Bài 1: Các Nguyên Tắc Khách Quan Và Nguyên Tắc Toàn Diện

--- Bài mới hơn ---

  • Câu “tư Bản Ko Thể Xuất Hiện Từ Lưu Thông Và Cũng Ko Thể Xuất Hiện Ở Bên Ngoài Lưu Thông. Nó Phải Xuất Hiện Trong Lưu Thông Và Đồng Thời Ko Phải Trong Lưu Thông” (Trích Mác
  • Trường Chính Trị Tôn Đức Thắng
  • Tiểu Luận Phạm Trù Chất Và Lượng Trong Triết Học Mác
  • Triết Học Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học
  • Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học Và Kinh Tế Học Chính Trị Mác
  • Tóm tắt lý thuyết

    Từ 2 nguvền lý ((1) nguyên lý liên hệ phổ biến, (2) nguyên lý biến hoá và 3 quy luật cơ bản: (1) mâu thuẫn biện chứng, (2) biến đổi về lượng dẫn tới biến đổi về chất và ngược lại và (3) phủ định của phủ định biện chứng, ta cụ thể hoá thành các nguyên tắc cơ bản của lôgic biện chứng sau đây.

    Xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ăngghen đã kháng định tư duy biện chứng có tính chất khách quan. Ông đã viết: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động”.

    Từ quan niệm đó của Ăngghen, chúng ta có thể rút ra những nhận xát:

    • Biện chứng chủ quan, tức là tư duy biện chứng, và biện chửng khách quan, về thực chất là thống nhất. Bởi vì tư duy của con người và tồn tại khách quan là có tính thống nhất, tư duy có thể phản ánh tồn tại một cách chân thực.
    • Sự thống nhất giữa biện chững khách quan và biện chứng chủ quan chỉ là về những quy luật chung nhất của thế giới, những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Do đó không thể cho rằng những quy luật riêng lẻ của một môn khoa học nào đó, như vật lý học, hóa học… cũng là quy luật của lôgic học. Chỉ có những quy luật như quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật từ những biến đổi về lượng thành nhũng biến đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định và những cặp phạm trù của phép biện chứng mới vừa là quy luật của thế giới hiện thực khách quan, đồng thời cũng là những quy luật cửa tư duy biện chứng.
    • Sự khác nhau giữa những quy luật biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan là ở hình thức thể hiện của nó. Những quy luật biện chứng khách quan tồn tại trong thế giới hiện thực khách quan, nó không phụ thuộc vào ý thức của con người. Còn những quy luật biện chứng chủ quan, tuy có nội dung khách quan của thế giới hiện thực, nhưng nó lại được thể hiện bằng các hình thức chủ quan như khái niệm, phán đoán, lập luận… trong đầu óc của con người và được vận hành một cách tự giác trong quá trình hoạt động tư duy.

    Ăngghen đã giải thích một cách rõ ràng và sâu sắc về sự thống nhất giữa hai loại quy luật đó (quy luật biện chứng khách quan và quy luật biện chứng chủ quan) như sau: “Nếu người ta dặt câu hỏi ràng tư duy và ý thức là gì, chúng từ đâu đến, thì người ta sẽ thấy rằng đúng là sản vật của bộ óc con người và bản thân con người, là sản vật của giới tự nhiên, một sản vật đã phát trìến trong một môi trường nhất định và cùng với môi trường đó.

    Vì vậy, lẽ tự nhiên là những sản vật của bộ óc con người, quy đến cùng, cũng là nhũng sản vật của giới tự nhiên, không mâu thuẫn mà lại còn phù hợp với mọi liên hệ còn lại của giới tự nhiên. Quy luật của phép biện chứng chủ quan (tư duy biện chứng) phù hợp với quy luật của biện chứng khách quan. Sự phù hợp này không phải là tuyệt đổi mà là tương đối, là một quá trình mãi mãi diễn ra.

    Trong logic hình thức cũng có sự thống nhất giữa quy luật của tư duy với quy luật của tồn tại, nhưng quy luật của tư duy logic hình thức chỉ phản ánh mặt hạn hẹp của tồn tại khách quan mà thô. Quy luật của biện chứng chủ quan mới phản ánh quy luật của biện chứng khách quan đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Song, quy luật của biện chứng chủ quan cũng có những nét riêng của nó.

    Điều đó thể hiện cụ thể như sau:

    • Những quy luật, phạm trù riêng của tư duy như từ trừu tượng đến cụ thể, phân tích và tổng hợp, không có nhũng thực thể vật chất tương ứng với nó.
    • Những quy luật tư duy ấy xuất phát từ ban thân nhận thức của con người. Ví dụ như con người phải từ nhận thức cảm tính đô hiểu được hiện tượng của sự vật rồi sau đó hiếu bản chất của sự vật: chủ thể phải tiếp cận với kết quả trước, rồi sau mới đi tới nguyên nhân.
    • Trong tư duy của con người diễn ra một quá trình chế biến những tài liệu mà thế giới khách quan đem lại.

    Xuất phát từ nguyên tắc khách quan, trong “Bút ký triết học” Lênin đã nhiều lần khẳng định sự thống nhất giữa phép biện chứng, nhận thức luận và lôgic học. Chính vì vậy, chúng ta coi những quy luật cơ hản của phép biện chứng là nền tảng của lôgic biện chứng cũng như những quy luật đồng nhất, phi mâu thuẫn và bài trung là nền móng của lôgic hình thức. Ngoài quy luật chung của phép biện chứng, lôgic biện chứng còn nghiên cứu những quy luật riêng của tư duy biện chứng. Những quy luật này được vận dụng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người sẽ trờ thành những phường pháp tư duy biện chứng.

    Quy luật của thế giới khách quan và hoạt động thực tiễn của con người chỉ là cơ sở và căn cứ khách quan để hình thành phương pháp tư duy mà không phải là bản thân phương pháp tư duy. Quy luật khách quan và hoạt động thực tiễn của con người phải được nội hóa vào trong đầu óc con người, chuyển hóa thành quy luật bên trong của hoạt động tư duy, thống qua các hình thức lôgic liên hệ vối hoat động tinh thần của con người mới có thể trở thành phương pháp tư duy, thành quy tắc suy nghĩ của Con người, Phương pháp tư duy là quy luật khách quan mà con người đã nhận thức được và trở thành những quy tắc, trình tự bước đi và biện pháp…Tóm lại, phương pháp tư duy không thể trái với quy luật mà phải phù hợp với nó, do đó mà có tính khách quan của tư duy con người.

    Nguyên tắc toàn diện của tư duy xuất phát từ cơ sở khách quan là mối liên hệ phổ biến của sự vật. Ăngghen đã chỉ ra: “Khi chúng ta dùng tư duy để xem xét giổi tự nhiên, lịch sử loài người, hay hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta thì trưức nhất, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những sự tác động qua lại”.

    Mối liên hệ giữa các sự vật là có tính khách quan và tính phổ biến, bởi vì:

    • Mọi vật trên thế giới đều có chung bản chất và nguồn gốc, đó là tính vật chất của thế giới.
    • Sự tồn tại khách quan của các sự vật cụ thể đều là biểu hiện của mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bện ngoài. Không có mối liên hệ giữa các yếu tố bên trong thì không có bản thân sự vật đó, không có mối liên hệ giữa sự vật với những vật xung quanh thì sự vật đó củng không có điều kiện để tồn tại được.
    • 3. Sự vật nào vùng là khâu trung gian và mối giới của nhau, do đó mà các sự vật liên hệ với nhau thành một thể thống nhất mà môi sự vật trong đó đều là một bộ phận hay một khâu của nó.

    Ngày nay, nguyên tắc toàn diện lại được phát triển sâu sắc thêm trong lý thuyết hệ thống. Lý thuyết này có những dặc trưng chủ yếu sau:

    • Đặc trưng thứ nhất của lý thuyết này là quan điểm về tính toàn diện, tính toàn thể. Đây là đặc trưng bản chất. Lý thuyết hệ thống cho rằng các yếu tố trong hệ thống tác động lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất.
    • Đặc trưng thứ hai là tính trật tự của kết cấu. Trong một hệ thống gồm có các yếu tối bản thân hệ thống lại là một yếu tố của hệ thống bao quát hớn. Hệ thống được tổ chức theo chiều dọc bao gồm các cấp độ, thứ bậc và chiều ngang của các bình diện khía cạnh khác nhau. Trong kết cấu như vậy các yếu tố đều có vị trí nhất định và toàn thể hệ thống có chức năng nhất định. Như vậy, hệ thống giữ được tính ổn định tương đối về kết cấu và tính định hướng của hoạt động bên trong.
    • Đặc trưng thứ ba là xu hướng tối ưu của kết cấu bên trong, đó là sự kết hợp các yếu tố để phát huy chức năng của toàn thể hệ thống. Hệ thống nào cũng ở trong môi trường cạnh tranh và chọn lựa nên bao giờ cũng hướng sự kết hợp các yếu tố theo phương án tối ưu, nếu không thì hệ thống khó mà tồn tại và phát triển lên được.
    • Nguyên tắc tính toàn diện quy định phương pháp tư duy ngày càng đa dạng và phân tầng. Nhìn tổng thể, dựa vào phạm vi tác dụng của phương pháp tư duy có thể chia thành ba thứ bậc: phương pháp tư duy triết học, phương pháp tư duy khoa học nói chung và phương pháp tư duy khoa học cụ thể.
    • Phương pháp tư duy triết học ở thứ bậc cần nhất trong phương pháp tư duy. Những nguyên lý quy luật và phạm trù triết học được vận dụng để trở thành những phương pháp tư duy, chúng mang tính phổ biên rộng rãi nhất. Đó là các phương pháp tư duy: quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp, trừu tượng và cụ thế, lịch sử và lôgic… Đây là nhũng phương pháp tư duy mà khoa học nào cũng phải sử dụng, là những phương pháp phổ biến trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
    • Phương pháp tư duy khoa học nói chưng là phương pháp chung trong lĩnh vực khoa học như: phương pháp toán học, phương pháp thông tin. phương pháp điều khiển, phương pháp hệ thống, phương pháp cấu trúc, phương pháp tiên đề, phương pháp mô hình, phương pháp lý tưởng hóa, phương pháp phán tích nhân quả… Đó đều là những phương pháp tư duy thống dụng trong các khoa học hiện đại. Cơ sở khách quan của những phương pháp tư duy này là những thuộc tính chung và những quy luật chung của đối tương các môn học. Nắm được phương pháp tư duy khoa học nói chung là điểu kiện không thể thiếu để xác lập phương thức tư duy hiện đại.
    • Phương pháp tư duy của khoa học cụ thể là phương pháp đặc thù do tính đặc thù của đối tượng nhận thức quyết định, như toán học, vật lý học, sử học, luật học, kinh lế học, khoa học quản lý,… Trong từng lĩnh vực đó đều có phương pháp tư duy phù hợp. Đó là những điều kiện và phương tiện không thể thiếu để nghiên cứu bản chất riêng biệt của các đối tượng trong từng môn khoa học cụ thể.

