Phát Triển Kinh Tế Biển Bền Vững

--- Bài mới hơn ---

  • Chiến Lược Phát Triển Kinh Tế
  • Gdcd 11 Bài 1: Công Dân Với Sự Phát Triển Kinh Tế
  • Lý Thuyết Gdcd 11 Bài 1: Công Dân Với Sự Phát Triển Kinh Tế (Hay, Chi Tiết).
  • Bài 1. Công Dân Với Sự Phát Triển Kinh Tế
  • Giáo Án Gdcd 11 Bài 1: Công Dân Với Sự Phát Triển Kinh Tế (Tiết 2)
  • (TN&MT) – Biển đảo không chỉ là bộ phận cấu thành chủ quyền, quyền chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc mà còn là không gian sinh tồn và phát triển của các thế hệ người Việt Nam; các vùng biển nước ta có vị trí địa chính trị, địa quân sự, địa kinh tế quan trọng trong khu vực và trên thế giới; thế kỷ XXI được coi là kỷ nguyên của đại dương, việc “vươn ra biển” đã trở thành xu thế lớn, định hướng quan trọng của các quốc gia có biển và cả quốc gia không có biển.

    Tuy vậy, để chuyển từ tiềm năng thành hiện thực, phát triển kinh tế biển bền vững, cân bằng sinh thái, giữ biển trong lành và an toàn cho nhiều thế hệ mai sau là bài toán lớn cần có lời giải đồng hành với việc tổ chức thực hiện Chiến lược biển Việt Nam.

    Hiện tại, ngay trong cách tiếp cận phát triển kinh tế biển của chúng ta vẫn cần phải bổ sung và và hoàn chỉnh một số nội dung. Thứ nhất, là cách thức khai thác biển vẫn mới chỉ ở “đánh bắt ven bờ”. Thứ hai, thiếu tư duy toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chưa rõ tầm nhìn toàn cầu và thời đại trong công cuộc phát triển kinh tế biển trong bối cảnh hiện đại.

    Trên thực tế, các khu kinh tế biển của Việt Nam cho đến nay là sự lập lại mô hình khu công nghiệp ở đất liền đem ra biển khi gắn thêm vào đó cảng biển. Cảng biển trở thành hạt nhân trong định hình các khu kinh tế biển, kéo theo đó là sự đầu tư rất lớn cho khu cảng. Cái cần thiết, đáng ra là định hình khu kinh tế, xây dựng đô thị để thu hút nguồn lực, con người, cơ chế thật tốt để khuyến khích đầu tư, khởi nghiệp, nguồn lực bị phân tán vào công trình cảng, mà cả khi xây xong cũng không biết hàng hóa lấy ở đâu, chuyên chở đi đâu.

    Sự dàn trải vốn đầu tư của Nhà nước và phân tán các nhà đầu tư, khiến cho, phát triển kinh tế biển của Việt Nam mới chỉ nằm ở dạng tiềm năng là chính.

    Vì vậy, chúng ta cần tái cấu trúc mô hình tăng trưởng kinh tế biển, trong đó, kinh tế biển cần phải đặt ở một tầm nhìn mới vào mô hình tăng trưởng mới theo phương thức kết hợp: khai thác mặt tiền và tự do hóa thương mại.

    Để phát triển kinh tế biển bền vững, trước hết, các hoạt động cần bảo đảm đạt được các chỉ tiêu tổng hợp, các mục tiêu về kinh tế biển, xã hội, khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển đã được đề ra tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

    Theo đó, tập trung 5 lĩnh vực quan trọng cần đổi mới và đột phá. Đó là: Tập trung rà soát, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách về tài nguyên, môi trường biển, hải đảo; coi khoa học – công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao là phương tiện thúc đẩy đổi mới, sáng tạo. Ứng dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, trí tuệ nhân tạo vào công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; cùng với đó là đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong công tác quản trị biển và đại dương, quản lý vùng bờ đảm bảo hiện đại, đồng bộ, nâng cao hiệu quả phối hợp và xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn cao; đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, thực hiện tốt Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030…

    Mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp đưa ra phải hướng đến sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đồng hành với quá trình đẩy nhanh các hoạt động kinh tế biển, gắn với bảo vệ an ninh, chủ quyền và quyền chủ quyền biển, đảo của nước ta. Đẩy mạnh điều tra, khảo sát, nghiên cứu để hiểu hơn về biển, cũng cố thông tin về tài nguyên và môi trường biển, tiến tới hiểu rõ về tài nguyên dưới đáy biển, tiềm năng băng cháy, khả năng ứng dụng năng lượng thủy triều, sóng biển…; bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái biển; bố trí không gian và phát triển các vùng biển phù hợp với sinh thái của từng vùng; phát triển các ngành kinh tế biển bền vững; kiểm soát các nguồn ô nhiễm từ đất liền; phòng ngừa ô nhiễm từ các hoạt động trên biển và ô nhiễm xuyên biên giới; phòng chống thiên tai, ứng phó với tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và nước biển dâng…

    Tất cả với mục tiêu phát triển biển bền vững, giữ biển trong lành cho nhiều thế hệ mai sau.

      Thời sự – Trần Tuấn – Xuân Vũ – 18:15 07/01/2020

      (TN&MT) – Xác định báo chí là lực lượng quan trọng trên mặt trận tư tưởng văn hóa, trong công tác tuyên truyền, đấu tranh giữ vững chủ quyền biển đảo, bảo đảm an ninh trật tự trên biển, ngày 7-1, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển tổ chức gặp mặt báo chí đầu năm 2022. Tới dự và chủ trì cuộc gặp mặt có Trung tướng Hoàng Văn Đồng, Chính ủy Bộ Tư lệnh Cảnh sát Biển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Tăng Trưởng Kinh Tế Và Phát Triển Bền Vững
  • Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Biển Đảo Phat Tong Hop Kt Bien D9 Ppt
  • Bài 39. Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Và Bảo Vệ Tài Nguyên, Môi Trường Biển
  • Bài 38 : Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Biển Và Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường Biển
  • Bài 38. Phát Triển Tổng Hợp Kinh Tế Và Bảo Vệ Tài Nguyên, Môi Trường Biển
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn, các nhu cầu của con người lại luôn tạo nên sự mâu thuẫn gần như không sao khắc phục được. Ví dụ, con người ta cần không khí sạch để thở nhưng đồng thời lại rất cần ô tô để đi lại, cần có củi để sưởi nhưng lại rất cần rừng để bảo vệ đất khỏi xói mòn và chống nước mặn xâm nhập hoặc các doanh nghiệp luôn cần sử dụng lao động với giá rẻ lại không có tiếng nói chung với những công nhân luôn cần được trả lương cao để có thể sống tốt hơn… Nếu mở rộng phạm vi ra một cộng đồng, một thành phố, một đất nước hay cả hành tinh này, điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia được công nghiệp hoá lại gây ra những trận mưa axít nguy hiểm cho các sông ngòi, hồ ao của các nước khác?

    Vấn đề đặt ra là loài người sẽ quyết định ra sao nếu trong bản thân họ lại luôn có những nhu cầu đối lập, mâu thuẫn nhau? Nhu cầu của ai sẽ được đáp ứng? Của người giàu hay người nghèo? Của công dân nước mình hay những người di tản từ nước khác đến? Của dân đô thị hay nông thôn? Dân nước này hay nước khác? Của ta hay là hàng xóm? Môi trường hay doanh nghiệp? Thế hệ này hay thế hệ sau?… Ai sẽ là người chịu trách nhiệm khi phải thoả hiệp để cân bằng các nhu cầu đối lập nhau? Những người quan tâm đến phát triển cho rằng việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai luôn phụ thuộc rất nhiều vào cách mà thế hệ hiện tại cân bằng các mục tiêu phát triển xã hội, kinh tế và môi trường. Sự cân bằng các nhu cầu kinh tế, xã hội và môi trường trong việc ra quyết định của một thế hệ sẽ ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng các nhu cầu phát triển của các thế hệ tiếp theo.

