, văn hóa tộc

    người và văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2006).

    – GS Đỗ Quang Hưng: tiếp xúc văn hóa là một hiện tượng văn hóa phổ

    biến. Trong việc tiếp xúc, giao lưu văn hóa thường có hai quá trình phổ biến:

    quá trình “đưa vào” của những chủ thể văn hóa bên ngoài và quá trình “nhận

    lấy” của chủ thể tiếp nhận. Và trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi nói

    về tiếp xúc văn hóa, các nhà nghiên cứu đã có nhiều sự thay đổi về cách nhìn.

    Đó là cái nhìn truyền thống của sự tiếp xúc văn hóa thường bắt đầu bằng sự

    xung đột (giữa các giá trị “đưa vào” và bản sắc văn hóa của sự “nhận lấy”)

    vốn rất phổ biến ở thế kỉ XIX sang một cách nhìn của sự tiến hóa về văn hóa,

    văn minh, sự hội nhập tất yếu của những giá trị kinh tế, văn hóa có tính toàn

    cầu. Trong thế giới ngày nay, khái niệm được sử dụng phổ biến khi nói về

    tiếp xúc văn hóa, đó là thái độ tiếp biến văn hóa, sự thâu hóa văn hóa (Tính

    hiện đại và sự chuyển biến của văn hóa Việt Nam thời cận đại, NXB Chính trị

    quốc gia, 2013).

    – GS Phạm Xuân Nam: tiếp xúc văn hóa là sự gặp gỡ, làm quen, từ đó

    có thể tiến tới xác lập quan hệ giữa các cộng đồng văn hóa khác nhau. Có

    nhiều cuộc tiếp xúc văn hóa là do chủ định và tự nguyện của cả hai phía.

    Nhưng cũng có không ít cuộc tiếp xúc văn hóa là do sự áp đặt, cưỡng bức từ

    một phía thông qua hành động xâm lược và thống trị của một nước mạnh đối

    7

    với một nước yếu hơn. Chỉ có những cuộc tiếp xúc văn hóa tự nguyện mới có

    thể dẫn đến các cuộc đối thoại văn hóa cởi mở và bình đẳng. Ông cũng khẳng

    định, tiếp xúc văn hóa là điều kiện cần nhưng chưa đủ của biến đổi văn hóa,

    bởi tiếp xúc văn hóa không tự động dẫn đến sự biến đổi. Khi tiếp xúc với văn

    hóa B, văn hóa A không tự thân và nhất thiết biến thành A’. Tiếp xúc chỉ dẫn

    đến biến đổi khi có sự đối thoại giữa các nền văn hóa với nhau. Tóm lại, tiếp

    xúc văn hóa là nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi văn hóa (tiếp biến văn hóa)

    mà đối thoại văn hóa là khâu trung gian tác động đến sự chuyển hóa hay kết

    hợp các giá trị văn hóa nội sinh với các giá trị văn hóa ngoại sinh của bên

    tham gia đối thoại (Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa –

    một góc nhìn từ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2013).

    Như vậy, theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước, tiếp

    xúc văn hóa là hiện tượng hai hay nhiều nền văn hóa cọ xát với nhau, dẫn đến

    những biến đổi nhất định (đào thải hoặc củng cố) các yếu tố văn hóa vốn có

    của mình và hình thành những cấu trúc, nội dung và đặc điểm mới mang bản

    sắc của nền văn hóa ngoại lai. Tiếp xúc văn hóa và tiếp biến văn hóa là những

    khâu kế tiếp nhau tất yếu.

    Thuật ngữ tiếp biến văn hóa (acculturation) được các nhà văn hóa học

    Việt Nam từ thập kỷ 60 đến nay dịch theo nhiều cách khác nhau: “văn hóa

    hóa” (Nguyễn Khắc Viện), “hỗn dung văn hoá” (Nguyễn Đức Từ Chi), “đan

    xen văn hóa” (Trần Quốc Vượng), “tiếp biến văn hóa” (tiếp xúc và biến đổi

    văn hóa) (Hà Văn Tấn), “giao hòa văn hóa” (Hoàng Ngọc Hiến), “tương tác

    văn hóa” (Hữu Ngọc). Theo GS Trần Quốc Vượng, giao thoa văn hóa / tiếp

    biến văn hóa ý chỉ sự “móc ngoặc”, “móc nối” giữa hai hay nhiều nền văn

    hóa, để chuyển biến nền văn hóa bản địa do sự tương tác giữa hai yếu tố nội

    sinh và ngoại sinh.

    Trong phạm vi của chuyên đề, chúng tôi sẽ nghiên cứu tiếp xúc văn hóa

    như là một quá trình, bắt đầu từ sự tiếp xúc, giao lưu của các chủ thể văn hóa

    đến từ các nền văn hóa khác nhau, đến khi kết thúc bằng những thay đổi trong

    8

    cấu trúc của mỗi nền văn hóa xảy ra như là kết quả tất yếu của quá trình

    tương tác ấy.

    1.2.2. Các con đường tiếp xúc văn hóa

    – Tiếp xúc văn hóa thông qua hoạt động trao đổi kinh tế: “Một trong

    những hoạt động có ý nghĩa đặc biệt đối với giao lưu văn hóa là trao đổi kinh

    tế. Giữa các cộng đồng sống trên các địa bàn khác nhau thường có sự trao đổi

    nguyên liệu hoặc sản phẩm với nhau mà sau này là sự trao đổi hàng hóa” (Hà

    Văn Tần). Sự trao đổi kinh tế thường được tiến hành bằng những cuộc tiếp

    xúc tập thể hay cá nhân tại các địa điểm quy định trên đường biên giới giữa

    lãnh thổ của các cộng đồng (bộ lạc hay một nhóm bộ lạc). Cùng với việc trao

    đổi mua bán, họ còn trao đổi với nhau những sản phẩm văn hóa khác.

    – Tiếp xúc văn hóa thông qua các hoạt động trao đổi “phi kinh tế”: như

    sự trao đổi tặng phẩm, vật phẩm tôn giáo…hay những sự tiếp xúc khác như

    quan hệ hôn nhân, quan hệ ngoại giao, quan hệ truyền giáo…

    – Tiếp xúc văn hóa thông qua các cuộc di cư: Các cuộc thiên di lớn

    nhỏ, luôn luôn xảy ra trong thời nguyên thủy và cổ trung đại làm cho các tập

    đoàn người có văn hóa khác nhau đã tiến đến bên nhau hoặc sống xen kẽ vào

    nhau. Thời cận hiện đại lại xuất hiện những làn sóng di dân, tị nạn, nhập cư

    giữa các quốc gia. Sau hàng ngàn năm như vậy, các chủng tộc người đã di

    chuyển, gặp gỡ, hòa huyết với nhau, nên đến nay trên thế giới chắc chẳng còn

    dân tộc nào thuần chủng, chẳng có một nền văn hóa y nguyên. Di cư – đó

    cũng là một con đường quan trọng tạo ra sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa.

    1.2.3. Quy luật của sự tiếp xúc văn hóa

    – Nói về nguyên nhân của sự tiếp xúc văn hóa, theo GS. Trần Quốc

    Vượng, trên bước đường phát triển của xã hội loài người, cơ sở kinh tế là

    nhân tố quyết định. Có thể nói, giao lưu văn hóa có xuất phát điểm từ nhu cầu

    trao đổi kinh tế của các cộng đồng người. Giao lưu văn hóa vừa là kết quả của

    trao đổi, vừa là chính bản thân của sự trao đổi.

    9

    – Về bản chất, giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa

    nước ngoài bởi dân tộc chủ thể. Quá trình này luôn luôn đòi hỏi mỗi tộc người

    phải xử lí tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại

    sinh.

    – Vấn đề bản sắc văn hóa: Quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và

    yếu tố ngoại sinh đặt ra đòi hỏi với chính tộc người chủ thể là nội lực của

    chính nó, hay nói cách khác là bản sắc và truyền thống văn hóa của tộc người

    tiếp nhận. Trên cái nhìn lịch sử, bản sắc và truyền thống không phải là yếu tố

    nhất thành bất biến. Sự vận động của mỗi nền văn hóa trong không gian và

    thời gian luôn luôn là sự vận động của các yếu tố bất biến và khả biến, giữa

    cái cố hữu và cái cách tân. Cái khả biến phát triển đến mức độ nào đó sẽ làm

    thay đổi chính thực thể văn hóa ấy, như quy luật lượng đổi, chất đổi trong triết

    học.

    1.3. Tiếp xúc văn hóa Đông – Tây

    1.3.1. Quá trình tiếp xúc văn hóa Đông – Tây

    – Từ cổ đại cho đến sơ kì, trung kì thời Trung đại:

    Từ cổ đại cho đến sơ kì, trung kì thời Trung đại, quan hệ Đông – Tây

    được thực hiện qua các cuộc chiến tranh của những đế chế lớn từ phương Tây

    bành trướng sang phương Đông như đế chế Hi Lạp, hay từ phương Đông

    bành trướng sang phương Tây như đế chế Ảrập Hồi giáo, đế chế Mông Cổ, đế

    chế Ôttôman… và chủ yếu là qua giao lưu kinh tế, văn hóa qua hoạt động của

    các nhà thám hiểm, các nhà truyền giáo. Trong thời kì này, “con đường tơ

    lụa” giữ vai trò quan trọng như một hành lang thông thương về kinh tế và giao

    lưu về văn hóa.

    Qua những hoạt động quân sự, những giao lưu kinh tế, văn hóa Đông –

    Tây, những tri thức của phương Đông về phương Tây và của cả phương Tây

    về phương Đông dần dần được tích lũy. Cho đến đầu thế kỉ XV, trong quan

    hệ Đông – Tây, phương Đông vẫn giữ vai trò ưu thế và vẫn tỏa chiếu ánh

    10

    sáng văn minh sang phương Tây với sự truyền bá nhiều thành tựu từ Trung

    Quốc, Ấn Độ, Tây Á sang các nước Địa Trung Hải.

    – Từ hậu kì Trung đại cho đến thời Cận đại:

    Trong những phát kiến địa lí cuối thế kỉ XV, việc nhà hàng hải và thám

    hiểm người Bồ Đào Nha Vasco Da Gama tìm ra con đường biển từ Đại Tây

    Dương vòng qua bờ biển Châu Phi sang Ấn Độ Dương giữ vai trò quan trọng

    trong quan hệ giao thương Đông – Tây. Từ đây “con đường tơ lụa trên biển”

    nối liền Đông Á với Nam Á và Tây Á phát triển thành con đường hàng hải

    nối liền ba đại dương, mở ra “thời đại thương mại” – thời đại hình thành và

    phát triển thương mại thế giới. Nhưng cũng từ đây ưu thế kinh tế – xã hội

    nghiêng hẳn về phương Tây. Ở những nước phát triển sớm của phương Tây,

    đầu thế kỉ XVI, chủ nghĩa tư bản ra đời.

    Thế kỉ XVIII – XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đưa những nước tiên

    tiến của Tây Âu đi vào con đường công nghiệp hóa, sáng lập ra nền văn minh

    công nghiệp. Trong lúc đó, cả châu Á và phương Đông nói chung vẫn còn

    trong tình trạng kinh tế phong kiến lạc hậu (trừ Nhật Bản đến nửa sau thế kỉ

    XIX mới phát triển mạnh). Chính tình hình chung đó đã làm cho phương

    Đông chậm tiến so với phương Tây và hậu quả là trở thành đối tượng xâm

    lược và thống trị của các nước thực dân phương Tây.

    Từ cuối thế kỉ XIX, với các xã hội châu Á và phương Đông nói chung,

    cùng với sự tranh giành và thiết lập bản đồ hệ thống thuộc địa, các nước

    phương Tây đã bắt đầu cuộc “công nghiệp hóa cưỡng bức”, xây dựng cơ sở

    hạ tầng, đầu tư kinh tế để bóc lột, khai thác thuộc địa, từng bước làm thay đổi

    căn bản các xã hội ấy. Trong các xã hội châu Á vào thời điểm cuối thế kỉ

    XIX, người ta bắt đầu cuộc hành trình “hiện đại hóa” bằng những cuộc vận

    động cải cách chấn hưng dân trí, dân khí. Bước vào đầu thế kỉ XX, khi những

    yếu tố của chủ nghĩa tư bản đã lộ rõ trong nhiều không gian xã hội phương

    Đông, dù là thuộc địa hay nửa thuộc địa, cũng tất yếu diễn ra sự chuyển đổi

    11

    mô hình văn hóa, thiết chế văn hóa cũng như sự xuất hiện các loại hình văn

    hóa mới theo kiểu phương Tây.

    – Thời hiện đại:

    Sau chiến tranh thế giới thứ hai, lịch sử nhân loại lại đi vào một bước

    ngoặt với sự phát triển và thành công của phong trào đấu tranh chống chủ

    nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc của các nước thuộc địa và các nước phụ

    thuộc. Thắng lợi của sự nghiệp phi thực dân hóa đó làm thay đổi bản đồ thế

    giới và mối quan hệ Đông – Tây. Phương Đông thuộc địa đã thức tỉnh, trở

    thành các quốc gia, dân tộc độc lập và bằng nhiều con đường khác nhau xây

    dựng lại đất nước, từng bước tiến lên văn minh hiện đại. Khoảng cách Đông –

    Tây dần trở nên thu hẹp cùng với sự khủng hoảng của văn minh phương Tây

    trong thời đại kĩ trị, sự thoái trào của “chủ nghĩa Châu Âu trung tâm” và xu

    hướng toàn cầu hóa của thế giới hiện đại. Những di sản độc đáo của châu Á

    dần được đề cao. Quan hệ Đông – Tây dần tiến tới chỗ tôn trọng lẫn nhau,

    hợp tác bình đẳng.

