Khái Niệm Sản Phẩm Mới Và Phát Triển Sản Phẩm Mới

--- Bài mới hơn ---

  • Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm (Product Development Strategy) Là Gì?
  • Về Vấn Đề Chính Sách Tài Khóa
  • Giới Thiệu Văn Bản Hợp Nhất Chính Sách Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp
  • Thuế Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại Thuế
  • Thuế Là Gì? Đặc Điểm Của Thuế? Khái Quát Chung Về Các Loại Thuế?
  • Khái niệm sản phẩm theo quan điểm truyền thống: Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý học, hoá học, sinh học… có thể quan sát được, dùng thoả mãn những nhu cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống

    Khái niệm sản phẩm theo quan điểm của MARKETING:

    Sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng. Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản sau đây:

    Theo quan niệm này, sản phẩm phải vừa là cái “đã có”, vừa là cái “đang và tiếp tục phát sinh” trong trạng thái biến đổi không ngừng của nhu cầu. Ngày nay, người tiêu dùng hiện đại khi mua một sản phẩm không chỉ chú ý đến khía cạnh vật chất, mà còn quan tâm đến nhiều khía cạnh phi vật chất, khía cạnh hữu hình và cả các yếu tố vô hình của sản phẩm.

    • Có phải những mẫu mã mới mà các nhà sản xuất ô tô vẫn đưa ra thị trường vào mùa thu được gọi là sản phẩm mới hay không?

    • Nếu một doanh nghiệp chỉ thêm loại kem chống nhăn vào bộ trang điểm dành cho phái nữ, thì đấy có phải là một sản phẩm mới hay không?

    • Hay chỉ những sản phẩm hoàn toàn mới về mặt quan niệm mới được coi là một sản phẩm mới?

    Đứng trên góc độ doanh nghiệp để xem xét, người ta chia sản phẩm mới thành hai loại: sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt đối. Chiến lược marketing đối với sản phẩm mới tuyệt đối này thường phải được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đòi hỏi những thông tin chi tiết hơn về khách hàng và thị trường.

    Sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường, nhưng không mới đối với doanh nghiệp khác và đối với thị trường. Chúng cho phép doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm cho những cơ hội kinh doanh mới. Chi phí đề phát triển loại sản phẩm này thường thấp, nhưng khó định vị sản phẩm trên thị trường vì người tiêu dùng vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn.

    Đó là sản phẩm mới đối với cả doanh nghiệp và đối với cả thị trường. Doanh nghiệp giống như “người tiên phong” đi đầu trong việc sản xuất sản phẩm này. Sản phẩm này ra mắt người tiêu dùng lần đầu tiên. Đây là một quá trình tương đối phức tạp và khó khăn (cả trong giai đoạn sản xuất và bán hàng). Chi phí dành cho nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường thường rất cao. Vậy liệu một sản phẩm có được coi là mới hay không phụ thuộc vào cách thị trường mục tiêu nhận thức về nó. Nếu người mua cho rằng một sản phẩm khác đáng kể so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về một số tính chất (hình thức bên ngoài hay chất lượng), thì cái sản phẩm đó sẽ được coi là một sản phẩm mới.

    Sản phẩm và dịch vụ trong MARKETING MIX

    • Cần chú ý đến những yếu tố thay đổi khác như màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng của một sản phẩm vì nhiều khi chỉ cần điều chỉnh dịch vụ đó cũng có thể gây được sự chú ý rồi. Nên nhớ rằng các cơ hội bán hàng và khuyến mại đều có thể phát sinh từ sự quá trình cá biệt hoá sản phẩm.

    Tại sao cần phải nghiên cứu sản phẩm mới?

    Một thực tế khách quan hiện nay các doanh nghiệp đang phải đương đầu với điều kiện kinh doanh ngày càng trở nên khắt khe hơn:

    • sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ làm nảy sinh thêm những nhu cầu mới;

    • sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của khách hàng với các loại sản phẩm khác nhau;

    • khả năng thay thế nhau của các sản phẩm;

    • tình trạng cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt hơn…

    Trong những điều kiện đó, các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả phương diện: các nguồn lực sản xuất , quản lý sản xuất kinh doanh, sự ứng xử nhanh nhạy với những biến động của môi trường kinh doanh …

    • Hoàn thiện các sản phẩm hiện có;

    • Phát triển sản phẩm mới tương đối;

    • Phát triển sản phẩm mới tuyệt đối và loại bỏ các sản phẩm không sinh lời.

    How to initiative an idea of new product?

    Một công ty có thể đi theo ba con đường để phát triển sản phẩm mới :

    1. Mua bằng sáng chế hoặc giấy phép sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp khác, từ viện nghiên cứu khoa học và công nghệ;

    2. Tự tổ chức quá trình nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới bằng nguồn lực của mình; và

    3. Liên kết, phối hợp với các doanh nghiệp khác, với viện nghiên cứu để thực hiện quá trình này.

    Hai phương pháp phát triển sản phẩm mới:

    · Hoàn thiện sản phẩm hiện có.

    Sự hoàn thiện sản phẩm này nhằm đáp ứng một cách tốt hơn đòi hỏi người tiêu dùng, khả năng cạnh tranh trên thị trường. Sự hoàn thiện sản phẩm hiện có lại được thực hiện với những mức độ khác nhau:

    • Hoàn thiện sản phẩm hiện có về hình thức: Giá trị sử dụng của sản phẩm không có gì thay đổi nhưng hình dáng bên ngoài của sản phẩm thay đổi như thay đổi nhãn mác, tên gọi sản phẩm để tạo nên sự hấp dẫn hơn với khách hàng, nhờ đó tăng và duy trì lượng bán.

    • Hoàn thiện sản phẩm về nội dung: Có sự thay đổi về nguyên liệu sử dụng để sản xuất sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc hạ giá thành sản phẩm mà chất lượng sản phẩm không đổi. Ví dụ đó là sự thay đổi công nghệ sản phẩm.

    • Hoàn thiện sản phẩm cả về hình thức lẫn nội dung: Có cả sự thay đổi về hình dáng bên ngoài, bao bì và nhãn hiệu sản phẩm lẫn sự thay đổi về cấu trúc, vật liệu chế tạo sản phẩm.

    · Phát triển sản phẩm mới hoàn toàn:

    • Khó khăn: chi phí cao, rủi ro lớn, cần có kế hoạch dài hạn, công nghệ khoa học tiên tiến và kết quả nghiên cứu thị trường đúng.

    • Lợi ích: Chúng cũng có thể đem tới một nguồn lợi lớn và quan trọng đối với một số doanh nghiệp nếu họ phải tránh bị phá sản hoặc bị đối thủ cạnh tranh mua lại.

    Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không đầu tư vào phát triển sản phẩm mới, rất dễ bị “quét sách” khỏi thị trường bởi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

    Các bước để đến thành công:

    • Phân đoạn khách hàng để tìm ra những cơ hội sản phẩm mới. Phần khách hàng này sẽ là những người có ý định mua hàng.

    • Tìm kiếm ý tường về sản phẩm mới bằng các cuộc điều tra phản ứng của khách hàng. “Cách dễ dàng nhất để điều tra thị hiếu của khách hàng là đề nghị họ xếp hạng năm đến mười sản phẩm họ yêu thích nhất và giải thích lí do lựa chọn những sản phẩm đó.

    • Cần tận dụng triệt để khả năng của các liên doanh, liên kết marketing chuyên nghiệp.

    • Bán hàng cho các kênh phân phối trước. “Giới thiệu một sản phẩm mới cần có đà. Nếu như thị trường coi sản phẩm mới đó là “tốt”, nó sẽ bán chạy.”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sản Phẩm Quốc Tế (International Product) Là Gì? Cấu Thành Sản Phẩm Và Phân Loại Sản Phẩm
  • Chính Sách Hỗ Trợ Cộng Đồng Quản Lý, Bảo Vệ Rừng: Một Vài Nhận Xét Và Khuyến Nghị
  • Các Thay Đổi Căn Bản Trong Chính Sách Lâm Nghiệp Việt Nam Dưới Thời Kỳ Đổi Mới
  • Bàn Về Chính Sách Ưu Đãi Đầu Tư Của Việt Nam Đối Với Doanh Nghiệp Fdi
  • Quan Điểm Phát Triển Chính Sách Đầu Tư Công
  • Khái Niệm Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch

    --- Bài mới hơn ---

  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Thành Phần Cơ Bản Của Sản Phẩm Du Lịch
  • Khái Niệm Du Lịch Và Sản Phẩm Du Lịch
  • Những Quan Niệm Về “sản Phẩm Du Lịch”
  • Sản Phẩm Du Lịch Là Gì? Các Yếu Tố Cấu Thành Sản Phẩm Du Lịch Là Gì?
  • Khái Niệm Về Sản Phẩm Du Lịch Đặc Thù
  • – Thỏa mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của khách tại điểm đến.

    – Nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch.

    – Phát triển sản xuất – kinh doanh.

    – Tạo nhiều việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương.

    – Phát triển một cách bền vững

    – Sản phẩm du lịch không phải chỉ là một hoạt động được thực hiện riêng rẽ mà là một quá trình gắn kết với nhau của nhiều sản phẩm, hàng hóa do các chủ thể tại điểm đến cung cấp cho khách. Một sản phẩm du lịch trong một điểm đến là tập hợp của nhiều trải nghiệm mà khách có thể nhận được không chỉ là các cơ sở lưu trú để ở, các nhà hàng để ăn, uống, các điểm tham quan, các bảo tàng, công viên, nhà hàng, rạp chiếu phim, cửa hàng mua sắm… mà bao gồm cả các phương tiện vận chuyển, sự giao tiếp với cộng đồng dân cư, cách ứng xử của các cấp chính quyền… Vì thế, phạm vi và quy mô của sản phẩm du lịch là những gì thu hút khách du lịch đến và phục vụ khách với chất lượng cao.

    – Chính sách phát triển tổng thể của một điểm đến du lịch phải được nằm trong các ưu tiên của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, vùng hoặc tỉnh, thành phố trong đó có ngành Du lịch. Việc xác định cơ hội phát triển sản phẩm du lịch phải phù hợp với các chiến lược này.