    Theo cách đặt vấn đề như vậy, việc ra đời một khái niệm mới, khắc phục sự phiến diện của “tăng trưởng kinh tế” hay “phát triển” là vô cùng cần thiết. Điều quan trọng là phải đưa ra được một định nghĩa thật đơn giản về phát triển bền vững và một khuôn khổ các điều kiện tối thiểu để phát triển mang tính bền vững – những điều kiện mà sự tồn tại của chúng dựa trên cơ sở tồn tại bền vững của các nguồn dự trữ thiên nhiên theo thời gian. Nguồn dự trữ thiên nhiên ở đây là nguồn dự trữ của tất cả các nguồn lực tài nguyên môi trường và tự nhiên, từ dầu mỏ dưới lòng đất đến chất lượng đất và nước ngầm, từ nguồn dự trữ cá dưới đại dương đến khả năng của trái đất tái sinh và hấp thụ các-bon… Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào BVMT từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

    – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau.

    – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai.

    – Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ.

    Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc .

    Mô hình phát triển bền vững kiểu quả trứng do Liên minh quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đưa ra năm 1994. Mô hình này minh hoạ mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái như là một vòng tròn nằm trong một vòng tròn khác, giống như lòng đỏ và lòng trắng của một quả trứng gà. Điều này hàm ý rằng, con người nằm trong hệ sinh thái và hai đối tượng này hoàn toàn phụ thuộc, tác động, chi phối lẫn nhau. Giống như một quả trứng chỉ thực sự tốt khi cả lòng đỏ và lòng trắng đều tốt, lòng trắng là môi trường để lòng đỏ phát triển, một xã hội chỉ phát triển bền vững khi cả con người và hệ sinh thái ở điều kiện tốt [82].

    Như vậy, mỗi mô hình có những thế mạnh cũng như những hạn chế nhất định. Luận án đồng nhất lựa chọn và sử dụng mô hình PTBV kiểu ba vòng tròn để phân tích, do mô hình này phản ánh rõ nhất phát triển bền vững là miền giao thoa giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và BVMT. Nói cách khác, phát triển bền vững đạt được trên cơ sở đảm bảo hài hoà được cả ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường.

    Khái niệm phát triển bền vững

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Về Phát Triển
  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?
  • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Bộ Công An Trả Lời Về Làn Đường, Phần Đường
  • Cụm từ phát triển bền vững nói chung hay phát triển nói riêng được định nghĩa một cách khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn” Trong từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được quan niệm là:

    “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới” Chủ thể con người và mọi vật đều thay đổi theo thời gian, những sự phát triển được bao hàm ở cả hai khía cạnh: hướng đi lên – tiến bộ và phát triển thoái bộ – thoái hóa.

    Phát triển (khoa học phát triển) mới ra đời những năm 1940-1950, đặc biệt phát triển mạnh vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Trong tiến trình đó, phát triển học có những thay đổi nhất định về nội hàm.

    Giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu của phát triển được đề cập trong kinh tế gọi là Kinh tế học phát triển, sau đó càng ngày càng phát triển theo hướng liên ngành. Tiếp sau đó, ở mức độ cao hơn, môn Xã hội học phát triển và Quản trị học phát triển ra đời, nhấn mạnh sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội có phần can thiệp của thể chế chính trị.

    Ở giai đoạn cao như hiện nay, sự bùng nổ dân số, mức độ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế, sự thiếu hụt tài nguyên do con người khai thác một cách vô ý thức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, mức độ biến đổi khí hậu một cách khó lường… thuật ngữ phát triển bền vững ra đời.

    PTBV ra đời năm 1992 và đã trở thành chiến lược phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI.

    Phát triển bền vững

    Có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững nói chung. Sự khác nhau xuất phát từ quan điểm, định hướng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Khi nghiên cứu ở phạm vi hẹp như các tổ chức cụ thể, quan điểm được nhìn nhận một cách rộng rãi nhất của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (1987) cho rằng: ” Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng yêu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng thỏa mãn nhu cầu đó của các thế hệ tương lai “, [51]. Quan điểm này cho thấy: thực chất của vấn đề PTBV là sự gia tăng số lượng, chất lượng của một tổ chức với mục đích là tối đa hóa lợi ích ở hiện tại nhưng phải đảm bảo cho những lợi ích đó được duy trì trong tương lai.

    Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg – 2002: ” Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường “. Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều nghiên cứu còn đề cập tới những khía cạnh khác của PTBV như: chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc… và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể.

    PTBV là một nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và các cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững “. Đây là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phư ng, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động. Mục tiêu bảo đảm PTBV đất nước trong thế kỷ XXI chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược PTBV trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, trong đó có PTBV các KCN.

    Khái niệm phát triển và phát triển bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Phát Triển Kinh Tế Bền Vững Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Kinh Tế (Economic Development) Là Gì? Mối Liên Hệ Giữa Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Tội Phạm Kinh Tế Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Tội Phạm Kinh Tế
  • Tội Phạm Kinh Tế Là Gì? Những Đặc Trưng Của Tội Phạm Kinh Tế
  • Khái Niệm Và Phân Loại Tội Phạm Theo Quy Định Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
  • 1. Khái niệm về phát triển kinh tế

    Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về kinh tế của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng.

    Khái niệm phát triển kinh tế không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra hoạt động của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để phát triển kinh tế. Ở những nước đang phát triển, đặc biệt là những nước đang phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nếu không đạt được mức tăng trưởng tương đối cao và liên tục trong nhiều năm, thì khó có điều kiện kinh tế để cải thiện mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội.

    Tăng trưởng kinh tế có thể được thực hiện bởi những phương thức khác nhau và do đó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau. Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế không gắn với sự thúc đẩy cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng, mà thậm chí còn làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế, sẽ không thể tạo ra sự phát triển kinh tế. Những phương thức tăng trưởng như vậy, rốt cục, cũng chỉ là kết quả ngắn hạn, không những không thúc đẩy được phát triển, mà bản thân nó cũng khó có thể tồn tại được lâu dài. Nội dung chủ yếu của phát triển kinh tế được luận giải như sau:

    Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dài hạn. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo ra những tiến bộ về kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển thu nhập thấp.

    Thứ hai, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tiến bộ. Xu hướng tiến bộ của quá trình thay đổi này ở những nước đang phát triển, đang hoặc chưa trải qua quá trình công nghiệp hoá thể hiện ở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và đô thị hoá; đó không đơn thuần là sự gia tăng về quy mô, mà còn bao hàm việc mở rộng chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được sản xuất ra; hoạt động của nền kinh tế ngày càng gia tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh, tạo cơ sở cho việc đạt được những tiến bộ xã hội một cách sâu rộng.

    Thứ ba, những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại. Đến lượt mình, kết quả của những tiến bộ kinh tế đạt được lại làm gia tăng không ngừng năng lực nội sinh của nền kinh tế (thể hiện ở những tiến bộ về công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nguồn vốn trong nước…).

    2. Khái niệm phát triển kinh tế bền vững

    Phát triển bền vững là sự phát triển mang tính chất tổng thể, bao trùm tất cả các vấn đề trong một quốc gia như phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về chính trị, phát triển bền vững về môi trường, phát triển bền vững về y tế, phát triển bền vững về giáo dục đào tạo, phát triển bền vững về văn hóa xã hội, về an ninh quốc phòng về chỉ số phát triển con người… Về nội dung này, bài viết chỉ nghiên cứu trên khía cạnh phát triển kinh tế bền vững.

    Nội dung phát triển kinh tế bền vững phải bao hàm cùng một lúc cả yêu cầu về mức độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế. Điều đó có nghĩa là phải thể hiện ở khả năng duy trì tăng trưởng GDP ở mức cao một cách lâu dài và có hiệu quả. Bền vững trong phát triển kinh tế chỉ đạt được khi tăng trưởng kinh tế cao nhưng phải có hiệu quả, vay nợ thấp và tạo ra giá trị thặng dư cho xã hội ngày càng lớn.

    Khi tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà tiêu hao quá nhiều tài nguyên thiên nhiên thì không được coi là phát triển bền vững. Phát triển kinh tế nhưng thu nhập của người lao động không tăng thì không phải là phát triển kinh tế bền vững.

    Phát triển kinh tế bền vững đòi hỏi mức độ tăng tăng trưởng kinh tế cao, tuy nhiên phải đảm bảo cấu trúc tăng trưởng GDP và cơ cấu ngành kinh tế hợp lý. Đây là yếu tố phản ánh khá rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế. Cấu trúc tăng trưởng phản ánh xu thế hiệu quả và bền vững của các yếu tố bên trong cấu thành tăng trưởng GDP, đó là cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào, cấu trúc tăng trưởng theo đầu ra và cấu trúc tăng trưởng theo ngành. Kết quả của cấu trúc tăng trưởng theo ngành phản ánh qua cơ cấu ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo việc phát triển ngành, lĩnh vực, vùng có lợi thế so sánh và phải phù hợp với xu thế phát triển tất yếu trên thế giới.