    1.3.2. Tính chất của các cuộc tiếp xúc văn hóa Đông – Tây

    Nhà văn hóa Phạm Quỳnh ngay từ đầu thế kỉ XX từng nêu quan điểm

    về cuộc đụng độ giữa hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây như sau:

    “Hai phần ấy của nhân loại đã sống cách xa nhau khá lâu, chúng hoàn toàn

    không biết đến nhau, mỗi bên đều nuôi dưỡng lý tưởng của mình. Lý tưởng

    của Phương Đông là lý tưởng về minh triết, thuận lợi cho một sự yên bình

    hạnh phúc. Lý tưởng của Phương Tây luôn là lý tưởng về sức mạnh. Nhằm

    khuất phục các lực lượng của tự nhiên để phục vụ con người, nó đã phát minh

    ra khoa học. Khoa học làm ra ngày càng nhiều phương tiện, tạo nên các nhu

    cầu, kích thích các ham muốn, và đưa ý chí về quyền lực lên đến độ cao nhất

    của nó, làm cho con người Phương Tây tràn ra khỏi môi trường tự nhiên của

    mình và ném họ vào cuộc chinh phục thế giới.

    Từ đây sự cân bằng bị phá vỡ. Phương Tây lao về Phương Đông với tất

    cả niềm hăng say của chủ nghĩa đế quốc và tất cả sức mạnh kỹ thuật của họ,

    12

    và cuộc va chạm dữ dội cho đến nỗi các quốc gia Phương Đông một thời gian

    dài đã không gượng dậy được từ trạng thái bất ngờ và kinh ngạc của mình.

    Cuộc gặp gỡ ấy đã có thể là tốt đẹp cho nhân loại nếu nó xảy ra trong

    những điều kiện ít tàn nhẫn hơn, thông qua con đường của những người ưu tú

    và trên bình diện một sự thông lưu của các lý tưởng và các học thuyết” (Đông

    phương và Tây phương, Tạp chí Nam Phong, 1924).

    Quả thật, xem xét lại từ trong lịch sử, văn hóa phương Đông và phương

    Tây đã gặp gỡ nhau trong một “cuộc va chạm dữ dội” mà trong đó, văn hóa

    phương Đông chịu sự áp đảo mạnh mẽ từ văn hóa phương Tây và buộc phải

    có thái độ ứng biến trước sự áp đảo mạnh mẽ ấy.

    Sự áp đảo của phương Tây

    Trong thời cổ đại, thế giới có 3 nền văn minh tiêu biểu và rực rỡ nhất

    thì trong đó, phương Đông chiếm hai: Văn minh cổ đại Ấn Độ và văn minh cổ

    đại Trung Hoa. Còn phương Tây chỉ một: Văn minh cổ đại Hy La. Vậy mà,

    trải qua thời kỳ trung đại, do điều kiện địa lý, lịch sử của hai bên khác nhau

    mà dẫn đến tình trạng phương Tây bứt lên, phát triển ào ạt, tạo dựng được

    một nền văn minh vật chất, văn minh động (chữ dùng của Đông kinh nghĩa

    thục trong Văn minh tân học sách). Từ đó mà có cuộc tấn công, áp đảo của

    phương Tây đối với phương Đông trên mọi mặt: chính trị, kinh tế văn hóa,

    tinh thần…

    Thái độ tiếp nhận của phương Đông

    – Một là thái độ đối đầu, cự tuyệt. Đây là thái độ phổ biến của các dân

    tộc trong buổi đầu tiếp xúc với văn minh phương Tây. Ví dụ điển hình nhất là

    ở các bộ tộc da đỏ ở châu Mĩ Latinh khi họ chấp nhận bị hủy diệt chứ không

    chịu sống chung với văn minh phương Tây. Hay Việt Nam cũng từng có thái

    độ cương quyết như thế, nhất là trong khung cảnh cuộc kháng chiến chống

    thực dân Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt vào cuối thế kỉ XIX.

    13

    – Hai là tiếp nhận không điều kiện văn minh phương Tây, ý thức hoặc

    vô thức, một giải pháp mà trong nhiều trường hợp được coi là thái độ vong

    bản về văn hóa.

    Ở nhiều nước Châu Phi đã từng có tình trạng khi bị thực dân hóa, các

    cộng đồng dân tộc này đã “bằng lòng” với việc tiếp nhận hoàn toàn văn minh

    phương Tây, trước hết là việc sử dụng ngôn ngữ của chính quốc như tiếng

    Pháp, Anh và Tây Ban Nha trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Thậm

    chí khi đã giành được độc lập, cái áo khoác của nền văn minh phương Tây

    vẫn không hề thay đổi.

    – Ba là tiếp thu có chọn lọc hay nói đúng hơn là thái độ thâu hóa văn

    minh phương Tây, tạo ra giá trị mới. Đây chính là thái độ văn hóa đúng đắn

    nhất với các dân tộc phương Đông và nó đã trở thành một giải pháp tối ưu.

    1.3.3. Tiếp xúc văn hóa Đông Tây ở Việt Nam

    Theo GS Trần Ngọc Thêm trong Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam thì

    tiến trình văn hóa Việt Nam có thể chia thành 6 giai đoạn: văn hóa tiền sử,

    văn hóa Văn Lang – Âu Lạc, văn hóa thời chống Bắc thuộc, văn hóa Đại Việt,

    văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại. Sáu giai đoạn này tạo thành ba lớp: lớp

    văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, lớp văn hóa

    giao lưu với phương Tây.

    Từ đó có thể thấy tầm quan trọng của tiếp xúc văn hóa Đông Tây trong

    diễn trình văn hóa dân tộc. Nguyên nhân dẫn đến các cuộc tiếp xúc văn hóa

    này, như GS. Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra, đó là do Việt Nam nằm ở vị trí ngã

    tư đường của các nền văn minh, khiến người Việt Nam tiếp nhận được nhiều

    giá trị văn hóa nhân loại. Đặc trưng nổi bật trong quá trình giao lưu văn hóa

    nhiều thế kỉ này là tính tổng hợp – dung hợp – tích hợp. Chẳng hạn, tiếp thu

    văn hóa Ấn Độ theo cách của mình, chúng ta có nền văn hóa Chăm độc đáo

    và một nền Phật giáo Việt Nam. Tiếp thu văn hóa Trung Hoa, ta có Nho giáo

    và Đạo giáo. Văn hóa phương Tây đem lại Kitô giáo cùng những giá trị văn

    hóa vật chất và tinh thần mới mẻ. Tinh thần bao dung, hiếu hòa, rồi tính tổng

    14

    hợp và linh hoạt đã chi phối mạnh mẽ đến cách người Việt Nam tiếp thu

    những hiện tượng văn hóa ngoại sinh, khiến họ không bị đồng hóa mà ngược

    lại, luôn chiến thắng trong những cuộc chiến tranh xâm lược dai dẳng và tàn

    khốc của Trung Hoa, Mông Cổ, rồi Pháp, Mĩ.

    15

    qua diễn trình lịch sử. Người Việt đã tạo ra khá nhiều thành tựu trong quá

    trình tiếp xúc văn hóa này.

    2.1.2.2. Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Ấn Độ

    Khác với Trung Hoa có biên giới đường bộ với Việt Nam, Ấn Độ

    không có sự tiếp giáp trực tiếp với Việt Nam, nhưng nền văn hóa Ấn Độ lại

    có ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam. Trên nhiều bình diện, văn hóa

    Ấn Độ “thẩm thấu” (chữ dùng của GS. Phạm Đức Dương) bằng nhiều hình

    thức và liên tục.

    Khi nghiên cứu về văn hóa Óc Eo (nền văn hóa đã biến mất vào thế kỉ

    VIIII), các nhà văn hóa đã khẳng định đây là nền văn hóa của “một quốc gia

    ngay từ buổi đầu dã được xây dựng trên cơ sở một nền nông nghệp trồng lúa

    nước khá phát triển bắt nguồn từ vùng ruộng nương trung nguyên sông Cửu

    Long của cư dân Môn – Khơme kết hợp với nghề biển cổ truyền của cư dân

    Nam Đảo. Trên cơ tầng đó, các đạo sĩ Bàlamôn từ Ấn Độ đã tổ chức một

    quốc gia mô phỏng thao mô hình Ấn Độ trên tất cả mọi mặt: tổ chức chính trị,

    thiết chế xã hội, đô thị hóa, giao thông, kĩ thuật công nghiệp cùng một hệ

    thống tôn giáo và các nền văn hóa kèm theo, trong đó đạo Bàlamôn đóng vai

    trò chi phối, đạo pháp Bàlamôn là tối thượng, chữ Brahmi của Sancrit là chữ

    thánh hiền”.

    Đối với văn hóa Champa, nhận xét về mối quan hệ giữa nó với văn hóa

    Ấn Độ, TS. Ngô Văn Doanh khẳng định: “Một điều không thể phủ nhận được

    là những ảnh hưởng Ấn Độ đã góp một phần cực kì quan trọng vào quá trình

    hình thành ra vương quốc Champa cũng như một nền văn hóa phát triển rực

    rỡ và đầy bản sắc – văn hóa Champa”. Người Chăm tiếp nhận mô hình văn

    hóa Ấn Độ từ việc xây dựng một chế độ vương quyền đến việc tạo dựng mọi

    thành tố của nền văn hóa Champa.

    Ở vùng châu thổ Bắc bộ, trước khi văn hóa Ấn Độ tràn vào, văn hóa

    Việt đã định hình và phát triển. Người Việt ở đây tiếp thu văn hóa Ấn Độ vừa

    trực tiếp vừa gián tiếp. Những thế kỉ đầu công nguyên, châu thổ Bắc bộ là địa

    17

    bàn trung chuyển văn hóa Ấn Độ, nhất là tôn giáo. Các nhà sư từ Ấn Độ đi

    qua Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) để rồi tìm đường lên

    phương Bắc và các nhà sư từ Trung Quốc sang Ấn Độ tìm kinh cũng qua Luy

    Lâu, coi đây là trạm dừng chân.

    Nhìn chung, việc giao lưu, tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa

    Ấn Độ, qua từng thời kì lịch sử và ở từng vùng đất diễn ra khác nhau, nhưng

    cơ bản là giao lưu, tiếp biến một cách tự nhiên, tự nguyện.

    2.1.2.2. Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Nhật Bản

    Là quốc đảo ở Đông Á, văn hóa Nhật Bản ảnh hưởng đến Việt Nam

    muộn hơn và chủ yếu thông qua con đường thương mại.

    Từ thế kỉ XVI, nhiều thương nhân Nhật Bản đã đến sinh sống và buôn

    bán tại Việt Nam. Họ sống chung với cư dân bản địa, hình thành nên một số

    khu đô thị của người Nhật Bản mà tiêu biểu là Hội An. Đến thế kỉ XVII, do

    trao đổi thương mại phát triển mạnh mẽ, người Việt thấy tiền đồng của người

    Nhật và từ đó đã lấy chữ “đồng” làm đơn vị tiền tệ của mình. Như vậy, bằng

    con đường thương mại, người Việt Nam không chỉ tiếp thu sự phát triển của

    kinh tế Nhật Bản mà còn bắt đầu tiếp nhận ảnh hưởng những giá trị văn hóa

    của họ. Việc tiếp nhận văn hóa Nhật sau này diễn ra mạnh mẽ hơn vào đầu

    thế kỉ XX và trong thời hiện đại, dưới xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa.

    Trong diễn trình văn hóa Việt Nam, việc giao lưu tiếp biến văn hóa với

    Nhật Bản vừa diễn ra trong sự tự nguyện vừa là sự cưỡng bức văn hóa. Thời

    trung đại, những giao lưu văn hóa diễn ra ở thương cảng Hội An hoàn toàn là

    tự nguyện. Trong Đại chiến thế giới 2, Nhật Bản đã xâm lược Việt Nam và áp

    đặt nhiều chính sách áp bức văn hóa. Tuy nhiên, người Việt Nam không hề

    thụ động tiếp thu văn hóa Nhật mà chủ động sáng tạo tiếp biến, biến đổi các

    yếu tố ngoại lai đó để phù hợp với bản sắc văn hóa của mình.

    2.1.3. Bước đầu của việc giao lưu văn hóa với phương Tây

    Không phải đến khi người Pháp vào xâm lược, giao lưu giữa văn hóa

    Việt Nam và văn hóa phương Tây mới diễn ra. Mà ngay từ trong văn hóa của

    18

    cư dân Óc Eo, người ta đã nhận thấy nhiều di vật của các cư dân La Mã cổ

    đại: “2 huy chương hay tiền La Mã, một vật thời Antonics (152 năm sau công

    nguyên), 1vật thời Marcus Anrelius (161 – 180 sau công nguyên)… Những di

    vật đó nói lên rằng Óc Eo đã có những quan hệ thương mại quốc tế rộng rãi”

    (Hà Văn Tấn).

    Sau thời Trung Cổ nặng nề khiến cho sự giao lưu bị gián đoạn, sách

    Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi nhận “vào năm Nguyên Hòa

    thứ 1 đời vua Lê Trang Tông (1533) có một người Tây dương tên là I-nê-khu

    (= Ignatio) theo đường biển lẻn vào giảng đạo Gia Tô ở các làng Ninh Cường,

    Quần Anh, Trà Vũ (thuộc Nam Định cũ) “. Từ đó, các giáo sĩ Bồ Đào Nha và

    Tây Ban Nha tìm đến ngày càng đông. Sự tiếp xúc văn hóa trong giai đoạn

    đầu diễn ra trên phương diện tôn giáo và thương mại.

    2.2. Thời cận đại

    Cũng như nhiều dân tộc phương Đông, cuộc tiếp xúc và đụng độ với

    văn minh phương Tây ở nước ta từ đầu thế kỉ XVII là một thách đố chưa từng

    có trong lịch sử, nó khác hoàn toàn với những trải nghiệm của dân tộc ta khi

    tiếp xúc và đụng độ với văn minh Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản và các nền

    văn hóa khác ở khu vực Đông Nam Á.

