Khái Niệm Khu Công Nghiệp, Vai Trò Và Mục Tiêu Phát Triển

--- Bài mới hơn ---

  • Gỗ Công Nghiệp Laminate Là Gì?
  • Sản Phẩm Lọc Hóa Dầu Là Gì?
  • Hướng Dẫn Cách Lọc Dầu Thủy Lực Cho Máy Móc Cơ Giới
  • Vai Trò Của Công Nghệ Lưỡng Dụng Trong Phát Triển Công Nghiệp Quốc Phòng
  • Công Nghệ Lưỡng Dụng: Hướng Đi Nào Cho Việt Nam?
  • 1. Khái niệm khu công nghiệp là gì

    Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được quy hoạch tại những vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, trong đó, tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập .

    Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh (trừ trường hợp có quy định riêng cho từng loại ban quản lý) là cơ quan quản lý trực tiếp các khu công nghiệp, khu chế xuất trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ban quản lý trên địa bàn liên tỉnh hoặc Ban quản lý một khu công nghiệp (trường hợp cá biệt) hoặc Ban quản lý khu công nghệ cao do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.

    Doanh nghiệp khu công nghiệp có nghĩa vụ:

    Nghị quyết TW (khóa VIII) của Đảng có ghi: “Phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất, nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có điều kiện”. Đó là những định hướng rất quan trọng cho việc xây dựng, phát triển và mở rộng các khu công nghiệp ở nước ta trong tình hình hiện nay.

    Khu công nghiệp là công cụ của chính sách công nghiệp nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, đồng thời cũng là địa bàn để thực hiện chiến lược CNH, HĐH trên phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Khu công nghiệp đối với nước ta còn là vấn đề mới mẻ, nhưng qua mấy năm xây dựng và phát triển, nó trở thành nhân tố rất quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu CNH, HĐH.

    2. Phân loại các khu công nghiệp

    Phân loại các khu công nghiệp có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau

    Căn cứ vào mục đích sản xuất

    Người ta chia ra khu công nghiệp và khu chế xuất. Khu công nghiệp bao gồm các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Khu chế xuất là một dạng của khu công nghiệp chuyên làm hàng xuất khẩu.

    Theo tình trạng cho thuê

    Có thể chia số khu công nghiệp thành ba nhóm có diện tích cho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100%.(Các tiêu thức 3 và 4 chỉ là tạm thời: khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ tất cả các công trình và cho thuê hết diện tích thì 2 tiêu thức đó không cần sử dụng nữa).

    Theo quy mô, hình thành 3 loại khu công nghiệp: lớn, vừa và nhỏ

    Các chỉ tiêu phân bổ quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư, tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng. Các khu công nghiệp lớn được thành lập phải có quyết định của Thủ tướng chính phủ. Các khu công nghiệp vừa và nhỏ thuộc quyền quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố. Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ để sớm khai thác có hiệu quả.

    Theo trình độ kỹ thuật

    • Các khu công nghiệp bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều.
    • Các khu công nghiệp cao, kỹ thuật hiện đại thuộc ngành công nghiệp mũi nhọn như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học v.v… làm đầu tàu cho sự phát triển công nghiệp, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội dài hạn.

    Theo chủ đầu tư, có thể chia thành 3 nhóm Theo tính chất của thực thể kinh tế xã hội, cần phân biêt 2 loại

    • Các khu công nghiệp thuần túy chỉ xây dựng các xí nghiệp sản xuất, chế biến sản phẩm, không có khu vực dân cư.
    • Các khu công nghiệp này dần dần sẽ trở thành thị trấn, thị xã hay thành phố vệ tinh. Đó là sự phát triển toàn diện của các khu công nghiệp.

    Theo lãnh thổ địa lý

    Phân chia các khu công nghiệp theo ba miền Bắc, Trung, Nam, theo các vùng kinh tế xã hội (hoặc theo các vùng kinh tế trọng điểm); và theo các tỉnh thành để phục vụ cho việc khai thác thế mạnh của mỗi vùng, làm cho kinh tế xã hội của các vùng phát triển tương đối đồng đều, góp phần bảo đảm nền kinh tế quốc dân phát triển bền vững.

    Quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng trong thế kỷ 21 sẽ đặt ra những yêu cầu mới, nhân vật mới, tạo ra những đặc trưng mới cho bộ măt các khu công nghiệp.

    3. Vai trò và mục tiêu phát triển của các khu công nghiệp

    Vai trò của các khu công nghiệp

    • Thu hút vốn đầu tư công nghiệp.
    • Sử dụng có hiệu quả tài nguyên.
    • Hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn.
    • Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

    Mục tiêu phát triển của các khu công nghiệp

    Theo quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2022 và định hướng đến năm 2022, Mục tiêu phát triển các khu công nghiệp tại Việt Nam đến năm 2022 và định hướng đến năm 2022 là hình thành hệ thống các khu công nghiệp chủ đạo.

    Các khu công nghiệp này có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia đ ồng thời hình thành các khu công nghiệp có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp. Đưa tỷ lệ đóng góp của các khu công nghiệp vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ trên 24% hiện nay lên khoảng 39 – 40% vào năm 2010 và tới trên 60% vào giai đoạn tiếp theo. Tăng tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp của các khu công nghiệp từ 19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc hiện nay lên khoảng 40% vào năm 2010 và cao hơn vào các giai đoạn tiếp theo.

    4 . Đặc điểm của các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

    4.1. Khu công nghiệp Sài Đồng A

    Số giấy phép: 1595 / GP, ngày ban hành: 17/6/1996. Cơ quan ban hành: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Hình thức đầu tư: liên doanh với đối tác nước ngoài, đối tác Việt Nam: công ty Điện tử Hà Nội (Hanel) và đối tác nước ngoài: Tổng công ty DAEWOO – Hàn Quốc. Trụ sở chính Tầng 9 Trung tâm thương mại DAEHA 360 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 8 315 173 – 8 315 174, Fax: 8 315 175

    Diện tích đất: 407 ha và khu công nghiệp: 147ha. Khu nhà ở và kinh doanh: 105ha, công viên cây xanh và khu vực công cộng: 105ha.

    Lĩnh vực đầu tư các dự án trong KCN: Công nghiệp cơ khí, công nghiệp Điện tử Công nghiệp ô tô, công nghiệp chính xác, công nghiệp nhẹ và công nghiệp công nghệ cao.

    Địa điểm: Khu vực Sài Đồng. Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Thời lượng: 50 năm

    4.2. Khu công nghiệp Sài Đồng B

    Cơ quan ban hành: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hình thức đầu tư: liên doanh. Đối tác Việt Nam là ông ty Điện tử Hà Nội (Hanel) và phía đối tác nước ngoài là Tổng công ty DAEWOO – Hàn Quốc.

    Trụ sở chính: Tầng 9 Trung tâm thương mại DAEHA 360 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 8 315 173 – 8 315 174, Fax: 8 315 175.

    Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của dự án với tổng số vốn là 120,36 tỷ đồng. Bên nước ngoài đầu tư 100%.

    Diện tích đất: 96ha, khu công nghiệp Sài Đồng B 79ha, giao thông đất đai: 10ha.

    Khu công nghiệp được phát triển theo 3 giai đoạn như sau: Pha 1: 48,5 ha, pha 2: 48,61ha và giai đoạn 3: Các cơ sở khác

    Lĩnh vực đầu tư các dự án trong KCN: Công nghiệp Kỹ thuật Cơ khí, công nghiệp Điện tử Công nghiệp ô tô, công nghiệp nhẹ và công nghiệp công nghệ cao.

