Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Tập Trung Dân Chủ, Nguyên Tắc Tổ Chức Cơ Bản Giúp Đảng Cộng Sản Loại Bỏ Mọi Khuynh Hướng Của Chủ Nghĩa Cơ Hội
  • Bài Giảng Về Tập Trung Dân Chủ 2
  • Ý Nghĩa Của Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Là Gì?
  • Hiểm Họa Từ Chủ Nghĩa Dân Túy Trong Bối Cảnh Thế Giới Hiện Nay
  • Nguyên tắc tập trung dân chủ là gì?

    Nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng, trong công tác cán bộ, đảm bao cho đảng trở thành một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, đoàn kết cả về ý chí và hành động, trên cơ sở đó trí tuệ của toàn Đảng sẽ được phát huy một cách tối đa.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ mang bản chất là mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ và cũng là một thể thống nhất giữa tập trung và dân chủ.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ mang ý nghĩa như sau:

    – Tập trung được sức mạnh, thống nhất ý chí và hành động của Đảng. Là điều kiện cần thiết cho hoạt động, tồn tạo và phát triển của Đảng.

    – Ý nghĩa về mặt dân chủ:

    + Phát huy quyền làm chủ tập thể của cán bộ, đảng viên.

    + Là điều kiện rèn luyện, giáo dục đảng viên, phát huy trí tuệ, nguồn lực của Nhà nước.

    + Đảng viên được quyền làm chủ nhưng giới hạn trong phạm vi tổ chức.

    Nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ

    Sau khi hiểu rõ nguyên tắc tập trung dân chủ là gì? thì nội dung này, chúng tôi sẽ đưa ra các nội dung của nguyên tắc. Cụ thể, căn cứ theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011, nguyên tắc tập trung dân chủ bao gồm các nội dung như sau:

    – Các cơ quan lãnh đạo của Đảng được lập ra theo cơ chế bầu cử, thực hiện tập thể lãnh đạo và cá nhân tự chịu trách nhiệm.

    – Lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc, ở mỗi cấp là đại hội đại biểu/ đại hộ đảng viên. Thời điểm giữa các kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo Đảng là Ban Chấp hành trung ương, ở cơ sở là ban chấp hành đảng bộ (cấp ủy).

    – Cấp ủy các cấp báo cáo, chịu trách nhiệm trực tiếp về hoạt động của mình trước các kỳ đại hội cùng cấp, cấp trên và cấp dưới; phải định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.

    – Tổ chức đảng, đảng viên phải nghiêm túc chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.

    Các nghị quyết của cơ quan lãnh đạo của đảng sẽ có giá trị thi hành chỉ khi có trên 50% thành viên trong cơ quan đó đồng tình. Mỗi cá nhân có quyền được biểu quyết trước khi biểu quyết. Nếu đảng viên có ý kiến thuộc về phía thiểu số thì được phép bảo lưu ý kiến và báo cáo lên cấp trên, nhưng vẫn phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết. cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu, xem xét ý kiến đó và không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.

    – Tổ chức đảng được quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình nhưng không được trái với những nguyên tắc, đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước

    Giải pháp thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

    Nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện qua 02 mặt là tập trung và dân chủ nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng theo chiều hướng tập trung, đoàn kết, thống nhất và chặt chẽ. Và để thực hiện tốt nguyên tắc này cần phải:

    – Nâng cao trình độ, nhận thực cho đản viên hành động đúng theo nguyên tắc.

    – Đưa ra những chế định cụ thể về thực hiện nguyên tắc này.

    – Tăng cường hoạt động thanh, kiểm tra, giữ gìn kỷ luật trong đảng.

    – Phát huy dân chủ rộng rãi trong tổ chức đảng và nhân dân.

    – Nâng cao chất lượng sinh hoạt các cấp đảng, nâng cao vai trò của bí thư.

    – Thiết lập thông tin nhanh chóng, chính xác trong toàn đảng.

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

    1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Dân Sự
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Thành Phần Của Quan Hệ Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự
  • Khái Niệm, Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Dân Sự Việt Nam
  • Khái Niệm Giao Dịch Dân Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Nay
  • Dấu Chấm Hết Cho Chủ Nghĩa Thực Dân Cũ
  • Dân Chủ Là Gì ? Khái Niệm Về Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Khái Niệm Dân Chủ, Pháp Quyền, Cộng Hòa Và Xã Hội: Lý Thuyết Và Thực Tế
  • Thế Nào Là “dân Chủ”, “chế Độ Dân Chủ”, “nền Dân Chủ” Và “nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa”? Hãy Nêu Khái Quát Tính Tất Yếu Của Việc Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Tiến Trình Cách Mạng Xã Hộ
  • 14 Định Nghĩa Về Dân Chủ
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Dân Chủ Cơ Sở Và Vai Trò Của Dân Chủ Cơ Sở
  • Evfta: Hành Trình 16 Năm Từ Ý Tưởng Đến Hiện Thực
  • Dân chủ là cách nói tắt về chế độ dân chủ hoặc quyền dân chủ.

    Chế độ dân chủ là chế độ chính trị, trong đó, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện do nhân dân bầu ra.

    Chế độ dân chủ đã được thành lập rất sớm từ thời chiếm hữu nô lệ ở nhà nước Cộng hoà Aphina. đánh giá sự phát triển tiến bộ trong lịch sử xã hồ loài người, nhằm chống lại chế độ nô lệ, chế để quân chủ, mà thực chất là một người độc đoán quyết định tất cả mọi vấn đề của đất nước. Ở Cộng hoà Aphina, vai trò chủ yếu trong quản lí nhà nước thuộc Hội nghị quốc dân được lập để giải quyết tất cả các vấn đề chính sách đối nội và đối ngoại của đất nước. Tất cả những người có chức trách trong nhà nước Aphina đều được dân bầu ra và được thay đổi, bãi miễn nhiệm theo nguyên tắc đa số. Tất cả nam công dân Aphina từ đủ 20 tuổi trở lên đều được quyền tham gia Hội nghị quốc dân. Phụ nữ, người nước ngoài, những nô lệ được giải phóng và nô lệ không được phép hưởng các quyền chính trị tại nhà nước Aphina. Do vậy, chế độ dân chủ cộng hoà ở Aphina là chế độ dân chủ chiếm hữu nô lệ của thiểu số.

    Dân chủ tư sản ra đời cùng với thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản ở các nước châu Âu. Dân chủ tư sản đã đưa lại sự tiến bộ lớn lao so với chế độ chuyên chế phong kiến trước đó. Lênin khẳng định: “Cộng hoà tư sản, nghị viện, phổ thông đầu phiếu đó là sự tiến bộ lớn lao xét từ quan điểm phát triển xã hội trên phạm vi toàn cầu”, “Nếu không có chế độ nghị viện, không có chế độ bầu cử… Chắc sự phát triển của giai cấp công nhân không thể Có được”.

