Soạn Bài: “chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Sử Thi Đăm Săn)

--- Bài mới hơn ---

  • Tuần 3. Chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn
  • Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Tác Phẩm Chiến Thắng Mtao Mxây
  • Soạn Bài Lớp 10: Chiến Thắng Mtao
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Theo Chủ Đề : Sử Thi Vệt Nam Và Nước Ngoài
  • Học Tốt Ngữ Văn Lớp 10: Chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn
  • I. Tìm hiểu chung.

    1. Sử thi.

    * Khái niệm:

    Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

    * Đặc trưng:

    – Nội dung của sử thi có tính rộng lớn, kể về sự kiện trọng đại của quá khứ, biểu hiện toàn bộ đời sống văn hóa, lịch sử của cộng đồng, thể hiện quá trình vận động của tộc người đó qua các giai đoạn khác nhau.

    – Nghệ thuật: sử thi là những câu chuyện kể văn xuôi xen lẫn văn vần, có sử dụng các yếu thành ngữ, tục ngữ, những từ ngữ cổ, hình thức nghệ thuật ngôn từ dân gian.

    * Phân loại sử thi:

    – Sử thi thần thoại: Đẻ đất đẻ nước, Ấm ệt luông, Cây nêu thần… kể về sự hình thành của thế giới, sự hình thành của muôn loài, sự hình thành các dân tộc…

    – Sử thi anh hùng: Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Đăm Noi… kể về cuộc đời và sự nghiệp của các anh hùng.

    2. Sử thi Đăm Săn.

    – Tóm tắt: Sau khi về làm chồng hai chị em Hợ Nhị và Hơ Bhị, Đăm Săn trở nên một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy. Các tù trưởng Kên Kên ( Mtao Grư), tù trưởng Sắt (Mtao Mxây) lừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng, bắt Hơ Nhị về làm vợ. Cả hai lần Đăm Săn đều tổ chức đánh trả và đều chiến thắng, cứu được vợ và tịch thu của cải, đất đai của kẻ địch khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc. Một lần tình cờ gặp cây sơ – múc (cây thần vật tổ bên nhà vợ), Đăm Săn ra sức chặt đổ kì được. Liền đó cả hai vợ đều chết và Đăm Săn lại tìm cách lên trời hỏi nữ thần Mặt Trời (con gái của Trời) về làm vợ. Tức giận vì bị từ chối, chàng bỏ về và cả người lẫn ngựa bị chết ngập ở rừng Sáp Đen nhão như bùn nước. Hồn Đăm Săn biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Âng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai. Đó là Đăm Săn cháu, lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng.

    2. Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây.

    – Vị trí đoạn trích: Nằm ở phần giữa của sử thi

    + Phần 1 ( Từ đầu đến “cắt đầu Mtao Mxây đem bêu ngoài đường”): Cảnh trận đánh giữa hai tù trưởng.

    + Phần 2 ( Tiếp đến “Họ đến bãi ngoài làng, rồi vào làng”) : Cảnh Đăm Săn cùng nô lệ ra về sau chiến thắng.

    + Phần 3 ( Còn lại ): Cảnh Đăm Săn ăn mừng chiến thắng.

    * Tóm tắt: Nhân lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, Mtao Mxây đã đến phá buôn làng và bắt Hơ Nhị về làm vợ. Đăm Săn đến nhà Mtao Mxây khiêu chiến để cứu người vợ của mình. Lần đầu, chàng thách Mtao Mxây đọ dao nhưng hắn sợ không dám đồng ý. Khi Đăm Săn dọa đốt nhà, hắn mới chịu xuống và múa khiên. Mtao Mxây rung khiên múa, tiếng kêu lạch xạch; đến lượt Đăm Săn, mỗi lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh, chạy vun vút trong khi Mtao Mxây chỉ bước thấp bước cao chạy hết bãi đông sang bãi tây. Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho một miếng trầu nhưng Đăm Săn đỡ được, ăn vào thì sức lực tăng lên gấp bội. Đăm Săn lại múa khiên, đâm Mtao Mxây nhưng không thủng được áo giáp của hắn. Nhờ Trời giúp đỡ, Đăm Săn ném một cái chày tròn vào tai của kẻ địch, nên giành được chiến thắng, cắt đầu của Mtao Mxây đem bêu ra đường. Chàng cứu được vợ, và tất cả tôi tớ của Mtao Mxây nguyện đi theo Đăm Săn. Dân làng mở tiệc mừng chiến thắng của Đăm Săn và đón chào những dân làng mới.

    II. Đọc – hiểu văn bản.

    1. Hình tượng Đăm Săn trong trận chiến với Mtao Mxây

    * Khi vào cuộc chiến: – Hiệp một:

    + Trong khi Mtao Mxây múa khiên trước, Đăm Săn vẫn giữ thái độ bình tĩnh, thản nhiên → Điều này thể hiện bản lĩnh của chàng.

    + Mtao Mxây đã lộ rõ sự kém cỏi nhưng vẫn nói những lời huênh hoang.

    + Đăm Săn múa dũng mãnh và đuổi theo Mtao Mxây

    + Đăm Săn đâm trúng áo Mtao Mxây nhưng không thủng được áo hắn. Chàng phải cầu cứu thần linh

    – Hiệp bốn:

    + Đăm Săn được thần linh giúp sức

    + Chàng đuổi theo và giết chết kẻ thù

    ⇒ Với lối mô tả song hành, lối so sánh phóng đại, Đăm Săn hơn hẳn Mtao Mxây về cả tài năng, sức lực, phẩm chất và phong độ. Đòi vợ chỉ là cái cớ, cao hơn chính là mở mang bờ cõi, làm nổi uy danh cộng đồng → Đăm Săn là một nhân vật anh hùng sử thi đích thực

    2. Thái độ của mọi người đối với chiến thắng của Đăm Săn.

    – Ba lần Đăm Săn kêu gọi thì cả ba lần mọi người đều hưởng ứng ( số 3 tượng trưng cho số nhiều ): “Không đi sao được, tù trưởng chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai.” → Họ nhất trí xem Đăm Săn là tù trưởng, là anh hùng của họ.

    – Mỗi lần đối đáp có sự khác nhau, biến đổi, phát triển → Qua ba lần hỏi – đáp, lòng trung thành tuyệt đối của mọi nô lệ đối với Đăm Săn ngày càng được tô đậm.

    – Mọi người cùng ra về theo Đăm Săn đông vui như đi hội: “Đoàn người đông như bầy cà tông, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối.”

    * Thái độ của dân làng Đăm Săn:

    – Hân hoan chào đón người anh hùng chiến thắng trở về

    * Thái độ của các tù trưởng xung quanh

    ⇒ Người anh hùng được toàn thể cộng đồng suy tôn tuyệt đối

    3. Cảnh ăn mừng chiến thắng:

    – Hình ảnh Đăm Săn được miêu tả hòa vào cùng với dân làng trong niềm vui chiến thắng:

    + Đông vui nhộn nhịp

    + Ăn mừng hoành tráng

    – Đăm Săn hiện lên ngoài vẻ đẹp hình thể còn là sức mạnh uy vũ, vô biên trong con mắt ngưỡng mộ của dân làng → cách miêu tả phóng đại tạo ấn tượng với độc giả

    III. Tổng kết.

    1. Nội dung:

    Trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc – đó là những tình cảm cao nhất thôi thúc Đăm Săn chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

    2. Nghệ thuật:

    * Nghệ thuật so sánh, phóng đại:

    – So sánh tương đồng: như lốc gài, như những vệt sao băng

    – So sánh tăng cấp:

    + Đoạn tả cảnh Đăm Săn múa khiên

    + Đoạn tả cảnh đoàn người đông đảo: “Tôi tớ…cõng nước.”

    + Đoạn mô tả thân hình lực lưỡng của Đăm Săn: “bắp chân…xà dọc.”

    – So sánh tương phản: tả cảnh múa khiên của Đăm Săn và Mtao Mxây

    – Các hình ảnh, sự vật được đem ra làm chuẩn so sánh được lấy từ thế giới thiên nhiên , từ vũ trụ bao la.

