Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường

--- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Thị Trường Hiện Đại Theo Định Hướng Xhcn Là Gì?
  • Đổi Mới Khái Niệm “kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”?
  • Khái Niệm Kinh Tế Hàng Hoá, Kinh Tế Thị Trường
  • Khái Niệm Khoa Học Công Nghệ Là Gì Và Vai Trò Trong Đời Sống?
  • Chương I. §1. Khái Niệm Về Khối Đa Diện
  • Kinh tế thị trường hình thành từ quá trình sản xuất hàng hoá.Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra là để bán trên thị trường.Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất_phân phối_trao đổi_tiêu dùng , sản xuất như thế nàovà cho ai đều thông việc mua bán,thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định.

    Cơ sở kinh tế – xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá và

    phân công lao động xã hội và về kinh tế giữa người sản xuất này với người sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.Khi sản phẩm lao động trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở thành người sản xuất hàng hoá,lao động của người sản xuất hàng hoá vừa có tính chất tư nhân , cá biệt , lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối lập là tính chất xã hội và tính chất tư nhân , cá biệt lao động của sản xuất hàng hoá.Đối với mỗi hàng hoá mâu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường.

    Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài . Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn . Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá nông dân , thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân họ.

    Đây là một kiểu sản xuất nhỏ , dựa trên kĩ thuật thủ công và lạc hậu khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn ,sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành sản xuất quy mô lớn . Quá trình chuyển biến này diễn ra trong một thời kì quá độ từ xã hội phong kiến sang chế độ tư bản.

    Trong một nền kinh tế sản xuất hàng hoá chiếm địa vị thống trị thì đó là nền kinh tế hàng hoá , khi nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường

    Như vậy nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường.Cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ ,môi trường , động lực và quy luật chi phối sự vận động của thị trường . Trong cơ chế thị trường động lực hoạt động của các thành viên là lợi nhuận , lợi nhuận có tác dụng lôi kéo các doanh nghiệp sản xuất mà xã hội cần . Cơ chế thịa trường dùng lỗ, lãi để quyết định các vấn đề kinh tế cơ bản. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tự vận động tuân theo những quy luật vốn của nó, như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, các quy luật vị trí, vai trò độc lập, song lại có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, và tạo ra những nguyên tắc vận động của thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Hay Của Joker Bất Hủ Nhất Tình Yêu Và Tiếng Anh
  • Joker Và Khái Niệm The Shadow Của Carl Jung
  • Định Nghĩa Trẻ Trâu Là Gì? Dấu Hiệu Nhận Biết Trẻ Trâu Chính Hiệu
  • 35 Câu Nói Hay Của Joker (Tiếng Anh) Tư Duy Sống Khác Biệt Của Chàng Hề
  • Joker: Ác Nhân Điên Loạn, Dị Biệt Và Đáng Sợ Nhất Dc Là Ai ?
  • Khái Niệm Kinh Tế Hàng Hoá, Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Khoa Học Công Nghệ Là Gì Và Vai Trò Trong Đời Sống?
  • Chương I. §1. Khái Niệm Về Khối Đa Diện
  • Kinh Doanh Là Gì? Những Khái Niệm Căn Bản Cập Nhật
  • Kinh Doanh Là Gì? Các Khái Niệm Cơ Bản Trong Kinh Doanh
  • Khái Niệm Kinh Doanh Và Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Có thể hiểu một cách khái quát kinh tế hàng hoá là nền kinh tế mà ở đó sản xuất hàng hoá đã trở thành kiểu sản xuất phổ biến. Kiểu sản xuất hàng hoá là kiểu sản xuất đối lập với sản xuất tự cấp tự túc. Tương tự như vậy, kinh tế hàng hoá cũng đối lập với nền kinh tế tự nhiên. Trong nền kinh tế tự nhiên, các mối quan hệ kinh tế phổ biến là quan hệ hiện vật. Trên góc độ lịch sử, kinh tế hàng hoá là nền kinh tế có sau nền kinh tế tự nhiên, và dĩ nhiên, nó là nền kinh tế phát triển ở trình độ cao hơn kinh tế tự nhiên.

    Đối lập với nền kinh tế thị trường là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, kinh tế hàng hoá có thể chưa trở thành phổ biến, cũng có thể đã trở thành phổ biến. Tuy vậy, điểm khác căn bản giữa nền kinh tế thị trường và nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung là ở cơ chế vận hành. Trong kinh tế thị trường, như đã nói, cơ chế vận hành nền kinh tế chủ yếu theo cơ chế thị trường, ngược lại, trong kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ chế vận hành nền kinh tế chủ yếu theo mệnh lệnh kế hoạch từ trung tâm phát ra. Dĩ nhiên, cơ chế vận hành khác nhau, thì cấu trúc của nền kinh tế cũng không giống nhau. Sẽ không thể có kinh tế thị trường, hoặc nếu có thì đó cũng là kinh tế thị trường không hoàn chỉnh, nếu cấu trúc của nền kinh tế đơn nhất về thành phần kinh tế và các quan hệ thị trường bị hạn chế phát triển. Ngược lại, cũng không thể thực hiện được cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nếu có quá nhiều đầu mối bên dưới mà không có cơ chế ràng buộc các đầu mối đó với nhau. Nói ngắn gọn: cơ chế vận hành như thế nào thì cần phải có cấu trúc nền kinh tế tương ứng, ngược lại, cấu trúc nền kinh tế như thế nào cũng phải có cơ chế vận hành phù hợp.

  • kinh te hang hoa
  • khai niem ve kinh te hang hoa
  • kinh tế hàng hóa kinh te thị trường là gì
  • kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường
  • kinhtehanghoa
  • so sánh kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường
  • the nao la kinh te tu nhien
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Khái Niệm “kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”?
  • Kinh Tế Thị Trường Hiện Đại Theo Định Hướng Xhcn Là Gì?
  • Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường
  • Những Câu Nói Hay Của Joker Bất Hủ Nhất Tình Yêu Và Tiếng Anh
  • Joker Và Khái Niệm The Shadow Của Carl Jung
  • Khái Niệm Nền Kinh Tế Thị Trường Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Chế Thị Trường, Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Cơ Chế Thị Trường (Market Mechanism) Là Gì?
  • Khái Niệm Và Nội Dung Cơ Chế Thị Trường
  • Làm Kế Toán: Các Khái Niệm Chung Về Thị Trường Tài Chính Và Thị Trường Tiền Tệ
  • Khái Niệm Chung Về Tiền Lương
  • Có thể nói, trong chúng ta, ai cũng từng nghe qua cụm từ nền kinh tế thị trường ít nhất là một lần. Tuy nhiên, một thực tế rằng không phải ai cũng hiểu khái niệm nền kinh tế thị trường là gì, cũng như đặc điểm của nền kinh tế ấy.

    Nền kinh tế thị trường là gì?

    Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở một trình độ cao. Tức là hình thức tổ chức sản xuất xã hội phù hợp, mang lại hiệu quả nhất, tương xứng với trình độ phát triển của xã hội ngày nay.

    Quy luật hoạt động của nền kinh tế thị trường

    Nền kinh tế thị trường có thể tự hoạt động được dựa vào sự điều tiết của cơ chế thị trường. Đó là việc thông qua các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quá trình lưu thông tiền tệ, sự cạnh tranh,… Chúng tác động và phối hợp lẫn nhau trong hoạt động của toàn bộ thị trường tạo thành một thể thống nhất.

    Cùng tìm hiểu thêm thông tin chung cư quận bình tân cập nhật chi tiết nhất về giá bán, danh sách các dự án chung cư mới nhất 2022.

    Đặc điểm của nền kinh tế thị trường

    Kinh tế thị trường có các đặc điểm chính sau:

    • Mỗi chủ thể kinh tế là một thành phần của nền kinh tế thị trường. Các chủ thể này có tính tự chủ cao, tự quyết định lấy hoạt động của mình.
    • Hàng hóa vô cùng phong phú, đa dạng. Do các chủ thể kinh tế tự quyết định hoạt động của mình nên thị trường có nhu cầu về hàng hóa nào thì sẽ có người sản xuất mặt hàng đó. Trong khi, nhu cầu, thị hiếu của con người lại vô cùng phong phú, không có điểm dừng nên hàng hóa cũng từ đó mà trở nên đa dạng.
    • Sự cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường khi có quá nhiều người cùng sản xuất một mặt hàng.
    • Nền kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mở. Sự giao lưu buôn bán rộng rãi không chỉ trong lãnh thổ, thị trường của một quốc gia mà giữa các nước trong khu vực, trên thế giới.
    • Giá cả của một mặt hàng hình thành ngay trên thị trường và không có bất cứ một chủ thể kinh tế nào quyết định được. Bởi chúng được quyết định bởi quy luật cung cầu của thị trường.