    Như trên đã nói, từ thế kỉ XVI, các linh mục ở phương Tây đã vào

    truyền giáo ở vùng Hải Hậu (nay thuộc Nam Định). Chúa Trịnh vua Lê ở

    Đàng Ngoài cũng như các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi nhà Tây Sơn đều

    có quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên, quan hệ thực sự diễn ra vào nửa sau

    thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp đánh chiếm cửa Cần Giờ và đặt ách cai trị lên

    dân tộc Việt Nam. Đây là thời kì biến động lớn về tư tưởng và chính trị, đồng

    thời văn hóa Việt Nam cũng có sự thay đổi căn bản. Nhìn ở phương diện tính

    chất, giao lưu văn hóa ở thời kì này có hai dạng: thứ nhất là giao lưu một cách

    cưỡng bức, áp đặt, thứ hai là tiếp nhận một cách tự nguyện.

    2.2.1. Giai đoạn đầu của cuộc tiếp xúc văn hóa Đông Tây (đầu thế kỉ

    XVII đến 1862)

    19

    Ở giai đoạn này, cuộc tiếp xúc văn hóa Đông Tây chủ yếu diễn ra trên

    lĩnh vực tôn giáo, học thuật, quan hệ giao thương với phương Tây, sự phổ

    biến kĩ thuật phương Tây trong cung đình ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài.

    Về phương diện tiếp xúc văn hóa Đông Tây buổi đầu ở nước ta, không

    phải người Pháp mà chính người Bồ Đào Nha mới là những người có vị trí

    đáng kể đầu tiên. Những hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ người Bồ Đào

    Nha đã diễn ra từ đầu thế kỉ XVII ở Đàng Trong rồi Đàng Ngoài. Năm 1557,

    từ Ma Cao, người Bồ đã có quan hệ buôn bán với Đàng Trong, đặc biệt là ở

    Hội An, Đầu thế kỉ XVII, Joas de Cruz lập phường Đúc nổi tiếng ở Huế

    (chuyên đúc súng). Các chúa Nguyễn giao hảo với các nhà truyền giáo dòng

    Tên đến từ Ma Cao ngày một đông. Họ giới thiệu với các chúa Nguyễn về

    thiên văn, địa lí, ngôn ngữ, một số môn khoa học tự nhiên như toán pháp, sinh

    vật học, y học và thiên văn. Những quan hệ như vậy cũng diễn ra tương tự với

    chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

    Trong giai đoạn này của cuộc tiếp xúc văn hóa Đông Tây, mặc dù hoàn

    cảnh chính trị nước ta khá đặc biệt (Trịnh – Nguyễn phân tranh) nhưng các

    thế lực phong kiến nước ta vẫn cởi mở và thực dụng cho việc tiếp nhận một

    số giá trị văn hóa, văn minh phương Tây theo nguyên tắc đa phương.

    2.2.2. Giai đoạn thứ hai của cuộc tiếp xúc văn hóa Đông Tây (từ 1862

    đến 1945)

    Từ Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862 khi ba tỉnh miền Đông Nam kì rơi

    vào tay thực dân Pháp đến khi chế độ thuộc địa bị sụp đổ năm 1945 thì cuộc

    tiếp xúc văn hóa Đông Tây thực sự diễn ra trên cả bề rộng và chiều sâu, làm

    thay đổi căn bản đời sống văn hóa, xã hội của dân tộc ta trước Cách mạng

    tháng Tám.

    Sau khi dập tắt phong trào Cần Vương (1885 – 1896), người Pháp đã

    tiến hành khai thác xứ Đông Dương bằng hai cuộc khai thác thuộc địa lần thứ

    nhất (1897 – 1914) và lần thứ hai (1919 – 1929).

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Về Giao Tiếp Ứng Xử Giành Cho Cbyt Của Byt
  • Giao Tiếp Của Nhà Quản Trị
  • Cách Giúp Nhà Lãnh Đạo Giao Tiếp Với Cấp Dưới Hiệu Quả
  • 4 Rào Cản Giao Tiếp Thường Gặp Và Cách Khắc Phục
  • Giao Tiếp Và Các Rào Cản Tâm Lý Trong Giao Tiếp
  • Văn Hóa Giao Tiếp, Hình Thành Văn Hóa Giao Tiếp Nói Chuyện Và Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Giao Tiếp Và Nghệ Thuật Ngôn Từ – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội
  • Loại Hình Văn Hóa Gốc Nông Nghiệp – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội
  • Những Nguyên Tắc Ứng Xử Cơ Bản Trong Gia Đình Việt Nam
  • Tài Liệu Tham Khảo Môn Văn Hóa Hành Chính
  • Cấu Trúc Và Quan Hệ
  • Văn hóa giao tiếp là một khái niệm tổng hợp phức tạp quyết định chất lượng và mức độ xuất sắc của truyền thông. Văn hóa giao tiếp được coi là một phần không thể thiếu trong văn hóa của cá nhân. Nó đặc trưng cho các hướng dẫn giá trị và các định đề quy phạm, mô hình đạo đức của giao tiếp, bản chất của phẩm chất đạo đức và tâm lý của các chủ thể tương tác giao tiếp, phương pháp, công cụ, quy tắc, kỹ thuật và hình thức giao tiếp.

    Văn hóa giao tiếp chứa đựng sự kết hợp của các kỹ thuật, cơ chế và quy tắc thực tế. Giao tiếp văn hóa cho phép cá nhân không chuyển các tình huống xung đột trong lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp sang khu vực tình cảm và cá nhân của các tương tác giữa các cá nhân, để hiểu ý nghĩa và động lực của các hành động của đối thủ, để giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn sự bộc phát cảm xúc quá mức trong mối quan hệ.

    Văn hóa nói và giao tiếp

    Trong sự phát triển và hình thành của cá nhân như một người, văn hóa lời nói và giao tiếp có tầm quan trọng rất lớn. Và tấm gương của văn hóa là ngôn ngữ, vì nó phản ánh thực tế xung quanh các cá nhân, điều kiện thực sự của sự tồn tại của nó, ý thức cộng đồng của người dân, đặc điểm quốc gia, tâm lý, truyền thống, phong tục, đạo đức, định hướng đạo đức và giá trị, nhận thức thế giới và tầm nhìn của thế giới.

    Ngôn ngữ là một loại ngân khố hoặc một ngân hàng văn hóa heo. Nó bảo tồn và bảo vệ di sản văn hóa và các giá trị nhờ các thành phần của nó, như từ vựng, ngữ pháp, tục ngữ, câu nói, văn hóa dân gian, văn học; và các hình thức viết hoặc nói.

    Một trong những chỉ số quan trọng nhất về mức độ văn hóa của một cá nhân, hoạt động tinh thần, phát triển trí tuệ của anh ta là lời nói. Đó là một trong những khía cạnh cốt lõi của hoạt động con người tích cực trong xã hội hiện đại và là cách nhận biết thực tế. Lời nói là một trong những loại tương tác giao tiếp mà xã hội cần cho các hoạt động cùng hướng của họ, trong cuộc sống công cộng, nhắn tin, nhận thức, giáo dục. Nó phục vụ như một đối tượng của nghệ thuật và làm phong phú một người về mặt tinh thần.

    Trong cuộc sống của bất kỳ cá nhân nào, hoạt động lời nói chiếm một trong những vị trí quan trọng nhất. Thật vậy, không có nó, việc thành thạo các kỹ năng chuyên nghiệp, phát triển văn hóa nói chung và tương tác giữa các cá nhân là gần như không thể. Khả năng thực hiện một cuộc trò chuyện thành thạo là một trong những đặc điểm tính cách quan trọng nhất như một hiện tượng xã hội.

    Tương tác giao tiếp giữa các cá nhân đồng thời trở thành một kết nối tâm lý xã hội và một loại kênh để truyền thông điệp. Kết quả của giao tiếp lời nói của người nói là văn bản. Các văn bản có thể được thể hiện dưới hình thức bằng miệng và bằng văn bản. Đặc điểm chính của nó là tính toàn vẹn, tính kết nối và sự hiện diện của tải ngữ nghĩa. Không kém phần quan trọng là khái niệm về chất lượng của lời nói, đảm bảo tính hiệu quả của giao tiếp và đặc trưng cho mức độ văn hóa lời nói của cá nhân.

    Phân biệt văn hóa lời nói của toàn xã hội và cá nhân một cách riêng biệt. Văn hóa lời nói của một chủ thể là cá nhân, được đặc trưng bởi sự phụ thuộc tỷ lệ thuận trực tiếp vào mức độ uyên bác trong lĩnh vực văn hóa ngôn từ của xã hội và thể hiện khả năng sử dụng sự uyên bác này. Nó mượn và chấp nhận một phần của văn hóa ngôn từ của xã hội, nhưng cùng với điều này, nó rộng hơn nhiều so với văn hóa này. Văn hóa ngôn từ của xã hội là lựa chọn, thu thập và lưu trữ những con tem, mẫu, mô hình, mô hình tương tác bằng lời nói tốt nhất, sự hình thành kinh điển văn học và tuân thủ các chuẩn mực của lời nói văn học.

    Văn hóa giao tiếp lời nói

    Văn hóa cá tính được thể hiện rõ nhất và tự nhiên trong bài phát biểu của cô. Theo quy định, ý tưởng và ý kiến ​​đầu tiên của một cá nhân được hình thành trên cơ sở ấn tượng phát sinh từ sự tương tác giao tiếp với anh ta từ phong cách nói của anh ta. Giáo dục về văn hóa giao tiếp được coi trong xã hội hiện đại là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục, gắn liền với sự phát triển của ngôn ngữ bản địa. Thật vậy, việc sở hữu tất cả sự giàu có của ngôn ngữ văn học, việc sử dụng có thẩm quyền các phương tiện đồ họa và màu sắc của nó quyết định mức độ năng lực bằng lời nói của cá nhân và là chỉ số rõ ràng nhất về văn hóa chung của nó.

    Trình độ văn hóa cao của lời nói nằm ở khả năng truyền đạt chính xác, thành thạo, rõ ràng và biểu cảm những suy nghĩ, thế giới quan của riêng họ, thông qua các phương tiện ngôn ngữ. Nó cũng bao hàm khả năng tìm ra các công thức đơn giản hơn, dễ hiểu hơn, các phương tiện phù hợp hơn phù hợp với một tình huống cụ thể và các công cụ để tranh luận về một vị trí hoặc quan điểm. Tính văn hóa của lời nói bắt buộc một cá nhân phải tuân thủ các chuẩn mực, kỹ thuật và quy tắc bắt buộc, trong đó những yếu tố cốt lõi được xem xét: tính thực chất (bản chất), tính nhất quán, tính hợp lệ (bằng chứng) tính thuyết phục (tính minh bạch), tính rõ ràng (tính rõ ràng), tính dễ hiểu.

    Chất (bản chất) là sự chu đáo và nội dung thông tin tối đa của bản sao. Rốt cuộc, nghệ thuật hùng biện nằm chính xác ở việc có thể nói mọi thứ cần thiết, nhưng không còn nữa.

    Logic học bao gồm tính hợp lệ, thiếu sự không nhất quán và trình tự các câu lệnh trong đó các luận điểm, biểu thức hàng đầu được kết nối và phụ thuộc vào một vị trí, suy nghĩ.

    Tính thuyết phục (lập luận) được thể hiện ở khả năng thuyết phục đối tác và đạt được sự vững chắc của niềm tin này trong tâm trí anh ta.

    Rõ ràng (rõ ràng), tương ứng, ngụ ý rõ ràng và rõ ràng của lời nói. Nói quá nhanh thường khó nhận biết, và nói quá chậm sẽ chỉ gây khó chịu. Lời nói đặc trưng bởi sự buồn tẻ và thiếu diễn đạt sẽ gây ra sự nhàm chán và dẫn đến cái chết của những câu nói thậm chí chu đáo nhất.

    Rõ ràng là việc sử dụng các thuật ngữ, khái niệm, từ sẽ rõ ràng cho người đối thoại.

    Hình thành văn hóa giao tiếp

    Ở cấp độ của giáo dân trung bình, văn hóa giao tiếp và hành vi được hiểu là một kiểu mẫu mà các cá nhân nên được đánh đồng. Đôi khi văn hóa nhân cách gắn liền với giáo dục, trí thông minh, trí thông minh và đủ điều kiện là một đặc điểm tính cách cụ thể. Tuy nhiên, ở cấp độ lý thuyết, văn hóa là một đặc trưng của xã hội, thể hiện mức độ phát triển lịch sử mà nhân loại đạt được, được quyết định bởi tỷ lệ của cá nhân với môi trường và xã hội. Ngoài ra, nhiều người nhận thức văn hóa như một biểu hiện sáng tạo của cá nhân và toàn xã hội.

    Đổi lại, có một sự hiểu biết về văn hóa cá tính như một tập hợp các nguyên tắc, hướng dẫn và giá trị vật chất, đặc điểm về mức độ phát triển của nó, hoạt động sáng tạo trong sản xuất, lưu trữ, đồng hóa và chuyển giao các giá trị. Theo nghĩa rộng hơn, văn hóa là một đặc tính cá nhân ổn định bao trùm các khía cạnh tư tưởng và tiên đề và xác định mối quan hệ của nó với môi trường.

    Giao tiếp là một quá trình kết nối và liên kết của các chủ thể của xã hội, có thể là các cá nhân và các nhóm xã hội riêng biệt.

    Nhu cầu tương tác giao tiếp không chỉ dành cho con người mà còn đối với hầu hết chúng sinh. Ban đầu, nhu cầu như vậy ở em bé tương tự như nhu cầu của động vật, nhưng khá sớm trong quá trình phát triển, nó có được một nhân vật. Giao tiếp với em bé được kết nối chặt chẽ lần lượt với sự hiểu biết về những gì người lớn muốn từ chúng.

    Trong quá trình tương tác giao tiếp, cuộc sống của cá nhân và xã hội được đảm bảo, cấu trúc và bản chất bên trong của các chủ thể xã hội được chuyển đổi, cá nhân được xã hội hóa và biến thành một người, như một thực thể xã hội có ý thức. Truyền thông chịu trách nhiệm cho hoạt động tập thể.

