Khái Niệm Khoa Học Giáo Dục

--- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng Trong Giáo Dục
  • Bài Giảng Chương 9: Tăng Cường Tiềm Lực Khoa Học
  • Xây Dựng Tiềm Lực Khoa Học Và Công Nghệ Trong Khu Vực Phòng Thủ
  • Xây Dựng Và Phát Triển Tiềm Lực Khoa Học Công Nghệ
  • Khoa học giáo dục (khoa học giáo dục) là một bộ phân của hệ thống các khoa học nghiên cứu về con người, bao gồm: giáo dục học, tâm lý học sư phạm, lý luận dạy học, phương pháp giảng day bộ môn… khoa học giáo dục có mối quan hệ với các khoa học khác như triết học, xã hội học, dân số học, kinh tế học, quản lý học…So với các khoa học khác, khoa học giáo dục có đặc điểm nội bật đó là: tính phức tạp và tính tương đối. Tính phức tạp hể hiện ở mối quan hệ giao thoa với các khoa học khác, không có sự phân hóa triệt để, mà cần có sự phối hợp bởi vì con người vốn là thế giới phức tạp. Cuối cùng các qui luật của khoa học giáo dục là mang tính số đông, có tính chất tương đối, không chính xác như toán học, hóa học…

    khoa học giáo dục nghiên cứu những qui luật của quá trình truyền đạt (người giáo viên) và quá trình lĩnh hội (người học) tức là qui luật giữa người với người, nên thuộc phạm trù khoa học xã hội. Phương pháp của khoa học giáo dục nói riêng và khoa họcXH nói chung là quan sát, điều tra, trắc nghiệm, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm…

    Khi xem giáo dục là tập hợp các tác động sư phạm đến người học với tư cách là một đối tượng đơn nhất, thì khoa học giáo dục nghiên cứu mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học, phương tiện dạy học và các mối quan hệ hài hòa giữa các yếu tố đó. Nó như là một hệ khép kín ổn định.

    Khi xem giáo dục như là một hoạt động xã hội, đào tạo ra lực lượng lao động mới, khoa học giáo dục nghiên cứu mối quan hệ giữa sản xuất xã hội và đội ngũ người lao động cần giáo dục đào tạo:

      các yêu cầu của sản xuất xã hội đối với đội ngũ lao động về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất;
      qui hoạch phát triễn giáo dục;
      logíc tác động qua lại giữa nền sản xuất và đào tạo.

    Như vậy chúng ta có thể nhận thấy là khi xem xét một vấn đề về khoa học giáo dục phải đặt trong nhiều mối quan hệ và tiếp cận hệ thống như:

      Hệ thống giáo dục quốc dân gồm nhiều bộ phận hay hệ thống con có sự tác động qua lại với môi trường hay phân hệ khác như kinh tế, chính trị, văn hóa
      Hệ thống quá trình đào tạo (giáo viên, học sinh, tài liệu, trang thiết bị, lớp học và các tác động của môi trường học ở địa phương
      Hệ thống chương trình các môn học
      Hệ thống tác động sư phạm đến từng cá thể và đặc điểm nhân cách, tâm lý lứa tuổi

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoa Học Xã Hội (Social Sciences) Là Gì? Ví Dụ Về Khoa Học Xã Hội
  • Những Điều Cần Biết Về Thuật Ngữ Địa Chính Trị
  • Địa Chính Trị, Những Khái Niệm Và Định Nghĩa
  • Bài 13. Chính Sách Giáo Dục Và Đào Tạo, Khoa Học Và Công Nghệ, Văn Hoá
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 13: Chính Sách Giáo Dục Và Đào Tạo, Khoa Học Và Công Nghệ, Văn Hóa (Tiết 1)
  • Thế Nào Là Sách Giáo Khoa?

    --- Bài mới hơn ---

  • Danh Sách Liên Kết Đơn Và Các Biến Thể — Singly Linked List And Its Variants
  • Cơ Cấu Chi, Các Biện Pháp Cân Đối Và Quản Lý Ngân Sách Nhà Nước
  • Kỹ Năng Đọc Hiểu Văn Bản Trong Bài Thi Môn Văn, Phổ Thông Trung Học
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Phục Vụ Người Đọc
  • Những Khái Niệm Liên Quan Đến Ngành Y Đa Khoa
  • Nghiên cứu – Phê bình – Trao đổi

     

    Lại sôi lên về sách giáo khoa!

    Trên trang mạng GDVN chiều 19-3-2019 tiếp tục đưa tin về bức xúc của xã hội: hàng năm lãng phí hàng ngàn tỉ đồng từ SGK không dùng lại được. Vì sao? Vì SGK được thiết kế để học sinh làm bài tập luôn vào đó. Khi đã viết vào đó, hàng triệu em, mỗi em một kiểu cách đúng, sai, dài, ngắn, chữ đẹp và không đẹp, dây mực, tẩy xóa… nên không thể dùng lại được. Như thế là hiển nhiên rồi, không có gì phải bàn thảo.

    Nhưng đó có phải là sách giáo khoa không? Nguồn gốc vấn đề chính là ở đây. Cần thẳng thắn nhìn nhận để đồng thuận trong cách giải quyết.

    Cùng một chức năng là tài liệu cho người học, ở bậc Đại học gọi là giáo trình. Ở bậc Trung học phổ thông và Tiểu học gọi là sách giáo khoa. Khác nhau ở trình độ người học được thể hiện ở nội dung biên soạn.

    Giáo trình không có bài tập mà xong mỗi học phần thì sinh viên phải làm khóa luận. Còn ở Tiểu học và Trung học, gọi chung là Trung học phổ thông, học bài nào, có bài tập, học sinh nương theo các câu hỏi tức là đầu bài, đề bài, để làm bài tập đó. Bài học đó thể hiện học sinh có hiểu bài học không và sức hiểu, sức diễn đạt đến đâu. Qua bài tập, giáo viên thấy được thực học của mỗi học sinh từ đó điều chỉnh sự chú ý đến từng học sinh. Em nào sáng dạ, nhanh ý, thông minh, học giỏi, có sự chú ý khác. Em nào tiếp thu kém, diễn đạt kém sẽ phải chú ý hơn. Phụ huynh học sinh cũng sẽ thấy được thực học của con mình. Đại khái như thế.

    Chúng tôi không đi sâu vào định nghĩa, giới thuyết thế nào là giáo trình, thế nào là SGK mà bằng kinh nghiệm học tập đã qua, từ Tiểu học đến Đại học để xem xét cái gọi là SGK hiện nay, tức là SGK được thiết kế để học sinh làm bài tập luôn vào đó.