    Như vậy, qua các chia sẻ trên của Meeyland, bạn đọc đã hiểu được khái niệm nền kinh tế thị trường. Cùng với đó là quy luật hoạt động cũng như đặc điểm của nền kinh tế ấy. Hy vọng qua đó, bạn sẽ có được những kiến thức bổ ích giúp mình hoạt động tốt hơn trong môi trường này!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Thể Chế Kinh Tế Việt Nam
  • Xây Dựng Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Việt Nam
  • Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Thể Chế Kinh Tế (Economic Institutions) Là Gì? Nội Dung
  • Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Việt Nam
  • Khái Niệm Về Kinh Tế Chính Trị Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Nền Kinh Tế Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài.
  • Thực Hiện Đầu Tư Của Tổ Chức Kinh Tế Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài
  • Kinh Tế Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Là Gì ?
  • Đặc Điểm Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài
  • Học Thuyết Kinh Tế Chính Trị Mác
  • Có thể có nhiều phương pháp phân loại các quy luật kinh tế. Dựa vào điều kiện hình thành và phạm vi vai trò khác nhau của quy luật kinh tế, đại thể có thể chia làm 3 loại:

    + Các quy luật kinh tế phổ biến ở tất cả hình thái xã hội. Đây là quy luật kinh tế phổ biến nảy sinh vai trò trong mọi xã hội, ví dụ như quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với tính chất của sức sản xuất, quy luật năng suất lao động không ngừng nâng cao, quy luật nhu cầu tiêu dùng tăng lên… Loại quy luật kinh tế này, biểu hiện mối liên hệ bản chất chung nhất của nhân loại trong quá trình phát triển kinh tế thuộc tất cả các hình thái xã hội. Chúng là bộ phận cấu thành trong hệ thống quy luật của những hình thái kinh tế xã hội khác nhau và cả về hình thức sẽ có biểu hiện khác nhau.

    + Các quy luật kinh tế chỉ có trong một số hình thái xã hội. Đây là quy luật kinh tế cùng phát huy vai trò tác dụng trong mấy loại hình thái xã hội có điều kiện kinh tế nào đó giống nhau, như quy luật giá trị, quy luật giá cả, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ của nền kinh tế hàng hóa. Loại quy luật này, biểu hiện mối liên hệ nội tại chung trong quá trình vận hành kinh tế của một số hình thái xã hội, nhưng phát huy hiệu ứng cụ thể của chúng, vẫn có thể xuất hiện sự khác biệt.

    + Các quy luật kinh tế riêng có trong một loại hình thái xã hội đặc biệt và chiếm địa vị chi phối. Đây là quy luật kinh tế chỉ đóng vai trò chi phố trong một hình thái xã hội riêng biệt, như quy luật giá trị thặng dư tư nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa, quy luật phân phối theo lao động trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Loại quy luật này, biểu hiện mối liên hệ bản chất đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế của một hình thái xã hội riêng biệt.

    Kinh tế chính trị học là khoa học lý luận kinh tế, về bản chất lại là môn khoa học lịch sử. Nó không chỉ nghiên cứu quan hệ sản xuất của một hình thái xã hội riêng biệt nào đó, mà còn nghiên cứu quan hệ sản xuất ở các hình thái xã hội khác nhau của loài người và quy luật vận động của chúng. Các hình thái kinh tế xã hội không giống nhau, được phân biệt bằng những quy luật kinh tế chung phổ biến. Kinh tế chính trị học theo nghĩa rộng, vừa phải căn cứ vào các giai đoạn lịch sử khác nhau của sự phát triển quan hệ sản xuất, chỉ ra quy luật kinh tế mà các xã hội và thời kỳ phát triển (như thời kỳ cạnh tranh tự do và thời kỳ cạnh tranh lũng đoạn của chủ nghĩa tư bản, thời kỳ kinh tế kế hoạch và thời kỳ kinh tế thị trường của chủ nghĩa xã hội), lại vừa lấy đó làm cơ sở, chỉ ra những quy luật kinh tế phổ biến nhất mà một vài xã hội cùng có và mọi xã hội cùng có. Nhưng điều này lại cần phải lấy kinh tế chính trị học theo nghĩa hẹp chuyên nghiên cứu quan hệ sản xuất xã hội nào đó cùng quy luật phát triển của nó làm cơ sở.

    IV/ Phương pháp kinh tế chính trị học 1/ Phương pháp duy vật lịch sử

    Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất sức sản xuất là phát hiện khoa học vĩ đại của Marx và Engels. Phát hiện này khiến cho mọi người đã nhận thức một cách khoa học quá trình khách quan của sự phát triển xã hội loài người. Trước K. Marx và Engels, rất nhiều học giả tư sản không coi sự biến hóa của xã hội loài người là quá trình khách quan có quy luật khách quan chi phối, mà là do những nhân tố tâm lý như lý tính, đạo đức, lương tâm,… của con người quyết định, họ hoàn toàn dùng ý thức của con người để giải thích hiện tượng xã hội. Vì vậy, họ là những người theo chủ nghĩa duy tâm về lịch sử. K. Marx và Engels đã quy các hiện tượng xã hội phức tạp về những quan hệ kinh tế – tức các quan hệ sản xuất; đồng thời các ông lại quy sự thay đổi các quan hệ sản xuất về sự thay đổi của sức sản xuất. Cho nên Marx, Engels không mượn ý thức đạo đức, lương tâm để thuyết minh sự thay đổi xã hội, mà xuất phát từ trình độ sức sản xuất khách quan, đã chỉ ra quy luật khách quan của sự phát triển xã hội.

    Chủ nghĩa Marx chú trọng từ mối liên hệ nội tại tác động qua lại lẫn nhau giữa sức sản xuất, kiến trúc thượng tầng với quan hệ sản xuất, trình bày rõ cơ chế biến đổi quan hệ sản xuất và quy luật phát triển của nó, chú trọng nghiên cứu đối với quyền lợi kinh tế, chế độ kinh tế và biến thiên lịch sử của nó. Phương pháp phân tích kinh tế học có chiều sâu lịch sử này khác xa với phương pháp duy tâm về lịch sử coi quan hệ sản xuất và chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa là phạm trù chung và vĩnh hằng của kinh tế chính trị học tư sản.

    2/ Phép biện chứng duy vật

    Phép biện chứng duy vật chính là phương pháp luận triết học về mối quan hệ giữa các phạm trù nội dung với hình thức, bản chất với hiện tượng… và quy luật thống nhất các mặt đối lập, lượng biến với chất biến, phủ định của phủ định… Trong đó, nghiên cứu kinh tế chính trị học đặc biệt nhấn mạnh những phương pháp sau:

    Thứ nhất, phép phân tích mâu thuẫn. Mọi sự vật, sự việc không ngừng phát triển biến hóa, những mâu thuẫn vốn có bên trong sự vật, là căn cứ để sự vật phát triển biến hóa. Hình thái kinh tế xã hội cũng giống như vậy. Kinh tế chính trị học muốn nghiên cứu quan hệ sản xuất và quy luật vận động của nó, chỉ ra sự phát triển biến hóa hình thái kinh tế xã hội loài người, thì cần phải kết hợp vận dụng phân tích trạng thái tĩnh với phân tích trạng thái động, bắt tay vào nghiên cứu và chỉ ra mâu thuẫn nội tại của quan hệ sản xuất trong các xã hội khác nhau và sự vận động của chúng. Kinh tế chính trị học mà Marx sáng lập ra, chính là bắt đầu từ giải phẫu phân tích hàng hóa – tế bào kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa, đi sâu vào từng lớp, từng lớp mà chỉ ra tất cả mâu thuẫn hoặc manh nha của tất cả mâu thuẫn trong xã hội hiện đại, và từ đó đã luận chứng xu thế lịch sử khách quan của chủ nghĩa tư bản tất sẽ được chủ nghĩa xã hội thay thế. “Tư bản luận” đại diện của kinh tế học Marx, thực ra chính là học thuyết về mâu thuẫn phát triển kinh tế xã hội và vận hành kinh tế tư bản chủ nghĩa.