    Bản chất của văn hóa giao tiếp chứa đựng việc cung cấp một kỹ thuật giao tiếp nhất định chịu trách nhiệm tương tác. Hơn nữa, trong quá trình tương tác như vậy, các cá nhân không những không can thiệp lẫn nhau mà còn giữ gìn phẩm giá cá nhân và cá tính cá nhân.

    Hệ thống các hướng dẫn đạo đức có ý nghĩa cá nhân đã trở thành niềm tin nội bộ, quan điểm của cá nhân, được gọi là văn hóa giao tiếp hình thành. Điều kiện tất yếu để thực hiện hiệu quả truyền thông văn hóa được coi là sở hữu sự tương tác giữa các cá nhân trong các điều kiện sống và hoàn cảnh khác nhau của môi trường xã hội. Các chỉ số khách quan của sự hình thành truyền thông văn hóa là những đặc điểm tính cách nhất định và hành động, hành động của họ phù hợp hài hòa với các yêu cầu về đạo đức, đạo đức, tâm linh và nghi thức.

    Văn hóa tương tác giao tiếp là một quá trình hình thành và phát triển các mối quan hệ phức tạp, đa dạng, khác nhau giữa các cá nhân, được tạo ra bởi nhu cầu hoạt động định hướng lẫn nhau, bao gồm trao đổi thông điệp, tạo ra một khái niệm duy nhất về kết nối, nhận thức và hiểu người khác.

    Có 6 lĩnh vực ưu tiên, mục tiêu và mục tiêu của sự hình thành văn hóa giao tiếp, đó là phát triển:

    • tính xã hội như một đặc điểm tính cách bền vững cá nhân;
    • mức độ cao của các mối quan hệ cá nhân;
    • trình độ phát triển cao của nhóm;
    • mức độ tích hợp cao của các hoạt động cùng chỉ đạo;
    • kết quả học tập và, như một hệ quả trong tương lai, hoạt động xã hội;
    • khả năng thích ứng nhanh với các loại hoạt động khác nhau – giáo dục, chơi game, chuyên nghiệp, v.v.

    Văn hóa nói và giao tiếp kinh doanh

    Phần lớn công việc của bất kỳ nhà lãnh đạo nào cũng bị lấy đi bởi các cuộc đàm phán, cuộc họp, cuộc họp, cuộc trò chuyện qua điện thoại khác nhau, do đó, khả năng giao tiếp thành thạo, kỹ năng kinh doanh giao tiếp và kiến ​​thức về các đặc điểm văn hóa của lời nói không thể làm được.

    Ngoài giao tiếp kinh doanh hàng ngày, sự phát triển nghề nghiệp của nhiều chuyên gia tỷ lệ thuận với khả năng xây dựng cuộc trò chuyện theo các chuẩn mực của văn hóa lời nói và các nguyên tắc tương tác giao tiếp kinh doanh. Nếu không, cuộc đối thoại có thể được hướng theo một hướng hoàn toàn khác và thay vì ký một thỏa thuận có lợi nhuận, bạn sẽ có được một cuộc trò chuyện vô nghĩa. Sự không chuyên nghiệp trong việc thực hiện một cuộc trò chuyện kinh doanh cũng dẫn đến thực tế là người đối thoại sẽ có ý kiến ​​không thuận lợi về người nói tiếng chuông và trình độ kinh doanh của anh ta. Đó là lý do tại sao bạn nên rất nghiêm túc trong việc tiếp thu kinh nghiệm và kỹ năng trong giao tiếp kinh doanh.

    Điều đó đã xảy ra trong lịch sử đến nỗi trong thời đại của chúng ta hầu như không ai tuân thủ việc xây dựng chính xác các cụm từ trong quá trình trò chuyện thân thiện, ít người chú ý đến khả năng đọc nói. Thật không may, ngày nay có một xu hướng giao tiếp đến mức hầu hết mọi người trong quá trình trò chuyện chỉ cố gắng truyền đạt ý nghĩa chung, mà không chú ý đến việc biết đọc biết các cụm từ, trọng âm trong từ hoặc phát âm chính xác của những từ này. Nếu bây giờ phong cách trò chuyện này được chấp nhận trong cuộc sống hàng ngày, thì trong nghi thức kinh doanh, cách tiếp cận này là hoàn toàn không thể chấp nhận được.

    ♦ Một doanh nhân nên có vốn từ vựng lớn và đa dạng, điều này sẽ giúp bạn dễ dàng chơi và thao tác các từ cùng một lúc, giúp cho lời nói hiệu quả và phong phú. Rốt cuộc, thật khó để trình bày quan điểm riêng của một người hoặc để chứng minh tính đúng đắn của các ý tưởng mà không có vốn từ vựng đa dạng.

    ♦ Cấu trúc lời nói cũng rất quan trọng. Bạn nên tuân thủ “độ tinh khiết” của lời nói, có thể được pha loãng với các thuật ngữ chuyên nghiệp. Không nên sử dụng các thuật ngữ biệt ngữ hoặc phi văn học trong giao tiếp kinh doanh.

    ♦ Biết chữ là một thành phần thiết yếu của văn hóa giao tiếp. Các cụm từ nên được biên soạn có tính đến các quy tắc ngữ pháp và phong cách của lời nói.

    ♦ Trong giao tiếp kinh doanh, hãy chắc chắn chú ý đến cách phát âm và ngữ điệu của bạn. Thật vậy, thường thì mọi người xung quanh không thể nắm bắt được ý nghĩa chính xác của cụm từ do khiếm khuyết về giọng nói của người nói tiếng Anh hay không có khả năng làm nổi bật những điểm quan trọng nhất với sự trợ giúp của ngữ điệu. Ngoài ra, người ta không nên quên tầm quan trọng của các thành phần phi ngôn ngữ của lời nói. Cử chỉ, tư thế hoặc nét mặt không chính xác có thể làm hỏng ngay cả bài thuyết trình thành công nhất hoặc bài phát biểu xuất sắc.

    Tóm tắt, chúng ta có thể kết luận rằng khả năng thể hiện rõ ràng, thành thạo và hùng hồn những suy nghĩ của bạn là điều hoàn toàn không thể thiếu trong thế giới kinh doanh và hoạt động chuyên nghiệp hiện đại.

    Văn hóa giao tiếp và nghi thức

    Văn hóa giao tiếp và hành vi ngày nay có những nguyên tắc riêng được công nhận:

    • độ chính xác của lời nói, đó là khả năng diễn đạt rõ ràng và rõ ràng một vị trí LỚN;
    • tính dễ hiểu, đòi hỏi thông tin phải dễ hiểu và dễ tiếp cận để hiểu người bản ngữ trung bình;
    • sự thuần khiết của lời nói, được thể hiện trong trường hợp không có biệt ngữ hoặc những từ ký sinh không cần thiết;
    • tính biểu cảm của lời nói bao gồm duy trì sự chú ý của người nghe và sự quan tâm của họ trong suốt cuộc trò chuyện;

    Lời nói xã giao ngụ ý khía cạnh đạo đức của văn hóa giao tiếp và các chuẩn mực giao tiếp được chấp nhận chung. Nó chứa các công thức bài phát biểu về lòng biết ơn, sự hấp dẫn hoặc lời chào, yêu cầu hoặc câu hỏi, sự phù hợp của việc giải quyết vấn đề bạn bạn hay hoặc bạn. Việc lựa chọn công thức này hay công thức đó phụ thuộc vào địa vị xã hội của các cá nhân đang trong quá trình tương tác giao tiếp, bản chất của mối quan hệ của họ và tình trạng chính thức của tình huống. Trong các tình huống chính thức, khi một số người tham gia vào một cuộc trò chuyện, ngay cả khi những người đối thoại biết rõ về nhau, họ nên liên hệ với người đối thoại với bạn.

    Văn hóa giao tiếp kinh doanh kết hợp 3 giai đoạn: bắt đầu cuộc trò chuyện, phần chính của nó và kết thúc cuộc trò chuyện.

    Cuộc trò chuyện bắt đầu với một người quen nếu người bạn đang nói chuyện không quen. Các công thức sau đây phù hợp cho việc này: Hãy để tôi làm quen với bạn, phạm lỗi cho tôi làm quen với bạn, phạm lỗi, tôi muốn … Nếu người đối thoại quen thuộc với nhau, thì cuộc trò chuyện bắt đầu bằng một lời chào. Theo các tiêu chuẩn xã giao được chấp nhận chung, một người đàn ông nên là người đầu tiên chào hỏi một người phụ nữ, một cá nhân ở độ tuổi trẻ hơn – một người già, một người chiếm một bậc thấp hơn trong hệ thống phân cấp xã hội – một cá nhân chiếm một vị trí cao hơn.

    Phần chính của giao tiếp bắt đầu sau khi gặp gỡ và chào hỏi, khi cuộc trò chuyện bắt đầu, tùy thuộc vào hoàn cảnh. Khen ngợi địa chỉ của riêng bạn nên được thực hiện với nhân phẩm. Nếu bạn đã nhận được một lời khen, thì bạn nên thể hiện rằng nó dễ chịu với bạn, và bạn đánh giá cao thái độ tốt đối với bản thân. Tuy nhiên, tốt hơn là không tán tỉnh hoặc tranh cãi một lời khen.

    Sự kết thúc của giao tiếp được đặc trưng bởi việc sử dụng các công thức chia tay ổn định và được chấp nhận rộng rãi, như: tất cả những gì tốt nhất cho bạn, một lời chào tạm biệt, v.v.

    Văn hóa giao tiếp giữa các quốc gia

    Sự tương tác giao tiếp của các cá nhân có quốc tịch khác nhau được xác định bởi sự hiện diện trên hành tinh của hơn vài nghìn cộng đồng dân tộc. Do tình hình toàn cầu hóa hiện nay của thế giới, sự tương tác giữa các quốc gia đang dần tăng lên, điều này chắc chắn dẫn đến sự xuất hiện của các cuộc xung đột khác nhau trên cơ sở các quốc tịch. Ngày nay, một trong những vấn đề xã hội cấp bách nhất được coi là làm trầm trọng thêm mối quan hệ giữa các cá nhân thuộc các quốc tịch khác nhau.

    Tương tác giao tiếp là yếu tố quan trọng nhất trong sự hình thành và phát triển nhân cách. Nó cũng hoạt động như một phương tiện giáo dục quan trọng. Tương tác giao tiếp điều chỉnh hành vi của cá nhân, quan hệ của anh ta với người khác, xã hội, tổ chức các điều kiện để điều chỉnh có chủ đích và có mục đích cảm xúc, tâm trạng cảm xúc, hành vi, giá trị và định hướng tâm linh, đánh giá.

    Sự tương tác của các đại diện của các quốc tịch khác nhau về các khía cạnh của cuộc sống của họ, định nghĩa về các mối quan hệ và các mối quan hệ trong đó các cá nhân thuộc các quốc tịch khác nhau và nắm giữ niềm tin tôn giáo khác nhau trao đổi thông tin, kinh nghiệm, kiến ​​thức, giá trị tinh thần và đạo đức, tất cả điều này được gọi là giao tiếp giữa các quốc gia.

    Giao tiếp giữa các quốc gia có thể được thực hiện ở ba cấp độ: giữa các cá nhân giữa các cá nhân, giữa các tiểu bang, tức là trong một trạng thái và liên nhóm, tương ứng, giữa các nhóm. Tương tác giữa cá nhân và liên nhóm được xác định bởi hệ thống giáo dục của các cá nhân, truyền thống văn hóa và phong tục của họ.

    Ngày nay, ba đặc điểm của mối quan hệ giữa các quốc gia có thể được phân biệt. Họ thân thiện, trung lập và mâu thuẫn.

    Giao tiếp giữa các quốc gia có thể được thể hiện như một hình thức thể hiện quan hệ, tương tác và mối quan hệ của các đại diện của các quốc tịch khác nhau. Tham gia vào giao tiếp giữa các quốc gia, cá nhân hoạt động như một loại người mang ý thức, văn hóa, ngôn ngữ và cảm xúc quốc gia. Do đó, ngày nay rất quan trọng để phát triển văn hóa giao tiếp giữa các quốc gia.

    Sự hình thành văn hóa của sự tương tác giao tiếp giữa các quốc gia là một trong những công cụ quan trọng nhất để hài hòa các mối quan hệ giữa các cộng đồng nói chung.

    Có một số cách giải thích về khái niệm “văn hóa giao tiếp giữa các quốc gia”:

    ♦ Văn hóa giao tiếp giữa các quốc gia xuất hiện như một phức hợp của niềm tin, kiến ​​thức, quan điểm, khả năng, cũng như hành động và hành vi tương ứng của họ, được thể hiện đồng thời trong các liên hệ và tương tác giữa các cá nhân, và cho phép, dựa trên năng lực liên văn hóa, để dễ dàng và hiểu biết lẫn nhau hài hòa trong lợi ích chung.

    ♦ Văn hóa giao tiếp giữa các quốc gia cũng có thể được thể hiện như một thành phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của xã hội, một nền văn hóa phổ quát, bao gồm kiến ​​thức về các chuẩn mực được chấp nhận chung, các quy tắc ứng xử được thiết lập trong một xã hội cụ thể, các phản ứng cảm xúc tích cực đối với các biểu hiện và quá trình liên xã hội trong cuộc sống.

    ♦ Văn hóa giao tiếp giữa các quốc gia bao gồm một bộ quy tắc nhất định, một bộ hạn chế, quyền và tự do cho phép cá nhân và mọi người không bị xâm phạm quyền của họ. Cùng với điều này, văn hóa tương tác giao tiếp giữa các quốc gia sẽ giúp mọi người không xâm phạm, không xúc phạm hay xúc phạm cảm xúc và quyền lợi của các dân tộc khác.

    ♦ Văn hóa giao tiếp giữa các quốc gia, đến lượt nó, là một loại văn hóa đặc biệt của các đại diện của các quốc tịch khác nhau, được đặc trưng bởi sự tương tác của các nền văn hóa quốc gia, được thể hiện trong bản sắc cá nhân quốc gia, sự kiên nhẫn, khéo léo và phấn đấu cho sự hòa hợp giữa các quốc gia trong tất cả các lĩnh vực.