    Địa điểm: Khu vực Sài Đồng. Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Thời lượng: Đến năm 2047

    4.3. Khu công nghiệp Nội Bài

    • Hình thức đầu tư: Liên danh giữa Công ty xây dựng công nghiệp và Tập đoàn Renong (Malaixia)
    • Giá cho thuê đất có hạ tầng: từ 45-55 USD/m2/năm.
    • Phí quản lý hạ tầng: từ 0,8-1 USD/m2/năm
    • Phương thức thanh toán: 2 lần/42 năm
    • Tổng diện tích: 197 ha.
    • Đất khu công nghiệp: 100 ha.
    • Đất đã xây dựng hạ tầng khu công nghiệp: 30,5 ha.
    • Đã cho thuê: 10,3 ha (38%).
    • Hình thức đầu tư: Liên doanh giữa Công ty cơ khí Đông Anh và Tập đoàn Sumitomo (Nhật)
    • Giá thuê đất có hạ tầng: từ 70-85 USD/m2/năm.
    • Phí quản lý hạ tầng: từ 1-1,2 USD/m2/năm.
    • Phương thức thanh toán: 1 lần /50 năm
    • Tổng diện tích: 121 ha
    • Đất đã xây dựng hạ tầng khu công nghiệp: 84,7 ha
    • Đã cho thuê: 33 ha (38%).

    4.5. Khu công nghiệp Đài Tư

    • Hình thức đầu tư: 100% vốn nước ngoài.
    • Giá thuê đất có hạ tầng: từ 60-65 USD/m2/năm
    • Phí quản lý hạ tầng: từ 0,5-0,8 USD/m2/năm.
    • Phương thức thanh toán: 1 lần / 50 năm.
    • Tổng diện tích: 40 ha.
    • Đã xây dựng hạ tầng khu công nghiệp: 32 ha.
    • Đã cho thuê: 5 ha (15%).

    5. Điều kiện thành lập, mở rộng khu công nghiệp

    5.1. Điều kiện thành lập khu công nghiệp

    • Phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp đã được phê duyệt
    • Tổng diện tích đất công nghiệp của các khu công nghiệp đã được thành lập trên địa bàn lãnh thổ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cho các dự án đăng ký đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đầu tư thuê đất, thuê lại đất ít nhất là 60%.

    5.2. Điều kiện mở rộng khu công nghiệp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chi Tiết Về Ngành Kỹ Thuật Công Nghiệp
  • Hospitality Industry Là Gì? 3 Điều Thú Vị Về Ngành Công Nghiệp Này
  • Bất Cập Trong Ngành Công Nghiệp Khai Khoáng
  • Phát Triển Bền Vững Ngành Công Nghiệp Khai Thác, Chế Biến Khoáng Sản
  • Việc Làm Ngành Công Nghiệp “không Khói” Năm 2022
  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững
  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Việt Nam đang tiến nhanh trên con đường phát triển. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với dữ liệu,thông tin và tri thức về phát triển và nghiên cứu phát triển. Bài viết này trình bày tóm tắt một lịch sử về những nỗ lực tìm tòi xung quanh khái niệm và lý thuyết phát triển.

    1. Bối cảnh ra đời khái niệm phát triển

    2. Khái niệm phát triển

    Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn.

    Ví dụ, quá trình biến đổi của các giống loài từ bậc thấp lên bậc cao; quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức thức tổ chức xã hội loài người: từ hình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thuỷ lên các hình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc, dân tộc…; quá trình thay thế lẫn nhau của các thế hệ kỹ thuật theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn…

    3. Những thay đổi trong quan niệm về phát triển

    Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến những bước thay đổi căn bản về quan niệm phát triển. Khi sự phát triển còn ở vào giai đoạn tốc độ thấp, những vấn đề toàn cầu chưa xuất hiện. Ngày nay, khi tốc độ phát triển đã tăng vọt, những biến đổi vũ bão của thế giới đã và đang kéo theo những vấn đề toàn cầu như chênh lệch giàu nghèo, vấn đề sinh thái, an ninh toàn cầu… đòi hỏi nhân loại phải chung sức giải quyết.

    Mặt tiêu cực lớn nhất của phát triển chính là sự cạn kiệt tài nguyên. Cùng với tốc độ phát triển của ngành công nghiệp là sự nhanh chóng lỗi thời của các sản phẩm công nghiệp. Tất cả các sản phẩm ấy lại đều được lấy ra trực tiếp hoặc gián tiếp từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong nền kinh tế tư bản, để tăng nhanh vòng quay của vốn, người ta phải tiêu thụ nhanh chóng, phải phá huỷ nhanh cái cũ để tiêu thụ những sản phẩm mới. Trong nền kinh tế tập trung, việc thiếu những nhân tố kích thích cạnh tranh khiến cho việc đổi mới công nghệ và hợp lý hóa sản xuất gần như bị lãng quên. Cả hai xu hướng trên đều dẫn đến hậu quả là sự lãng phí tài nguyên thiên nhiên.

    Thực tế cho thấy, một số quốc gia chạy theo những chỉ tiêu đã được lên kế hoạch và bằng mọi cách đạt mục tiêu đó. Những chỉ số tăng trưởng như thế thực chất chỉ là những chỉ số phản phát triển, cho thấy sự lãng phí năng lượng và nhiên liệu rất lớn. Có thể lấy Trung Quốc làm ví dụ. Nhiều người lo ngại rằng, nếu Trung Quốc tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng “nóng” như hiện nay thì sẽ đưa nền kinh tế nước này đến sự bùng nổ. Hơn nữa, sự phát triển kinh tế đi kèm với sự lạc hậu về chính trị, về công nghệ, về hoạt động tổ chức nhà nước có ý nghĩa phá hoại rất lớn, tức là biến những nguyên liệu có chất lượng cao thành những sản phẩm không dùng được. Chúng tôi cho rằng, đó là bản chất của toàn bộ sự phá hoại các nguồn năng lượng sống. Với một quốc gia rộng lớn như Trung Quốc, quy mô phá hoại ngày càng lớn, nguy cơ biến những cơ sở vật chất, những nguồn năng lượng sống trở thành phế phẩm ngày càng lớn. Tóm lại, sự khai thác một cách thái quá những tài nguyên thiên nhiên hữu hạn mang giá trị vĩnh cửu để chế ra những sản phẩm có giá trị nhất thời, ngắn hạn nhờ sử dụng những thành tựu nhanh chóng của khoa học công nghệ, là sự mất cân đối khủng khiếp đối với đời sống và tương lai của nhân loại.

    Ô nhiễm môi trường là hậu quả lớn thứ hai do phát triển lấy mục tiêu tăng trưởng gây ra. Hàng trăm triệu chiếc xe hơi, hàng ngàn nhà máy nhiệt điện đang ngày đêm thiêu đốt nhiên liệu, làm cho lượng CO2 trong khí quyển tăng lên, gây ra hiệu ứng nhà kính. Nạn phá rừng đang làm trái đất bị sa mạc hóa với tốc độ đáng lo ngại. Rừng bị tàn phá khiến lụt lội xảy ra thường xuyên hơn. Hàng triệu tấn dầu mỏ, hóa chất độc hại đang ngày đêm theo sông ngòi đổ vào đại dương. Những kho chất thải hạt nhân nằm âm ỉ trong lòng đất mà cho đến nay con người chưa biết làm cách nào để xử lý được. Khí hậu trái đất nóng lên đang làm tan băng trên hai cực, kết quả là nước biển dâng lên, nhấn chìm hàng triệu héc-ta đất ven biển. Không thể kể hết những tai họa mà ngành công nghiệp của con người đã gây ra cho chính con người. Nếu nhìn nhận một cách khách quan chúng ta phải thấy rằng dường như sự phát triển vừa qua đem lại nhiều tai họa hơn là lợi ích.