    – Phát triển sản phẩm du lịch phải được xác định dựa trên sự hiểu biết về thị trường du lịch, xu hướng và thị hiếu khách du lịch. Vì vậy, nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm và tiếp thị là một sự kết nối liên tục trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch. Sự liên kết giữa thị trường và sản phẩm phải tuân theo các quy luật cơ bản của thị trường, đó là các quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh và quy luật giá trị.

    – Phát triển sản phẩm du lịch có thể tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau như:

    + Theo một hướng tiếp cận khác, phát triển sản phẩm du lịch bao gồm phát triển những điểm tham quan, các hoạt động và các dịch vụ đa dạng phục vụ khách.

    Trong hai cách tiếp cận trên, cách thứ nhất đóng một vai trò quyết định đến việc phát triển sản phẩm du lịch tại các điểm đến du lịch.

    Mặt khác, phát triển sản phẩm du lịch của một điểm đến không chỉ phục vụ cho khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa mà cả đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư xung quanh.

    Phát triển sản phẩm du lịch là một quá trình mà trong đó các giá trị của một địa điểm cụ thể được sử dụng tối đa để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong nước, khách du lịch quốc tế và người dân địa phương.

    Châu Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Và Ưu Thế Của Sản Xuất Hàng Hóa
  • Sản Xuất Hàng Hóa Và Các Quy Luật Kinh Tế Của Sản Xuất Hàng Hóa
  • Sản Xuất Hàng Hóa Là Gì? Đặc Trưng Và Ưu Thế
  • Khái Niệm Sản Xuất Hàng Hóa
  • Sản Xuất Hàng Hóa Là Gì? Ưu Thế Và Điều Kiện Để Sản Phẩm Trở Thành Hàng Hóa
  • Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Chính Sách Xúc Tiến Thương Mại Của Dịch Vụ Thiết Kế Website Của Công Ty Cổ Phần Đầuu Tư
  • Giúp Bé Phát Triển Thể Chất
  • 3 Mục Tiêu Phát Triển Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non Cha Mẹ Cần Biết
  • 5 Bài Tập Phát Triển Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non Đơn Giản Mà Hiệu Quả
  • Trẻ Chậm Phát Triển Ngôn Ngữ Và Những Điều Cần Biết
  • Trong các ngành kinh doanh và kỹ thuật, phát triển sản phẩm mới (New Product Development – NPD) là một quá trình hoàn chỉnh sản phẩm và đưa nó ra thị trường. Theo lý thuyết, phát triển sản phẩm được mô tả như là một sự chuyển đổi từ một cơ hội thị trường sang một sản phẩm mới có thể bán được. Sản phẩm đó có thể là hữu hình (những vật có thể sờ, nắm được) hoặc vô hình (như một dịch vụ, sự trải nghiệm, lòng tin).

    1. Cấu trúc quy trình (Process Structure)

    Quá trình phát triển sản phẩm thường bao gồm một số hoạt động chủ yếu mà các công ty sử dụng trong việc cung cấp sản phẩm mới ra thị trường. Một quy trình quản lý có tác dụng tạo lập một cấu trúc hoạt động thông suốt, nhất quán và có thể cải tiến liên tục. Mỗi sản phẩm mới sẽ đi qua rất nhiều các giai đoạn khác nhau từ việc lên ý tưởng đến thiết kế, sản xuất và ra mắt thị trường. Trong các sản phẩm có tính kỹ thuật cao, phức tạp (máy bay, ô tô, máy móc), quá trình NPD sẽ đi qua các giai đoạn, các cột mốc và việc kiểm soát sự phân phối sản phẩm đòi hỏi một hệ thống được tổ chức quản lý tương đối phức tạp. Sản phẩm càng phức tạp thì quá trình phát triển sản phẩm cũng như hệ thống quản lý cũng phức tạp hơn. Những quá trình NPD phức tạp đặc biệt như trong các dự án máy bay quân sự sử dụng phương pháp tích hợp các sản phẩm. Qúa trình NPD với các sản phẩm kỹ thuật thường sẽ phức tạp và diễn ra chậm chạp hơn rất nhiều (khoảng trên 10 năm) so với việc triển khai các mặt hàng tiêu dùng nhanh (khoảng vài tuần).

    Quá trình phát triển sản phẩm về cơ bản có bốn giai đoạn chính:

      Fuzzy front-end (FFE) là việc lên danh sách các hoạt động chuẩn bị và định nghĩa rõ ràng các yêu cầu về chủng loại. Ở bước này, ta cần đề ra các tiêu chí cụ thể cho sản phẩm để có thể đáp ứng đúng với nhận định của thị trường hoặc nhu cầu của doanh nghiệp.
      Product Design (Thiết kế mô hình sản phẩm) từ tổng quan đến từng chi tiết cụ thể: chuyển đổi những yêu cầu thành những phần cụ thể và khiến cho sản phẩm có thể đáp ứng được những yêu cầu đó. Về mảng marketing và tạo lập kế hoạch, giai đoạn này kết thúc với việc phân tích các yếu tố tiền thương mại.
      Product Implementation (Triển khai và thực hiện sản phẩm) là giai đoạn thiết kế chi tiết về phần cứng và phần mềm, hoặc là kĩ thuật phần mềm cho các phần mềm nhúng, hoặc là bản mẫu cho các loai hàng hóa và các loại sản phẩm khác. Đồng thời, bất kỳ quy trình kiểm tra nào cũng có thể được sử dụng để xác nhận rằng nguyên mẫu của các sản phẩm thực sự đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết và yêu cầu về đặc điểm mà trước đây thiết lập ở bước đầu
      Fuzzy back-end (FBE) hoặc giai đoạn thương mại hoá là các bước hành động khi sản xuất sản phẩm và đưa nó ra thị trường

    Các chiến lược tiếp thị khách hàng đã được nghiên cứu rất kỹ với nhiều mô hình có giá trị cao. Peter Koen đã cung cấp một mô hình hoạt động 5 bước được coi là một sự đột phá lớn: xác định cơ hội, phân tích cơ hội, sáng tạo​​ ý tưởng, lựa chọn ý tưởng và phát triển ý tưởng, công nghệ. Ông cho rằng một động cơ thúc đẩy năm bước này hoạt động và các rào cản bên ngoài có thể ảnh hưởng đến kết quả của quá trình. Động cơ đó đại diện cho bộ máy quản lý điều khiển các hoạt động được mô tả. Những bước đầu tiên chuẩn bị cho một sự đổi mới chính là thời gian khó khăn nhất trong quá trình NPD. Điều này chủ yếu là do giai đoạn FFE thường rất hỗn độn, rất khó đoán trước và không có cấu trúc cố định. Thiết kế là quá trình tiếp theo mà ở đó một giải pháp kỹ thuật được phát triển lặp đi lặp lại để giải quyết một vấn đề nhất định. Giai đoạn thiết kế là rất quan trọng bởi vì phần lớn chi phí tổn thất cho một vòng đời sản phẩm đều ở thời gian này. Các nghiên cứu trước đây cho thấy khoảng 70 đến 80% chất lượng sản phẩm cuối cùng và 70% toàn bộ chi phí cho sản phẩm đều có thể xác định được trong giai đoạn thiết kế này, do đó ta sẽ cố gắng tiết kiệm nhiều nhất có thể. Một giai đoạn thiết kế kéo dài từ vài tuần đến ba năm và thời gian trung bình là khoảng một năm. Các giai đoạn thiết kế và thương mại hoá thường bắt đầu sự kết hợp từ khá sớm. Khi giai đoạn thiết kế ý tưởng kết thúc, bản thiết kế sẽ được gửi tới nhà máy sản xuất để tạo mẫu, phát triển phương pháp kĩ thuật đồng thời (Concurrent Engineering) bằng cách thực hiện các thử nghiệm thực tế, tiêu biểu là “triển khai chức năng chất lượng” (Quality Function Deployment – QFD). Kết quả của giai đoạn thiết kế gồm một bộ sản phẩm và các quy trình kỹ thuật – chủ yếu ở dạng bản vẽ, và đầu ra trong giai đoạn sản xuất là sản phẩm đã sẵn sàng để tung ra thị trường. Về cơ bản, nhóm thiết kế sẽ phát triển các bản vẽ các thông số kỹ thuật đại diện cho sản phẩm trong tương lai và sẽ gửi đến nhà máy sản xuất để được thực hiện. Giải quyết những vấn đề về việc sản phẩm và quy trình ăn khớp được ưu tiên cao trong hoạt động thông tin truyền thông vì 90% nỗ lực phát triển sẽ phải loại bỏ nếu có thay đổi được thực hiện sau khi vào giai đoạn sản xuất.

    2. Các mô hình

    Các mô hình khái niệm đã được thiết kế, tạo điều kiện thuận lợi cho một quá trình xây dựng sản phẩm hoàn chỉnh. IDEO, một công ty cung cấp các gói thiết kế rất thành công đã áp dụng một trong những quy trình được nghiên cứu nhiều nhất về phát triển sản phẩm. Quy trình gồm 5 bước và có thể liệt kê theo thứ tự thời gian như sau:

    1. Hiểu và quan sát thị trường, khách hàng, công nghệ, và những vấn đề hiện hữu;
    2. Tổng hợp các thông tin thu thập ở bước đầu;
    3. Hình dung được khách hàng mục tiêu sử dụng sản phẩm;
    4. Tạo nguyên mẫu, đánh giá và cải tiến sản phẩm;

    Một trong những mô hình được phát triển từ rất sớm mà các công ty ngày nay vẫn sử dụng trong quy trình NPD là mô hình Booz, Allen và Hamilton (BAH Model) ,xuất bản vào năm 1982. Đây là mô hình được biết đến nhiều nhất vì nó là cơ sở cho các hệ thống NPD đưa ra sau đó. Mô hình này là đại diện cho nền tảng của tất cả các mô hình khác đã được phát triển về sau. Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để đề xuất các mô hình xuất sắc hơn, nhưng trên thực tế các mô hình đó đều có thể dễ dàng nhìn thấy sự liên kết với mô hình BAH. Bảy bước của mô hình BAH là: chiến lược sản phẩm mới, tạo ý tưởng, sàng lọc, đánh giá, phân tích thị trường, phát triển, thử nghiệm và thương mại hóa.

