【#1】Hành Trình Định Nghĩa Lại Khái Niệm Nghỉ Dưỡng Xa Xỉ Tại Việt Nam

Nghỉ dưỡng xa xỉ đã là một nhu cầu tất yếu của giới quyền quý từ lâu trên thế giới. Ngay từ thế kỷ XV, vua Louis đã yêu cầu kiến trúc sư nổi tiếng Louis-François Trouard thiết kế một khách sạn xa hoa ngay gần đại lộ đại lộ Champs-Élysées ngày nay tại Paris.

Khách sạn Hotel De Crillon có gần 200 phòng với lối kiến trúc tân cổ điển với vẻ đẹp huyền thoại sau này chính là nơi nghỉ dưỡng của giới quý tộc và là nơi lui tới yêu thích của hoàng hậu Marie-Antoinette vốn nổi danh với những thú chơi xa xỉ.

Nhiều thế kỷ trôi qua, vô số các khu nghỉ dưỡng đẳng cấp mọc lên khắp thế giới và trở thành những “cỗ máy hút tiền” từ giới siêu giàu. Nhắc đến Dubai là người ta nghĩ ngay tới khách sạn 7 sao Burj Al Arab với độ xa xỉ đạt đến mức thượng thừa.

“Men say” mới tại Việt Nam

Nhắc đến Malpes, không thể không nhớ tới khu nghỉ dưỡng Soneva Fushi Resort Malpes trên hòn đảo Soneva Fushi, điểm đến yêu thích của các ngôi sao lừng danh thế giới như Madonna, Rita Ora, vợ chồng nhà Beck…

Các khu nghỉ dưỡng xa hoa được đặt ở những vị trí độc tôn, với các dịch vụ siêu cao cấp không đơn giản chỉ để chiều lòng giới siêu giàu, mà còn trở thành biểu tượng và khẳng định thứ hạng của đất nước hay vùng đất sở hữu nó trên bản đồ du lịch thế giới.

Tại Việt Nam, nghỉ dưỡng xa xỉ được “sinh sau đẻ muộn”, sau rất nhiều năm im lìm trước làn sóng nghỉ dưỡng siêu sang trên thế giới. Và chỉ độ vài năm gần đây, khi Tập đoàn Sun Group tiên phong kiến tạo những khu nghỉ dưỡng hạng sang được cả thế giới vinh danh, Việt Nam mới thực sự được biết đến như một miền đất hứa của các trải nghiệm nghỉ dưỡng xa xỉ.

Giữa một rừng những khu nghỉ dưỡng hạng siêu sang trên khắp thế giới, nghỉ dưỡng Việt Nam làm thế nào để cạnh tranh và rút hầu bao của giới siêu giàu?

Nắm bắt những xu thế hàng đầu trên thế giới và phát triển trên những tiềm năng của mỗi vùng đất trên dải đất hình chữ S, Sun Group đã có câu trả lời của riêng mình: Nghỉ dưỡng không chỉ cần xa hoa, đẳng cấp, mà còn phải độc và lạ – thứ men say để chinh phục giới nhà giàu.

Đó là một InterContinental Danang Sun Peninsula Resort – khu nghỉ dưỡng nép mình trên bán đảo Sơn Trà huyền thoại, 4 năm liên tiếp được World Travel Awards vinh danh là “Khu nghỉ dưỡng sang trọng bậc nhất thế giới”, được báo chí quốc tế và Việt Nam không tiếc lời khen cho đẳng cấp, độ sang trọng “có một không hai” và những dịch vụ thượng lưu.

Nhưng khái niệm “xa xỉ” mà khu nghỉ dưỡng này đã tạo nên mới là điều đáng nói, khi không nằm ở các chi tiết dát vàng, mà bởi lối kiến trúc mang đậm bản sắc và nét quyến rũ của văn hoá Việt Nam trong từng chi tiết mà kiến trúc sư lừng danh thế giới Bill Bensley đã đi khắp đất nước Việt Nam, chắt lọc những tinh hoa văn hoá tinh túy nhất để tạo nên, nhưng lại toát lên một vẻ xa hoa đầy hấp lực.

Khu nghỉ dưỡng còn mang đến cho các thượng khách những dịch vụ thuộc hàng “hiếm” như trải nghiệm ẩm thực độc đáo từ đầu bếp hạng 3 sao Michelin tại “Nhà hàng Fine Dining sang trọng nhất thế giới” La Maison 1888, tham gia các hoạt động thuần Việt như lớp học nghề thủ công truyền thống, hay lớp học bảo vệ động vật hoang dã từ nhà động vật học của riêng khu nghỉ dưỡng.

InterContinental Danang Sun Peninsula Resort cũng mang tới trải nghiệm xa xỉ hiếm nơi nào có được: Nghỉ dưỡng xanh. Ở đây, vẻ đẹp của thiên nhiên được nâng niu, thế giới tự nhiên được bảo tồn, và môi trường sống được giữ gìn thuần khiết nhất. Đó cũng là lý do InterContinental Danang Sun Peninsula Resort là khu nghỉ dưỡng đầu tiên trên thế giới được vinh danh “Khu nghỉ dưỡng thận thiện với môi trường nhất châu Á” trong hai năm liên tiếp.

Một khu nghỉ dưỡng hạng sang khác của Tập đoàn Sun Group cũng khiến giới thượng lưu phải có cái nhìn khác về xa xỉ – đó là JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay. Đẳng cấp thế giới – đương nhiên rồi. Thiết kế độc nhất – cũng hẳn nhiên. Dịch vụ đẳng cấp – lẽ tất yếu.

Đó là tất cả những điều kiện cần và đủ để một khu nghỉ dưỡng được định nghĩa là xa xỉ trên thế giới. Nhưng điều gì khiến JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay nổi bật hơn hẳn và nằm ở vị trí thứ 6 trong top 100 khu nghỉ dưỡng tốt nhất thế giới do Travel + Leisure bình chọn, và được World Travel Awards vinh danh là “Khu nghỉ dưỡng và Spa sang trọng bậc nhất châu Á”?

Đó chính là câu chuyện “lạ” và “độc” của JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay. Được lấy cảm hứng từ một ngôi trường đại học viễn tưởng cuối thế kỷ 19, khu nghỉ dưỡng đưa các thượng khách của mình vào một hành trình khám phá các trải nghiệm xa xỉ bằng lối kiến trúc giả cổ được pha trộn sắc màu học thuật.

Ý tưởng về một trường đại học “không giống ai” khiến nơi đây trở thành một xứ sở diệu kỳ và du khách như lạc lối vào mê cung của sự xa hoa và vẻ đẹp của tri thức. Xa xỉ, với JW Marriott Phu Quoc Emerald Bay, đó là khi giới thượng lưu được sống trong thế giới tưởng tượng của riêng mình.

Nằm tại phía Bắc Việt Nam giữa thị trấn Sa Pa bốn mùa sương phủ, Hotel De La Coupole – MGallery lại tái hiện một kinh đô thời trang nơi từng chi tiết kiến trúc đều mang âm hưởng haute couture.

Trong khi đó, Premier Village Phu Quoc Resort tại Nam đảo Ngọc lại đẹp tựa “chốn địa đàng giữa nhân gian”, với trải nghiệm độc nhất vô nhị khi được ngắm bình minh và hoàng hôn ở cùng một điểm trên dải đất xanh thẳm của Mũi Ông Đội.

Rõ ràng, các sản phẩm nghỉ dưỡng của Tập đoàn Sun Group đã góp phần định nghĩa lại khái niệm nghỉ dưỡng xa xỉ tại Việt Nam, vượt ra ngoài giá trị xa hoa của vật chất. Đó là sự xa xỉ được nảy mầm ngay từ trong ý tưởng, trong sáng tạo và nguồn cảm hứng, trong những giá trị quý báu mà các khu nghỉ dưỡng mang tới cho du khách và cho những vùng đất. Điều đó đã thực sự tạo nên giá trị độc đáo cho nghỉ dưỡng xa xỉ tại Việt Nam và giúp du lịch Việt thăng hạng trên trường quốc tế.