    Bất bình đẳng trên quy mô thế giới là mặt tiêu cực khác không thể không nhắc đến của sự phát triển không kiểm soát. Sự đổi mới kinh tế cho phép những nước phát triển trước chiếm hữu được nhiều lợi nhuận hơn trong quan hệ kinh tế thế giới. Chính những nước giàu nắm quyền chi phối giá cả và những quy định trên thị trường thế giới. Không những thế, sự bất bình đẳng còn thể hiện trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù về mặt hình thức, các quốc gia có cơ hội như nhau trong việc khai thác vùng biển quốc tế và khí quyển. Nhưng trên thực tế những đội tàu đánh cá và vận tải của vài nước giàu đang chi phối gần như toàn bộ các đại dương. Các nhà máy, xí nghiệp và xe cộ của những nước ấy cũng đang xả ra một lượng khí độc nhiều gấp hàng trăm lần các nước nghèo. Phần lớn lợi nhuận từ sự khai thác và sử dụng tài nguyên thuộc về các nước giàu, nhưng nạn ô nhiễm môi trường lại là vấn đề chung. Sự bất bình đẳng trên quy mô thế giới như vậy tất yếu sẽ dẫn đến mâu thuẫn, đến chiến tranh và tình trạng khủng bố…

    Cuối cùng, sự suy thoái văn hóa là kết quả không thể tránh khỏi của những mục tiêu phát triển ngắn hạn. Việc tôn sùng các chỉ tiêu vật chất, bỏ qua hoặc không đánh giá đúng vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đã dẫn đến rất nhiều vấn đề xã hội. Ở nhiều nước công nghiệp phát triển tình trạng chung là sự đổ vỡ của gia đình và các quan hệ xã hội truyền thống. Vật chất càng dồi dào con người dường như càng cô đơn. Tâm lý chán chường, bất ổn và thiếu phương hướng hết sức phổ biến trong lớp trẻ. Không phải ngẫu nhiên mà càng ngày ở phương Tây người ta càng nói nhiều đến xu thế trở về với truyền thống. Đó là sự trở về đúng đắn, tuy rằng cũng đã khá muộn màng.

    Những vấn đề phát sinh buộc con người phải nhìn nhận lại mục tiêu của sự phát triển. Nếu như chúng ta cứ tiếp tục lấy tăng trưởng làm mục tiêu của phát triển, chúng ta sẽ phá vỡ sự cân bằng của trái đất, và không chỉ trên khía cạnh sinh thái, sự mất cân bằng sẽ làm kiệt quệ tiềm năng của tương lai. Con người cần phải chững lại để nhìn nhận lại, và chúng tôi cho rằng con người đã bắt đầu nhìn ra vấn đề.

    Trên thế giới hiện nay người ta đã đưa ra một vài khái niệm, định nghĩa mô tả sự phát triển, tuy nhiên một định nghĩa thống nhất và hoàn chỉnh về sự phát triển vẫn chưa được ngã ngũ. Tôi cho rằng, sự phát triển là trạng thái cho phép chúng ta thỏa mãn những nhu cầu tốt đẹp của con người. Ở đâu con người có năng lực nhận thức tốt hơn, có năng lực và điều kiện hưởng thụ tốt hơn, có điều kiện để tư duy một cách tự do và sáng tạo hơn, có sức cạnh tranh tốt hơn, tóm lại, ở đâu con người cảm thấy hạnh phúc thì ở đó có sự phát triển.

    Phát triển, suy cho cùng, chính là sự tăng trưởng những giá trị của con người chứ không phải là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế là một yếu tố để biểu thị – có lẽ là tập trung nhất – năng lực thỏa mãn nhu cầu của con người, nhưng không phải là tất cả. Khi người ta cố gắng để có được sự tăng trưởng bằng mọi giá thì đó chỉ còn là cuộc chạy đua giữa các nhà chính trị. Chúng tôi cho rằng, sự phát triển chân chính là những khả năng, năng lực và những thành tựu do con người tạo ra chứ không phải là kết quả của những biến hóa chính trị, của sự thống kê mang tính chính trị.

    4. Việt Nam đang ngày càng hội nhập vào tiến trình phát triển toàn cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Phát Triển
  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?
  • Lí Thuyết Về Phản Ứng Oxi Hoá
  • Khái Niệm Hướng Đối Tượng (Oop) Trong Java
  • Khái Niệm Phát Triển Và Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Giáo Trình Những Nguyên Lý Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Câu 5: Hai Nguyên Lý Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật Và Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật
  • Bộ Công An Trả Lời Về Làn Đường, Phần Đường
  • Cụm từ phát triển bền vững nói chung hay phát triển nói riêng được định nghĩa một cách khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn” Trong từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được quan niệm là:

    “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới” Chủ thể con người và mọi vật đều thay đổi theo thời gian, những sự phát triển được bao hàm ở cả hai khía cạnh: hướng đi lên – tiến bộ và phát triển thoái bộ – thoái hóa.

    Phát triển (khoa học phát triển) mới ra đời những năm 1940-1950, đặc biệt phát triển mạnh vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Trong tiến trình đó, phát triển học có những thay đổi nhất định về nội hàm.

    Giai đoạn đầu, nội dung chủ yếu của phát triển được đề cập trong kinh tế gọi là Kinh tế học phát triển, sau đó càng ngày càng phát triển theo hướng liên ngành. Tiếp sau đó, ở mức độ cao hơn, môn Xã hội học phát triển và Quản trị học phát triển ra đời, nhấn mạnh sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội có phần can thiệp của thể chế chính trị.

    Ở giai đoạn cao như hiện nay, sự bùng nổ dân số, mức độ phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế, sự thiếu hụt tài nguyên do con người khai thác một cách vô ý thức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, mức độ biến đổi khí hậu một cách khó lường… thuật ngữ phát triển bền vững ra đời.

    PTBV ra đời năm 1992 và đã trở thành chiến lược phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI.

    Phát triển bền vững

    Có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững nói chung. Sự khác nhau xuất phát từ quan điểm, định hướng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Khi nghiên cứu ở phạm vi hẹp như các tổ chức cụ thể, quan điểm được nhìn nhận một cách rộng rãi nhất của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (1987) cho rằng: ” Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng yêu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng thỏa mãn nhu cầu đó của các thế hệ tương lai “, [51]. Quan điểm này cho thấy: thực chất của vấn đề PTBV là sự gia tăng số lượng, chất lượng của một tổ chức với mục đích là tối đa hóa lợi ích ở hiện tại nhưng phải đảm bảo cho những lợi ích đó được duy trì trong tương lai.

    Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Rio – 92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg – 2002: ” Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường “. Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều nghiên cứu còn đề cập tới những khía cạnh khác của PTBV như: chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc… và đòi hỏi phải tính toán và cân đối chúng trong hoạch định các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể.

    PTBV là một nhu cầu cấp bách và là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và các cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững “. Đây là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phư ng, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động. Mục tiêu bảo đảm PTBV đất nước trong thế kỷ XXI chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược PTBV trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, trong đó có PTBV các KCN.

    Khái niệm phát triển và phát triển bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm “phát Triển Bền Vững” Của Việt Nam Trong Thế Giới Toàn Cầu Hóa
  • Khái Niệm Phát Triển Du Lịch Bền Vững
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Khái Niệm Về Phát Triển

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững
  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Trước hết cần làm rõ khái niệm “phát triển”, “phát triển” tuy ban đầu được các nhà kinh tế học định nghĩa là “tăng trưởng kinh tế”, nhưng nội hàm của nó từ lâu đã vượt khỏi phạm vi này, được nâng cấp sâu sắc hơn và chính xác hơn. Theo Từ điển Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội… .

    Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế xã hội rộng lớn, trong khuôn khổ một định nghĩa hay một khái niệm ngắn gọn không thể bao hàm hết được nội dung rộng lớn của nó. Song nhất thiết khái niệm đó phải phản ánh được các nội dung cơ bản sau:

    – Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lượng của vật chất, dịch vụ và sự biến đổi tích cực về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, có khả năng khai thác nguồn lực trong nước và ngoài nước.

    – Sự tác động của tăng trưởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cư.

    – Sự phát triển là quy luật tiến hoá, song nó chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố nội lực của nền kinh tế có ý nghĩa quyết định, còn nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng.

    Khái niệm về phát triển

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?
  • Lí Thuyết Về Phản Ứng Oxi Hoá
  • Khái Niệm Hướng Đối Tượng (Oop) Trong Java
  • Lập Trình Hướng Đối Tượng Là Gì?
  • Việt Nam Sẽ Là Nước Công Nghiệp Phát Triển Hay Là Quốc Gia Phát Triển?

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Nghiệp Nặng (Heavy Industry) Là Gì? Các Ngành Công Nghiệp Nặng
  • Phân Biệt Công Nghiệp Nặng Và Công Nghiệp Nhẹ
  • Hóa Chất Công Nghiệp Nặng Là Gì? Ứng Dụng Như Thế Nào?
  • Công Nghiệp Nhẹ (Light Industry) Là Gì? Đặc Điểm
  • Đặc Điểm Ngành Công Nghiệp Nhẹ, Loại, Ví Dụ / Kinh Tế
  • Chiến lược phát triển của Việt Nam tầm nhìn tới năm 2045 sẽ xác định hướng đi là một nước công nghiệp phát triển hay trở thành một quốc gia phát triển với các tiêu chí cụ thể.

    Ngày 26/2, Bộ Ngoại giao phối hợp với Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) tổ chức Tọa đàm Khởi động báo cáo đánh giá đa chiều, góp phần tư vấn cho Việt Nam trong việc xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

    Phó thủ tướng Vương Đình Huệ dự và có bài phát biểu gợi mở nhiều vấn đề quan trọng. Cùng dự có lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Chương trình đánh giá đa chiều (MDCR) của OECD, Đại sứ – Trưởng phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam và nhiều chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học trong và ngoài nước.

    OECD: “Tiền” không phải là điều quan trọng nhất

    Khai mạc Tọa đàm, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đánh giá cao sự hỗ trợ của OECD hướng tới khởi động Báo cáo đánh giá quan trọng này. Theo Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn, hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có bước tiến dài trên con đường phát triển, được Liên Hợp Quốc đánh giá là một trong những quốc gia phát triển ấn tượng, không chỉ về y tế mà cả giáo dục, y tế.

    Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn cho rằng trong một thế giới đang dịch chuyển nhanh và sâu sắc, Việt Nam đứng trước những vận hội mới để phát triển nhanh, bền vững hơn, song cũng phải xử lý nhiều vấn đề mới và phức tạp về kinh tế – xã hội, môi trường, văn hóa. Đó là yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh, năng lực tự chủ và khả năng chống chịu, bảo vệ môi trường và bản sắc văn hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi những quốc gia như Việt Nam muốn vươn lên cần đổi mới mạnh mẽ về tư duy, phương thức phát triển.

    Đưa ra một góc nhìn từ bên ngoài về quá trình đổi mới và phát triển của Việt Nam, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam Ousmane Dione đánh giá, Việt Nam là nước có bước phát triển đáng khích lệ nhất trên thế giới kể từ khi đổi mới diễn ra đến nay, không ngừng đi lên và tăng trưởng, chuyển mình, thay đổi cơ cấu và cất cánh.

    Tuy nhiên, ông Dione cho rằng dù đạt tốc độ tăng trưởng cao nhưng chất lượng tăng trưởng là vấn đề còn phải bàn để củng cố cơ sở nền tảng trở thành nước phát triển trung bình và thu nhập cao đến năm 2035.

    Ông Jan Rielaender, Giám đốc Chương trình đánh giá đa chiều (MDCR) của OECD cho biết thông qua hỗ trợ Việt Nam xây dựng báo cáo, OECD muốn được đưa quan hệ đối tác giữa hai bên lên tầm cao mới. Nội dung quan trọng của báo cáo này là thể hiện tinh thần học hỏi lẫn nhau giữa các quốc gia trên con đường phát triển để giúp Việt Nam phát triển.

    Thông qua Báo cáo MDCR, Việt Nam sẽ có cơ hội tận dụng kinh nghiệm và những kiến thức về cải cách của các quốc gia khác, đồng thời 53 quốc gia thành viên của OECD cũng có cơ hội hiểu Việt Nam hơn, học hỏi từ thành công và thách thức Việt Nam.

    Ông Jan Rielaender nhìn nhận: “Đã lâu có sự đồng thuận lớn cho rằng GDP là mục tiêu quan trọng nhất đối với phát triển. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều thứ phải quan tâm hơn thay vì chỉ quan tâm đến tiền. Đó là sự tăng trưởng bao trùm, trong đó mọi người dân trong một quốc gia được phát triển hết tiềm năng và sống một cuộc sống xứng đáng. Đó là phát triển phải hài hòa với tự nhiên, tôn trọng những giới hạn. Cần coi các mục tiêu phát triển bền vững là một trong các mục tiêu quan trọng và phải đạt được vào năm 2030”.

    Nhìn về bước phát triển của Việt Nam từ năm 1986 đến nay, ông cho biết nhiều nước muốn học tập Việt Nam. “Nhiều thành viên ở OECD biết rằng Việt Nam có những thành tích vượt trội hơn các nước về PISA (cách đo lường chất lượng giáo dục căn bản của một quốc gia) của chúng tôi. Chúng tôi rất muốn tìm hiểu xem làm sao các bạn làm được điều đó”, ông nói.

    Người dân phải tham gia vào Đổi mới và được thụ hưởng thành quả

    Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá cao việc OECD tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và Chính phủ Việt Nam để sớm khởi động quá trình xây dựng Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều của Việt Nam. Đây là Báo cáo quan trọng được xây dựng với phương pháp đánh giá khách quan, độc lập, đa chiều, liên ngành, liên lĩnh vực về các chính sách phát triển của Việt Nam, từ đó đưa ra các tư vấn, khuyến nghị cho Chính phủ Việt Nam để xây dựng Chiến lược phát triển của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

    Phó thủ tướng dẫn lại một số nhận định về Việt Nam của các tổ chức quốc tế và đề nghị OECD, các cơ quan quốc tế và các bộ, ngành cần làm rõ bằng các số liệu cụ thể. Trong đó, dữ liệu đáng chú ý là theo báo cáo của tập đoàn McKinsey (tháng 9/2018), Việt Nam là một trong 18 nền kinh tế đang nổi có thành tích phát triển “vượt trội” trong 50 năm qua.

    Việt Nam luôn nằm trong nhóm nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ở châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới trong nhiều năm liền. Quy mô kinh tế Việt Nam ( 240,5 tỷ USD) hiện đứng thứ 44 thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương. Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động.