    ⇒ Để cao tầm vóc lớn lao của người anh hung, khát vọng không có giới hạn cộng đồng Ê-đê về một tương lai hùng mạnh, thịnh vượng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Hứng Sử Thi Là Gì ?
  • Logic Hình Thức Logic Hinh Thuc Ppt
  • ​tôn Giáo, Tín Ngưỡng, Mê Tín Dị Đoan
  • So Sánh Tín Ngưỡng Và Một Số Tôn Giáo Khác Ở Việt Nam
  • So Sánh Khái Niệm Văn Minh Việt Nam Và Khái Niệm Văn Hóa Việt Nam.
  • Tuần 3. Chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Tác Phẩm Chiến Thắng Mtao Mxây
  • Soạn Bài Lớp 10: Chiến Thắng Mtao
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Theo Chủ Đề : Sử Thi Vệt Nam Và Nước Ngoài
  • Học Tốt Ngữ Văn Lớp 10: Chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm :phương Pháp Dạy Đọc
  • Chiến thắng mtao – mxây

    Tiết 8

    (Trích đam san – Sử thi tây nguyên)

    I. Tìm hiểu chung:

    1. Thể loại sử thi:

    a. Khái niệm:

    – Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

    b. Phân loại:

    * Ví dụ: Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú (Ê- đê), Đăm Noi (Ba- Na)…

    + Sử thi thần thoại

    + Sử thi anh hùng

    * Ví dụ: Đẻ đất đẻ nước (Mường), Ẩm ệt luông (Thái), Cây nêu thần (Mnông)…

    2. Sử thi Đăm Săn

    a. Tóm tắt tác phẩm: ( SGK – tr30)

    Đăm Săn lấy hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị, trở thành một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy. Các tù trưởng Kên Kên (Mtao Grư), tù trưởng sắt ( Mtao Mxây ) lừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng, bắt Hơ Nhị về làm vợ.”

    Cả hai lần, Đăm Săn đều tổ chức đánh trả và đều chiến thắng, cứu được vợ và tịch thu của cải, đất đai của kẻ địch khiến oanh danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng gìau có, đông đúc.

    Một lần tình cờ gặp cây sơ-múc (cây thần vật tổ bên nhà vợ), Đăm Săn ra sức chặt đổ kì được. Liền đó cả hai vợ đều chết và Đăm Săn phải tìm lối lên trời xin thuốc thần cứu vợ sống lại.

    Ít lâu sau, Đăm Săn lại tìm cách lên trời hỏi nữ thần Mặt Trời ( con gái của Trời ) về làm vợ. Tức giận vì bị từ chối, chàng bỏ về và cả người lẫn ngựa bị chết ngập ở rừng Sáp Đen nhão như bùn nước. Hồn Đăm Săn biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Âng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai. Đó là Đăm Săn cháu, lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng.”

    b. Giá trị:

    – Sử thi Đăm Săn là thiên sử thi anh hùng tiêu biểu của dân tộc Ê- đê nói riêng và kho tàng sử thi dân gian nước ta nói chung.

    3. Đoạn trích:

    Vị trí :

    – Thuộc phần giữa tác phẩm

    b. Bố cục: 3 phần

    1

    Trận đánh của hai tù trưởng.

    2

    Đăm Săn cùng các nô lệ trở về sau chiến thắng.

    3

    Cảnh ăn mừng chiến thắng.

    II. Đọc hiểu văn bản:

    1. Hình tượng Đăm Săn trong trận chiến với Mtao Mxây:

    Đăm Săn khiêu chiến khiến Mtao Mxây run sợ.

    Khi vào cuộc chiến:

    – Hiệp một:

    + Trong khi Mtao Mxây múa khiên trước, Đăm Săn vẫn giữ thái độ bình tĩnh, thản nhiên. Điều này thể hiện bản lĩnh của chàng.

    + Mtao Mxây đã lộ rõ sự kém cỏi nhưng vẫn nói những lời huênh hoang.

    Hiệp hai:

    + Đăm Săn múa khiên làm cho Mtao Mxây hốt hoảng trốn chạy với bước cao bước thấp àThể hiện sức mạnh của Đăm Săn và sự yếu sức của Mtao Mxây.

    + Mtao Mxây cầu cứu Hơ Nhị quăng cho miếng trầu à càng yếu sức

    + Đăm Săn cướp được miếng trầu à sức chàng tăng lên.

    – Hiệp ba:

    + Đăm Săn múa dũng mãnh và đuổi theo Mtao Mxây

    + Đăm Săn đâm trúng Mtao Mxây nhưng không thủng được áo hắn. Chàng phải cầu cứu thần linh

    Hiệp bốn:

    + Đăm Săn được thần linh giúp sức

    + Chàng đuổi theo và giết chết kẻ thù.

    Với lối mô tả song hành, lối so sánh phóng đại, Đăm Săn hơn hẳn Mtao Mxây về cả tài năng, sức lực, phẩm chất và phong độ. Đòi vợ chỉ là cái cớ, cao hơn chính là mở mang bờ cõi, làm nổi uy danh cộng đồng mà Đăm Săn là một nhân vật anh hùng sử thi đích thực.

    2. Thái độ của mọi người đối với chiến thắng của Đăm Săn

    a. Dân làng Mtao Mxây

    – Ba lần Đăm Săn kêu gọi thì cả ba lần mọi người đều hưởng ứng (số 3 tượng trưng cho số nhiều):”Không đi sao được, tù trưởng chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai”.Họ nhất trí xem Đăm Săn là tù trưởng, là anh hùng của họ.

    – Mỗi lần đối đáp có sự khác nhau, biến đổi, phát triển. Qua ba lần hỏi – đáp, lòng trung thành tuyệt đối của mọi nô lệ đối với Đăm Săn ngày càng được tô đậm

    – Mọi người cùng ra về theo Đăm Săn đông vui như đi hội: “Đoàn người đông như bầy cà tông, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối”

    Ý nghĩa:

    + Thể hiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng của cá nhân anh hùng đối với cộng đồng, bộ tộc.

    + Thể hiện lòng yêu mến, sự tuân phục của tập thể cộng đồng đối cá nhân anh hùng à Đây cũng là biểu hiện của ý thức dân tộc.

    b. Thái độ của dân làng Đăm Săn

    – Hân hoan chào đón người anh hùng chiến thắng trở về

    – Đồng lòng hưởng ứng lời kêu gọi của tù trưởng: mở tiệc ăn mừng chiến thắng

    – Phấn khởi, vui mừng, tự hào

    c. Thái độ của các tù trưởng xung quanh.

    “nhà Đăm Săn các vị tù trưởng

    đều từ phương xa đến”

    Kéo đến ăn mừng chiến thắng

    của Đăm Săn như ăn mừng chiến

    thắng của chính mình.

    3. Cảnh ăn mừng chiến thắng

    – Đăm Săn hiện lên ngoài vẻ đẹp hình thể còn là sức mạnh uy vũ, vô biên trong con mắt ngưỡng mộ của lũ làng

    – Cách miêu tả phóng đại tạo ấn tượng với độc giả

    – Hình ảnh Đăm Săn được miêu tả hoà vào với lũ làng trong niềm vui chiến thắng:

    đông vui nhộn nhị, ăn mừng hoành tráng

    4. Đặc sắc nghệ thuật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: “chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Sử Thi Đăm Săn)
  • Cảm Hứng Sử Thi Là Gì ?
  • Logic Hình Thức Logic Hinh Thuc Ppt
  • ​tôn Giáo, Tín Ngưỡng, Mê Tín Dị Đoan
  • So Sánh Tín Ngưỡng Và Một Số Tôn Giáo Khác Ở Việt Nam
  • Cách Tiếp Cận Mới Về Khái Niệm Sử Thi

    --- Bài mới hơn ---

  • Sản Xuất Hàng Hóa Là Gì? Ưu Thế Và Điều Kiện Để Sản Phẩm Trở Thành Hàng Hóa
  • Khái Niệm Sản Xuất Hàng Hóa
  • Sản Xuất Hàng Hóa Là Gì? Đặc Trưng Và Ưu Thế
  • Sản Xuất Hàng Hóa Và Các Quy Luật Kinh Tế Của Sản Xuất Hàng Hóa
  • Đặc Trưng Và Ưu Thế Của Sản Xuất Hàng Hóa
  • Chịu sự quy định của đặc trưng thể tài, tiểu thuyết sử thi nhạy cảm hơn cả với bước đi của lịch sử, với những sự kiện lịch sử. Sự đổi mới của tiểu thuyết hiện đại nói chung đi theo hai xu hướng: Hiện đại hóa và đổi mới từ truyền thống. Rõ nhất ở hiện đại hóa là sự phân nhánh thành nhiều dòng. Đề tài được mở ra, các cách viết mới được thể hiện. Các dòng đời tư, thế sự, trữ tình… thấm dần rồi tuôn trào vào các ngóc ngách đời sống mà trước đây còn cấm đoán, kiêng kỵ. Về hình thức thì thật muôn vẻ: Dòng ý thức, đa thanh, trò chơi, kỳ ảo… Tiểu thuyết sử thi trung thành với hướng truyền thống, tác phẩm như là sự hợp lưu của nhiều dòng khác nên dòng sông sử thi chủ lưu không trong vắt như xưa mà nhiều màu sắc, đa dạng, đa thanh, cường tráng và cũng phức tạp.