    Khái niệm khoan dung là một trong những khái niệm trung tâm đặc trưng cho bản chất của văn hóa tương tác giao tiếp giữa các quốc gia. Khoan dung theo nghĩa đen là sự kiên nhẫn. Trong thế giới hiện đại, sự khoan dung được hiểu là một trong những lý do cho sự giao tiếp mang tính xây dựng giữa mọi người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó được kêu gọi để hoạt động như các chuẩn mực của xã hội dân sự. Tuy nhiên, sự khoan dung cũng được coi là sự thể hiện bản thân toàn diện của một người, thể hiện ở mối quan hệ tích cực giữa các thành viên trong xã hội, trên cơ sở duy trì các đặc điểm riêng của mỗi cá nhân, tôn trọng lẫn nhau và bình đẳng của vũ khí.

    Sự khoan dung của một nhân vật đa chủng tộc được hiểu sâu sắc hơn nhiều so với chỉ đơn giản là một thái độ chấp nhận được đối với các cá nhân đại diện cho các nhóm dân tộc khác nhau. Bản chất của khái niệm này chứa đựng các nguyên tắc về tâm linh, đạo đức, đạo đức phổ quát, được thể hiện trong sự tôn trọng và tuân thủ tất yếu các quyền và tự do của tất cả các quốc gia, trong sự hiểu biết về sự thống nhất và liên kết chung của các nền văn hóa dân tộc khác nhau, trong sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa của người dân và các quốc gia khác. mà tương tác trực tiếp.

    Để hình thành văn hóa tương tác giao tiếp giữa các quốc gia – điều này có nghĩa là giải quyết một số vấn đề, cụ thể là:

    • bồi dưỡng sự tôn trọng đối với một đại diện của bất kỳ quốc tịch, văn hóa dân tộc và nhân phẩm nào;
    • sự hình thành một thái độ cẩn thận và tôn trọng đối với các kinh nghiệm tình cảm quốc gia, cảm xúc và phẩm giá của bất kỳ cá nhân nào, bất kể liên kết quốc gia hay chủng tộc của anh ta;
    • giáo dục lòng khoan dung, lòng yêu nước và quyền công dân.

    Do đó, văn hóa giao tiếp sư phạm, giao tiếp kinh doanh, giao tiếp giữa các cá nhân và giao tiếp giữa các cá nhân làm say mê tính cách của một người. Nền tảng của văn hóa tương tác giao tiếp của tất cả các loại và phương hướng là lòng tốt, tâm linh và đạo đức.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Giao Thông Là Gì?ý Nghĩa Việc Xây Dựng Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hoá Giao Thông Là Gì? Ứng Xử Văn Minh Khi Tham Gia Giao Thông
  • Những Nét Đặc Trưng Trong Văn Hóa Dân Tộc
  • Nhận Diện Văn Hóa Đảng
  • Văn Hóa Nguyên Thủy
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Đặc Trưng Văn Hóa Giao Tiếp Của Người Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Đặc Trưng Trong Văn Hoá Giao Tiếp Của Người Việt
  • Giao Tiếp Liên Văn Hóa Là Gì?
  • Văn Hóa Giao Tiếp Của Người Nhật Bản
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Thế Nào Để Giao Tiếp Tốt Trong Mọi Trường Hợp
  • Văn Hóa Giao Tiếp Và Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Hiện nay, khi nhắc đến văn hóa giao tiếp sẽ có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau và không có một quy chuẩn cụ thể nào được áp dụng, mà nó tùy thuộc vào suy nghĩ của mỗi người.

    Theo đó, bạn có thể hiểu văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa, dùng để chỉ ra các quan hệ giao tiếp của con người với nhau trong cuộc sống. Nó là tổ hợp của các thành tố như: cử chỉ, lời nói, hành vi, thái độ, cách ứng xử… Văn hóa giao tiếp xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống như: nơi làm việc, nơi công cộng, gia đình…

    Văn hóa giao tiếp được hiểu là một bộ phận trong tổng thể văn hóa, dùng để chỉ sự giao tiếp của con người với nhau

    Đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt Nam

    Bên cạnh thắc mắc văn hóa giao tiếp là gì, trong quá trình nghiên cứu, các nhà văn hóa còn chú trọng đến yếu tố các đặc trưng trong văn hóa giao tiếp của người Việt. Cụ thể như sau:

    Khá rụt rè trong giao tiếp

    Đặc trưng trong giao tiếp đầu tiên của người Việt đó chính là khá rụt rè. Điều này xuất phát từ chính phong tục tập quán từ xưa đến nay của người Việt đó chính nền văn hóa lúa nước. Trong nền văn hóa này, người Việt sống phụ thuộc lẫn nhau và coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ. Chính điều này tạo nên tính rụt rè trong cách giao tiếp bởi đa phần người Việt sợ làm rạn nứt những mối quan hệ mà mình đã xây dựng.

    Thích xây dựng nhiều mối quan hệ

    Mặc dù khá rụt rè trong giao tiếp tuy nhiên người Việt lại có xu hướng thích xây dựng nhiều mối quan hệ. Nghe qua có vẻ mâu thuẫn, nhưng ý nghĩa thực chất của vấn đề này đó là, người Việt khá rụt rè trong giao tiếp đối với những vấn đề dễ xảy ra mâu thuẫn và thích kết bạn đối với những người bạn mới có đồng quan điểm, lối sống và sở thích.

    Trong giao tiếp, người Việt có xu hướng xây dựng nhiều mối quan hệ

    Sỡ dĩ có đặc trưng này là do lối sống của người Việt, đó là tính thích thăm viếng và tính hiếu khách. Đối với những người có mối quan hệ thân thích hoặc thân thiết, người Việt thường đến thăm hỏi, trò chuyện với nhau, còn với người phương Tây, họ chỉ gặp gỡ nhau vì công việc. Còn tính hiếu khách được thể hiện ở sự đón tiếp nồng nhiệt của người Việt khi khách đến nhà. Như trong câu tục ngữ ” bạn đến nhà không gà thì vịt” hoặc trong văn học ” Bác đến chơi đây ta với ta “.

    Thường đặt nặng vấn đề tình cảm trong giao tiếp

    Tình cảm cũng chính là một trong những yếu tố thuộc thắc mắc văn hóa giao tiếp là gì. Theo đó, người Việt sẽ thường đặt nặng vấn đề tình cảm trong giao tiếp, như câu tục ngữ đã phản ánh:

    “Yêu nhau yêu cả đường đi

    Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”

    Nếu trong văn hóa tâm linh, người Việt chú trọng về âm hơn thì trong văn hóa giao tiếp người Việt là chú trọng về tình hơn lý “một cái lý không bằng một tý cái tình”. Đối với những người mà họ yêu quý, họ sẽ luôn hồ hởi, vui vẻ mỗi lần gặp gỡ. Còn đối với những người mà họ cảm thấy không thích, thậm chí là ghét thì ngay lập tức thái độ ứng xử trong giao tiếp sẽ được chuyển đổi thành khó chịu, bực tức thậm chí là không quan tâm. Chính yếu tố tính cách đặc trưng này góp phần tạo thêm tính đa dạng trong văn hóa giao tiếp của người Việt.

    Người Việt thường chú trọng tình cảm trong quá trình giao tiếp

    Văn hóa giao tiếp ưa sự tế nhị

    Người Việt Nam có câu nói rằng “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, cũng chính vì thế sự tế nhị là một trong những nguyên tắc khi giao tiếp của người Việt Nam. Họ luôn đi thẳng vào vấn đề, không thích vòng vo, không thich trình bày hay giải thích một vấn đề nào đó nhằm hạn chế việc mâu thuẫn.

    Lối giao tiếp có văn hóa, có sự tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình, lối sống tư duy trong các mối quan hệ. Và nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt Nam.

    Khóa học “Nghệ thuật giao tiếp và đàm phán “

    Khóa học đi từ ơ bản đến nâng cao, mang tính ứng dụng và thực tiễn cao, không hề sáo rỗng, giúp bạn nâng cao khả năng giao tiếp và kỹ năng đàm phán của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 9 : Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa
  • Gia Đình Văn Hóa Là Gì? Tiêu Chuẩn Gia Đình Văn Hóa Gồm Những Gì?
  • Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng Về Văn Hóa Giao Thông
  • Khái Niệm, Ý Nghĩa Và Giải Pháp Nâng Cao Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hóa Và Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hóa Giao Tiếp Qua Email

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Tổng Quan Về Kỹ Năng Giao Tiếp
  • Khái Niệm Kỹ Năng Giao Tiếp
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Là Gì ? Tầm Ảnh Hưởng Của Kỹ Năng Giao Tiếp
  • Rèn Luyện Kỹ Năng Giao Tiep Và Ứng Xử Sư Phạm
  • Giao Tiếp Đa Văn Hóa Là Gì Và Sự Quan Trọng Đối Với Đời Sống Ngày Nay
  • 1. Tiêu đề

    Mỗi ngày chúng ta nhận được rất nhiều e.mail, vì vậy tiêu đề là yếu tố quan trọng nếu bạn muốn chúng tôi của mình nhanh chóng được đọc. Đa số chúng ta thường không nhận ra được tầm quan trọng của tiêu đề trong e.mail, nên thường có thói quen đặt tiêu đề cho có. Rất nhiều trường hợp còn để tiêu đề trống, điều này sẽ khiến người nhận cảm thấy khó chịu. Một tiêu đề thư nên ngắn gọn, thông báo chính xác nội dung của e.mail. Nếu chúng tôi bạn gửi mang tính định kỳ, chẳng hạn như báo cáo hàng tuần, bạn nên ghi thêm ngày tháng gửi trong tiêu đề. Tiêu đề nên viết không dấu và không có các ký tự lạ để tránh trường hợp người nhận không đọc được. Ngoài ra, bạn cũng cần phải thay đổi tiêu đề cho phù hợp với từng nội dung, để người nhận không bị nhầm lẫn giữa mail cũ và mail mới nếu nội dung đó có thay đổi, chỉnh sửa.

    2. Cấu trúc email

    Một chúng tôi luôn được xây dựng trên 3 phần chính cho dù dài hay ngắn.

    – Lời chào mở đầu: thể hiện sự tôn trọng của bạn với người nhận mail, ngoài ra nó cũng là một phép lịch sự. Ví dụ: Dear anh/ chị…!, Xin chào anh/chị…, Thân gửi anh/chị…

    – Nội dung: Nội dung email nhắc đến vấn đề mà bạn muốn trao đổi và đưa ra ý kiến, đề nghị của mình. Nội dung email cần ngắn gọn, cô đọng, chia làm nhiều đoạn, trong mỗi đoạn nên giới hạn một vài câu. Nếu có nhiều vấn đề cần trao đổi thì nên trình bày theo cách đánh số thứ tự hoặc xuống dòng cho từng vấn đề. Luôn kiểm tra chính tả và ngữ pháp để chắc chắn nội dung email của bạn được soạn thảo chính xác nhất, nếu không người nhận sẽ cho rằng bạn không quan tâm và thiếu tôn trọng họ hoặc có thể người đọc sẽ đặt câu hỏi về trình độ và sự nghiêm túc của bạn.

    3. Chữ ký

    Chữ ký giúp bạn tạo điều kiện thuận lợi cho người nhận mail trong việc phản hồi. Luôn kết thúc email với tên, chức vụ và các thông tin liên lạc như địa chỉ email, số điện thoại (kể cả email và số điện thoại nội bộ), fax, địa chỉ cơ quan.

    4. Điền email của người nhận sau cùng

    Kinh nghiệm cho thấy, bạn nên để địa chỉ email của người nhận điền sau cùng, trước khi nhấn gửi, hãy kiểm tra cẩn thận tất cả các nội dung, bao gồm chính tả, ngữ pháp, chấm câu. Kiểm tra xem bạn đã nói rõ những nội dung cần nói? Giọng điệu email của bạn ra sao? Bạn đã đính kèm tài liệu muốn gửi chưa? Nếu bạn điền địa chỉ người nhận đầu tiên, một sơ sót nào đó sẽ khiến lá thư của bạn được gửi đi khi chưa hoàn thành và bạn sẽ không bao giờ có thể lấy lại được.

    5. Trả lời mail

    Nếu bạn nhận được một chúng tôi và cần phải trả lời nhưng bạn chưa có thời gian, hãy gửi một chúng tôi cho người gửi, thông báo bạn đã nhận được chúng tôi của họ, đồng thời cho biết thời gian bạn sẽ trả lời một cách chính thức. Khi không thể check mail trong một ngày hay nhiều hơn, bạn nên thiết lập chế độ gửi chúng tôi trả lời tự động để thông báo bạn tạm thời không có trong văn phòng.

    6. Thận trọng với các file đính kèm

    Mở file đính kèm là một trong những điều mà đa số người nhận mail không thích, nên đừng gửi thư có file đính kèm cho những người mà bạn không quen biết vì nhiều khả năng thư sẽ bị xóa, vì người nhận sợ đó là những file có chứa virus. Hơn nữa, những file gửi kèm với dung lượng lớn cần nhiều thời gian để tải về. Vì vậy, hãy nén những file có dung lượng lớn, đặc biệt là những file ảnh. Trừ những trường hợp cần thiết hãy gửi file đính kèm. Tốt nhất hãy dán nội dung thẳng vào email.

    7. Luôn cân nhắc các chức năng khi gửi email

    Bạn có thể gửi email cho mọi người bằng cách điền địa chỉ chúng tôi của họ vào một trong 3 phần: To, Cc và Bcc. Tuy nhiên, mỗi phần này đều mang một ý nghĩa khác nhau, do đó, hãy cẩn thận khi điền địa chỉ chúng tôi người nhận. Tương tự, hãy để ý xem địa chỉ chúng tôi của mình nằm ở đâu khi nhận được chúng tôi từ người khác.

    + To: chúng tôi này gửi trực tiếp cho người nhận, người nhận đóng vai trò chính trong việc xử lý thông tin. Người gửi mong đợi phản hồi từ người nhận.