    Quan hệ giữa phương pháp tư duy triết học, phương pháp tư duy khoa học nói chung và phương pháp tư duy khoa học cụ thể là mối quan hệ giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái cá biệt.

    Lênin đã nói về yêu cầu của nguyên tắc toàn diện như sau: “Lôgic biện chứng đòi hỏi chúng ta phải đi xa hơn nữa. Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dap An Cau Hoi Triet Hoc (1)
  • Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Thị Trường Và Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Thời Kỳ Quá Độ Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Tanguyễn Gia Thơ
  • Quan Điểm Của C.mác Và Ph.ăngghen Về Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Và Chính Trị
  • Vấn Đề Kế Thừa Và Phát Triển Trong Lịch Sử Triết Học
  • Bản Chất Của Siêu Hình Học Là Gì?
  • Nhân Sinh Quan, Thế Giới Quan Là Gì? Khái Niệm Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Gió Là Gì? Các Nguyên Nhân Sinh Ra Gió Và Các Loại Gió Chính
  • Thủy Triều Là Gì? Nguyên Nhân Sinh Ra Thủy Triều
  • Tính Nhân Bản Và Cái Gốc Văn Hóa
  • Tính Nhân Bản Trong Các Loại Hình Văn Hóa
  • Nhân Sinh Vô Thường Có Nghĩa Là Gì?
  • Nhân sinh quan và thế giới quan là những khái niệm mà rất nhiều trong chúng ta đã nghe qua. Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nhân sinh quan là gì? Thế giới quan là gì? Để giải đáp cho câu hỏi này, mời các bạn tham khảo bài viết bên dưới:

    Vậy nhân sinh quan là quan niệm về sự sống con người.

    Hiểu đơn giản thì nhân sinh quan là sự xem xét, suy nghĩ về sự sống của con người, hoặc nói văn vẻ hơn, nhân sinh quan là quan niệm của mỗi chúng ta về những định luật diễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống của con người.

    Thế giới quan là hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về thế giới (toàn bộ sự vật và hiện tượng thuộc tự nhiên và xã hội), về vị trí con người trong thế giới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trong thực tiễn xã hội. Thế giới quan có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều yếu tố trong đó có hạt nhân là tri thức.

    Nhân sinh quan là một bộ phận của thế giới quan (hiểu theo nghĩa rộng), gồm những quan niệm về cuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? trả lời những câu hỏi đó là vấn đề nhân sinh quan. Khác với loài cầm thú, bất kì người nào cũng có quan niệm của mình về cuộc sống. Trong đời thường, đó là nhân sinh quan tự phát, “ngây thơ” của đại chúng; các nhà tư tưởng khái quát những quan điểm ấy, nâng lên thành lý luận, tạo ra nhân sinh quan tự giác, mang tính nguyên lý triết học.

    Nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội của con người. Nội dung của nó biểu hiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong mỗi chế độ xã hội cụ thể. Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan có tính giai cấp. Giai cấp đang đi lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực, cách mạng; nhân sinh quan của giai cấp đang đi xuống thường mang tính bi quan, yếm thế. nhân sinh quan có tác dụng lớn đến hoạt động; những quan niệm về nhân sinh quan trở thành niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng, mục tiêu cho hoạt động (lí tưởng sống). Nếu phản ánh đúng khuynh hướng khách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp llý; nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên.

    Chủ nghĩa Mác là khoa học về các quy luật phát triển của lịch sử, chỉ rõ hoạt động của con người có tác dụng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, và qua đó mà tự cải tạo, tự nâng mình lên, đó là nhân tố quyết định sự tiến bộ xã hội. Vì vậy, sứ mệnh của mỗi người là thúc đẩy những quá trình phát triển xã hội đã chín muồi, những hoạt động lao động sáng tạo và cải tạo xã hội, đem lại một xã hội tốt đẹp tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người, đồng thời qua đó mà hoàn thiện những năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân mình. Đó là nhân sinh quan cách mạng, mang tính khoa học của giai cấp vô sản và của con người mới trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Để làm cho nhân sinh quan cách mạng chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống xã hội, phải cố gắng về nhiều mặt, trong đó giáo dục chiếm một vị trí quan trọng. Ngoài những giờ học chính khoá, nhà trường còn phải phối hợp với gia đình và xã hội trau dồi nhân sinh quan cách mạng (nhân sinh quan cộng sản) cho học sinh, hình thành cho học sinh một hệ thống tư tưởng, tình cảm hướng tới chân, thiện, mĩ, cùng cộng đồng xây dựng cuộc sống dân chủ, công bằng, văn minh, giàu tính nhân văn, mang lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi gia đình và cả xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘tam Quan’ Không Hợp, Mãi Mãi Chỉ Là Người Dưng Qua Đường
  • Ý Nghĩa Tên Zalo Là Gì, Ý Nghĩa Biểu Tượng Logo Zalo
  • Phong Cách Zen Nhật Bản Là Gì? 10+ Cách Decor Nhà Theo Xu Hướng Thiền
  • Phong Cách Nội Thất Zen Nhật Bản
  • Top 10 Mạng Xã Hội Trung Quốc Được Sử Dụng Phổ Biến Nhất Năm 2022 ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Khái Niệm Về Khoa Học Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Ăn Uống Có Khoa Học
  • Nguyên Tắc Ăn Uống Khoa Học
  • Chế Độ Ăn Uống Khoa Học
  • Cách Ăn Uống Khoa Học
  • Định Nghĩa Khoa Học Về Lỗ Đen Vũ Trụ
  • Khoa học – một loại hoạt động nhận thức của con người nhằm mục đích việc mua lại và phát triển khách quan, phù hợp và kiến thức tổ chức có hệ thống về thế giới. Trong quá trình hoạt động này được thu thập dữ kiện, phân tích, phân loại và phân tích sâu hơn trên cơ sở dữ liệu có sẵn, kiến thức mới, cho phép cho một dự đoán dựa trên khoa học của tương lai.

    Khái niệm về khoa học trong triết học là một trong những nơi quan trọng nhất. Khoa học là cơ bản hình thức kiến thức của thế giới. Đối với tầm nhìn triết học của thế giới, bạn phải có một số ý tưởng về khoa học, đó là, làm thế nào để xây dựng một khoa học vì nó phát triển mà nó có sẵn, chúng ta có thể hy vọng cho vì những thành tựu của mình.

    Khái niệm về triết học khoa học bao gồm các cơ sở của nó mục đích định nghĩa ý thức hệ (mô hình) các ý tưởng phức tạp và các khái niệm đại diện cho khoa học, vv Điều này cũng bao gồm các vấn đề về đạo đức khoa học – hệ thống các quy tắc chi phối các mối quan hệ của người dân trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.

    Khái niệm về khoa học trong triết học được định nghĩa là một hình cầu của hoạt động con người, có chức năng chính là để phát triển kiến thức của thực tại một cách khách quan. Khoa học là một hình thức của ý thức xã hội. Nó bao gồm các hoạt động cho việc mua lại kiến thức mới, cũng như số tiền rất của tất cả các kiến thức, mà là cơ sở của bức tranh thế giới. Bằng cách khoa học và hiểu được các chi nhánh riêng biệt của kiến thức khoa học.

    triết lý hệ thống khoa học được chia thành xã hội, tự nhiên, nhân đạo và kỹ thuật. Nó có nguồn gốc trở lại trong thế giới cổ đại, nhưng khi hệ thống bắt đầu hình thành trong thế kỷ 16. Trong quá trình phát triển của nó, nó đã trở thành một tổ chức xã hội lớn xã hội cần thiết và thấy mình trên tác phẩm của ông có ảnh hưởng rất lớn.

    Triết lý thực chứng (cả ba giai đoạn), nhiệm vụ chính của triết lý của khoa học là phải hiểu bản chất của lý thuyết khoa học nói chung, nỗ lực đã được thực hiện để xác định cấu trúc của nó, phương tiện tạo ra tri thức. Tại thời điểm này, có phải là vấn đề của sự phát triển của tri thức khoa học.