    Có vốn hiểu biết rộng và vận dụng tốt phương pháp nghiên cứu văn học so sánh, tác giả công phu khảo sát, đối chiếu tiểu thuyết của ta với các bộ tiểu thuyết nổi tiếng viết về chiến tranh ở nước ngoài, với mong muốn bạn đọc có thêm một cái nhìn, một sự đánh giá đúng đắn hơn về cái được và cái cần khắc phục ở văn học ta nói chung. Đây là cách làm khó nhưng có kết quả khả quan, mới mẻ, rất nên được khuyến khích.

    Với quan điểm khoa học, điềm tĩnh, thấu đáo, tác giả đưa ra một cái nhìn tổng quan về tiểu thuyết sử thi và trường ca đổi mới trên tinh thần lấy truyền thống làm nền tảng để tiếp thu những hướng viết hiện đại. Nhờ vậy, văn học sử thi của ta giàu bản sắc Việt ở lòng yêu nước, trọng tình, quý người; ở một hình thức giản dị nhưng sâu lắng. Hạn chế rõ nhất là nhiều nhà tiểu thuyết còn vụng trong việc phân tích tâm lý nhân vật. Tính cách nhân vật còn khuôn mẫu, khô cứng, chưa thích ứng với những không gian biến hóa khôn lường của chiến tranh, vì thế có những quyển, những trang văn còn nhạt, sượng, đơn giản.

    Trong tập có những trang viết nhẹ nhàng mà sâu lắng khẳng định thơ tình yêu thời chống Mỹ sẽ sống mãi cùng lịch sử vì giá trị tự thân và cả với tư cách chứng nhân lịch sử. Hành trang tinh thần một thời đuổi giặc của người lính là những dòng thơ và tình yêu mộng mơ ban đầu. Trong vắt, nguyên sơ và thánh thiện. Tâm hồn, tình yêu người lính là vậy. Đấy là một nguyên nhân góp phần tạo ra sức mạnh để làm nên chiến thắng.

    Tác giả khẳng định có sức thuyết phục hai cuộc kháng chiến vệ quốc thần thánh của dân tộc ta đã góp phần khẳng định một giá trị văn hóa vĩnh hằng trong lịch sử tư tưởng nhân loại: Đó là lòng yêu nước của những con người chính nghĩa sẽ làm nên sức mạnh thời đại. Mỗi giai đoạn lịch sử hào hùng đều có những tượng đài lịch sử tương ứng được điêu khắc bằng thứ ngôn ngữ trường ca vang vọng âm hưởng sử thi, lóng lánh sắc màu của cuộc sống một thời đuổi giặc. Ở ngày hôm nay có một tượng đài được tạc vào lịch sử bằng ngôn ngữ biểu hiện mới: Tượng đài người lính.

    Tập sách chứng minh trường ca của ta luôn đi theo hình thức đối thoại nên giàu âm hưởng và sự sống động đa chiều, góp phần tạo nên sự đa âm, nhiều bè giọng, nhiều sắc thái, mang tính tổng hợp, dung hợp thể loại rất cao: Lịch sử, đời tư, tự truyện, ký sự, phóng sự… Thế giới trường ca đã làm nên một bản hòa âm của anh hùng ca, tráng ca, tình ca, hoan ca và cả bi ca. Muốn nghe âm vang của một thời hoa lửa thì tìm trong trường ca là đầy đủ nhất, trung thực nhất.

    TÂN THANH HUYỀN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Loại Sử Thi: Khái Niệm, Đặc Trưng, Phân Loại
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • So Sánh Là Gì? Có Mấy Kiểu So Sánh, Cho Ví Dụ Văn 6
  • Chương Trình Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên Mầm Non 2022
  • Giáo Viên Mầm Non Phải Học Quản Lý Cảm Xúc Bản Thân Khi Dạy Trẻ
  • Học Tốt Ngữ Văn Lớp 10: Chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm :phương Pháp Dạy Đọc
  • Nêu Khái Niệm ,đặc Điểm ,phân Loại ,thể Loại , Của Sử Thi ,truyền Thuyết , Truyện Cổ Tích. Câu Hỏi 1130066
  • Văn Học Thế Giới:sử Thi Và Thần Thoại Hilap
  • Nghệ Thuật Miêu Tả Tâm Lí Nhân Vật Trong Sử Thi Ôđixê Của Homere ( Hi Lạp
  • Soạn Văn Bài: Chiến Thắng Mtao
  • I. Kiến thức cơ bản

    1. Về khái niệm sử thi

    Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hay nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

    Có hai tiểu loại sử thi dân gian :

    Sử thi thần thoại là loại sử thi kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sự hình thành các dân tộc, các vùng cư trú thời cổ đại của họ hoặc cũng có khi kể về sự xuất hiện nền văn minh buổi đầu. ở nước ta có một số bộ sử thi tiêu biểu cho tiểu loại này như: Đẻ đất đẻ nước (Mường), ẳm ệt luông (Thái), Cây nêu thần (Mơ-nông),….

    Sử thi anh hùng là những câu chuyện kể về cuộc đời và những chiến công hiển hách của người anh hùng – người đại diện cao nhất cho sự giàu có, quyền lực, sức mạnh và ước mơ của cộng đồng người thời cổ đại. Các tác phẩm tiêu biểu trong tiểu loại này là: Đam Săn, Đăm Di, Xing Nhã, Khinh Dú (Ê- đê); Đam Noi (Ba- na),…. Trong số những tác phẩm này thì tác phẩm được biết đến rộng rãi và nổi tiếng hơn cả là sử thi Đam Săn.

    2. Về đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

    Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây thuộc phần giữa của tác phẩm: Sau khi về làm chồng hai chị em tù trưởng Hơ Nhị và Hơ Bhị, Đam Săn trở nên một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy. Các tù trưởng Kên Kên(Mtao Grứ) và tù trưởng Sắt (Mtao Mxây) lừa lúc Đam Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông lao động sản xuất đã kéo người tới cướp phá buôn làng của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ. Cả hai lần ấy Đam Săn đều tổ chức đánh trả và chiến thắng, vừa cứu được vợ lại vừa sáp nhập được đất đai, của cải của kẻ địch khiến cho oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có và đông đúc hơn.

    Đoạn trích ngợi ca cuộc chiến đấu của Đam Săn. Đó là cuộc chiến đấu vì danh dự, vì hạnh phúc gia đình và hơn nữa vì cuộc sống bình yên và sự phồn vinh của thị tộc. Đoạn trích này tiêu biểu cho những đặc trưng của thể loại sử thi anh hùng.

    II. Rèn kĩ năng 1. Tóm tắt diễn biến trận đánh theo đúng trật tự của các tình tiết và sự kiện

    a) Đam Săn đến nhà Mtao Mxây khiêu chiến nhưng Mtao Mxây còn bỡn cợt chàng mà chưa chịu giao chiến ngay.

    b) Bước vào cuộc chiến :

    – Hiệp đấu thứ nhất

    + Hai bên lần lượt múa khiên.

    ● Mtao Mxây múa trước: tỏ ra yếu ớt và kém cỏi

    ● Đam Săn múa khiên: tỏ ra mạnh mẽ, tài giỏi hơn

    + Kết quả hiệp đấu: Mtao Mxây chạy khắp nơi để tránh đường khiên Đam Săn múa.

    – Hiệp đấu thứ hai

    + Đam Săn múa khiên: sức mạnh như gió bão. Cây giáo đâm liên tiếp Mtao Mxây nhưng không thủng.

    + Kết quả

    ● Đam Săn nhờ sự giúp đỡ của Ông Trời đã cắt được đầu của Mtao Mxây.

    ● Dân làng Mtao Mxây nhất loạt theo Đam Săn về ngôi làng mới.

    2. Cuộc chiến giữa Đam Săn và Mtao Mxây là cuộc chiến tranh mang tính chất thống nhất cộng đồng. Nó không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mục đích tàn sát, cướp bóc và chiếm giữ. Chính vì thế mà thái độ của nô lệ ở cả hai phía đối với việc thắng thua của hai tù trưởng cũng có những nét riêng:

    – Ở phía Mtao Mxây: Sau khi tù trưởng của mình thất bại, đông đảo nô lệ đều tâm phục và nghe theo lời vị tù trưởng mạnh hơn (“không đi sao được!… người nhà giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa”).Thái độ và hành động của đoàn người này chứng tỏ họ luôn mơ ước được trở thành một tập thể giàu có và hùng mạnh.Họ luôn mơ ước có được một người lãnh đạo dũng cảm, tài ba.