    Tuy có vai trò lớn như vậy nhưng dân chủ tư sản vẫn là hình thức thống trị chính trị của giai cấp tư sản, là chế độ dân chủ hình thức, bị cắt xén, chế độ dân chủ dành cho thiểu số. Còn đa số nhân dân lao động nghèo khổ thì bị hạn chế trong thực thi các quyền dân chủ đã được tuyên bố trong các hiến pháp tư sản. Nhiều chế định của dân chủ tư sản, trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đã bị hạn chế và bị xoá bỏ. Chế độ đế quốc chủ nghĩa, chế độ độc tài phát xít chuyên chế đã tạo lập đường lối chính trị gây chiến, nô dịch các nước kém phát triển và đàn áp phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước trên thế giới cũng như phong trào của quần chúng lao động và giai cấp công nhân trong nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được xác lập ở các nước đã hoàn thành cảch mạng dân tộc dân chủ và bắt đầu tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa là quyền dân chủ của công dân không ngừng được được mở rộng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, xã hội thông qua hệ thống cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội và tổ chức xã hội với sự tham gia tích cực vào hoạt động chính trị hàng ngày của đông đảo quần chúng nhận dân lao động. Mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa là xoá bỏ chế độ người bóc lột người, tạo ra ngày càng nhiều hơn các điều kiện thuận lợi để thực hiện triệt để công bằng xã hội, dân chủ, văn minh, công lí cho mọi người, bình đẳng thực sự giữa nam và nữ, giữa các dân tộc, tạo cơ hội cho mọi người dân hạnh phúc thông qua việc thừa nhận và khẳng định các quyền dân chủ đó một cách chính thức trong hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật, đặt ra các bảo đảm vật chất và tinh thần để thực hiện các quyền đó và không ngừng mở rộng các quyền dân chủ; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với Nhà nước và xã hội, phát huy không ngừng quyền làm chủ của nhân dân lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tín Hiệu Là Gì?1.khái Niệm Về Thông Tin, Dữ Liệu, Tín Hiệu..
  • Lý Thuyết: Và Dữ Liệu
  • Bài Trả Lời Cho Ai Hỏi: Diễn Biến Hòa Bình Là Gì, Tại Sao Phải Chống? (*)
  • Chiến Lược Diễn Biến Hòa Bình Là Gì?
  • Khái Niệm Chiến Lược “diễn Biến Hòa Bình” Của Các Thế Lực Thù Địch
  • 【Havip】Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Công Tác Tổ Chức, Cán Bộ Của Đảng
  • Về Chủ Nghĩa Dân Túy Và Đấu Tranh Ngăn Ngừa Những Biểu Hiện Của Nó Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Và Lý Thuyết Mị Dân
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Và Phòng, Chống Những Biểu Hiện Của Chủ Nghĩa Dân Túy Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Tộc Việt Nam
  • Nguyên tắc tập trung dân chủ xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa; xuất phát từ thực tiến việc tổ chức và vận hành quyền lực Nhà nước.

     

    1. Nguyên tắc tập trung dân chủ là gì?

     

    Hoặc

    Có thể giải thích ngắn gọn là nguyên tắc quy định mọi công việc của Đảng đều phải được toàn thể đảng viên bàn bạc một cách hoàn toàn dân chủ, rồi tập trung mọi ý chí và hành động của từng đảng bộ cho tới đảng viên trong toàn Đảng vào các trung tâm lãnh đạo của từng cấp.

    Theo Hồ Chí Minh:

    Dân chủ là tất cả đảng viên đều được tự do bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề trong sinh hoạt đảng để góp phần thống nhất về quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo, chỉ đạo; để xây dựng nghị quyết, đưa được nghị quyết vào cuộc sống.

    Tập trung thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động. Biểu hiện của tập trung là thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên.

    Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung.

     

    2. Nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ

    Trên bình diện toàn bộ bộ máy nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện ở một số nội dung cơ bản như:

    • Toàn bộ các cơ quan nhà nước phải có một trung tâm quyền lực chỉ đạo một cách mạnh mẽ và thống nhất, mỗi cơ quan nhà nước đều có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định. Ở nước CHXHCNVN, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp;

    • Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải do nhân dân bầu ra theo bốn nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trên cơ sở dân chủ. Các đại biểu dân cử thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, nói lên tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Nếu không còn được sự tín nhiệm của nhân dân thì đại biểu dân cử có thể bị bãi nhiệm;

    • Trên cơ sở qui định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và căn cứ vào đặc điểm, tình hình, lợi ích hợp lý của điạ phương (và cấp dưới), các cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) có quyền quyết định đối với địa phương (và cấp dưới). Các cơ quan nhà nước địa phương (và cấp dưới) có quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước trung ương (và cấp trên) hoặc những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa phương hoặc đơn vị mình, nhưng không được trái với các qui định của trung ương (và cấp trên );

    • Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải phân định những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của người đứng đầu. Những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục tùng đa số nhưng thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến, đa số cũng cần xem xét, tham khảo ý kiến của thiểu số để kiểm tra tính đúng đắn trong quyết định của mình. Những vấn đề cá nhân có quyền quyết định thì cá nhân phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình;

    • ….

    Theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, đảm bảo nguyên tắc tập trung chủ là vấn đề sống còn của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể:

    •  Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách;

    • Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ);

    • Cấp uỷ các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp uỷ cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình;

    • Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương;

    • Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số;

    • Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên;

    Link bài viết: https://havip.com.vn/nguyen-tac-tap-trung-dan-chu-la-gi/

    Link trang chủ: https://havip.com.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Dân Chủ Trong Đảng Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Sự Khác Nhau Giữa Chủ Nghĩa Thực Dân Kiểu Mới Và Chủ Nghĩa Thực Dân Kiểu Cũ
  • Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Pháp Luật Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Việt Nam
  • Bảo Hiến, Chủ Nghĩa Lập Hiến Và Nhà Nước Pháp Quyền
  • Nhận Thức Về Dân Chủ Và Quá Trình Dân Chủ Hóa Ở Việt Nam Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Bài Giảng Về Tập Trung Dân Chủ 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Là Gì?
  • Hiểm Họa Từ Chủ Nghĩa Dân Túy Trong Bối Cảnh Thế Giới Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Túy: Những Nội Hàm Đương Đại
  • Nhận Diện Chủ Nghĩa Dân Túy Trong Bối Cảnh Thế Giới Hiện Nay
  • , Working at Đại học Công nghiệp TP. HCM

    Published on

    Bài giảng về tập trung dân chủ 2

    Nền DC XHCN là MỘT HÌNH THỨC CAO NHẤT CỦA CỦA NỀN DÂN CHỦ, MỘT NỀN DÂN CHỦ THỰC SỰ CHO ĐẠI ĐA SỐ NHÂN DÂN, CO QUẦN CHÚNG LAO ĐỘNG RỘNG RÃI