    Một nhà tiên phong về nghiên cứu NPD trong lĩnh vực hàng tiêu dùng là Robert G. Cooper. Trong hai thập kỷ qua, ông đã tiến hành những nghiên cứu vô cùng quan trọng về quá trình NPD. Mô hình Stage-Gate đoạn được phát triển từ những năm 80 thế kỉ trước được coi là một công cụ hiệu quả để quản lý các quy trình phát triển sản phẩm. Mô hình này chủ yếu áp dụng cho ngành hàng tiêu dùng. Nghiên cứu của Trung tâm chất lượng và năng suất Mỹ (APQC) năm 2010 cho thấy 88% doanh nghiệp Mỹ sử dụng hệ thống Stage-Gate để quản lý các sản phẩm mới, từ khi còn là ý tưởng cho đến khi ra mắt. Đổi lại, các công ty thông qua hệ thống này nhận được các lợi ích như nâng cao teamwork, tỷ lệ thành công được cải thiện, sớm phát hiện rủi ro , và thậm chí thời gian được rút ngắn tối đa – giảm khoảng 30%. Những kết quả này làm nổi bật tầm quan trọng của mô hình Stage-Gate trong quá trình phát triển sản phẩm mới. Trong vài năm gần đây, phong trào Lean Startup trở nên vô cùng phổ biến, thách thức nhiều giả thuyết vốn có trong mô hình Stage-Gate.

    3. Marketing

    Có hàng loạt các phương pháp được đề xuất để phân tích và đáp ứng những thách thức trong tiếp thị và phát triển sản phẩm mới. Hai trong số đó là một quá trình gồm tám bước của Peter Koen đến từ Viện Công nghệ Stevens, và quá trình còn lại được gọi là Fuzzy Front End

    3.1 Fuzzy Front End (FFE)

    Có năm yếu tố thuộc giai đoạn FFE như sau (các yếu tố được sắp xếp ngẫu nhiên):

    1. Nắm bắt cơ hội
    2. Phân tích cơ hội
    3. Hình thành ý tưởng
    4. Lựa chọn ý tưởng
    5. Phát triển ý tưởng và công nghệ

    Yếu tố đầu tiên là nắm bắt cơ hội. Trong yếu tố này, các cơ hội và xu hướng kinh doanh và công nghệ được xác định theo một cách có cấu trúc dù ít hay nhiều. Các nguồn lực cuối cùng sẽ được phân bổ để thực hiện dự án,… điều này góp phần tạo nên một chiến lược phát triển sản phẩm và quá trình có cấu trúc

    Yếu tố thứ hai là phân tích cơ hội. Ta cần phân tích cơ hội từ đó xác định xem cơ hội đó có ý nghĩa như thế nào cho bối cảnh kinh doanh và tiềm năng công nghệ của công ty. Nỗ lực to lớn này cần được thực hiện để có thể gắn kết nhóm khách hàng mục tiêu với việc nghiên cứu thị trường và thử nghiệm kĩ thuật.

    Yếu tố thứ ba là sự hình thành ý tưởng, được mô tả như quá trình tiến hóa lặp lại nhiều lần từ khi sinh ra đến sự trưởng thành thực sự của những ý tưởng hữu hình. Quá trình tạo ra ý tưởng có thể được thực hiện nội bộ hoặc từ các đối tác bên ngoài, ví dụ: một nhà cung cấp đưa ra một loại vật liệu / công nghệ mới hay khách hàng với một yêu cầu đặc biệt.

    Yếu tố thứ tư là lựa chọn ý tưởng. Mục đích là lựa chọn đúng một ý tưởng để theo đuổi bằng cách phân tích giá trị kinh doanh tiềm năng của nó.

    Yếu tố thứ năm là phát triển ý tưởng và công nghệ. Trong phần này của giai đoạn FFE, các giải pháp kinh doanh được phát triển dựa trên ước tính tổng số thị phần hiện có, nhu cầu của khách hàng, nguồn vốn đầu tư cần thiết, phân tích cạnh tranh và những rủi ro của dự án. Một số tổ chức coi đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình NPPD (Giai đoạn 0).

    Giai đoạn Fuzzy Front End cũng có những tên gọi khác như “Front End of Innovation”, “Phase 0”, “Stage 0” hay “Pre-Project-Activities”

    3.2 Các phương pháp khác

    Các tác giả khác đã phân chia các hoạt động tiền phát triển sản phẩm khác nhau:

    1. Sơ bộ
    2. Đánh giá kỹ thuật
    3. Đánh giá nguồn cung cấp: nhà cung cấp và đối tác kết hợp
    4. Nghiên cứu thị trường: quy mô thị trường và nghiên cứu phân khúc, nhu cầu khách hàng (Voice of Customer – VoC)
    5. Thử nghiệm ý tưởng
    6. Đánh giá giá trị khách hàng
    7. Định hình sản phẩm
    8. Phân tích tài chính – kinh doanh

    Các hoạt động này nhằm mang lại thông tin cần thiết để đưa ra quyết định có theo đuổi việc phát triển sản phẩm mới hay không.

    Cũng có nhiều giả thuyết sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đã xác định giai đoạn tiền phát triển sản phẩm bao gồm các hành động sau:

    • Xây dựng chiến lược truyền thông sản phẩm
    • Xác định và đánh giá cơ hội
    • Hình thành ý tưởng
    • Định hình sản phẩm
    • Lập kế hoạch dự án
    • Đánh giá việc vận hành

    Phân tích tình hình kinh tế, so sánh, đánh giá các sản phẩm cạnh tranh và việc xây dựng các nguyên mẫu cũng là những hoạt động quan trọng trong giai đoạn đầu tiên này. Các kết quả cần đạt được của FFE là:

    • Tuyên bố sứ mệnh
    • Nhu cầu khách hàng
    • Chi tiết của ý tưởng đã chọn
    • Định hình sản phẩm và thông số kỹ thuật đi cùng
    • Phân tích tiềm năng của sản phẩm
    • Lịch trình phát triển
    • Nguồn tài chính và nhân sự cho dự án
    • Kế hoạch kinh doanh đi cùng với chiến lược của công ty

    Một mô hình của giai đoạn tiền phát triển sản phẩm được đề xuất sẽ bao gồm các bước đi đầu tiên của quá trình đổi mới. Mô hình này được cấu trúc trong ba giai đoạn và ba mấu chốt:

    • Giai đoạn 1: Khảo sát môi trường và xác định cơ hội, trong đó các thay đổi bên ngoài thị trường sẽ được phân tích và chuyển thành các cơ hội kinh doanh tiềm năng.
    • Giai đoạn 2: Định hình sơ bộ về một ý tưởng hay tính năng sản phẩm
    • Giai đoạn 3: Xác định chi tiết sản phẩm dịch vụ và lập kế hoạch kinh doanh.

    3 mấu chốt là:

    • Phân tích được các cơ hội
    • Đánh giá được ý tưởng tiềm năng
    • Quyết định chiến lược phát triển

    Các sản phẩm gia tăng, đột phá và nền tảng bao gồm:

    • Các sản phẩm gia tăng có những đặc điểm như chi phí giảm, cải tiến tính năng, bổ sung trên các nền tảng hiện có và định vị lại các sản phẩm khác được giới thiệu trên thị trường.
    • Các sản phẩm mang tính đột phá là sự đổi mới trong công ty hay đổi mới với cả thế giới, mang lại hiệu suất cao hơn gấp 5-10 lần hoặc cao hơn nữa, cùng với giảm chi phí từ 30-50% trở lên.
    • Các sản phẩm nền tảng thiết lập một mô hình cơ bản cho một sản phẩm hoặc quy trình tiếp theo rộng hơn về quy mô và nguồn lực so với các dự án gia tăng.

    4. Quản lý vận hành

    CUSTOMER CENTERED (khách hàng là thượng đế) tập trung vào việc:

    • Tìm ra những phương thức mới giải quyết vấn đề của khách hàng.
    • Tạo trải nghiệm mới thỏa mãn nhiều khách hàng hơn

    Các công ty thường dựa vào tiềm lực công nghệ, nhưng thành công thực sự lại đến từ sự thấu hiểu nhu cầu và giá trị của khách hàng.

    Các công ty thành công nhất thường có những đặc điểm sau:

    • Khác biệt
    • Giải quyết được các vấn đề khách hàng
    • Đưa ra đề xuất giải pháp giá trị khách hàng hấp dẫn
    • Tương tác trực tiếp với khách hàng

    TEAM BASED (nhân lực là quan trọng nhất). Chiến lược như sau:

    • Để tạo ra được các sản phẩm mới, các phòng ban của công ty phải làm việc chặt chẽ và kết hợp các bước trong quá trình phát triển sản phẩm nhằm tiết kiệm thời gian và tăng hiệu suất làm việc
    • Các phòng ban là: hành chính, marketing, tài chính, thiết kế và sản xuất, nhà cung cấp và khách hàng.
    • Nếu có vấn đề, tất cả công ty đều có thể làm việc và tập trung giải quyết vấn đề.

    SYSTEMATIC (phát triển sản phẩm mới có tính hệ thống)

    Quá trình phát triển cần phải có tính toàn diện và hệ thống để tránh việc những ý tưởng kinh doanh tốt bị không thể được thực hiện

    Hệ thống quản lý sáng tạo (Innovation Management System) sẽ thu thập, đánh giá các ý tưởng sản phẩm mới và quản lý chúng.

    • Công ty bổ nhiệm một người đủ khả năng làm Giám đốc Sáng tạo có thể khuyến khích cả công ty
    • Nhân viên, nhà cung cấp, nhà phân phối và đại lý tham gia vào việc tìm kiếm và phát triển sản phẩm mới.

    Sau đó, có một Uỷ ban quản lý sáng tạo (Cross-Functional Innovation Management Committee) sẽ:

    • Đánh giá ý tưởng sản phẩm mới
    • Quyết định những ý tưởng tốt

    Những phương thức mới để tạo trải nghiệm khách hàng, từ việc tạo ra và chọn lọc ý tưởng sản phẩm mới để triển khai và sản xuất các sản phẩm mong muốn.

    TURBULENT TIMES (thời điểm bất ổn)

    Khi chúng ta đang trong một tình hình kinh tế khó khăn, thường thì người quản lý sẽ cắt giảm chi tiêu cho việc phát triển sản phẩm mới.