    Có một điều chẳng hạn như vấn đề của triết lý của khoa học. Nó đề cập đến các vấn đề của sự phát triển của tri thức khoa học, nghiên cứu về sự xuất hiện của khoa học và phát triển của nó ở mọi giai đoạn phát triển xã hội. Triết lý của khoa học tìm cách phát triển các hướng dẫn triết học để giải quyết những vấn đề này. Vấn đề chính của triết lý của khoa học là vấn đề về nguồn gốc của kiến thức khoa học của chính nó. Nói chung, tất cả các vấn đề được chia thành ba nhóm: các vấn đề của triết lý của khoa học, phát sinh từ những đặc thù của triết học; vấn đề trong bản thân khoa học; vấn đề của sự tương tác giữa triết học và khoa học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tâm Lý Học Định Nghĩa Như Thế Nào Về Sự Sáng Tạo?
  • Khoa Học Sáng Tạo Và Phương Pháp Luận Sáng Tạo
  • Chủng Tộc: Một Khái Niệm Không Có Cơ Sở Khoa Học
  • Thế Nào Là “cơ Sở Khoa Học” ?
  • Quy Trình Thực Hiện Nghiên Cứu Khoa Học (Mục Tiêu Nghiên Cứu).
  • Khái Niệm “tiến Hóa” Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Học 12 Chương Tiến Hóa: Lý Thuyết Trọng Tâm Và Bài Tập
  • Xúc Tiến Bán Hàng Là Gì? Xây Dựng Chiến Lược Xúc Tiến Bán Hàng Hiệu Quả
  • Xúc Tiến Bán Hàng (Sales Promotion) Là Gì? Thực Hiện Xúc Tiến Bán Hàng
  • Cùng Iicci Tìm Hiểu Rõ Hơn Về Khái Niệm Xúc Tiến Thương Mại Là Gì?
  • Đổi Mới Để Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Xúc Tiến Đầu Tư
  • Lịch sử, sinh học, triết học và khoa học khác là luôn luôn gần kề. Nó không phải là đáng ngạc nhiên rằng một số khái niệm có thể được hiểu theo nhiều cách. Khái niệm “tiến hóa” vẫn là một lời giải thích rất mơ hồ. Nhiều nhà khoa học đang cố gắng tìm một giải thích tốt về thuật ngữ này.

    Tình trạng chung của các vấn đề

    Khi chúng ta nghe “tiến hóa”, chúng tôi ngay lập tức xuất hiện để Darwin với các lý thuyết và các giải pháp của mình. Trong thực tế thuật ngữ có một lịch sử lâu dài và được phân tích trong nhiều thế kỷ liên tiếp. Nó thường được sử dụng các vấn đề phát triển con người theo nghĩa hẹp và hoàn toàn quên đi những khu vực rộng khác.

    Sự tiến hóa cũng nhiều lần nhắc đến cùng với cách mạng và suy thoái. Một khái niệm này là một sự tiếp nối tích cực của người đầu tiên. Thứ hai nó chỉ ra điều ngược lại. Dù bằng cách nào, khái niệm “tiến hóa” có một đặc điểm chung, mà chúng tôi sẽ cố gắng để tìm thấy nó.

    sự giải thích

    Điều quan trọng là phải hiểu rằng việc giải thích của từ không thay đổi cho dù chúng ta sẽ thu hẹp hoặc mở rộng thuật ngữ. Dù bằng cách nào, định nghĩa của khái niệm nằm trong sự tiến hóa của “phát triển” từ. Và từ đó, cho dù đó là sự phát triển của cá nhân, hoặc lịch sử của thế giới, ý nghĩa không thay đổi. Vì vậy, nó chỉ ra rằng nội dung được giữ vĩnh viễn trong tất cả các trường hợp trên. Nó chỉ còn lại để tìm ra những đặc điểm chung.

    điều kiện của sự tồn tại

    Các điều kiện sau đây – những tính năng phân biệt. Thay đổi không phải lúc nào tích cực. Nhưng ở đây về việc giải thích sự tiến hóa là khác nhau ở chỗ trong quá trình chuyển đổi sang một trạng thái hoàn hảo hơn. Đó là, một cái gì đó đang thay đổi và trở nên phức tạp hơn, có giá trị và ý nghĩa. Và nó không quan trọng, thay đổi định tính hoặc định lượng.

    Các điều kiện sau đây cho sự hiệp nhất của đề tài này. Trong trường hợp này, bách khoa Britannica thứ mười đưa ra một ví dụ với nước. Nếu thay đổi nước phát sinh, và nó được chia thành các thành phần, kết quả là: làm thế nào nước chính nó, và oxy và hydro có thể tồn tại một cách độc lập. Điều này có nghĩa rằng bất kỳ sự phát triển trong thời gian dài đã không xảy ra. Trong trường hợp này, khái niệm “tiến hóa” là không thích hợp. Nó có thể được áp dụng chỉ khi nhà nước mới có thể thay thế trước đó, có nghĩa là, sự phát triển đã xảy ra.

    phân công

    Thuật ngữ này từ lâu đã cố gắng để áp dụng đối với các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Và nếu nó hợp lý có thể được giải thích trong mối quan hệ với các sinh vật sống, ở đây trong lịch sử có nghi ngờ. Chúng ta có thể dễ dàng khẳng định sự phát triển của vật lý. Nhưng đó là về sự phát triển tinh thần bắt đầu ngay lập tức dấy lên câu hỏi. phát triển tâm thần có vẻ như rõ ràng, mặc dù bị đàn áp, thậm chí mức giảm tuyệt đối và sự tàn phá của toàn bộ các thời kỳ văn hóa.

    Tuy nhiên, nguyên nhân chính do đó khái niệm cơ bản của quá trình tiến hóa đã xuất hiện trong triết học và chuyển từ thế giới sống, đã trở thành nhu cầu để phân tích nó như một toàn thể. Tất nhiên, cũng có thể là một mong muốn loại bỏ tất cả các biên giới hiện hữu giữa chết và sống vật chất và tinh thần. Nó sẽ xuất hiện những người sẽ đại diện cho sự xuất hiện của sự sống từ vấn đề chết và theo thứ tự ngược lại.

    nguyên nhân khác

    Vai trò quan trọng và không gian nghệ thuật từ geologizmom. Spencer dẫn họ theo chương trình phát triển và những ý tưởng tiếp tục các nhà khoa học đầu về tác động của quá trình tiến hóa hữu cơ cho bất kỳ khác.

    Các nhà nghiên cứu nhìn thấy bản chất của nó trong sự luân hồi trong một không đồng nhất đồng nhất, và lý do cho quá trình này là bất kỳ lực lượng có thể tạo ra một vài thay đổi, cũng như bất kỳ lý do gì tạo ra một số hành vi phạm tội. Tất nhiên, một chương trình như vậy có thể dễ dàng thể hiện một trong những điều kiện cho sự hiệp nhất của sự tiến hóa.

    Chạm vào trong triết học

    Do đó, nó trở nên rõ ràng rằng sự tiến hóa được liên kết trực tiếp với lịch sử. Nó có tất cả sự hoàn hảo cùng và thiếu thốn. Nhưng đó là chính xác những gì đã dẫn đến kết luận rằng thuyết tiến hóa chỉ áp dụng cho sự ra đời của các hiện tượng và bản chất của họ trong bất kỳ cách nào. Vì vậy, ông cần phải được giải thích bởi triết lý và bổ sung từ những quan điểm triết học khác nhau.

    Ưu điểm và nhược điểm

    Khái niệm về quá trình tiến hóa đã được giải thích triết lý từ quan điểm riêng của mình xem. Tất nhiên, nó không thể đoàn kết hợp với lý thuyết nhị nguyên, như nó đã xa chủ nghĩa chủ quan và thuyết duy ngã. Nhưng thuyết tiến hóa đã trở thành một nền tảng vững chắc cho một triết lý thuyết nhất nguyên. Điều này có thể được giải thích bởi thực tế rằng có hai hình thức nhứt nguyên luận. Một – các vật chất, thứ hai – lý tưởng. Đại diện của các hình thức đầu tiên là Spencer, thứ hai cố gắng bày tỏ Hegel. Cả hai đều không lý tưởng, nhưng, dù sao, cảm thấy tự do để hỗ trợ các khái niệm về quá trình tiến hóa.

    lý thuyết mầm

    Như đã đề cập trước đó, khi chúng ta nghe từ “tiến hóa” ngay lập tức nói đến cái tâm Darwin. Vì vậy, khái niệm về thuyết tiến hóa được sinh ra từ lâu trước khi Darwin. Suy nghĩ đầu tiên là ở Hy Lạp – xem transformistskie để phán. Anaximander và Empedocles hiện nay được coi là những người tiên phong của lý thuyết riêng của mình. Mặc dù đủ căn cứ để không chấp thuận như vậy.

    Trong thời Trung cổ thật khó để tìm thấy một nền tảng cho sự phát triển của lý thuyết này. Quan tâm đến việc nghiên cứu tất cả các sinh vật sống là không đáng kể. Hệ thống thần học của chính phủ là không thuận lợi cho sự phát triển của lý thuyết tiến hóa. Tại thời điểm này mọi nỗ lực để hiểu câu hỏi này, Augustine và Erigena.

    Một nơi nào đó gần đó “đi” Bacon và Descartes. Đầu tiên nói về transformism, để thay đổi các loài thực vật và động vật, nhưng suy nghĩ của mình là hoàn toàn không có sự tiến hóa. Descartes, Spinoza duy trì đại diện của ông về thế giới như chất.