    – Ở phía Đam Săn: Dân làng tưng bừng náo nhiệt chào đón vị anh hùng của mình mới chiến thắng trở về. Họ đi lại sửa soạn vui mừng tấp nập không chỉ để mừng buôn sóc được mở mang, được hùng mạnh và giàu có mà còn để tiếp đón những người nô lệ mới bằng sự chân thành và hoà hợp (“… Các chàng trai đi lại ngực đụng ngực. Các cô gái đi lại vú đụng vú. Cảnh làng một tù trưỏng nhà giàu trông sao mà vui thế!”).

    3. Đoạn trích tuy miêu tả cuộc chiến tranh giữa các thị tộc trong thời nguyên thuỷ, thế nhưng lại không chú trọng miêu tả cảnh chết chóc đau thương. Trái lại, tác giả dân gian chủ yếu miêu tả cảnh chiến thắng tưng bừng của phía Đam Săn. Cuộc chiến dừng lại khi Mtao Mxây thất bại. Thế nhưng sự thất bại của Mtao Mxây không làm cho dân làng lo sợ, hoang mang. Họ ngay lập tức theo về phía Đam Săn, hoà nhập với cuộc đồng mới một cách rất tự nhiên. Dân làng của Đam Săn cũng vậy, họ đón tiếp những ng­ười bạn mới rất chân tình. Không khí của buổi tiệc sau chiến thắng từng bừng náo nhiệt vui say không hề có một chút gợn nào. Lựa chọn cách thể hiện nghệ thuật này, tác giả dân gian đã nhận ra tính tất yếu của cuộc chiến tranh thị tộc – đó là cuộc chiến tranh không kìm hãm sự phát triểu của xã hội Ê-đê, mà trái lại, nó giúp những tập thể lẽ tẻ, rời rạc tập hợp thành những tập thể lớn hơn, mạnh hơn. Và cũng chỉ nh­ư vậy, họ mới trở thành một dân tộc trư­ởng thành thực sự. Cách lựa chọn để hiện nghệ thuật ấy cũng là cách để dân gian ngợi ca tâm vóc và sứ mệnh lịch sử của ngư­ời anh hùng. Chỉ có những con ngư­ời ­u tú của thời đại như­ vậy mới đủ sức đứng lên thống nhất các thị tộc nhỏ lẻ lại với nhau, gom những thị tộc ấy lại thành một cộng đồng lớn mạnh và giàu có.

    4. Trong đoạn trích này, kiểu câu được dùng nhiều nhất là kiểu câu có sử dụng biện pháp so sánh, ví von. Những câu ấy, hoặc chứa biện pháp so sánh kiểu tương đồng (chàng múa trên cao, gió như bão; chàng múa dưới thấp, gió như lốc; đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối…), hoặc so sánh kiểu tăng cấp (Đam Săn múa khiên), cũng có trường hợp so sánh kiểu tương phản (đối lập giữa cảnh múa khiên của Đam Săn và Mtao Mxây). Những câu văn theo kiểu đòn bẩy này có giá trị rất lớn trong việc miêu tả nhân vật người anh hùng. Nó khẳng định và nâng bổng lên tài năng, sức mạnh của Đam Săn – người anh hùng uy danh lừng lẫy làm mờ đi cả sự giàu có và sức mạnh của kẻ thù.

    Cần lưu ý thêm, nếu chúng ta tiến hành phân loại thì có thể thấy rất rõ ràng: các hình ảnh, sự vật được đem ra để so sánh ở đây đều lấy ra từ thế giới tự nhiên, từ vũ trụ. Như thế hàm ý của tác giả là muốn lấy vũ trụ để “đo” kích cỡ, tầm vóc của nhân vật anh hùng. Thủ pháp nghệ thuật này là một thủ pháp quen thuộc của sử thi. Nó giúp mang lại những giá trị thẩm mỹ rất đặc trưng cho thể loại này: đặc trưng về sự trang trọng, hoành tráng và dữ dội.

    5. Sự xuất hiện của Ông Trời (thần linh) và việc can thiệp của Ông Trời vào chiến thắng của Đam Săn chứng tỏ ở thời kì ấy, con người và thần linh gắn bó mật thiết với nhau. Hay nói cách khác, nó là dấu vết của tư duy thần thoại trong sử thi, dấu vết của một xã hội chưa có sự phân hóa giai cấp rạch ròi. Tuy nhiên cũng từ câu chuyện này có thể nhận thấy, dù có can thiệp vào công việc của con người nhưng thần linh chỉ đóng vai trò là người “cố vấn”, “gợi ý” hành động chứ không phải là người quyết định tối cao kết quả của cuộc chiến. Như vậy trong mối quan hệ với các thần, người anh hùng vẫn giữ được vai trò quyết định và có tính độc lập riêng. Sắp đặt câu chuyện theo kiểu như vậy cũng là một hình thức đề cao vai trò của nhân vật anh hùng, đề cao tinh thần dân chủ của thời thị tộc cổ xưa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Theo Chủ Đề : Sử Thi Vệt Nam Và Nước Ngoài
  • Soạn Bài Lớp 10: Chiến Thắng Mtao
  • Hướng Dẫn Phân Tích Và Đọc Hiểu Tác Phẩm Chiến Thắng Mtao Mxây
  • Tuần 3. Chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Đăm Săn
  • Soạn Bài: “chiến Thắng Mtao Mxây (Trích Sử Thi Đăm Săn)
  • Thể Loại Sử Thi: Khái Niệm, Đặc Trưng, Phân Loại

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Tiếp Cận Mới Về Khái Niệm Sử Thi
  • Sản Xuất Hàng Hóa Là Gì? Ưu Thế Và Điều Kiện Để Sản Phẩm Trở Thành Hàng Hóa
  • Khái Niệm Sản Xuất Hàng Hóa
  • Sản Xuất Hàng Hóa Là Gì? Đặc Trưng Và Ưu Thế
  • Sản Xuất Hàng Hóa Và Các Quy Luật Kinh Tế Của Sản Xuất Hàng Hóa
  • Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

    2. Đặc trưng

    – Nội dung của sử thi có tính rộng lớn, kể về sự kiện trọng đại của quá khứ, biểu hiện toàn bộ đời sống văn hóa, lịch sử của cộng đồng, thể hiện quá trình vận động của tộc người đó qua các giai đoạn khác nhau.

    – Nghệ thuật: sử thi là những câu chuyện kể văn xuôi xen lẫn văn vần, có sử dụng các yếu thành ngữ, tục ngữ, những từ ngữ cổ, hình thức nghệ thuật ngôn từ dân gian.

    3. Phân loại sử thi a. Sử thi anh hùng dân gian

    – Ở dạng cổ xưa nhất của sử thi, tính anh hùng còn hiện diện trong vỏ bọc thần thoại hoang đường (các dũng sĩ không chỉ có sức mạnh chiến đấu mà còn có năng lực siêu nhiên, ma thuật, kẻ địch thì luôn hiện diện dưới dạng quái vật giả tưởng). Những đề tài chính được sử thi cổ xưa miêu tả: chiến đấu chống quái vật (cứu người đẹp và dân làng), người anh hùng đi hỏi vợ, sự trả thù của dòng họ.

    – Các dạng cổ điển của sử thi có nhân vật thường là các dũng sĩ kiêm thủ lĩnh và các chiến binh đại diện dân tộc ở tầm lịch sử; các kẻ thù của họ thường được đồng nhất với bọn xâm lược, những kẻ áp bức, ngoại bang và dị giáo (như người Turk, người Tartar với sử thi Slavơ).

    – Thời gian sử thi ở đây khác với sử thi dân gian, không còn là thời đại sáng chế các thần thoại, mà là quá khứ vinh quang trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc.

    – Được ca ngợi trong các dạng sử thi cổ điển là các nhân vật và biến cố lịch sử (hoặc ngụy lịch sử), mặc dù bản thân sự miêu tả các chất liệu lịch sử bị phụ thuộc vào sơ đồ cốt truyện truyền thống, đôi khi còn sử dụng cả mô hình nghi lễ thần thoại.

    – Các nền sử thi thường là các cuộc đấu tranh của hai bộ lạc hoặc bộ tộc, sắc tộc ít nhiều tương ứng với sự thật lịch sử (như cuộc chiến Troia trong Iliad, việc tranh đoạt Sampo trong Kalevala). Quyền lực được tập trung trong các nhân vật trung tâm có hành động tích cực là các ông vua của thế giới sử thi (như Karl Đại Đế trong bản Anh hùng ca Roland), hay các dũng sĩ. Các nhân vật nổi loạn, cách mạng xung đột với quyền lực (Akhillos trong Iliad, Đăm San trong khan Êđê, Robin Hud trong thiên ballade của Anh, các nhân vật trong Thủy hử ở Trung Hoa) xuất hiện ít ỏi trong giai đoạn tan rã hình thức cổ điển của sử thi anh hùng.