【#2】Quan Niệm Về ‘đất Nước’ Trong Thơ

(Toquoc)- Điều khá thú vị trong thi phẩm “Đất nước ” của Nguyễn Đình Thi ở chỗ: Khi thể hiện ý thức làm chủ đất nước, hình tượng đất nước được miêu tả trong cái nhìn không gian. Nhưng khi gợi tả hồn đất nước, truyền thống dân tộc, tác giả lại cảm nhận đất nước theo chiều dài thời gian. Mạch thơ như lắng sâu khi tác giả cắt nghĩa cội nguồn của cảm xúc tự hào vui sướng của mình:

Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về.

Cái tôi trữ tình đến đây chuyển hoá thành cái ta. Nhà thơ không chỉ nhân danh cá nhân mà nhân danh cộng đồng nói lên niềm tự hào và ý thức làm chủ. Cảm hứng trữ tình có phần riêng tư ở đoạn thơ mở đầu đến đây chuyển thành cảm hứng anh hùng ca.

Hai câu thơ đầu xét về ngữ pháp, ta thấy chúng có mối quan hệ liên hợp với nhau. Sự lặp lại của từ ” nước” trong dòng thơ thứ hai thực hiện chức năng nối kết, bổ sung nghĩa. Hai câu thơ đầu như một định nghĩa về đất nước. Mà cốt lõi của định nghĩa là chân lí trường tồn của đất nước ta, sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Cả quá khứ mấy nghìn năm bỗng trở nên gần gũi với con người hôm nay. Nhà thơ cảm nhận truyền thống dân tộc như một mạch sống luôn chuyển vĩnh hằng trong lòng đất. Thi nhân như nghe thấy tiếng vọng của ngàn xưa, của hồn thiêng sông núi. Cách định nghĩa đất nước của Nguyễn Đình Thi như tạo ra một không khí trang trọng thiêng liêng trầm hùng khi nói về lịch sử dân tộc.

Đọc “Hình ảnh thơ bừng sáng, rộn ràng, phơi phới. Âm hưởng lời thơ khoáng đạt. Trong cảm quan của Nguyễn Đình Thi Đất nước” của Nguyễn Đình Thi điều ám ảnh lớn nhất đối với tôi là giai điệu thơ. Không gian thơ mở rộng đến vô cùng. Giọng thơ phấn khởi, tươi tắn, sôi nổi. Nhịp thơ vút đi vang vọng tiếng yêu đời. đất nước là bầu trời xanh bao la, tươi đẹp hiền hoà, đất nước là ruộng đồng thẳng cánh cò bay thơm ngát hương lúa. Đất nước là những ngả đường bát ngát xuôi ngược từ Bắc vào Nam rộng dài từ Đông sang Tây. Đất nước còn là những dòng sông phù sa màu mỡ.

Về cách định nghĩa về ” Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm trong trường ca ” Mặt đường khát vọng”, có thể nói ngắn gọn: Đó là tư duy thơ mới mẻ.

Nguyễn Khoa Điềm định nghĩa ” Đất Nước” theo lối chiết tự và qui tụ về tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”, khiến cho hình tượng ” Đất Nước ” hiện ra trong sự hình dung của người đọc vừa lớn lao, thiêng liêng, vừa gần gũi, quen thuộc.

Sau khi nêu cảm nhận của mình về nguồn gốc lịch sử văn hoá của đất nước. Nhà thơ hình tượng hoá nghĩa của từng yếu tố cấu thành ” Đất Nước. Cách chiết tự này của Nguyễn Khoa Điềm có sự kết hợp tư duy hình tượng với tư duy lôgíc để tạo nên chất chính luận và trữ tình đặc sắc cho tác phẩm .

Ví dụ, tác giả định nghĩa từng thành tố: ” Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm”; ” Đất là nơi chim về – Nước là nơi rồng ở…” Đất, trong đoạn thơ này, theo cảm nhận của chủ thể trữ tình vừa là không gian cụ thể, gắn bó với cuộc sống từng cá nhân, vừa là không gian rộng lớn, nơi sinh sống thương yêu, sẻ chia của cộng đồng. Nước là cũng vừa là không gian cụ thể, gắn với sinh hoạt đời thường, vẻ đẹp tâm hồn trong sáng hồn nhiên của con người, vừa là không gian gặp gỡ, hoà hợp. Trên cơ sở đó, tác giả cấp cho ta cảm nhận, cái nhìn chung về khuôn mặt, dáng hình Đất Nước: ” Đất Nước là nơi ta hò hẹn”; “Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ”; ” Đất Nước là máu xương của mình”… ” Đất Nước” theo Nguyễn Khoa Điềm có ý nghĩa biểu trưng cho tình nghĩa con người, vừa có nguồn gốc đẹp đẽ thiêng liêng, vừa bắt nguồn từ đời sống tình cảm hài hoà nồng thắm, vừa là không gian sum họp, đoàn kết, nguồn gốc của sự sống; vừa là nơi bao thế hệ đã đấu tranh kiên cường dũng cảm, đã hy sinh “hoá thân cho dáng hình xứ xở” để làm nên “Đất Nước muôn đời”.

Cách định nghĩa Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm rất thơ và khúc chiết, không chung chung trừu tượng mà khá cụ thể. Quan niệm đó, vừa có tính kế thừa, vừa phát triển mang ý nghĩa triết lí rộng lớn. Đất nước vốn là khái niệm không gian, đã được nhà thơ thời gian hoá, từ phạm trù khách quan, chuyển hoá thành chủ quan: Đất Nước kết tinh, hoá thân trong cuộc sống của mỗi con người: “Trong anh và em hôm nay – Đều có một phần Đất Nước – Khi hai đứa cầm tay – Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm”… Đất Nước được cảm nhận như sự thống nhất hài hoà của các phương diện văn hoá, truyền thống, phong tục tập quán, đời sống cá nhân và cộng đồng… Cách định nghĩa ” Đất Nước” theo lối qui nạptrong ” Mặt đường khát vọng” thể hiện chiều sâu, bề rộng văn hoá, những trải nghiệm, suy tưởng riêng và xúc động mãnh liệt, chân thành của Nguyễn Khoa Điềm.

Như vậy, cả Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm đều có cách định nghĩa khác nhau về đất nước. Điều đó đem lại cho người đọc những cảm nhận mới mẻ về hình tượng đất nước. Điểm chung lớn nhất trong cảm quan đất nước của hai thi nhân là đều cắt nghĩa đất nước từ cội nguồn văn hoá, lịch sử độc đáo, từ không gian địa lí cụ thể đến không gian có tính chất biểu trưng của dân tộc Việt. Cách định nghĩa đất nước của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi thực tế là sự tiếp nối cách định nghĩa đất nước từ thời Lí Thường Kiệt và Nguyễn Trãi.

Từ xưa, Lí Thường Kiệt quan niệm đất nước gồm ba yếu tố: Cương vực lãnh thổ, thể chế chính trị và sách trời. Đất nước của Lí Thường Kiệt gắn với tư tưởng thiên mệnh ( Nam Quốc sơn hà). Còn Nguyễn Trãi khẳng định: Đất nước là của dân, do dân, do người hào kiệt nhiều đời xây dựng, gìn giữ. Chẳng thế mà trước hoạ xâm lăng, dân là người đầu tiên chịu tai vạ, quân cuồng Minh, bọn gian tà là người “dối trời, lừa dân” “nhiễu nhân dân“; họ Hồ phi nghĩa trái đạo “lòng dân oán hận”; cũng chính dân đoàn kết: ” nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới” tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn, diễn đạt khác đi dân là người mưu đồ đại nghĩa ( Bình Ngô đại cáo).

Cái nhìn của Nguyễn Trãi về đất nước khá sâu sắc, toàn diện và có tính hiện đại. Một quốc gia độc lập phải có: nền văn hiến, phong tục tập quán lâu đời; lãnh thổ riêng, chủ quyền chính trị độc lập, truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước; thời nào cũng có người tài giỏi. Tác giả lập luận chặt chẽ liền mạch, khẳng định sự tồn tại của nước ta như một chân lí hiển nhiên.

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văiệt nam hiến đã lâu Núi sông bờ cõi từ lâu Phong tục Bắc Nam cũng khác Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có.