    Tuy nhiên chính tại những thời điểm khó khăn này hãy kêu gọi:

    • Phát triển sản phẩm mới, cung cấp các giải pháp đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
    • Cải tiến công nghệ
    • Tăng sức cạnh tranh của công ty
    • Định vị nó tốt hơn trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Phát Triển Của Thương Mại Quốc Tế
  • Như Thế Nào Là Dạy Học Phát Triển Năng Lực?
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Trung Học Phổ Thông/giáo Dục Định Hướng Kết Quả Đầu Ra Và Phát Triển Năng Lực
  • Mọi Sự Phát Triển Đều Có Những Tính Chất Chung Nào? Cho Ví Dụ.
  • Thế Nào Là Quan Điểm Toàn Diện, Phát Triển Và Lịch Sử Cụ Thể? Cho Ví Dụ. Các Quan Điểm Đó Được Xác Lập Trên Cơ Sở Lý Luận Nào?
  • Tổng Hợp Các Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm Hiệu Quả Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Người Phụ Nữ Việt Nam Phát Triển Toàn Diện
  • Phát Triển Bất Động Sản Đang “quên” Phụ Nữ?
  • Phụ Nữ Hiện Đại Và Tiêu Chí Chọn Mua Bất Động Sản Cao Cấp
  • Tư Tưởng Các Mác Về Con Người, Giải Phóng Con Người Và Phát Triển Con Người Toàn Diện Ở Việt Nam
  • Tài Liệu Sinh Hoạt Hội Viên Về Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Phụ Nữ Toàn Quốc Lần Thứ Xii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Khái niệm

    Kế hoạch tăng trưởng sản phẩm trong tiếng Anh là Product Development Strategy. Kế hoạch tăng trưởng mặt hàng là kế hoạch nhằm tăng cường lượng hàng hóa tiêu thụ bằng việc điều chỉnh hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ hiện tại.

    Điểm đặc biệt và chẳng hạn như

    – Kế hoạch tăng trưởng mặt hàng thường đòi hỏi một ngân sách lớn cho công việc bào chế và tăng trưởng.

    – Kế hoạch tăng trưởng sản phẩm có khả năng tích tụ các mặt hàng riêng biệt hoặc tất cả sản phẩm mặt hàng của công ty.

    Ví dụ: McDonald’s là hãng bổ sung đồ ăn nhanh theo đuổi chiến lược phát triển mặt hàng.

    Hãng đã thử nghiệm và tăng trưởng loại bánh kẹp dành cho người sành ăn (Gourmet – like sandwiches) vì hãng cho rằng người sử dụng có xu hướng chi trả nhiều hơn cho các loại thực phẩm nhanh có nhiều các thành phần bổ dưỡng.

    XEM THÊM Bạn nên chọn gì giữa SEO hay Google Adwords?

    CẤU TRÚC QUY TRÌNH (PROCESS STRUCTURE)

    Chu trình tăng trưởng sản phẩm thường bao gồm một số công việc Chủ yếu mà các doanh nghiệp dùng trong việc bổ sung sản phẩm mới ra thị trường. Một công thức quản lý có tác dụng tạo lập một cấu trúc công việc thông suốt, nhất quán và có thể cải tiến liên tục. Mỗi mặt hàng mới sẽ đi qua rất nhiều các giai đoạn khác nhau dựa vào việc lên ý tưởng đến thiết kế, sản xuất và ra mắt thị trường. Trong các mặt hàng có tính kỹ thuật cao, phức tạp (máy bay, ô tô, máy móc), các bước NPD sẽ bước qua các giai đoạn, các cột mốc và việc làm chủ sự cung cấp mặt hàng yêu cầu một hệ thống được tổ chức quản lý tương đối khó khăn. Mặt hàng càng phức tạp thì chu trình phát triển sản phẩm cũng giống như hệ thống để quản lý cũng khó khăn hơn.

    Chu trình phát triển mặt hàng về cơ bản có bốn giai đoạn chính:

      Fuzzy front-end (FFE) là việc lên danh sách các công việc chuẩn bị và khái niệm bài bản các đòi hỏi về chủng loại. Ở công đoạn này, ta cần đề ra các mục tiêu cụ thể cho sản phẩm để có khả năng phục vụ đúng với nhận định của thị trường hoặc nhu cầu của công ty.
      Product Design (Thiết kế mô hình sản phẩm) từ tổng quan đến từng cụ thể cụ thể: chuyển đổi những yêu cầu thành những phần cụ thể và làm cho mặt hàng có thể chiều lòng được những đòi hỏi đấy. Về mảng marketing và tạo lập chiến lược, giai đoạn này dừng lại với việc đo đạt các yếu tố tiền thương mại.
      Product Implementation (Triển khai và thực hiện sản phẩm) là giai đoạn thiết kế chi tiết về phần cứng và phần mềm, hoặc là kĩ thuật phần mềm cho các phần mềm nhúng, hoặc là bản mẫu cho các loai hàng hóa và các kiểu sản phẩm khác. Cùng lúc đó, bất kỳ quy trình kiểm duyệt nào cũng có thể được sử dụng để công nhận rằng nguyên mẫu của các mặt hàng thực sự đạt các chuẩn mực kỹ thuật thiết yếu và đòi hỏi về dấu hiệu mà thời gian trước thiết lập ở bước đầu
      Fuzzy back-end (FBE) hoặc giai đoạn thương mại hoá là quá trình thực hiện khi tạo ra sản phẩm và đưa nó ra thị trường

    Các kế hoạch tiếp thị người tiêu dùng đã được nghiên cứu cực kì kỹ với nhiều mô hình có thành quả cao. Peter Koen đã cung cấp một mô hình hoạt động 5 bước được coi là một sự đột phá lớn: lựa chọn thời cơ, phân tích cơ hội, sáng tạo​​ ý tưởng, chọn lựa cảm hứng và tăng trưởng ý tưởng, công nghệ. Ông cho rằng một động cơ kích thích năm công đoạn này hoạt động và các rào cản bên ngoài có khả năng ảnh hưởng đến kết quả của quá trình. Động cơ đấy biểu hiện cho bộ máy quản lý điều khiển các công việc được mô tả.

    Những bước đầu tiên chuẩn bị cho một sự đổi mới chủ đạo là thời gian phức tạp nhất trong quá trình NPD. Điều này trọng điểm là do giai đoạn FFE thường cực kì hỗn độn, cực kì khó đoán trước và không hề có cấu trúc cố định. Thiết kế là quá trình kế tiếp mà ở đó một cách kỹ thuật được phát triển lặp đi lặp lại để giải quyết một nỗi lo nhất định.

    Các giai đoạn thiết kế và thương mại hoá thường tiếp tục sự kết hợp từ khá sớm. Khi giai đoạn thiết kế cảm hứng kết thúc, bản thiết kế có thể được gửi tới nhà máy sản xuất để tạo mẫu, tăng trưởng phương pháp kĩ thuật đồng thời (Concurrent Engineering) bằng cách thực hiện các thử nghiệm thực tế, tiêu biểu là “triển khai công dụng chất lượng” (Quality Function Deployment – QFD). Kết quả của giai đoạn thiết kế gồm một bộ mặt hàng và các công thức kỹ thuật – Chủ yếu ở dạng bản vẽ, và đầu ra trong giai đoạn sản xuất là mặt hàng đã sẵn sàng để tung ra thị trường.

    Về cơ bản, group thiết kế sẽ tăng trưởng các bản vẽ các thông số kỹ thuật biểu hiện cho mặt hàng trong tương lai và sẽ gửi đến nhà máy sản xuất để được thực hiện. Xử lý những yếu tố về việc sản phẩm và công thức ăn khớp được ưu tiên cao trong công việc nội dung truyền thông vì 90% nỗ lực tăng trưởng sẽ phải đào thải nếu như có thay đổi được thực hiện sau khi vào giai đoạn sản xuất.

    CÁC MÔ HÌNH

    Các mô hình khái niệm đã được thiết kế, tạo điều kiện thuận lợi cho một các bước tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. IDEO, một công ty cung cấp các gói thiết kế cực kì thành công đã ứng dụng một trong các quy trình được nghiên cứu nhiều nhất về tăng trưởng mặt hàng. Công thức gồm 5 bước và có khả năng liệt kê theo thứ tự thời gian như sau:

    1. Hiểu và quan sát thị trường, người tiêu dùng, công nghệ, và những yếu tố hiện hữu;
    2. Tổng hợp các thông tin lấy ở bước đầu;
    3. Tưởng tượng được người sử dụng mục tiêu dùng sản phẩm;
    4. Tạo nguyên mẫu, đánh giá và cải tiến sản phẩm;

    Một trong những mô hình được tăng trưởng từ rất sớm mà các công ty ngày nay vẫn sử dụng trong công thức NPD là mô hình Booz, Allen và Hamilton (BAH Model) ,xuất bản vào năm 1982. Đây là mô hình được nhắc tới nhiều nhất vì nó là cơ sở cho các bộ máy NPD đưa rõ ra sau đó. Mô hình này là đại diện cho nền tảng của toàn bộ các mô hình khác đã được tăng trưởng về sau. Rất nhiều bào chế được tiến hành để đề nghị các mô hình xuất sắc hơn, nhưng Trên thực tế các mô hình đấy đều có khả năng dễ dàng nhìn thấy sự liên kết với mô hình BAH. Bảy bước của mô hình BAH là: chiến lược mặt hàng mới, tạo ý tưởng, sàng lọc, đánh giá, đo đạt thị trường, tăng trưởng, thử nghiệm và thương mại hóa.

    Mô hình này Chủ yếu áp dụng cho ngành hàng tiêu dùng. Chiết suất của Trung tâm chất lượng và năng suất Mỹ (APQC) năm 2010 cho chúng ta thấy 88% công ty Mỹ sử dụng các quy trình Stage-Gate để quản lý các sản phẩm mới, từ khi còn là ý tưởng cho đến khi ra mắt. Đổi lại, các công ty thông qua bộ máy này nhận được các ích lợi như tăng cường teamwork, tỷ lệ thành công được tốt lên, sớm phát hiện rủi ro , và thậm chí thời gian được rút ngắn tối đa – giảm khoảng 30%. Những hậu quả này làm nổi bật tầm đặc biệt của mô hình Stage-Gate trong quá trình tăng trưởng mặt hàng mới. Trong vài năm mới đây, phong trào Lean startup trở nên vô cùng phổ biến, thách thức nhiều giả thuyết vốn có trong mô hình Stage-Gate.