    + Cc: Người gửi muốn người nhận biết thông tin này. Người nhận không cần thiết phải trả lời hoặc xử lý những vấn đề được nhắc tới trong nội dung email.

    Để email của bạn được đón nhận tốt, nên:

    – Background luôn luôn trắng, tuyệt đối không sử dụng background màu mè.

    – Chỉ dùng màu mực đen hoặc xanh đậm.

    – Chỉ dùng những font chữ Unicode thông dụng như Arial, Time New Roman, Tahoma.

    – Không dùng chức năng tô đậm (bold) và viết chữ in hoa (ABC) cho toàn bức thư.

    – Không dùng ngôn ngữ @, từ lóng hoặc viết tắt trong email.

    – Địa chỉ email ngắn gọn. Tránh lấy những địa chỉ email phản cảm, thiếu chuyên nghiệp.

    – Luôn kiểm tra chính tả trước khi gửi mail.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giao Tiếp Xã Hội 55Giaotieptrongtamlyhocquanlykinhdoanh Doc
  • Giao Tiếp Trong Hoạt Động Quản Trị, Kinh Doanh
  • Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Kinh Doanh
  • Nâng Cao Kỹ Năng Giao Tiếp Và Ứng Xử Của Giáo Viên Mầm Non
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Sư Phạm Của Giáo Viên Mầm Non, 9Đ
  • Văn Hóa Giao Tiếp Và Nghệ Thuật Ngôn Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?
  • Văn Hóa Giao Thông Là Gì? Bạn Hiểu Thế Nào Về Vhgt?
  • 150 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Hạng A1
  • Loại Hình Văn Hóa Gốc Nông Nghiệp
  • Văn Hóa Nông Nghiệp Việt Nam
    1. Các đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt Nam

    1.1. Bản chất con người chỉ bộc lộ ra trong giao tiếp. Trước hết, xét về THÁI ĐỘ đối với việc giao tiếp, có thể thấy đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè. Như đã nói, người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên trong cộng đồng, chính tính cộng đồng này là nguyên nhân khiến người Việt Nam đặc biệt coi trọng việv giao tiếp và, do vậy, rất thích giao tiếp. Việc thích giao tiếp này thể hiện chủ yếu ở hai điểm:

    Từ góc độ của chủ thể giao tiếp, thì người Việt Nam có tính thích thăm viếng. Đã thân với nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần đi nữa, lúc rảnh rỗi, họ vẫn tới thăm nhau. Thăm viếng không còn là nhu cầu công việc (như ở phương Tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ.

    Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách. Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dùi nghèo khó đến đâu, cũng cố gắng tiếp đón chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon nhất: Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, không ai đói bữa. Tính hiếu khách này càng tăng lên khi ta và những miền quê hẻo lánh, những miền rừng núi xa xôi.

    Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có đặc tính hầu như ngược lại là rất rụt rè – điều mà những người quan sát nước ngoài rất hay nhắc đến. Sự tồn tại đồng thời của hai tính cách trái ngược nhau (thích giao tiếp và rụt rè) này bắt nguồn từ hai đặt tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị: Khi đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, nơi tính cộng động ngự trị thì người Việt Nam sẽ tỏ ra xởi lởi, thích giao tiếp. Còn khi ở ngoài cộng đồng, trước những người lạ, nơi tính tư trị phát huy tác dụng thì người Việt Nam, ngược lại, sẽ tỏ ra rụt rè. Hai tính cách tưởng như trái ngược nhau ấy không hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong những môi trường khác nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất. Là biểu hiện cho cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam.

    1.2. Xét về QUAN HỆ GIAO TIẾP, văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lây tình cảm làm nguyên tắc ứng xử. Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau, ghét cả tông ti họ hàng; Yêu nhau cau sáu bổ ba, Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười; Yêu nhau chín bỏ làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn, Ghét nhau bồ hòn cũng méo; Yêu nhau mọi việc chẳng nề, Dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…

    Nếu nói khái quát, người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làm trọng nhưng vẫn thiên về âm hơn, thì trong cuộc sống, người Việt Nam sống có lí có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn: Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình… Người Việt Nam luôn coi trọng tình cảm hơn mọi thứ ở đời. Ai giúp mình một chút đều phải nhớ ơn, ai bảo ban một chút cũng đều tôn làm thầy – khái niệm “thầy” được mở ra rất rộng: thầy đồ, thầy võ, thầy thuốc, thầy cúng, thầy bói, thầy địa lí, thầy phù thủy, thầy cãi, thầy rắn (ở Nam Bộ)…

    1.3. VỚI ĐỐI TƯỢNG GIAO TIẾP, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá… Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình (bố mẹ còn hay mất, đã có chồng chưa, có con chưa, mấy trai mấy gái…) là những vấn đề người Việt thường quan tâm. Thói quen ưa tìm hiểu này khiến cho người nước ngoài có nhận xét là người Việt Nam hay tò mò. Đặc tính này – dù gọi bằng tên gọi gì đi chăng nữa – chẳng qua cũng chỉ là một sản phẩm của tính cộng đồng làng xã mà ra.

    Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh. Mặt khác, do lối sống trọng tình cảm, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng hô riêng, nên nếu không có đủ thông tin thì không thể nào lựa chọn từ xưng hô cho thích hợp được. Biết tính cách, biết người để lựa chọn đối tượng giao tiếp thích hợp: Tùy mặt gửi lời, tùy người gửi của; Chọn mặt gửi vàng. Khi không được lựa chọn thì người Việt dùng chiến lược thích ứng một cách linh hoạt: ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.

    1.4. Tính cộng đồng còn khiến người Việt Nam, dưới góc độ CHỦ THỂ GIAO TIẾP, có đặc điểm là trọng danh dự: Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch, rách cho thơm; Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. Danh dự gắn với năng lực giao tiếp: Lời hay nói ra để lại dấu vết, tạo thành tiếng tăm; lời dở truyền đến tai nhiều người, tạo nên tai tiếng.

    Chính vì quá coi trọng danh dự nên người Việt Nam mắc bệnh sĩ diện: Ở đời muốn sự của chung, Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi; Đem chuông đi đấm nước người, Không kêu cũng đấm ba hồi lấy danh; Một quan tiền công, không bằng một đồng tiền thưởng. Ở làng quê, thói sĩ diện thể hiện trầm trọng qua tục lệ ngôi thứ nơi đình trung và tục chia phần. Do danh dự (sĩ diện), các cụ già bảy tám mươi vẫn có thể to tiếng với nhau vì miếng ăn: Một miếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp. Thói sĩ diễn đã tạo nên giai thoại cá gỗ nổi tiếng.

    Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tin đồn, tạo nên dư luận như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã. Người Viết Nam sợ dư luận tới mức, như có nhà văn đã viết, họ “chỉ dám lựa theo dư luận mà sống chứ không ai dám dẫm lên dư luận mà đi theo ý mình”.

    1.5. Về CÁCH THỨC GIAO TIẾP, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận.

    Tính tế nhị khiến người Việt Nam có thói quen giao tiếp, “vòng vo tam quốc”, không bao giờ mở đầu trực tiếp, đi thẳng vào đề như người phương Tây. Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải vấn xá cầu điền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn. Cũng để đưa đẩy tạo không khí là truyền thống miếng trầu làm đầu câu chuyện. Với thời gian, chức năng “mở đầu câu chuyện” này của “miếng trầu” được thay thế bằng chén trà, điếu thuốc lá,

    Đế biết người đối thoại còn cha mẹ hay không, có thế hỏi: Các cụ nhà ta vẫn mạnh giỏi cả chứ? Để biết người phụ nữ đang đối thoại có chồng chưa, người ý tứ sẽ hỏi: Chị về muộn thế này liệu ông xã có phàn nàn không? Để tỏ tình, người con trai vòng vo: Chiếc thuyền giăng câu, Đậu ngang cồn cắt, Đậu sát mé nhà, Anh biết em có một mẹ già, Muốn vô phụng dưỡng, biết là đặng không? (Ca dao Nam Bộ).

    Lối giao tiếp vòng vo kết hợp với nhu cầu tìm hiểu về đối tượng giao tiếp tạo ra ở người Việt Nam thói quen chào hỏi – “chào” đi liền với “hỏi”: Bác đi đâu đấy? Cụ đang làm gì đấy?… Hỏi ở đây như một thói quen, hỏi mà không cấn nghe trả lời và hoàn toàn hài lòng với những câu “trả lời” kiểu: Tôi đi đằng này một tí hoặc trả là bằng cách hỏi lại: Cụ đang làm gì đấy? Đáp: Vâng! Bác đi đâu đấy?

    Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy trong các mối quan hệ. Nó tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kĩ càng khi nói năng: Ăn có nhai, nói có nghĩ, Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói; Biết thì thưa thốt, không biết thì dưa cột mà nghe; Người khôn ăn nói nửa chừng, Để cho kẻ dại nửa mừng nửa lo… Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm là thiếu tính quyết đoán. Để tránh phải quyết đoán, và đồng thời giữ được sự hòa thuận, không làm mất lòng ai, người Việt rất hay cười. Nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; người ta có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả những lúc ít chờ đợi nhất.

    Tâm lí ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn: Một sự nhịn là chín sự lành; Chồng giận thì vợ bớt lời, Cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê)…

    1.6. Người Việt có hệ thống NGHI THỨC LỜI NÓI rất phong phú.

    Trước hết, đó là sự phong phú của hệ thống xưng hô: Trong khi các ngôn ngữ phương Tây và Trung Hoa chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng thì tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng để xưng hô, và những danh từ thân tộc này có xu hướng lấn át các đại từ nhân xưng. Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm: thứ nhất, có tính chất thân mật hóa (trọng tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình. Thứ hai, có tính chất cộng đồng hóa cao – trong hệ thống này, không có những từ xưng hô chung chung mà phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp cụ thể: chú khi ni, mi khi khác. Cùng là hai người, nhưng cách xưng hô có khi đồng thời tổng hợp được hai quan hệ khác nhau: chú-con, ông-con, bác-em, anh-tôi… Lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên chồng; bằng thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba, Tư…). Thứ ba, thể hiện tính tôn ti kĩ lưỡng: Người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính). Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai đều cùng xưng là em và cùng gọi nhau là chị. Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tên riêng: xưa kia chỉ gọi đến tên riêng khi chửi nhau; đặt tên con cần nhất là không được trùng với tên của những người bề trên trong gia đình, gia tộc cũng như ngoài xã hội. Vì vậy mà người Việt Nam trước đây có tục nhập gia vấn húy (vào nhà ai, hỏi tên chủ nhà để khi nói nếu có động đến từ đó thì phải nói chệch đi).

    Nghi thức trong các cách nói lịch sự cũng rất phong phú. Do truyền thống tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ cảm ơn, xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp như phương Tây. Với mỗi trường hợp có thể có một cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau: Con xin chú (cảm ơn khi nhận quà), Chị chu đáo quá (cảm ơn khi được quan tâm), Bác bày vẽ quá (cảm ơn khi được tiếp đón), Quý hóa quá (cảm ơn khi khách đến thăm), Anh quá khen (cảm ơn khi được khen), Cậu đã cứu cho tớ một bàn thua trông thấy, Cháu được như hôm nay là nhờ cô đấy (cảm ơn khi được giúp đỡ)…

    Văn hóa nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến không gian, nên người Việt Nam phân biệt kĩ các lời chào theo quan hệ xã hội và theo sắc thái tình cảm. Trong khi đó văn hóa phương Tây ưa hoạt động lại phân biệt kĩ các lời chào theo thời gian như chào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối…

      Các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam

    Công cụ để giao tiếp là ngôn ngữ. Nhìn vào tiếng Việt, có thể thấy nó phản ánh rõ hơn đâu hết linh hồn, tính cách của con người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam.

    2.1. Trước hết, nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có TÍNH BIỂU TRƯNG cao. Tính biểu trưng thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa với những cấu trúc cân đối, hài hòa.

    Xu hướng ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích diễn đạt bằng các con số biểu trưng. Trong khi người châu âu nói một cách chặt chẽ cụ thể de toutes parts (từ tất cả các phía), he opens his eyes (nó mở những con mắt của nó) thì người Việt nói một cách ước lệ: từ ba bề bốn bên; nó mở to đôi mắt. Ở những trường hợp, khi người châu Âu dùng từ “tất cả” thì người Việt dùng các từ chỉ số lương ước lệ: ba thu, nói ba phải, ba mặt một lời, năm bè bảy mối, ba chìm bảy nổi, tam khoanh tứ đốm, Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo…, chín suối, chín tầng mây, mười tám đời Hùng Vương, ba mươi sáu cái nõn nường, trăm dâu đổ một dầu tằm, trăm khôn ngàn khéo, tiền trăm bạc vạn, trăm họ, vạn sự…

    Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ưa ổn định và có quan hệ tốt với hết thảy mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ – một biểu hiện khác chỉ tính biểu trưng. Tính cân xứng là một đặc tính rất điển hình của riêng Việt.

    Theo loại hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết, song nó chứa một khối lượng ổn các từ song tiết; mỗi từ đơn lại hầu như đều có những biện thể song tiết, cho nên trong thực tế ngôn từ Việt thì cấu trúc song tiết lại là chủ đạo. Các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt đều có cấu trúc 2 vế đối ứng (trèo cao / ngã đau; ăn vóc / học hay); một quả dâu da / bằng ba chén thuốc; biết thì thưa thốt / không biết thì dựa cột mà nghe…).

    Tiếng Việt rất phát triển câu đối. Đó là một loại sản phẩm văn chương đặc biệt, nó vừa công phu tỉ mỉ, lại vừa cô đúc ngắn gọn. Trong một tác phẩm “mini” ấy thế hiện đủ cả cái đẹp cân đối nhịp nhàng của hình thức và cái uyên thâm của chiều sâu triết lí phương Đông. Ở Việt Nam xưa kia, nhà nhà, đình đình, chùa chùa … – nơi nào cũng đều có treo câu đối.