Ngôn ngữ thơ trang trọng, giản dị, giàu sắc thái trữ tình. Từ ” cùng” khẳng định sự bình đẳng, mỗi bên hàm ý độc lập, từ ” xưng đế” chứa đựng sức mạnh, từ ” khác” nhấn mạnh bản sắc dân tộc, ” vốn xưng” có nét nghĩa sự tự chủ, tự cường, ” đời nào cũng có” chứa đựng lòng tự tôn dân tộc và cả sự thách thức ngầm kẻ thù xâm lược. Đoạn thơ ngắn nhưng nhịp thơ đa dạng phù hợp với lí lẽ phong phú sắc bén của tác giả. Giọng thơ đanh thép, trang nghiêm, ngợi ca tự hào chắc mạnh là chính kết hợp với nghệ thuật đối góp phần thể hiện sự bình đẳng của dân tộc ta và phong kiến phương Bắc trong quá trình hình thành phát triển của mình.

của Lí Thường Kiệt có màu sắc thần bí, còn ở Nguyễn Trãi sát với hiện thực hơn. Cái lí mà Lí Thường Kiệt dựa vào đó lá sách trời, còn Nguyễn Trãi thuyết phục người khác từ Quan niệm về đất nước truyền thống văn hoá. Lí Thường Kiệt nhấn mạnh tư tưởng trung quân, Ức Trai triển khai nội dung nhân nghĩa bắt đầu từ sự nhìn nhận về đất nước, dân tộc. Lí Thường Kiệt đề cao tư tưởng trung nghĩa. Nguyễn Trãi gần gũi với dân đen, con đỏ nên nói đến nhân nghĩa nhiều hơn.

Hiền Thảo

【#3】Khái Niệm Chuỗi Cung Ứng Và Quản Trị Chuỗi Cung Ứng

Cách đây chỉ 10 năm, cụm từ “chuỗi cung ứng” (Supply Chains) hay “quản trị chuỗi cung ứng” (Supply Chain Management) còn rất hiếm khi xuất hiện trong câu chuyện của các nhà quản trị. Họ chỉ mới sử dụng các cụm từ “logistics” hay “vận tải” để mô tả dòng chảy của hàng hóa.

Để cạnh tranh trong môi trường kinh doanh hiện nay, các doanh nghiệp cần phải tham gia cả vào các công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũnng như khách hàng của họ. Điều này đồng nghĩa với việc các DN cần quan tâm hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, thiết kế cũng như đóng gói sản phẩm của nhà cung cấp, cách vận chuyển bảo quản sản phẩm của họ,… Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu để hiểu rõ hơn chuỗi cung ứng là gì, quản lý cung ứng hay quản trị chuỗi cung ứng là gì?

Quản trị chuỗi cung ứng là gì? Quản lý chuỗi cung ứng là gì?

90% các CEO trên thế giới đều đặt việc quản trị chuỗi cung ứng lên hàng đầu khi mà việc cạnh tranh trên thị trường ngày càng tăng cao, giá bán trên thị trường và giá thu mua nguồn cung cấp hàng hóa ngày càng bị siết chặt. Chuỗi cung ứng có sức tác động lớn sẽ chiếm lĩnh thị trường và sự tín nhiệm của khách hàng, tạo nên giá trị cổ đông, mở rộng chiến lược và khả năng vươn xa cho doanh nghiệp. Thêm vào đó, trong môi trường kinh doanh hiện nay, chuỗi cung ứng là một trong những nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cùng ngành. Nhờ có chuỗi cung ứng hiệu quả, các tập đoàn quốc tế lớn như Dell, Wal-Mart đã đạt lợi nhuận cao hơn từ 4-6% so với đối thủ. Một nghiên cứu độc lập cũng cho thấy một vài công ty hàng đầu trên thế giới như Apple, Coca-cola, Sam sung đã tận dụng hiểu quả chuỗi cung ứng của họ để vươn cao trong môi trường cạnh tranh, đạt được mức tăng giá trị công ty cao hơn 40% so với các đối thủ khác. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả có thể mang lại:

+ Độ chính xác trong việc dứ báo sản xuất tăng từ 25-80%

+ Cải thiện vòng cung ứng đơn hàng lên 30-50%

Theo xu hướng toàn cầu hóa, với việc nhiều công ty nước ngoài đổ vốn đầu tư vào Việt Nam và Việt Nam từng bước gia nhâp vào các chuỗi cung ứng toàn cầu lớn, quản trị chuỗi cung ứng ngày càng được chú trọng hơn so với trước đây. Tuy nhiên, có thể nói quản trị chuỗi cung ứng vẫn là một phạm trù khá mới mẻ tại Việt Nam cho dù từng công đoạn của việc ấy đã diễn ra bấy lâu nay.

Hiện nay, Công ty CP Thương mại Dịch vụ Logistics Đông Dương là một trong những nhà cung cấp dịch vụ chuỗi cung ứng logistics tích hợp hàng đầu Việt Nam trong các ngành công nghiệp sau:

ILT cam kết hoạt động chuyên nghiệp và quốc tế hoá trong công việc; uy tín và tin cậy trong cách thức; thân thiện, cởi mở và trung thực trong hành vi để luôn tiên phong trong lĩnh vực quản trị chuỗi cung ứng. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ hotline: 0912 213 988.

【#4】Khái Niệm, Đặc Điểm, Phân Loại, Phân Tích Các Chủ Thể Luật Quốc Tế

Chủ thể luật quốc tế là gì? Khái niệm chủ thể luật quốc tế? Chủ thể luật quốc tế có những đặc điểm gì? Phân loại và phân tích cụ thể các loại chủ thể của luật quốc tế?

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ

Khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế

Dưới góc độ lý luận khoa học pháp lý, để xác định được đối tượng của Luật Quốc tế cần phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau: Có sự tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế do Luật Quốc tế điều chỉnh; Có ý chí độc lập trong sinh hoạt quốc tế; Có đầy đủ quyền và nghĩa vụ riêng biệt đối với các chủ thể khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế; Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể gây ra.

Cùng với quá trình phát triển khách quan của xã hội thì sự tồn tại và phát triển của Luật Quốc tế cũng đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, do đó trong từng giai đoạn lịch sử mà phạm vi điều chỉnh của Luật Quốc tế có sự thay đổi dẫn tới chủ thể của Luật Quốc tế cũng có sự khác nhau nhất định. Trong giai đoạn chiếm hữu nô lệ thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia chủ nô, các liên đoàn chính trị tôn giáo của các quốc gia thành thị. Trong thời kỳ phong kiến, chủ thể Luật Quốc tế là các quốc gia phong kiến, các nhà thờ thiên chúa giáo. Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa thì chủ thể của Luật Quốc tế là các quốc gia có chủ quyền và các tổ chức quốc tế ….

Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể định nghĩa tổng quát khái niệm chủ thể của Luật Quốc tế như sau: Chủ thể của Luật Quốc tế là những thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và khả năng gánh vác trách nhiệm pháp lý quốc tế từ những hành vi mà chính chủ thể thực hiện.

Xét về vị trí, tính chất, vai trò chức năng và bản chất pháp lý… thì các chủ thể của Luật Quốc tế có sự khác nhau, tuy nhiên chúng bao giờ cũng có chung các đặc điểm cơ bản và đặc trưng sau:

Là thực thể đang tham gia hoặc có khả năng tham gia quan hệ pháp Luật Quốc tế.

Độc lập về ý chí, không chịu sự tác động của các chủ thể khác.

Được hưởng quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế.

Có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi mà chủ thể đó gây ra.

Không có một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế.

Hiện nay, trong quan hệ pháp Luật Quốc tế hiện đại thì chủ thể của Luật Quốc tế bao gồm:

Các quốc gia, đây là chủ thể cơ bản và chủ yếu của Luật Quốc tế.

Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, đây là chủ thể tiềm tàng của Luật Quốc tế.

Các tổ chức quốc tế liên chính phủ, đây là chủ thể phái sinh của Luật Quốc tế, được hình thành bởi sự hợp tác của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực hướng đến lợi ích của các quốc gia và lợi ích chung của cộng đồng.

Các chủ thể đặc biệt khác.

Tuy nhiên trong trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, vai trò của các cá nhân, tập đoàn, công ty đa quốc gia, các hiệp hội phi chính phủ trong quan hệ quốc tế ngày càng tăng cho nên việc thừa nhận các chủ thể có sự tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế ở một số lĩnh vực nhất định, do đó có quan điểm cho rằng đây cũng là chủ thể của Luật Quốc tế.