    Ngoài phát triển kinh tế, Phó thủ tướng khẳng định Chính phủ luôn có quan điểm nhất quán rằng sự nghiệp đổi mới của Việt Nam sẽ không bao giờ đạt được thành công nếu không có sự đồng tình hưởng ứng và tham gia của đông đảo người dân và bản thân sự nghiệp đổi mới cũng không có ý nghĩa nếu như những thành quả của đổi mới không đến được với mọi tầng lớp nhân dân.

    Chính vì vậy, theo Phó thủ tướng Vương Đình Huệ, bên cạnh thúc đẩy tăng trưởng về kinh tế, Việt Nam đặc biệt coi trọng phát triển các lĩnh vực xã hội khác, tạo điều kiện cho người dân tham gia phát triển kinh tế – xã hội và thụ hưởng các thành quả của phát triển. Trong suốt thời gian dài, thu ngân sách chỉ tăng 10% – 12% thì tổng chi ngân sách nhà nước cho an sinh xã hội vẫn luôn đạt 23% – 25%.

    Theo Báo cáo của UNDP năm 2022, Việt Nam đạt nhiều tiến bộ về phát triển con người và giảm nghèo đa chiều; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng liên tục trong 27 năm qua với điểm số tiệm cận nhóm nước có chỉ số phát triển con người cao.

    Theo Phó thủ tướng, Việt Nam có ý chí và khát vọng vươn lên nhưng phải làm sao khơi thông và giải phóng nguồn năng lượng to lớn này để Việt Nam phát triển bứt phá. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào các chiến lược, chính sách sẽ triển khai trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2022-2030 mà Chính phủ đang chỉ đạo các bộ, ngành nghiên cứu xây dựng, có sự đóng góp của OECD và các tổ chức quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nước Mới Công Nghiệp Hóa (Newly Industrialized Countries
  • Gỗ Mfc Là Gì ?
  • Gỗ Công Nghiệp Mfc Là Gì? Ứng Dụng Của Gỗ Mfc Trong Nội Thất
  • Gỗ Mfc Là Gì? Ứng Dụng Gỗ Công Nghiệp Mfc, Giá Gỗ Mfc Và Mdf
  • Gỗ Công Nghiệp Mfc Là Gì
  • Khái Niệm Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
  • Phát Triển Bền Vững: Nguồn Gốc Và Khái Niệm
  • Khái Niệm Phần Đường Xe Chạy Được Hiểu Như Thế Nào Là Đúng
  • Bộ Câu Hỏi, Đáp Án Luật Giao Thông Đường Bộ (New)
  • Thế Nào Là Sự Phát Triển Bền Vững?
  • Trong quá trình phát triển hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn, các nhu cầu của con người lại luôn tạo nên sự mâu thuẫn gần như không sao khắc phục được. Ví dụ, con người ta cần không khí sạch để thở nhưng đồng thời lại rất cần ô tô để đi lại, cần có củi để sưởi nhưng lại rất cần rừng để bảo vệ đất khỏi xói mòn và chống nước mặn xâm nhập hoặc các doanh nghiệp luôn cần sử dụng lao động với giá rẻ lại không có tiếng nói chung với những công nhân luôn cần được trả lương cao để có thể sống tốt hơn… Nếu mở rộng phạm vi ra một cộng đồng, một thành phố, một đất nước hay cả hành tinh này, điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia được công nghiệp hoá lại gây ra những trận mưa axít nguy hiểm cho các sông ngòi, hồ ao của các nước khác?

    Vấn đề đặt ra là loài người sẽ quyết định ra sao nếu trong bản thân họ lại luôn có những nhu cầu đối lập, mâu thuẫn nhau? Nhu cầu của ai sẽ được đáp ứng? Của người giàu hay người nghèo? Của công dân nước mình hay những người di tản từ nước khác đến? Của dân đô thị hay nông thôn? Dân nước này hay nước khác? Của ta hay là hàng xóm? Môi trường hay doanh nghiệp? Thế hệ này hay thế hệ sau?… Ai sẽ là người chịu trách nhiệm khi phải thoả hiệp để cân bằng các nhu cầu đối lập nhau? Những người quan tâm đến phát triển cho rằng việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai luôn phụ thuộc rất nhiều vào cách mà thế hệ hiện tại cân bằng các mục tiêu phát triển xã hội, kinh tế và môi trường. Sự cân bằng các nhu cầu kinh tế, xã hội và môi trường trong việc ra quyết định của một thế hệ sẽ ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng các nhu cầu phát triển của các thế hệ tiếp theo.

    Theo cách đặt vấn đề như vậy, việc ra đời một khái niệm mới, khắc phục sự phiến diện của “tăng trưởng kinh tế” hay “phát triển” là vô cùng cần thiết. Điều quan trọng là phải đưa ra được một định nghĩa thật đơn giản về phát triển bền vững và một khuôn khổ các điều kiện tối thiểu để phát triển mang tính bền vững – những điều kiện mà sự tồn tại của chúng dựa trên cơ sở tồn tại bền vững của các nguồn dự trữ thiên nhiên theo thời gian. Nguồn dự trữ thiên nhiên ở đây là nguồn dự trữ của tất cả các nguồn lực tài nguyên môi trường và tự nhiên, từ dầu mỏ dưới lòng đất đến chất lượng đất và nước ngầm, từ nguồn dự trữ cá dưới đại dương đến khả năng của trái đất tái sinh và hấp thụ các-bon… Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào BVMT từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

    – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau.

    – Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái. Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai.

    – Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ.

    Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc .

    Mô hình phát triển bền vững kiểu quả trứng do Liên minh quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đưa ra năm 1994. Mô hình này minh hoạ mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái như là một vòng tròn nằm trong một vòng tròn khác, giống như lòng đỏ và lòng trắng của một quả trứng gà. Điều này hàm ý rằng, con người nằm trong hệ sinh thái và hai đối tượng này hoàn toàn phụ thuộc, tác động, chi phối lẫn nhau. Giống như một quả trứng chỉ thực sự tốt khi cả lòng đỏ và lòng trắng đều tốt, lòng trắng là môi trường để lòng đỏ phát triển, một xã hội chỉ phát triển bền vững khi cả con người và hệ sinh thái ở điều kiện tốt [82].

    Như vậy, mỗi mô hình có những thế mạnh cũng như những hạn chế nhất định. Luận án đồng nhất lựa chọn và sử dụng mô hình PTBV kiểu ba vòng tròn để phân tích, do mô hình này phản ánh rõ nhất phát triển bền vững là miền giao thoa giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và BVMT. Nói cách khác, phát triển bền vững đạt được trên cơ sở đảm bảo hài hoà được cả ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường.

    Khái niệm phát triển bền vững

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Tăng Trưởng, Phát Triển Kinh Tế, Chính Sách Tái Cơ Cấu Ở Vn
  • Phát Triển Là Gì? Bối Cảnh Ra Đời Của Khái Niệm Phát Triển
  • Khái Niệm Về Phát Triển
  • Bản Chất Và Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Pháp Luật
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật ?
  • Ưu Tiên Phát Triển Công Nghiệp Sạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Khu Công Nghiệp Sinh Thái: Hướng Tiếp Cận Bền Vững Cho Phát Triển Công Nghiệp Của Việt Nam
  • Khu Công Nghiệp Sinh Thái
  • Phát Triển Khu Công Nghiệp Sinh Thái – Xu Hướng Xanh Hóa Công Nghiệp Tại Việt Nam – Vncpc
  • Nền Kinh Tế Sáng Tạo Là Gì?
  • Hệ Đào Tạo Sơ Cấp Nghề & Đào Tạo Thường Xuyên
  • Công nghiệp (CN) sạch là định hướng phát triển hàng đầu cho các cụm CN, khu CN trên địa bàn toàn tỉnh Khánh Hòa hiện nay.