    Truyền thống văn chương Việt Nam thiên về thơ ca: Người Việt Nam hầu như ai cũng biết làm thơ; lịch sử mấy nghìn năm của Việt Nam chủ yếu là lịch sử của thơ ca – một thứ thơ có cấu trúc chặt chẽ (lục bát, song thất lục hát) và có vần điều nghiêm ngặt thể hiện sự cân đối, hài hòa. Văn chương phương Tây thì, ngược lại, có khuynh hướng thiên về văn xuôi.

    Thống kê trên 2 tập Từ điển văn học (KHXH, H., 1983) cho thấy trong 198 mục từ tác phẩm văn học phương Tây (châu Âu + Nga) thì có 43 thơ và 155 văn xuôi, tức là vãn xuôi chiếm 78,3%; còn trong 95 mục từ tác phẩm văn học Việt Nam (không kể các truyện cổ tích được kê riêng như Trầu Cau, Thành Gióng…) thì có 69 thơ và 26 văn xuôi, tức là thơ chiếm 72,6% (trong 26 mục văn xuôi này có rất nhiều tác phẩm hịch, cheo, tuồng… mang đậm chất thơ).

    Ở Việt Nam, văn xuôi truyền thống cũng là văn xuôi thơ, thế mạnh đó còn do tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu thanh điệu, tự thân thanh điệu đã tạo nên tính nhạc cho lời văn rồi. Từ những bài văn xuôi viết theo lối biền ngẫu như Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, hoặc tự do như thư dụ hàng của Nguyễn Trãi gửi địch, cho tới những lời văn Nôm bình dân… – khắp nơi đều gặp một lối cấu trúc cân đối, nhịp nhàng, chặt chẽ và có tiết tấu, vần điệu.

    Thậm chí ngay cả trong việc chửi nhau, người Việt cũng chửi một cách bài bản, cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ; không chỉ lời chửi, mà cả cách thức chửi, dáng điệu chửi… cũng mang tính nhịp điệu. Với lối chửi có vần điệu, cấu trúc chặt chẽ, người Việt có thể chửi từ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác mà không nhàm chán. Đó là một “nghệ thuật” độc đáo mà có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có được.

    Đây là lời chửi của một người đàn bà mất gà được ghi lại trong tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan:

    “Làng trên xóm dưới, bên sau bên trước, bên ngược bên xuôi! Tôi có con gò mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng, mà thằng nào con nào, đứa ở gần mà qua, đứa ở xa mà lại, nó dang tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi, thì buông tha thả bỏ nó ra, không tôi chửi cho đơới! Chém cha đứa bắt gà nhà bà! Chiều hôm qua, bà cho nó ăn nó hãy còn, sáng hôm nay con bà gọi nó nó hãy còn, mà bây giờ nó đã bị bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì buông tha thả bỏ nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mà thằng tam tứ đại nhà mày ra, bá khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên. Nó ở nhà bà, nó là con gà, nó về nhà mày, nó biến thành cú thành cáo, thánh thần nanh đỏ mỏ, nó mổ chồng mổ con, mổ cả nhả mày cho mà xem. Ới cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia! Mày mà giết gà nhà bà thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba. Mày xuống âm phủ thì quỷ sứ thần linh nó rút ruột ra…”

    Ngay trong thể loại tiểu thuyết xuất hiện sau này do ảnh hưởng của phương Tây cũng vẫn mang rất đậm dấu ấn của truyền thống cân đối nhịp nhàng; biểu trưng ước lệ. Đây là những câu văn tả người của Tản Đà trong Giấc mộng con: Tiếng nói nhẹ bao nhiêu, dáng người mềm bấy nhiêu; mềm bao nhiêu, chín bấy nhiêu; chín bao nhiêu, tươi bấy nhiêu; tươi bao nhiêu, tình bấy nhiêu. Như ghét, như yêu, như chiều, như ngượng. Lông mày ngài, đôi mắt phượng, cô chờ ai? Không chỉ tiểu thuyết, mà ngay cả văn chính luận Việt Nam cũng có thể mang đầy chất thơ nhờ cấu tạo cân đối nhịp nhàng. Đọc Tuyên ngôn độc lập hay Những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta thấy rất rõ chất thơ đó: “Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường”; “Việc gì có lợi cho dânn, ta phái hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”.

    2.2. Đặc điểm thứ hai của ngôn từ Việt Nam là nó rất GIÀU CHẤT BIỂU CẢM – sản phẩm tất yếu của một nền văn hóa trọng tình.

    Về mặt từ ngữ, chất biểu cảm này thể hiện ở chỗ các từ, bên cạnh yếu tố gốc mang sắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể với những sắc thái nghĩa biểu cảm: Bên cạnh màu xanh trung tính, có đủ thứ xanh rì, xanh rờn, xanh rợn, xanh ngắt, xanh um, xanh lè… Bên cạnh màu đỏ trung tính có đỏ rực, đỏ au, đỏ lòm, đỏ loét, đỏ hoe… Các từ láy mang sắc thái biểu cảm mạnh cũng rất phổ biến lòng tiếng Việt (ở các ngôn ngữ khác, kể cả tiếng Hán, đều hầu như không có): không phải ngẫu nhiên mà trong thơ ca của ta có thể gặp rất nhiều từ láy. Ở trên vừa nói Tiếng Việt thiên về thơ, mà thơ là mang đậm chất tình cảm rồi, cho nên từ láy với bản chất biểu cảm rất phù hợp với nó.

    Sự phổ biến của thơ hơn văn xuôi đã nói ở trên không chỉ là sản phẩm của tính biểu trưng mà còn đồng thời là sản phẩm của tính biểu cảm. Khuynh hướng biểu cảm còn thể hiện ở chỗ trong lịch sử văn chương truyền thống, không có những tác phẩm anh hùng ca đề cao chiến tranh; có nói đến chiến tranh chăng thì cũng chỉ là nói đến nỗi buồn của nó (ví dụ: Chinh phụ ngâm).

    2.3. Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam có đặc điểm thứ ba là tính ĐỘNG, LINH HOẠT

    Tính động, linh hoạt này trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ nháp. Trong khi ngữ pháp của các ngôn ngữ châu Âu là một thứ ngữ pháp chặt chẽ tới mức máy móc thì ngữ pháp tiếng Việt tổ chức chủ yếu theo lối dùng các từ hư để biểu hiện các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp, khiến cho người sử dụng được quyền linh hoạt tối đa. Ngữ pháp phương Tây là ngữ pháp hình thức, còn ngữ pháp Việt Nam là ngữ pháp ngữ nghĩa.

    Nói bằng một ngôn ngữ châu Âu, ta bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ mọi đòi hỏi tai quái mà hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ đó yêu cầu. Còn trong tiếng Việt thì tùy theo ý đồ của người nói mà anh ta có thể diễn đạt, không diễn đạt hay diễn đạt nhiều lần một ý nghĩa ngữ pháp nào đó: Tôi đi Hà Nội, Tôi sẽ đi Hà Nội, Ngày mai tôi đi Hà Nội, Ngày mai tôi sẽ đi Hà Nội. Chính vì linh hoạt như vậy mà tiếng Việt có khả năng khái quát rất cao, có thể nói một câu không thời, không thể, không ngôi. Khả năng diễn đạt khái quát, mơ hồ chính là điều kiện rất quan trọng cho việc phát triển thơ ca đã nói đến ở trên.

    Tính động, linh hoạt của ngôn từ Việt Nam còn bộc lộ ở chỗ trong lời nói, người Việt rất thích dùng cấu trúc động từ: trong một câu có bao nhiêu hành động thì có bấy nhiêu động từ; trong khi đó thì các ngôn ngữ phương Tây có xu hướng ngược lại – rất thích dùng danh từ. Trong khi người Việt nói: Cảm ơn anh đã tới chơi thì người Anh nói: Thanks you for your coming (Cảm ơn về sự đến chơi của anh). Tính linh hoạt, năng động còn là nguyên nhân khiến cho tiếng Việt ưa dùng cấu trúc chủ động. Người Việt thậm chí dùng cấu trúc chủ động ngay cả trong câu bi động. Trong khi người Việt nói một cách đơn giản: Cô ấy bị thầy giáo phạt thì người Anh nói: She was punished by the teacher (Cô ấy bị phạt bởi thầy giáo).

    Như vậy, có thể nói rằng trong giao tiếp, người Việt có thiên hướng nói đến những nội dung tĩnh (tâm lí, tình cảm, dẫn đến nghệ thuật thơ ca và phương pháp biểu trưng) bằng hình thức động (cấu trúc động từ, ngữ pháp ngữ nghĩa linh hoạt). Trong khi đó thì người phương Tây nói riêng và truyền thống văn hóa trọng dương nói chung lại có thiên hướng nói đến những nội dung động (hành động, sự việc, dẫn đến nghệ thuật văn xuôi và phương pháp tả thực) bằng hình thức tĩnh (cấu trúc danh từ, ngữ pháp hình thức chặt chẽ).

    Mới hay, ngôn ngữ thực sự là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc và tác động của luật âm dương thật rộng lớn và sâu xa!

    Hits: 10541

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Thế Nào Để Giao Tiếp Tốt Trong Mọi Trường Hợp
  • Văn Hóa Giao Tiếp Của Người Nhật Bản
  • Giao Tiếp Liên Văn Hóa Là Gì?
  • 6 Đặc Trưng Trong Văn Hoá Giao Tiếp Của Người Việt
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Đặc Trưng Văn Hóa Giao Tiếp Của Người Việt
  • Khái Niệm Văn Hóa Và Các Khái Niệm Văn Hóa Khác

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Văn Hóa Công Sở Của Ubnd Cấp Xã Tỉnh Sơn La, Hay
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp Vững Chắc
  • Văn Hóa Doanh Nghiệp (Thực Sự) Là Gì: Vì Sao “văn Hóa Tốt” Vẫn Không Giữ Chân Được Người Tài?
  • Cùng Bàn Luận Về Khái Niệm Văn Hóa Và Nếp Sống Văn Hóa Giao Thông
  • Văn Hóa Đọc Thời Hiện Đại
  • Đây là những công cụ – khái niệm hay công cụ – nhận thức dùng để tiếp cận những vấn đề nghiên cứu. Chúng thường hay bị, hay được sử dụng lẫn lộn, dù mỗi một khái niệm đều có những đặc trưng riêng của mình. Bạn đang xem bài viết Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm khác trong chuyên mục Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam tại website của mr Tâm Pacific. Chúc cho bạn nghiên cứu thành công tất cả các bài viết về Văn Hóa Việt Nam trên website.

    Khái niệm Văn Hóa

    Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thưở bình minh của xã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và hóa : Xem dáng về con người, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Người sử dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng ( năm 77-6 trước công nguyên), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).

    Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Anh có từ Culture, người Đức có từ Kultur, người Nga có từ Kultura. Những từ này lại có chung gốc La Tinh, là chữ Cultus Animi, là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ Cultus là văn hóa với hai khía cạnh : trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng, để không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không đơn giản, và thay đổi theo thời gian thuật ngữ văn hóa với nghĩa “Canh Tác Tinh Thần” được sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lý canh tác nông nghiệp.

    Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ “văn hóa” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hóa của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng, bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh. Ông E.B Taylor là người diện của họ. Theo ông, văn hóa và toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội.

    Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo F. Boas ý nghĩa văn hóa được quy định do khung giải thích riêng, chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”. Vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa”. Văn hóa không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt. Theo A.L Kroeber và C.L Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng, và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó hình thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra.

    Khái niệm Văn Minh

    Văn Minh là danh từ Hán – Việt (văn là vẻ đẹp minh là sáng) chỉ tia sáng của đạo đức, thể hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Trong tiếng Anh, Pháp từ Civilisation với nội hàm nghĩa văn minh, có từ căn gốc La Tinh là Civitas với nghĩa gốc là đô thị, thành phố và các nghĩa phát sinh là thị dân, công dân. theo W. Durrant sử dụng khái niệm văn minh để chỉ sự sáng tạo văn hóa, nhờ một trật tự xã hội gây ra, và kích thích. Văn minh được dùng theo nghĩa tổ chức xã hội, tổ chức luân lý, và hoạt động văn hóa. Văn minh trong tiếng Đức là để chỉ các xã hội đã đạt được tới giai đoạn tổ chức đô thị và chữ viết.

    Theo F. Ăngghen thì văn minh là chính trị khoanh văn hóa lại, và sợi dây liên kết văn minh là Nhà nước. Như vậy, khái niệm văn minh thường bao hàm bốn yếu tố cơ bản là đô thị, nhà nước, chữ viết, các biện pháp kỹ thuật cải thiện, xếp đặt hợp lý, tiện lợi cho cuộc sống của con người. Tuy vậy, người ta vẫn hay sử dụng thuật ngữ văn minh đồng nghĩa với văn hóa. Các học giả Anh và Pháp thường sử dụng lẫn lộn hai khái niệm văn hóa (culture) và văn minh (civilisation) để chỉ toàn bộ sự sáng tạo và các tập quán tinh thần và vật chất riêng cho mọi tập đoàn người. Thực ra, văn minh là trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng cho một khu vực rộng lớn, một thời đại, hoặc cả nhân loại. Như vậy, văn minh khác với văn hóa ở ba điểm.

    – Thứ nhất : trong khi văn hóa có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lắt cắt đồng đại.

    – Thứ hai : trong khi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chỉ thiên về khía cạnh vật chất, kỷ thuật.

    – Thứ ba : trong khi văn hóa mang tính dân tộc rõ rệt, thì văn minh thường mang tính siêu dân tộc – quốc tế.

    Ví dụ nền văn minh tin học hay văn minh hậu công nghiệp và văn hóa Việt Nam, văn hóa Nhật Bản, văn hóa Trung Quốc, … Mặc dù, giữa văn hóa và văn minh có một điểm gặp gỡ nhau, đó là do con người sáng tạo ra.