    Tăng trưởng GDP và tỷ lệ nợ công là những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu để đánh giá nền kinh tế có phát triển bền vững hay không, vì vậy đứng trên góc độ vĩ mô, để nền kinh tế có thể phát triển bền vững thì cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển từ thành phần kinh tế làm ăn kém hiệu quả sang thành phần kinh tế làm ăn hiệu quả hơn. Để kinh tế phát triển bền vững thì cần phải thay đổi cấu trúc của nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng đầu tư phát triển của khu vực kinh tế sản xuất kinh doanh có hiệu quả đồng thời giảm tỷ trọng vốn đầu tư của những khu vực kinh tế làm ăn kém hiệu quả, có tốc độ tăng trưởng GDP thấp.

    Để nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh và bền vững, có thể sử dụng các công cụ kinh tế để tác động vào các nhân tố sau đây:

    – Tăng kim nghạch xuất nhập khẩu và hướng đến thặng dư cán cân thương mại. Khi cán cân thương mại giữa xuất khẩu và nhập khẩu cân bằng hoặc có thặng dư sẽ là cơ sở rất tốt để thu về nguồn ngoại tệ cho đất nước, ổn định tỷ giá hối đoái, là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước điều hành tốt hơn chính sách tiền tệ, như vậy sẽ làm ổn định kinh tế vĩ mô góp phần giúp cho nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững.

    – Phân bổ vốn đầu tư hợp lý vào các ngành trong nền kinh tế, tập trung vào những ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh nhằm tạo ra tốc độ tăng GDP cao và bền vững nhất.

    – Tăng hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế, nó được thể hiện ở hệ số ICOR càng thấp càng tốt.

    – Giảm thâm hụt ngân sách nhà nước, tiến tới thặng dư ngân sách.

    – Giảm dần nợ công, kể cả nợ của Chính phủ và nợ của các doanh nghiệp Nhà nước đối với nước ngoài được Nhà nước bảo lãnh. Thực hiện tốt điều này sẽ giúp nền kinh tế phát triển bền vững, tránh được suy thoái kinh tế thậm chí mất khả năng thanh toán của Việt Nam trong tương lai.

    – Đảm bảo tỷ lệ lạm phát vừa phải để có thể ổn định kinh tế vĩ mô từ đó giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

    – Có cấu trúc nguồn thu ngân sách nhà nước phù hợp để đảm bảo nguồn thu từ thuế tăng trưởng bền vững đồng thời vẫn đảm bảo việc tạo nguồn thu lâu dài, hiệu quả và ổn định cho ngân sách.

    Các yếu tố cấu thành nên nền kinh tế trong quá trình hoạt động đã tác động qua lại với nhau và cùng thể hiện ra bên ngoài thông qua các chỉ tiêu để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế. Sức khỏe của nền kinh tế được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu về kinh tế vĩ mô bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu như tăng trưởng GDP hàng năm của toàn xã hội, tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người, chỉ số lạm phát trong nền kinh tế, nợ công của quốc gia, cán cân thương mại tức là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu, hiệu quả vốn đầu tư của toàn xã hội và của các khu vực kinh tế, tỷ trọng vốn đầu tư được phân bổ trong nền kinh tế, mối quan hệ giữa thu chi ngân sách nhà nước để thể hiện nền kinh tế là thặng dư hay bội chi Ngân sách và cấu trúc các nguồn thu để đóng góp cho ngân sách nhà nước.

    Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều có cấu trúc nền kinh tế gồm khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Để kinh tế phát triển bền vững thì tỷ trọng vốn đầu tư vào các khu vực kinh tế phải phù hợp với sự phát triển nội tại và tiềm năng của các khu vực kinh tế đó.

    Trong giai đoạn đầu đối với các quốc gia trên thế giới khi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì tốc độ tăng trưởng GDP là khá cao, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1961 – 1980 của Hàn quốc là 8,79%, của Thái Lan trong 20 năm đầu quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa là 7,61%, của Malaysia là 7,89%, của Trung quốc là 9,63% (giai đoạn 1979-2003) .

    Theo luật của Liên minh Châu Âu (bao gồm 25 nước thành viên EU) thì để được tồn tại trong Liên minh này, bội chi ngân sách nhà nước hàng năm chỉ được phép dưới 3% GDP, nếu bất kỳ một nước thành viên nào chi tiêu Ngân sách vượt quá tỷ lệ 3%GDP thì phải cân đối thu chi Ngân sách để đưa về tỷ lệ đã quy định, trong trường hợp trong 3 năm không khống chế được tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước thì sẽ phải ra khỏi cộng đồng kinh tế chung EU .

    Trong từng thời kỳ khác nhau, phát triển kinh tế bền vững sẽ được đánh giá theo các tiêu thức khác nhau, trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, chi phí lao động chưa cao, dẫn đến hệ số ICOR sẽ thấp hơn so với giai đoạn nền kinh tế đã phát triển. Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của bất kỳ nền kinh tế nào thì tốc độ tăng trưởng của GDP cũng cao hơn so với khi nền kinh tế của đất nước đó đã trở thành nền kinh tế hiện đại. Việt Nam hiện nay đang bắt đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do đó nội dung của bài viết chỉ làm rõ phạm trù phát triển kinh tế bền vững đối với các quốc gia mới bắt đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    Lịch sử phát triển kinh tế thế giới trong hơn nửa thế kỷ trở lại đây, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, cho thấy không có nhiều quốc gia duy trì được mức tăng trưởng ổn định trong một khoảng thời gian dài. Theo Báo cáo tăng trưởng của Ủy Ban Phát Triển và Tăng trưởng thế giới thì chỉ có 13 quốc gia và vùng lãnh thổ đạt được mức tăng trưởng trung bình it nhất 7% trong vòng 25 năm đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Brunei, Brasil, Armenia, Chile, Malaysia, Đài Loan, Hồng kong, Ma cau và Malaysia, tăng trưởng kinh tế của các nước này trong một khoảng thời gian đủ dài để có thể nói là bền vững. Trong các quốc gia này, có 7 quốc gia đã vượt lên đạt mức thu nhập cao của các nước phát triển bao gồm Singapore, Nhật Bản, Brunei, Hàn Quốc, Macau và Đài Loan, trong khi các quốc gia còn lại hầu hết đều vướng vào bẫy thu nhập trung bình và vẫn chưa thực sự vượt lên. Đốivới 7 quốc gia đã vượt lên trở thành các nền kinh tế phát triển thì tăng trưởng kinh tế bình quân trong khoảng thời gian 20 năm đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đều đạt mức trung bình trên 8% mỗi năm.

    Sau khi phân tích và tổng hợp về chính sách và chiến lược phát triển của các quốc gia này, Báo cáo tăng trưởng đưa ra năm tiêu chí chung làm nên thành công về tăng trưởng đó là:

    Tôn trọng sự phân bổ thông tin và nguồn lực theo cơ chế thị trường: Cơ chế thị trường giúp đưa ra các tín hiệu giá cả, tạo nên các cơ chế kiến thiết và điều động các nguồn lực một cách hợp lý nhất mà không cần đến sự điều hành và quản lý thiếu hiệu quả của Nhà nước. Thành công của 7 quốc gia nói trên chính là xây dựng một cơ chế thị trường vững mạnh, mặc dù các chính sách thực hiện có khác nhau và Chính phủ vẫn can thiệp ở một mức nhất định giúp khám phá ra lợi thế so sánh của mình kết hợp các nguồn lực kinh tế một cách tốt nhất nhằm phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn.