    Phát triển của sự tiến hóa này được sau Kant. Các nhà triết học rất giống nhau cũng bày tỏ những suy nghĩ sống động về phát triển. Trong công việc của mình nhiều hơn một lần tôi đề cập đến lý thuyết về sự tiến hóa, nhưng triết lý của ông là do hơn đối với sự co hồi. Tuy nhiên, Kant epigenezisu thông cảm.

    Nhưng lý thuyết hơn nữa đã nhận được lời giải thích khá rõ rệt và biện minh đầy đủ. Fichte, Schelling và Hegel bắt đầu phát triển những ý tưởng của Kant. quá trình tiến hóa của họ được gọi là triết học tự nhiên. Hegel và tất cả đã cố gắng để áp dụng nó vào thế giới tâm linh và lịch sử.

    người

    Sớm hay muộn thế giới phải biết những gì diễn biến của con người. Khái niệm này được hiện nay được mô tả bằng thuật ngữ “anthropogenesis”. Vì các lý thuyết của ông có một ý tưởng về đâu, tại sao và khi người đàn ông xuất hiện. Các chính ba ý kiến: sáng tạo và thuyết tiến hóa cosmism.

    thực tế

    Nếu tất cả chúng ta nói về nhân chủng học như một khoa học, nhiều nhà nghiên cứu giữ nó lý thuyết tiến hóa. Cô là con người thật nhất, hơn nữa xác nhận bởi những phát hiện khảo cổ học và sinh học. Tại thời điểm này, quá trình tiến hóa sinh học này chỉ ra một vài giai đoạn của phát triển con người :

    • Australopithecus.
    • Homo habilis.
    • Homo erectus.
    • Các Homo sapiens cổ xưa nhất.
    • Neanderthal.
    • Homo sapiens mới.

    Australopithecus hiện được coi là gần gũi nhất đầu tiên đến cách con người của sự sống. Mặc dù bề ngoài anh ta giống như một con khỉ hơn là một con người. Quê hương của khoảng 4-1.000.000 năm trước đây trong khu vực châu Phi.

    Homo habilis là lần đầu tiên của loại hình của chúng tôi. Chúng tôi đặt tên nó là như vậy bởi vì nó có thể tạo ra các công cụ đầu tiên của lao động và chiến đấu. Có lẽ ông có thể nói chuyện. Homo erectus chiếm không chỉ châu Phi, mà còn Eurasia. Ngoài những vũ khí, làm cho lửa. Ngoài ra còn có một khả năng rằng ông có thể nói chuyện. Lâu đời nhất Homo sapiens là một giai đoạn chuyển tiếp. Do đó, đôi khi mất tích từ các mô tả về các giai đoạn anthropogenesis.

    người Neanderthal từng được coi là một tổ tiên trực tiếp của con người, nhưng sau đó quyết định rằng ông là một nhánh cụt của sự tiến hóa. Được biết, nó đã được khá một quốc gia phát triển có nền văn hóa riêng, nghệ thuật, và thậm chí đạo đức của nó.

    xã hội

    Người ta nói rằng khái niệm “tiến hóa xã hội” Darwin đã xuất hiện trước đó. Nó đặt nền móng của Spencer. Ý tưởng chính là xã hội bất kỳ bắt đầu cách từ trạng thái nguyên thủy và dần dần đi vào nền văn minh phương Tây. Các vấn đề của những ý tưởng này đã được thực tế rằng chỉ có một vài nghiên cứu về xã hội và ảnh hưởng đến sự phát triển của họ.

    Nỗ lực hợp lý và phù hợp nhất để phân tích và biện minh cho sự phát triển xã hội thuộc về Parsons. Ông đã tiến hành nghiên cứu trên quy mô của lý thuyết lịch sử thế giới. Bây giờ có một số lượng lớn các nhà khảo cổ học và nhân chủng học người dành nhiều nguồn lực của mình để nghiên cứu về thuyết tiến hóa đa tuyến, sociobiology, nâng cấp và vân vân. D.

    hệ thống

    Phát biểu của xã hội, không thể bỏ qua khía cạnh này. Sự phát triển của các khái niệm về hệ thống trong một thời gian dài đã đến đỉnh điểm. Phải mất hơn nửa thế kỷ, khi tất cả các loại giả thuyết đã được chấp nhận bởi cộng đồng khoa học. Tuy nhiên, vấn đề chính là thiếu cách tiếp cận chung cho tất cả nghiên cứu hệ thống cho đến ngày nay.

    khoa học

    Khoa học cũng vẫn không có một khái niệm thuật ngữ duy nhất. Trong một thời gian dài sự phát triển của “khoa học” của thuật ngữ không thể tìm thấy chính mình. Có lẽ sự xuất hiện của cuốn sách P. P. Gaydenko “Sự phát triển của khái niệm của khoa học” là không đáng ngạc nhiên. Trong bài báo này tác giả cho thấy không chỉ sự phát triển của các thuật ngữ trong thế kỷ 17-18, mà còn để sự hiểu biết về phương pháp và cách biện minh kiến thức của mình, và để tiếp tục sự hình thành khái niệm.

    khái niệm

    tiến hóa thường được nhớ đến trong chủ nghĩa Mác. Cùng với cuộc cách mạng, thuật ngữ này được sử dụng để mô tả hai bên và phát triển khác nhau. Này, tình cờ, là một ảnh hưởng trên triết lý của khái niệm này. Sự phát triển trong kế hoạch này là một sự thay đổi trong con người và ý thức. Nó có thể là cả hai chuyển đổi định lượng và định tính. Và nếu tiến hóa – một sự thay đổi dần dần, cuộc cách mạng được coi là một, hồng y, chuyển đổi chất lượng cao sắc nét.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Nghĩa Tiến Hóa Xã Hội: Xã Hội Hiện Đại Phát Triển Như Thế Nào?
  • Xã Hội Hóa Giáo Dục Là Gì? Bản Chất, Vai Trò Và Ý Nghĩa
  • Khái Niệm Văn Hóa Trong Xã Hội Học
  • Tài Liệu Đánh Giá Tiềm Năng Của Việc Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Cộng Trong Tương Lai Ở Việt Nam
  • Đánh Giá Tiềm Năng Của Việc Xã Hội Hóa Dịch Vụ Công Cộng Trong Tương Lai Ở Việt Nam
  • Hocthue.net: Mối Quan Hệ Giữa Khách Quan Và Chủ Quan Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Trong Tiếng Tiếng Anh
  • 22 Từ Vựng Tiếng Anh Về Trường Phái Triết Học
  • Từ Lý Luận Triết Học Của C.mác Về Tư Bản, Phê Phán Những Quan Điểm Không Đúng Về Phạm Trù Tư Bản
  • Phải Chăng Việt Nam Đang Đi Theo Con Đường Tư Bản Chủ Nghĩa Và Trá Hình Chủ Nghĩa Xã Hội ?
  • Công Bằng Là Gì?
  •  1. Khái niệm “khách quan” và “chủ quan”

    Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để luận giải cho con người mối quan hệ giữa họ (con người có ý thức) với thế giới có con người (thế giới vật chất). Trong tính hiện thực lịch sử của nó, con người không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới bởi thực tiễn. Thực tiễn của con người, một mặt do có sự tham gia hướng dẫn của ý thức, mặt khác do yêu cầu về tính hiệu quả quy định nên tất yếu phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan.

    Phạm trù “khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thuộc vào một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể đó.

    Nói đến khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên ngoài và không lệ thuộc vào chủ thể hoạt động. Khách quan bao gồm: Những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan. Trong đó, quy luật khách quan luôn giữ vai trò quan trọng nhất. Triết học Mác-Lênin luôn xác định khách quan và chủ quan căn cứ theo những chủ thể nhất định trong mối quan hệ xác định với khách thể. Không phải mọi điều kiện, khả năng và quy luật khách quan bất kì, mà chỉ có những điều kiện, khả năng và quy luật khách quan nào hợp thành một hoàn cảnh hiện thực thường xuyên tác động đến các hoạt động của một chủ thể xác định mới được coi là thuộc phạm trù khách quan đối với hoạt động của chủ thể ấy. Chính vì thế, với những chủ thể khác nhau, quan hệ khác nhau, lĩnh vực hoạt động khác nhau thì phạm vi, tính chất cái khách quan không hoàn toàn như nhau. Phạm trù khách quan luôn được đặt trong mối quan hệ với phạm trù chủ quan.

    Phạm trù “chủ quan” dùng để chỉ tất cả những gì cấu thành phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định, phản ánh vai trò của chủ thể ấy đối với những hoàn cảnh hiện thực khách quan trong hoạt động nhận thức và cải tạo khách thể.

    Chủ quan, trước hết bao gồm tất cả những gì cấu thành và phản ánh trình độ phát triển về phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định. Theo đó, phải kể đến phẩm chất tư duy, trình độ hiểu biết, đến tình cảm, ý chí, nguyện vọng và thể chất của chủ thể. Nói đến chủ quan là nói đến sức mạnh hiện thực bên trong của chủ thể. Đến lượt nó, sức mạnh ấy lại luôn được biểu hiện ra ở năng lực tổ chức hoạt động (nhận thức và thực tiễn) của chủ thể mà tiêu thức cơ bản, quyết định để đánh giá năng lực ấy là sự phù hợp giữa hoạt động của chủ thể với điều kiện, khả năng và quy luật khách quan.