    Thế chân kiềng luôn sản sinh ra một sản phẩm khác biệt và đạt kết quả tốt

    Trước mắt, chúng ta cần khái niệm bài bản, kế hoạch phát triển sản phẩm là gì ? Nói dễ dàng thì nó là 1 chiến lược chi tiết, hỗ trợ bạn hiện thực hóa tầm nhìn và mục đích của sản phẩm bạn đang xây dựng và phát triển. Nó được hình thành bởi 3 yếu tố sau:

    • Yếu tố 1: Thị trường
    • Yếu tố 2: Các tính năng chính và sự khác biệt
    • Yếu tố 3: mục tiêu bán hàng

    Mục đích bán hàng, là bạn cần nắm bắt được những ích lợi mà mặt hàng nên trao cho doanh nghiệp, nhiệm vụ của nó là gì, là sản sinh ra doanh thu hay educate thị trường, tầm đặc biệt ở cấp độ bao nhiêu … từ đấy sẽ giúp bạn đặt được KPI chủ đạo sác hơn cho mỗi đầu công việc, và đo lường hiệu suất của các phòng ban hay chủ đạo mặt hàng đó.

    XEM THÊM KINH NGHIỆM GIÚP NÂNG CAO KỸ NĂNG VIẾT BÀI HAY VÀ HIỆU QUẢ

    Lộc Nguyên – Tổng hợp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiến Lược Phát Triển Thị Trường (Market Development Strategy) Là Gì?
  • Sự Phát Triển Của Bào Thai Trong Giai Đoạn Sớm
  • Quá Trình Thai Nhi Hình Thành Và Phát Triển Theo Từng Tuần
  • Phat Trien O Dong Vat Su Phat Trien O Dong Vat Ppt
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Sự Phát Triển Của Từ Vựng
  • Quá Trình Phát Triển Sản Phẩm Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm Là Gì?
  • Quy Trình Phát Triển Sản Phẩm Mới Trong Dự Án
  • Quá Trình Hình Thành Phôi
  • Tìm Hiểu Quá Trình Phát Triển Của Phôi Trước Làm Tổ
  • Tổng Quan Về Chiến Lược Sản Phẩm Trong Marketing
  • Khái niệm phát triển sản phẩm mới

    Phát triển sản phẩm mới là gì?

    Quá trình phát triển sản phẩm mới

    Quá trình phát triển sản phẩm mới bao gồm bao nhiêu bước?

    Quá trình phát triển sản phẩm mới đầy đủ sẽ bao gồm 7 bước: Sàn lọc ý tưởng, phát triển & thử nghiệm mô hình, ước tính lợi nhuận, xây dựng chiến lược marketing mix, thử nghiệm thị trường, thương mại hóa.

    Sơ đồ các bước phát triển sản phẩm mới

    Bước 1: Hình thành ý tưởng (Concept creation)

    Hình thái ban đầu của những sản phẩm mới sẽ bắt đầu từ những ý tưởng. Ở những doanh nghiệp lớn thường có bộ phận R&D đảm nhiệm công tác về ý tưởng phát triển sản phẩm mới. Tuy nhiên đối với doanh nghiệp nhỏ, công tác này sẽ được đảm nhận bởi bộ phận Marketing hay chính các thành viên khác của doanh nghiệp.

    Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tìm kiếm ý tưởng thông qua việc khảo sát chính khách hàng của mình, hay từ gợi ý và góp ý của các nhà phân phối.

    Một số doanh nghiệp khác dựa vào sản phẩm của đối thủ cạnh tranh để làm ý tưởng cho sản phẩm mới.

      Bước 2: Sàn lọc ý tưởng (Concept filter)

      Doanh nghiệp sau khi có được các ý tưởng ở bước 1 sẽ bắt đầu quá trình sàn lọc chúng ở bước 2 để từ đó giữ lại ý tưởng phù hợp nhất.

      Một ý tưởng phù hợp phải đáp ứng được các tiêu chí sau:

      • Khả thi: Ý tưởng về sản phẩm phải đi kèm với đối tượng khách hàng mục tiêu phù hợp mà doanh nghiệp có thể tiếp cận, vì nếu không sản phẩm mới có thể sẽ không thể bán được cho bất kỳ ai. Bên cạnh đó, quá trình tạo ra và sản xuất sản phẩm từ ý tưởng phải là khả thi với nguồn lực, khả năng tài chính, công nghệ tại thời điểm thực hiện.
      • Có thể thương mại hoá: Doanh nghiệp có thể đưa ý tưởng về sản phẩm mới vào quá trình sản xuất hàng loạt, với mức chi phí sản xuất trong khả năng của doanh nghiệp.
      • Có thể thu được lợi nhuận: Giá dự kiến của sản phẩm phải lớn hơn chi phí sản xuất. Dĩ nhiên Sản phẩm đưa ra thị trường phải có mức giá mà đối tượng khách hàng mục tiêu có thể có đủ khả năng để mua chúng.
      • Khả năng cạnh tranh cao: Ý tưởng mang tính đột phá cao so với đối thủ, mang về khả năng cạnh tranh tốt cho doanh nghiệp.

      Thông thường, tiêu chí khả năng cạnh tranh cao sẽ tỷ lệ nghịch với tiêu chí khả thi. Ý tưởng mang tính đột phá càng cao thì mức độ khả thi càng thấp. Ngược lại, độ an toàn càng cao thì khả năng đột phá, cạnh tranh của sản phẩm sẽ bị giảm sút. Chính vì vậy, thường sẽ không có sự lựa chọn nào là hoàn hảo.

      Bước 3: Phát triển và thử nghiệm mô hình sản phẩm (Concept testing)

      Các ý tưởng sản phẩm sau khi đã vượt qua cửa ải sàn lọc sẽ được doanh nghiệp đưa vào phát triển và thử nghiệm mô hình. Các khía cạnh thử nghiệm ở giai đoạn này bao gồm khả năng vận hành của sản phẩm, độ bền, độ an toàn, tính năng…

      Những người tham gia vào quá trình thử nghiệm có thể là phòng R&D, phòng Marketing, lãnh đạo hoặc nhân viên công ty. Các thông tin về sản phẩm mới ở giai đoạn này thường sẽ được bảo mật. Việc rò rĩ thông tin sẽ có thể khiến ý tưởng lọt vào tay đối thủ, dẫn đến các mất mát, sự việc không đáng có.

      Quá trình thử nghiệm mô hình sẽ giúp doanh nghiệp có được con số tương đối chính xác về thời gian, nhân lực và chi phí sản xuất sản phẩm mới.

      Bước 4: Xây dựng chiến lược Marketing mix

      Ở bước này doanh nghiệp sẽ tiến hành xây dựng các chiến lược Marketing mix cho mô hình sản phẩm mới. Nếu 4Ps là mô hình Marketing mix mà doanh nghiệp đang áp dụng thì doanh nghiệp đã có được yếu tố đầu tiên là Product – sản phẩm. Lúc này, công việc của doanh nghiệp là xác định các yếu tố còn lại:

      • Price: Giá của sản phẩm khi tung ra thị trường sẽ ở mức nào? Các chiến lược giá có thể áp dụng cho sản phẩm mới này là gì?
      • Place: Doanh nghiệp làm cách nào để đối tượng khách hàng mục tiêu có thể tiếp cận được sản phẩm? Kênh phân phối nào sẽ cho hiệu quả cao nhất với mức chi phí hợp lý nhất?

      Bước 5: Ước tính lợi nhuận

      Dựa trên chiến lược Marketing mix đã vạch ra, doanh nghiệp cần ước tính về doanh thu và lợi nhuận của sản phẩm. Doanh nghiệp cần xác định được đâu là điểm hòa vốn của doanh nghiệp, và dự trù trong bao lâu để doanh nghiệp có thể đạt mức doanh thu đó. Từ đó vạch ra các kế hoạch kinh doanh để thúc đẩy doanh nghiệp đạt được chỉ tiêu đề ra.

      Bước 6: Thử nghiệm thị trường

      Sau khi đã có các mô hình sản phẩm được thử nghiệm thành công, cũng như đã vạch ra các chiến lược marekting, kinh doanh cần thiết, doanh nghiệp sẽ sản xuất một số lượng sản phẩm mới có hạn và đưa vào thị trường để thử nghiệm. Mục tiêu đặt ra ở giai đoạn này là có được thông tin chính xác về:

      • Phản ứng, thái độ, cảm nhận, đánh giá của khách hàng sau quá trình sử dụng sản phẩm mới.
      • Phản ứng của các đối thủ cạnh tranh về sản phẩm mới.
      • Hiệu quả và chi phí vận hành các kênh phân phối của sản phẩm mới (nếu có)

      Tùy theo giá trị sản phẩm mà doanh nghiệp có thể triển khai quá trình thử nghiệm theo nhiều cách khác nhau. Có nhiều doanh nghiệp chọn cách sản xuất và bán sản phẩm mới với số lượng có hạn, một số khác chọn cách tặng kèm sản phẩm khi khách hàng mua một sản phẩm khác, hoặc cũng có những doanh nghiệp tặng trực tiếp cho những khách hàng cũ…

      Qua các thông tin thu thập được ở giai đoạn này, doanh nghiệp có thể có những căn cứ phù hợp để điều chỉnh lại các đặc điểm của sản phẩm mới, cũng như tối ưu lại các chiến lược marketing cho phù hợp hơn nếu cần thiết.