    Tôi sinh năm 1945. Không qua lớp Mẫu giáo vì hồi đó (khoảng 1950-1954) chưa có lớp Mẫu giáo, bây giờ gọi là trường Mầm non. Mãi đến 1958, khi bắt đầu Hợp tác hóa (1958) thì mới có Nhà trẻ, tiếp đó có lớp Mẫu giáo. Tôi tập đọc tập viết tập làm bốn phép tính cơ bản là học ké ở lớp Bình dân học vụ. Lớp Bình dân học vụ hồi đó y hệt chương trình VNEN nhập của Colombia bây giờ. Buổi trưa sau hồi kẻng hay mõ thì ai muốn đi học, đến một nhà nào đó rộng bụng rộng nhà. Vì có nhà rất rộng nhưng họ không muốn cho lớp BDHV học nhờ. Thầy giáo là một người trong xóm, đủ sức dạy được đọc, ghép vần, viết và làm bốn phép tính. Trong lớp học thì đủ trình độ, đủ lứa tuổi. Từ trẻ con như tôi mới 8 tuổi đến người già 50-60 tuổi, thậm chí hơn. Đến nay tôi vẫn không hiểu được làm sao mình lại theo học được ở cái lớp học Sơ học tổng hợp ấy rồi cũng biết đọc biết viết biết làm bốn phép tính để năm 9 tuổi đi học lớp Một. Xin vào lớp Một ngày ấy dễ lắm, không khó như bây giờ. Muốn vào học thì phụ huynh có lời với nhà trường, với thầy giáo cô giáo đứng lớp rồi sách vở đến mà học. Tôi học đến lớp Bốn vẫn chưa có SGK. Tôi không giữ được vở học hồi ấy nên không nhớ sự làm bài tập như thế nào. Nhưng đại khái thầy giáo ra bài tập bằng cách viết lên bảng, học trò chép đề bài vào vở của mình rồi làm, rồi xếp lên bàn cho thầy chấm điểm. Đơn giản vậy thôi. Hồi đó và kéo dài đến sau này, sự học ở Tiểu học chỉ có bảng đen phấn trắng và vở học của học trò. Cũng không nhớ đến khoảng nào thì mới chia ra vở chép bài (vở học) và vở làm bài tập (vở bài tập).

    Lên lớp 5, tức là đầu cấp II, vào năm 1958, tôi mới có sách giáo khoa. Mới chia ra các môn học: Toán, Văn, Sử, Địa. Lên lớp 6, thêm Vật lí, Hóa học… Tôi học lớp 8 ở cấp III Thọ Xuân (Thanh Hóa) từ 1961. Ngày nay cứ nhớ cảm giác lo sợ thầy dạy Toán, nhất là các môn Lượng giác hay Hình học, bảo các em giở phần câu hỏi bài tập ra, ở trang… làm cho thầy các bài số… Thầy ra bài càng ít thì càng mừng… Từ câu hỏi trong SGK chúng tôi phải chép lại ra vở bài tập để làm bài. Có thầy cô dễ tính, bảo không phải chép lại cũng được, theo câu hỏi mà làm vào vở bài tập.

    SGK hồi đó còn ít. Chỉ một số bạn gia đình có điều kiện mới mua trọn bộ, còn tùy nghi. Nếu không có SGK cho riêng mình thì chép nhờ ở các bạn khác. Hồi đó trong lớp chia ra tổ nhóm, giúp đỡ nhau tận tình vui vẻ lắm. Bây giờ đời sống khấm khá lên. Em nào cũng có đủ SGK hay buộc phải đủ. Đó là điều kiện tốt cho các em học tập. Nhưng cũng tước đi cơ hội nuôi dưỡng lòng nhân ở các em: chia sẻ, giúp đỡ nhau… Nói như vậy không có ý rằng chỉ trong nghèo khó thiếu thốn mới có cơ hội giáo dục đạo đức. Không phải đâu. Vấn đề là trong điều kiện đầy đủ thì cách thức giáo dục phải đổi mới nhưng vẫn phải hướng đến mục tiêu giáo dục nhân cách. Nếu cùng một khối học mà chia ra lớp có lắp máy điều hòa và không có tùy theo điều kiện kinh tế từng em thì là phản giáo dục.

    Trở lại SGK hiện nay. Hiện đại hóa giáo dục là tất yếu. Trong đó có biên soạn SGK. Nhưng theo chúng tôi, qua kinh nghiệm học tập từ Sơ học (không có SGK) đến Trung học phổ thông, thiếu SGK, đến Đại học có khi vẫn thiếu sách giáo trình… mà vẫn học tốt. Còn bây giờ SGK nặng còng lưng học trò, không dám nói là sự học không tốt hơn, nhưng rõ ràng là bất hợp lí, xã hội kêu ca, phàn nàn. Nhưng tiếng kêu của phụ huynh học sinh, của dư luận xã hội nhiều năm qua vẫn như “ếch kêu dưới vũng tre ngâm”. Xin đi vào cụ thể.

    SGK thiết kế luôn cả phần câu hỏi, bài tập, làm bài… thì không phải là SGK mà là vở bài tập biến hóa đi và SGK theo đúng nghĩa cũng biến hóa đi. Là giáo khoa hóa vở bài tập và bài tập hóa sách giáo khoa.

    Đây là điều tai hại về nhiều phương diện:

    1) Chép lại đầu bài, câu hỏi vào vở bài tập, hoặc không phải chép lại nhưng làm bài vào vở bài tập. Sau khi làm nháp rồi chép lại vào vở là dịp để học sinh được sống lại bài giảng của thầy. Việc chép lại câu hỏi không chỉ luyện chữ mà chính là luyện cho tư duy của các em. Các em phải rất chăm chú, tập trung vào làm bài. Sự tiếp thu bài học sẽ sâu hơn, phong phú, ấn tượng hơn. Còn là tập cho học sinh biết trình bày, thể hiện một trang vở, một dòng chữ. Tôi rất ấn tượng, quí mến một học sinh, không nhớ ở Long An hay Đồng Tháp, vở học tiếng Việt được em viết lại, trình bày vào trang vở rất đẹp, đẹp như một bức tranh. Em thích hội họa một phần. Nhưng tập trình bày bài vở đẹp là điều rất qúi. Quí cho cả đời em sau này. Tục ngữ nói nét chữ nét người là rất chí lí. Thiết kế SGK như hiện nay là tước đi cơ hội rèn luyện nét chữ nét người của học sinh. Nên nhớ đối tượng của giáo dục THPT là học sinh, là trẻ em, mọi cái đều phải học, chưa phải là các bác sĩ, viết cái toa thuốc chỉ người trong nghề mới hiểu được.

    2) Không phải chép lại đầu bài còn làm cho học sinh lười biếng đi. Bẩm sinh của trẻ là ham chơi ngại học, ngại làm việc. Chỉ có rất ít em ham học, siêng năng ghi chép, làm bài tập.