THỰC TIỄN CÁ NHÂN THAM GIA VÀO QUAN HỆ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

Cá nhân là chủ thể mang tính tự nhiên, là một thực thể sinh học chiếm số lượng lớn nhất trong xã hội. Cá nhân là chủ thể thường xuyên và quan trọng nhất của nhiều ngành luật như: pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật đất đai… bởi đây là chủ thể đầu tiên và cơ bản trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia chưa công nhận cá nhân là chủ thể của Luật Quốc tế.

Đặc điểm chủ thể của cá nhân

Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng có quyền và nghĩa vụ. Đây là những quyền do nhà nước quy định và không ai được tự hạn chế nghĩa vụ của mình cũng như quyền và nghĩa vụ của người khác. Mọi cá nhân sinh ra không phân biệt giới tính, thành phần dân tộc, giàu nghèo, tôn giáo… đều có năng lực pháp luật như nhau và được nhà nước đảm bảo thực hiện. Điều này được công nhận tại Điều 6 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 (Ở bất kì nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật).

Năng lực hành vi của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí cũng như độc lập chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Khả năng này được xác định dựa theo độ tuổi và khả năng nhận thức của con người. Năng lực hành vi của cá nhân ở các quốc gia khác nhau và ở nhiều thời điểm khác nhau là khác nhau.

Quyền năng chủ thể luật quốc tế của cá nhân

Tính chủ thể pháp lý của cá nhân được thể hiện ở chỗ cá nhân cũng gánh vác trách nhiệm và nghĩa vụ cũng như hưởng các quyền lợi mà Luật Quốc tế quy định, bởi suy cho cùng hành vi của từng cá nhân trong một quốc gia là cách thức quốc gia đó thực hiện quyền và nghĩa vụ quốc tế. Ngoài ra, để pháp điển hóa các quy định của pháp luật quốc tế, các quốc gia phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tạo khung pháp lí cho việc áp dụng các quy định đó trong đời sống xã hội. Như vậy, việc này đã gián tiếp công nhận các cá nhân của quốc gia đó, chính là những người trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ quốc tế của quốc gia mình.

Mặt khác, trong rất nhiều văn bản pháp luật quốc tế, cá nhân được đem ra xem xét như là một chủ thể của quan hệ pháp luật này và phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình.Theo Điều 1 Quy chế Tòa án hình sự quốc tế thì Tòa án có quyền xét xử đối với những cá nhân về những hình sự quốc tế nguy hiểm nhất được quy định trong Quy chế. Cũng theo Điều 5 Quy chế này thì Tòa án sẽ xét xử đối với hầu hết những tội phạm nguy hiểm nhất do cá nhân thực hiện, đó là tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh và tội gây chiến tranh xâm lược. Điều lệ của Tòa án binh 1945 ở Nurnberge và Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác diệt chủng 1948 cũng thừa nhận như trên.

Chúng ta cùng thử đánh giá khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế của cá nhân với tư cách là chủ thể của Luật Quốc tế thông qua một ví dụ điển hình sau:

Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam

Tranh chấp về chủ quyền biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ngày càng gay gắt. Như chúng ta đã biết, Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 và mới đây, bằng hành động ban hành cấm đánh bắt cá từ ngày 16/5/2008 đến 1/8/2008 thì Trung Quốc như càng muốn khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo có đầy lợi thế về mặt kinh tế lẫn mặt chính trị này.

Chính vì vậy, 21/6/2009 lực lượng tuần tra Trung Quốc đã bắt ba tàu cá gồm 37 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi Việt Nam, khi họ đang hành nghề đánh cá bình thường tại khu vực vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Sau đó, 1/8/2009, 13 ngư dân Việt Nam khác vào tránh bão tại Hoàng Sa cũng bị Trung Quốc bắt giữ.

Ngày 21/3/2010, một thuyền cá của ông Tiêu Viết Là bị Trung Quốc bắt giữ khi đang đánh bắt ở gần quần đảo Hoàng Sa. Phía Trung Quốc đã buộc ông Là gọi điện về nhà, đòi gửi tiền chuộc thì mới trả tự do cho ông và các thuyền viên. Họ cũng giải thích ông bị bắt và phải nộp phạt vì “xâm phạm lãnh hải” Trung Quốc.

Gia đình ông Tiêu Viết Là thì cho hay đây là lần thứ hai tàu của ông bị bắt khi hoạt động tại khu vực gần Hoàng Sa. Được biết số tiền chuộc Trung Quốc đòi hỏi là khoảng 180 triệu đồng, được cho là “quá lớn” so với hoàn cảnh tài chính eo hẹp của gia đình ông. Chính quyền sở tại và cơ quan biên phòng đã có báo cáo, kiến nghị lên Bộ Ngoại giao Việt Nam yêu cầu can thiệp.

Quan điểm chính thức của phía Việt Nam là không nộp tiền phạt, vì điều đ́ó đồng nghĩa với thừa nhận chủ quyền và quyền chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông.

CÁ NHÂN KHÔNG PHẢI CHỦ THỂ CỦA LUẬT QUỐC TẾ

Cá nhân không có ý chí độc lập khi tham gia quan hệ pháp luật quốc tế

Rõ ràng, cá nhân có thể có nhiều quyền mà luật quốc tế ấn định, như quyền xuất ngoại, du nhập vào nước khác, quyền thụ đắc tài sản, quyền hoạt động thương mại,… nhưng cá nhân luôn phải nhờ quốc gia mình can thiệp với nước ngoài, để nước ngoài công nhận những quyền đó của cá nhân. Như thế, rõ ràng là khi tham gia vào tất cả các quan hệ của đời sống xã hội thì cá nhân vẫn chịu một sự chi phối rất lớn từ ý chí, từ quyền lực chính trị của chủ thể đặc biệt – đó là Nhà nước.

Ví dụ: Điều 6 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948 quy định: “Những kẻ phạm tội diệt chủng sẽ bị 1 Tòa án có thẩm quyền của quốc gia nơi hành vi phạm tội được thực hiện xét xử hoặc một tòa án hình sự quốc tế có thể phán quyết trên cơ sở các quốc gia thanh viên sẽ chấp nhận thẩm quyền của Tòa án quốc tế đó”

Với quy định này có thể thấy, một cá nhân phạm tội diệt chủng, tùy thuộc vào ý chí của các quốc gia, có thể bị xét xử bởi 1 tòa án của quốc gia hoặc bị xét xử bởi 1 tòa án quốc tế do các quốc gia thỏa thuận thành lập. Cá nhân không có quyền lựa chọn, tức là không có ý chí trong một quan hệ pháp luật quốc tế mà mình tham gia.

Như vậy, cá nhân không có ý chí độc lập khi tham gia các quan hệ quốc tế, và như vậy cá nhân không thể là một chủ thể của luật quốc tế.

Cá nhân không có quyền và nghĩa vụ riêng biệt so với các chù thể khác của Luật Quốc tế

Không thể phủ nhận rằng, trên thực tế, có một số trường hợp luật quốc tế trao các quyền và nghĩa vụ trực tiếp cho cá nhân. Đặc biệt là sự ra đời của Bản tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/2948 đã công nhận mọi cá nhân, bất luận là người dân quốc gia độc lập hay bị trị đều được hưởng các quyền và tự do trong bản tuyên ngôn.