      Bước 7: Thương mại hóa

      Sau khi sản phẩm mới đã thành công vượt qua các giai đoạn trước đó, sẽ được doanh nghiệp đưa vào quá trình sản xuất với số lượng lớn và bắt đầu kinh doanh trong thời gian lâu dài. Một số công tác khác có thể cần làm như việc đăng ký sở hữu trí tuệ cho nhãn hiệu mới, đăng ký lưu hành, đăng ký xuất khẩu…

      --- Bài cũ hơn ---

    • Customer Life Cycle: Vòng Đời Khách Hàng Và Cách Để Bạn Phát Triển Khách Hàng Thành Công
    • 4 Bước Phát Triển Khách Hàng
    • Thương Hiệu Là Gì? Các Định Nghĩa Cơ Bản Về Thương Hiệu Bạn Cần Biết
    • 5 Chiến Lược Phát Triển Thương Hiệu Cho Doanh Nghiệp Hiệu Quả
    • Trung Tâm Năng Khiếu Start Kid
    • Phát Triển Thương Hiệu Là Gì?

      --- Bài mới hơn ---

    • Phát Triển Thương Hiệu: Hiểu Trước, Xây Sau
    • Chiến Lượng Phát Triển Thương Hiệu Cho Các Doanh Nghiệp
    • Những Lý Luận Cơ Bản Về Xây Dưng Và Phát Triển Thương Hiệu
    • 11 Bước Xây Dựng Và Phát Triển Thương Hiệu Doanh Nghiệp Thành Công
    • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Đầu Từ Phát Triển
    • Đỉnh cao của kinh doanh là có thể xây dựng cho mình một thương hiệu được khách hàng trong và ngoài nước đánh giá cao, nhưng thương hiệu chính xác là gì? và phát triển thương hiệu là như thế nào?

      Hôm nay WEBICO sẽ chia sẻ cùng bạn câu hỏi trên.

      Thương hiệu là gì?

      • Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức.
      • Thương hiệu – theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụnào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.
      • Thương hiệu được hiểu là một dạng tài sản phi vật chất. Lưu ý phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu. Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau. Ví dụ, Toyota là một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa: Innova, Camry…
      • Thương hiệu (brand, brand name, trademark), hiểu một cách đơn giản, là một cái tên gắn với một sản phẩm hoặc một nhà sản xuất. Thương hiệu ngày nay đang ngày càng trở nên một thành tố quan trọng trong văn hóa và trong nền kinh kế. Hàng hiệu hoặc đồ hiệu được coi là những “vật phẩm văn hóa và triết lý cá nhân”.

      Phát triển thương hiệu là việc tận dụng sức mạnh của thương hiệu trong việc mở rộng sản phẩm, mở rộng thị trường hoặc mở rộng sang ngành khác. Adidas là một trường hợp tốt để có thể hiểu rõ hơn việc phát triển thương hiệu.

      Từ doanh nghiệp sản xuất giày chuyên trong lĩnh vực thể thao, ngày nay với thương hiệu đầy tên tuổi của mình Adidas đã lấn sang cả lĩnh vực thời trang, sản xuất thêm nhiều mặt hàng như: quần áo thể thao, nón, balo…

      Tất cả sản phẩm của Adidas đều được đón nhận nhiệt tình từ phía khách hàng, thương hiệu Adidas trở nên vững chắc hơn, hầu như sản phẩm của hãng đều có mặt trên tất cả đất nước trên thế giới.

      Ngày nay phát triển thương hiệu điện tử cũng rất được quan tâm.

      Mà cốt lõi của việc xây dựng thương hiệu điện tử chính là trang web. Một trang web được thiết kế tốt đòi hỏi phải có lời giới thiệu độc đáo hơn, một biểu tượng thuyết phục hơn và cả những đồ họa lôi cuốn hơn.

      Như vậy, nó đòi hỏi những cân nhắc mới trong việc truyền thông với các khách hàng, các đối tác và cả những nhà cung cấp trong một thị trường toàn cầu năng động. Để phát triển được mộ thương hiệu điện tử thành công bạn cần có một thiết kế web hoàn hảo.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Vận Dụng Sáng Tạo Những Luận Điểm Tâm Lý Học Dạy Học Của L.x. Vư
    • ? Khu Vực Phát Triển Gần Nhất
    • Học Thuyết Phát Triển Của Lev Vygotsky (Phần 2)
    • Vận Dụng Lí Thuyết Về Vùng Phát Triển Gần Nhất Trong Dạy Học Một Số Chủ Đề Hình Học Không Gian Ở Lớp 11
    • Cách Khu Vực Phát Triển Gần Tối Đa Hóa Tiềm Năng Học Tập
    • Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm Là Gì?

      --- Bài mới hơn ---

    • Quy Trình Phát Triển Sản Phẩm Mới Trong Dự Án
    • Quá Trình Hình Thành Phôi
    • Tìm Hiểu Quá Trình Phát Triển Của Phôi Trước Làm Tổ
    • Tổng Quan Về Chiến Lược Sản Phẩm Trong Marketing
    • Thanh Toán Quốc Tế Là Gì? Tìm Hiểu Về Thanh Toán Quốc Tế
    • Chiến lược phát triển sản phẩm đề cập đến các phương pháp và hành động được sử dụng để đưa sản phẩm mới ra thị trường hoặc sửa đổi các sản phẩm hiện có để tạo ra hoạt động kinh doanh mới. Phát triển một sản phẩm có một số bước, từ việc sản xuất ý tưởng phân phối sản phẩm cho khách hàng. Mỗi giai đoạn đòi hỏi một chiến lược để thành công và tạo ra doanh thu cho một doanh nghiệp.

      Tại sao chiến lược phát triển sản phẩm lại quan trọng?

      Chiến lược phát triển sản phẩm rất quan trọng vì nó sử dụng nghiên cứu thị trường để xây dựng kế hoạch thành công trong việc bán sản phẩm. Chiến lược tổng thể của bạn nên bao gồm các phương pháp và kỹ thuật bạn sẽ sử dụng trong từng giai đoạn phát triển sản phẩm. Điều này có thể giúp bạn vượt qua những trở ngại và tập trung vào những chiến lược bán hàng thành công nhất. Lập kế hoạch về cách phát triển các sản phẩm khác nhau cũng có thể cho phép bạn điều chỉnh các sản phẩm hiện có và phát triển doanh nghiệp của mình.

      Các giai đoạn phát triển sản phẩm là gì?

      Phát triển sản phẩm bao gồm tất cả các khía cạnh của sản xuất đổi mới, từ việc nghĩ ra một khái niệm đến việc cung cấp sản phẩm cho khách hàng. Khi sửa đổi một sản phẩm hiện có để tạo ra sự quan tâm mới, các giai đoạn này xác minh khả năng thành công của các sửa đổi trong việc tạo ra hoạt động kinh doanh. Bảy giai đoạn phát triển sản phẩm là:

      Chỉnh sửa và lựa chọn: Trong quá trình lựa chọn, nhóm phát triển sản phẩm xác định ý tưởng nào có tiềm năng kinh doanh tốt nhất trên thị trường.

      Tạo nguyên mẫu: Khi một ý tưởng đã được chọn, công ty phải tạo ra một nguyên mẫu hoặc phiên bản nháp của sản phẩm đề xuất của mình. Mẫu thử nghiệm này có thể được sử dụng để xác định xem sản phẩm có hoạt động như dự định và thu hút đối tượng mục tiêu của bạn hay không.

      Phân tích: Ở giai đoạn phân tích phát triển sản phẩm, công ty nghiên cứu nghiên cứu thị trường và đánh giá các vấn đề có thể xảy ra với sản phẩm.

      Tạo sản phẩm: Sau khi kết hợp các ghi chú từ phân tích vào nguyên mẫu, sản phẩm hoàn chỉnh có thể được tạo ra.

      Thử nghiệm thị trường: Trước khi phát hành sản phẩm cho nhiều đối tượng hơn, sản phẩm thường được phát hành cho một thị trường nhỏ hơn hoặc nhóm tập trung. Giai đoạn thử nghiệm thị trường bao gồm đánh giá phản hồi của khách hàng và hiệu quả của việc tiếp thị sản phẩm.

      Thương mại hóa: Giai đoạn cuối cùng của quá trình phát triển sản phẩm xảy ra khi các điều chỉnh được thực hiện dựa trên thử nghiệm của thị trường và sản phẩm được tung ra thị trường đầy đủ.

      Lợi ích của chiến lược phát triển sản phẩm

      Có một chiến lược phát triển sản phẩm mạnh mẽ có thể hỗ trợ khả năng doanh nghiệp của bạn biến một ý tưởng thành một sản phẩm có lợi nhuận và sau đó sửa đổi nó để duy trì tính cạnh tranh trên thị trường. Chiến lược phát triển sản phẩm của bạn có thể tiết lộ các lĩnh vực cần cải tiến cũng như phương pháp nào thành công nhất. Để nhận được nhiều lợi ích nhất từ ​​chiến lược phát triển sản phẩm của bạn, hãy xem xét các kỹ thuật khác nhau sẽ hoạt động như thế nào cho từng bước và thực hiện các điều chỉnh dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ của bạn.

      Chiến lược phát triển sản phẩm

      – Thay đổi ý tưởng

      – Sửa đổi một sản phẩm hiện có

      – Tăng giá trị sản phẩm

      – Cung cấp bản dùng thử

      – Chuyên môn hóa và tùy chỉnh

      – Tạo giao dịch trọn gói

      – Tạo sản phẩm mới

      – Tìm thị trường mới

      Sửa đổi một sản phẩm hiện có

      Tạo phiên bản mới của sản phẩm hiện có với những thay đổi nhỏ có thể cung cấp cho thị trường của bạn động lực để mua bản nâng cấp. Việc sửa đổi một trong các sản phẩm hiện có của bạn và tập trung vào các cập nhật trong hoạt động tiếp thị của bạn sẽ ảnh hưởng đến việc khách hàng dùng thử phiên bản mới hơn của sản phẩm. Chiến lược này tập trung vào việc xác định những tính năng mà người tiêu dùng muốn thấy được cải thiện và thực hiện những thay đổi đó.

      Tăng giá trị sản phẩm

      Nhiều công ty thu hút khách hàng bằng cách bao gồm giá trị bổ sung khi mua sản phẩm. Bạn có thể tăng giá trị bằng cách bao gồm số lượng sản phẩm lớn hơn, thêm hỗ trợ khách hàng hoặc cung cấp các tính năng cao cấp. Khách hàng mới có thể bị thu hút bởi sản phẩm của bạn vì những lợi ích bổ sung, trong khi khách hàng hiện tại có thể mua lại sản phẩm của bạn để nhận được ưu đãi tốt hơn.