    1. 1. TẬP TRUNG DÂN CHỦTẬP TRUNG DÂN CHỦ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨCNGUYÊN TẮC TỔ CHỨC CCƠƠ BẢN CỦA ĐẢNGBẢN CỦA ĐẢNG
    2. 2. – Nhận thức vị trí, nội dung, bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. – Chấp hành, vận dụng xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh. – Kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ – nguyên tắc hiện nay.
    3. 3. – Chương II – Điều lệ Đảng , khóa XI. – Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Lần thứ XI. – Giáo trình Trung cấp Lý luận – Hành chính – phần “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lý luận cơ bản về Đảng Cộng sản” – Bài 8 – Tr 230-252 – NXB CT – HC – 2009.
    4. 4. I. Một số vấn đề cơ bản về nguyên tắc tập trung dân chủ II. Quán triệt, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng
    5. 5. 1. Quá trình hình thành:1. Quá trình hình thành: 55 Mac – Anghen Lê – Nin Hồ Chí Minh Nguyên tắc Tổ chức cơ bản của đảng Nguyên tắc Đảng kiểu mới Điều lệ liên đoàn những người cộng sản Nguyên tắc tập trung dân chủ I. Một số vấn đề cơ bản về nguyên tắc tập trung dân chủ:
    6. 6.  Nếu không tập trung, không dân chủNếu không tập trung, không dân chủ thìthì sẽ xảy ra điều gì?sẽ xảy ra điều gì?  Nếu tập trung mà không dân chủ thì sẽNếu tập trung mà không dân chủ thì sẽ xảy ra điều gì?xảy ra điều gì?  Nếu dân chủ mà không tập trung thì sẽNếu dân chủ mà không tập trung thì sẽ xảy ra điều gì?xảy ra điều gì?  Nếu vừa tập trung, vừa dân chủ thì sẽNếu vừa tập trung, vừa dân chủ thì sẽ xảy ra điều gì?xảy ra điều gì? Mời bạn phát biểu!Mời bạn phát biểu!
    7. 7. 7 Những căn cứ để xác định nguyên tắc tập trung dân chủ? Tại sao nói tập trung dân chủ là khoa học về tổ chức? Mục đích của nguyên tắc tập trung dân chủ? Ý nghĩa thực tiễn của nguyên tắc TTDC? 2. Vị trí của nguyên tắc TTDC
    8. 8. 8 – Là một phần cấu thành của lý luận Mác-Lênin về chính đảng của giai cấp công nhân. – Nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của Lênin; tiêu chuẩn, thước đo của Đảng cách mạng chân chính. – Chi phối, chỉ đạo nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng và giải quyết các mối quan hệ trong Đảng. – Căn cứ xây dựng tổ chức, hoạt động của Đảng. – Cơ sở giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. – Vận dụng vào quản lý xã hội, kinh tế. – Khi Đảng cầm quyền, nguyên tắc TTDC phát huy tác dụng trong cả hệ thống chính trị. – Phát huy tính tích cực sáng tạo, bảo đảm thống nhất ý chí và hành động của tổ chức Đảng và đảng viên – Cơ sở xây dựng đoàn kết trong Đảng; nội dung xây dựng, kiện toàn tổ chức đảng hiện nay. – Là một trong những vấn đề kiên định trong quá trình đổi mới đất nước – Là một trong những nguyên nhân tan rã của các Đảng cộng sản Đông Âu – Liên Xô. – Đảng ta kiên trì thực hiện nguyên tắc TTDC, nhờ đó mà đứng vững trước mọi thử thách phức tạp và gay gắt. – Phát huy dân chủ, tránh tập trung quan liêu. -Kẻ thù tập trung tấn công vào nguyên tắc TTDC, làm suy yếu Đảng từ bên trong.
    9. 9. 9 – Cơ quan lãnh đạo các cấp của đảng do bầu cử lập ra,thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. 1. – Cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng là Đại hội ĐBTQ. – Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là ĐHĐB hoặc đại hội đảng viên. – Giữa 2 kì đại hôi, cơ quan lãnh đạo của đảng là BCHTW, ở mỗi cấp là BCH đảng bộ, chi bộ (cấp ủy). 2 3. Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ: 4 Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của đảng . Thiểu số phục tùng đa số; cấp dưới phục tùng cấp trên;cá nhân phục tùng tổ chức; các tổ chức trong toàn đảng phục tùng ĐHĐBTQ,BCHTW. Cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt dộng của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới. Định kì thông báo của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc. Thực hiện tự phê bình và phê bình. 3
    10. 10. Nghị quyết của các cNghị quyết của các cơơ quan lãnhquan lãnh đđạo củaạo của đđảng chỉảng chỉ có giá trị thi hành khi:có giá trị thi hành khi: – Có h- Có hơơn một nửa số thành viên trong cn một nửa số thành viên trong cơơ quanquan đđó tánó tán thành .thành . – Tr- Trưước khi biểu quyết mỗi thành viênớc khi biểu quyết mỗi thành viên đưđược phát Biểu ý kiếnợc phát Biểu ý kiến của mình.của mình. – Đảng viên có ý kiến thuộc về tiểu số- Đảng viên có ý kiến thuộc về tiểu số đưđược quyền bảo lợc quyền bảo lưưu vàu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên chobáo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đđến ĐHĐBTQ,song phảiến ĐHĐBTQ,song phải chấp hành nghiêm chỉnh NQ.chấp hành nghiêm chỉnh NQ. – Không- Không đưđược truyền bá ý kiến trái với NQ củaợc truyền bá ý kiến trái với NQ của đđảng .ảng . – Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến- Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiếnđđó;ó; không phân biệtkhông phân biệt đđối xửối xử đđảng viên có ý kiến thuộc về thiểuảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.số. 5 Tổ chức Đảng nghị quyết các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước và nghị quyết của cấp trên. 6
    11. 11. Tập trung dân chủ có 2 mặt Dân chủ: – Cơ quan lãnh đạo do bầu cử . – Hoạt động theo nguyên tắc: tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. – Tự phê và phê bình. – Quyền bảo lưu ý kiến . Tập trung: – Kỷ luật nghiêm minh. – Phục tùng ý chí, nghị quyết của đa số. – Cấp dưới chấp hành cấp trên. Đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng: Tập trung, đoàn kết, thống nhất, chặt chẽ
    12. 12. Là s liên minh t nguy nự ự ệ c a nh ng ng i c ng s nủ ữ ườ ộ ả thành t ch c, có s lãnh đ oổ ứ ự ạ th ng nh t, ý chí, hành đ ng vàố ấ ộ k lu t th ng nh t.ỷ ậ ố ấ
    13. 13. TẬP TRUNG TRONG ĐẢNG LÀ SỰ THỐNG NHẤT Ý CHÍ, HÀNH ĐỘNG TRÊN CƠ SỞ CHUNG THỐNG NHẤT CƯƠNG LĨNH ĐIỀU LỆ MỤC TIÊU ĐƯỜNG LỐI TRUNG TÂM LÃNH ĐẠO HỆ THỐNG TỔ CHỨC
    14. 14. DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG Lãnh đạo tập thể Quyền của đảng viên (trực tiếp, gián tiếp) Sự bình đẳng giữa các đảng viên Tự phê bình và phê bình Các cơ quan lãnh đạo được bầu cử lập ra
    15. 15. Daân chuû: – Th c ch t là phát huyự ấ quy n làm ch t p thề ủ ậ ể c a đ ng viên.ủ ả – Là đi u ki n rèn luy n,ề ệ ệ giáo d c đ ng viên.ụ ả – Laø ñieàu kieän phaùt huy trí tueä, nguoàn löïc cuûa Ñaûng. – Quy n làm ch c a đ ngề ủ ủ ả viên nh ng ph i trongư ả ph m vi t ch cạ ổ ứ Taäp trung: – S c m nhứ ạ th ng nh t ýố ấ chí và hành đ ng c aộ ủ Đ ng.ả – Là đi uề ki n c nệ ầ thi t cho sế ự ho t đ ng,ạ ộ t n t i, phátồ ạ tri n c aể ủ Ý nghĩa:
    16. 16. Câu hỏi: Anh (Chị) cho biết những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Điều lệ Đảng. Nội dung nào thể hiện sự tập trung, nội dung nào thể hiện dân chủ?
    17. 17. 4. Bản chất của nguyên tắc TTDC: Mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ Là một thể thống nhất không tách rời giữa tập trung và dân chủ Bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ là:
    18. 18. 4.1. Tính thống nhất: Tập Trung Dân chủ Hai khái niệm có nội hàm riêng, nhưng cùng tồn tại trong chỉnh thể thống nhất Không tách TT- DC Không đối lập TT- DC Không tuyệt đối hóa mặt nào Phải được coi trọng như nhau Sự kết hợp hài hòa, sự thống nhất biện chứng, TT cần DC như một tất yếu và ngược lại
    19. 19. Dân chủ Tập trung 4.2. Mối quan hệ tác động: – Điều kiện, tiền đề – Chịu sự lãnh đạo – Có trước – Cơ sở, đảm bảo – Trên cơ sở – Kết quả
    20. 20. * Lý luận: – DC mang tính mục đích rõ ràng. – Bàn thảo phải đi đến thống nhất ý chí. – Có biểu quyết, có NQ. – Thống nhất hành động đi đến mục tiêu. – Khác với DC trong câu lạc bộ. * Thực tiễn: – DC mang tính trình tự, tính qui phạm. – Do TT qui định. – Do quyền TT đưa ra và yêu cầu. DC dưới sự chỉ đạo của TT nghĩa là:
    21. 21. Hoàncảnhmới Thực trạng quán triệt TTDC Giải pháp NT TTDC II. Quán triệt, thực hiện nguyên tắc TTDCII. Quán triệt, thực hiện nguyên tắc TTDC trong Đảng ta hiện nay:trong Đảng ta hiện nay:
    22. 22. Câu hỏi:Câu hỏi: 1.1. Cho biết hoàn cảnh mới của ĐảngCho biết hoàn cảnh mới của Đảng hiện nay?hiện nay? 2. Ở đơn vị đồng chí nguyên tắc này2. Ở đơn vị đồng chí nguyên tắc này được thể hiện như thế nào?được thể hiện như thế nào? 3.3. Theo đồng chí phải lTheo đồng chí phải làm gì để thựcàm gì để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dânhiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong đảng hiện nay?chủ trong đảng hiện nay? 4. Bản thân đồng chí quán triệt, thực4. Bản thân đồng chí quán triệt, thực hiện nguyên tắc này như thế nào?hiện nguyên tắc này như thế nào?
    23. 23. 1. Hoàn cảnh mới của Đảng: * CNXH sụp đổ một mảng lớn. * CMKHCN phát triển… * Thời kì mới của Đảng. * Đổi mới là sự nghiệp mới mẻ. * CB, ĐV lúng túng, bất cập trước yêu cầu nhiệm vụ mới.
    24. 24. 2. Tình hình thực hiện nguyên tắc TTDC ở đơn vị mình: Bài tập: Anh (chị) đánh giá thực trạng thực hiện nguyên tắc TTDC. Tìm nguyên nhân, đề xuất giải pháp để quán triệt nguyên tắc này ở đơn vị mình
    25. 25. CÂY VẤN ĐỀCÂY VẤN ĐỀ SẾP MỆT Chểnh mảng với công việc Mất kiên nhẫn Hục hặc với sếp bà Cấp trên thiếu tin tưởng Ngủ không ngon giấc Giường hưĐêm ho nhiều Làm việc quá nhiều Cáu kỉnh với mọi người Hút thuốc nhiều
    26. 26. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ Không quan tâm Quan liêuChủ nghĩa cá nhân Giảm sức chiến đấu Mất đoàn kết Dân chủ hình thức Chủ trương không sát với thực tiễn Không thực hiện tự phê bình và phê bình Việc học tập nghị quyết hời hợt Chất lượng sinh hoạt chi bộ không cao Không đủ năng lực lãnh đạo Giảm sút niềm tin của quần chúng Học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ chưa được chú trọng
    27. 27. 1 là: nâng cao trình độ nhận thức các mặt cho cán bộ đảng viên để hành động đúng nguyên tắc TTDC. 2 là: có chế định cụ thể quy định việc thực hiện nguyên tắc TTDC. 3 là: tăng cường kiểm tra thanh tra thiết lập kỉ cương ,giữ gìn kỷ luật trong đảng và bộ máy nhà nước. 4 là: phát huy dân chủ rộng rãi trong nội bộ đảng và nhân dân. 5 là: nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, cấp ủy, vai trò của người bí thư. 6 là: thiết lập trong toàn đảng chế độ thông tin nhanh chóng và chính xác. 3. Giải pháp ,quán triệt thực hiện nguyên tắc TTDC hiện nay:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Trung Dân Chủ, Nguyên Tắc Tổ Chức Cơ Bản Giúp Đảng Cộng Sản Loại Bỏ Mọi Khuynh Hướng Của Chủ Nghĩa Cơ Hội
  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Là Gì?
  • Khái Niệm Và Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Dân Sự
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Thành Phần Của Quan Hệ Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự
  • Khái Niệm, Phương Pháp Điều Chỉnh Của Luật Dân Sự Việt Nam
  • Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thu Vien Ha Si Phu Online
  • Hiến Pháp Và Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Tham Luận: Khái Niệm Về Tự Do Dân Chủ
  • Tổng Hợp Lý Thuyết Este Lipit Em Cần Nắm Để Làm Tốt Các Dạng Bài Thi
  • Bai Giang Este Bai Giang Este Ppt
  • TTDC là một trong những nguyên tắc cơ bản của các tổ chức cộng sản và là một trong những đặc trưng cốt lõi để phân biệt chính đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các đảng phái chính trị khác. Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định TTDC là nguyên tắc cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong mọi tổ chức và hoạt động của Đảng. Vấn đề căn cốt này đã trang bị cho học viên tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức về Đảng và chuẩn bị đứng trong hàng ngũ của Đảng.