    Có tầm nhìn định hướng cho tương lai rõ ràng đúng đắn: Đây là nhân tố xúc tác, giúp các quốc gia nói trên có thể duy trì được đà tăng trưởng của mình dựa vào lượng tiết kiệm và đầu tư cao của toàn bộ nền kinh tế. Khi toàn bộ các yếu tố khác tạo nên động lực tiềm năng cho sự tăng trưởng, thì vốn đầu tư sẽ là nhân tố quyết định để các tiềm năng này trở thành hiện thực. Hầu hết các quốc gia này đều được hưởng lợi rất nhiều từ các nguồn tiết kiệm nội địa, bao gồm tiết kiệm Chính phủ, tiết kiệm doanh nghiệp và tiết kiệm của các hộ gia đình, trong đó thành phần cuối cùng đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Để duy trì điều này, Chính phủ phải có một tầm nhìn đúng đắn nhằm khuyến khích và định hướng người dân từ bỏ một phần tiêu dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn, tin tưởng vào việc phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế sẽ mang lại cho họ một mức thu nhập vượt trội trong tương lai. Thống kê cho thấy rằng tỷ lệ tiết kiệm của các quốc gia Đông Á thuộc nhóm 7 nước có nền kinh tế phát triển, đều đã có sự gia tăng tiết kiệm của toàn bộ nền kinh tế lên đến gần 40% GDP. Mặt khác các quốc gia thành công đều sử dụng nợ vay để đầu tư một cách có hiệu quả, họ luôn ưu tiên phân bổ nguồn lực để tập trung phát triển kinh tế tư nhân, hạn chế đầu tư vào thành phần kinh tế Nhà Nước.

    Tích cực mở của và hội nhập kinh tế: là yếu tố quan trọng tạo điều kiện để các quốc gia có thể đẩy mạnh mức tăng trưởng của mình, nó giúp các quốc gia đi sau có thể nhập khẩu các ý tưởng, công nghệ và phương thức sản xuất mà các quốc gia công nghiệp đi trước phải mất hàng trăm năm mới có thể đạt được. Hội nhập kinh tế quốc tế còn giúp các quốc gia này tiếp cận với một thị trường tiêu thụ rộng lớn trên toàn thế giới. Hầu hết các quốc gia thành công đạt tăng trưởng bình quân trên 7% trong vòng 25 năm, ngoại trừ Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, đều có sản lượng tiềm năng khá nhỏ so với quy mô của thị trường thế giới, quy mô nhỏ giúp họ phát huy lợi thế nhờ chuyên môn hóa cao một cách dễ dàng nhằm gia tăng đáng kể năng suất và mở rộng sản xuất lên gấp nhiều lần so với việc đóng cửa nền kinh tế.

    Duy trì ổn định trong kinh tế vĩ mô: là nhân tố không thể xem nhẹ, nếu một quốc gia muốn tăng trưởng cao và bền vững trong một khoảng thời gian dài. Bất cứ dao động bất thường nào về giá cả, tỷ giá, lãi suất hay các chính sách vĩ mô đều có thể ảnh hưởng tiêu cực lên khu vực tư nhân, vốn luôn là thành phần tạo nên động lực phát triển trong một nền kinh tế thị trường. Theo Báo cáo tăng trưởng, các quốc gia thành công nói trên đều đã tạo điều kiện cho ngân hàng trung ương có không gian để thực hiện chính sách tiền tệ độc lập với các mục tiêu chính trị nhằm điều tiết lạm phát và không tổn hại đến tăng trưởng. Bên cạnh đó Chính phủ của các quốc gia này đã thực hiện kỷ luật tài khóa nghiêm ngặt tránh những rủi ro khủng hoảng có thể xảy ra cho nền kinh tế.

    Quản lý Nhà Nước hiệu quả: Sự điều hành và quản lý của một Chính phủ có năng lực, có trách nhiệm và đáng tin cậy đã góp phần tạo nên sự thành công của các quốc gia nói trên. Điều này được thể hiện trong chiến lược phát triển của các nhà hoạch định chính sách đối với nền kinh tế, không chỉ đơn thuần là tập trung vào công nghiệp hóa, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mà còn phải đi kèm với sự tiến bộ trong đời sống xã hội cũng như có những phương thức phân phối lại thu nhập cho người dân Aschauer Alan David (1990), Public Investment and Private Sector Growth; The Economic Benefits of Reducing America’s, Third Deficit.

    Union Européenne (2002), La politique budgétaire de l’Union européenne, Maison d’édition Largus.

    Vũ Minh Long (2014), Một số vấn đề của kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Phần Kinh Tế Là Gì? Những Nội Dung Liên Quan
  • Giáo Trình Môn Nguyên Lý Kế Toán
  • Quy Trình Ghi Sổ Kế Toán Một Nghiệp Vụ Kinh Tế Phát Sinh
  • Làm Sao Biết Xác Định Được 1 Nghiệp Vụ Kinh Tế Phát Sinh Xảy Ra Của Bộ Chứng Từ Đầu Vào Và Bộ Chứng Từ Đầu Ra Ảnh Hưởng Đến Những Tài Khoản Nào ?
  • Ví Dụ Bài Tập Và Bài Giải Về Kế Toán
  • Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Ở Thực Vật Có Hoa
  • Một Số Vấn Đề Cốt Yếu Về Xây Dựng Thể Chế Phát Triển Nhanh
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Và Gợi Mở Hai Mô Hình Chính Sách
  • Bài 2: Kinh Tế Phát Triển Nhanh Và Bền Vững
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Hiện Nay: Khái Niệm Và Tiêu Chí Đánh Giá
  • Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.

    Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế – IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”.

    Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” 1. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế – xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế – xã hội – môi trường.

    Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở thành mục tiêu thiên niên kỷ.

    Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Đây là định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam.

    Từ nội hàm khái niệm phát triển bền vững, rõ ràng là, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững cần giải quyết hàng loạt các vấn đề thuộc ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường.

    Thứ nhất, bền vững kinh tế. Mỗi nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau:

    – Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao. Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế.

    – Trường hợp có tăng trưởng GDP cao nhưng mức GDP bình quân đầu người thấp thì vẫn coi là chưa đạt yêu cầu phát triển bền vững.

    – Cơ cấu GDP cũng là vấn đề cần xem xét. Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững.

    – Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá.

    Thứ hai, bền vững về xã hội. Tính bền vững về phát triển xã hội ở mỗi quốc gia được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không cao quá và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.

    Thứ ba, bền vững về môi trường. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới,… đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.

    Khái niệm về phát triển bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chiến Lược Phát Triển Thị Trường
  • Phát Triển Thị Trường Của Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Phát Triển Thị Trường Mua Bán Nợ
  • Làm Kế Toán: Khái Niệm Về Phát Triển Thị Trường Tiền Tệ
  • Phát Triển Thị Trường Là Gì? Chiến Lược Phát Triển Thị Trường
  • Khái Niệm Phát Triển Đô Thị Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam: Tiêu Chí Đánh Giá Và Định Hướng Phát Triển
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Lý Thuyết Sinh Trưởng Và Phát Triển Ở Động Vật Sinh 11
  • Nêu Khái Niệm Về Biến Thái Và So Sánh Biến Thái Hoàn Toàn Và Không Hoàn Toàn
  • Khái Niệm Và Những Thách Thức Của Sự Phát Triển Bền Vững
  • Khái niệm về phát triển bền vững đầu tiên được đề cập vào năm1987 trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và phát triển của Ngân hàng Thế giới (Brundtland Commission 1987). Khái niệm này cho rằng sự phát triển phải thỏa mãn nhu cầu của con người không chỉ trong giai đoạn hiện tại mà còn cho cả tương lai, phải đáp ứng cả yêu cầu kinh tế lẫn bảo vệ môi trường. Năm 1991 Ngân hàng châu Á (ADB) xác định thêm nội dung của phát triển bền vững, nhấn mạnh thêm khả năng của thế hệ hiện tại đáp ứng cho các nhu cầu của các thế hệ tương lai. Kể từ đó một phương pháp phát triển mới được định hình và được chấp nhận rộng rãi.

    Như vậy phát triển bền vững có mục tiêu rõ ràng: thứ nhất, phát triển sản xuất phải đi đôi với vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thứ hai, phải chú trọng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, thế hệ ngày nay phải có trách nhiệm với các thế hệ sau trong việc để lại những di sản và tài nguyên có giá trị.

    Phương thức phát triển mới này được xây dựng với nội dung bao gồm ba vế phát triển kinh tế, phát triển môi trường và phát triển xã hội, là sự tổng hợp của các chỉ tiêu chủ yểu về kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa và nhất là hướng tới tương lai.

    Phát triển bền vững được áp dụng như thế nào trong bối cảnh phát triển đô thị?

    Dù cùng xuất phát từ khái niệm phát triển bền vững của Brundtland, nhiều nhà khoa học, dưới sự chi phối của lĩnh vực hoạt động của mình, đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển đô thị bền vững.