    Thứ hai, phép trừu tượng hóa khoa học. Trừu tượng hóa khoa học có vai trò quan trọng trong nhận thức. Bất kỳ ngành khoa học nào, nếu như muốn chỉ ra bản chất của sự vật, đều cần phải trải qua quá trình trừu tượng hóa khoa học. Đối với kinh tế chính trị học càng phải như vậy. Đó là vì, phân tích các vấn đề kinh tế, đã không thể sử dụng kính hiển vi, lại cũng không thể sử dụng thuốc thử hóa học, cả hai đều cần phải dùng sức trừu tượng để thay thế. “Sức trừu tượng” nói ở đây, chỉ năng lực tư duy trừu tượng mà con người vận dụng trí não đối với đối tượng nghiên cứu. Nó đòi hỏi nắm lấy tính đồng chất nội tại của sự vật, vứt bỏ sự khác biệt không phải bản chất; nắm lấy hình thức phổ biến hoặc hiện tượng thông thường xuất hiện trùng lặp trong các hiện tượng, vứt bỏ những nhân tố ngẫu nhiên. Quá trình vận dụng năng lực này để tiến hành trừu tượng hóa khoa học, cũng chính là quá trình từ nhận thức cảm tính nâng lên nhận thức lý tính như Mao Trạch Đông nói, là quá trình lựa chọn sàng lọc những tư liệu phong phú, vứt bỏ cái giả giữ lại cái thật, từ nội dung này tới nội dung kia, từ ngoài vào trong để hình thành hệ thống khái niệm và lý luận. Trừu tượng hóa khoa học đòi hỏi vận dụng chính xác phương pháp phân tích cụ thể những “giả thuyết”.

    Thứ ba, phương pháp phân tích lịch sử thống nhất với logic. Lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy cũng cần bắt đầu từ đó, nhưng lịch sử thường xuất hiện những bước nhảy quanh co khúc khuỷu, thì cần phải vận dụng phương pháp logic. Nó có thể thoát khỏi hình thức lịch sử trực quan và tính ngẫu nhiên phức tạp, tiến hành suy lý logic. Nhưng đó lại không thể là suy lý trừu tượng thuần túy tách rời khỏi quá trình lịch sử. Nó cần phải kết hợp với sự phát triển từ thấp đến cao của lịch sử, thông qua suy lý tư duy, bằng hình thức lý luận khái quát, từ khái niệm đơn giản tới khái niệm phức tạp, tái hiện lại độ chân thực của lịch sử. Cho nên, phương pháp nghiên cứu logic này thống nhất hữu cơ với phương pháp nghiên cứu lịch sử.

    Thứ tư, phương pháp kết hợp định tính với định lượng. Chất và lượng là thể thống nhất tồn tại dựa vào nhau, mọi sự vật đều bao gồm 2 mặt chất và lượng. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị học cũng như vậy. Muốn chỉ ra được đầy đủ bản chất nội tại và quy luật vận động của quá trình vận hành kinh tế xã hội và quan hệ kinh tế của loài người, trình bày một cách khách quan hình thức biểu hiện của nó và mối quan hệ giữa các loại biến đổi về lượng, thì cần phải đồng thời tiến hành khảo sát cả 2 mặt chất và lượng, kết hợp phân tích định tính với phân tích định lượng. Trước đây, Marx đã tích cực vận dụng toán học để nghiên cứu toàn diện những khuôn mẫu về quan hệ kinh tế và vận hành kinh tế, vượt xa tất cả các nhà kinh tế chính trị học tư sản. Hiện nay, cần phải kế thừa truyền thống học thuật của Marx, cải tạo và học tập một cách khoa học phương pháp phân tích về lượng của kinh tế học phương Tây đương đại, sửa chữa khiếm khuyết của phần xã hội chủ nghĩa trong kinh tế chính trị học truyền thống vận dụng phân tích định lượng không đủ và kinh tế học chủ lưu phương Tây hiện đại vận dụng quá nhiều phân tích định lượng. Phương pháp phân tích định lượng là phương pháp vận dụng toán học và thống kê, chỉ ra mối liên hệ số lượng mang tính quy luật được phản ánh trong các hiện tượng kinh tế và quá trình kinh tế, chỉ ra quan hệ kinh tế cùng những quy định và giới hạn số lượng chất được phản ánh trong sự phát triển biến hóa của nó. Đây là tiền đề quan trọng để nhận thức sâu sắc và vận dụng cụ thể những quy luật vận hành của kinh tế thị trường hiện đại trong bối cảnh xã hội hóa, quốc tế hóa kinh tế mà các mối liên hệ số lượng có xu hướng ngày càng phức tạp.

    Ngoài ra, trong nghiên cứu kinh tế chính trị học, còn cần phải vận dụng những thủ pháp nhận thức như phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp hệ thống và phương pháp thực chứng… học tập đúng mức những phương pháp và phạm trù về hệ thống lý luận, luân lý học và tâm lý học. Tất cả những nội dung này, cùng cấu thành hệ thống phương pháp luận của kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Marx. Chính Marx đã phê phán triệt để thuyết duy tâm và siêu hình của các nhà kinh tế học tư sản, vận dụng xuất sắc những phương pháp luận này, mới xây dựng thành công kinh tế chính trị học của giai cấp công nhân. Kinh tế chính trị học chủ nghĩa Marx đương đại cũng cần phải quán triệt và phát triển hệ thống phương pháp luận khoa học này.

    TH: T.Giang – SCDRC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Chính Trị Quốc Tế Là Gì?
  • Economic Bubble / Bong Bóng Kinh Tế
  • 5 Thương Vụ Bong Bóng Chấn Động Lịch Sử Và Những Bài Học Để Đời
  • Thế Nào Là Một Nền Kinh Tế Bong Bóng?
  • Bong Bóng Kinh Tế Là Gì? Những Vụ Nổ Nào Tiêu Biểu?
  • Khái Niệm Sở Hữu Đất Toàn Dân Thời Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Độ Sở Hữu Toàn Dân Là Gì ? Nội Dung Khái Niệm Về Sở Hữu Toàn Dân Quy Định Thế Nào ?
  • Cần Thay Đổi Khái Niệm Sở Hữu Toàn Dân
  • ‘mù Mờ Khái Niệm Sở Hữu Toàn Dân’
  • Cùng Dream Holidays Khám Phá Khái Niệm Về “sở Hữu Kỳ Nghỉ”
  • Sở Hữu Kỳ Nghỉ: Phong Cách Sống, Không Phải Khoản Đầu Tư
  • Theo điều 20 Hiến pháp 1980: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm. Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật…”. Với quy định như vậy, có thể hiểu người sở hữu đất (toàn dân) đã ủy toàn quyền cho Nhà nước. Vì toàn bộ nền kinh tế đã công hữu hóa, nên Nhà nước không chỉ quản lý xã hội với tư cách cơ quan quyền lực, mà còn thông qua cơ chế kế hoạch hóa, trực tiếp quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trong đó có đất đai. Trong thời kỳ này, đất đai chỉ được giao cho các xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã sử dụng, do đó mọi biến động trong sử dụng đất đều nằm trong khuôn khổ chế độ công hữu do Nhà nước thống nhất quản lý.

    Xin dẫn tiếp điều 18 Hiến pháp 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”.

    Có thể thấy hai điểm khác biệt giữa điều 18 Hiến pháp 1992 với điều 20 Hiến pháp 1980:

    1) Theo Hiến pháp 1992, Nhà nước giao đất cho tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, trong khi Hiến pháp 1980 chỉ cho người đang sử dụng đất được tiếp tục sử dụng (nếu Nhà nước chưa có quyết định gì khác, cũng có nghĩa là đất có thể bị thu lại).

    Có lẽ do tư duy kế hoạch hóa bao cấp còn nặng, nên ít người thấy được hàm ý sâu xa của quy định này là tách quyền sử dụng khỏi quyền sở hữu. Người sở hữu đất (toàn dân) nhưng lại không sử dụng, người sử dụng ổn định lâu dài (tổ chức, cá nhân) lại không sở hữu. Điều này tuy có mâu thuẫn theo logic thông thường, nhưng không khó vận hành, lại dễ được thông cảm về mặt tâm tư trong giai đoạn đầu chuyển sang kinh tế thị trường, khi nhiều người còn nặng tình với cụm từ “sở hữu toàn dân”.

    Xét từ hoạt động thực tiễn, “toàn dân” chỉ là một khái niệm cộng đồng trừu tượng. Toàn dân không thể là người trực tiếp sử dụng đất. Ngay Nhà nước, với tư cách một thiết chế quyền lực xã hội, cũng không thể trực tiếp làm được việc này. Do đó trong thực tế chỉ có các tổ chức (trước hết là các doanh nghiệp) và các cá nhân mới có thể trực tiếp sử dụng đất. Cho nên, để dễ đồng thuận về tâm lý, có thể và nên giữ danh nghĩa sở hữu toàn dân, nhưng quyền sử dụng trực tiếp giao cho các tổ chức và cá nhân. Và đó cũng là lý do phải khẳng định nguyên tắc đất được giao sử dụng ổn định lâu dài. Chế độ sở hữu đất toàn dân với nội dung như trên là phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần.