    Sự lười biếng này còn thúc đẩy một xu hướng nguy hiểm, tệ hại hơn, là chỉ cần kết quả đúng là được, còn cách thức để đi đến sự đúng, không cần biết. Đây chính là triệt tiêu cá tính sáng tạo của mỗi cá thể học sinh, khuyến khích tâm lí ăn xổi ở thì, miễn điền vào cho xong bài.

    Quá trình làm bài tập, chép lại câu hỏi, làm nháp, chép lại vào vở cho gọn ghẽ chính là sự thực hành hoạt động sáng tạo của trẻ. SGK mới đã tước bỏ quá trình này, thay vào đó là tâm lí thực dụng, gà công nghiệp mì ăn liền ngay từ tuổi ấu thơ. Đây chính là hành vi phản giáo dục nguy hiểm nhất. Không hướng trẻ vào sự sáng tạo, cố gắng mà hướng vào thực dụng, ăn sẵn, lười biếng…

    3) Sách giáo khoa, về mặt Nhà nước, là có tính pháp qui. Từ khung chương trình được thể hiện cụ thể ra SGK. Về mặt xã hội, phụ huynh học sinh và bản thân học sinh thì ba từ sách giáo khoa là thiêng liêng, là bắt buộc, là phải theo, phải có, phải tuân thủ. Điều đó hoàn toàn đúng với SGK cổ điển và cho đến trước cải cách Giáo dục và Đổi mới SGK. Còn Bài tập hóa SGK là một sự lạm dụng uy tín SGK để vụ lợi. Đúng nghĩa SGK là SGK về những môn học chính thức. Còn sách bài tập, sách tham khảo, sách nâng cao… chỉ là tài liệu phụ trợ, không có tính pháp qui, bắt buộc. Giáo khoa hóa vở bài tập và tài liệu phụ trợ chính là sự vụ lợi khủng khiếp: mỗi năm phụ huynh học sinh phải chi hàng nghìn tỉ đồng để mua SGK mới. Mối lợi khổng lồ đó vào tay ai ai mà chẳng hiểu. Trao đi đổi lại bao nhiêu năm nay vẫn không giải quyết được chính là lẩn tránh cái điểm cốt tử này.

    4) Có giải quyết được tình hình này không? Giải quyết như thế nào?

    Cái khó không phải là việc thay đổi lại cách biên soạn SGK, không phải ở nội dung SGK mà là ở chỗ có dám thay đổi không? Có dám từ bỏ hàng nghìn tỉ mỗi năm không?

    Chúng tôi nghĩ sẽ rất dễ giải quyết nếu trở lại triết lí giáo dục của Hồ Chí Minh; xa hơn, của Khổng Tử, của các thế hệ giáo chức đáng kính như Võ Nguyên Giáp, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu… Gần, như giáo dục thời chiến tranh – cách mạng.

    Giáo sư Nguyễn Kim Đính, khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội cũ, năm nay đã 89 tuổi, vẫn khỏe mạnh, minh mẫn. Cụ nhớ lại, khi cố GS Đặng Thai Mai giảng thiên Đại học của Khổng Tử (trong sách Tứ thư) cho học trò lớp Văn khoa Đại học đầu tiên, năm 1957, ở giảng đường Lê Thánh Tông, Hà Nội. Sau khi giảng dạy nội dung thiên Đại học, Giáo sư vận dụng rất cụ thể: Minh minh đức của dân tộc Việt Nam, ở Việt Nam là ý chí độc lập tự cường, quyết không chịu làm nô lệ. Sự chí thiện phải đạt được hiện tại, trong nhà trường là thầy phải dạy thật tốt, trò phải học thật tốt.

    Ngày 21-10-1964, sau hơn 2 tháng đế quốc Mỹ gây hấn với “sự kiện Vịnh Bắc bộ” (5-8-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người nói: “Làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước”.

    Trong hồi ký Tôi vào Đại học, nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký nhớ lại lớp Văn sơ tán về Đại Từ, Thái Nguyên. Anh được các thầy, các bạn chăm sóc rất tận tình. Các nhà thơ Lê Thành Nghị, Lê Quang Trang lúc đó là cán bộ lớp đã dành cho Nguyễn Ngọc Ký sự chăm sóc đặc biệt, không khác gì ruột thịt. Một người khuyết tật, bị liệt cả hai tay, phải viết bằng đôi chân, ở giữa lớp học đó, và sau này đã trở thành nhà giáo, nhà văn được dư luận xã hội tôn vinh.

    Nhà văn Bùi Quang Tú, hội viên Hội Văn nghệ Đồng Nai cùng với vợ chồng nhà thơ Đặng Nguyệt Anh, nhà giáo Mai Xuân Nhuần, đồng môn với tôi ở cấp III Thọ Xuân khóa 1961-1964… là những nhà giáo được chi viện cho chiến trường miền Nam. Dưới mưa bom bão đạn, các anh chị miệt mài dạy học cho đồng bào và chiến sĩ để có thêm sức mạnh đánh Mỹ và thắng Mỹ… Họ đã làm được như Khổng Tử: Hối nhân bất quyện (Dạy người không biết mệt)… Giáo dục thời chiến tranh – cách mạng ở cả hai miền Nam – Bắc là di sản quí báu cho giáo dục thời bình. Tiếc rằng đã không được phát huy. Khi giáo dục đã thương mại hóa, giá hóa đào tạo… thì giáo khoa hóa vở bài tập là hệ quả tất nhiên.

    Về triết lí giáo dục hiện nay không phải là lúng túng mà là lãng quên di sản giáo dục quí báu của nhân loại (như Khổng Tử) và dân tộc, như đã nói trên. Trót quên, lỡ quên, thì nhớ lại. Đấy là vấn đề cần nhất của giáo dục – đào tạo hiện nay.