    Khái niệm Văn Hiến

    Ở phương Đông, trong đó có Việt Nam, từ xa xưa đã phổ biến khái niệm Văn Hiến. Có thể hiểu văn hiến là văn hóa theo cách dùng, cách hiểu trong lịch sử. Từ đời Lý (1010) người Việt Nam đã tự hào nước mình là một “văn hiến chi bang”. Đến đời Lê (thế kỷ XV) Nguyễn Trãi viết : “Duy ngã Đại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” – (Duy nước Đại Việt ta thực sự là một nước văn hiến). Từ văn hiến mà Nguyễn Trãi dùng ở đây là một khái niệm rộng rãi, chỉ một nền văn hóa cao, trong đó nếp sống tinh thần, đạo đức được chú trọng.

    Văn hiến ( hiến = hiền tài ) – truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp. Giáo Sư Đào Duy Anh khi giải thích từ “văn hiến” khẳng định : “là sách vở” và nhân vật tốt trong một đời. Nói cách khác là văn hóa, hiến là hiền tài, như vậy Văn Hiến thiên về những giá trị tinh thần, do những người có tài đức chuyền tải, thể hiện tính dân tộc, tính lịch sử rõ rệt.

    Khái niệm Văn Vật ( vật = vật chất )

    Truyền thống văn hóa tốt đẹp biểu hiện ở nhiều nhân tài trong lịch sử, và nhiều di tích lịch sử. “Hà Nội nghìn năm văn vật”. Văn vật còn là khái niệm hẹp để chỉ những công trình hiện vật có giá trị nghệ thuật và lịch sử, khái niệm văn vật, cũng thể hiện sâu sắc tinh thần dân tộc, và tính lịch sử. Khái niệm văn hiến, văn vật, thường gắn với phương Đông nông nghiệp, trong khi khái niệm văn minh thường gắn với phương Tây đô thị. Như vậy, cho đến nay, chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa của văn hóa.

    Từ năm 1952, hai nhà dân tộc học Mỹ là A.L Kroeber và C.L Kluckhohn đã trích lục được trên dưới ba trăm định nghĩa, mà các tác giả khác nhau của nhiều nước từng phát ra từ trước nữa cho đến lúc bây giờ. Từ đó đến nay, chắc chắn số lượng định nghĩa tiếp tục tăng lên và đương nhiên, không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hay hòa hợp, bổ sung cho nhau. Chúng tôi xin dẫn một số định nghĩa đã được công bố trong những giáo trình và công trình nghiên cứu về Văn hóa học hay Cơ sở văn hóa Việt Nam. Theo một số học giả Mỹ là “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt, phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”. Ở trung tâm của văn hóa quyển, là hệ tư tưởng cũng được xem là một hệ văn hóa.

    Ở Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói : “Vì lẻ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Trích trong Hồ Chí Minh toàn tập, in lần 2, của Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội năm 1995 ở tập thứ 3, trang 431.

    Phó Giáo Sư Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận, “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả, và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”.

    Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, Phó Giáo Sư , TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy ra quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Chúng tôi cho rằng, trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa, ta có thể tạm quy về hai loại. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, … Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn, … và tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau. Ví dụ như xét từ khía cạnh tự nhiên, thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”. Gần đây nhất, trong một bài viết của mình, Phó Giáo Sư Nguyễn Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn hóa vào hai góc độ :

    – Góc rộng hay góc nhìn dân tộc học, đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội.

    – Góc hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống hằng ngày, còn gọi là góc báo chí.

    Theo cách hiểu góc rộng – văn hóa là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất và tinh thần của từng cộng đồng. Ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Văn hóa từ góc nhìn “báo chí” tuy cũng có những cách hiểu rộng hơn, hay hẹp hơn, nhưng trước đây thường gắn với kiến thức của con người, của xã hội. Ngày nay, văn hóa dưới góc báo chí đã hướng về lối sống hơn là về kiến thức mà theo tác giả, là lối sống gấp, đằng sau những biến động nhanh của xã hội.

    Trần Quốc Vượng, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Mỹ Dung, Trần Thúy Anh

    *** Bạn đang xem bài viết :

    Khái niệm Văn Hóa và các khái niệm Văn Hóa khác

    Link https://tampacific.com/khai-niem-van-hoa-va-cac-khai-niem-van-hoa-khac.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Khái Niệm Khái Quát Về Văn Hóa
  • Định Nghĩa Văn Hóa Của Unesco
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc Là Gì
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Bản Sắc Văn Hóa Dân Tộc
  • Văn Hóa Là Gì ? Bản Chất Của Văn Hóa Và Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Thời Hội Nhập
  • Giao Tiếp Liên Văn Hóa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Giao Tiếp Của Người Nhật Bản
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Thế Nào Để Giao Tiếp Tốt Trong Mọi Trường Hợp
  • Văn Hóa Giao Tiếp Và Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Khái Niệm Về Văn Hóa Giao Thông Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng?
  • Văn Hóa Giao Thông Là Gì? Bạn Hiểu Thế Nào Về Vhgt?
  • Để mở đầu cho chuỗi bài viết về giao tiếp liên văn hóa trong quá trình du học, Linh sẽ khái quát những nét chính về các khái niệm giao tiếp, văn hóa và giao tiếp liên văn hóa. Qua đó giúp các bạn nắm những hiểu biết nền tảng để giải thích các hiện tượng xung đột văn hóa trong quá trình giao tiếp.

    Hãy tượng tượng bạn đang chơi trò chơi bóng bàn. Khi giao tiếp, người cung cấp thông tin sẽ đánh quả bóng thông tin dưới hình thức ngôn từ hoặc phi ngôn từ về phía người tiếp nhận và ngược lại. Trong giao tiếp nhiều hơn hai người, trò chơi sẽ phức tạp hơn khi nhiều người sẽ cùng lúc đánh quả bóng của họ về phía người tiếp nhận. Quá trình giao tiếp sẽ phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể và truyền tải các nội dung muốn truyền đạt giữa họ với nhau. Một cách khái quát, giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin lẫn nhau bằng các hình thức diễn đạt ngôn từ hoặc phi ngôn từ.

    Hiểu về khái niệm văn hóa có phần phức tạp hơn. Thời đại học, khi học về khái niệm “văn hóa”, tôi không còn nhớ các định nghĩa sau khi kết thúc bài kiểm tra ngoài một điều: có hơn 500 định nghĩa về văn hóa. Có lẽ tôi nên học về thống kê hơn là nghiên cứu văn hóa!

    Tính phức tạp của khái niệm, sự đa dạng trong chuyên ngành và hướng nghiên cứu cũng như sự thiếu thống nhất giữa các nhà nghiên cứu khiến việc hiểu khái niệm văn hóa trở thành một thử thách. Khi viết cuốn sách này tôi đã phải lục tung các sách viết về giao tiếp liên văn hóa của các học giả phương Tây ở thư viện trường Đại học Quốc tế Nhật Bản và tôi không mấy bất ngờ khi nhận ra rằng mỗi sách có một định nghĩa khác nhau về văn hóa.

    Tôi trở về với khái niệm của học giả Trần Ngọc Thêm với ngôn từ gần gũi và có tính khái quát cao, đây cũng là khái niệm được đa số các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam sử dụng: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” khi lý giải về các giá trị của văn hóa: Văn hóa có đa tầng lớp.

    Lớp bên ngoài của văn hóa là lớp vỏ vật chất có thể nhìn, nghe, cảm thấy như ngôn ngữ, nhà cửa, món ăn, thời trang, âm nhạc, lễ hội,… Trong hình thái tảng băng trôi văn hóa thì đây chính là phần nổi phía trên mặt nước mà chúng ta có thể nhìn thấy, biểu đạt chỉ 10% lượng thông tin. 90% lượng thông tin còn lại được ẩn chứa ở lớp giữa và lớp cốt lõi của tảng băng trôi.

    Lớp giữa gồm các chuẩn mực (norm) và giá trị (value). Chuẩn mực quy định cho các thành viên trong cộng đồng về những điều “đúng – sai” mà họ nên làm, không nên làm. Các quy tắc tiêu chuẩn này được ghi thành văn trong luật lệ hoặc được thỏa thuận không thành văn trong cộng đồng.

    Các chuẩn mực phản ánh giá trị, là tiêu chí quyết định như thế nào là “tốt – xấu” trong tư tưởng, quan niệm của cộng đồng. Trẻ em Việt Nam được dạy phải vòng tay cuối đầu chào khi gặp người lớn, đó là chuẩn mực đứa trẻ phải thực hành trong ứng xử. Sâu xa gốc rễ của cách chào này là các giá trị thể hiện quan niệm tôn trọng thứ bậc, tuổi tác trong cộng đồng người Việt.

    Lớp cốt lõi bên trong là những giả định về sự tồn tại của con người. Lịch sử loài người chứng kiến sự đấu tranh của con người với môi trường tự nhiên và các thế lực đối lập từ các cộng đồng người khác để tồn tại. Các nhóm cộng đồng này sẽ tự tổ chức, xây dựng các quy tắc để giải quyết hiệu quả các vấn đề phát sinh trong quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội, hình thành các hệ giá trị của cộng đồng. Mỗi cộng đồng hình thành trong điều kiện khác nhau sẽ có những hệ giả định, giá trị và chuẩn mực riêng.

    Cooper và Calloway-Thomas gọi lớp cốt lõi này là niềm tin (belief) – những quan niệm của con người về thế giới được cho là đúng mà không cần chứng minh, chưa có cơ sở khoa học rõ ràng. Trần Ngọc Thêm. 1999. Cơ sở Văn hóa Việt Nam. Hà Nội: NXB Giáo dục.

    Trompenaars, A., & Hampden-Turner, C. (1998). Riding the waves of culture: Understanding cultural persity in global business (2nd ed.). New York; Tokyo: McGraw-Hill.

    Medina, J., 1956. (2014). Brain rules: 12 principles for surviving and thriving at work, home and school (2nd ed.). Seattle, Wash: Pear Press. Sách được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Luật Trí Não– 12 quy luật để tồn tài và phát triển ở nơi làm việc, ở nhà và trường học do Alpha book phát hành năm 2014.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Đặc Trưng Trong Văn Hoá Giao Tiếp Của Người Việt
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Đặc Trưng Văn Hóa Giao Tiếp Của Người Việt
  • Bài 9 : Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa
  • Gia Đình Văn Hóa Là Gì? Tiêu Chuẩn Gia Đình Văn Hóa Gồm Những Gì?
  • Hiểu Như Thế Nào Cho Đúng Về Văn Hóa Giao Thông
  • Bài 5: Giao Tiếp Có Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hoá Cho Trẻ Mẫu Giáo Lớn (5 6 Tuổi)
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Sao Để Giao Tiếp Tốt Trong Công Sở
  • Những Sai Lầm Trong Giao Tiếp Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả
  • Một Số Vấn Đề Về Quy Định Giao Tiếp, Ứng Xử Của Cán Bộ, Công Chức Trong Thực Thi Công Vụ
  • Tai Lieu Tong Hop Mon Ky Nang Giao Tiep
  • Hoạt động của GV – HS

    Nội dung chính

    – Qua trò chơi, em thấy cách chào hỏi phụ thuộc vào những yếu tố nào?

    Hoạt động 3:

    Hoạt động cá nhân – mục a

    Yêu cầu HS tự đọc yêu cầu của bài, suy nghĩ trả lời.

    – Xác định những biểu hiện của giao tiếp có văn hóa bằng cách khoanh tròn vào chữ số trước câu đúng:

    – Gọi HS trả lời, các bạn khác nhận xét, bổ sung

    Hoạt động nhóm – mục b, c, d

    – Tìm hiểu: Hành vi giao tiếp có văn hóa được dựa trên những phẩm chất nào?

    – Các em có băn khoăn, thắc mắc gì không?

    – Chia sẻ kết quả

    ? Em hiểu thế nào là giao tiếp có văn hóa?

    Giao tiếp có văn hóa là cách cư xử lịch sự, tế nhị trong giao tiếp thể hiện là người có văn hóa

    Hoạt động 3:

    Hoạt động cả lớp mục a, b

    a. Yêu cầu Hssuy nghĩ, trả lời câu hỏi:

    – Em đã cư xử như thế nào?

    – Họ đã biểu lộ ra sao khi nhận được hành vi giao tiếp có văn hóa?

    – Cảm xúc của em?

    b. Gọi 1 HS đọc câu chuyện:

    Chuyện xảy ra trên đường phố

    Suy nghĩ trả lời câu hỏi:

    – Vì sao ông Giang lại nói: Ông đau nhói ở tim?

    – Hành vi giao tiếp, ứng xử của những thanh niên trong truyện đã tác động đến ông ntn?

    Hoạt động nhóm mục c

    Hành vi giao tiếp có văn hóa có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống?

    – Thể hiện sự lịch sự trong giao tiếp.

    – Cách chào không giống nhau:

    Với thầy cô: Lễ phép

    Với bạn bè: Thân mật, chan hòa.

    Với người tu hành:

    – Cách chào hỏi phụ thuộc vào dịa điểm, đối tượng, không gian, thời gian….

    2. Tìm các biểu hiện của giao tiếp:

    – Câu đúng: 1, 3, 4, 5, 8, 11, 12, 15, 16, 18, 19, 20, 23.

    – Tất cả các phẩm chất trên , trừ TIẾT KIỆM.

    3. Ý nghĩa của giao tiếp có văn hóa.

    – Vì cách cư xử thiếu trách nhiệm, thiếu văn hóa và lối sống vô cảm của lũ trẻ

    – Khiến ông thấy lo lắng cho giới trẻ và cho cả xã hội.

    – Thể hiện là người có văn hóa, có đạo đức trong giao tiếp, được mọi người yêu quý.

    – Góp phần xây dựng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Năng Giao Tiếp Là Gì
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Phân Loại Giao Tiếp
  • Bài 4: Tiếp Xúc Và Giao Lưu Văn Hóa
  • Khái Niệm Và Các Loại Hình Giao Tiếp Trong Tâm Lý Học
  • Giao Tiếp Không Lời: Giao Tiếp Bằng Cả Ngôn Ngữ Của Cơ Thể
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100