      Cung cấp bản dùng thử

      Việc cung cấp phiên bản mẫu miễn phí hoặc ít tốn kém hơn của sản phẩm có thể thuyết phục khách hàng dùng thử sản phẩm của bạn, những người có thể chưa mua phiên bản đầy đủ. Phương pháp này dựa vào chất lượng của sản phẩm bằng cách giả định rằng nhiều khách hàng trải nghiệm bản dùng thử miễn phí sẽ mua phiên bản đầy đủ. Cung cấp bản dùng thử có thể cho khách hàng thấy họ có thể hưởng lợi như thế nào từ các sản phẩm còn lại của bạn.

      Chuyên môn hóa và tùy chỉnh

      Nhiều sản phẩm có thể chuyên biệt để hướng đến một nhóm khách hàng cụ thể hoặc tùy chỉnh để tạo ra một món quà độc đáo và cá nhân. Cho phép khách hàng cá nhân hóa sản phẩm của bạn để phù hợp với nhu cầu và phong cách sống của họ có thể khuyến khích họ chọn sản phẩm đó thay vì đối thủ cạnh tranh chỉ cung cấp phiên bản chung chung.

      Tạo giao dịch trọn gói

      Bạn có thể khuyến khích khách hàng mua thêm sản phẩm của mình bằng cách tạo các giao dịch trọn gói. Chiến lược này giúp khách hàng tiếp cận với nhiều loại sản phẩm của bạn thông qua các gói mẫu hoặc các loại sản phẩm có thể giải quyết các vấn đề khác nhau cho khách hàng. Giao dịch trọn gói cũng có thể giới thiệu cho khách hàng một sản phẩm mà họ có thể chưa mua và khuyến khích họ mua sản phẩm đó trong tương lai.

      Tạo sản phẩm mới

      Thay đổi ý tưởng

      Một chiến lược để phát triển sản phẩm có thể là thay đổi ý tưởng sản phẩm của bạn. Nếu thị trường không đáp ứng với sự đổi mới, công ty có thể cân nhắc dành nguồn lực của mình để nghiên cứu thị trường đó muốn gì. Không phải tất cả các ý tưởng đều sẽ tạo ra một sản phẩm thành công, vì vậy sẵn sàng thay đổi ý tưởng khi cần thiết có thể là một chiến lược hiệu quả.

      Tìm thị trường mới

      Nhiều sản phẩm có thể được bán thành công trên nhiều thị trường. Một chiến lược phát triển sản phẩm là xem xét tiếp thị một sản phẩm hiện có đến một thị trường hoặc nhân khẩu học khác. Điều này có thể bao gồm việc nhắm mục tiêu các doanh nghiệp thay vì người tiêu dùng cá nhân, tiếp thị cho một nhóm tuổi khác hoặc mở rộng sản phẩm của bạn theo địa lý.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Quá Trình Phát Triển Sản Phẩm Mới
    • Customer Life Cycle: Vòng Đời Khách Hàng Và Cách Để Bạn Phát Triển Khách Hàng Thành Công
    • 4 Bước Phát Triển Khách Hàng
    • Thương Hiệu Là Gì? Các Định Nghĩa Cơ Bản Về Thương Hiệu Bạn Cần Biết
    • 5 Chiến Lược Phát Triển Thương Hiệu Cho Doanh Nghiệp Hiệu Quả
    • Khái Niệm Và Phát Triển Của Thương Mại Quốc Tế

      --- Bài mới hơn ---

    • Chiến Lược Phát Triển Sản Phẩm Mới
    • Phát Triển Chính Sách Xúc Tiến Thương Mại Của Dịch Vụ Thiết Kế Website Của Công Ty Cổ Phần Đầuu Tư
    • Giúp Bé Phát Triển Thể Chất
    • 3 Mục Tiêu Phát Triển Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non Cha Mẹ Cần Biết
    • 5 Bài Tập Phát Triển Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non Đơn Giản Mà Hiệu Quả
    • Thương mại quốc tế là một quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh té tối đa .Trao đổi hang hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các người soan xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia .Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng nhăm tạo điều kiên cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế ,phát triển kinh tế và làm giầu cho đất nước.

      Ngày nay thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giưa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế .Vì vậy phải coi trọng thương mại quốc tế như là một tiêu đề ,một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chon một cách tối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế .

      Bí quyết thành công trong chiên lược phát triển kinh tế của nhiều nước là mở rộng thị trường quốc tế và tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm hàng hoá chế biến có hàm lượng kỹ thuật cao.

      Thương mại quốc tế ,một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với su thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế ,mặt khác phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội .Phả luôn luôn tinh toán cái có thể thu được so với cái phải trả khi tham gia buôn bán và phân công lao động quốc tế để có chính sách thích hợp .Vì vậy ,để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả nâu giài phải tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thộc lẫn nhau ngay càng lớn.

      Quan hệ kinh tế trong một nước là những quan hệ giữa những người tham gia vào quá trình soản xuất và lưu thông hàng hoá trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hoá trong nước .Quan hệ thương mạI quốc tế thể hiện sự phân công lao động và chuyên môn quốc tế ở trình độ kĩ thuật caovà quy mô lớn .nó phát triển trong một môi trường khàc hoan toàn các quan hệ kinh tế trong nước về phương thức giao dịch buôn bán,pháp luật và nghiệp vụ.

      Thị trường trong nước và thi trương quốc gia là những phạm chù kinh tế khác nhau .Vì vậy,các quan hệ kinh tế diễn ra giứa các chủ thể trong kinh doanh thương mại quốc tế mang tính chất kinh té xã hội hết sức phức tạp ,không thể cho phép nghĩ rằng cứ buôn bán trong nước được thì buôn bán với nước ngoài cũng thành công .

      thương mại quốc tế là sự trao đôỉi hàng hoá dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán .sự trao đổi đó là một hình thức của một quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người soản xuất hàng hoá riêng biệt của tưng quốc gia .

      Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là ngoại thương mở rộng khả năng soản xuất và tiêu dùng của một nước .Thương mại quốc tế cho phép một nước tiêu dung tất cả các mặt hàng với số lương nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của khả năng soản xuất trong khi nước thưc hiện chế độ tự cung tự cấp ,không mua bán.

      Tiền đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội với tiến bộ khoa học kĩ thuật ,phạm vi chuyên môn hoá ngày càng cao số sản phẩm và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu con người ngày một dồi dào ,sự phụ thuộc giữa các quốc gia ngày càng tăng .

      Thương mại quốc tế và chuyên môn hoá tăng nhanh đã đặt ra câu hỏi:

      Buôn bán để làm gì?

      Trước hết thương mại suất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của soản xuất giữa các nước cho nên chuyên môn hoá soản xuất một số mặt hàng cò lợi thế và nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài mà soản xuất trong nước kếm lợi thế chắc chắn đêm lạI lợi nhuận lớn hơn.

      Sự khác nhau về điệu kiện sản xuất ít nhiều cũng giải thích được sự hình thành thương mại quốc tế giữa các nước trong kinh doanh các mặt hàng như dầu lửa ,lương thực, dịch vụ du lịch .Song phần lớn số liệu tự nhiên vốn có của sản xuất ,Mỹ sản xuất đựơc ô tô tại sao nhập khẩu ô tô từ nhật bản ? vì sao nước ta sản xuất với xuất phát đIểm và chi phí sản xuất các mặt hàng đều lớn hơn chi phí sản xuất các cường quốc kinh tế khác vẫn có thể duy trì thương mại với những nước đó.

      Năm 1817 ,nhà kinh tế học David Ricảdo đã chưng minh: chuyên môn hoá quốc tế có lợi cho tất cả các nước và gọi kết quả là quy luật lợi thế tương đối (hay lý thuyết về lợi thế so sánh ) .

      Quy luật lợi thế so sánh nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất ,coi đó là chìa khoá của phương thức thương mại . lý thuyết này khẳng định nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất các sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối hay có hiệu quả sản xuất só sánh cao nhất thí thương mại sẽ có lợi cho cả hai nước .

      Những lợi ích thương mại quốc tế do sự chênh lệch giữa các quốc gia về chi phí cơ hội .Chi phí cơ hội của một mặt hàng là số lượng các mặt hàng khác người ta phảI từ bỏ để sản xuất hoặc kinh doanh thêm một đơn vị hàng đó .

      Giả sử nền kinh tế khép kín có các nguồn lực nhất định có thể là đầu máy video,áo sơ mi càng sử dụng nhiều nguôn lực vào việc sản xuất đầu máy video ,thì càng cò ít nguồn lực để sử dụng vào việc sản xuất áo sơ mi .Chi phí cơ hội của đâu máy video là lương áo sơ mi bị hi sinh do dùng nguồn lực vào việc làm ra các đâu máy vi deo .

      Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tương đối đẻ làm ra các mặt hàng khác nhau . sự chênh lệch giữa các nước về chi phí tương đối tronh sản xuất quyết định phương thức thương mại quốc tế . Phương thức thương mại quốc tế minh hoạ bằng quy luật lơi thế tương đối .

      Quy luật lợi thế tương đối nói rằng :”các nước hay cá nhân nên chuyên môn hoá trong việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà họ làm ra với chi phí tương đối thấp hơn thì sẽ có lợi ích kinh tế lớn hơn”.

      Có nhiều nguyên nhân giải thích tai sao chí phí cơ hội hoặc chi phí tương đối lại có thể khác biệt ở các nước khác nhau . chúng bắt nguồn từ sự khác biệt trong kỹ thuật công nghệ hoặc hiệu xuắt .Ví dụ ,hai nước Mỹ và Anh đang sản xuất ra hai loại hàng hoá là máy video và áo sơ mi .Giả định rằng lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có mức lợi tức không đổi theo quy mô ,ta có :

      Bảng 1:lợi thé só sánh của Mỹ và Anh về máy vi deo và áo sơ mi theo giờ lao động .

      Cần 30giờ ở mỹ để sản xuất ra 1 máy video và 5giờ để sản xuất ra 1 áo sơ mi. lao động ở anh có hiệu suất kếm hơn ;cần 60giờ để làm ra 1 máy video và 6 giờ để sản xuất ra 1 áo sơ mi.