    Hà Nội, 19-3-2019

    Chu Giang

    Tuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 540

    ———————

    Kì sau: Thế nào là thầy giáo?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục, Bồi Dưỡng Tình Yêu Tổ …
  • Chế Độ Chăm Sóc Cấp 1 2 3 Chăm Sóc Toàn Diện
  • Làm Sao Để Chăm Sóc Người Bệnh Toàn Diện?
  • Lớn Rồi Thì Quên Cái Khái Niệm “tình Yêu Trong Sáng” Đi!
  • “Tình Yêu Trong Sáng” Ư? Quên Ngay Cái Khái Niệm Đó Đi!
  • Khái Niệm Khoa Học Giáo Dục – Kipkis

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục
  • Khái Niệm, Cấu Phần Và Xu Thế Của Khoa Học Giáo Dục – Nguyenloc.net
  • Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục – Kipkis
  • Một Số Khái Niệm Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Văn Học Giả Tưởng – Một Tiến Trình Đi Tìm Thực Tại Khác
  • 3. Khoa học giáo dục

    Khoa học giáo dục (khoa học giáo dục) là một bộ phân của hệ thống các khoa học nghiên cứu về con người, bao gồm: giáo dục học, tâm lý học sư phạm, lý luận dạy học, phương pháp giảng day bộ môn… khoa học giáo dục có mối quan hệ với các khoa học khác như triết học, xã hội học, dân số học, kinh tế học, quản lý học…So với các khoa học khác, khoa học giáo dục có đặc điểm nội bật đó là: tính phức tạp và tính tương đối. Tính phức tạp hể hiện ở mối quan hệ giao thoa với các khoa học khác, không có sự phân hóa triệt để, mà cần có sự phối hợp bởi vì con người vốn là thế giới phức tạp. Cuối cùng các qui luật của khoa học giáo dục là mang tính số đông, có tính chất tương đối, không chính xác như toán học, hóa học…

    khoa học giáo dục nghiên cứu những qui luật của quá trình truyền đạt (người giáo viên) và quá trình lĩnh hội (người học) tức là qui luật giữa người với người, nên thuộc phạm trù khoa học xã hội. Phương pháp của khoa học giáo dục nói riêng và khoa họcXH nói chung là quan sát, điều tra, trắc nghiệm, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm…

    Khi xem giáo dục là tập hợp các tác động sư phạm đến người học với tư cách là một đối tượng đơn nhất, thì khoa học giáo dục nghiên cứu mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học, phương tiện dạy học và các mối quan hệ hài hòa giữa các yếu tố đó. Nó như là một hệ khép kín ổn định.

    Khi xem giáo dục như là một hoạt động xã hội, đào tạo ra lực lượng lao động mới, khoa học giáo dục nghiên cứu mối quan hệ giữa sản xuất xã hội và đội ngũ người lao động cần giáo dục đào tạo:

    • các yêu cầu của sản xuất xã hội đối với đội ngũ lao động về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất;
    • qui hoạch phát triễn giáo dục;
    • hệ thống
    • logíc tác động qua lại giữa nền sản xuất và đào tạo.

    Như vậy chúng ta có thể nhận thấy là khi xem xét một vấn đề về khoa học giáo dục phải đặt trong nhiều mối quan hệ và tiếp cận hệ thống như:

    • Hệ thống giáo dục quốc dân gồm nhiều bộ phận hay hệ thống con có sự tác động qua lại với môi trường hay phân hệ khác như kinh tế, chính trị, văn hóa
    • Hệ thống quá trình đào tạo (giáo viên, học sinh, tài liệu, trang thiết bị, lớp học và các tác động của môi trường học ở địa phương
    • Hệ thống chương trình các môn học
    • Hệ thống tác động sư phạm đến từng cá thể và đặc điểm nhân cách, tâm lý lứa tuổi

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    “Like” us to know more!

    Knowledge is power

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gợi Ý Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học – Cổng Đào Tạo Sau Đại Học – Học Viện Kỹ Thuật Quân Sự
  • Vietsciences ; Nguyễn Văn Tuấn ; Nguyen Van Tuan ; Thế Nào Là Một “Bài Báo Khoa Học” ? ; Science, Khoa Hoc, Khoahoc, Tin Hoc, Informatique;computer; Vat Ly; Physics, Physique, Chimie, Chemistry, Hoa H
  • Bài Báo Khoa Học – Kipkis
  • Thế Nào Là Một “Bài Báo Khoa Học” ?
  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Sách Giáo Khoa Ở Mỹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điểm Mới Của Sách Giáo Khoa Môn Toán Lớp 1
  • Ngân Hàng Chính Sách (Policy Banks) Là Gì?
  • Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Là Gì ? Quy Định Về Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội
  • Ngân Hàng Số Là Gì? Khái Niệm Ngân Hàng Số Bidv, Tima, Tpbank, Vpbank,
  • Thu Ngân Sách Nhà Nước Là Gì? Cùng Tìm Kiếm Câu Trả Lời
  • LTS: Quý vị và các bạn đang theo dõi bài viết của cô giáo Thu Hồng – một giáo viên tiểu học đang giảng dạy tại Mỹ.

    Trong bài viết này, cô giáo Thu Hồng chia sẻ cùng quý độc giả Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam về sách giáo khoa ở Mỹ. Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.

    Qua nhiều cuộc hội thảo và các cuộc trao đổi với phụ huynh, giáo viên, những người làm trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam thời gian qua, tôi đã gặp nhiều câu hỏi và thắc mắc về sách giáo khoa.

    Rất nhiều giáo viên và phụ huynh muốn biết các trường bên Mỹ dùng sách giáo khoa gì và như thế nào?

    4 năm vừa qua dạy ở Georgia thì dùng My Math, Reading Wonders và Imagine It.

    Ở Mỹ các lựa chọn về sách giáo khoa nhiều vô kể với những tên tuổi của những tập đoàn lớn như Pearson, McGraw-Hill hay Houghton Mifflin.

    Mỗi một trường hay học khu/cụm trường hay quận (school district) lại dùng những bộ sách giáo khoa khác nhau.

    Với cùng giáo trình của công ty nhưng từng tiểu bang lại khác nhau, nhất là sách Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội (Science & Social Studies).

    Ví dụ My Math của bang Florida khác với My Math của bang Georgia, hay Science của bang Virginia khác với sách Khoa học tự nhiên hay Science của bang South Carolina.

    Việc lựa chọn sách gì, giáo trình của công ty nào là do sự làm việc giữa từng trường hoặc quận với công ty xuất bản. Thế nên các hãng lớn ra sức thuyết phục các trường mua dùng sách của mình.

    Đây là món lợi khổng lồ vì ở Mỹ bậc học phổ thông các em không phải mua sách giáo khoa, trường mua cho từng học sinh. Bộ sách giáo khoa đấy các em dùng tại trường, không mang về nhà.

    Và học sinh nào cũng có những sách như sau:

    1. Math workbook (paperback): sách toán

    2. Reading book (hard cover): sách đọc dùng cho môn Ngữ văn (ELA).

    Còn những sách kèm theo cho ELA như:

    – Practice books (paperback)

    – Handbook

    3. Science (hard cover textbook): sách Khoa học tự nhiên

    4. Science workbook (paperback ): sổ làm việc khoa học

    5. Social studies (hard cover textbook): sách Khoa học xã hội

    6. Social studies workbook (paperback): sách Nghiên cứu xã hội

    Đến cuối năm học, những sách Khoa học tự nhiên nhà trường giữ lại cho lứa học sinh năm sau, những cuốn sách bài tập các em được mang về.