Các quyền và tự do căn bản trong bản tuyên ngôn có thể được chia thành 4 loại: (1) Các quyền về tự do cá nhân (Từ điều 3 đến điều 13) như các quyền sống tự do và an toàn, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được được bảo vệ chống lại mọi sự bắt bớ giam giữ trái phép, mọi sự tran tấn, trừng phạt dã man, quyền tự do đi lại, xuất ngoại, hồi hương; (2) Các quyền về tự do trong mối liên lạc với người khác (Điều 14 đến Điều 16) như quyền tị nạn, quyền có quốc tịch, quyền lập gia đình; (3) Các quyền tự do tinh thần và tự do chính trị (từ Điều 17 đến Điều 21) như quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền tự do lập hội, tự do bầu cử, ứng cử, quyền tham gia các công việc công; (4) Các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội (Điều 22 đến Điều 27) như quyền có việc làm, quyền tự do chọn việc làm, tự do lập nghiệp đoàn, được hưởng các chế độ an ninh xã hội, tự do học tập, hưởng một nền giáo dục căn bản và miễn phí, tự do tư tưởng về khoa học,…

Một số nhà luật học đã dựa vào những căn cứ như trên đã đề cập, họ chứng minh rằng cá nhân vẫn được hưởng quyền và các nghĩa vụ như các chủ thể khác của luật quốc tế. Tuy nhiên, theo quan điểm của em thì dù các Điều ước Quốc tế trên là hướng tới con người, hướng tới cá nhân thì những quyền, nghĩa vụ cá nhân tồn tại trong Điều ước quốc tế đó chỉ với ý nghĩa là khách thể của các quan hệ pháp luật điều ước quốc tế về quyền con người, hình thành từ sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau hay với tổ chức quốc tế. Cá nhân trong các mối quan hệ như vậy chỉ có thể là đối tượng của những thỏa thuận hay cam kết quốc tế mà không thể là chủ thể của những mối quan hệ đó được.

Như vậy, cần phải thấy rằng việc cá nhân tham gia vào một số quan hệ pháp luật quốc tế về quyền con người là do sự thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế. Cá nhân chỉ là chủ thể của quyền con người chứ không phải chủ thể của luật quốc tế về quyền con người.

Như vậy, có thể khẳng định cá nhân không các quyền, nghĩa vụ ngang bằng, riêng biệt với các chủ thể khác của luật quốc tế mà phải chịu sự tác động của quốc gia.

Cá nhân không thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý một cách độc lập

Có thể thấy rằng không một chủ thể nào có quyền tài phán chủ thể của Luật Quốc tế, trên nó không tồn tại quyền lực chính trị nào chi phối hoạt động của nó và khi tham gia vào các quan hệ quốc tế thì các chủ thể có vị trí độc lập, bình đẳng với nhau. Khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi của mình gây ra có quan hệ mật thiết với khả năng có sự tự do ý chí tham gia các quan hệ quốc tế.

Do đó, một điều tất yếu từ việc cá nhân không có các quyền, nghĩa vụ riêng biệt theo quy định của luật quốc tế là cá nhân sẽ không có sự tự do ý chí tham gia các qan hệ quốc tế, đồng thời cá nhân cũng không có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do những hành vi của mình gây ra 1 cách độc lập. Một khi không có vị trí độc lập bình đẳng với các chủ thể khác, cá nhân sẽ không thể độc lập gánh chịu trách nhiệm pháp lý do những hành vi của mình gây ra.

Thực tiễn ta thấy rằng, trong mối tương quan về địa vị pháp lý trong Luật quốc gia thì nhà nước luôn có quyền tài phán đối với công dân nước mình, phần lớn các quan hệ phát sinh giữa cá nhân với nhà nước đều được điều chỉnh bởi phương pháp quyền uy, mệnh lệnh phục tùng. Mặt khác, chúng vẫn có thể bị tài phán bởi các cơ quan quốc tế khác (ví dụ như Tòa án binh Quốc tế) theo Luật Quốc tế.

Vì vậy, khi tham gia vào các hoạt động, cá nhân luôn bị chi phối ảnh hưởng bởi quyền lực chính trị và khi tham gia vào quan hệ với các chủ thể khác của Luật Quốc tế thì chủ thể này khó có thể có được vị trí độc lập và bình đẳng.

【#5】Khái Niệm Cách Mạng Xã Hội Và Nguyên Nhân Của Nó

Khái niệm cách mạng xã hội dùng để chỉ bước chuyển biến lớn của lịch sử phát triển xã hội loài người – đó là bước chuyển từ hình thái kinh tế – xã hội ở trình độ thấp lên một hình thái kinh tế – xã hội ở trình độ cao hơn, được tiến hành trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…của xã hội.

Trong xã hội có giai cấp đối kháng, cách mạng xã hội được đặc trưng bằng việc giai cấp cách mạng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền nhà nước, đồng thời tiến hành tổ chức, xây dựng và sử dụng nhà nước mới của nó để cải tạo căn bản, toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tức là xây dựng một hình thái kinh tế – xã hội mới. Do đó, có thể thấy: vấn đề chính quyền nhà nước nhất định là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Đồng thời, cuộc cách mạng nào cũng phải trải qua hai giai đoạn là: giai đoạn giành chính quyền và giai đoạn tổ chức xây dựng chính quyền mới, xây dựng xã hội mới. Đó thực sự là một quá trình chẳng những đầy những khó khăn, nguy hiểm, gian khổ mà còn thường là hết sức lâu dài diễn ra hàng chục, thậm chí hàng trăm năm.

Như vậy, khái niệm cách mạng xã hội khác với khái niệm cải cách. Khái niệm cải cách dùng để chỉ những cuộc cải biến diễn ra trên một hay một số lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi một hình thái kinh tế – xã hội nhằm hoàn thiện hình thái kinh tế – xã hội đó, như: cải cách thể chế kinh tế, cải cách nền hành chính quốc gia, cải cách nền giáo dục,…Khái niệm cách mạng xã hội cũng khác khái niệm đảo chính. Khái niệm đảo chính dùng để chỉ những sự biến tranh giành địa vị quyền lực nhà nước giữa các lực lượng chính trị và với chủ trương không thay đổi bản chất của chế độ hiện thời, nó có thể được tiến hành dưới hình thức bạo lực hoặc phi bạo lực vũ trang.

Nguyên nhân sâu xa của cách mạng xã hội là từ mâu thuẫn gay gắt trong bản thân nền sản xuất vật chất của xã hội, tức mâu thuẫn gay gắt giữa nhu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất với sự kìm hãm của quan hệ sản xuất đã trở nên lỗi thời mà không một cuộc cải cách kinh tế hay chính trị nào có thể giải quyết được. Mâu thuẫn đó biểu hiện thành cuộc đấu tranh giai cấp và chính sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp này tất yếu dẫn tới sự bùng nổ cách mạng. Đây cũng chính là nguyên nhân khách quan của các cuộc cách mạng. Ngoài ra, mỗi cuộc cách mạng xã hội còn có nguyên nhân chủ quan của nó, đó là sự phát triển nhận thức và tổ chức của giai cấp cách mạng, tức giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn, từ đó tạo ra sự phát triển của phong trào đấu tranh giai cấp từ tự phát đến tự giác và khi có sự kết hợp chín muồi của các nhân tố chủ quan và khách quan, tức tạo được thời cơ cách mạng thì khi đó tất yếu cách mạng sẽ bùng nổ và có khả năng thành công.

【#6】Khái Niệm Về Bạo Lực Gia Đình

Khái niệm về bạo lực gia đình

Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát (WHO).

Theo định nghĩa của Đại hội đồng Liên hiệp quốc thì Bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư.

Ở Việt Nam, Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 định nghĩa “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”.

Các dạng bạo lực gia đình:

Bạo hành thể xác: Những hành vi như đá, đấm, tát… tác động trực tiếp đến sức khỏe nạn nhân. Kiểu hành vi này hay xảy ra khi hai bên chênh lệch về sức mạnh thể chất như giữa chồng và vợ, bố mẹ và con cái hoặc con cái và bố mẹ già.

Bạo hành tình dục: Ép quan hệ tình dục khi bạn đời không muốn. Hành vi loạn luân giữa cha và con gái, hoặc mẹ và con trai, giữa anh chị em… cũng được xếp vào loại này.

Bạo hành tinh thần: Chửi bới, mắng nhiếc, im lặng không nói chuyện trong thời gian dài…

Bạo hành xã hội: Ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn bè, bao vây kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng.

Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

1. Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

2. Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

3. Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

4. Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

5. Cưỡng ép quan hệ tình dục;

6. Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

7. Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

8. Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

9. Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Bạo lực gia đình ở Việt Nam?

Theo Nghiên cứu Quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam được Tổng cục Thống kê (GSO) và Liên Hợp Quốc (UN) tại Việt Nam công bố thì có tới 58% phụ nữ Việt Nam được hỏi cho biết, họ từng là nạn nhân của ít nhất một trong số các hình thức bạo lực gia đình: thể xác, tình dục, tinh thần… Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị người khác lạm dụng.

Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra, bạo lực gia đình là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với cuộc sống của trẻ em. Trẻ em sống trong những gia đình người mẹ bị cha bạo hành sẽ có nhiều khả năng có các vấn đề về hành vi hơn so với những trẻ em khác.

Các nguyên nhân của bạo lực gia đình?

+ Do nhận thức về giới và sự bình đẳng giới còn hạn chế.

+ Do quan niệm phong kiến “trọng nam khinh nữ”, tư tưởng gia trưởng, gia quyền còn nặng.

+ Do sự nhìn nhận, đấu tranh của người phụ nữ trước nạn bạo hành gia đình còn hạn chế, thiếu thẳng thắn, thiếu tự tin, còn cam chịu.

Nguyên nhân khách quan:

+ Trình độ học vấn, năng lực nghề nghiệp, đặc biệt là tình trạng chênh lệch về nghề nghiệp giữa vợ và chồng là một trong những yếu tố khách quan gây nên nạn bạo hành trong gia đình.

+ Năng lực tự chủ tài chính của người đàn ông trong gia đình bị hạn chế, hình thành ở họ tư tưởng tự ty, hẹp hòi. Đây cũng là nguyên nhân gây nên nạn bạo hành gia đình đối với người phụ nữ.

+ Tác động của các chất kích thích, của men bia, rượu, ma túy, của thói trăng hoa…

【#7】Khái Niệm Quyền Lợi Quốc Gia Trên Hết

– Bài viết này là 1 cố gắng, nhằm tìm hiểu khái niệm Lợi ích

quốc gia tối thượng của dân tộcViệt Nam trong một số bản tuyên ngôn nổi tiếng

của Việt Nam. Góp một ý nhỏ, chứng minh rằng Chủ nghĩa cộng sản không phù hợp

với dân tộc Việt Nam…

Một quốc gia hiện đại được gọi là độc lập, nếu quốc gia ấy có khả năng

bảo vệ Lợi ích quốc gia tối thượng của mình. Ngược lại, nếu quốc gia này không

có khả năng bảo vệ Lợi ích quốc gia tối thượng của mình, thì bị gọi là lệ thuộc,

thuộc địa, phiên quốc, chư hầu,… tùy từng mức độ.

Lợi ích quốc gia tối thượng trước hết là một khái niệm lợi ích tổng quát,

chứa đựng lợi ích chung nhất cho mọi thành phần dân tộc sống trong quốc gia này.

Mọi công dân đều nhìn thấy trong Lợi ích quốc gia tối thượng, có lợi ích riêng

cho cá nhân mình, lại có lợi ích chung cho cả cộng đồng địa phương, cũng như

toàn quốc. Lợi ích này là cao nhất, nếu nó bị xâm phạm, lập tức ảnh hưởng đến

quyền lợi của từng công dân tới mức, những công dân này sẵn sàng hi sinh cả tính

mệnh của mình để bảo vệ Lợi ích tối thượng này.

Khái niệm Lợi ích quốc tối thượng được hình thành dần dần theo chiều dài

lịch sử dựng nước của một quốc gia. Nó phụ thuộc vào dân số,văn hóa, phong tục,

tập quán… đến cả vị trí địa lý, khí hậu, phong thổ… Quan niệm về Lợi ích

quốc gia tối thượng của từng quốc gia có khác nhau trong chi tiết cụ

thể.

Thí dụ về việc bảo vệ công dân của mình.

Hoa Kỳ là quốc gia trẻ. Để hàn gắn những người dân từ khắp thế giới đến

Hoa Kỳ, mà vẫn tự hào là công dân của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ

đặc biệt coi trọng bảo vệ các công dân mình trên toàn thế giới. Nhiều khi chỉ để

cứu 1 nhà báo, 1 người du lịch Mỹ…, chính phủ Mỹ có thể chi rất nhiều tiền,

hay dùng uy tín của ngay cả các cựu Tổng thống Hoa Kỳ, vào việc giải cứu các

công dân này.

Con người không thuộc về phạm trù Lợi ích quốc gia tối thượng của Trung

Quốc.

1. Lợi ích quốc gia tối thượng theo cách hiểu của Dân tộc Việt

Nam.

Theo hiểu biết đại chúng thì bản tuyên ngôn độc lập này, được tuyên bố

trong một tình huống đặc biệt: cuộc chiến của Việt Nam chống xâm lược nhà Tống

đang đến hồi quyết liệt. Bản tuyên ngôn bất hủ của dân tộc Việt Nam ra đời trên

chiến lũy sông Như Nguyệt, một con hào tự nhiên của địa lý Việt Nam, được Thái

úy Lý Thường Kiệt lợi dụng, xây dựng thành phòng tuyến chống ngoại

xâm.

Tuyệt nhiên phận định tại Thiên Thư,

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Bài thơ đã nêu ra khái niệm về Lợi ích quốc gia tối thượng của dân tộc

Việt Nam.

Thứ nhất Lợi ích quốc gia tối thượng này bao gồm khái niệm về Biên cương,

Lãnh thổ: “Nam Quốc” gồm có Sơn và Hà. Sông và núi này không phải là bất kỳ, đây

là sông và núi đã được đánh dấu, đã được Thiên Thư trao rõ ràng cho người Việt

Nam. Đây là một điều khoản của luật trời. Điều khoản này qui định là Sơn, Hà của

Việt Nam là do Vua việt nam cai quản. Biên cương, lãnh thổ Việt Nam là bất khả

xâm phạm. Kẻ nào xâm phạm tất chuốc lấy diệt vong. Ở dạng sơ khai cơ bản ban

đầu, Lợi ích quốc gia tối thượng đã được danh tướng Lý Thường Kiệt thể hiện qua

nội dung cơ bản đầu tiên:

(i) Đấy là tính bất khả xâm phạm của biên cương, lãnh thổ

Việt Nam. Đấy là đất nước của người Việt, có vua Việt Nam

ở.

Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi được đánh giá là bản Tuyên ngôn độc lập của

Việt Nam sau khi đánh đuổi thành công giặc Minh ra khỏi bờ cõi.

Mở đầu Cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi viết:

“Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

Phong tục Bắc Nam cũng khác;

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một

phương;….”

Lợi ích quốc gia tối thượng theo cách hiểu của Cáo bình

Ngô,

(ii) Trước hết là đạo trị quốc bằng nhân nghĩa việt nam “cốt

ở yên dân”. Đạo trị quốc này phải được thực thi trong quốc gia Việt Nam có “Núi

sông bờ cõi đã chia” với Trung Quốc..

(iii) Quốc gia này là tổ hợp hữu cơ của các khái niêm địa lý

(như núi, sông, bờ cõi, lãnh hải…), các giá trị tinh thần (như văn hiến, phong

tục tập quán…), các truyền thống về lịch sử dựng nước (như các triều đại…),

các nhân tài của đất nước (Hào kiệt), những người dân bình thường của quốc gia

(dân đen, con đỏ, thương sinh, phu phen…)

Như vậy ở giai đoạn lịch sử Nhà Lê (1428), Lợi ích quốc gia tối thượng đã

có nội dung trừu tượng hơn.

Đấy vẫn là một quốc gia có núi, sông, bờ cõi đã chia rạch ròi với Phương

Bắc, mà phong tục tập quán lại càng khác.

Lợi ích quốc gia tối thượng Việt Nam đòi hỏi rằng ngoài việc giữ tính bất

khả xâm phạm của Việt Nam, về đối nội, trong quốc gia Việt Nam, nhân nghĩa phải

được tực thi, an dân phải là quan tâm số 1. Về đối ngoại thì “Cùng Hán Đường,

mỗi bên hùng cứ một phương”, không một chút tự ti, mà rất tự hào vì biết

rằng:

“Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có”.

Mở đầu bản tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những

quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống,

quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng

nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn

được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Ông Hồ Chí Minh còn nói: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của

Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống

phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc

lập!

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một

nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực

lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập

ấy.”

(iiii) Độc lập, tự do là những giá trị không những được các

dân tộc Anh, Pháp tôn trọng mà còn là giá trị quốc gia tối thượng của Việt Nam.”

Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và

của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

2. Chủ nghĩa Mác-Lênin với cội gốc dân tộc Do

Thái.

2.1. Đặc trưng cơ bản của ước mơ Do Thái và ước mơ của C.Mác,

Lênin.

Chúa Jesus đã là một người tự xưng như thế, và phát biểu Kinh Tân

ước.

C.Mác và Lênin cũng mang trong mình niềm tin ấy.

Sự thành công của Kitô giáo đã khuyến khích C.Mác và Lênin phát triển học

thuyết cộng sản mạnh mẽ trên toàn thế giới.

2.2. Chủ nghĩa Mác-Lênin hoàn toàn xa lạ với người Việt

Nam.

2.3. Chủ nghĩa Mác-Lênin không hợp với qui luật tự

nhiên.

Ta hãy theo dõi lập luận của Mác, Lênin.

Nghĩa là mỗi cá nhân, mỗi con người không có gì hết ngoài những phương

tiện tối thiểu đảm bảo cuộc sống để tồn tại sinh vật.

Cái sai lầm cơ bản của lý thuyết Mác -Lênin là câu chuyện chuyển từ tư

hữu sang công hữu.

Tư hữu là luật trời. Tôi gọi là thiên luật.

Vậy sở hữu cái ” thức ăn” mà nó vừa kiếm được là thiên

luật.

Ở đây tôi xin hoàn thiện mệnh đề: “Con người là sản phẩm của hoàn cảnh

xã hội” bằng mệnh đề sau: “Con người là sản phẩm của di truyền và hoàn

cảnh xã hội “. Mác và Lê nin đã không chú ý thích đáng đến cá thể và quên

tính di truyền.

Dùng công hữu là đối kháng triệt để tư hữu, là chống lại thiên

luật.

Những tham nhũng đại trà ở VN đã chứng tỏ sự thất bại của việc giáo dục

công hữu cho con người, đã chứng tỏ tư hữu mạnh hơn công hữu.

Lý thuyết Mác-Lênin bị phá sản ở VN chỉ là vấn đề thời

gian.

Nó đã bị chính Liên xô đào thải sau gần 70 năm đưa vào thực

tế.

3. Đảng cộng sản Việt Nam không bảo vệ được lợi ích quốc gia tối

thượng của dân tộc Việt Nam.

Là lực lượng nòng cốt của Việt Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã cướp công

lao của dân tộc Việt Nam, chiếm đoạt quyền lãnh đạo và loại dần các lực lượng

yêu nước khác tham gia Việt Minh. Sau khi Đảng cộng sản Trung Quốc chiếm toàn bộ

lục địa, sự câu kết của Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc càng

thêm chặt chẽ. Đảng cộng sản Việt Nam đã dựa vào viện trợ của Trung Quốc để thực

hiện các mưu đồ chiến lược của mình. Họ đã lệ thuộc vào Trung

Quốc.

Cải cách ruộng đất với sự tàn sát người nông dân Việt Nam đã trở thành

khủng bố kiểu Trung Quốc, đã gây xáo trộn xã hội ở mức cao nhất.

Công hàm 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và việc để mất Hoàng Sa,

Trường Sa là tội lớn của Đảng cộng sản Việt Nam.

4. Cương lĩnh của tất cả các chính đảng ở Việt Nam thời kỳ hậu

cộng sản, cần phải chứa đựng tinh thần của Chủ nghĩa dân tộc Việt

Nam.

Tinh thần ấy là cảnh giác vô điều kiện với Trung Quốc. Vua Trần Nhân Tông

đã rõ ràng chỉ mặt bành trướng Trung Quốc và dặn dò di chúc: “Cái họa lâu

đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt

vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như là một lời di chúc cho muôn đời con

cháu về sau“.

Tinh thần ấy là phải thực thi Nhân nghĩa, là đảm bảo cho dân được yên

lành làm ăn, phát huy nghiệp tổ trên toàn cõi Việt Nam.

Tinh thần ấy là không nô lệ Trung

Quốc hay bất cứ cường quốc nào khác. “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem

tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc

lập.”

Tinh thần ấy là bảo vệ lợi ích quốc gia tối thượng Việt

Nam.

Đây là bài học lịch sử, không thể sơ xuất một chút nào

được.

【#8】Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật

Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Pháp Luật, Doanh Nghiệp Xã Hội Tại Việt Nam – Khái Niệm, Bối Cảnh, Chính Sách, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Chính Sách Pháp Luật Mới, Chính Sách Pháp Luật Là Gì, Chính Sách Pháp Luật, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Chính Sách Khai Thác Thuộc Địa Của Thực Dân Pháp Và Những Chuyển Biến Về Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật, Bài Thu Hoạch Nội Dung Đường Lối Chính Sách Pháp Luật, Hoàn Thiện Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Phương Pháp Dạy Học, Khái Niệm 9 Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm 8 Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm Các Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm 12 Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm 10 Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm Pháp Nhân, Khái Niệm Hiến Pháp, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật Võ Khánh Vinh, Khái Niệm Phương Pháp Dạy Học Tích Cực, Khái Niệm Nhà Nước Pháp Quyền, Việc Thực Hiện Chính Sách, Pháp Luật Về Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em, Bài Thu Hoạch Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nư, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi , Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng, , Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng,, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Tuyên Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về , Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Bài Thu Hoạch Trình Bày Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòn, Bài Thu Hoạch Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng Toàn Dân,, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Trình Bày Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Về Chính Sách, Pháp Luật Cuat Nhà Nước Về Quốcmphong, Bài Thu Hoạch Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng Toàn Dân,, Noi Dung Duong Loi, Quan Diem, Chinh Sach Cua Dang, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Phát Triển Ki, Đồng Chí Phân Tích Những Nội Dung Cơ Bản Về Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Cua, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Trình Bày Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Về Chính Sách, Pháp Luật Cuat Nhà Nước Về Quốcmphong, Bài Giảng Powerpoint Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Vi, Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Về Việc Tuyrn Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Phap Luat Nha Nuoc Ve Xay Dung Nen Quoc Phong Toan Dan, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng Và, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Quốc Phòng, A, Quan Điểm Của Đảng Về Đường Loói Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Phần Tích Những Căn Cứ Hoạch ĐịnhĐường Lối Chính Sach Pháp Luật Của Đảng Nhà Nước Về Phát Triển Kin, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Bài Thu Hoạch Trình Bày Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòn, Bài Giảng Powpoi Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Khái Niệm Luật Dân Sự, Khái Niệm âm Chính, Khái Niệm Rau Sạch, Phần Tích Những Căn Cứ Hoạch ĐịnhĐường Lối Chính Sach Pháp Luật Của Đảng Nhà Nước Về Phát Triển Kin, Khái Niệm Ngành Luật, Khái Niệm Luật Kinh Tế, Khái Niệm Luật Tố Tụng, Khái Niệm Khóa Chính, Khái Niệm Hành Chính, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Là Gì, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính, Khái Niệm Hệ Thống Chính Trị, Sách Các Khái Niệm Cơ Bản Về Kinh Tế, Bìa Sách Niệm Phật Sám Pháp, Chương 1 Khái Niệm Luật Môi Trường, Bài 7 Khái Niệm Về Mạch Điện Tử Chỉnh Lưu, Khái Niệm Văn Bản Hành Chính Cá Biệt, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Bối Cảnh Kinh Tế Của Chính Sách Và Pháp Luật Cạnh Tranh, Khái Niệm Thơ Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật,

Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Pháp Luật, Doanh Nghiệp Xã Hội Tại Việt Nam – Khái Niệm, Bối Cảnh, Chính Sách, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Chính Sách Pháp Luật Mới, Chính Sách Pháp Luật Là Gì, Chính Sách Pháp Luật, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước, Chính Sách Khai Thác Thuộc Địa Của Thực Dân Pháp Và Những Chuyển Biến Về Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật, Bài Thu Hoạch Nội Dung Đường Lối Chính Sách Pháp Luật, Hoàn Thiện Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Khái Niệm Phương Pháp Dạy Học, Khái Niệm 9 Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm 8 Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm Các Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm 12 Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm 10 Biện Pháp Tu Từ, Khái Niệm Pháp Nhân, Khái Niệm Hiến Pháp, Giáo Trình Chính Sách Pháp Luật Võ Khánh Vinh, Khái Niệm Phương Pháp Dạy Học Tích Cực, Khái Niệm Nhà Nước Pháp Quyền, Việc Thực Hiện Chính Sách, Pháp Luật Về Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em, Bài Thu Hoạch Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nư, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Noi , Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội G, Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, 5 Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng, Chính Sách, Pháp Luật Nhà Nước Về Qp-an, Những Nội Dung Chủ Yếu Về Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội, Bài Thu Hoạch Về Quan Điểm Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ni, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Chuyên Đề Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng, , Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Đường Lối Chính Sách Pháp Luật Của Đảng, Nhà Nước Về Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Quốc Phòng,, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Mẫu Tham Luận HĐnd Xã Tuyên Truyền Đường Lối Chính Sách Của Đảng, Pháp Luật Của Nhà Nước, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Chuyên Đề 5: Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về, * Chuyen De Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam,

【#9】Bàn Về Khái Niệm “tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa” Của Người Cộng Sản Việt Nam

Tại sao phải đặt lại vấn đề “Tổ quốc”

http://blip.tv/play/hqITgf%2BGCAA

“Tổ quốc” là một khái niệm rất quen thuộc trong ngôn ngữ Việt Nam. Đại tự điển tiếng Việt Nhưng sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, dưới sự lãnh đạo của Lenin, Đảng Cộng sản thiết lập chính thể Sô-viết tại Nga, và Lenin đã bổ sung ý niệm “người vô sản không có tổ quốc” của Marx bằng khái niệm “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Có nghĩa là từ khi có Cách mạng tháng Mười, người vô sản mới có được “Tổ quốc”, đó là Liên Xô.

Tổ quốc là một sản phẩm cần thiết, và mô hình không tránh được, trong thời đại phát triển xã hội của giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân không thể lớn mạnh, không thể trưởng thành, không thể tập trung sức mạnh, trừ khi “họ xây dựng họ thành một “Tổ quốc”, mà không trở thành dân tộc

Lenin giải thích khái niệm Tổ quốc như sau:

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo Lênin là tổ quốc của người vô sản ở khắp nơi trên thế giới, không gắn liền với đất đai của tổ tiên cha ông và không chấp nhận sự tồn tại của các giai cấp khác trong xã hội.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dẫn đến sự ra đời của Tổ quốc XHCN – một Tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại được đặc trưng bởi chế độ xã hội XHCN, trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ xã hội đồng thời làm chủ Tổ quốc.

Nhưng làm thế nào Đảng CSVN có thể liên kết với Trung Quốc với một hiến pháp ghi đích danh Trung Quốc là kẻ thù của dân tộc? Xin thưa, phải tự tạo ảo tưởng.

Cái ảo tưởng đó được Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, giải thích như sau:

Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới.

“Đề cương văn hoá” năm 1943 là văn kiện quan trọng đầu tiên của Đảng CSVN do Trường Chinh soạn thảo và được coi là kim chỉ nam định hướng cho cuộc cách mạng xã hội tại Việt Nam dưới “ánh sáng” của tư tưởng Mác-Lênin. Luận về Tính chất của nền văn hóa mới Việt-nam, Trường Chinh viết như sau:

Cụm từ chưa phải làphải được hiểulà tình trạng chưa thành hình của một cái gì sẽ thành trong tương lai. Văn hoá mới là khởi điểm và văn hoá Sô-viết là đích đến. Ở đây Trường Chinh xác định rằng nền văn hoá mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là sẽ trở thành văn hoá Sô-viết trong tương lai.

Để đảm bảo quá trình này, theo Trường Chinh, ” Văn hóa mới V. N. là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung.”

Khi bàn về câu chuyện ” Không quên cái cũ”, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc trong Cổ học tinh hoa viết như sau:

Tổ quốc là gốc tích xứ sở mình, gắn liền với đất nước của ông bà tổ tiên mình. Chim Việt thì đậu cành nam. Nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam để nói lên tấm lòng suốt đời hướng về tổ quốc Việt Nam của ông. Cáo, ngựa, chim còn biết nhớ đến nguồn gốc huống chi là con người.

Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột. Đi t đin tiếng Vit, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông Tin ấn hành năm 1998, trang 1663

C. Mác và Ph. Ăng-ghen, toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 623

TS Nguyễn Tiến Bình, ” Cách mạng Tháng Mười và một số vấn đề chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sả n Số 19 (139) năm 2007

Trường Chinh, ” Đề cương văn hoá ” 1943

Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc: ” Không quên cái cũ”, Cổ học tinh hoa

【#10】Bàn Về Khái Niệm “tổ Quốc Xhcn” Của Người Cộng Sản Vn

Tại sao phải đặt lại vấn đề “Tổ quốc”.

“Tổ quốc” là một khái niệm rất quen thuộc trong ngôn ngữ Việt Nam. Đại tự điển tiếng Việt.

Quan điểm này được những người cộng sản Việt Nam coi là nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trong truyền thống đó, ông Nguyễn Phú Trọng, GS TS Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhận định về khái niệm “Tổ quốc” như sau:

Khái niệm bảo vệ Tổ quốc cũng được xác định đầy đủ hơn: bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, bảo vệ sự nghiệp đổi mới… Nhưng sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, dưới sự lãnh đạo của Lenin, Đảng Cộng sản thiết lập chính thể Sô-viết tại Nga, và Lenin đã bổ sung ý niệm “người vô sản không có tổ quốc” của Marx bằng khái niệm “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Có nghĩa là từ khi có Cách mạng tháng Mười, người vô sản mới có được “Tổ quốc”, đó là Liên Xô.

Lenin giải thích khái niệm Tổ quốc như sau:

Tổ quốc là một sản phẩm cần thiết, và mô hình không tránh được, trong thời đại phát triển xã hội của giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân không thể lớn mạnh, không thể trưởng thành, không thể tập trung sức mạnh, trừ khi “họ xây dựng họ thành một “Tổ quốc”, mà không trở thành dân tộc

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo Lênin là tổ quốc của người vô sản ở khắp nơi trên thế giới, không gắn liền với đất đai của tổ tiên cha ông và không chấp nhận sự tồn tại của các giai cấp khác trong xã hội.

Theo trung tướng PGS, TS Nguyễn Tiến Bình thì:

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dẫn đến sự ra đời của Tổ quốc XHCN – một Tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại được đặc trưng bởi chế độ xã hội XHCN, trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ xã hội đồng thời làm chủ Tổ quốc.

Nhưng làm thế nào Đảng CSVN có thể liên kết với Trung Quốc với một hiến pháp ghi đích danh Trung Quốc là kẻ thù của dân tộc? Xin thưa, phải tự tạo ảo tưởng.

Cái ảo tưởng đó được Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, giải thích như sau:

Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới.

Cụm từ chưa phải là phải được hiểu là tình trạng chưa thành hình của một cái gì sẽ thành trong tương lai. Văn hoá mới là khởi điểm và văn hoá Sô-viết là đích đến. Ở đây Trường Chinh xác định rằng nền văn hoá mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là sẽ trở thành văn hoá Sô-viết trong tương lai.

Để đảm bảo quá trình này, theo Trường Chinh, “Văn hóa mới V. N. là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung.”

Tổ quốc là gốc tích xứ sở mình, gắn liền với đất nước của ông bà tổ tiên mình. Chim Việt thì đậu cành nam. Nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam để nói lên tấm lòng suốt đời hướng về tổ quốc Việt Nam của ông. Cáo, ngựa, chim còn biết nhớ đến nguồn gốc huống chi là con người.

Thế nhưng trong bản di chúc để lại cho hậu thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết như sau:

Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột. Đại từ điển tiếng Việt, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông Tin ấn hành năm 1998, trang 1663

Nguyễn Phú Trọng: “Sự phát triển nhận thức của Đảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay”, Sài Gòn Giải phóng ngày 4 tháng 5 năm 2010

Roman Rosdolsky, The Workers and the Fatherland, A Note on a Passage in the “Communist Manifesto”

Trần Quang Cơ: Hồi ức và suy nghĩ, trang 61

Trường Chinh, “Đề cương văn hoá” 1943

Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc: “Không quên cái cũ”, Cổ học tinh hoa

[12] Di chúc Hồ Chí Minh