      Ta giả thiết rằng có sự cạnh tranh hoàn hảo ,do vậy giá cả các mặt hàng bằng chi phí biên của nó vì mức lợi tức không đổi theo quy mô nên chi phí biên băng chi phí trung bình chính vì thế giá cả bằng chi phí trung bình của sản xuất .do đó lao động là yếu tố sản xuất duy nhất nên trong ví dụ trên chi phí trung bình được tính bằng giá trị đầu vào lao động trên một đơn vị đầu ra sản lượng tức là chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm .

      Giả thiết rằng công nhân Mỹ kiếm được 6 USD/giờ ,ta có chi phí lao động cho một đơn vị của hai loạI hàng của mỗi nước như sau;

      Bảng số 2:lợi thế tương đối của Anh và Mỹ về máy videovà áo sơ mi theo chi phí lao động.

      Nếu không có thương mại quốc tế thì mỗi nước sẽ phải sản xuất cả hai loại hàng vào các chi phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm là giá trị nội địa của mỗi sản phẩm bán ra ở thị trường trong nước .

      Đối với cả hai sản phẩm ,yêu cầu lao động cho một đơn vị sản phẩm ở Mỹ thấp hơn môt cách tuyệt đối so với yêu cầu này ở Anh. Nhưng lao động ở Mỹ hiệu quả hơn một cách tương đối về máy video và áo sơ mi . Còn số giờ lao động để soản suất ra một máy video ở Anh nhiều gấp đôi so với Mỹ nhưng ở Anh chỉ cần 6/5giờ lao động để sản xuất ra một cái áo sơ mi ở Mỹ . chính những trênh lệch tương đối về năng xuất này là cơ sở cho thương mại quốc tế .

      Còn nhiều lý do khác khiến cho thương mạI quốc tế rất quan trọng trong thế giới hiện đại . Một trong những lý do đó có thể là thương mại quốc tế tối cần thiết cho chuyên môn hoá để có hiệu quả kinh tế cao trong ngành công nghiệp hiên đại . chuyên môn hoá quy mô lớn làm chi phí sản xuất giảm và hiệu quả kinh tế theo quy mỗ sẽ được thực hiện trong hàng hoá các nước sản xuât.

      Sự khác nhau về sở thích và mức cung cầu là những nguyên nhân giẫn tới việc xuất hiện thương mại quốc tế. Ngay cả trong trương hợp hiệu quả tuyệt đối ở hai nước giống hệt nhau ,thương mại quốc tế vẫn có thể sẩy ra do sự khác biệt về sở thích .

      --- Bài cũ hơn ---

    • Như Thế Nào Là Dạy Học Phát Triển Năng Lực?
    • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Trung Học Phổ Thông/giáo Dục Định Hướng Kết Quả Đầu Ra Và Phát Triển Năng Lực
    • Mọi Sự Phát Triển Đều Có Những Tính Chất Chung Nào? Cho Ví Dụ.
    • Thế Nào Là Quan Điểm Toàn Diện, Phát Triển Và Lịch Sử Cụ Thể? Cho Ví Dụ. Các Quan Điểm Đó Được Xác Lập Trên Cơ Sở Lý Luận Nào?
    • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 10 Bài 5: Cách Thức Vận Động, Phát Triển Của Sự Vật Và Hiện Tượng (Phần
    • Phát Triển Thương Hiệu: Hiểu Trước, Xây Sau

      --- Bài mới hơn ---

    • Chiến Lượng Phát Triển Thương Hiệu Cho Các Doanh Nghiệp
    • Những Lý Luận Cơ Bản Về Xây Dưng Và Phát Triển Thương Hiệu
    • 11 Bước Xây Dựng Và Phát Triển Thương Hiệu Doanh Nghiệp Thành Công
    • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Đầu Từ Phát Triển
    • Bài 38: Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Và Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường Biển Đảo
    • “Thương hiệu” thực ra là gì?

      Nói một cách đơn giản, thương hiệu chính là lời hứa của bạn đến khách hàng. Nó cho biết họ có thể trông đợi gì từ các sản phẩm, dịch vụ bạn cung cấp, và nó phân biệt bạn với các đối thủ khác. Thương hiệu lấy nguồn gốc từ câu hỏi: Bạn là ai? Bạn muốn trở thành người như thế nào? Và trong mắt mọi người, bạn như thế nào?

      Liệu bạn có phải là người dám khác biệt, sáng tạo trong lĩnh vực mình hoạt động? Hay dày dạn kinh nghiệm và đáng tin cậy? Sản phẩm của bạn theo tiêu chí giá cao đi đôi với chất lượng, hay giá thấp nhưng mang lại giá trị cao? Bạn không thể chọn cả hai, bạn cũng không thể cung cấp tất cả mọi thứ. Việc bạn là ai dựa trên mức độ khách hàng mục tiêu muốn và cần gì ở bạn.

      Chiến lược và giá trị thương hiệu

      Định nghĩa chính mình

      Việc định nghĩa thương hiệu cũng giống như một cuộc hành trình tự khám phá, có thể đầy khó khăn, tốn thời gian và không dễ chịu chút nào. Nó cũng đòi hỏi ít nhất việc bạn có thể trả lời được các câu hỏi sau:

      – Sứ mệnh của công ty là gì?

      – Lợi ích và đặc điểm nổi bật của sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty?

      – Khách hàng và khách hàng tiềm năng nghĩ gì về công ty?

      – Những phẩm chất nào công ty cần có?

      Hãy tự mình nghiên cứu. Tìm hiểu nhu cầu, thói quen và mong muốn của khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng. Đừng phụ thuộc vào những điều bạn cho rằng khách hàng nghĩ như vậy. Hãy thực sự biết họ nghĩ gì .

      Vì việc xác định thương hiệu và phát triển chiến lược thương hiệu có thể trở nên vô cùng phức tạp, hãy tận dụng ý kiến chuyên môn từ nhóm tư vấn doanh nghiệp nhỏ phi lợi nhuận hoặc trung tâm phát triển doanh nghiệp nhỏ nào đó.

      Tạo ra một logo tuyệt vời: Và, hãy đặt nó ở khắp mọi nơi.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Phát Triển Thương Hiệu Là Gì?
    • Vận Dụng Sáng Tạo Những Luận Điểm Tâm Lý Học Dạy Học Của L.x. Vư
    • ? Khu Vực Phát Triển Gần Nhất
    • Học Thuyết Phát Triển Của Lev Vygotsky (Phần 2)
    • Vận Dụng Lí Thuyết Về Vùng Phát Triển Gần Nhất Trong Dạy Học Một Số Chủ Đề Hình Học Không Gian Ở Lớp 11
    • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững

      --- Bài mới hơn ---

    • Phép Biện Chứng Duy Vật
    • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
    • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
    • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
    • Bộ Công An Trả Lời Về Làn Đường, Phần Đường
    • Cụm từ phát triển bền vững nói chung hay phát triển nói riêng được định nghĩa một cách khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn” Trong từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được quan niệm là:

      “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới” Chủ thể con người và mọi vật đều thay đổi theo thời gian, những sự phát triển được bao hàm ở cả hai khía cạnh: hướng đi lên – tiến bộ và phát triển thoái bộ – thoái hóa.

      Phát triển (khoa học phát triển) mới ra đời những năm 1940-1950, đặc biệt phát triển mạnh vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Trong tiến trình đó, phát triển học có những thay đổi nhất định về nội hàm.

      Giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu của phát triển được đề cập trong kinh tế gọi là Kinh tế học phát triển, sau đó càng ngày càng phát triển theo hướng liên ngành. Tiếp sau đó, ở mức độ cao hơn, môn Xã hội học phát triển và Quản trị học phát triển ra đời, nhấn mạnh sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội có phần can thiệp của thể chế chính trị.

      Ở giai đoạn cao như hiện nay, sự bùng nổ dân số, mức độ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế, sự thiếu hụt tài nguyên do con người khai thác một cách vô ý thức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, mức độ biến đổi khí hậu một cách khó lường… thuật ngữ phát triển bền vững ra đời.

      PTBV ra đời năm 1992 và đã trở thành chiến lược phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI.

      Phát triển bền vững

      Có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững nói chung. Sự khác nhau xuất phát từ quan điểm, định hướng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Khi nghiên cứu ở phạm vi hẹp như các tổ chức cụ thể, quan điểm được nhìn nhận một cách rộng rãi nhất của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (1987) cho rằng: ” Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng yêu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng thỏa mãn nhu cầu đó của các thế hệ tương lai “, [51]. Quan điểm này cho thấy: thực chất của vấn đề PTBV là sự gia tăng số lượng, chất lượng của một tổ chức với mục đích là tối đa hóa lợi ích ở hiện tại nhưng phải đảm bảo cho những lợi ích đó được duy trì trong tương lai.

      Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg – 2002: ” Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường “. Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều nghiên cứu còn đề cập tới những khía cạnh khác của PTBV như: chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc… và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể.

      PTBV là một nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và các cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững “. Đây là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phư ng, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động. Mục tiêu bảo đảm PTBV đất nước trong thế kỷ XXI chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược PTBV trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, trong đó có PTBV các KCN.

      Khái niệm phát triển và phát triển bền vững

      --- Bài cũ hơn ---

    • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
    • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững
    • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
    • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
    • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
    • Web hay
    • Links hay
    • Guest-posts
    • Push
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Chủ đề top 60
    • Chủ đề top 70
    • Chủ đề top 80
    • Chủ đề top 90
    • Chủ đề top 100
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50
    • Bài viết top 60
    • Bài viết top 70
    • Bài viết top 80
    • Bài viết top 90
    • Bài viết top 100
    • Chủ đề top 10
    • Chủ đề top 20
    • Chủ đề top 30
    • Chủ đề top 40
    • Chủ đề top 50
    • Chủ đề top 60
    • Chủ đề top 70
    • Chủ đề top 80
    • Chủ đề top 90
    • Chủ đề top 100
    • Bài viết top 10
    • Bài viết top 20
    • Bài viết top 30
    • Bài viết top 40
    • Bài viết top 50
    • Bài viết top 60
    • Bài viết top 70
    • Bài viết top 80
    • Bài viết top 90
    • Bài viết top 100