    Các nhà sinh thái đưa ra các tiêu chuẩn để phát triển đô thị bền vững như sau:

    · Phát triển nhà ở theo chiều cao để tiết kiệm nguyên, nhiên vật liệu và mặt bằng;

    · Bảo tồn địa hình địa mạo tự nhiên;

    · Tránh xây dựng thành phố trong thung lũng vì đất ở đấy phì nhiêu và dễ lở;

    · Bảo vệ và phát triển cây xanh đô thịi;

    · Khuyến khích tiết kiệm nước;

    · Hạn chế sử dụng phương tiện di chuyển có động cơ;

    · Tái sinh vật liệu phế thải.

    Các nhà ngân hàng chú trọng đến lĩnh vực tài chính. Theo họ, phát triển đô thị bền vững có 4 tiêu chí:

    · Đảm bảo và phát triển khả năng cạnh tranh của thành phố;

    · Đảm bảo cuộc sống của cư dân tốt hơn;

    · Nền tài chính lành mạnh ( nguồn thu, các chính sách tài chính, nguồn lực );

    · Quản lý đô thị tốt.

    Các nhà nghiên cứu và quản lý chú trọng đến đường lối:

    · Lấy chỉ tiêu HDI nêu ra những kinh nghiệm xây dựng đô thị theo yêu cầu phát triển bền vững dựa trên kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức như sau:

    · Đánh giá đô thị dựa trên chỉ tiêu chất lượng cuộc sống;

    · Phát triển đô thị gắn chặt với phân vùng;

    · Thành phần tham gia vào quy hoạch đô thị không chỉ có chính quyền, mà còn có người tiêu dùng, người dịch vụ, nhà doanh nghiệp và đại diện các tổ chức xã hội và tôn giáo;

    · Chức năng của đô thị có tính chất toàn diện về kinh tế, xã hội, văn hóa và quản lý, trong đó chức năng quản lý bao trùm, làm điều kiện thực hiện các chức năng khác Chỉ số HDI ( Human Development Index là chỉ số phát triển của con người. Chỉ số này được xác định trên 3 chỉ tiêu là tuổi thọ, tình trạng giáo dục và GDP điều chỉnh tính theo đầu người. Thống kê năm 1998 ở 174 nước biết HDI của 10 nước cao nhất là Canda, Nauy, Hoa Kỳ, Australia, Iceland, Thụy Điển, Bỉ, Hà Lan, Nhật Bản, Vương Quốc Anh. Việt Nam xếp thứ 108.

    [2] Giáo sư, Tiến sĩ, học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1997)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Đô Thị Bền Vững Ở Việt Nam: Khái Niệm Và Ứng Dụng
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Hiện Nay: Khái Niệm Và Tiêu Chí Đánh Giá
  • Bài 2: Kinh Tế Phát Triển Nhanh Và Bền Vững
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Và Gợi Mở Hai Mô Hình Chính Sách
  • Một Số Vấn Đề Cốt Yếu Về Xây Dựng Thể Chế Phát Triển Nhanh
  • Khái Niệm Chung Về Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Biển Đảo Cù Lao Chàm Tỉnh Quảng Nam
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm (Responsible Tourism) Là Gì? Nguyên Tắc Và Lợi Ích
  • Du Lịch Có Trách Nhiệm: Việc Không Của Riêng Ai (Bài 3)
  • Bài 1: Các Nguyên Tắc Du Lịch Có Trách Nhiệm
  • Để duy trì sự sống của bản thân và tiếp tục sự phát triển của nòi giống, ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ của lịch sử nhân loại, con người đã có những hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến thành những vật phẩm cần thiết cho mình, hoặc để cải thiện những điều kiện thiên nhiên, tạo nên môi trường sống thích hợp với mình. Trong lúc tiến hành những hoạt động đó, con người ít nhiều đã biết rằng mọi can thiệp vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường luôn luôn có hai mặt lợi, hại khác nhau đối với cuộc sống trước mắt và lâu dài của con người. Một số kiến thức và biện pháp thiết thực để ngăn ngừa những tác động thái quá đối với môi trường đã được đúc kết và truyền đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác dưới dạng những tín ngưỡng và phong tục.

    Trong các xã hội công nghiệp, với sự phát hiện những nguồn năng lượng mới, vật liệu mới và kỹ thuật sản xuất tiến bộ hơn nhiều, con người đã tác động mạnh mẽ vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường, can thiệp một cách trực tiếp và

    nhiều khi thô bạo vào các hệ thiên nhiên. Để “chế ngự” thiên nhiên, con người nhiều khi đã tạo nên những mâu thuẫn sâu sắc giữa mục tiêu phát triển của xã hội loài người với các quá trình diễn biến của tự nhiên. Để đạt tới những năng suất cao trong sản xuất nông nghiệp, con người đã chuyển đổi các dòng năng lượng tự nhiên, cắt nối các mắt xích thức ăn vốn có của thiên nhiên, đơn điệu hoá các hệ sinh thái, sử dụng năng lượng bổ sung to lớn để duy trì những cân bằng nhân tạo mong manh.

    Đặc biệt là trong nửa cuối thế kỷ 20, sau những năm hồi phục hậu quả của thế chiến lần thứ hai, hàng loạt nước tư bản chủ nghĩa cũng như xã hội chủ nghĩa tiếp tục đi sâu vào công nghiệp hoá, nhiều nước mới được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũng có điều kiện phát triển mạnh mẽ nền kinh tế của mình. Một số nhân tố mới như cách mạng khoa học và kỹ thuật, sự bùng nổ dân số, sự phân hoá các quốc gia về thu nhập đã tạo nên nhiều nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên và can thiệp vào môi trường. Trật tự bất hợp lý về kinh tế thếgiới đã tạo nên hai loại ô nhiễm: “ô nhiễm do thừa thãi” tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và: “ô nhiễm do đói nghèo” tại các nước chậm phát triển về kinh tế.

    Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển. Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể ngừng tiến hoá và ngừng sự phát triển của mình. Đó là qui luật của sự sống, của tạo hoá mà vạn vật

    đều phải tuân theo một cách tự giác hay không tự giác. Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Phát triển đương nhiên sẽ biến đổi môi trường, nhưng làm sao cho môi trường vẫn làm đầy đủ các chức năng: đảm bảo không gian sống với chất lượng tốt cho con người, cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần thiết, tái xử lý các phế thải của hoạt động của con người, giảm nhẹ tác động bất lợi của thiên tai, duy trì các giá trị lịch sử văn hoá, khoa học của loài người. Hay nói một cách khác đó là: phát triển bền vững (PTBV).

    Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Phát triển bền vững là một phương hướng phát triển được các quốc gia trên thế giới ngày nay hướng tới, đó là niềm hy vọng lớn của toàn thể loài người.

    PTBV có đặc điểm: 1- Sử dụng đúng cách nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm tổn hại hệ sinh thái và môi trường; 2- Tạo ra các nguồn vật liệu và năng lượng mới; 3- ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ phù hợp với hoàn cảnh địa phương; 4- Tăng sản lượng lương thực, thực phẩm; 5- Cấu trúc và tổ chức lại các vùng sinh thái nhân văn để phong cách và chất lượng cuộc sống của ngươì dân đều thay đổi theo hướng tích cực

    Với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước cũng như của các ngành, các địa phương đều nhằm duy trì một tốc độ tăng trưởng hàng năm của GDP ở mức độ cao khoảng 8-10%/năm và trong một thời gian dài sẽ tăng áp lực lên môi trường tự nhiên và xã hội. Nếu trình độ công nghệ của sản xuất và cơ cấu sản xuất của nền kinh tế không được cải thiện hoặc tốc độ đổi mới công nghệ không theo kịp tốc độ phát triển kinh tế thì sự tăng trưởng GDP ở mức cao cũng đồng nghĩa với việc tăng khối lượng tài nguyên khai thác cho sản xuất và tăng lượng chất thải vào môi trường. Sự suy giảm về môi trường sẽ xẩy ra khi năng lực tải của môi trường bị sự tăng trưởng kinh tế vi phạm (Vụ Khoa học Giáo dục Môi trường 2002). Khi các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế không đưa yêu cầu bảo vệ môi trường vào ngay trong quá trình soạn thảo và áp dụng thì sự tăng trưởng kinh tế sẽ là nguy cơ gây suy giảm môi trường. Hơn nữa, với định hướng cơ cấu các ngành sản xuất sẽ chuyển dịch theo hướng tăng nhanh của tỉ lệ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ (thường được xác định khoảng 12-15%/năm), so với sản xuất nông nghiệp (khoảng 4-6%/năm), các vấn đề về môi trường dự kiến sẽ gia tăng. Ngoài ra, định hướng phát triển của nền công nghiệp Viêt Nam hiện đang dựa vào các ngành khai thác, sơ chế tài nguyên như công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí, điện năng, chế biến nông-lâm-hải sản. Do đó, công nghiệp Việt Nam phát triển với tốc độ càng cao thì khả năng gây ô nhiễm môi trường càng lớn. Về mặt xã hội, sự gia tăng dân số với nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm, nhu cầu lương thực, nhu cầu được đảm bảo về việc làm, vui chơi, giải trí v.v. cũng tạo áp lực lên sự phát triển kinh tế và làm gia tăng suy thoái môi trường.