    Như vậy, phạm trù khách quan và chủ quan không đồng nhất với phạm trù vật chất và ý thức. Bởi vì, phạm trù vật chất và ý thức dùng để khái quát bản chất và mối quan hệ giữa hai hiện tượng chung nhất của thế giới, từ đó để xác định một thế giới quan nhất định – duy vật hoặc duy tâm. Trong khi đó, phạm trù khách quan và chủ quan dùng để khái quát bản chất mối quan hệ giữa thế giới bên ngoài hiện thực với sức mạnh bên trong của một chủ thể xác định (một người, một tập thể, một tập đoàn, một giai cấp…) trong toàn bộ hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới đó. Do đó, khách quan và chủ quan chỉ là nói trong những quan hệ xác định, ngoài quan hệ đó ra, sự phân biệt khách quan, chủ quan chỉ có ý nghĩa tương đối. Có hiện tượng trong quan hệ này thì thuộc về khách quan, nhưng trong quan hệ khác lại thuộc phạm trù chủ quan và ngược lại. Tuy nhiên, nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của triết học Mác-Lênin trong việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vẫn là cơ sở khoa học để vận dụng vào việc giải quyết mối quan hệ khách quan và chủ quan.

    2. Mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan

    Khách quan và chủ quan là hai mặt, hai yếu tố không thể tách rời trong mọi hoạt động của mỗi chủ thể. Nhưng tính chất của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới lại luôn đòi hỏi chủ thể phải giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan sao cho phù hợp với vai trò, vị trí thực sự của con người trong thế giới – nghĩa là phải phù hợp với lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học.

    Trong mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan thì suy đến cùng, khách quan bao giờ cùng là cơ sở, tiền đề và giữ vai trò quyết định chủ quan. Bởi vì, các điều kiện, khả năng và quy luật khách quan, không những luôn tồn tại độc lập không lệ thuộc vào chủ thể, luôn buộc chủ thể phải tính đến trước tiên trong mọi hoạt động, mà còn là cội nguồn làm nảy sinh mọi tri thức, tình cảm, ý chí và nguyện vọng của chủ thể. Cả lí luận và thực tiễn đều cho thấy, nếu chỉ bằng nỗ lực chủ quan của mình, con người chưa và không bao giờ xóa bỏ được bất cứ một điều kiện, khả năng hay quy luật khách quan nào. Trái lại, chính những điều kiện khách quan hợp thành hoàn cảnh, môi trường sống và hoạt động hiện thực của con người và chính việc con người nhận thức được sự vận động, biến đổi của những khả năng và quy luật khách quan là điểm xuất phát, là tiền đề làm nảy sinh ở họ những dự kiến, những kế hoạch, hình thành nên trong họ ý chí, quyết tâm hành động cải biến hiện thực vì nhu cầu lợi ích của mình.

    Do bản chất năng động vốn có của mình quy định nên con người luôn vươn tới tự do trong mọi hoạt động. Nhưng con người chỉ được tự do hành động trong chừng mực họ nhận thức được ngày càng sâu sắc hơn các điều kiện, khả năng và quy luật khách quan. Không phải thế giới khách quan khuôn theo ý chí, nguyện vọng chủ quan của con người, mà trái lại, ý chí, nguyện vọng của con người chỉ đúng khi nó phản ánh được sự vận động biến đổi của những điều kiện, khả năng và quy luật vốn có của thế giới khách quan. Nói cách khác, khách quan quy định nội dung và sự vận động biến đổi của chủ quan.

    Giữa các chủ thể có sự khác nhau là ở tính năng động chủ quan trong nhận thức và hành động. Nhưng giới hạn của tính năng động ấy cũng do khách quan quy định. Chủ thể không thể tùy thích đặt ra cho mình những nhiệm vụ, không thể tự mình sáng tạo ra những mục tiêu, phương pháp khi mà quy luật khách quan không cho phép, khi mà điều kiện lịch sử chưa chín muồi. Nói cách khác, mọi hoạt động của con người chỉ là sự phản ánh và hiện thực hóa những nhu cầu đã chín muồi của đời sống xã hội. Những nhiệm vụ mà con người phải giải quyết là những nhiệm vụ do lịch sử đề ra và quy định nội dung, biện pháp giải quyết. Chúng ta đạt được những thành công trong việc cải tạo hiện thực là do sự phản ánh đúng và hành động theo những quan hệ tất yếu của hiện thực chứ không phải là do những ảo tưởng chủ quan của mình. Tuy vậy, trong khi khẳng định khách quan là nhân tố có vai trò quyết định, triết học Mác-Lênin không những không phủ nhận mà còn đánh giá cao vai trò của tính năng động chủ quan.

    Nói đến vai trò của nhân tố chủ quan là nói đến vai trò của con người trong hoạt động (nhận thức và thực tiễn) để cải biến và thống trị thế giới của họ. Con người, do bản chất xã hội của họ quy định, nên luôn có nhu cầu và khả năng tổ chức các hoạt động khám phá thế giới khách quan. Trên cơ sở đó, con người nâng cao tri thức, phát triển ý chí, tình cảm của mình theo hướng ngày càng phù hợp hơn với điều kiện, khả năng và quy luật khách quan của hiện thực. Cũng nhờ đó mà đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như chủ trương, biện pháp mà con người vạch ra ngày càng đúng đắn hơn, ít mang tính chất chủ quan duy ý chí hơn. Nói cách khác, đó cũng chính là quá trình nhân tố chủ quan của chủ thể ngày càng được khách quan hóa. Đồng thời, chính điều đó lại góp phần nâng cao quyền lực của con người trong việc làm biến đổi thế giới khách quan theo ý chí, nguyện vọng và nhu cầu của họ. Điều đó cũng có nghĩa con người ngày càng trở thành chủ thể thực sự của thế giới khách quan, hay thế giới khách quan ngày càng bị chủ quan hóa bởi hoạt động cải biến của con người.

    Mặc dù mọi hoạt động của con người đều phải dựa vào những điều kiện khách quan nhất định, nhưng con người không thụ động chờ đợi sự chín muồi của điều kiện khách quan, mà trái lại, có thể dựa vào năng lực chủ quan của mình để phát hiện các điều kiện khách quan và dựa vào các điều kiện đó để tổ chức, xúc tiến tạo ra những điều kiện khách quan khác cần thiết cho những nhiệm vụ cụ thể của mình. Bằng cách đó, con người có thể thúc đẩy nhanh hơn tiến trình biến khả năng thành hiện thực. Tương tự, trong một phạm vi, một sự vật hiện tượng cụ thể, tiến trình khách quan có thể có nhiều con đường, nhiều khả năng phát triển. Ở đây, vai trò của con người có thể dựa vào năng lực vốn có của mình để lựa chọn, tác động sao cho chỉ một con đường, một khả năng khách quan nào đó phù hợp nhất với tiến trình lịch sử cụ thể và nhu cầu của mình. Bằng cách đó, như thực tế lịch sử cho thấy, con người có thể đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình phát triển của sự vật mà vẫn bảo đảm tính lịch sử tự nhiên của nó. Cuối cùng, vai trò to lớn của nhân tố chủ quan còn thể hiện ở chỗ, mặc dù không xóa bỏ hoặc sáng tạo ra bất cứ quy luật khách quan nào, nhưng bằng năng lực chủ quan của mình, con người có thể điều chỉnh hình thức tác động của quy luật khách quan và kết hợp một cách khéo léo sự tác động tổng hợp của nhiều quy luật theo hướng phục vụ tốt nhất cho mục đích của mình. Sở dĩ như vậy là vì tính tất yếu về sự tác động của quy luật khách quan không mâu thuẫn với tính phong phú về hình thức và trật tự tác động của nó trong những điều kiện cụ thể khác nhau; mà việc làm biến đổi những điều kiện này lại nằm trong khả năng thực tế của con người.

    Tóm lại, “thế giới không thỏa mãn con người, và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình” . Nhưng hành động biến đổi thế giới của con người chỉ có hiệu quả khi nó được thực hiện bởi những công cụ, phương tiện vật chất và phù hợp với quy luật vốn có của thế giới vật chất, nghĩa là hành động ấy luôn là một thể thống nhất giữa nhận thức và thực tiễn. Quá trình thực tiễn – nhận thức – thực tiễn là một quá trình vô tận với sự chuyển hóa không ngừng giữa khách quan và chủ quan theo hướng đứa con người trở thành chủ thể thực sự của thế giới khách quan. Đó chính là quá trình biện chứng “khách quan hóa chủ quan và chủ quan hóa khách quan”, chống “khách quan chủ nghĩa” và chống “chủ quan duy ý chí”.

    Ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

    Việc nghiên cứu mối quan hệ khách quan và chủ quan theo lập trường duy vật biện chứng có ý nghĩa chỉ đạo rất sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.

    Khách quan là nhân tố giữ vai trò quyết định chủ quan nên trong nhận thức và thực tiễn phải nắm vững một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận khoa học là nguyên tắc khách quan. Phải luôn tôn trọng khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan; đóng thời phát huy tính năng động, sáng tạo chủ quan trong nhận thức và thực tiễn.

    Phải lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan, nóng vội, định kiến, thiếu trung thực. Nhận thức đúng đắn khách quan là tiền đề xác định mục tiêu, phương hướng, nội dung, biện pháp phù hợp làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn của chủ thể từng bước cải biến khách quan theo mục đích đặt ra.

    Do vai trò chủ động của nhân tố chủ quan nên trong nhận thức và thực tiễn phải biết trên cơ sở tôn trọng khách quan để phát huy cao độ tính năng động chủ quan. Trên cơ sở “cái” khách quan đã được nhận thức để huy động, phát huy cao nhất mọi phẩm chất và năng lực của chủ thể vào việc nghiên cứu, phát hiện, lựa chọn ra con đường, những biện pháp, hình thức, bước đi, những công cụ và phương tiện phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động. Phát huy tính năng động chủ quan cũng đồng thời bao hàm việc phê phán, đấu tranh khắc phục tư tưởng thụ động, ỷ lại, bó tay, phó mặc trước khó khăn của hiện thực cuộc sống.