    Đối với tổ chức đảng các cấp, việc tuân thủ, thực hiện TTDC không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, hoạt động và sinh hoạt Đảng, mà còn là điều kiện bảo đảm để phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng. Nhận thức chung là như vậy, nhưng thời gian qua, vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng đã “vi phạm nguyên tắc TTDC, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”, một biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra.

    Trung ương đã kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015; Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2022-2020; Ban cán sự đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016; Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông nhiệm kỳ 2011-2016… vì các tổ chức đảng này đã có biểu hiện vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy. Ngoài ra, nhiều cấp ủy cũng bị đề nghị xem xét, thi hành kỷ luật vì lý do vi phạm nguyên tắc TTDC, như: Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an); Ban Thường vụ Huyện ủy Hướng Hóa (Quảng Trị) nhiệm kỳ 2022-2020…

    Tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ để giữ vững sức mạnh lãnh đạo của Đảng

    Nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng bao trùm, cơ bản và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân phải tuân theo. Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc TTDC thì bắt buộc mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải chấp hành, thực hiện đến nơi đến chốn. Nguyên tắc này được ví như “la bàn” có vai trò định hướng cho đội ngũ đảng viên khép mình vào khuôn khổ tổ chức, tự giác chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị và quy định của Đảng. Nếu xem nhẹ, xa rời hoặc nhận thức không đúng, thực hiện không thấu đáo, hành xử thiếu nhất quán nguyên tắc này sẽ khiến cán bộ, đảng viên “đi chệch” quỹ đạo, từ đó có thể dẫn đến nhiều khuyết điểm, vi phạm trong công tác và trong sinh hoạt Đảng. Hàng loạt tổ chức đảng, đảng viên, nhất là những cán bộ cao cấp của Đảng bị cách chức, bị kỷ luật nêu trên, là minh chứng sinh động, rõ ràng nhất về việc xa rời nguyên tắc TTDC.

    Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao một nguyên tắc tổ chức cao nhất của Đảng lại không được tuân thủ, thực hiện nghiêm túc ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng? Có nhiều lý do dẫn đến thực trạng này, nhưng lý do chủ yếu là không ít cấp ủy, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy vừa không bám sát vào các nội dung nguyên tắc, quy chế làm việc của cấp ủy, thiếu bàn bạc dân chủ trong nội bộ, vừa lợi dụng vị trí, chức trách, quyền hạn được giao để có những biểu hiện áp đặt ý kiến chủ quan cá nhân khiến nguyên tắc bị vi phạm, méo mó. Một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc TTDC là thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nhưng một số cán bộ chủ chốt của cấp ủy, chính quyền và các cơ quan, ban, ngành vì động cơ, mục đích vụ lợi mà không thực sự tôn trọng, phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể, né tránh sự giám sát của tập thể và đề cao quá mức vai trò cá nhân dẫn đến hiện tượng mất dân chủ, độc đoán, chuyên quyền.

    Vì vậy, vấn đề cấp bách, mấu chốt hiện nay để đưa nguyên tắc TTDC vào đúng quỹ đạo của nó, cũng như bảo đảm cho nguyên tắc này được thực hiện triệt để, hiệu quả ở mọi cấp ủy, tổ chức đảng là phải sớm ban hành và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Không có cơ chế kiểm soát quyền lực, nguyên tắc TTDC của Đảng vẫn rất dễ bị nhiều nơi, nhiều cán bộ lãnh đạo làm biến dạng, méo mó quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước, biến quyền lực công thành quyền lực tư, từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy khôn lường cho tổ chức đảng và dễ làm tổn thất cán bộ.

    Lịch sử của các đảng cộng sản và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, cũng như bài học đổ vỡ, tan rã, biến chất của nhiều đảng cộng sản ở châu Âu cho chúng ta bài học “xương máu”: Ở đâu, khi nào mà các lãnh tụ, người lãnh đạo, người đứng đầu của các đảng cộng sản và tổ chức đảng luôn tuyệt đối tuân thủ, coi trọng chấp hành và thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả nguyên tắc TTDC, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thì ở đó, lúc đó, đảng cộng sản giữ được vị thế, vai trò, sức mạnh lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xã hội.