    Khái niệm chung về phát triển bền vững

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Chữa Bệnh Tại Việt Nam: Đánh Thức Tiềm Năng
  • Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Du Lịch Năm 2022
  • Bàn Về Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững Của Ngành Du Lịch Việt Nam
  • Giới Thiệu Luật Du Lịch 2022
  • 3 Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Mục Tiêu Phát Triển Bền Vững
  • Mục Tiêu Cơ Bản Và Các Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững Trong Du Lịch
  • Khái Niệm Và Những Tiêu Chí Của Phát Triển Bền Vững
  • Csrd: Trung Tâm Phát Triển Nông Thôn Bền Vững
  • Isrd: Tích Hợp Phát Triển Nông Thôn Bền Vững
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững, 3 Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững, Khái Niệm Phát Triển, Khái Niệm Về Kế Hoạch Phát Triển Bản Thân, Khái Niệm Phát Triển ở Thực Vật, Khái Niệm Sinh Trưởng Và Phát Triển ở Thực Vật, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Xây Dựng Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Đối Với Sự Phát Triển Bền Vững Đất Nước, Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Viên Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Vùng Có Đạo Thuận Lợi Khó Khăn V, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển, Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững, Khái Niệm 5 Vùng Biển, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Năm 1982, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Quốc Gia, Phát Triển Bền Vững ở Hà Nam, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Bền Vững, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững Là Gì, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Thể Thao Huyện Núi Thành, Báo Cáo Sơ Kết Việc Triển Khai Thực Hiện Quy Hoạch Phát Triển Ngành Văn Hóa, Đề án Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững, Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Đề án Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Kế Hoạch Phát Triển Vùng Cây ăn Quả, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững Nestle, Lý Luận Phát Triển Bền Vững, Bộ Tiêu Chí Phát Triển Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Bền Vững, Đề Thi Môn Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Sân Golf Bền Vững, Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Phát Triển Bền Vững, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Tdtt Huyện Núi Thành Giai Đoạn 2022 – 2022, Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững, Đề Cương ôn Tập Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Phát Triển Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Kế Hoạch Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững, Luận án Tiến Sĩ Về Phát Triển Bền Vững, Tài Chính Cho Phát Triển Bền Vững ở Việt Nam, Kế Hoạch Phát Triển Bền Vững Của Unilever, Đề án Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Vùng Dân Tộc Thiểu Số, Học Thuyết Về Vùng Phát Triển Gần Nhất, Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Chính Sách Phát Triển Bền Vững Nestle, Phân Tích 9 Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Năng Lực Phát Triển Bền Vững, Quan Niệm Phát Triển, Tiêu Chí Đánh Giá Năng Lực Phát Triển Bền Vững Của Học Sinh, Phát Triển Bền Vững Ngành Thủy Sản Tại Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa, Dự Thảo Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Doanh Nghiệp Phát Triển Bền Vững, Kỷ Yếu Hội Thảo Nghiên Cứu Và Phát Triển Nông Nghiệp Vùng Tây Bắc, Nghèo Đa Chiều Và Phát Triển Con Người ở Các Tỉnh Vùng Tây Bắc, Khái Niệm Chương Trình Giáo Dục, Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Của Cơ Sở Gdmn., Đánh Giá Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Bền Vững Vịnh Bái Tử Long, Tài Chính Xanh Cho Tăng Trưởng Và Phát Triển Bền Vững Tại Việt Nam, Du Lịch Sinh Thái Nông Nghiệp Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Du Lịch Theo Hướng Bền Vững Tại Tỉnh Nam Định, Chính Sách Phát Triển Nguồn Nhân Lực Trẻ Vùng Tây Bắc Việt Nam, Đánh Giá Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Trong Phát Triển Bền Vững Của Học Sinh, Chính Sách Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Vùng Biên Giới Tây Bắc Việt Nam, Tổ Chức Lãnh Thổ Du Lịch An Giang Theo Hướng Phát Triển Bền Vững, Khái Niệm Lạm Phát, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Về Phát Triển, Hãy Phân Tích Khả Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Chăn Nuôi Gia Súc Lớn Của Vùng, Hãy Phân Tích Khả Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Nghề Cá Của Vùng Duyên Hải Na, Tham Luận Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Giảm Nghèo Bền Vững, Thực Trạng Việc Triển Khai Các Dự án Cộng Đồng Nhằm Giảm Nghèo Bền Vững Tại, Hiện Trạng Phát Triển Và Phân Bố Nông Nghiệp Vùng Duyên Hải Miền Trung., Hãy Phân Tích Khả Năng Và Hiện Trạng Phát Triển Cây Công Nghiệp Và Cây Đặc Sản Trong Vùng, Khái Niệm Chương Trình Giáo Dình Giáo Dục ,phát Triển Chương Trình Giáo Dục Của Cơ Sở Mầm Non, Hãy Giải Thích Xu Hướng Sự Phát Triển Theo Quan Niệm Chủ Nghĩa Mác-lênin, To Khai Tien Bao Ve Phat Trien Trong Lua, Khái Niệm Người Chấp Hành Xong Hình Phạt Tù, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Mà Quốc Gia Ven Biển, Đề án Phát Triển Du Lịch Biển Đảo Và Vùng Ven Biển Việt Nam Đến Năm 2022, Khái Quát Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Kinh Tế Chính Trị Mác Lênin, Bài Tham Luân Công Tác Phát Triển Kinh Tế, Hướng Phát Triển Cầy Trồng Vật Nuồi Đem Lị Hiệu Quả, Năn, Bài Tham Luân Công Tác Phát Triển Kinh Tế, Hướng Phát Triển Cầy Trồng Vật Nuồi Đem Lị Hiệu Quả, Năn, Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo, Khoa Học Và Công Nghệ Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt, Phát Triển Giáo Dục Và Đào Tạo, Khoa Học Và Công Nghệ Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt, + Gvmn 7: Phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Modulle Mn 7 “phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phươ, Gvmn 7 Phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Modulle Mn 7 “phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phươ, Đặc Điểm Phát Triển Thể Chất – Những Mục Tiêu Và Kết Quả Mong Đợi ở Trẻ Mầm Non Về Phát Triển Thể Ch, Chuyên Đề Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hop Voi Su Phat Trien Cua Trẻ Em Và Bối Cảnh , Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hợp Với Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Module Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa, Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Của Cơ Sở Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa, Hướng Dẫn Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Của Cơ Sở Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bố, Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Đặc Điểm Phát Triển Thể Chất – Những Mục Tiêu Và Kết Quả Mong Đợi ở Trẻ Mầm Non Về Phát Triển Thể Ch, Mn7 Phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương, Chuyên Đề Phát Triển Chương Trình Giáo Dục Mầm Non Phù Hop Voi Su Phat Trien Cua Trẻ Em Và Bối Cảnh, : Phát Triển Chương Trình Gdmn Phù Hợp Với Sự Phát Triển Của Trẻ Em Và Bối Cảnh Địa Phương,