     

    Hiện nay, nhiều khu CN, cụm CN mới thành lập trên địa bàn toàn tỉnh đã và đang bước vào giai đoạn hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thu hút đầu tư. Trong năm 2022, dự kiến các cụm CN: Trảng É, Sông Cầu, Diên Phú – VCN, khu CN Ninh Thủy sẽ bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tư thứ cấp. Các chủ dự án luôn nỗ lực kêu gọi đầu tư, thu hút các doanh nghiệp nhanh chóng vào đăng ký ở các dự án, ưu tiên hàng đầu phải là CN sạch hoặc những ngành sản xuất ít gây ô nhiễm môi trường. 

     

     

    Như tại Dự án Cụm CN Diên Phú – VCN (huyện Diên Khánh), đến đầu năm 2022, đã có 7 doanh nghiệp đăng ký đầu tư. Song trong đó, có một doanh nghiệp chuyên đóng gói các sản phẩm nước mắm, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nên lãnh đạo tỉnh đã đề nghị chủ đầu tư cân nhắc. Tỉnh chỉ chấp nhận cho Cụm CN Diên Phú – VCN phục vụ các ngành nghề CN sạch, ít gây ô nhiễm môi trường, như: thủ công mỹ nghệ, may mặc, cơ khí, chế biến thực phẩm (trừ chế biến hải sản) và các ngành nghề sản xuất khác không gây ô nhiễm theo quy định của Cụm CN Diên Phú. Hay tại Cụm CN Sông Cầu (huyện Khánh Vĩnh), mặc dù hạ tầng chưa hoàn thành, song đến thời điểm hiện tại, toàn bộ diện tích đã được lấp đầy bởi 12 doanh nghiệp. Trong số đó, có một doanh nghiệp đăng ký thuê diện tích khá lớn, song lại sản xuất gạch không nung, nguy cơ gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến các ngành sản xuất khác trong dự án nên lãnh đạo tỉnh không đồng ý. 

     

     

    Hệ thống xử lý nước thải tại Khu Công nghiệp Suối Dầu.

     

     

    Theo ông Trần Sơn Hải – Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, tỉnh ưu tiên phát triển CN, tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích và thu hút đầu tư trong và ngoài tỉnh. Đồng thời, chủ động bố trí các nhà máy, xí nghiệp theo quy hoạch phát triển và bảo vệ môi trường, khắc phục tình trạng phát triển manh mún, thiếu khoa học. Phát triển CN sẽ góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CN, thương mại, dịch vụ du lịch – nông nghiệp; tạo thêm nhiều việc làm, giải quyết số lao động nhàn rỗi, tăng nguồn thu nhập ổn định cho người dân, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế – xã hội. “Tuy nhiên, chúng ta không phát triển CN bằng mọi giá. Vấn đề môi trường phải được đặt lên hàng đầu. Các cụm CN, khu CN mới hình thành phải ưu tiên cho những doanh nghiệp sản xuất ít gây ô nhiễm vào đầu tư. Nếu phát triển CN mà không cẩn trọng trong vấn đề môi trường sẽ gây ảnh hưởng rất lớn và lâu dài đối với các khu vực xung quanh. CN sạch là định hướng phát triển hàng đầu cho các cụm CN, khu CN trên địa bàn toàn tỉnh” – ông Trần Sơn Hải khẳng định.

     

     

    Đình Lâm

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nước Rửa Rau Quả, Thực Phẩm Susaco Sản Xuất Theo Công Nghệ Nhật Bản
  • Tìm Hiểu Rau Organic Là Gì? Rau Hữu Cơ Và Rau Sạch
  • Cồn Công Nghiệp Là Gì? Mua Cồn Công Nghiệp Giá Rẻ Ở Đâu? An Toàn Khi Sử Dụng
  • Vận Chuyển Và Xử Lý Chất Thải Công Nghiệp
  • Chất Thải Công Nghiệp Là Gì? Xử Lý Ctcn Như Thế Nào?
  • Thách Thức Phát Triển Công Nghiệp Xanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Xe Hybrid Trở Thành Xu Thế Trong Tương Lai ?
  • Xe Nâng Tay Là Cái Gì? Ứng Dụng Của Nó
  • Tìm Hiểu Ngành Thiết Kế Công Nghiệp Là Gì?
  • Xe Nâng Công Nghiệp Là Gì?
  • Công Nghiệp Hóa Xây Dựng (Construction Industrialization) Là Gì? Các Hình Thức Và Ưu Nhược Điểm
  • Phát triển công nghiệp xanh sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm đầu vào năng lượng, nguyên liệu, tăng hiệu suất sử dụng, giảm nhập khẩu nhiên liệu

    Trên thế giới, xu hướng phát triển công nghiệp xanh tập trung vào 2 mục tiêu chính là hạn chế phát thải khí CO2, hóa chất độc hại từ các khu công nghiệp, khu chế xuất ra ngoài môi trường; Đồng thời, nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng mới, máy móc kỹ thuật mới thân thiện với môi trường.

    Tại Việt Nam hiện nay, về nhận thức, hiểu thế nào là một nền kinh tế xanh hay nền công nghiệp xanh vẫn còn là vấn đề mới mẻ. Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao nhưng năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) vẫn ở mức thấp, phản ánh năng suất lao động thấp và việc sử dụng công nghệ, vốn, nguyên liệu và năng lượng còn kém hiệu quả.

    Đặc biệt, hiện nay những công nghệ, thiết bị cũ, lạc hậu vẫn còn đang được sử dụng trong nhiều lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng như: phát điện, thép, xi măng và hóa chất, gây nên lãng phí lớn về nguyên nhiên liệu.

    Việc phát triển công nghiệp xanh sẽ giúp Việt Nam tiết kiệm đầu vào năng lượng, nguyên liệu, tăng hiệu suất sử dụng, giảm nhập khẩu nhiên liệu, đồng thời giảm gánh nặng nhập siêu cho nền kinh tế, tạo nhiều việc làm mới góp phần xóa đói giảm nghèo và bảo đảm môi trường bền vững cho con cháu mai sau. Tuy nhiên, dù Việt Nam có chủ trương hướng tới một nền công nghiệp xanh, ít tiêu hao năng lượng, hạn chế thấp nhất sản xuất gây ô nhiễm môi trường nhưng việc thực hiện còn mang tính lẻ tẻ, chưa đồng bộ.

    Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư rất ít cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, chỉ khoảng 0,2% – 0,3% tổng doanh thu. Việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng và nguyên liệu trên quy mô rộng vẫn chưa trở thành hiện thực, các ngành công nghiệp thân thiện với môi trường cũng như công nghiệp dịch vụ môi trường cũng chưa được phát triển.

    Hơn nữa, các doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp có tính cạnh tranh thấp so với các nước khác trong khu vực, và ngành công nghiệp tiếp tục phát thải nhiều chất thải chưa qua xử lý ra môi trường, làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường.

    Trước những khó khăn, thách thức trên, các chuyên gia phân tích cho rằng, để thực hiện xanh hóa ngành công nghiệp, Chính phủ có vai trò then chốt trong việc phát triển hệ thống chính sách trong suốt giai đoạn đầu của quá trình. Sự hợp tác giữa Chính phủ, các tổ chức nghiên cứu và lĩnh vực tư nhân là cần thiết việc nâng cao sức cạnh tranh của ngành.