    Tôi cũng xin lưu ý là dạng sách cho các em làm, viết vào được và để luyện bài tập thì ngoài dạng bìa mềm thì còn có dạng consumables (tức là xé rời từng trang sau mỗi bài để mang về nhà làm bài tập).

    Rồi ngoài sách giáo khoa cho học sinh còn có hàng loạt sản phẩm kèm theo như Sách hướng dẫn giáo viên (teacher’s edition hay TE), bộ tài liệu cho từng đối tượng như học sinh Esl, học sinh giỏi, học sinh kém, bộ đĩa CD hay DVD …

    Việc thương mại hoá và thống lĩnh của những đại công ty trong lĩnh vực xuất bản sách như tôi đã kể tên cũng gây ra những tác động tiêu cực như cứ 2-3 năm lại đổi sách giáo khoa, làm cho việc dạy và học bị xáo trộn, chưa thấy hết tác động hay hiệu quả của bộ sách, chất lượng không được duy trì vì nhiều khi bộ sách đang dùng vừa phát huy tác dụng thì lại thay sang bộ khác.

    Sách giáo khoa chỉ là phần nhỏ của chương trình học. Sách giáo khoa chỉ như khung xương sườn và như nguồn tham khảo dựa vào đó để giáo viên dạy. Cụ thể như sau:

    1. Giáo viên dựa vào khung chương trình (curriculum map) và sách giáo khoa để có cái nhìn tổng thể và chi tiết khi soạn bài.

    2. Dạy những khái niệm (concepts) và kỹ năng (skills) chứ không dạy y hệt theo bài trong sách giáo khoa.

    Ví dụ: dạy cộng trừ có nhớ 2 chữ số (two-digit adding or subtracting with regrouping) hay dạy các cách thêm số nhiều (plurals) thì ngoài sách giáo khoa, giáo viên sử dụng những nguồn tài liệu ở ngoài rất nhiều như video, tờ luyện, dự án, hoạt động nhóm, trò chơi (videos, worksheets, group projects, activities, games).

    3. Sách giáo khoa thường để ở một góc trong lớp, khi nào cần mới dùng đến. Nhiều khi cả tháng chẳng dùng đến sách giáo khoa.

    Thường các dạng sách sách bài tập hay được dùng hơn. Còn sách hardcover textbook (sách Khoa học xã hội) thì dùng khi đọc để biết câu chuyện, khái niệm, định nghĩa, từ vựng.

    Nhìn chung sách giáo khoa chỉ chiếm khoảng 15-20% lượng tài liệu. Giáo viên không hoàn toàn phụ thuộc vào sách giáo khoa.

    Thế nên ở Việt Nam, nếu bố mẹ muốn con học thử chương trình tiểu học Hoa Kỳ, nếu không có sách giáo khoa thì chỉ cần có khung chương trình những khái niệm căn bản của từng lớp là các em có thể học được.

    Cứ dựa vào đấy là có thể tìm nguồn tài liệu trên Internet học theo, không cần đến sách giáo khoa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Giáo Khoa Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực
  • Định Nghĩa Âm Tiết Trong Tiếng Anh
  • Trạng Từ Trong Tiếng Anh: Định Nghĩa Và Phân Loại
  • Từ Định Nghĩa Trong Tiếng Anh
  • Chương 1: Pr (Giới Thiệu Tổng Quan)
  • Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghiên Cứu Khoa Học Quản Lý Giáo Dục Theo Nhu Cầu Xã Hội
  • Sinh Viên Và Vấn Đề Nghiên Cứu Khoa Học
  • Ý Nghĩa Khái Niệm Nghiên Cứu Khoa Học Cơ Bản
  • Ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học Cơ Bản
  • Ý Nghĩa Khái Niệm Khoa Học
  • 1. Khái niệm nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học

    Nghiên cứu có hai dấu hiệu

    Nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học

    Kho tàng tri thức của loài người ngày một nhiều là do các thế hệ con người nối tiếp nhau làm nên, trong đó, chủ yếu là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Vậy, nghiên cứu khoa học là gì?

    Nghiên cứu là một cô mang tính chất tìm tòi, xem xét cặn kẽ một vấn đề nào đó để nhận thức nó hoặc để giảng giải cho người khác rõ. Ví dụ: nghiên cứu một bài toán, nghiên cứu một câu nói để hiểu nó, nghiên cứu bảng giờ tàu để tìm chuyến đi thích hợp cho mình.

    Nghiên cứu có hai dấu hiệu

      Con người làm việc (tìm kiếm) tự lực (cá nhân hoặc nhóm)
      Tìm ra cái mới cho chủ thể, cho mọi người.

    Nếu đối tượng của công việc là một vấn đề khoa học thì công việc ấy gọi là nghiên cứu khoa học. Nếu con người làm việc, tìm kiếm, tuy xét một vấn đề nào đó một cách có phương pháp thì cũng có thể gọi là nghiên cứu khoa học.

    Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng.

    Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới.

    Nghiên cứu khoa học, theo Dương Thiệu Tống là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiệu biết được kiểm chứng. Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặc các các dữ kiện lại với nhau rồi rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường qui nạp và diễn dịch.

    Cũng theo những quan điểm trên, Vũ Cao Đàm cho rằng nghiên cứu khoa học nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là:

    • Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng
    • Phát hiện qui luật vận động của sự vật và hiện tượng
    • Vận dụng qui luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng.

    Nghiên cứu khoa học là một quá trình sử dụng những phương pháp khoa học, phương pháp tư duy, để khám khá các hiện tượng, phát hiện qui luật để nâng cao trình độ hiểu biết, để giải quyết những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn, các đề xuất trên cơ sở kết quả nghiên cứu.

    Nghiên cứu khoa học giáo dục

    Nghiên cứu khoa học giáo dục là một hoạt động nghiên cứu khoa học đặc thù trong lĩnh vực giáo dục. Nó là một hoạt động có tính hệ thống, xuất phát từ khó khăn trong hoạt động giáo dục hay từ nhu cầu nhận thức hoạt động giáo dục nào đấy, cố gắng hiểu biết nhằm tìm ra được cách giải thích sâu sắc về cấu trúc và cơ chế cùng biện chứng của sự phát triển của một hệ thống giáo dục nào đó hay nhằm khám phá ra những khái niệm, những qui luật mới của thực tiễn giáo dục mà trước đó chưa ai biết đến.