    Khái Niệm Phát Triển Bền Vững, 3 Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững, Khái Niệm Phát Triển, Khái Niệm Về Kế Hoạch Phát Triển Bản Thân, Khái Niệm Phát Triển ở Thực Vật, Khái Niệm Sinh Trưởng Và Phát Triển ở Thực Vật, Bai Phan Tich Noi Dung Khai Niem Va Su Van Dong, Phat Trien Cua Cac Hinh Thai Kinh Te Xa Hoi, Xây Dựng Phát Triển Văn Hóa Và Con Người Đối Với Sự Phát Triển Bền Vững Đất Nước, Công Tác Tạo Nguồn Phát Triển Đảng Viên Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Vùng Có Đạo Thuận Lợi Khó Khăn V, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển, Các Khái Niệm Về Du Lịch Bền Vững, Khái Niệm 5 Vùng Biển, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Năm 1982, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Quốc Gia, Phát Triển Bền Vững ở Hà Nam, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Bền Vững, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững Là Gì, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Thể Thao Huyện Núi Thành, Báo Cáo Sơ Kết Việc Triển Khai Thực Hiện Quy Hoạch Phát Triển Ngành Văn Hóa, Đề án Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững, Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Đề án Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Kế Hoạch Phát Triển Vùng Cây ăn Quả, Báo Cáo Phát Triển Bền Vững Nestle, Lý Luận Phát Triển Bền Vững, Bộ Tiêu Chí Phát Triển Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Bền Vững, Đề Thi Môn Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Phát Triển Sân Golf Bền Vững, Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Phát Triển Bền Vững, Báo Cáo Kết Quả Triển Khai Thực Hiện Đề án Phát Triển Tdtt Huyện Núi Thành Giai Đoạn 2022 – 2022, Phát Triển Du Lịch Biển Bền Vững, Đề Cương ôn Tập Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Phát Triển Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Kế Hoạch Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững, Luận án Tiến Sĩ Về Phát Triển Bền Vững, Tài Chính Cho Phát Triển Bền Vững ở Việt Nam, Kế Hoạch Phát Triển Bền Vững Của Unilever, Đề án Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Vùng Dân Tộc Thiểu Số, Học Thuyết Về Vùng Phát Triển Gần Nhất, Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững, Luận Văn Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Phát Triển Du Lịch Bền Vững, Chính Sách Phát Triển Bền Vững Nestle, Phân Tích 9 Nguyên Tắc Phát Triển Bền Vững, Tiêu Chí Đánh Giá Năng Lực Phát Triển Bền Vững,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Xe Quá Tải Trọng Của Đường Bộ Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • 450 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Hạng B, C
  • Luận Văn Tìm Hiểu Sự Hình Thành Và Phát Triển Khái Niệm Xã Hội Hoá Trong Xã Hội Học Ở Việt Nam
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Hoạt Động Xuất Khẩu
  • Nội Dung Hoạt Động Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu
  • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững
  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • “Phát triển bền vững” là một khái niệm rất mới, nó phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của nhân loại. Các tổ chức nghiên cứu kinh tế, môi trường khác nhau cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về phát triển bền vững. Năm 1987, Uỷ ban thế giới về Môi trường và Phát triển đã công bố báo cáo: Tương lai chung của chúng ta. Báo cáo này đã đề cập và phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển. Trong đó “phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của những thế hệ tương lai”.

    Như vậy, phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Tiêu chí căn bản để đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Quan điểm này được tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng: “Phát triển nhanh đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn. Tăng trưởng về số lượng phải đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế … Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người. Thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội… Phải rất coi trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển”,

    Khái niệm phát triển du lịch bền vững

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Bài 2: Kinh Tế Phát Triển Nhanh Và Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Hiện Nay: Khái Niệm Và Tiêu Chí Đánh Giá
  • Phát Triển Đô Thị Bền Vững Ở Việt Nam: Khái Niệm Và Ứng Dụng
  • Khái Niệm Phát Triển Đô Thị Bền Vững
  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam: Tiêu Chí Đánh Giá Và Định Hướng Phát Triển
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Có lẽ chưa bao giờ mỗi người Việt Nam chúng ta lại cảm nhận được thế nước đang lên cao như thời điểm này. Mặc dù hơn hai năm vừa qua, tình hình thế giới và bản thân các vấn đề nội tại của nền kinh tế nước ta không hoàn toàn thuận lợi, nhưng với định hướng chiến lược đúng, tư duy đúng, hành động kịp thời, quyết liệt, linh hoạt, nền kinh tế của Việt Nam không chỉ tăng tốc ngoạn mục, trở thành một trong những trung tâm thu hút đầu tư của thế giới mà chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường.

    Yêu cầu kép và những con số “biết nói”

    Nhìn lại Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, chúng ta có thể thấy rõ những định hướng rất sâu sắc trong mục tiêu tổng quát, đó là: “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân…”.

    Có thể thấy rằng, những định hướng ấy là căn cứ rất quan trọng, tạo hành lang phát triển cho đất nước. Trong đó, cụm từ “phát triển kinh tế nhanh, bền vững” cho thấy tầm nhìn xa nhưng rất thực tế của Đảng trong lãnh đạo, định hướng phát triển kinh tế – xã hội. Trước đây, người ta vẫn lo ngại rằng, yêu cầu “phát triển nhanh” không thể song hành cùng yêu cầu “phát triển bền vững”. Nhìn ra nền kinh tế của thế giới, nhiều người càng khẳng định lo ngại này là có cơ cở. Một số nước vì muốn thúc đẩy phát triển nhanh nền kinh tế mà sẵn sàng hạ thấp yêu cầu về bảo vệ môi trường, rồi việc phát triển nóng lại dựa vào khai thác cạn kiệt tài nguyên thô, dẫn tới hậu quả là ô nhiễm nghiêm trọng và mất vốn liếng tài nguyên, của để dành cho thế hệ tương lai. Cùng với đó, việc phát triển kinh tế ở một số nước chỉ tập trung nơi thành thị; của cải xã hội làm ra được tập trung vào một số tầng lớp dân cư, còn lại người dân ở vùng sâu, vùng xa thì vẫn chìm trong nghèo nàn, lạc hậu. Như vậy, phát triển kinh tế càng nhanh mà không đồng đều, không toàn diện, sẽ tạo ra chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội càng nhiều, thậm chí phá vỡ rất nhanh các cấu trúc văn hóa, lối sống trong xã hội, tạo ra những lệch lạc và bất ổn trong xã hội. Điều này thì không chỉ là nguy cơ đối với các nước đang phát triển mà cả những nước phát triển hàng đầu thế giới cũng phải đối mặt.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh: TTXVN.

    Dù nhiều khó khăn, Đảng ta vẫn quyết tâm đề ra định hướng chiến lược phát triển kinh tế đất nước nhanh và bền vững. Kết quả thời gian qua chứng minh rằng, định hướng chiến lược này là hoàn toàn đúng đắn. Đó là vì một nước đang phát triển và dân số khá đông như Việt Nam, lại trong môi trường cạnh tranh kinh tế quốc tế hiện nay, nếu không duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 6% trở lên thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong bảo đảm các cân đối vĩ mô và an sinh xã hội. Thực tế, trong thời gian qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nhanh dần đều qua các năm: Năm 2022 là 6,21%; năm 2022 đạt 6,81% và đặc biệt năm 2022 lên tới 7,08% (là mức tăng cao nhất trong 10 năm qua). Theo dự báo của các tổ chức quốc tế, kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục đà tăng trưởng cao trong năm 2022 và các năm tiếp theo.

    Cùng với đó, nền kinh tế đã phát triển theo xu hướng bảo đảm các yếu tố bền vững. Điều này thể hiện qua mấy điểm sau: Thứ nhất, kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng vẫn bảo đảm được cân đối, ổn định kinh tế vĩ mô. Cụ thể như năm 2022, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,08%, thế nhưng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vẫn được kiềm giữ ở mức tăng 3,54% (vượt chỉ tiêu Quốc hội giao là giữ ở mức tăng khoảng 4%). Động lực tăng trưởng trong những năm trước đây dựa nhiều vào xuất khẩu khoáng sản thô và tăng trưởng tín dụng thì trong mấy năm qua, động lực tăng trưởng đã chuyển sang ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 12,98%). Trong khi đó, ngành khai khoáng lại giảm 3,11%. Tăng trưởng tín dụng được giữ ở mức hợp lý là 13,3% (tăng trưởng tín dụng năm 2010 lên tới 27,65%), bảo đảm an toàn, cung cấp đủ vốn vay cho nền kinh tế. Việc cho vay không dàn trải, không cho vay vào các lĩnh vực rủi ro mà tập trung vào các ngành ưu tiên, như: Công nghiệp chế biến, chế tạo; nông nghiệp công nghệ cao; các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu. Lãi suất cho vay đồng Việt Nam cũng ở mức vừa phải, trong sức chịu đựng của doanh nghiệp, phổ biến khoảng 6% – 9%/năm đối với ngắn hạn và 9% – 11%/năm đối với trung và dài hạn (trong khi đó lãi suất cho vay VND bình quân năm 2011 là khoảng 18,3%/năm).