    Theo Phúc Nội Báo Quân đội nhân dân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Dân Với Các Quyền Dân Chủ, Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 12
  • Bài 7: Công Dân Với Các Quyền Dân Chủ
  • Dân Chủ Và Đại Đoàn Kết Dân Tôc Dan Chu Va Suc Manh Dai Doan Ket Dan Toc Doc
  • Bài 4. Ền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Phong Cách Lãnh Đạo Là Gì? Tìm Hiểu Các Phong Cách Lãnh Đạo Phổ Biến Nhất
  • Dân Chủ Trực Tiếp Là Gì ? Khái Niệm Về Dân Chủ Trực Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẫu Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở 2022 (Xây Dựng Báo Cáo)
  • Bí Ẩn Đế Chế Hùng Mạnh Nhất Trong Lịch Sử Loài Người
  • Lý Thuyết Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỷ Luật Hay, Chi Tiết.
  • Bản Chất Của Nền Dân Chủ Xhcn Ở Nước Ta
  • Bài 4. Ền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Nen Dan Chu Xa Hoi Chu Nghia Va Nha Nuoc Xhcn Pptx
  • Dân chủ trực tiếp là phương thức tôn trọng và thực hiện dân chủ trong các tổ chức, cộng đồng hay xã hội, theo đó quyền dân chủ của các thành viên trong tổ chức, hội đó được thực hiện một thành viên đó.

    Các hoạt động Cụ thể nhằm thực hiện dân chủ trực tiếp có thể là việc đóng góp Ý kiến vàc các quyết sách và văn bản quản lí của chính t6 chức đó hoặc bầu cử trực tiếp dân chủ trực tiếp đượi một loạt các thiết chế pháp lí cụ thể về các hình thức. phương tiện, CƠ chế, thông qua đó, nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ, thể hiện quyền làm chủ xã hội của mình. Thông thường, trong chế định dân chủ trực tiếp, trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp cao nhất, qua đó, nhân dân trực tiếp biểu thị ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề có tính quốc sách. Trên thế giới, Ở nhiều nước, trưng cầu ý dân được xem là hình thức dân chủ thuần khiết.

    Ở Việt Nam, qua bốn bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp năm 4992 đều có quy định về trưng cầu ý dân (Hiến pháp năm 1946 – Điều 32. 70; Hiến pháp năm 4959 – Điều 53; Hiến pháp năm 1980 – Điều 100; Hiến pháp năm 1992 – Điều 84). Do những điều kiện khách quan, chủ quan, cho đến nay, chưa có cuộc trưng cầu ý dân nào được tiến hành. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XI đã có dự án luật về trưng cầu ý dân. Bầu cử các đại biểu thay mặt mình ở cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp là hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng. Nghị quyết của các cuộc họp dân chủ trực tiếp ở cơ sở cũng là hình thức dân chủ trực tiếp khá phổ biến ở nhiều nước. Các cuộc tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về các dự án luật tuy không trực tiếp, nhưng cũng là hình thức dân chủ được coi trọng.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Án: So Sánh Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Dân Chủ Tư Sản
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 9
  • Giải Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỉ Luật
  • Bài 3: Dân Chủ Và Kỷ Luật
  • Nền Dân Chủ Chủ Nô Và Sự Tác Động Của Nó Đến Sinh Hoạt Tinh Thần Của Xã Hội
  • Hiến Pháp Và Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận: Khái Niệm Về Tự Do Dân Chủ
  • Tổng Hợp Lý Thuyết Este Lipit Em Cần Nắm Để Làm Tốt Các Dạng Bài Thi
  • Bai Giang Este Bai Giang Este Ppt
  • Chuyên Đề: Hiệu Suất Của Phản Ứng Este Hóa Và Phản Ứng Thủy Phân Este
  • Khái Niệm Nào Sau Đây Đúng Nhất Về Este?
  • Điều nói trên thay cho điều 6 trong Hiến pháp 1992: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ trong cơ quan nhà nước là gì? Nội hàm của nó thế nào là vấn đề cần trao đổi.

    Tuy được đề ra nhiều như vậy, nhưng ngoài một ý cụ thể kèm theo “làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số” như trên, không thể tìm thấy nội dung của nguyên tắc này được minh định trong một văn bản quy phạm pháp luật nào. Chỉ có thể tìm thấy những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Điều lệ Đảng (Điều 9):

    “Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là:

    1- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử mà lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

    2- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đai hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy)

    3- Cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.

    4- Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.

    5- Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét các ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.

    6- Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên”.

    Đảng và nhà nước là những thực thể chính trị có vị trí, vai trò, chức năng, tính chất khác nhau, nên đương nhiên không thể áp dụng hoặc “diễn dịch” một cách đơn giản nguyên tắc tổ chức của Đảng sang Nhà nước, dù cho đó Đảng duy nhất lãnh đạo – cầm quyền. Muốn làm như vậy cũng không thể. Chỉ cần “áp” thử sáu nội dung cơ bản của nguyên tắc này trong Đảng vào các cơ quan nhà nước, sẽ thấy ngay sự khiên cưỡng mà lý trí thông thường khó chấp nhận.

    Có thể xem đây là một trường hợp cụ thể về việc trong dự thảo Hiến pháp có những điều khoản, những khái niệm chưa xác định được nội hàm, điều mà chúng tôi đề cập trong bài trước.

    Có lẽ Ban soạn thảo cũng cảm nhận thấy phần nào vấn đề này, nên đã tiến hành sửa đổi, điều chỉnh điều 6 Hiến pháp 1992 bằng điều 8 trong dự thảo.

    Điều 8 có ba ý chính, trong đó hai ý đầu là thừa vì dự thảo ngay từ đầu đã khẳng định Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì lẽ đương nhiên là “Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật” là điều không cần nhắc lại (thậm chí phải xem đây là định nghĩa về nhà nước pháp quyền).

    Cần phải nói thêm rằng, ngoài Quốc hội, Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số (điều mà hiện nay trong thực tế nhiều lúc, nhiều nơi chưa thực hiện nghiêm chỉnh), còn nhiều cơ quan nhà nước khác không làm việc, hoặc chỉ làm việc một phần theo nguyên tắc này. Chính phủ cũng chỉ quyết định theo đa số trong một số vấn đề, trong khi Hiến pháp 1992 và dự thảo đều vẫn khẳng định một cách đúng đắn vai trò người đứng đầu Chính phủ của Thủ tướng.

    Trong điều kiện mới cũng cần đổi mới nhận thức, cách hiểu, thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Cách hiểu và thực hành như cũ trên thực tế đã vô hiệu hoá sức sống và tinh thần cách mạng của nó, khiến cho nó không còn “sức mạnh vạn năng” như lầm tưởng. Bằng chứng là nhiều đảng cộng sản cầm quyền ở Liên Xô và Đông Âu dù về hình thức không ngừng đề cao nó, nhưng đã biến nó thành tập trung quan liêu, làm tê liệt sức chiến đấu của đảng, không ngăn chặn được sự suy thoái toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, dẫn họ đến sụp đổ và bị loại khỏi vũ đài chính trị.

    Bùi Đức Lại (nguyên chuyên gia cao cấp Ban Tổ chức Trung ương)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thu Vien Ha Si Phu Online
  • Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Công Dân Với Các Quyền Dân Chủ, Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 12
  • Bài 7: Công Dân Với Các Quyền Dân Chủ
  • Dân Chủ Và Đại Đoàn Kết Dân Tôc Dan Chu Va Suc Manh Dai Doan Ket Dan Toc Doc
  • Ý Nghĩa Của Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Nghĩa Dân Túy Là Gì?
  • Hiểm Họa Từ Chủ Nghĩa Dân Túy Trong Bối Cảnh Thế Giới Hiện Nay
  • Chủ Nghĩa Dân Túy: Những Nội Hàm Đương Đại
  • Nhận Diện Chủ Nghĩa Dân Túy Trong Bối Cảnh Thế Giới Hiện Nay
  • Phong Trào Chống Chủ Nghĩa Dân Túy Trên Thế Giới Và Kinh Nghiệm Đối Với Việt Nam
  • Trong quản lý hành chính Nhà nước, tập trung nhằm đảm bảo thâu tóm quyền lực Nhà nước vào chủ thể quản lý để điều hành.