    Sản phẩm của nghiên cứu khoa học giáo dục là những hiểu biết mới về họt động giáo dục (những chân lý mới, những phương pháp làm việc mới, những lý thuyết mới, những dữ báo có căn cứu). Nghiên cứu có nghĩa là tìm tòi: người nghiên cứu đi tìm cái mới (đã có trong thực tiễn hay tạo ra trong những kinh nghiệm có hệ thống và tập trung). Theo nghĩa đó, một công trình chỉ tập hợp các thông tin đã có sẵn không phải là một sản phẩm của nghiên cứu khoa học.

    Hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục là hoạt động sáng tạo: sáng tạo ra tri thức mới, kinh nghiệm mới, phương pháp mới giáo dục.

    Những công việc chủ yếu của nghiên cứu khoa học nói chung

    (1) Thu thập dữ liệu:

    (2) Sắp xếp dữ liệu:

    Qua nh ững hoạt động nghiên cứu ban đầu, ta thu được rất nhiều dữ liệu. Cần sắp xếp chúng lại theo hệ thống, thứ, loại, thậm chí có thể sàng lọc bớt những dữ liệu không cần thiết hoặc quyết định bổ sung thêm dữ liệu mới để công việc cuối cùng được đơn giản hơn.

    (3) Xử lí dữ liệu:

    Ðây là công vi ệc quan trọng nhất, giá trị nhất của nghiên cứu khoa học. Một lần nữa, nhà nghiên cứu phải phân tích các dữ liệu để có thể đoán nhận, khái quát hóa thành kết luận. Nếu dữ liệu là những con số, cần xử lí bằng thống kê, rút ra kết quả từ các đại lượng tính được. Tư duy khoa học bắt từ đây.

    (4) Khái quát hóa toàn bộ công trình, rút ra kết luận chung cho đề tài nghiên cứu

    1. GS. TS. Dương Thiệu Tống: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý. Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2005, trang 22 ff.
    2. Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Giáo dục, 1997, trang 23
    3. GS. TS. Dương Thiệu Tống: Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý, nhà xuất bản khoa học xã hội, 2005, trang 22 ff.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007
    • Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng Nghiên Cứu Là Gì? 1 Số Khái Niệm Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Khái Niệm Khoa Học Và Nghiên Cứu Khoa Học
  • Nghiên Cứu Khoa Học Là Gì?
  • Xử Phạt Hành Chính Với Hành Vi Xâm Phạm Trật Tự Công Cộng
  • Hiểu Thế Nào Là Nơi Công Cộng?
  • Sách Giáo Khoa Sinh Học Lớp 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Truyện Cười Dân Gian
  • Đề Ngữ Văn 6, Học Kì.
  • Trắc Nghiệm Tin Học 10 Bài 10 (Có Đáp Án): Khái Niệm Về Hệ Điều Hành.
  • Trắc Nghiệm Tin Học 10 Bài 10
  • Định Nghĩa Văn Bản Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Văn Bản Thông Tin
  • Sách Giáo Khoa Sinh Học Lớp 6 được bộ giáo dục và đào tạo biên soạn và phát hành.Cuốn sách gồm 10 chương , cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về động vật , thực vật , vi sinh vât ,…

    MỞ ĐẦU SINH HỌC

    • Bài 1. Đặc điểm của cơ thể sống
    • Bài 2. Nhiệm vụ của sinh học

    ĐẠI CƯƠNG VỀ GIỚI THỰC VẬT

    • Bài 3. Đặc điểm chung của thực vật
    • Bài 4. Có phải tất cả thực vật đều có hoa?
    • Đề kiểm tra 15 phút – Chương Đại cương – Sinh 6
    • Đề kiểm tra 45 phút – Chương Đại cương – Sinh 6

    CHƯƠNG III. THÂN

    • Bài 13. Cấu tạo ngoài của thân
    • Bài 14. Thân dài ra do đâu
    • Bài 15. Cấu tạo trong của thân non
    • Bài 16. Thân to ra do đâu
    • Bài 17. Vận chuyển các chất trong thân
    • Bài 18. Biến dạng của thân
    • Đề kiểm tra 15 phút – Chương Thân – Sinh 6
    • Đề kiểm tra 45 phút – Chương Thân – Sinh 6

    CHƯƠNG IV. LÁ

    • Bài 19. Đặc điểm bên ngoài của lá
    • Bài 20. Cấu tạo trong của phiến lá
    • Bài 21. Quang hợp
    • Bài 22. Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến quang hợp, ý nghĩa của quang hợp
    • Bài 23. Cây có hô hấp được không?
    • Bài 24. Phần lớn nước vào cây đi đâu?
    • Bài 25. Biến dạng của lá
    • Đề kiểm tra 15 phút – Chương Lá – Sinh 6
    • Đề kiểm tra 45 phút – Chương Lá – Sinh 6

    CHƯƠNG VII. QUẢ VÀ HẠT

    • Bài 32. Các loại quả
    • Bài 33. Hạt và các bộ phận của hạt
    • Bài 34. Phát tán của quả và hạt
    • Bài 35. Những điều kiện cần cho hạt nảy mầm
    • Bài 36. Tổng kết về cây có hoa
    • Đề kiểm tra 15 phút – Chương Quả và hạt – Sinh 6
    • Đề kiểm tra 45 phút – Chương Quả và hạt – Sinh 6

    CHƯƠNG VIII. CÁC NHÓM THỰC VẬT

    • Bài 37. Tảo
    • Bài 38. Rêu – Cây rêu
    • Bài 39. Quyết – Cây dương xỉ
    • Bài 40. Hạt trần – Cây thông
    • Bài 41. Hạt kín – Đặc điểm của thực vật hạt kín
    • Bài 42. Lớp hai lá mầm và lớp một lá mầm
    • Bài 43. Khái niệm sơ lược về phân loại thực vật
    • Bài 44. Sự phát triển của giới thực vật
    • Bài 45. Nguồn gốc cây trồng
    • Đề kiểm tra 15 phút – Chương Các nhóm thực vật – Sinh 6
    • Đề kiểm tra 45 phút – Chương Các nhóm thực vật – Sinh 6

    CHƯƠNG X. VI KHUẨN – NẤM – ĐỊA Y

    • Bài 50. Vi Khuẩn
    • Bài 51. Nấm
    • Bài 52. Địa y
    • Đề kiểm tra 15 phút – Chương Vi khuẩn, Nấm, Địa y – Sinh 6
    • Đề kiểm tra 45 phút – Chương Vi khuẩn, Nấm, Địa y – Sinh 6

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soan Bài Nhưng Nó Phải Bằng Hai Mày Văn Học Lớp 10
  • Soạn Bài Tam Đại Con Gà Văn Học Lớp 10
  • Định Nghĩa Truyện Cười Lớp 6
  • Luận Văn: Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu Có Tính Chất Chiếm Đoạt, Hot
  • Khái Niệm Tội Xâm Phạm Hoạt Động Tư Pháp (Điều 367)
  • Khái Niệm Điều Trị Nội Khoa Và Ngoại Khoa Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Mạng Ai: Đằng Sau Khái Niệm Trí Tuệ Nhân Tạo
  • Khái Niệm Công Nghệ Mới “ai Smarterphone”
  • Ai Smarterphone Là Gì? Khái Niệm Mới Đến Từ Honor
  • Định Nghĩa Giáo Sĩ Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Giáo Sĩ
  • Giáo Sĩ, Tu Sĩ Và Giáo Dân Khác Và Giống Nhau Thế Nào?
  • Khái niệm điều trị nội khoa và ngoại khoa là gì? Luôn là điều băn khoăn của không ít cá nhân. Bởi, đây là thuật ngữ được dùng rất nhiều trong y học nhưng ít ai biết được rõ ràng về ý nghĩa của nó.