    2) Tổ chức, cá nhân được giao đất có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đây là điểm khác biệt rất quan trọng, bởi một khi đã có được quyền chuyển nhượng, thì tổ chức, cá nhân được giao đất thực tế đã có tư cách người sở hữu. Thật vậy, theo đạo lý thông thường, người ta chỉ có thể chuyển nhượng (bán) những gì là của mình mà thôi.

    Hai điểm nêu trên trong điều 18 Hiến pháp 1992 thể hiện rất rõ ý tưởng chuyển đất đai từ cơ chế kế hoạch hóa bao cấp sang cơ chế thị trường, tạo cơ sở pháp lý cho thị trường bất động sản tái sinh.

    Theo tinh thần Hiến pháp 1992, quyền của Nhà nước với tư cách đại diện người sở hữu đất (toàn dân) chỉ còn là “thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật”. Tất nhiên khái niệm “quy hoạch và pháp luật” ở đây cần được hiểu phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường. Tiếc rằng trong Luật Đất đai và các văn bản dưới luật sau này vẫn còn nhiều dấu ấn của cách nghĩ, cách làm thời kế hoạch hóa bao cấp, do đó việc triển khai sâu rộng ý tưởng thị trường hóa đất đai luôn vấp phải những trở ngại lớn. Hậu quả là thị trường bất động sản vận hành với đầy rẫy vướng mắc, gỡ mãi không hết như đã thấy.

    Cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có hai quy định quan trọng:

    a) Mở rộng khái niệm quyền sử dụng đất, không chỉ giới hạn trong sử dụng công năng của đất, mà còn bao gồm cả quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế, góp vốn. Như vậy quyền sử dụng đất hầu như đã bao gồm tất cả những quyền phái sinh quyền sở hữu. Quyền sở hữu đất của toàn dân rõ ràng chỉ còn là danh nghĩa mà thôi.

    b) Tổ chức, cá nhân được giao đất phải nộp cho Nhà nước tiền sử dụng đất (ngoài tiền “đền bù” đã phải trả cho người đang sử dụng đất). Trả tiền để được giao quyền sử dụng đất là gì nếu không phải là mua quyền đó. Ý tưởng thị trường hóa đất đai hiển hiện minh bạch trong quy định này. Đã có cơ sở kinh tế và pháp lý để nói về sở hữu quyền sử dụng đất.

    Thực tế cho thấy: tất cả đất đai sử dụng được đều đã có chủ sử dụng. Bất cứ ai, kể cả Nhà nước, nếu muốn sử dụng những đất đó một cách êm thấm đều phải “bồi thường” cho người đang sử dụng, mà phải bồi thường theo giá được người đang sử dụng thỏa thuận. Bồi thường như thế thực chất là mua quyền sử dụng đất theo giá thị trường. Nếu lại còn phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước nữa, tức là phải mua đất lần thứ hai và lần này là “mua” của Nhà nước, trong khi chính những đất này Nhà nước có một lần “bán” thông qua thu tiền sử dụng đất từ người được giao đất lần đầu. Cho nên những chuyển nhượng đất giữa các tổ chức cũng như cá nhân thực chất là mua bán, không phải là giao, do đó sẽ không có vấn đề tiền sử dụng đất. Về mặt tài chính, nếu cần thiết và hợp lý, Nhà nước có thể sử dụng lệ phí trước bạ và thuế chuyển nhượng bất động sản, nhất là thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được thu thường xuyên hàng năm để bù cho khoản “thất thu” này.

    Hy vọng rằng việc tổng kết thi hành Luật Đất đai để chuẩn bị sửa đổi Luật Đất đai, cũng như việc chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp, đang được xúc tiến khẩn trương, sẽ góp phần hoàn thiện Luật Đất đai, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước và an dân trong giai đoạn hiện nay. Cần thấy rằng nút gỡ chủ yếu không phải nằm ở những vấn đề thuộc giải pháp cụ thể, mà trước hết nằm ở tư duy, ở tư tưởng chính sách. Pháp luật là phạm trù thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội. Khi cơ sở hạ tầng của xã hội đã là nền kinh tế thị trường, thì pháp luật phải phù hợp với nó, chứ không thể ngược lại.

    SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN – Trích dẫn từ: https://www.thesaigontimes.vn/ LÊ VĂN TỨ Luật sư Hà Trần

    (Pháp luật trực tuyến: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sở Hữu Toàn Dân Về Đất Đai Là Gì ? Chế Độ Sở Hữu Toàn Dân Về Đất Đai Là Gì ?
  • Tư Vấn Về Chế Độ Sở Hữu Toàn Dân Về Đất Đai ?
  • Chế Độ Sở Hữu Toàn Dân Về Đất Đai Theo Luật Đất Đai 2013
  • Quan Niệm Về Sở Hữu Toàn Dân Về Đất Đai
  • Chế Độ Sở Hữu Toàn Dân Về Đất Đai Và Nguyên Tắc Cơ Bản Và Quan Trọng Nhất Của Luật Đất Đai ?
  • Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn: Sự Sáng Tạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Khái Niệm Kinh Tuyến Và Vĩ Tuyến
  • Khái Niệm Kinh Tế Là Gì?
  • Giáo Trình Tiếng Việt Kinh Tế
  • Một Số Khái Niệm Của Lý Thuyết Kinh Tế Học Phát Triển Đang Được Vận Dụng Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì, Định Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Khái Niệm Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Định Nghĩa Nào Sau Đây Về Tăng Trưởng Kinh Tế Là Không Đúng, ý Nghĩa Khái Niệm, Từ Khái Niệm Có Nghĩa Là Gì, Khái Niệm Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Đền ơn Đáp Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Vận Tốc, Khái Niệm Nhân Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Khái Niệm Tội Phạm, ý Nghĩa Khái Niệm Vật Chất, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Tròn Và Vuông, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản, ý Nghĩa Khái Niệm Thời Gian, Khái Niệm Kinh Tế, 5 Khái Niệm Cơ Bản Của Kinh Tế Học, Khái Niệm Kinh Tế Số, ý Nghĩa Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn ở Việt Nam, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng, Khái Niệm Luật Kinh Tế, Sách Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế, Khái Niệm Kinh Doanh, Khái Niệm Rủi Ro Kinh Doanh, Khái Niệm Về Kinh Doanh, Khái Niệm An Ninh Kinh Tế, Khái Niệm Bảo Vệ Môi Trường, Khái Niệm Môi Trường, Khái Niệm Thị Trường, Khái Niệm Về Môi Trường, Khái Niệm ưu Trương, Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Khái Niệm Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế, Khái Niệm Thông Tin Kinh Doanh, Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Khái Niệm Sinh Trưởng, Khái Niệm ô Nhiễm Môi Trường, Khái Niệm ô Nhiễm Môi Trường Đất, 1 Khái Niệm Môi Trường Nào Sau Đây Là Đúng, Tiểu Luận Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ N, Khái Niệm ô Nhiễm Môi Trường Không Khí, 5 Khái Niệm Khách Hàng Và Thị Trường Cốt Lõi, Khái Niệm ô Nhiễm Môi Trường Nước, Khái Niệm ô Nhiễm Môi Trường Biển, Chương 1 Khái Niệm Luật Môi Trường, Văn Kiện Đại Hội Nào Của Đảng Bắt Đầu Dùng Khái Niệm Kinh Tế Thị Trườn, Khái Niệm Nào Về Môi Trường Nuôi Cấy Vi Sinh Vật Là Đúng, Khái Niệm Nào Sau Đây Cho Biết Độ Mạnh Yếu Của Điện Trường Tại Một Điể, Khái Niệm Nào Là Đầy Đủ Nhất Về Các Nguồn Gây ô Nhiễm Môi Trường Đất Hi, Dàn ý Em Hãy Kể Lại Những Kỉ Niệm Sâu Sắc Của Ngày Khai Trường Đầu Tiên, Tiểu Luận Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng X, Khái Niệm Sinh Trưởng Và Phát Triển ở Thực Vật, Khái Niệm Nào Dưới Đây Cho Biết Độ Mạnh Yếu Của Điện Trường Tại Một Đ, Khái Niệm Yếu Tố ảnh Hưởng, Quan Niệm Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Quan Niệm Nào Không Đúng Về Kinh Tế Thị Trường, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế, Nghiên Cứu Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến ý Định Khởi Sự Doanh Nghiệp: Trường Hợp Sinh Viên Khoa Kinh Tế , Biên Bản Niêm Yết Công Khai Giám Sát Thực Hiện Daanc Hủ Trường Học, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi,

    Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Pdf, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Quá Trình Đảng Chỉ Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trương Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Iệt Nam Vừa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ Biế, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Sự Hình Thành Và Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Cần Làm Gì Để Hoàn T, Tại Sao Phải Thống Nhất Nhận Thức Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Tiểu Luận Đảng Chỉ Đạo Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến , Tiểu Luận Đảng Lãnh Đạo Xây Dựng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Từ Năm 1986 Đến, Định Nghĩa Khái Niệm Là Gì, Định Nghĩa Khái Niệm, Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?, Khái Niệm Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khái Niệm Nào Được Định Nghĩa Giống Như Cường Độ Hay Độ Tinh Khiết Của M, Vai Trò Của Nhà Nước Pháp Quyền Đối Với Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội C, Các Kiểu Quan Hệ Lợi ích Kinh Tế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn, Định Nghĩa Nào Sau Đây Về Tăng Trưởng Kinh Tế Là Không Đúng, ý Nghĩa Khái Niệm, Từ Khái Niệm Có Nghĩa Là Gì, Khái Niệm Xã Hội Chủ Nghĩa, Khái Niệm Chủ Nghĩa Xã Hội, Khái Niệm Đền ơn Đáp Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Vận Tốc, Khái Niệm Nhân Nghĩa, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học, ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin Là Gì, Khái Niệm Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Khái Niệm Tội Phạm, ý Nghĩa Khái Niệm Vật Chất, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Khái Niệm Tròn Và Vuông, ý Nghĩa Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh, ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản, ý Nghĩa Khái Niệm Thời Gian, Khái Niệm Kinh Tế,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 1: Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Và Những Vấn Đề Đặt Ra Hiện Nay
  • Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Bài 2: Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Hoàn Thiện Khái Niệm Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Khái Niệm Kinh Doanh Khách Sạn
  • Chính Sách Xã Hội Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Lãi Suất Của Việt Nam Trong Thời Gian Qua
  • Chính Sách Lãi Suất (Interest Rate Policy) Là Gì?
  • Lãi Suất Là Gì? Các Khái Niệm Lãi Suất Ngân Hàng
  • Tiền Lương Là Gì? Khái Niệm, Chức Năng Tiền Lương
  • Quan Điểm, Nhận Thức Về Tiền Lương Và Chính Sách Tiền Lương
  • Tiếp cận vấn đề bảo đảm xă hội (an sinh xă hội) từ góc độ mô h́nh hoạt động kinh tế tổng thể của một quốc gia để xem xét quan hệ giữa chính sách xă hội và hệ thống bảo đảm xă hội ngay từ khi xác lập thể chế hoạt động kinh tế vĩ mô với những đặc trưng riêng của mỗi loại h́nh kinh tế thị trường. Điều đó giúp chúng ta đề ra những nhiệm vụ và mục tiêu của BHXH nói riêng và của hệ thống chính sách xă hội nói chung, thích ứng trong từng giai đoạn, gắn liền với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước. Kinh tế thị trường

    Kinh tế thị trường được hiểu là một thể chế kinh tế với sự không tập trung (phân tán) về kế hoạch hoá và sự điều khiển quá tŕnh kinh tế được tiến hành theo sự điều phối của cơ chế giá cả. Trong nền kinh tế thị trường, phạm vi nhiệm vụ của Nhà nước ít nhất là phải tạo ra các điều kiện khung để khuyến khích đầy đủ được chức năng điều phối từ sự cạnh tranh, thi đua cũng như khuyến khích việc sẵn sàng cung cấp các loại hàng hoá công cộng không sinh lợi của kinh tế tư nhân. Đồng thời mỗi một đề án về các chính sách kinh tế như chính sách thời vận, chính sách cơ cấu và chính sách xă hội cần bổ sung thêm nhiệm vụ làm hạn chế tính tự trị của kế hoạch hoá cá nhân (Gabler Wirtschaftslexikon – 12. Auflage s.302). Người ta cũng có thể hiểu Kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mà trong đó các kế hoạch và tổ chức sản xuất kinh doanh của từng đối tượng kinh tế đều hoạt động dựa trên nền tảng của việc tự do tạo lập giá cả và được điều tiết theo giá cả. Đó là một nền kinh tế hàng hoá trao đổi và tự do cạnh tranh, thi đua là thực sự cần thiết. Sự cạnh tranh đầy đủ trong nền kinh tế thị trường không chỉ điều tiết nền kinh tế cả theo chiều dọc và chiều ngang mà c̣n thường xuyên điều chỉnh các diễn biến kinh tế và kích thích tính hiệu quả của nền kinh tế. Hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường được thể hiện ở động cơ sản xuất và năng xuất, ở mức thu nhập quốc dân và mức sống xă hội cao cũng như các khả năng cung ứng tốt các hàng hoá và dịch vụ.

    Các chức năng trật tự, điều hành và điều phối cân bằng cần phải được đảm bảo nhằm chế ngự được tính độc quyền của sản xuất hàng hoá nhưng đồng thời cũng phải mang lại khả năng thịnh vượng chung cho toàn xă hội. Khái niệm về Kinh tế thị trường đến nay đă trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều góc độ nh́n nhận khác nhau. Nhưng dù sao th́ khi thiết lập các nguyên tắc hoạt động trong Luật kinh tế người ta cũng phải đảm bảo được tác động thực sự (thuần khiết) của sự cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, cũng đề cập đến những định mức chuẩn như thu hẹp tính độc quyền cá nhân, uốn nắn những lệch lạc, sai phạm hoặc ngăn cản sự cạnh tranh. Bên cạnh đó, Nhà nước với chính sách kinh tế của ḿnh cũng điều tiết và định hướng cho sự phát triển của hệ thống kinh tế thị trường. Tuy nhiên, các nguyên tắc này cũng không bảo hành cho các mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như đầy đủ việc làm, ổn định giá cả… Mặc dù nguyên tắc tự điều chỉnh nền kinh tế thông qua cạnh tranh là điều kiện rất cần thiết nhưng cũng cần phải được bổ sung trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô thông qua các biện pháp điều chỉnh tổng thể của Nhà nước.

    Thực ra trên thế giới hiện nay có nhiều mô h́nh kinh tế thị trường khác nhau, điều đó phụ thuộc vào sự thích ứng của từng nước đối với điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, kinh tế xă hội cũng như tập quán dân tộc mà lựa chọn một mô h́nh kinh tế thích hợp. Sẽ không bao giờ có một mô h́nh kinh tế thị trường khuôn mẫu thích hợp cho tất cả các nước hoặc dù chỉ điển h́nh cho một nhóm nước cùng thực hiện. ở đây phải kể ra một số mô h́nh kinh tế thị trường tiêu biểu như: kinh tế thị trường xă hội của Cộng ḥa liên bang Đức, kinh tế thị trường tự do tương đối của Mỹ, mô h́nh của Nhà nước thịnh vượng trong nền kinh tế thị trường của Thụy Điển, kinh tế thị trường xă hội xă hội chủ nghĩa của Trung Quốc, kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước ở Việt Nam… Trong phạm vi bài viết chúng tôi không đưa ra những ư kiến phân tích sự khác biệt cũng như những ưu, nhược điểm của từng mô h́nh kinh tế thị trường. Tuy nhiên, điều cần xem xét chung là khi tiến hành nền kinh tế thị trường người ta phải biết chấp nhận cả những bất lợi do hậu quả của nền kinh tế thị trường mang lại cho xă hội và ở mỗi nước khác nhau đều có cách nh́n nhận và giải quyết vấn đề này một cách khác nhau. Cụ thể là vấn đề thời vận kinh tế nhất là lúc suy thoái, nạn lạm phát và nạn thất nghiệp. Điều đó có nghĩa là không có sự bảo hành trên con đường tiến hành kinh tế thị trường. Do vậy, phải có các biện pháp mang tính bị động nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế những hậu quả xấu xẩy ra đối với xă hội cũng như đối với các tầng lớp dân cư “yếu” hơn trong xă hội. Và điều này được nh́n nhận một cách đơn giản là những công cụ nhằm mục đích bảo đảm xă hội, ổn định xă hội trong mọi t́nh huống – đây là một trong những nhiệm vụ chính của chính sách xă hội.