    – Những anh hùng ca, với tư cách là các tác phẩm sử thi anh hùng cỡ lớn, thể hiện sự tương quan giữa yếu tố cá nhân anh hùng và yếu tố sử thi tập thể rõ rệt, đủ để bộc lộ tính tích cực cá nhân, đã trở thành công cụ đắc lực cho sự biểu hiện yếu tố toàn dân, và dân tộc.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • So Sánh Là Gì? Có Mấy Kiểu So Sánh, Cho Ví Dụ Văn 6
  • Chương Trình Bồi Dưỡng Thường Xuyên Giáo Viên Mầm Non 2022
  • Giáo Viên Mầm Non Phải Học Quản Lý Cảm Xúc Bản Thân Khi Dạy Trẻ
  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Thường Xuyên Module Gvmn 3
  • Khuynh Hướng Sử Thi Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Hạch Toán Chi Phí Sử Dụng Máy Thi Công Theo Tt200 – Tài Khoản 623 (Bài 76)
  • Chi Phí Sử Dụng Máy Thi Công
  • Kế Toán Tổng Hợp Xây Dựng: Những Điều Các Kế Toán Viên Cần Biết
  • Những Lưu Ý Khi Kế Toán Tổng Hợp Chi Phí Sản Xuất Và Giá Thành Sản Phẩm Xây Lắp
  • Quản Lý Doanh Nghiệp Sản Xuất
  • Tương tự: tính sử thi

    Khuynh hướng sử thi (tính sử thi): thường là những vấn đề lớn lao, những sự kiện, biến cố quan trọng có ý nghĩa sống còn với cả dân tộc, ngợi ca những vị anh hùng, chiến sĩ yêu nước,..  

    Tác phẩm viết theo huynh hướng sử thi là những tác phẩm đề cập đến những đề tài có ý nghĩa lịch sử và mang tính dân tộc.

    Nhân vật chính thg tiêu biểu cho lí tưởng, khát vọng, luôn hướng tới ánh sáng, luôn gắn số phận của cá nhân và số phận của cộng đồng, là kết tinh những phẩm chất tốt đẹp của một tập thể, cộng đồng.

    Lời văn sử thi thường mang vẻ đẹp ngợi ca, trang trọng, ngôn từ mang tính cách điệu, hào hùng.

    Đặc điểm của khuynh hướng sử thi

    Đề cập đến nhưng vấn đề chung của cộng đồng, của xã hội, của đất nước, những sự kiện mang tính lịch sử.

    Ngôn ngữu thường mang tính chất trang trọng, giàu hình ảnh, mang tính tưởng tượng cao.

    Các nhân vật, hình tượng trong tác phẩm mang tính chất sử thi, dù là con người bình dị thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, thành phần dân tộc..

    Cá tác phẩm mang tính sử thi luôn lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng củ dân tộc, vào thắng lợi của đất nước.

    Một số thủ pháp nghệ thuật khác: thủ pháp cường điệu, so sánh, lặp… nhằm khắc họa nổi bật đối tượng. Người đăng: trang

    Time: 2022-07-20 12:39:06

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vùng Sử Thi Tây Nguyên
  • Sử Thi Tây Nguyên – Kho Tàng Văn Hóa Tinh Thần Vô Giá
  • Vài Nét Về Thể Loại Sử Thi
  • Phương Pháp So Sanh Trực Tiếp Trong Định Giá Mmtb
  • Luật So Sánh Và Việc Dạy Luật So Sánh Ở Việt Nam: Từ Một Quan Điểm Tới Một Quan Điểm
  • Khái Niệm ‘lịch Sử’ Trong Sử Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm ‘sử Luận’ Trong Sử Học
  • Đại Cương Lịch Sử Triết Học Lichsutriethoc Ppt
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng, Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển: Tính Chất, Ý Nghĩa Và Vận Dụng Thực Tiễn
  • KHÁI NIỆM SỬ HỌC:

    HARRY RITTER

    ĐINH HỒNG PHÚC dịch

    Harry Ritter, “History”, in Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, 1986. pp. 193-199.

    LỊCH SỬ (Anh: ). 1. Theo cách dùng thông thường: quá khứ con người. 2. Theo cách dùng chuyên môn: quá khứ con người hoặc (quan trọng hơn) tra vấn về bản tính của quá khứ con người, với mục đích là chuẩn bị cho sự giải thích xác thực một hay nhiều phương diện của nó. Thuật ngữ này cũng quy chiếu, cả theo cách dùng chuyên môn lẫn cách dùng thông thường, đến các bản văn ghi chép về các sự kiện trong quá khứ. Từ quan điểm lịch sử – nghĩa là, từ lập trường của lịch sử bản thân tư duy lịch sử – về đại thể, lịch sử có thể được định là truyền thống học thuật, ghi chép, xác định niên đại từ thời cổ đại, dựa trên sự tra vấn thuần lý về bản tính sự kiện của quá khứ con người.

    Chữ lịch sử trong các ngôn ngữ Âu châu hiện đại có nghĩa hàm hồ: nó có thể dùng để chỉ các biến cố hay sự biến (events) của bản thân quá khứ ( res gestae trong tiếng La tinh nghĩa là “việc đã rồi”); hoặc chỉ hoạt động nghiên cứu và viết về quá khứ (Barzun, cũng có những nét nghĩa hàm hồ như chữ lịch sử. Xuất hiện ở thế kỷ 17, Geschichte được dùng đồng nghĩa với Historie, và khoảng thế kỷ 19, người ta thích dùng nó thay cho chữ để nói đến việc nghiên cứu về quá khứ 1950: 6). Nhà sử học là người “theo đuổi sự tra vấn này, và nhà sử học giỏi nhất là người theo đuổi nó tốt nhất” (Zagorin, 1956: 9).

    Ở thời Hy Lạp hóa và La Mã, lịch sử dùng để chỉ tự sự của người tra vấn; một sự thay đổi ngữ nghĩa diễn ra trong đó các ý niệm về sự tìm tòi nghiên cứu và sự chứng thực phụ thuộc vào nghệ thuật trình bày. Từ nghĩa này, chữ lịch sử theo nghĩa “câu chuyện” trở nên thông dụng, nghĩa là nó được dùng để chỉ các tự sự hư cấu và tự sự sự kiện (Press, 1977: 285, 288) – chẳng hạn, Câu chuyện của Tom Jones / History of Tom Jones của Fielding ở thế kỷ 18. Truyền thống tu từ học này – thứ truyền thống đã đi đến chỗ xếp lịch sử vào một nhánh của văn học, như là một phương tiện khai trí và giải trí cũng như là một nguồn nhận thức sự kiện quan trọng – vẫn giữ vị trí tối cao cho đến thế kỷ 18, đêm trước của sự ra đời lịch sử “khoa học” (Johnson, 1926: 21-22; Stromberg, 1951: 297-98).

    Suốt thời trung đại, lịch sử dần dần mang lấy nét nghĩa là toàn bộ diễn trình của các sự biến của con người, nghĩa này có lẽ không hề có ở thời cổ đại (Press, 1977: 283) nhưng lại trở thành yếu tố giữ vai trò then chốt trong thần học Kitô, trong triết học tư biện về lịch sử, và trong diễn ngôn đời thường của thời hiện đại. (Nhiều nghiên cứu trước đây về ý thức lịch sử thời cổ đại , hoặc rằng tư tưởng Hy-La và Do thái-Kitô giáo cổ đại cho thấy chúng có cả khái niệm tiến bộ lẫn khái niệm tái diễn ở bên ngoài sách vở”; nó giả định rằng quá khứ “có một thứ thực tại khách quan mà người nghiên cứu lịch sử có thể dùng để so sánh và kiểm tra các văn tập sử ký theo cách nào đó không thể giải thích được” (Johnson, 1926: 22). Các nhà phê phán truyền thống này cảnh báo rằng “chúng ta có thể biết quá khứ chỉ khi nào nó để lại những dấu vết của nó trong các tập sử ký và các tàn tích. Quá khứ không tồn tại ở đâu khác ngoài ý thức của con người” (Johnson, 1926: 22).

    Suốt thế kỷ 18, truyền thống cổ đại xem lịch sử như là tự sự được phối ngẫu với mối quan tâm đến sự kiện ở người sưu tầm cổ vật, và khoảng năm 1800 khái niệm hiện đại là “lịch sử khoa học” được hình thành. Thế thì lịch sử là sự tra vấn về bản tính của quá khứ vì bản thân quá khứ, được tiếp tục với mục đích là xác lập việc ghi chép tự sự về các sự biến như chúng “đã thực sự xảy ra” (Ranke, 1972: 234) công kích mô hình khoa học bằng cách cho rằng “theo bản chất bất biến của nó, lịch sử là một ‘câu chuyện'” – ý ông muốn nói là “nghệ thuật của lịch sử vẫn luôn là nghệ thuật của tự sự”; quan niệm lịch sử như là “nghệ thuật khai phóng” hay “bộ phận của văn chương của con người” vẫn còn phổ biến (Strayer, 1950. “History, popular and unpopular”. Trong Strayer: 27-57.