    Bên cạnh đó, cần có sự tiếp cận và giải quyết đa ngành trong thể chế và phối hợp chính sách công nghiệp xanh; sự tiếp cận theo vùng, tăng cường liên kết theo vùng phát triển công nghiệp xanh; Công nghiệp xanh cần có khung chính sách hợp lý và lộ trình thực hiện cụ thể, khả thi…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Công Nghiệp Xanh Và Bền Vững
  • Công Trình Công Nghiệp Xanh Tại Việt Nam
  • Tiêu Chuẩn Công Nghiệp Xanh Là Gì?
  • Gỗ Công Nghiệp Lõi Xanh Có Tốt Không? Tư Vấn Từ Chuyên Gia Mavina
  • Vũ Trụ Là Gì? Hệ Mặt Trời Là Gì? Những Hiểu Biết Về Trái Đất
  • Khái Niệm Phát Triển Nguồn Nhân Lực

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Các Hình Thức Đào Tạo Và Phát Triển Nguồn Nhân Lực
  • Nguồn Nhân Lực Và Vai Trò Nguồn Nhân Lực Trong Tổ Chức
  • Khái Niệm Ngân Hàng Thương Mại Và Chức Năng Của Nhtm Là Gì?
  • Khái Niệm Về Ngân Hàng Thương Mại
  • Khái Niệm Và Phân Loại Ngân Hàng Thương Mại
  • Theo Nguyễn Hữu Dũng (2004), phát triển nguồn nhân lực được hiểu qua mối quan hệ giữa sự lành nghề của dân cư với sự phát triển của đất nước. Đây là theo nghĩa hẹp mà theo đó, trình độ, kỹ năng của người lao động cần phải luôn phù hợp và đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề cũng như yêu cầu của nền kinh tế, đồng thời, trình độ phát triển của nền kinh tế cũng trở thành môi trường quan trọng để thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực .

    Một số nhà kinh tế Việt Nam cũng có những quan niệm tương tự với sự cụ thể hóa hơn về phát triển NNL, tiêu biểu như:

    Trần Xuân cầu và Mai Quốc Chánh (2012) cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống lịch sử… Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm con người trưởng thành, có năng lực xã hội và tính năng động cao” . Trong nhận định này, chất lượng NNL được hiểu bao gồm: (1) thể lực của nguồn nhân lực (thể chất và tinh thần); (2) trí lực của nguồn nhân lực (trình độ văn hóa, tay nghề, kỹ năng của người lao động); (3) phẩm chất tâm lý xã hội (tính kỷ luật, tự giác, trách nhiệm, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp…). Nhận định này nhấn mạnh đến các hình thức triển khai, cách thức thực hiện cùng với những giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng NNL, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

    Còn theo chúng tôi Phạm Đức Thành và chúng tôi Mai Ọuốc Chánh (2001) trong Giáo trình Kinh tế lao động thì phát triển NNL được hiểu là quá trình làm tăng kiến thức, kỹ năng, năng lực và trình độ của cá nhân người lao động được họ hoàn thành công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ [42]. Theo khái niệm này thì phát triển NNL xét trên phạm vi phát triển con người thì đó là sự gia tăng giá trị cho con người về cả tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng…lẫn thể chất.

    Từ sự phân tích các quan niệm về phát triển nguồn nhân lực nêu trên, trong luận án này, tác giả cho rằng, phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu người lao động được phản ánh qua kiến thức, kỹ năng, năng lực, trình độ, đạo đức để ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển ngày càng cao của tổ chức và xã hội.

    Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Nhân Lực Là Gì
  • Nguồn Nhân Lực Là Gì? Đặc Điểm Và Vai Trò Của Nguồn Nhân Lực
  • Khái Niệm Nguồn Nhân Lực
  • Bài 9: Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn Việt Nam
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Nhà Nước Pháp Quyền Xhcn
  • Công Nghiệp Nhẹ Và Những Điều Kiện Phát Triển Công Nghiệp Nhẹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thiết Kế Công Nghiệp Là Gì?
  • Ngành Kỹ Thuật Nhiệt Là Gì, Làm Gì
  • Can Nhiệt Là Gì? Cách Chọn Can Nhiệt Sao Cho Đúng
  • Sơn Chịu Nhiệt Công Nghiệp
  • Tìm Hiểu Về Công Nghiệp Năng Lượng Là Gì?
  • Công nghiệp nhẹ là gì ? Là ngành ít tập trung tư bản hơn so với công nghiệp nặng và nghiêng về cung cấp hàng hóa tiêu dùng. Quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp nhẹ tác động ít đối với môi trường nên chúng phân bố gần các khu vực đông dân cư.

    Có nghĩa là, công nghiệp nhẹ là hoạt động sản xuất, chế tạo một khối lượng tài nguyên vừa phải nguyên vật liệu chế biến tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn khối lượng nguyên liệu.

    Các thành phẩm phổ biến của ngàng công nghiệp nhẹ như: áo quần, đồ nội thất, nước giải khát, bàn ghế nhựa, giấy…

    Thông tin tham khảo :

    Công nghệ chế tạo robot là gì?

    Công nghiệp dệt may và quá trình phát triển.

    Phân loại các ngành công nghiệp nhẹ

    Công nghiệp sản xuất giấy

    Tại Việt Nam, sản xuất giấy tập trung phố bố tại các khu vực gần rừng, đồng bằng nhiều cây như Hoàng Văn Thụ (Tp. Thái Nguyên), Phong Khê( Bắc Ninh), Việt Thắng ( Hà Tây),..

    Ngành sản xuất giấy góp phần quan trọng trong kinh tế và phục vụ nhu cầu sử dụng tại Việt Nam: in ấn, giấy báo, tài liệu học tập.

    Đầu năm 2010, ngành sản xuất giấy ổn định và đạt sản lượng 140,3 nghìn tấn giấy, vượt 76% so với cùng kì năm 2009.

    Nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu tạo điều kiện cho hàng loạt doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất. 70% sản lượng giấy tại Việt Nam làm từ phế liệu.Ngành sản xuất đóng góp 1,5% giá trị vào tăng trưởng GDP.

    Giấy tái chế là nguyên liệu chủ yếu và giúp bảo vệ môi trường, tiết kiệm nguồn tài nguyên.Giấy tổng hợp là nguyên liệu sản xuất quan trọng nhưng song song cùng quá rình tăng trưởng tốt vẫn còn nhiều bất cập về nguyên liệu, các chính sách quản lí sản xuất và sự lấn át của thị trường Trung Quốc.

    Ngành giấy Việt Nam chịu sự cạnh tranh bởi thị trường Trung Quốc , Malaysia và Mỹ. Trong cuộc chiến giữa Mỹ và Trung, việt Nam chịu sự ảnh hưởng, sản phẩm từ Trung Quốc phân bố về Việt Nam và các nước lân cận, sản phẩm giấy của Việt Nam sẽ vị ảnh hưởng lớn.

    Năm 2022, ngành công nghiệp nhẹ sản xuất giấy tại Việt Nam đón nhận nhiều cơ hội cũng như thách thức.

    “Mức độ sử dụng giấy bình quân đầu người hiện khoảng 51kg/người, so với mức trung bình thế giới là 58kg/người. Theo dự báo của VPPA trong 5-10 năm tới, nhu cầu giấy các loại sẽ tăng từ 8-10%/năm, riêng giấy bao bì có thể tăng tới 15-18%/năm”

    Nhu cầu sử dụng và điều kiện sản xuất hàng loạt, tài nguyên rừng to lớn tạo cơ hội lớn, thu lơi nhuận. Nhưng các bất cập về sản xuất, thị trường gây nhiều cản trở.