    Khái niệm điều trị nội khoa và ngoại khoa là gì?

    Điều trị ngoại khoa trĩ ngoại vẫn là những cụm từ quen thuộc được sử dụng hàng ngày trong y học. Tuy nhiên, lại ít có cá nhân nào hiểu rõ được ý nghĩa của những tên gọi này, ngoài các chuyên gia y tế trong ngành. Nói về khái niệm điều trị nội khoa và ngoại khoa là gì, các y bác sĩ phòng khám Đa khoa Hồng Phong cho biết như sau:

    Điều trị nội khoa là gì? Điều trị nội khoa là tên gọi để chỉ một phân ngành điều trị bệnh bên trong cơ thể không phổ thuật. Thông thường, căn cứ vào tình trạng sức khỏe cũng như là diễn biến bệnh tình của mỗi người bệnh, mà các y bác sĩ sẽ có hướng dẫn những phương pháp điều trị bệnh phù hợp nhất.

    Một số chuyên ngành nội khoa bao gồm: nội tim mạch, nội hô hấp, nội tiêu hóa, nội tiết, lão khoa, huyết học, bệnh nhiệt đới, bệnh da liểu, viêm gan, nội thận, nội ung bướu, khoa hô hấp, phong thấp….

    Điều trị ngoại khoa là gì? Được hiểu đơn giản là điều trị bệnh hoặc các tổn thương bằng phẫu thuật. Điều trị ngoại khoa thường đòi hỏi cao về chuyên môn, tay nghề y bác sĩ, trang thiết bị y tế và cả về mức chi phí…

    Để đáp ứng nhu cầu khám và điều trị bệnh cho người dân, các nghiên cứu tìm tòi về điều trị ngoại khoa vẫn luôn được quan tâm cao nhất. Hiện nay, việc điều trị ngoại khoa tại Việt Nam cũng có những bước tiến quan trọng với vi phẫu thuật, phẫu thuật nội soi…

    Các chuyên ngành khoại khoa bao gồm: phẫu thuật chỉnh hình, ghép các cơ quan, phuẫ thuật mạch máo, nhãn khoa, phẫu thuật nhi, niệu khoa, tai mũi họng, phẫu thuật tạo hình, phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật tim, lồng ngực, phẫu thuật tổng quát, phẫu thuật sinh dục, ung bướu ngoại khoa, ngoại chấn thương, ngoại tiết niệu…

    Lưu ý, bài viết nguồn copy trên mạng, chỉ dành cho trình duyệt được chia sẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bác Sĩ Chuyên Khoa 1 Là Gì Và Những Về Bác Sĩ Chuyên Khoa
  • Luyện Từ Và Câu: Chủ Ngữ Trong Câu Kể Ai Làm Gì? Trang 6 Sgk Tiếng Việt 4 Tập 2
  • Luyện Từ Và Câu: Câu Kể Ai Thế Nào? Trang 23 Sgk Tiếng Việt 4 Tập 2
  • Soạn Bài Luyện Từ Và Câu: Từ Chỉ Đặc Điểm. Câu Kiểu Ai Thế Nào?
  • Những Vấn Đề Chung Về Chương Trình, Sgk Môn Tiếng Việt Cấp Tiểu Học (Lớp 4, 5)
  • – Khoa Học Là Gì, Khái Niệm Và Phân Loại Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Dấu Khóa Học Là Gì?
  • Xu Hướng Lớp Học Tương Tác Thời Đại Giáo Dục 4.0
  • Khái Quát Văn Học Việt Nam Từ Cách Mạng Tháng Tám Năm 1945 Đến Hết Thế Kỉ Xx
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Khái Quát Văn Học Việt Nam Ngắn Gọn
  • Ngành Học Là Gì? Ngành Học Nào Hot Hiện Nay?
  • Khoa học là gì?

    Khoa học có tên tiếng anh là science. Theo Luật Khoa học và Công nghệ, khái niệm khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Khái niệm khoa học thực chất là quá trình trình nghiên cứu, khám phá ra các kiến thức mới, học thuyết mới về các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Những kiến thức, học thuyết mới này tốt hơn để thay thế dẫn những cái cũ không còn phù hợp.

    Tựu chung, khoa học chính là hệ thống tri thức về quy luật của sự vận động của vật chất, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức của khoa học không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.

    Văn bản khoa học là gì?

    Văn bản khoa học gồm có 3 loại chính đó là văn bản chuyên sâu ( luận án, luận văn, tiểu luận,…) các văn bản khoa học giáo khoa ( như giáo trình, thiết kế bài dạy, sách giáo khoa,…) và văn bản khoa học phổ cập (các bài báo, sách phổ biến khoa học kĩ thuật). Văn bản khoa học mang tính lí trí, logic trong nội dung và ngôn ngữ, thể hiện ở các câu từ, đoạn văn, văn bản.

    Tri thức khoa học là gì?

    Tri thức khoa học là hệ thống tri thức khái quát về sự vật, hiện tượng của thế giới và các quy luật vận động của chúng. Đây được coi là hệ thống tri thức được xác lập dựa trên căn cứ xác đáng, có thể kiểm tra và có tính ứng dụng cao. Tri thức khoa học gồm có tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận.

    Tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học tuy khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tri thức khoa học xuất phát từ tri thức kinh nghiệm. Mặc dù tri thức khoa học không phải là tri thức kinh nghiệm được hệ thống hóa lại hay những tri thức thông thường được hoàn thiện. Tri thức khoa học là kết quả của hoạt động nghiên cứu của khoa học đặc biệt.

    Khoa học tự nhiên tiếng anh là gì?

    Khoa học tự nhiên có tên gọi trong tiếng anh là Natural science, là một nhánh của khoa học, có mục đích chính là nhận thức, mô tả, giải thích và tiên đoán về các hiện tượng và quy luật tự nhiên dựa trên các dấu hiệu được kiểm chứng chắc chắn. Trong khoa học tự nhiên, giả thuyết được sử dụng rộng rãi để xây dựng nên những lý thuyết khoa học.