  • Barzun, Jacques. 1974. Clio and the doctors: psycho-history, quanto-history, and history. Chocago.
  • Berr, Henri, and Febvre, Lucien. 1932. “Hisroty and historiography: hisroty”. Encyclopedia of social sciences 7: 357-68.
  • Breisach, Ernst. 1983. Historiography: ancient, medieval and modern. Chicago.
  • Burke, Peter. 1969. The renaissance sense of the past. London.
  • Croce, Benedetto. 1972. “An inaugural lecture” trong Stern: 179-88.
  • Harbison, E. Harris. 1956. The Cristian scholar in the Age of Reformation. New York.
  • Hay, Denys. 1977. Annalists and historians: western historiography from the eighth to the eighteenth century. London.
  • Holborn, Hajo. 1949. “Greek and modern concepts of history”. Journal of the History of Ideas 10: 3-13.
  • Hughes, H. Stuart. 1964. History as art and as science: twin vistas on the past. New York.
  • Huizinga, Johan. 1972. Preface to Histories of the Latin and Germanic nations from 1494-1514. In Stern: 55-58.
  • Rothfels, Hans. 1961. “Einleitung”. In Waldemar Besson, ed., Geschichte: das Fischer Lexikon. Frankfurt.
  • Stern, Fritz. 1972. The varieties of history. New York.
  • Strayer, Joseph R. 1972. “Clio, a muse”. In Stern: 227-45.
  • Trompf, G. W. 1977. “Social science in historical perspective”. Philosophy of the social sciences 7: 113-38.
  • Trompf, G. W. 1979. The idea of historical recurrence in western thought: from Antiquity to the Reformation. Berkeley, Calif.
  • Turner, Frederich Jackson. [1891] 1972. “The significance of history” In Stern: 194-208.
  • Walsh, W. H. 1973. “History as science and history as more than science”. Virginia Quarterly Review 49: 196-212.
  • Weisinger, Herbert. 1945. “Ideas of history during the Renaissance”. Journal of the History of Ideas 6: 415-35.
  • White, Lynn. 1942. “Christian myth and Christian history”. Journal of the History of Ideas 3: 145-58.
  • Zagorin, Perez. 1956. “Carl Becker on history. Professor Becker’s two histories: a skeptical fallacy”. The Americain Historical Revew 62: 1-11.
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Là Gì? Vì Sao Phải Hiểu Khái Niệm Quản Lý
  • Vật Chất Với Tư Cách Là Phạm Trù Trong Triết Học Mác
  • Luận Văn Đề Tài Khái Niệm Phủ Định Biện Chứng Trong Triết Học Mác
  • Phủ Định Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Giữ Vai Trò Gì Đối Với Sự Phát Triển? Tại Sao? Thế Nào Là “phủ Định Của Phủ Định”? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Chuong Xi Van De Con Nguoi 62 Ppt
  • Khái Niệm “lịch Sử” Trong Sử Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Vài Suy Nghĩ Trong Quá Trình Nghiên Cứu Và Giảng Dạy Bài “những Vấn Đề Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Duy Vật Lịch Sử”
  • Từ Láy Là Từ Như Thế Nào? Tìm Hiểu Các Loại Từ Láy
  • Phân Biệt Từ Láy Từ Ghép
  • Phân Loại Từ Láy, Các Từ Láy Thông Dụng Trong Tiếng Việt
  • Từ Đơn Là Gì? Dấu Hiệu Nhận Biết Từ Đơn, Từ Ghép, Từ Láy
  • KHÁI NIỆM SỬ HỌC:

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    17

    18

    19

    20

    21

    22

    23

    24

    25

    26

    27

    28

    29

    30

    31

    32

    33

    34

    35

    36

    37

    38

    39

    40

    41

    42

    43

    44

    45

    46

    47

    48

    49

    50

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    LỊCH SỬ

    HARRY RITTER

    ĐINH HỒNG PHÚC dịch

     

    Harry Ritter, “History”, in Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, 1986. pp. 193-199.

     

    LỊCH SỬ (Anh: history). 1. Theo cách dùng thông thường: quá khứ con người. 2. Theo cách dùng chuyên môn: quá khứ con người hoặc (quan trọng hơn) tra vấn về bản tính của quá khứ con người, với mục đích là chuẩn bị cho sự giải thích xác thực một hay nhiều phương diện của nó. Thuật ngữ này cũng quy chiếu, cả theo cách dùng chuyên môn lẫn cách dùng thông thường, đến các bản văn ghi chép về các sự kiện trong quá khứ. Từ quan điểm lịch sử - nghĩa là, từ lập trường của lịch sử bản thân tư duy lịch sử – về đại thể, lịch sử có thể được định là truyền thống học thuật, ghi chép, xác định niên đại từ thời cổ đại, dựa trên sự tra vấn thuần lý về bản tính sự kiện của quá khứ con người.

     

    Chữ lịch sử trong các ngôn ngữ Âu châu hiện đại có nghĩa hàm hồ: nó có thể dùng để chỉ các biến cố hay sự biến (events) của bản thân quá khứ (res gestae trong tiếng La tinh nghĩa là “việc đã rồi”); hoặc chỉ hoạt động nghiên cứu và viết về quá khứ (Barzun, cũng có những nét nghĩa hàm hồ như chữ lịch sử. Xuất hiện ở thế kỷ 17, Geschichte được dùng đồng nghĩa với Historie, và khoảng thế kỷ 19, người ta thích dùng nó thay cho chữ Historie,. Cả ba nghĩa này đều đã có sẵn trong ngôn ngữ Hy Lạp và Latinh thời cổ điển, cho dù chữ historia theo nguyên nghĩa Hy Lạp chỉ có nghĩa là “tra vấn” về bất cứ thứ gì. Trong cách dùng chuyên môn của sử luận (historiography) hiện đại, lịch sử vẫn còn bảo lưu thông điệp cổ đại ấy – đó là hành vi tra vấn qua đó người ta nghiên cứu và truyền thông về quá khứ (ví dụ, Berr và Febvre, 1932: 358; Strayer trái ngược rõ nét với truyền thống cổ điển và truyền thống Do thái-Kitô giáo khi cho rằng người Hy Lạp và La Mã hiểu lịch sử như là một diễn trình tuần hoàn trong khi đó người Hebrew lại coi nó như là một diễn trình phát triển có tính mục đích luận và tiến bộ. Quan điểm này hiện nay bị tranh cãi, hoặc với căn cứ rằng ý niệm về lịch sử như là một diễn trình phát triển không hề tồn tại ở thời cổ đại ngụ ý rằng lịch sử là một loại “câu chuyện chưa kể” (Mink, 1978: 134), một “loạt các diễn biến trong thời gian và không gian 1972: 57).

    Những cuộc tranh luận về “bản tính” của lịch sử trở nên quyết liệt và mạnh mẽ hơn trong thế kỷ 20; đa phần là những nỗ lực xác định lịch sử hoặc là “nghệ thuật” hoặc là “khoa học” trong các phương pháp và mục đích của nó (ví dụ Hughes, 1964). Ngay từ đầu thế kỷ, nhà sử học Anh G. M. Trevelyan ( 1950: 3; Bazun, 1945: 81). Mặt khác, một số nhà sử học cương quyết khẳng định rằng lịch sử là một môn khoa học xã hội. Cách thông thường nhất để tránh trách nhiệm trong cuộc tranh luận này là cho rằng lịch sử là sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và khoa học và nói rằng nó giữ vị thế tự trị trong các ngành khoa học nhân văn. Nhưng điều quan trọng hơn cuộc tranh luận này nhiều chính là công việc nghiên cứu đã được mở rộng hơn rất nhiều về phạm vi và phương pháp trong thế kỷ 20 và không còn được đồng nhất một cách hạn hẹp với việc tái dựng lại chế độ chính trị hay các sự vụ của giáo hội trong quá khứ dựa trên các tài liệu viết.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Arendt, Hannah. 1961. “The concepts of history: ancient and modern”. Trong Hannah Arendt, Between past and future: Eight exercises in political thought. New York: 41-90.