    Việc chú trọng vào đầu tư và các chính sách vô cùng quan trọng.Tăng cường năng lực sản xuất bột giấy từ nguồn nguyên liệu dăm mảnh trong nước hiện đang xuất khẩu tới hơn 10 triệu tấn/năm.

    Đầu tư cho sản xuất giấy in và photocopy chất lượng cao thay thế nhập khẩu.

    Cần đánh giá thận trọng khi đầu tư sản xuất giấy bao bì. Vì hiện tại, tính theo công suất thì cung đã vượt nhu cầu nội địa, nhưng cũng có gần 2 triệu tấn công suất giấy bao bì từ các máy xeo nhỏ lạc hậu, tiêu hao nguyên liệu, năng lượng cao, chất lượng thấp sẽ bị thay thế, cộng với nhu cầu về loại giấy này sẽ tăng nhanh trong các năm tới.

    Giấy tissue hiện tại thị trường có tiềm năng, song cũng có nhiều dự án đang ấp ủ hoặc chuẩn bị khởi công với những máy giấy tissue hiện đại có quy mô vừa và lớn. Những người đi trước sẽ thành công, nhưng những người đi sau thì cần đánh giá thận trọng khi quyết định đầu tư.

    Vấn đề xử lý nước thải cần được quan tâm tính toán kỹ lưỡng, đầu tư thỏa đáng để bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và đây cũng là mục tiêu quản lý của Chính phủ trong năm 2022 và các năm tiếp theo.

    Với các công ty có quy mô nhỏ có thể tìm các sản phẩm ngách để sản xuất, nhưng cần cải tạo để tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng lực quản trị, gia tăng giá trị sản phẩm. Với đầu tư mới cũng cần được tư vấn đầy đủ về máy móc, công nghệ hiện đại và quản trị tiên tiến.

    Công nghiệt may mặc

    Thang 1/2010, nhiều doanh nghiệp đã nhận được đơn đặt hàng với khối lượng lớn như: Tổng công ty May Việt Tiến, Công ty 10 tháng 5, Công ty May Sài Gòn 2, Tổng công ty Dệt Phong Phú, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX) ,…

    Các doanh nghiệp trong ngành đã cố gắng vượt bậc để bứt phá giành thị phần sản phẩm may mặc ngay trên thị trường nội địa. Thị trường dệt may sôi động chuẩn bị đón mừng năm mới. Sản lượng tăng cao, nhất là quần áo cho người lớn tăng 31,9% so với cùng kỳ năm trước.

    Mặt khác, do sản xuất dệt may tại một số nước khu vực Nam Mỹ, Caribê, Trung Mỹ và Đông Âu chi phí cao nên có xu thế giảm sút và chuyển dịch sang các nước châu Á, nơi có lực lượng lao động dồi dào và chi phí thấp. Để tránh lệ thuộc tập trung vào Trung Quốc (đang bị chỉ trích về chất lượng và an toàn), khách hàng nước ngoài tìm đến Việt Nam với các sản phẩm trung, cao cấp do đã đáp ứng tốt yêu cầu chất lượng.

    Tuy nhiên, từ 01/01/2010, Luật bảo vệ môi trường của Mỹ yêu cầu các lô hàng xuất khẩu vào Mỹ phải có giấy kiểm nghiệm của bên thứ ba xác nhận sản phẩm sử dụng nguyên liệu đảm bảo cho sức khoẻ người tiêu dùng có hiệu lực nên đã lập hàng rào kỹ thuật mới đối với thị trường xuất khẩu dệt may.

    Đây là thách thức không nhỏ với ngành dệt may Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Vì vậy, cần thiết phải thành lập phòng thí nghiệm hiện đại, đủ tiêu chuẩn thay cho các thiết bị nghiên cứu thử nghiệm chất lượng hàng dệt may có từ những năm 1990.

    Bên cạnh đó, để giải bài toán thiếu hụt lao động và chi phí tăng nhanh, cần thiết phải tiếp tục thực hiện chiến lược di dời cơ sở sản xuất dệt may về các thị trấn và vùng nông thôn.

    Công nghiệp sữa:

    Việt Nam có nhiều doanh nghiệp phát triển ngành công nghiệp nhẹ này như: Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường Thọ, Vinamilk, Nhà máy sữa Dielac ,..

    Tuy nhiên, lượng sữa được tiêu thụ nhiều nhất tại Việt Nam lại là hãng sữa nhập ngoại, có sự khác biệt về chất lượng, giá cả và khối lượng,..

    Ngành sữa bao gồm sữa tươi và sữa bột, có các mặt hàng là : sữa chua, sữa tươi, sữa bột,sữa uống, sữa công thức,.. và đang gặp nhiều biến động, đột phá từ sau năm 2007. Trong đó, sữa bột là sản phẩm mang lại nhiều lợi nhuận nhất.

    Nằm trong xu thế chung của toàn thế giới, Ngành sản xuất sữa Việt Nam phát triền đều nhờ vào nhu cầu bổ chung dinh dưỡng, phân khúc thị trường sữa tập tung tại các thành phố lớn. 10% dân số cả nước tập trung ở Hà Nội và Hồ Chí Minh tiêu thụ 78% sản phẩm về sữa.

    Công nghiệp giày dép

    Giày dép Việt Nam có xu hướng tăng trưởng cao nhờ vào công nghệ sản xuất và nhu cầu của người tiêu dùng, kể cả nhập khẩu và xuất khẩu, phân bố tại các thành phố lớn.

    Giày da Việt Nam trên đà phát triển nhưng gặp rào cản là thuế, giá cả cao hơn hàng nhập khẩu, khủng hoảng kinh tế và thiếu nguyên liệu, chưa đầy đủ về công nghệ chế tạo.

    Phát triển công nghiệp nhẹ là tiền năng chưa được phát huy, bên cạnh các thế mạnh về nhân lực và thị trường thì gặp bất cập về giá cả,công nghệ và giá cả.

    Muốn phát triển công nghiệp giày dép hơn nữa , nhà kinh doanh cần triển khai nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất, nhất là lĩnh vực công nghệ sinh học, giống mới, quy trình sản xuất để tăng năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Tăng cường kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu nhất là hàng đông lạnh thuỷ sản, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trong công nghiệp chế biến để tăng sản phẩm chế biến tinh, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Khuyến khích các doanh nghiệp chế biến, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng cường đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại tại các cơ sở, để nâng cao chất lượng và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Tháo gỡ những khó khăn, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu, cụm công nghiệp đã được phê duyệt và các công trình trọng điểm. Thực hiện một số chính sách khuyến khích, ưu đãi, tạo điều kiện thông thoáng… nhằm thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu.

    Vai trò của ngành công nghiệp nhẹ

    Ngành công nghiệp nhẹ đóng vai trò chủ chốt kinh tế bởi vì :

    Sản xuất số lượng lớn sản phẩm có giá trị cao hơn nguyên liệu.

    Cung cấp mặt hàng tiêu dùng cho cả nức và xuất khẩu.

    Mở rộng thị trường ,tận dụng tài nguyên và tạo cơ hội việc làm.

    Tăng thu nhập.

    Bảo vệ an ninh, trở thành thước đo giá trị phát triển của một quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Nghiệp Nặng Là Gì? Vai Trò Chủ Đạo Trong Sự Phát Triển Nền Kinh Tế
  • Nước Mới Công Nghiệp Hóa (Nics)
  • Công Nghiệp Mũi Nhọn Và Công Nghiệp Trọng Điểm Là Gì ???
  • Gỗ Mdf Là Gì? Những Đặc Điểm Cần Biết Về Gỗ Công Nghiệp Mdf
  • Bảng Giá Gỗ Công Nghiệp Mdf Cập Nhật 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100