    Phân loại khoa học

    Các lĩnh vực khoa học được chia thành 4 nhóm chính đó là:

    • Khoa học tự nhiên: Nghiên cứu về các vấn đề, hiện tượng tự nhiên kể cả đời sống sinh học.

    • Khoa học xã hội: Nghiên cứu về con người và xã hội

    • Khoa học hình thức: Bao gồm cả toán học

    • Khoa học ứng dụng: Nghiên cứu và ứng dụng

    Khoa học thuần túy là các môn bao gồm các phương diện như tôn giáo, tín ngưỡng, xã hội học,… Khoa học ứng dụng chính là khoa học chính xác, sử dụng các kiến thức thuộc một hay nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên và xã hội để giải quyết các vấn đề thực tế. Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và các ngành khoa học ứng dụng có thể được sử dụng để phát triển công nghệ.

    5

    /

    5

    (

    1

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khuyến Học, Khuyến Tài Là Một Chủ Trương Lớn
  • Khái Niệm Khuyến Học Là Gì, Nghĩa Của Từ Quỹ Khuyến Học Trong Tiếng Việt
  • Phản Ứng Hóa Học Là Gì? Diễn Biến Của Phản Ứng Hóa Học, Ví Dụ Và Bài Tập
  • Khái Niệm Văn Học Dân Gian Là Gì? Một Số Nét Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian
  • Bài Học: Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Khái Niệm Rừng Theo Khoa Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Kiến Thức Về Rừng
  • Định Nghĩa Rủi Ro Tín Dụng Và Cách Phân Loại Rủi Ro Tín Dụng
  • Khái Niệm, Nội Dung Và Ý Nghĩa Của Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Rủi Ro Tín Dụng Là Gì? Nguyên Nhân, Phân Loại Và Hệ Quả
  • Khái Niệm Rủi Ro Tín Dụng
  • Tùy vào từng chuyên ngành của các ngành khoa học khác nhau mà có những định nghĩa cũng khác nhau về rừng. Khi nói đến rừng chúng ta thường hay nghĩ đến nó là những khu vực rộng lớn với rất nhiều cây và là nhà của nhiều loài động vật. Theo cách nói khoa học một chút thì rừng là một hệ sinh thái phức tạp hình thành dưới sự tập hợp của cộng đồng các loài thực vật, động vật, nấm và vi sinh vật.

    Cộng đồng ở đây tức là các thành phần cùng sống chung với nhau trong một môi trường, tham gia vào chuỗi thức ăn từ đó hình thành các loài hỗ trợ nhau, loại bỏ nhau, … tạo nên một hệ sinh thái rừng vô cùng phong phú và đa dạng.

    Định nghĩa trên có thể bao quát được hầu hết các trường hợp, bởi vì tùy vào mỗi quốc gia khu vực sẽ có những quy định do tổ chức đặt ra cho rằng đó là rừng bất kể nó có tồn tại cây cối gì hay không hoặc có những loại rừng đã từng có cây trong quá khứ nhưng đã bị chặt phá, …v.v.

    Rừng có thể phát triển ở các nhiệt độ khác nhau từ những nơi lạnh giá nhất trên trái đất như rừng Taiga dưới cái tên rừng tuyết nằm dọc theo đường vĩ tuyến gần Bắc Cực trải dài từ Nga đến các nước châu Âu và một phần Canada, Alaska, … hay những nơi có nhiệt độ cao khắc nghiệt như rừng sa mạc Namib ven biển phía nam châu Phi. Nếu bạn xem nhiều chương trình về thiên nhiên có thể thấy tùy vào từng điều kiện địa lý thời tiết khác nhau mà các loài sinh vật sống tại rừng đó sẽ có những biện pháp sinh tồn rất hay.

    Rừng là ngôi nhà của hơn 2/3 các loài sinh vật trên trái đất kể cả con người (những người dân sống trong rừng hoặc gần rừng), tham gia vào quá trình cung cấp thức ăn, điều hòa tự nhiên, …v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Rác Thải Sinh Hoạt Và Cách Xử Lý An Toàn, Hiệu Quả
  • Chất Thải Là Gì? Phân Loại Chất Thải Như Thế Nào?
  • Rác Thải Nhựa Là Gì? Khái Niệm Rác Thải Nhựa
  • Những Khái Niệm Cơ Bản Về Rượu Vang
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Rượu Vang
  • Khái Niệm Giáo Dục Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giờ Hoàng Đạo, Ngày Hoàng Đạo Là Gì? Ý Nghĩa Ra Sao
  • G9 Là Gì? Ý Nghĩa Của Nó?
  • Suy Nghĩ Về Ý Nghĩa Của Tinh Thần Hợp Tác Để Thành Công Trong Cuộc Sống
  • Ý Nghĩa Tên Hưng Và Những Tên Đệm Cho Bé Tên Hưng Hay Nhất
  • Irr Là Gì? Ý Nghĩa Của Tỷ Lệ Hoàn Vốn Nội Bộ
  • Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere”. Có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn.

    Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người”. Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó.

    Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Ngoài ra, ông John Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy. Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục, là dạy dỗ.

    Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội. Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội.

    Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay trong lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi. Khi xã hội ngày càng phát triển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương hướng trực tiếp không còn phù hợp mà đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn. Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời và ngày càng phát triển đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội. Do đó, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn và mang tính chuyên biệt hơn. Sự phát triển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội và do những sức mạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội. Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai có thể phủ nhận về nó.

    Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó. Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “giáo dục”:

    – Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác;…

    – Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách. Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục.

    Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đang không ngừng cái cách đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế phát triển mới mẻ, năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những nguồn lực mới để phát triển nhanh, bền vững.

  • khai niem giao duc
  • khái niệm về giáo dục
  • khai niem giao duc la gi
  • Giáo dục là gì
  • giáo dục học là gì ?
  • định nghĩa giáo dục
  • chính sách phát triển giáo dục là gì
  • giao duc la gi?
  • khai niem chuong trinh giao duc tieu hoc
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Là Gì Và Vai Trò Đối Với Sự Phát Triển Của Con Người
  • Nêu Ý Nghĩa Của Giấc Ngủ Và Biện Pháp Để Có Giấc Ngủ Tốt
  • Fc Là Gì? Ý Nghĩa Của Từ Fc Và Cách Dùng Fc Đúng “chuẩn”
  • Fc Là Gì? Ý Nghĩa Của Từ Fc Và Cách Đặt Tên Fc Chuẩn Nhất
  • Đặc Điểm Và Ý Nghĩa Của Các Loại Thẻ Cầu Thủ Trong Fifa Online 4
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100