    2. Barzun, Jacques. 1945. “History as a liberal art”. Journal of the History of Ideas 6: 81-88.

    3. Barzun, Jacques. 1960. History: its theory and practice. New York.

    4. Finley, M. I. 1964-65. “Myth, memory, and history”. History and Theory 4: 281-302.

    5. Fritz, Kurt von. 1958. Aristotle’s contribution to the practice and theory of historiography. Berkeley, Calif.

    6. Fustel de Coulanges, N. D. 1963. “A definition of concept of history”. Trong Raymond Klibansky and H. J. Paton, ed., Philosophy and history: essays psented to Ernst Cassier. New York: 1-10.

    7. Johnson, Allen. 1926. The historian and historical evidence. New York.

    8. Meiland, Jack W. 1965. Scepticism and historical knowledge. New York.

    9. Mink, Louis O. 1978. “Narrative form as a cognitive instrument”. In Canary and Kozicki: 129-49.

    10. Press, Gerald A. 1977. “History and development of the idea of history in antiquity.” History and Theory 16: 280-96.

    11. Preston, Joseph H. 1977. “Was there an historical revolution?”  Journal of the History of Ideas 38: 353-64.

    12. Ranke, Leopold von. 1950. “Introduction”. In Strayer: 3-26.

    13. Stromberg, R. N. 1951. “History in the eighteenth century”. Journal of the History of Ideas 12: 295-304.

    14. Trevelyan, George Macaulay. 1972. “The significance of history” In Stern: 194-208.

    15. Walsh, W. H. 1973. “History as science and history as more than science”. Virginia Quarterly Review 49: 196-212.

    16. Weisinger, Herbert. 1945. “Ideas of history during the Renaissance”. Journal of the History of Ideas 6: 415-35.

    17. White, Lynn. 1942. “Christian myth and Christian history”. Journal of the History of Ideas 3: 145-58.

    18. Zagorin, Perez. 1956. “Carl Becker on history. Professor Becker’s two histories: a skeptical fallacy”. The Americain Historical Revew 62: 1-11.

     

    [1] Geschichte (Lịch sử) là một chữ thuần Đức, còn Historie là một chữ Đức vay mượn – ND.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng Và Đặc Điểm Của Triết Học Mác Lênin
  • I. Triết Học Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học
  • Quán Triệt Nguyên Tắc Khách Quan Và Quan Điểm Toàn Diện Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Triết Học Hy Lạp
  • Nội Dung Và Cách Thực Hiện Quan Điểm Toàn Diện? Cho Ví Dụ Minh Họa.
  • Khái Niệm ‘sử Luận’ Trong Sử Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Cương Lịch Sử Triết Học Lichsutriethoc Ppt
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng, Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển: Tính Chất, Ý Nghĩa Và Vận Dụng Thực Tiễn
  • Khái Niệm Về Âm Dương Ngũ Hành (Phần 2)
  • KHÁI NIỆM SỬ HỌC

    ĐINH HỒNG PHÚC dịch

    Harry Ritter. 1986. “Historiography”. In Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, pp. 188-192.

    SỬ LUẬN (Anh: Historiography). 1. Lịch sử thành văn; lối viết sử. 2. Ngành nghiên cứu sự phát triển của sử học; lịch sử sử học như là một ngành học thuật tổng quát, hay lịch sử của sự diễn giải lịch sử về các giai đoạn và các vấn đề cụ thể.

    Sử luận được các nhà sử học nói tiếng Anh dùng theo hai nghĩa: nghĩa rộng, lịch sử thành văn nói chung hay hành vi của lịch sử thành văn ( nhà sử luận cũng có nghĩa là nhà sử học, nhưng nay ít dùng); và nghĩa hẹp hơn, thuật ngữ dùng để chỉ bộ môn nghiên cứu về lịch sử lối viết, các phương pháp, sự diễn giải và tranh cãi trong sử học (Hexter, 1967: 3). Nghĩa thứ nhất có lâu đời hơn nghĩa thứ hai nhiều; trong tiếng Anh, cách dùng chữ sử luận theo nghĩa truyền thống là “lịch sử thành văn” xuất hiện ít nhất từ thế kỷ 16. Từ điển tiếng Anh Oxford, quả thực, chỉ đưa ra duy nhất mỗi định nghĩa này, với mốc thời gian được biết đến sớm nhất là năm 1569. Các nhà sử học tiếp tục dùng chữ sử luận theo nghĩa này một cách khá thường xuyên, mặc dù ở mức độ đáng kể nó phải được thay thế bằng chữ ngắn hơn, dù đầy tham vọng, là lịch sử 1968: v), Fueter và các học giả nói tiếng Đức khác tiếp tục dùng chữ sử luận theo nghĩa truyền thống (tức là đồng nghĩa với chữ lối viết sử, hay Geschichtsschreibung), nhưng ví dụ của họ lại xác lập một mối liên kết mật thiết giữa “sử luận” với sự phân tích về lối viết sử và các phương pháp. (Ngày nay, Historiographie chủ yếu hình như đã giữ lại nét nghĩa truyền thống của nó ở Đức, thậm chí ở một số các nhà sử học; trong cuốn từ điển các từ ngữ chuyên môn của mình, Bayer , ông định nghĩa là nó “thường đồng nghĩa với Geschichtsschreibung, Historiographie”). Cách dùng của tiếng Đức đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến các nhà sử học Anh như G. P. Gooch chẳng hạn, vị học giả này, ít ra phần nào có đi theo tiền lệ của người Đức, đã dùng cụm từ “sự phát triển của sử luận hiện đại” vào năm 1913 làm lời tựa cho cuốn Lịch sử và các nhà sử học ở thế kỷ 19 ( 1959: 132) định nghĩa sử luận là “lịch sử sử học: lịch sử, nghĩa là, của cái mà các thế hệ nối tiếp nhau đã mường tượng ra quá khứ giống như thế.” Vào cuối thập niêm 1930, ông có một bài tiểu luận bàn riêng về cách hiểu sử luận như là “nghiên cứu về lịch sử của việc nghiên cứu lịch sử,” cách hiểu mà ông mô tả bằng ngôn ngữ khinh khi là “chẳng khác gì sự ghi chú vắn tắt các công trình sử học kể từ thời Hy Lạp, cùng với sự chỉ dẫn nào đó về mục đích và quan điểm của các tác giả, các nguồn tài liệu do họ sử dụng, và tính chính xác và độ tin cậy của bản thân các công trình. Mục đích chính của những công việc như thế … là đánh giá, theo các tiêu chuẩn hiện đại, giá trị của các công trình lịch sử đối với chúng ta. Ở cấp độ này, sử luận mang lại cho ta những cuốn sách hướng dẫn hay thông tin về các lịch sử và các nhà sử học, cung cấp cho ta, có thể nói như vậy, một bảng kết toán gọn gàng về “các đóng góp” của từng nhà sử học góp cho toàn bộ khối tri thức lịch sử được kiểm chứng giờ ta đang có sẵn trên tay,” (1938: 20)

    Nhưng Becker tin rằng sử luận phải là cái gì đó nhiều hơn; “theo nghĩa nào đó, 1962) của mình rập theo khuôn của Fueter. Dù không coi sử luận là một thuật ngữ chuyên môn, nhưng ông cho rằng “cũng giống như các hình thái khác của văn hóa, 1972: 327, 328; Beard và Vagt, 1937: 467, 477), và tấm gương của ông giữ một vai trò quan trọng một cách không thể nghi ngờ.

    Với tính cách là một thể loại, sử luận đã nhanh chóng trở nên phổ biến kể từ năm 1945. Theo John Highham, các nhà sử học Mỹ, cho dù “vẫn còn thấy khó chịu ở các lĩnh vực triết học lịch sử đã được cải tiến … đã trở nên say mê một loại thuyết giải cụ thể hơn mà chúng ta gọi là sử luận… Với tư cách là người trung gian trong diễn ngôn học thuật, nhà sử luận tiến hành xem xét những chỗ nào mà người phê bình sách bỏ qua. Ông bảo vệ sự học thuật về quá khứ mà như hiện nay tỏ ra xác đáng. Ông chú ý đến các phương diện hội tụ của nền học thuật hiện nay, bằng cách trợ giúp cá nhân các nhà sử học phát hiện ra mối quan hệ giữa những sự quan tâm riêng của họ với những trào lưu tư tưởng rộng lớn hơn. (1965: 89)

    Highham nói thêm rằng sử luận cũng có thể trở thành một “vũ khí phê phán” vì, trong chừng mực nó “pha trộn sự giải thích lịch sử với sự đánh giá phê phán”, nó cung cấp một “phương tiện giải phóng ra khỏi các ý niệm và các lối diễn giải mà người ta muốn thay” (tr. 89)

    Ở mặt tiêu cực, một số nhà sử học biểu lộ một sự ác cảm nào đó với ý niệm về lối viết sử của công việc riêng của họ, như thể đây là một hoạt động không tương xứng với sự chú ý có trọng điểm của các học giả thuộc lớp đầu tiên, là những người quan tâm tới “Lịch sử, chứ không phải các nhà viết sử” (Bloch, 1973: 77).