    Chúng ta có thể minh hoạ thêm về khái niệm kinh tế thị trường thông qua nền kinh tế thị trường xă hội của CHLB Đức và nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước ở Việt Nam để hiểu rơ thêm về bản chất nền kinh tế thị trường. ư tưởng xây dựng nền kinh tế thị trường xă hội được h́nh thành ở CHLB Đức từ những năm 50 (chính xác hơn là được xem xét đến từ sau chiến tranh thế giới thứ hai) trên cơ sở lựa chọn, khắc phục nhược điểm của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không thể kiểm tra được với nền kinh tế hành chính tập trung quan liêu. Nền kinh tế thị trường xă hội là khả năng của sự ḥa hợp giữa sự tự do về kinh tế với tư tưởng Nhà nước xă hội, tương tự như sự bảo đảm xă hội và sự b́nh đẳng cần đạt được. Trong nền kinh tế thị trường xă hội người ta luôn đặt ra mối quan hệ giữa thị trường và những người chịu trách nhiệm tích cực, các ông chủ doanh nghiệp và người lao động làm thuê, sự bảo đảm xă hội cũng như vai tṛ, trách nhiệm của Nhà nước. Điều đó được thể hiện ở chỗ: Sự tự do trên thị trường (cho các ông chủ doanh nghiệp) nối liền với sự bảo đảm xă hội xác định được (cho người lao động) trong đó nhiệm vụ của Nhà nước là xây dựng và thực hiện pháp luật theo hướng các chính sách tổng thể và chính sách quá tŕnh. Quá tŕnh hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường xă hội được đặt dưới sự cân nhắc về mặt xă hội. Diễn giải về từ “xă hội” thu hoạch được từ hệ thống “kinh tế thị trường xă hội” này là tất yếu v́ nó thực hiện trước hết cho sự phát triển kinh tế thông qua các khả năng, hiệu quả của nền kinh tế thị trường cạnh tranh có tổ chức, “Sự thịnh vượng cho tất cả” là có thể được và thứ hai là sự tự do kinh tế cho tất cả được tôn trọng. Con người trong hệ thống này một mặt là một cá nhân, sự tự do và đặc tính cá thể của nó được bảo vệ và khuyến khích. Mặt khác, về góc độ bản chất xă hội, con người được nối liền với nghĩa vụ và những ràng buộc của tự do trong xă hội.

    Nguyên tắc cao nhất của nền kinh tế thị trường xă hội là sự nối liền tự do trên thị trường với đ̣i hỏi cân bằng xă hội theo phương thức: Sự quyết định tự do của các chủ thể kinh tế (ngân sách của cá nhân hoặc ngân sách doanh nghiệp) về thị trường được bảo đảm đảm mà ở đó sự cố gắng đạt được một cách đồng đều về bảo đảm xă hội và sự thịnh vượng chung toàn xă hội.

    ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước đă thể hiện rơ sự phát triển của nền kinh tế thị trường nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh gắn liền sự phát triển của một xă hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều đó có nghĩa là sự tôn trọng, khuyến khích và sử dụng tối đa các đặc tính ưu việt của nền kinh tế thị trường có tổ chức, của các tổ chức kinh tế nhằm đáp ứng cho sự phát triển nhanh và mạnh nền kinh tế quốc dân. Và nhịp độ phát triển kinh tế này luôn được gắn chặt với sự phát triển con người và xă hội. V́ vậy, vai tṛ của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường mang đặc trưng riêng ở nước ta giữ vai tṛ hết sức quan trọng. Đặc điểm chung là nền kinh tế thị trường của nước ta được chuyển biến từ một nền kinh tế kế hoạch hóa hành chính tập trung. Trải qua 20 năm chuyển đổi, với sự điều chỉnh từng bước của Nhà nước đă không gây nên những biến động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xă hội cũng như đời sống của đại bộ phận người lao động và dân cư trong toàn xă hội. Trái lại, sự thành công của công cuộc chuyển đổi kinh tế đă mang lại bộ mặt mới cho đời sống xă hội cả nước. Thành công đó là do một mặt chúng ta từng bước áp dụng các yếu tố kinh tế thị trường vào từng ngành, từng khu vực; từng bước đa dạng hoá các thành phần kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh và b́nh đẳng của các thành phần kinh tế; chuyển đổi cơ cấu kinh tế; tạo ra các hành lang pháp lư cần thiết cho hoạt động thị trường đi đúng hướng, mặt khác Nhà nước ta rất coi trong công cụ điều tiết xă hội, sử dụng toàn diện các công cụ của chính sách xă hội như: xoá đói giảm nghèo, cho vay vốn ưu đăi để sản xuất kinh doanh; khuyến khích người lao động tự tạo việc làm và tăng thêm thu nhập; nâng cao chất lượng cung cấp cho các đối tượng hưởng ưu đăi xă hội; mở rộng diện đối tượng tham gia BHXH, đặc biệt là màng lưới BHYT; từng bước quan tâm đến vấn đề nhà ở cho mọi người dân…nhằm từng bước phấn đấu mang lại sự công bằng, b́nh đẳng cả về mặt chính trị, tinh thần lẫn đời sống kinh tế cho từng thành viên hay nhóm thành viên trong xă hội.

    Chính sách xă hội

    Không phải là không công bằng khi người ta không thể định nghĩa mang tính kỹ thuật về khái niệm “chính sách xă hội” nhằm thể hiện được chính xác ư nghĩa của nó. Chính sách xă hội là một khái niệm không mang tính hệ thống mà mang tính lịch sử. Nh́n chung, trong quá tŕnh lịch sử, trong sự chuyển đổi của các quan hệ về kinh tế và đời sống th́ các quan điểm về mục đích và nhiệm vụ của “chính sách xă hội” lại được thay đổi khác nhau. Mục đích của “chính sách xă hội” là nhằm để cải cách xă hội trong những thời điểm nhất định, cho một dân tộc nhất định trước những vấn đề nghiệt ngă hoặc nghiêm trọng của xă hội (Gabler Wirtschaftslexikon – 12. Auflage s. 1157).

    Với cách giải thích như vây th́ chúng ta cũng dễ hiểu về chính sách ưu đăi người có công với cách mạng hiện nay cũng là bộ phân hết sức quan trọng của hệ thống chính sách xă hội, nó phản ánh giai đoạn lịch sử nước ta đă trải qua các cuộc chiến tranh giành lại độc lập, tư do và hiện nay chúng ta vẫn phải đang giải quyết những hậu quả của cuộc chiến tranh đó.

    Đến nay, nếu theo phương thức định hướng tiếp cận vấn đề th́ “Chính sách xă hội” được hiểu là tất cả các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự xuất hiện những rủi ro xă hội, điều tiết cân bằng những rủi ro xă hội, bảo vệ và cải thiện mức thu nhâp, mức trợ cấp và mức sống của từng cá nhân riêng biệt hoặc từng nhóm người trong xă hội. Người ta cũng có thể hiểu :”Chính sách xă hội” theo đuổi các mục tiêu làm hạn chế các rủi ro xă hội, ngăn ngừa việc xẩy ra những hậu quả xấu cũng như ổn định và cải thiện cơ sở thu nhập, các khoản trợ cấp cũng như đời sống của các thành viên trong xă hội. Những biện pháp của “chính sách xă hội” sẽ được vận động dựa trên cơ sở các chính sách kinh tế của nền kinh tế thị trường (Sozialpolitik und Soziale Lage in Deutschland 3. Auflage s.21).

    Các rủi ro xă hội thường mang lại một cách ngẫu nhiên trong đó cũng có nguyên nhân do hậu quả của vấn đề dân số trên phạm vi rộng lớn của quốc gia. Từ sự nghèo đói, bệnh tật, tai nạn, mất việc làm, không nhà ở đă dẫn đến trước hết làm mất cân đối một cách thường xuyên đối với những nhóm dân cư, làm ảnh hưởng xấu đến t́nh trạng việc làm, nghề nghiệp, sức khoẻ, gia đ́nh và thu nhập và từ đó gây hậu họa cho xă hội. Trong một tổ chức xă hội của nền kinh tế thị trường h́nh thành một cách đồng bộ các yếu tố kinh tế – xă hội mang tính điều kiện. Các yếu tố này tạo nên cấu trúc cơ bản của xă hôi, nó sẽ có tác động mạnh mẽ đến các nguyên nhân, đến tính tích cực của các tác động và sự phân chia các rủi ro trên phạm vi rộng lớn cũng như làm hạn chế các khả năng tạo ra sự không công bằng về sự phân chia cũng như sự không công bằng về đời sống.

    Những nội dung của chính sách xă hội có thể bao gồm những lĩnh vực sau:

    Chính sách xă hội của Nhà nước bao gồm:

    1. Lĩnh vực đời sống lao động: Các chính sách trợ cấp xă hội như:

    – Chính sách bảo vệ người lao động;

    – Chính sách bảo hiểm xă hội;

    – Chính sách thị trường lao động;

    – Chính sách khuyến khích doanh nghiệp.

    2. Lĩnh vực định hướng cho từng nhóm người riêng biệt:

    – Chính sách xoá đói giảm nghèo;

    – Chính sách đối với người có công với cách mạng;

    – Chính sách gia đ́nh;

    – Chính sách thanh niên;

    – Chính sách trợ giúp người già;

    – Chính sách khuyến khích người lao động trong khu vực nông nghiệp, lao động thủ công, người tự hành nghề.

    3. Lĩnh vực khác:

    – Chính sách giáo dục;

    – Chính sách nhà ở.