    Tuy nhiên việc thực hiện một cách có hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ trên thực tế vẫn còn là một bài toán nan giải. Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính vẫn còn tình trạng vừa phân tán vừa cục bộ, vẫn còn quan liêu và đôi khi ôm đồm quá mức. Hiệu lực quản lý, điều hành chưa xuyên suốt, chưa tập trung thống nhất cao. Trong khi đó, tính chủ động, ý thức trách nhiệm của từng địa phương chưa được phát huy dân chủ. Khuynh hướng phân tán, cục bộ địa phương diễn ra ở nhiều mức độ với những biểu hiện tiêu cực như: không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, Nghị quyết, chỉ thị,…của cấp trên; lợi dụng những kẽ hở của pháp luật, của cơ chế, chính sách để làm lợi cho ngành, địa phương mình và làm tổn hại đến lợi ích chung, đôi khi còn coi “phép nước không bằng lệ làng”, tự ý đề ra những chính sách, quy định của địa phương trái với chính sách chung, có ngành ra văn bản trái với quy định của Chính phủ.

    Mặt khác, khuynh hướng tập trung quan liêu vẫn đang tồn tại với những biểu hiện như: nhấn mạnh vai trò, quyền hành cá nhân của thủ trưởng, không tôn trọng sự lãnh đạo của tập thể; cấp trên can thiệp quá sâu vào công việc của cấp dưới, có những thủ tục phiền hà, quan liêu, gây ra sự sách nhiễu, tiêu cực đối với cấp dưới và nhân dân; quản lý thiên về mệnh lệnh, không biết sử dụng các đòn bẩy kinh tế, nhẹ về giáo dục; một số cơ quan hành chính không tự giác chịu sự giám sát của cơ quan đại biểu của nhân dân; có ngành bảo vệ pháp luật có lúc chỉ nhấn mạnh tính “độc lập”, chỉ đạo theo hệ thống dọc, không tôn trọng sự kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân đia phương…

    Trong điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam hiện nay còn thấp, việc áp dụng nguyên tắc này vừa đảm bảo tính linh hoạt vừa đảm bảo tính chặt chẽ trong khâu quản lý tạo ra sự linh hoạt, nhịp nhàng phối hợp trong hoạt động. Do còn hạn chế về nhiều mặt nên việc quản lý quá chặt chẽ là không nên, cũng như quản lý thì không được lỏng lẻo; do đó nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tối ưu trong điều kiện lúc này. Việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta lúc này mà còn phù hợp với tập quán, truyền thống của dân tộc.

    Tập trung và dân chủ là hai mặt của một hệ thống nhất không thể tách rời. Nếu chỉ thiên về tập trung và coi nhẹ dân chủ thì sẽ dẫn đến tập trung quan liêu, độc đoán, trái với bản chất của Nhà nước ta. Ngược lại, nếu thiên về dân chủ mà coi nhẹ tập trung thì sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn làm cho hoạt động quản lý hành chính Nhà nước kém hiệu quả.

    – Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính Nhà nước vào cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp

    – Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương

    Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: [email protected]

    THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

    – Tư vấn luật miễn phí qua điện thoại

    – Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Về Tập Trung Dân Chủ 2
  • Tập Trung Dân Chủ, Nguyên Tắc Tổ Chức Cơ Bản Giúp Đảng Cộng Sản Loại Bỏ Mọi Khuynh Hướng Của Chủ Nghĩa Cơ Hội
  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Là Gì?
  • Khái Niệm Và Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Dân Sự
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Thành Phần Của Quan Hệ Pháp Luật Tố Tụng Dân Sự
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học
  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã hội nguyên thuỷ đã có thị tộc, rồi bộ lạc. Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như­ ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau như­ chúng ta thấy hiện nay. Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được. Văn hoá của các dân tộc có những nét chung giống nhau (thí dụ như­ đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ­ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại.

    Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp với khái niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị – xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như­ trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc (nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và phát triển hơn trong lịch sử). Cũng có tình hình là những người cùng một dân tộc nhưng sống phân tán ở những quốc gia khác nhau. Trong lịch sử, các dân tộc hình thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình độ phát triển. Đã có tình hình nhiều dân tộc tự phát liên kết với nhau, hoà nhập vào nhau hoặc đồng hoá, thôn tính lẫn nhau. Xu thế lịch sử của dân tộc là cần có nhà nước để bảo vệ lãnh thổ của mình. Ý thức về chủ quyền lãnh thổ phát triển thành ý thức quốc gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước. Bản thân nhà nước, đến l­ượt nó, lại có tác động trở lại củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong biên giới của mình. Bộ máy nhà nước trung ­ương tập quyền của nhà Tần ở Trung Quốc chẳng hạn, khi ban hành những pháp luật thống nhất trong cả nước, bắt mọi người cùng viết một kiểu chữ, cùng đi một cỡ xe (th­ư đồng văn, xa đồng quỹ) đã đẩy nhanh sự cố kết của dân tộc Hán ngay từ trước Công nguyên.

    Trước đây, các học giả phương Tây ch­ưa nghiên cứu nhiều về vấn đề dân tộc nói riêng. Các sách báo mácxít cũng dựa chủ yếu vào tình hình của châu Âu mà cho rằng, dân tộc chỉ trở thành dân tộc khi có sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản, khi xuất hiện thị trường dân tộc(1). Thực ra, trên thế giới, tính cố kết dân tộc có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân kinh tế, chính trị khác, như­ nhu cầu có những công trình trị thuỷ lớn ở các vùng trồng lúa nước, nhu cầu chống lại sự xâm lược, đô hộ và đồng hoá của ngoại tộc. Việt Nam đã từng bị ngoại tộc đô hộ hơn một nghìn năm mà không bị đồng hoá, sở dĩ như vậy là vì con người (Việt Nam) đã có ý thức về bản sắc của dân tộc mình và nổi dậy chống lại sự đồng hoá ấy. Ý thức về quốc gia – dân tộc đã thể hiện rõ trong hành động lịch sử của Lý Bí khi ông tự x­ưng là Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI, hoặc trong câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư­” thế kỷ thứ XI, trong áng văn bất hủ “Bình Ngô đại cáo” thế kỷ thứ XV. Vậy mà cho đến thế kỷ thứ XX, Việt Nam vẫn ch­ưa đạt đến trình độ một nước tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng là, người Việt Nam đã hình thành nên dân tộc của mình ngay từ thời cổ đại, có thể là ngay từ khi bị ngoại tộc đô hộ mà không sao đồng hoá nổi, chứ không phải đợi đến khi lập ra nhà nước phong kiến độc lập bền vững vào thế kỷ thứ X.

    Có dân tộc hình thành rồi, sau đó mới có ý thức dân tộc. Con người được sinh ra trong cộng đồng, từ cộng đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, ở đây là cộng đồng dân tộc, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người. Đứa trẻ sơ sinh chỉ mới là “con người dự bị”; nó phải tập ăn, tập nói như người, cảm xúc, ứng xử và suy nghĩ như người. Nắm được ngôn ngữ dân tộc – vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là phương tiện nhận thức – đứa trẻ càng nhanh chóng đi vào những khuôn nếp của xã hội, những tục lệ, tín ngưỡng, đạo lý, pháp luật sẵn có của một trình độ văn hoá nhất định. Đến tuổi thành niên, nó mới được xã hội công nhận là một thành viên đủ t­ư cách. Một cách rất tự nhiên, mỗi cá nhân con người đều cảm thấy rất rõ, trong cả thể xác và tâm hồn mình, là người của một dân tộc nhất định. Đó chính là ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc hay là chủ nghĩa dân tộc.

    Như­ vậy, ý thức dân tộc trước hết là ý thức về cội nguồn dân tộc của mỗi con người: mình từ đâu đến? Sau đó là ý thức về quyền dân tộc: quyền làm chủ lãnh thổ (đất nước), làm chủ đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc mình. Đó là tinh thần độc lập, tự chủ của mỗi dân tộc. Đó là quyền tự nhiên, mỗi thành viên của dân tộc đều thấy có nghĩa vụ thiêng liêng phải giữ gìn và bảo vệ. Chủ nghĩa dân tộc còn là ý thức về phẩm giá dân tộc. Dân tộc tồn tại và phát triển là thành quả của sức lao động và đấu tranh sáng tạo của nhiều thế hệ tiền bối. Họ đã tạo ra tất cả những giá trị vật chất và tinh thần hợp thành nền văn hoá dân tộc, vừa có bản sắc riêng, vừa là bộ phận hợp thành nền văn hoá chung của nhân loại.