    Thứ hai, chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện: Năm 2022, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 43,50%, bình quân 3 năm 2022 – 2022 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011 – 2022. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2022 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD/lao động, tăng 346USD so với năm 2022); năng suất lao động năm 2022 tăng 5,93% so với năm 2022, cao hơn nhiều mức tăng 5,29% của năm 2022 và xấp xỉ mức tăng 6,02% của năm 2022 do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm năm 2022 tăng cao.

    Tình hình tài chính quốc gia trong năm 2022 dần được cân đối. Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm ngày 15-12-2018 ước tính đạt 1.272,5 nghìn tỷ đồng; trong khi đó tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm ngày 15-12-2018 ước tính đạt 1.272,1 nghìn tỷ đồng. Như thế là số thu đã lớn hơn số chi. Nền kinh tế Việt Nam đang dần trở thành nền kinh tế xuất siêu, thặng dư thương mại, với mức suất siêu cả năm 2022 là 7,21 tỷ USD.

    Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã yêu cầu việc phát triển kinh tế phải song hành với vấn đề bảo vệ môi trường. Trong tất cả các dự án phát triển kinh tế đều phải đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào và thực hiện nghiêm túc. Ví như, khi xảy ra sự cố môi trường biển miền Trung, Chính phủ đã yêu cầu nhà đầu tư bồi thường cho người dân bị ảnh hưởng, cải tạo môi trường và có giải pháp để không tái phạm.

    Thứ ba, đời sống nhân dân nhìn chung ngày càng được cải thiện. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2022, thu nhập bình quân một người/tháng ước tính đạt 3,76 triệu đồng (tăng 660.000 đồng so với năm 2022), bình quân giai đoạn 2022 – 2022 tăng 10,2%/năm. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), hiện nay, 70% người dân Việt Nam được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2022 ước tính 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2022. Mặc dù trong mấy năm gần đây, thiên tai ngày càng khắc nghiệt, nhưng tình trạng thiếu đói trong nông dân ở vùng sâu, vùng xa vào vụ giáp hạt giảm mạnh, năm 2022 giảm 42,1% so với năm trước.

    Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo năm 2022 là 4.977 tỷ đồng, bao gồm 2.792 tỷ đồng quà thăm hỏi, hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.487 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 698 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có gần 23,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước. Việc đầu tư hạ tầng cho nông thôn, vùng sâu, vùng xa được quan tâm, tổ chức thực hiện, như: Các chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình 135, Chương trình 30a… Hiện, 99,98% số xã và 98,8% số hộ nông dân có điện. Những công nghệ hiện đại, như mạng viễn thông 4G cũng được phủ sóng đến tận vùng sâu, vùng xa.

    Nguyên nhân của thành công và những vấn đề đang đặt ra

    Chúng ta có thể chỉ ra mấy nguyên nhân cơ bản dẫn tới những thành tựu phát triển kinh tế thời gian qua: Điều rõ nhất là do những chủ trương, chiến lược đúng đắn của Đảng. Ngoài tầm nhìn của Đảng đã thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XII thì thời gian qua Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có rất nhiều nghị quyết về phát triển kinh tế, trong đó cốt lõi là 3 nghị quyết: Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN); Nghị quyết số 11-NQ/TW về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). 3 nghị quyết này là tiền đề cho những dịch chuyển về chính sách, hoàn thiện về thể chế cho việc phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, thu hút mạnh vốn đầu tư của xã hội. Nhờ vậy, năm 2022, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 1.856,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm trước và bằng 33,5% GDP.

    Bên cạnh đó là tư duy quản lý mới và sự điều hành quyết liệt, liêm chính, kiến tạo của Chính phủ; sự giám sát hiệu quả của Quốc hội. Trong hơn hai năm qua, có thể thấy rõ những nỗ lực của Chính phủ trong việc điều hành hiệu quả nền kinh tế. Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đều nỗ lực cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử, gỡ bỏ 50% điều kiện kinh doanh, loại bỏ bớt các thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu. Nhờ đó, môi trường kinh doanh của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể, năm 2022 xếp hạng thứ 69/190 nền kinh tế, đứng thứ 4 khu vực ASEAN. Đáng chú ý là tư duy quản lý của Chính phủ ngày càng đổi mới. Điều này thể hiện qua Diễn đàn Kinh tế Việt Nam năm 2022 vừa qua khi Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng: “Cái gì mới, chưa biết quản lý thế nào thì cứ cho phát triển trong một khoảng thời gian, một không gian nhất định để nó tự bộc lộ tất cả ưu điểm, khuyết điểm”. Tư duy quản lý này rất phù hợp với thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ mà các quy định quản lý chưa định nghĩa được, chưa theo kịp.

    Nhìn thấy những điểm sáng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tuy nhiên, chúng ta cũng cần thẳng thắn chỉ ra những vấn đề tồn tại của nền kinh tế Việt Nam để tiếp tục nghiên cứu, tìm giải pháp tháo gỡ. Trước hết, về cơ cấu tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm qua đã thay đổi theo chiều hướng tích cực nhưng vẫn chưa thay đổi căn bản. Mặc dù đã có sự dịch chuyển cơ cấu tăng trưởng theo ngành, từ khai thác tài nguyên chuyển sang phát triển công nghiệp chế tạo, dịch vụ, song như vậy vẫn chưa đủ. Chất lượng tăng trưởng còn thấp và chưa thực sự ổn định, bền vững.

    Doanh nghiệp Việt Nam, về tổng thể hiện nay năng lực còn nhiều hạn chế, sức cạnh tranh yếu, kể cả DNNN lẫn doanh nghiệp tư nhân. Đóng góp của khu vực DNNN chiếm 27 – 28% GDP, khu vực kinh tế hộ gia đình có quy mô rất nhỏ nhưng lại là khu vực sản xuất chiếm nhiều GDP nhất, khoảng 32% GDP. Khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp 18% GDP, còn khu vực doanh nghiệp tư nhân mới chỉ 8% GDP. Điều này cho thấy khối doanh nghiệp tư nhân còn đóng góp quá ít so với tiềm năng và kỳ vọng. Cùng với đó, khối doanh nghiệp tư nhân vẫn còn mang xu hướng đầu cơ, lệ thuộc, ít cạnh tranh, tinh thần doanh nghiệp nhìn chung còn yếu.

    Bên cạnh đó, bộ máy hành chính hiện vẫn còn cồng kềnh, mang nặng cơ chế xin cho. Ngân sách hiện nay dành cho trả lương, trả nợ chiếm phần lớn nên phần dành cho đầu tư công rất ít so với yêu cầu. Ngân sách vốn đã yếu lại phải nuôi bộ máy khổng lồ. Hiện, Việt Nam có gần 3 triệu công chức, viên chức đang làm việc và hưởng lương ngân sách trong bộ máy Nhà nước, tương đương tỷ lệ 30,5 công chức/1.000 dân. Con số này quá cao so với các nước trong khu vực như Indonesia là 17,64 công chức/1.000 dân; Philippines 13,03 công chức/1000 dân và Singapore là 25,69 công chức/1.000 dân. Cùng với đó, tổng số người hưởng lương và mang tính chất lương từ ngân sách hiện lên tới 7 triệu người. Do đó, cần phải thực hiện tốt Nghị quyết số 18-NQ/TW “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

    Vấn đề khác là chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp, môi trường cạnh tranh không cao, Việt Nam cần nỗ lực chuẩn bị nhân lực phát triển các ngành công nghệ cao. Theo một số chuyên gia, giải pháp cho vấn đề này là phải thúc đẩy xu thế khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất kinh doanh và thay đổi phần gốc là cấu trúc nền kinh tế. Theo đó, chú trọng đầu tư vào khối kinh tế tư nhân, lấy kinh tế tư nhân là nền tảng để phát triển lực lượng doanh nghiệp Việt Nam có trình độ cao.

    Theo Báo Quân đội nhân dân

    Tâm Trang (st)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Bền Vững Ở Việt Nam Và Gợi Mở Hai Mô Hình Chính Sách
  • Một Số Vấn Đề Cốt Yếu Về Xây Dựng Thể Chế Phát Triển Nhanh
  • Phát Triển Ở Thực Vật Có Hoa
  • Khái Niệm Về Phát Triển Bền Vững
  • Chiến Lược Phát Triển Thị Trường
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100