    4. Các chính sách xă hội khác, đặc biệt là lĩnh vực các chính sách quan trọng:

    – Chính sách thi đua, cạnh tranh;

    – Chính sách bảo vệ tiêu dùng;

    – Chính sách môi trường;

    – Chính sách ổn định, đặc biệt là chính sách b́nh ổn giá cả.

    Chính sách xă hội của doanh nghiệp: ở các nước công nghiệp phát triển, người ta cũng rất coi trọng chính sách xă hội của từng doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp truyền thống lâu đời. ở các doanh nghiệp này, bên cạnh việc thực hiện đầy đủ các chính sách xă hội quốc gia họ c̣n bổ sung thêm nhiều quyền lợi cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp của ḿnh như: trợ cấp đào tạo và tuyển dụng con em họ sau này tiếp tục vào làm việc tại doanh nghiệp, tăng thêm tiền trợ cấp thôi việc, tăng thêm tiền hưu trí… từ quỹ phúc lợi của doanh nghiệp.

    Nhận rơ tác động của các chính sách xă hội, đặc biệt là chính sách xă hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa, bên cạnh việc coi trọng các chính sách xă hội quốc gia, Nhà nước ta cũng tham gia các chính sách xă hội quốc tế và khu vực cần thiết. ở đây phải kể đến Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979 và kư kết Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990. Ngày 24/6/2004, Chủ tịch nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam đă kư lệnh số 14/2004/L/CTN công bố Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

    Sự can thiệp của chính sách xă hội trong nền kinh tế thị trường

    Để hạn chế sự xuất hiện của các rủi ro xă hội cũng như điều tiết cân bằng hậu hoạ của các rủi ro. Chính sách xă hội sẽ can thiệp vào quá tŕnh kinh tế theo phương thức đa dạng. Tất nhiên các tác động của chính sách xă hội đến nền kinh tế thị trường luôn dẫn đến các mâu thuẫn và tranh chấp cơ bản v́ sự can thiệp của các chính sách xă hội một mặt được coi như là nguyên tắc chống đối lại cơ chế thị trường và theo cách tính toán lợi nhuận của các chủ doanh nghiệp th́ đó là các chi phí ngọai lai làm giảm bớt lợi nhuận. Nhưng mặt khác nó lại là các điều kiện cần thiết cho sự ổn định về kinh tế – xă hội và đồng thời đảm bảo cho các khả năng phát triển của toàn bộ hệ thống kinh tế.

    Sự can thiệp của chính sách xă hội vào quá tŕnh kinh tế được thể hiện đầy đủ ở các mặt sau:

    – Thông qua các quy định của luật pháp, nhất là các quy định về thị trường lao động và quan hệ lao động nhằm khuyến khích phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng trong phạm vi xă hội kiểm soát được, đồng thời ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt các hậu quả xấu của việc sản xuất kinh doanh gắn liền với quy mô của từng đơn vị kinh tế riêng (ví dụ như: điều kiện làm việc, tiền lương, lợi nhuận cho phép…).

    – Thông qua việc chi trả bằng tiền nhằm điều tiết bổ sung cho việc phân phối lại thu nhập từ những đối tác tham gia vào thị trường cũng như hiệu quả của thị trường nhằm loại trừ sự nghèo đói, giúp đỡ vượt qua những rủi ro làm mất mát thu nhập trong quá tŕnh làm việc cũng như xem xét đến việc bảo đảm những nhu cầu thiết yếu.

    – Thông qua các nguồn phúc lợi bằng hiện vật hoặc bằng tiền trong lĩnh vực sức khoẻ nói riêng và và lĩnh vực xă hội nói chung mà đảm bảo đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sống tối thiểu cho các thành viên trong xă hội và họ không phải chi trả cho những phúc lợi đó.

    – Tổ chức tài chính cho các hoạt động của chính sách xă hội, đây được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước. Các nguồn thu từ thuế và từ đóng góp nghĩa vụ căn cứ vào thu nhập trong quá tŕnh hoạt động kinh tế.

    Chính sách xă hội sẽ điều tiết việc phân phối lại trong nền sản xuất xă hội và can thiệp vào quá tŕnh kinh tế ngay từ khi h́nh thành, xuất hiện cũng như sử dụng các kết quả trong quá tŕnh phân phối đó. Mối quan hệ giữa sự sáng tạo các giá trị mới của nền kinh tế quốc dân với hệ thống chính sách xă hội không chỉ là tác động một chiều. Cả hai hệ thống này mang tính tác động tương hỗ lẫn nhau. Tác động của hệ thống bảo đảm xă hội (an sinh xă hội) sẽ đảm bảo đạt được các chuẩn mực về sản xuất, về thu nhập và về việc làm trong xă hội, trong khi đó th́ hệ thống cơ cấu kinh tế tác động ngược trở lại đến hệ thống chính sách xă hội. Khi đánh giá về tác động hai chiều này, tới nay vẫn c̣n nhiều ư kiến tranh luận trái ngược nhau: Một mặt người ta cho rằng: phát triển hệ thống bảo đảm xă hội theo sự tăng trưởng kinh tế và việc làm sẽ bị yếu đi và là những nguyên nhân riêng biệt gây thiệt hại cho sự tăng trưởng, làm hạn chế khả năng cạnh tranh quốc tế và khu vực, đồng thời kéo dài nạn thất nghiệp. Nhưng mặt khác người ta lại cho rằng Nhà nước sẽ bảo đảm về sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo việc làm, tạo ra những điều kiện không thể thiếu được trong việc kết nối giữa hiệu quả nền kinh tế thị trường với sự điều tiết công bằng xă hội, đồng thời nền kinh tế sẽ thường xuyên chịu gánh nặng khi bỏ qua việc kết hợp giữa các chính sách kinh tế và chính sách việc làm. Đây là “khoảng trống” để tùy theo đặc trưng của từng loại h́nh kinh tế thị trường, tùy giai đoạn kinh tế – xă hội nhất định cũng như tuỳ thuộc vào vai tṛ điều tiết của Nhà nước ở mỗi quốc gia riêng biệt mà đưa ra các chính sách nhất định hoặc biết coi trọng những chính sách nào. Đồng thời, đó cũng phản ánh đặc trưng của yếu tố xă hội thể hiện theo từng loại h́nh kinh tế thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Xã Hội (Social Economics) Là Gì? Ví Dụ Về Nghiên Cứu Của Kinh Tế Xã Hội
  • Chuẩn Mực Kế Toán Số 29 : Thay Đổi Chính Sách Kế Toán, Ước Tính Kế Toán Và Các Sai Sót
  • Yếu Tố Kinh Tế Vĩ Mô (Macroeconomic Factor) Là Gì? Yếu Tố Kinh Tế Vĩ Mô Trong Kinh Tế Học
  • Chính Sách Tiền Tệ Trong Nền Kinh Tế Vĩ Mô
  • Chính Sách Kinh Tế Vĩ Mô (Macroeconomic Policy) Là Gì?
  • Cơ Chế Thị Trường, Kinh Tế Thị Trường Và Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Chế Thị Trường (Market Mechanism) Là Gì?
  • Khái Niệm Và Nội Dung Cơ Chế Thị Trường
  • Làm Kế Toán: Các Khái Niệm Chung Về Thị Trường Tài Chính Và Thị Trường Tiền Tệ
  • Khái Niệm Chung Về Tiền Lương
  • Thị Trường Là Gì? Marketing Là Gì? Phương Pháp Tính Thị Phần
  • Có rất khái niệm khác nhau về thị trường, chúng ta có thể hiểu thị trường theo 2 nghĩa như sau:

    Thị trường theo nghĩa hẹp: là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ

    Thị trường theo nghĩa rộng: là tổng hợp các quan hệ kinh tế được tạo thành trong quá trình trao đổi mua bán.

    Thứ hai, các yếu tố cơ bản của thị trường:

    Gồm các yếu tố: hàng hóa; tiền tệ; người bán; người mua; giá cả

    Thứ ba, các loại thị trường: thị trường hàng hóa, dịch vụ; thị trường các yếu tố sản xuất; thị trường tài chính( tiền tệ và chứng khoán..); thị trường lao động; thị trường bất động sản; thị trường khoa học công nghệ.

    Cơ chế thị trường

    Khái niệm Cơ chế TT: là sự tác động mà ở đó cá nhân người tiêu dùng và nhà sản xuất tác động qua lại lẫn nhau để giải quyết 3 vấn đề cơ bản đó là sản xuất cá gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào

    Người tiêu dùng sẽ quyết định: chất lượng hàng hóa; cơ cấu hàng hóa;chất lượng hàng hóa

    Người sản xuất quyết định: Chi phí sản xuất; khả năng sản xuất

    Ưu thế: kích thích tính năng động, sáng tạo của các chủ thể; kích thích LLSX phát triển; thúc đẩy tăng trường kinh tế, tuyển chọn bồi dưỡng các nhà sx , kinh doanh và quản lý…

    Khuyết tật: sự điều tiết các quan hệ KT-XH mang tính tự phát; do lợi nhuận mà làm giảm đạo lý, tình người; phân hóa giàu nghèo; khía thác kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên; tệ nạn xã hội gia tăng….