    Song, điều phức tạp của lịch sử là ở chỗ, các tộc người, các dân tộc hình thành và phát triển khi đã có sự phân tầng xã hội thành các giai cấp. Sự xuất hiện giai cấp không làm tan rã cộng đồng dân tộc, mà chỉ chia rẽ con người trong cộng đồng dân tộc, thậm chí đến mức đối kháng. Trong cùng một dân tộc, ý thức dân tộc của mỗi giai cấp lại được chiết quang qua ý thức về lợi ích giai cấp; vì vậy, nó không thể không mang thêm những sắc thái riêng bắt nguồn từ tính giai cấp.

    Việc cải tiến công cụ lao động tuy chậm chạp nhưng liên tục trong xã hội nguyên thủy làm tăng dần năng suất lao động của con người; đến một độ nhất định (thời đại đồ đồng, đồ sắt), sản xuất xã hội đủ sức tạo ra những sản phẩm thặng d­ư. Tiền đề này đã dẫn đến một tất yếu lịch sử là sự hình thành giai cấp và kèm theo nó là sự phân công lao động xã hội thành lao động chân tay và lao động trí óc. Một số người có điều kiện chiếm dụng những sản phẩm thặng dư­ và sống trên lư­ng người khác, trở thành giai cấp ăn bám và thống trị. Đa số người còn lại vẫn buộc phải sản xuất trực tiếp đổ mồ hôi kiếm miếng ăn, đó là những giai cấp bị bóc lột và bị trị, là nhân dân lao động. Đồng thời, cũng chỉ có người nào không buộc phải trực tiếp lao động sản xuất mới có thì giờ rảnh để chuyên làm lao động trí óc, phát triển mọi năng khiếu tinh thần của con người và trở thành những nhà trí thức. Trong xã hội có giai cấp, tầng lớp trí thức phần nhiều xuất thân từ giai cấp thống trị hoặc phụ thuộc vào họ. Tình hình này đ­ưa đến sự lầm lẫn cho rằng, kẻ lao tâm thì trị người và được người nuôi, còn kẻ lao lực thì nuôi người và bị người trị (Mạnh Tử). Thực ra, những thành viên của các giai cấp thống trị trong lịch sử trước đây không phải đều là trí thức hoặc bắt đầu từ chỗ là trí thức. Sở dĩ họ thống trị là vì họ đã nắm được quyền lực, mà cơ sở vật chất của quyền lực là sự chiếm đoạt, chủ yếu bằng bạo lực.

    Sự hình thành các giai cấp và tầng lớp trí thức đánh dấu sự xuất hiện của bất bình đẳng xã hội giữa con người với nhau, xâm hại tính cộng đồng gắn liền với bản chất của con người là một động vật xã hội, có tính xã hội. Trong đấu tranh giai cấp, hiện t­ượng mạnh được yếu thua, cư­ờng quyền át công lý, “cá lớn nuốt cá bé” chẳng qua là biểu hiện của quy luật đấu tranh sinh tồn, của “luật rừng” trong giới sinh vật. Các giai cấp đấu tranh với nhau, song vẫn dựa vào nhau cùng tồn tại: đấu tranh giai cấp không làm tan rã được xã hội. Nó không phủ định bản chất con người đã bắt đầu định hình, mà chỉ ­minh hoạ cho thấy rằng, việc hình thành con người là một quá trình tiến hoá trường kỳ, từ tính động vật đơn thuần đến tính người hoàn thiện hơn, thực sự là con người. Tính động vật hay thú tính là cái nền tảng ban đầu nhưng được cải biến dần dần, còn tính người hay nhân tính thì ngày càng được trau dồi và nâng cao. Sự đối kháng giai cấp không điều hoà, tuy đã biến con người thành “chó sói đối với người”; nhưng cũng chính đấu tranh giai cấp lại là động lực làm cho xã hội tiến hoá đi lên, từ hình thức bóc lột và thống trị tàn nhẫn và thô bạo của chế độ chiếm nô, đến chế độ phong kiến hết sức chuyên chế nhưng đã ít tàn bạo hơn, đến chế độ tư bản bóc lột tinh vi hơn và thống trị một cách “dân chủ”, nghĩa là che đậy hơn. Tính động vật đơn thuần đã từng bước chuyển hoá, mở đường cho tính người được nâng lên dần dần một cách không thể đảo ng­ược được.

    Mặt khác, giai cấp xuất hiện cũng có nghĩa là con người đã làm gia tăng một cách đáng kể năng lực sản xuất và khai thác tự nhiên của mình. Con người đã v­ượt qua được giai đoạn tiền sử – giai đoạn dã man và tiến vào giai đoạn văn minh. Việc lao động trí óc được tách ra thành một dạng hoạt động chuyên biệt là thêm một đòn bẩy hết sức mạnh mẽ để phát triển năng lực nhận thức của con người: năng lực quan sát, chiêm nghiệm, năng lực tư duy, phân tích và tổng hợp, tổng kết, nâng nhận thức từ trình độ cảm ­tính lên trình độ lý tính. Tất cả những điều đó đã xây dựng nên nền văn hoá đặc trưng cho loài người: nền văn hoá dân gian rất phong phú của quần chúng nhân dân và cả một nền văn hoá bác học đồ sộ do những nhà trí thức các thế hệ sáng tạo ra. Sự phát triển tất cả các hình thái ý thức của con người: tư tưởng, các môn khoa học tự nhiên, các môn khoa học xã hội giúp con người không chỉ ngày càng nhận thức được và làm chủ tự nhiên, mà còn vươn lên nhận thức được và làm chủ xã hội và cả bản thân mình. Có thể nói, con người đã và còn tiếp tục sáng tạo ra cả một thế giới mang tính người, được “người hoá”. Thành tựu rực rỡ này làm vinh quang cho con người, đồng thời cũng là điểm tới của một lộ trình vô cùng gian nan và đau khổ, đẫm mồ hôi và máu: cái giá phải trả cho quá trình lịch sử mấy nghìn năm của xã hội có giai cấp.

    Cho đến nay, xã hội loài người vẫn chư­a thoát ra ngoài khuôn khổ của xã hội có giai cấp. Vậy, ý thức giai cấp đã tác động như thế nào tới ý thức cộng đồng, cụ thể ở đây là ý thức dân tộc?

    Nhìn một cách đại thể thì xã hội có giai cấp gồm hai lớp người: lớp trên là những giai cấp bóc lột, thống trị và lớp dưới là những giai cấp lao động, bị trị. Là thành viên của dân tộc, dĩ nhiên các giai cấp lớp trên cũng có ý thức về dân tộc mình, có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. Là giai cấp thống trị, nắm bộ máy nhà nước, họ đồng hành với dân tộc mình và hiểu rằng, không có dân thì làm sao có nước. Lợi ích giai cấp của họ thời kỳ đầu nằm trong lợi ích của dân tộc. Vô số những anh hùng dân tộc trong lịch sử là những vua sáng, t­ướng tài, những nhà tư tưởng, nhà văn hoá thuộc thành phần lớp trên. Nhưng khi một triều đại phong kiến nào đó đã suy đồi thì cũng có những ông vua bán nước cầu vinh, “cõng rắn cắn gà nhà” hòng giữ lại lợi ích nhỏ nhen của triều đại mình. Bản thân giai cấp tư­ sản đã từng giương cao ngọn cờ cách mạng dân chủ, làm rung chuyển châu Âu phong kiến các thế kỷ XVII, XVIII. Đại cách mạng Pháp đã đem lại thống nhất, tự do và vinh quang cho dân tộc Pháp. Nhưng từ giữa thế kỷ XIX, chính giai cấp t­ư sản Pháp đã trở thành bảo thủ và phản động; nó đã ký hiệp ư­ớc đầu hàng quân Phổ xâm lược trong khi công nhân và nhân dân lao động Pari ngoan c­ường chống lại (1871). Mặt khác, các giai cấp lớp trên đều là giai cấp thống trị, đều có tham vọng mở rộng sự thống trị của giai cấp mình ra bên ngoài. Trong tư tưởng của họ, ý thức về quốc gia, chủ nghĩa quốc gia luôn lấn át chủ nghĩa dân tộc. Đó là nguyên nhân của những cuộc chiến tranh xâm lược, chinh phục triền miên trong lịch sử của chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa bá quyền, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.