    Mặt khác, tôn trọng khách quan cũng đồng thời kiên quyết khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí – lấy ý chí chủ quan áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực. Cần khắc phục thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ, trì trệ trong các hoạt động của con người.

    Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nắm vững quan điểm của triết học Mác-Lênin về mối quan hệ khách quan và chủ quan, vận dụng vào việc xác định đường lối, mục tiêu, phương hướng và phương pháp cách mạng; đồng thời cũng cho thấy, việc nhận thức và vận dụng mối quan hệ này là cả một quá trình nghiên cứu, tìm tòi với nhiều khó khăn và phức tạp.

    Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện và sâu sắc với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, quyết tâm sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm để đưa cách mạng nước ta tiến lên. Đảng đã rút ra bài học: Mọi đường lối, chủ trơng của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững vừa cần tránh sai lầm chủ quan nóng vội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa phải biết “khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam; đổi mới phải dựa vào dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn và luôn luôn sáng tạo. Đồng thời, cũng từ chính những sai lầm, thất bại trong thực tiễn cách mạng mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, phải ra sức học tập lí luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để hành động theo quy luật khách quan, chống duy tâm, duy ý chí, nóng vội chủ quan, cũng như thái độ bảo thủ, tâm lí ỷ lại, thụ động, trì trệ.

    Để tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước toàn diện trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển xã hội; nâng cao trình độ tri thức khoa học cho toàn dân và trình độ chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là trong điều kiện xã hội thông tin, văn minh trí tuệ hiện nay. Mặt khác, phải bồi dưỡng lí tưởng, niềm tin, nhiệt tình cách mạng cho quần chúng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên, cán bộ, đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học, phẩm chất và năng lực, đạo đức và tài năng.

    Để khắc phục có hiệu quả bệnh chủ quan, duy ý chí, bảo thủ, trì trệ, thói quen ỷ lại, cần phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết, phải đổi mới tư duy lí luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lí luận; kết hợp đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khách Quan Là Gì, Chủ Quan Là Gì. Phân Biệt Chủ Quan & Khách Quan
  • Ý Thức Là Gì? – Các Thuộc Tính Và Cấu Trúc Của Ý Thức
  • Sáng Tạo Là Gì, Định Nghĩa Đúng Về Sáng Tạo
  • Bản Chất Của Niềm Tin
  • Ý Nghĩa Tên Vũ Là Gì Và Cách Đặt Tên Vũ Cho Bé Trai Và Bé Gái
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Của Triết Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Lý Thuyết Gdcd 10 Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Hay, Chi Tiết.
  • Tai Ách Thu Dung Sở Chương 123: Triết Học Gia
  • Giai Cấp Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Khái Niệm “tầng Lớp Xã Hội”? Giai Cấp Có Phải Là Hiện Tượng Vĩnh Viễn Trong Lịch Sử Không? Tại Sao?
  • Triết học là gì ? khái niệm về triết học

    Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Triết Học Mác
  • Về Khái Niệm Dân Tộc Và Chủ Nghĩa Dân Tộc
  • Vấn Đề Dân Tộc Và Những Quan Điểm Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác
  • Từ Tư Tưởng Của Các Mác Về Dân Chủ Đến Xây Dựng Và Hoàn Thiện Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Chủ Nghĩa Duy Tâm Của Kant
  • Triết Học Là Gì ? Khái Niệm Về Triết Học.

    --- Bài mới hơn ---

  • Lượng Và Chất Luong Va Chat 1 Pptx
  • Ví Dụ Về Vật Chất Và Ý Thức
  • Quan Điểm Toàn Diện Của Chủ Nghĩa Mác
  • Quan Điểm Toàn Diện Là Gì? Phương Pháp Luận Và Cách Vận Dụng
  • Tài Liệu Cơ Sở Lý Luận Của Quan Điểm Toàn Diện, Nội Dung Của Quan Điểm Toàn Diện, Vận Dụng Quan Điểm Toàn Diện Phân Tích Sự Nghiệp Đổi Mới Ở Việt Nam
  • Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp.

    ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.

    Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana ( triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.

    Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp. Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái. Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.

    Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.

    Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.

    Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.

    Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

    Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ.

    Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc. Họ đã nghiên cứu, hệ thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời.

    Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội.

    Triết học là gì ? khái niệm về triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Trung Hoa Cổ, Trung Đại: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Đặc Điểm Nổi Bật
  • Những Triết Gia Lừng Danh Của Hy Lạp Cổ Đại
  • Khái Quát Về Triết Học Trung Hoa Thời Cổ Đại
  • Vấn Đề Bản Thể Luận Trong Lịch Sử Triết Học Và Trong Triết Học Mác Lênin
  • Nghiên Cứu Triết Học Bản Thế Luận Và Tiếp Cận Bản Thể Luận Trong Triết Học
  • Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học Phương Đông

    --- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Chuong Xi Van De Con Nguoi 62 Ppt
  • Phủ Định Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Giữ Vai Trò Gì Đối Với Sự Phát Triển? Tại Sao? Thế Nào Là “phủ Định Của Phủ Định”? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Luận Văn Đề Tài Khái Niệm Phủ Định Biện Chứng Trong Triết Học Mác
  • Vật Chất Với Tư Cách Là Phạm Trù Trong Triết Học Mác
  • Khái Niệm Quản Lý Là Gì? Vì Sao Phải Hiểu Khái Niệm Quản Lý
  • Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết học nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới?

    Con người có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do?…. Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinh quan – một nội dung cấu thành thế giới quan triết học.

    Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này hay vấn đề kia. Đồng thời, tuỳ theo giác độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trong việc lý giải về con người. Mặt khác trong khi giải quyết những vấn đề trên, mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thế giới quan, phương pháp luận khác nhau: Duy vật hoặc duy tâm, biện chứng hoặc siêu hình…

    Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ – trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giải quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính người là Thiện (Nho gia) và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia). Các nhà tư tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đề bản tính người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính Tự Nhiên của con người. Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận khác nhau về bản tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khác nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ.

    Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tư tưởng của các trường phái triết học ấn độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác, giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêu hình học) đối với những vấn đề nhân sinh quan. Kết lụân về bản tính Vô ngã, Vô thường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ là một trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật.

    Quan niệm về con người trong triết học phương Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Những Quan Niệm Về Con Người Cá Nhân Ở Phương Đông Không?
  • Phạm Trù Là Gì? Vấn Đề Liên Quan Đến Phạm Trù Trong Triết Học
  • Vài Nét Về Nhận Thức Luận Trong Triết Học Phật Giáo
  • Nhận Thức Luận Trong Triết Học Cổ Điển Ấn
  • Luận Án: Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học Của C.mác, Hay
  • Quan Niệm Về Vật Chất Trong Lịch Sử Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Trong Triết Học Tiền Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Tính Sáng Tạo Của Triết Học Mác
  • Ý Thức: Nguồn Gốc, Bản Chất Theo Triết Học Mác
  • Đặc Điểm Phản Ánh Của Ý Thức Xã Hội
  • 1. Quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học trước Mác 1.1.1. Quan niệm về vật chất trong triết học thời kỳ cổ đại

    Ngay từ thời kỳ cổ đại, mặc dù những tài liệu khoa học về tự nhiên còn rất ít, tri thức khoa học chuyên ngành chưa ra đời, sự hiểu biết của con người về thế giới chủ yếu cũng dựa vào những tài liệu cảm tính, những quan sát trực tiếp, ngay từ khi đó các nhà triết học ở Ấn Độ, Trung Quốc, và Hy Lạp cổ đại, trong khi giải thích thế giới đã nêu ra quan niệm của mình về vật chất. Nhũng quan niệm đó tuy còn thô sơ, mộc mạc, chủ yếu là những phỏng đoán thiên tài, nhưng cũng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển sau này của tư tưởng triết học về phạm trù vật chất. Căn cứ vào tài liệu lịch sử triết học, chúng ta trình bày một cách khái quát các quan điểm đó để có sự nhận xét, đánh giá thích hợp hơn.

    a) Quan niệm về vật chất trong triết học Ấn Độ cổ đại

    Ở Ấn Độ cổ đại đã sớm xuất hiện nhiều trường phái triết học, trong đó một số trường phái có khuynh hướng duy vật đã nêu ra quan niệm về vật chất.

    Trường phái triết học Sàmkhya sơ kỳ quan niệm rằng thể giới là vật chất, thế giới có nguyên nhân vật chất. Vật chất đầu tiên là Pràkriti (hay Pradhana) không phải ở dạng thô rõ ràng có thể nhận thức bằng cảm giác được, mà ở dạng tinh tế, tiềm ẩn, không hình, không khu biệt, không giới hạn. Mọi vật thể trong thế giới mà ta quan sát thấy đều là thể thống nhất không ổn định, được sinh ra từ vật chất đầu tiên với 3 thuộc tính (hay 3 tính chất):

    1. Sattva: Nhẹ, sáng, tươi vui.

    2. Rajas: Động, kích thích.

    3. Tamas: Nặng, khó khăn.

    Ở vật chất đầu tiên, Sattva là đặc trưng cho năng lực trí tuệ, hay trí năng tiềm ẩn (Intellect); Rajas là năng lượng; Tamas là khối lượng, quán tính. Neu vật chất đầu tiên Pràkriti ở trạng thái Avyakta thì nó cân bằng ổn định. Phá vỡ sự cân bằng là điểm xuất phát của tiến hoá từ Avyakta. Yật chất là vĩnh hằng nhưng không đứng yên, mà biến đổi không ngùng từ dạng này sang dạng khác.