    Kinh tế thị trường

    Kinh tế thị trường là là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra là để bán trên thị trường.Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng, sản xuất như thế nàovà cho ai đều thông việc mua bán,thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định.

    Đặc trưng của nền kinh tế thị trường

    Các chủ thể sản xuất được tự do theo đuổi lợi ích chính đáng của mình

    Chỉ bán thứ mà thị trường cần không phải bán cái mình có

    Trong KTTT có 2 chủ thể đó là: Người tiêu dùng; và người sản xuất

    Tiền tệ hóa các quan hệ kinh tế

    Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

    Theo Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu ” dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh “.

    Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

    Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Nền Kinh Tế Thị Trường Là Gì?
  • Một Số Vấn Đề Về Thể Chế Kinh Tế Việt Nam
  • Xây Dựng Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Việt Nam
  • Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Thể Chế Kinh Tế (Economic Institutions) Là Gì? Nội Dung
  • Kinh Tế Thị Trường Là Gì ? Quy Định Chung Về Kinh Tế Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Thị Trường Là Gì? Ưu Điểm, Hạn Chế Của Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Thực Tiễn Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn Ở Nước Ta
  • Nhận Thức Của Đảng Về Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Kinh Tế Thị Trường Có Thể Đi Cùng Định Hướng Xhcn?
  • Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Qua Các Văn Kiện Của Đảng Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà ở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình sở hữu cùng tham gia, cùng vận động và phát triển trong một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và ổn định.

    Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế thị trường. Theo Xmit (Adam Smith), với lí thuyết “bàn tay vô hình” thì nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự điều tiết, vận động theo quy luật của thị trường, hầu như không có sự can thiệp của Nhà nước. Kinh tế thị trường được hiểu dưới góc độ khác là có sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước “bàn tay hữu hình” mà đại diện cho thuyết này là Kâynơ (J. M. Keynes) với “Lí thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”.

    Ở Việt Nam, xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được đặt ra từ Đại hội lần thứ VỊ Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 4986), được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Từ việc phát triển kinh tế trong cơ chế cũ – cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp trước đây với hai thành phần kinh tế là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể (kinh tế tư bản, tư nhân không được thừa nhận), đến nay, trong nền kinh tế Việt nam đã có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển với những hình thức sở hữu khác nhau, trong đó, đáng chú ý là sự hiện diện của thành phần tư bản nước ngoài đang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Nhà nước Việt Nam khuyến khích và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, chính sách để các thành phần ` kinh tế cùng có cơ hội phát triển trong một môi š trường cạnh tranh lành mạnh.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Của Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Khái Niệm Làm Chủ Cảm Xúc Dành Cho Các Teen
  • #1 Khái Niệm Của Xúc Cảm Và Tình Cảm
  • Góc Nhìn Tâm Lý Học Về Trí Tuệ Cảm Xúc (Phần 1)
  • Định Nghĩa Và Phân Loại Cảm Xúc
  • Làm Rõ Khái Niệm “kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Mới Về Kinh Tế Thị Trường Xhcn
  • Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Thời Kỳ Quá Độ Lên Cnxh Ở Việt Nam
  • Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội: Lý Luận Của Chủ Nghĩa Mác
  • Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Việt Nam
  • Xây dựng thể chế kinh tế thị trường là vấn đề từng được tranh luận đôi khi đến mức nảy lửa, cả trong hội trường và bên lề nhiều diễn đàn của Ủy ban Kinh tế Quốc hội.

    Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), TS. Nguyễn Đình Cung là một trong số các chuyên gia quyết liệt bảo vệ quan điểm “không chuyển sang kinh tế thị trường thì không giải quyết được gì cả”.

    Lần này, ở báo cáo nghiên cứu dài tới trên 50 trang gửi đến Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2022, diễn ra trong hai ngày 21 và 22/4, ông Cung đặt vấn đề đổi mới khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Đổi mới tư duy và tháo bỏ nút thắt thể chế để chuyển mạnh nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại là tên của nghiên cứu này.

    Tại đây, Viện trưởng CIEM đã phân tích cặn kẽ về các loại kinh tế thị trường, cũng như một số điểm nghẽn hay nút thắt thể chế ngăn cản chuyển đổi mạnh mẽ sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

    Ông Cung khái quát, hiện đang tồn tại hàng loạt các nút thắt thể chế ngăn cản hoặc làm chậm lại tiến trình cải cách kinh tế đang dang dở ở Việt Nam. Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình ngay khi mức thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp.

    Nguyên nhân của các nút thắt nói trên, theo TS. Nguyễn Đình Cung, lại nằm ở phía Nhà nước.

    “Có thế nói, cải cách 30 năm qua ở Việt Nam mới chủ yếu tập trung vào giảm và thu hẹp vai trò và chức năng của Nhà nước, mà chưa có đổi mới căn bản cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước; chưa thay đổi cơ bản tư duy về kinh tế thị trường, về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường”, Viện trưởng CIEM đúc kết.

    Kiến nghị đầu tiên của chuyên gia này về cải cách thể chế, là đổi mới nhận thức và làm rõ nội hàm của một số khái niệm cơ bản của quá trình cải cách tiếp theo. Mà xếp hàng đầu, theo ông, chính là khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Vị chuyên gia này cho rằng, thực tế nói trên đang trở thành rào cản lớn, chưa thể vượt qua đối với đổi mới nói riêng, và phát triển quốc gia nói chung.

    Theo tinh thần đó, ông Cung đề xuất đổi mới khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” như sau:

    “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, trong đó, Nhà nước và thị trường là hai yếu tố không thể thiếu, phối hợp, cộng sinh và bổ sung cho nhau hướng đến thị trường hoàn hảo”.

    “Thị trường hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả không thể thiếu được một Nhà nước mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trước hết là xây dựng và hoàn thiện thể chế cho một nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ”.

    Trên cơ sở kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ, định hướng xã hội chủ nghĩa được bảo đảm bằng điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa theo hướng tăng trưởng bao dung, công bằng; phân phối lại thu nhập và tổ chức cung ứng dịch vụ công theo hướng Nhà nước phúc lợi ngày càng nhiều hơn tùy phụ thuộc vào giai đoạn và trình độ phát triển; và phát triển hệ thống an sinh xã hội hướng mạnh tới các nhóm yếu thế trong xã hội”.

    Nói rõ là đề xuất này có khác so với nội hàm đang sử dụng hiện nay và khác với một số đề xuất khác trên một số điểm, ông Cung viết tiếp:

    “Ví dụ, Đại hội 11 của Đảng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt bới các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”.

    “Chính cách hiểu cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường được tạo dựng và quản lý bởi Nhà nước đã tạo ra cách hiểu sai lệch về vai trò của Nhà nước; đồng thời, tạo cơ sở lý luận và dư địa cho can thiệp quá mức, không phù hợp của Nhà nước; làm cho thị trường sai lệch và méo mó, không thực hiện được đúng và đầy đủ chức năng của mình trong nền kinh tế”.

    Theo ông Cung, nền kinh tế thị trường mà Việt Nam hướng đến phải là nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại tương tự như kinh tế thị trường tại các nước thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).

    “Hiện vẫn còn khoảng chênh lệch rất lớn về trình độ phát triển của thị trường của nền kinh tế Việt Nam so với nền kinh tế của các quốc gia nói trên và có sự khác biệt trước hết về tư duy và quan niệm. Ở Việt Nam, quan điểm chính thống vẫn chưa tin vào thị trường và kinh tế thị trường”, tác giả báo cáo nghiên cứu viết tiếp.

    Cho rằng làn sóng đổi mới lần hai đã trở nên rất cần thiết, Viện trưởng CIEM cũng nhấn mạnh, đổi mới lần hai khó khăn hơn bội phần so với đổi mới lần thứ nhất, cách đây 30 năm.

    Song, “tuy khó khăn và đầy thách thức, nhưng đổi mới lần hai đã trở thành mệnh lệnh, không thể không làm”, tác giả khép lại báo cáo nghiên cứu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiến Pháp Là Gì? Đặc Điểm Của Hiến Pháp
  • So Sánh (Phân Biệt) Hiến Pháp Xhcn Và Hiến Pháp Tư Sản
  • Nên Hiểu Thế Nào Về Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa?
  • Bàn Về Vai Trò Của Đảng Trong Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Cần Làm Rõ Khái Niệm “định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100