    Ng­ược lại là những giai cấp lao động ở lớp dưới. Họ không những duy trì được tính người, một động vật biết tạo ra công cụ lao động và lao động bằng công cụ, mà còn phát huy và hoàn thiện tính người với t­ư cách một động vật xã hội, n­ương tựa vào nhau mà sống, có tình thương đồng loại và đạo lý làm người: đó chính là chủ nghĩa nhân đạo. Dĩ nhiên, nhân dân lao động cũng có thể có biểu hiện tư tưởng dân tộc hẹp hòi, vị kỷ, và ở thân phận bị trị có thể nhiều ít nhiễm tư tưởng của giai cấp thống trị; nhưng cùng với sự tiến bộ về dân trí, họ dễ hiểu ra rằng, lợi ích của mọi người lao động là thống nhất: suy ta ra người, vì thương thân nên cũng thương người, vì trọng dân tộc mình nên cũng biết trọng dân tộc khác. Chủ nghĩa dân tộc của họ không đối kháng với các dân tộc khác. Giai cấp vô sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa không vư­ớng chút nào vào tư tưởng tư­ hữu, lại càng có điều kiện vật chất để đi tới tư tưởng chủ nghĩa quốc tế thực sự(2) – hoàn toàn đối lập với mọi dạng chủ nghĩa quốc gia từng có trong lịch sử. V.I.Lênin trước đây đã nhận xét: ” Mỗi nền văn hoá dân tộc đều có những thành phần, thậm chí không phát triển, của một nền văn hoá dân chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà điều kiện sinh sống của họ nhất định phải sản sinh ra một hệ­ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa. Nhưng trong mỗi dân tộc, cũng còn có một nền văn hoá tư sản (…) không phải chỉ ở trong tình trạng là những “thành phần” mà là dưới hình thức nền văn hoá thống trị“(3).

    Nh­ư vậy, trong xã hội có giai cấp, chủ nghĩa dân tộc cũng có tính giai cấp. Có chủ nghĩa dân tộc tiến bộ, cách mạng, cũng có chủ nghĩa dân tộc lỗi thời, phản động. Chủ nghĩa dân tộc của các giai cấp lớp trên thay đổi tính chính trị của nó tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử, khi giai cấp đó còn vai trò tiến bộ hay đã lỗi thời. Chỉ có chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động là trước sau nh­ư một, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính.

    Ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911, Nguyễn Tất Thành bôn ba hải ngoại và hoạt động cách mạng với bút danh Nguyễn Ái Quốc. Trở về nước năm 1941, Người đã trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đầu năm 1946, Người công khai bày tỏ tâm tư­ của mình: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(4). Năm 1969, 50 ngày trước lúc đi xa, Người đã nhìn lại cả cuộc đời mình khi trả lời một phóng viên: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”(5). Động lực làm nên chí khí và sự nghiệp Hồ Chí Minh chính là điều mà Người đã mạnh dạn gọi là chủ nghĩa dân tộc. Đó là tư tưởng nền tảng, nhất quán trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, nhưng đó là chủ nghĩa dân tộc đã được làm giàu thêm bằng những tinh hoa trong tư tưởng chính trị của loài người: chủ nghĩa dân chủ chủ nghĩa xã hội.

    Hồ Chí Minh đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mình và cũng vì tất cả các dân tộc bị áp bức khác trên thế giới. Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động; nó không tách rời mà trái lại, luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Học Thuyết Của Marx: Quan Niệm Duy Vật Lịch Sử
  • Triết Học Là Gì ? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản Của Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học ? Từ Đó Xác Định Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Cực Đoan Là Gì? Khái Niệm Chủ Nghĩa Dân Tộc Cực Đoan

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 5: Quyền Bình Đẳng Giữa Các Dân Tộc Tôn Giáo
  • Bài 5. Quyền Bình Đẳng Giữa Các Dân Tộc, Tôn Giáo
  • Gdcd 12 Bài 5: Quyền Bình Đẳng Giữa Các Dân Tộc, Tôn Giáo
  • Lý Thuyết Bài 5: Quyền Bình Đẳng Giữa Các Dân Tộc, Tôn Giáo Giáo Dục Công Dân 12
  • Gmsp: Tốt Nghiệp Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Dự Án
  • Cực đoan là gì? Cực đoan là cụm từ nhằm chỉ những đối tượng có suy nghĩ duy ý, họ thường xem những việc mà mình làm đều đúng và không thể nhìn nhận sự việc một cách bao quát. Ngoài ra thì cực đoan cũng được dùng để nói lên sự thái quá của một người bởi những hành động của họ như: Không chịu chấp nhận sự thật, luôn cho rằng mình đang làm mọi thứ đúng hoàn toàn…

    Chủ nghĩa dân tộc cực đoan là gì?

    Từ những nhóm tuyên truyền này sẽ là bàn đạp dẫn đến những tác động về chính trị và xã hội, văn hóa, kinh tế, quân sự… Cứ như vậy thì nhóm khởi nguồn mọi chuyện sẽ biến thành độc trị, độc tài, độc tôn… Như vậy chủ nghĩa này sẽ lan rộng ra mỗi khi nó đặt chân đến vùng miền mới.

    Những dấu hiệu của chủ nghĩa dân tộc cực đoan?

    Chủ nghĩa cực đoan thông thường sẽ xuất hiện những dấu hiệu điển hình như:

      Chủ nghĩa này sẽ lợi dụng sự bất mãn của con người như: bất công về xã hội, bất ổn về quốc tế
    • Bịa đặt về những vị lãnh đạo, thời thế và sứ mệnh của đất nước
    • Đưa ra những ý định đổi đời cho những người nghèo khó
    • Lừa đảo nhân dân về một thế giới đẹp như trong mơ
    • Đưa ra những chính sách cực khó khăn để nhằm triệt tiêu những người chống đối
    • Tạo ra những quyền lợi đặc ân cho các tầng lớp trung thành

    Mục đích của chủ nghĩa dân tộc cực đoan

    Chủ nghĩa dân tộc cực đoan mang trong mình mục đích tráo đổi và thay đổi về khái niệm độc lập, tự do, nhân quyền, giá trị con người của những công dân. Đồng thời không công nhận được những thành quả của người dân đã làm nên so với những quy mô của xã hội… Tạo ra những tiêu chuẩn riêng của mình để đưa người dân vào một khuôn khổ. Tất cả đều quy về một mục đích đó là làm cho mọi người dân phải làm theo và phục tùng mọi yêu của của lãnh đạo tổ chức đưa ra.

    Vì sao con người phải cảnh giác với chủ nghĩa dân tộc cực đoan

    Con người cần phải cảnh giác với chủ nghĩa dân tộc cực đoan là bởi chính con người thường mơ mộng về mọi chuyện viễn tưởng. Từ đó sẽ rất dễ dàng bị tổ chức chủ nghĩa cực đoan làm ảnh hưởng. Nếu con người không cảnh giác thì sẽ bị tổ chức chủ nghĩa cực đoan đẫn dắt. Họ sẽ không biết được rằng trước mắt họ là bờ vực của tội lỗi mà vẫn cứ tiến tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Nghĩa Dân Tộc Và Những Sắc Thái Của Nó Trong Thế Giới Ngày Nay
  • Phải Đặt Lợi Ích Quốc Gia, Dân Tộc Lên Trên Hết!
  • Khái Niệm Quyền Lợi Quốc Gia Trên Hết
  • Quan Điểm Về “lợi Ích Quốc Gia
  • Bảo Đảm Lợi Ích Quốc Gia
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100