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Barnes, Harry Elmer. 1972. “That Noble Dream”. In Stern: 315-28.
    2. Beard, Charles A. Và Vagts, Alfred. 1937. “Currents of Thought in Historiography”. The American Historian Review 42: 460-83.
    3. Becker, Carl L. 1938. “What is Historiography”. The American Historian Review 44: 20-28.
    4. Berkhofer, Robert F., Jr. 1961. Feudal Society. London.
    5. Butterfield, Herbert. 1955. Man on His Past: The Study of the History of Historical Scholarship. Cambridge.
    6. Flint, Robert. 1874. The Philosophy of History in Europe: France and Germany. Edinburgh.
    7. Fueter, Eduard. 1959. History and Historians in the Nineteenth Century. Boston.
    8. Hexter, J. H. 1967. “The Rhetoric of History.” History and Theory 6: 3-13.
    9. Higham, John, và ngk. 1965. History. Englewood Cliffs, N.J.
    10. Robinson, James Harvey. 1912. “The History of History.” In James Harvey Robinson, The New History: Essays Illustrating the Modern Historical Outlook. New York: 26 và tiếp theo.
    11. Thompson, James Westfall. 1942. A History of Historical Writing. 2 vols. New York.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm ‘lịch Sử’ Trong Sử Học
  • Khái Niệm Quản Lý Là Gì? Vì Sao Phải Hiểu Khái Niệm Quản Lý
  • Vật Chất Với Tư Cách Là Phạm Trù Trong Triết Học Mác
  • Luận Văn Đề Tài Khái Niệm Phủ Định Biện Chứng Trong Triết Học Mác
  • Phủ Định Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Giữ Vai Trò Gì Đối Với Sự Phát Triển? Tại Sao? Thế Nào Là “phủ Định Của Phủ Định”? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Khái Niệm & Lịch Sử Của Bia

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Tổng Quan Về Bia Quy Trình Công Nghệ Sản Xuất Bia
  • Tổng Quan Về Bia Và Quy Trình Chiết Bia Lon
  • Nhu Cầu (Needs), Mong Muốn (Wants) Và Nhu Cầu Có Khả Năng Chi Trả (Demands) Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Định Nghĩa Cầu Nguyện Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Cầu Nguyện
  • Định Nghĩa Cầu Nguyện Phối Hợp Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Cầu Nguyện Phối Hợp
  • Bia (từ tiếng Pháp: bière hoặc tiếng Anh: beer) nói một cách tổng thể, là một loại đồ uống chứa cồn được sản xuất bằng quá trình lên men của đường lơ lửng trong môi trường lỏng và nó không được chưng cất sau khi lên men. Dung dịch đường không bị lên men gọi là hèm bia, thu được từ quá trình ngâm nước, hay “nước ủ bia”, hạt ngũ cốc được ủ thành mạch nha, thông thường là lúa mạch. Các đồ uống chứa cồn được làm từ sự lên men đường có trong các nguồn không phải ngũ cốc chẳng hạn nước hoa quả hay mật ong nói chung không được gọi là “bia”, mặc dù chúng cũng được sản xuất từ cùng một loại men bia dựa trên các phản ứng hóa sinh học.

    Lịch sử của bia

    Bia là một trong các đồ uống lâu đời nhất mà loài người đã tạo ra, có niên đại ít nhất là từ thiên niên kỷ thứ V trước công nguyên và đã được ghi chép lại trong các thư tịch cổ của Ai Cập cổ đại và lưỡng hà (Mesopotamia).

    Tại Lưỡng Hà, chứng cứ lâu đời nhất về bia được cho là bức vẽ 6.000 năm tuổi của người Sumeria miêu tả những người đang uống một thứ đồ uống bằng các cần hút bằng sậy từ thùng công cộng. Bia cũng được đề cập tới trong thiên sử thi Gilgamesh, một bản trường ca 3.900 năm tuổi của người Sumeria để tỏ lòng tôn kính nữ thần Ninkasi, vị thần bảo trợ cho bia, nó chứa công thức làm bia cổ nhất còn sót lại và miêu tả việc sản xuất bia từ lúa mạch thông qua bánh mì. Bia đã trở thành thiết yếu đối với tất cả các nền văn minh trồng ngũ cốc ở thế giới phương Tây cổ xưa, đặc biệt là ở Ai Cập và Lưỡng Hà.

    Người Thracia cũng được biết là đã sử dụng bia sản xuất từ lúa mạch đen, thậm chí từ thế kỉ V trước công nguyên, như Hellanicos đã viết trong vở các opera. Tên gọi cho bia của họ là Brutos hay Brytos.

    Tại châu Âu, trong thời Trung cổ, bia chủ yếu được sản xuất trong gia đình. Vào thế kỷ XIV và XV, việc sản xuất bia đã dần dần chuyển từ hoạt động gia đình sang hoạt động thủ công, với các quán bia và tu viện sản xuất bia của mình hàng loạt để tiêu thụ.

    Trong thế kỷ XV, ở Anh loại bia không có hoa bia được biết đến như là ale, còn việc sử dụng hoa bia thì đồ uống đó gọi là bia. Bia có chứa hoa bia được nhập khẩu vào Anh từ Hà Lan sớm nhất là từ năm 1400 ở Winchester, và hoa bia đã được trồng trên quốc đảo này từ năm 1428. Tính phổ biến của hoa bia ban đầu là hỗn hợp – Công ty bia rượu London đã đi xa tới mức ra thông báo ” không hoa bia, không thảo mộc hoặc những gì khác tương tự được cho vào bất kỳ ale hay rượu (mùi) nào sẽ được sản xuất – mà chỉ có liquor (nước), mạch nha, và men bia “. Tuy nhiên, vào thế kỷ 16, ale đã được dùng để chỉ các loại bia mạnh (nồng độ cồn cao) bất kỳ, và tất cả ale và bia đều sử dụng hoa bia.

    Phần lớn các loại bia cho đến thời gian gần đây thực chất là thứ mà ngày nay gọi là ale. Bia lager đã được phát hiện ra một cách tình cờ vào thế kỷ 16 sau khi bia được lưu trữ trong các hầm lạnh một thời gian dài; kể từ đó nó đã được sản xuất nhiều hơn ale.

    Với sự phát minh ra động cơ hơi nước năm 1765, công nghiệp hóa sản xuất bia đã trở thành sự thật. Các cải tiến mới trong công nghệ sản xuất bia đã xuất hiện cùng với sự ra đời của nhiệt kế và tỷ trọng kế vào thế kỷ 19, đã cho phép các nhà sản xuất bia tăng tính hiệu quả và kiểm soát nồng độ cồn. Cho đến cuối thế kỷ 18, mạch nha chủ yếu được làm khô bằng lửa do đốt gỗ, than củi, trấu, và sau năm 1600 là từ than cốc. Nói chung, không có loại mạch nha nào trong số này được che chắn tốt khỏi khói sinh ra trong các lò sấy, và do đó các loại bia thời kỳ đó có thành phần hơi khói trong hương vị của chúng; các chứng cứ chỉ ra rằng các nhà sản xuất mạch nha và bia thường xuyên phải cố gắng giảm thiểu sự ám khói của bia thành phẩm. Sự phát minh ra lò nướng hình trống năm 1817 của Daniel Wheeler đã cho phép tạo ra mạch nha mạch nha nướng chín kỹ và tạo tiền đề cho sản xuất các loại bia đen (porter và stout). Sự phát minh ra vai trò của men bia trong quá trình lên men vào năm 1857 bởi Louis Pasteur đã giúp cho các nhà sản xuất bia phương pháp ngăn chặn vị chua của bia bởi các loại vi sinh vật không mong muốn.

    Ngày nay, công nghiệp bia là công việc kinh doanh khổng lồ toàn cầu, bao gồm chủ yếu là các tổ hợp được ra đời từ các nhà sản xuất nhỏ hơn. Trong khi bia chủ yếu là đồ uống chứa cồn thì một số biến thái của nó cũng tồn tại, xuất phát từ thế giới phương Tây, là các loại bia đi qua công đoạn xử lý để loại bỏ bớt cồn, sản xuất ra cái gọi là bia không cồn.

    FOODNK

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bias Là Như Thế Nào? Phân Biệt Bias Và Stan Ra Sao?
  • Khái Quát Về Biển, Đảo Việt Nam
  • Chính Sách Biển Và Đại Dương
  • Biển, Đại Dương Và Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam
  • Đặc Điểm, Vai Trò Của Biển Và Đại Dương
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100