    Lý thuyết nguyên tử của phái Nayàya – Vai’sesika cho rằng: Thế giới là do nguyên tử tạo nên. Theo họ, những hạt bụi nhỏ nhất (trasarenu) mà chúng ta thấy được trong ánh sáng mặt trời khi chiếu qua lỗ nhỏ, cũng gồm nhũng phần tử, vì nó cũng là vật thể nhận thấy được bằng mắt. Tất cả các vật thể đều có kích thước (mahat). Nếu cứ chia mãi hạt bụi thấy được qua tia nắng chiếu qua lỗ nhỏ, thì được phần tử cuối cùng, không thể chia cắt, không có đơn vị kích thước, đó là nguyên tử. Như vậy theo những người thuộc phái Nayàya – Vai’sesika nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, không cỏ đơn vị kích thước, không nhận thức được bằng cảm giác thông thưòng. Nguyên tử tồn tại vĩnh hằng, không sinh ra, không mất đi. Họ còn cho nguyên tử của đất khác với nguyên tử của nước. Mọi vật được tạo ra từ nguyên tử. về điểm này quan niệm của họ giống với quan niệm của Đêmôcrit ở Hy Lạp cổ đại cho rằng nguyên tử là vật chất nguyên thuỷ, đồng nhất về chất, chỉ khác nhau về hình thức. Nguyên tử tồn tại vĩnh viễn không bị phân chia, là cơ sở tồn tại của mọi vật trong thế giới.

    Triết học Lokàyata hay còn gọi là Carvaka, hoặc Barhaspatya. Đây là trường phái triết học duy vật triệt để nhất ở Ấn Độ cổ đại. Theo quan niệm của những nhà triết học Lokàyata, thế giới được tạo ra từ 4 yểu tố vật chất: đất, nước, lửa, gió (hay không khi). Một số người còn cho là có 5 yếu tố: đất, nước, lửa, gió, khoảng không. Ý thức nảy sinh từ các yếu tố đó như sức mạnh kích thích. Con người chỉ là thân thể có ý thức tức có sức mạnh kích thích, không có tinh thần (atman) tồn tại ngoài thân thể. Trong quan niệm này* những nhà triết học Lokàyata đã khẳng định có những yếu tố vật chất đầu tiên tồn tại khách quan, vĩnh viễn, làm cơ sở cho sự tồn tại của mọi vật và ý thức chỉ tồn tại trên cơ sở vật chất. Những yếu tố vật chất đầu tiên đó đồng nhất với những dạng vật chất cụ thể mà chúng ta có thể cảm nhận được. Điều đó thể hiện quan điểm duy vật rất rõ ràng, nhưng còn rất mộc mạc, mang đậm tính chất cảm tính.

    Trong quan niệm về thế giới, khi đưa ra tư tưởng “vô ngã”, “vô thường”, Phật giáo cũng nêu ra quan niệm về vật chất. Theo lý thuyết của đạo Phật, “thế giới, nhất là thế giới hữu tình (con người) được tạo thành do sự hợp lại của các yếu tố vật chất (Sắc) và các yếu tố tinh thần (Danh) được chia làm 5 thành phần:

    Tóm lại trong triết học Ấn Độ cổ đại đã có một số trào lưu triết học nêu ra quan điểm khác nhau về vật chất, trong đó đều cho rằng có vật chất nguyên thuỷ, là cơ sở đầu tiên để hình thành nên các vật. Vật chất nguyên thủy thường đồng nhất với những dạng vật chất cụ thể nào đó. Quan niệm này tuy còn thô sơ, mộc mạc, nhưng cũng khẳng định vật chất tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức và thế giới vật chất là vô cùng vô tận. Điều đó có giá trị tích cực đối với việc phát triến tư tưởng khoa học thời kỳ cổ đại ở Ấn Độ, là tiền đề cho sự phát triển triết học duy vật sau này.

    Danh và sắc chỉ tạm thời hội tụ, rồi lại chuyển sang trạng thái khác, do vậy “không có cái Tôi” (Vô ngã, anatman). Bản chất của thế giới là một dòng biến chuyển liên tục (Vô thường), không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy thế giới không do ai sáng tạo ra và cũng không có cái gì vĩnh viễn tồn tại” (sđd, tr. 134-135). ở đây, Phật giáo không cho rằng vật chất quyết định sự tồn tại của ý thức, mà ý thức như một yếu tổ ngang hàng với yếu tổ vật chất. Tuy nhiên chúng ta thấy Phật giáo cũng cho rằng có các yếu tố vật chất ban đầu là cơ sở tồn tại cho các vật thể khác.

    b) Quan niệm về vật chất trong triết học Trung Quốc cổ đại

    Triết học Trung Quốc cổ đại bàn nhiều đến những vấn đề chính trị – xã hội, đến những vấn đề đạo đức, cách ứng xử của con người trong các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, triết học Trung Quốc cổ đại cũng có những trường phái triết học, khi giải thích các hiện tượng tự nhiên đã nêu lên quan niệm của mình về vật chất.

    Theo cuốn Lịch sử triết học do NXB Chính trị Quốc gia, xuất bản năm 1998, (GS. TS. Nguyễn Hữu Vui chủ biên), thì: Thuyết Âm – Dương cho rằng có hai lực lượng âm – dương đối lập nhau, nhưng lại gắn bó, cố kết với nhau trong mọi vật, là khởi nguyên của mọi sự sinh thành, biến hoá. Âm – dương là điều kiện tồn tại của nhau, là động lực của mọi sự vận động và phát triển. Âm – dương biểu hiện dưới dạng cụ thể như: mặt trời – mặt trăng; sáng – tối; cao – thấp; ngắn – dài; cứng – mềm; nóng – lạnh; nam – nữ; cha – mẹ; chồng – vợ; nhanh – chậm; thịnh – suy, v.v. Không có cái gì thuần âm, hay thuần dương.

    Mỗi sự vật đều có âm và dương, trong Thái âm (âm lớn) có Thiếu dương (dương nhỏ), trong thái dương (dường lớn) có thiếu âm (âm nhỏ). Sự chuyển hoá giữa âm và dương trong sự vật quy định sự vận động của mọi sự .vật, hiện tượng trong thế giới.

    Phái Ngũ hành cho rằng có 5 yếu tố vật chất nguyên thuỷ là Kim (Kim loại), Mộc (Cây cối), Thuỷ (Nước), Hoả (Lửa), Thổ (Đất). Các yếu tố vật chất nguyên thuỷ ấy không ở trạng thái tĩnh tại, đứng im mà luôn vận động, không cô lập với nhau mà quan hệ mật thiết với nhau và chuyển hoá lẫn nhau tạo nên các vật trong thế giới. Cơ chế của sự chuyển hoá đó được biểu hiện ở chỗ: Cái này sinh ra cái kia (tương sinh), hoặc cái này khắc cái kia, kìm hãm, chế ngự, thủ tiêu cái kia (tương khắc) theo một chu kỳ tuần hoàn:

    “Tương sinh: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ và lại tiếp tục quá trình Thổ sinh Kim.

    Tương khắc: Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ và lại tiếp tục quá trình Thổ khắc Thủy.

    Họ còn cho rằng 5 yếu tố vật chất này có 5 tính năng gọi là 5 đức để giải thích nguồn gốc, chủng loại của các hiện tượng tự nhiên.

    Ngũ hành: Thổ (Đất) – Kim (Kim loại) – Thuỷ (Nước) – Mộc (Cây cối) – Hỏa (Lửa).

    Ngũ sắc: Vàng – Trắng – Đen – Xanh – Đỏ.

    Ngũ tạng: Tỳ vị – Phế – Thận – Can – Tâm.

    Bốn Mùa: Điều hoà 4 mùa – Thu – Đông – Xuân – Hạ

    Bốn phương: Ở giữa – Tây – Bắc – Đông – Nam.”

    Họ cho rằng quá trình tương sinh (bồi đắp, bồi dưỡng) và tương khắc (ức chế) diễn ra không ngừng, là quá trình tồn tại của vật chất. Như vậy thuyết Âm – Dương, Ngũ hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới, tức tính tự tồn tại, tự vận động biến đổi của thế giới. Họ giải thích nguyên nhân của sự biến đổi của thế giới là do sự tác động của thế giới, tức tính tự tồn tại, tự vận động biến đổi của thế giới. Họ giải thích nguyên nhân của sự biến đổi của thế giới là do sự tác động của 2 hoặc 5 yếu tố vật chất đầu tiên, từ đó tạo nên các dạng vật chất vô cùng đa dạng trong thế giới. Sự tồn tại, biến hoá của các vật trong thế giới không phải do tinh thần, hay do lực lượng thần thánh, siêu tự nhiên nào đó quyết định, mà do sự tác động lẫn nhau của chính các yếu tổ vật chất quyết định.

    Trong Dịch truyện cũng nêu ra quan niệm về thế giới, cho rằng khởi nguyên của thế giới là do hai khí Âm – Dương; hai khí đó giao cảm với nhau mà tạo thành mọi vật. Như vậy ở đây theo Dịch truyện có vật chất đầu tiên mà họ gọi là “khí Âm” và “khí Dương”. Đây là hai yếu tố nguyên thuỷ của thế giới vật chất quan hệ mật thiết với nhau để tạo nên mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên mà biểu hiện của nó như: Trời – Đất, Cha – Mẹ, Nóng – Lạnh, Cứng – Mềm v.v.

    Vương Sung (27-105), một nhà triết học theo quan điểm duy vật thời Hán cho rằng “vạn vật trong thiên hạ sinh ra từ cái có”, thế giới là do một thực thể vật chất “khí” tồn tại vĩnh viễn sinh ra. Trong “khí” có “khí đặc” và “khí loãng” (hay khí ấm và khí dương), hai khí đó tương tác với nhau không ngừng và sản sinh ra muôn vật. Như vậy Vương Sung cũng cho rằng cỏ vật chất đầu tiên (khí – cái “có”) là cơ sở sinh ra mọi dạng vật chất cụ thể khác.

    Quan niệm về vật chất của thuyết âm – dương, ngũ hành, của Dịch truyện cũng như của Vương Sung và một số các nhà triết học khác ở Trung Quốc cổ đại đều cho rằng có thực thể vật chất đầu tiên, mà họ thường đồng nhất với những dạng cụ thể của vật chất. Mọi vật trong thế giới đều được sinh ra từ sự tác động và kết họp các thực thể vật chất đầu tiên đó. Quan niệm đó tuy còn chất phác và máy móc, nhưng nó đã có tác dụng tích cực, chống lại quan niệm duy tâm tôn giáo về tự nhiên, thúc đẩy sự phát triển tư tưởng khoa học thời kỳ cổ đại, cố gắng tìm nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên không phải từ tinh thần mà từ vật chất.

    c) Quan niệm về vật chất trong triết học Hy Lạp cổ đại

    Ở Hy Lạp cổ đại, từ thế kỷ VI đến thế kỷ IV chúng tôi với sự phát triến mạnh mẽ của sản xuất, của nghề thủ công, sự giao lưu buôn bán mở rộng, sự ra đời, tồn tại hai quốc gia thành bang hựng mạnh nhất là Athenes và Spartes, cũng là lúc văn hoá cổ Hy Lạp phát triển rực rỡ nhất. Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của Hy Lạp cổ đại đó tạo điều kiện cho tư tưởng triết học phát triển rất phong phú. Các trường phái triết học thể hiện khá rõ nét, trong đó trường phái duy vật và duy tâm là chủ yếu. Sự đấu tranh giữa hai trường phái triết học này là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy triết học Hy Lạp cổ đại phát triển. Trong khi giải thích thế giới, các nhà triết học ở Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về vật chất.

    Talét (khoảng 625 – 547 chúng tôi (có sách cho Talét sống khoảng 640 đến 550 chúng tôi cho rằng nước là khởi nguyên của thế giới. Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại biến thành nước. Nước tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó tạo ra thì biến đổi không ngừng. Thế giới là một thể thống nhất, biến đổi không ngừng theo một vòng tuần hoàn mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn đó. Như vậy ở đây Talét đã đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể là nước mà ông coi là cơ sở (hay bản nguyên) đầu tiên của mọi vật trong thế giới. Quan niệm này thể hiện rõ tính chất duy vật sơ khai về thế giới của triết học Hy Lạp cổ đại.

    Anaximan (khoảng 610 – 546 chúng tôi là học trò của Talét. Khác với Talét, Anaximan cho rằng nguồn gốc và cơ sở của mọi vật không phải là nước mà là Apeirôn (theo tiếng Hy Lạp Apeirôn hay Apâyrông – nghĩa là treo lơ lửng). Theo ông, Apeirôn là cái không có hình thức xác định, là vô cùng, vô tận, tồn tại vĩnh viễn khắp mọi nơi trong vũ trụ. Apeirôn không phải là nước, cũng không phải là lửa, là cái trung gian giữa nước và lửa, nhưng mọi vật đều được sinh ra từ nó. Quan niệm của Anaximan về Apeirôn thể hiện sự cố gắng của nhà triết học muốn thoát khỏi tính hạn chế của việc đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể của nó. Nhưng do trình độ hiểu biết của con người về thế giới còn rất hạn chế, nên vẫn coi có một dạng vật chất đầu tiên là Apeirôn (do tưởng tượng ra) làm cơ sở của mọi vật.

    Anaximen (khoảng 588 – 525 chúng tôi (là học trò của Anaximan) lại cho rằng không khí là nguồn gốc của tất thảy mọi vật, là cái vô định hình mà ngay cả Apeirôn cũng chỉ là tính chất của không khí.

    Hêraclit (sinh khoảng 544 – 541 chúng tôi và không rõ mất thời gian nào) là nhà triết học Hy Lạp cổ đại có nhiều tư tưởng biện chứng rất sâu sắc. Ông cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra mọi vật trong thế giới, cho nên mọi vật linh động như ngọn lửa. Mọi cái biến thành lửa và lửa thành mọi cái tương tự như trao đổi vàng thành hàng hoá và hàng hoá thành vàng. Lửa là cơ sở của mọi vật, đồng thời là khởi nguyên sinh ra mọi vật, lửa không chỉ sản sinh ra các sự vật vật chất mà còn sinh ra cả những hiện tượng tinh thần, cả linh hồn con người.

    Pitago (khoảng nửa cuối thế kỷ VI chúng tôi chịu ảnh hưởng bởi các quan niệm toán học nên ông cho rằng bản chất thế giới và khởi nguyên của thế giới là các con số. Theo Pitago, mọi cái trên thế giới đều chỉ là hiện thân của các con số, một vật tương ứng với một con số nhất định, chẳng hạn điểm hình học được coi là đon vị đơn giản nhất tương ứng với số 1, đường thẳng tương ứng với số 2, mặt phẳng tương ứng với số 3, vật thể tương ứng với số 4 V.V. Những con số là khởi nguyên của mọi vật và tồn tại trước mọi vật. Quan niệm này cho vật chất có nguồn gốc từ các yếu tổ phi vật chất, do vậy đây là quan niệm duy tâm về vật chất.

    Kxênôphan (khoảng 579 – 478 chúng tôi đã nêu ra quan niệm cho rằng toàn bộ đất đai của chúng ta trước kia bị chìm ngập dưới biển, sau đó một phần đất nổi lên và trở thành lục địa, chỗ cao trở thành nói non. Từ đó Kxênôphan cho rằng đất cùng với nước là cơ sở của mọi cái trên thế gian, là nguồn gốc tạo nên sự sống của muôn loài sinh vật.

    Bản thân nước tạo ra các đám mây, các đám mây đó lại tạo ra các hành tinh, kể cả mặt trăng và mặt trời. Trong quan niệm này thể hiện rõ tư tưởng cho rằng có vật chất đầu tiên, là cơ sở cho mọi dạng vật chất cụ thể, thế giới có điểm khởi đầu.

    Parmênit (khoảng cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ V chúng tôi là học trò của Kxênôphan, cho rằng bản chất của mọi sự vật trong thế giới là tồn tại, không thể có cái “không – tồn tại”, bởi chúng ta không thể hình dung được nó là cái gì. Tồn tại là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của thế giới bởi vì mọi vật dù khác nhau thế nào thì vẫn có điểm chung là “Tồn tại”, tức là chúng có thực. Không có cái gì trên thế gian lại sinh ra từ hư vô, tức là từ cái “không – tồn tại”. Ngược lại, không có cái gì mất đi mà không để lại dấu vết, Trên thế giới, chúng ta chỉ thấy liên tiếp diễn ra sự biến đổi từ dạng tồn tại này sang dạng tồn tại khác mà thôi. Bản chất của tồn tại là bất biến, vĩnh viễn, và không thể mất đi được. Tồn tại tự đồng nhất với chính bản thân nó. Chỉ có thể nhận thức được tồn tại bằng tư duy, bằng lý tính, Mọi tư duy bao giờ cũng là tư duy về tồn tại. Tư duy và tồn tại đồng nhất với nhau, chúng là một. Như vậy phạm trù tồn tại của Parmênit không thừa nhận có vật chất đầu tiên là cơ sở của mọi vật cụ thể, là khởi nguyên của thế giới vật chất. Tuy nhiên phạm trù tồn tại của Parmênit lại bao hàm cả khía cạnh vật chất cả khía cạnh tinh thần. Đây là mặt hạn chế trong quan niệm của Parmênít về tồn tại vì ông chưa hiểu được sự đồng nhất giữa các khía cạnh vật chất và tinh thần là cả một quá trình. Thật ra, ở ông chưa có sự phân biệt giữa tư tưởng về đối tượng với đổi tượng của tư tưởng, chưa thấy ranh giới tương đối giữa tinh thần và vật chất. Điều đó làm cho học thuyết của ông về tồn tại gần gũi với chủ nghĩa duy tâm. Nhưng học thuyết về tồn tại của Parmênit là sự phê phán mạnh mẽ quan niệm của các nhà triết học trước đó ở chỗ: Một là, các nhà triết học trước đó đã tuỳ tiện lựa chọn các nguyên tố đầu tiên (khởi nguyên); Hai là, thừa nhận* có cả tồn tại và không tồn tại. Như vậy chúng ta thấy quan niệm của Parmênit về vật chất đã có tính khái quát khá cao, thể hiện sự cố gắng của ông muốn thoát khỏi tính cụ thể trong quan niệm về vật chất của các nhà triết học Hy Lạp đương thời khác.

    Empeđốc (khoảng 490 – 430 chúng tôi và Anaxago (khoảng 500 – 428 chúng tôi không thoả mãn với các nhà triết học trước đây cho khởi nguyên thế giới chỉ là một yếu tố, ông thừa nhận có bốn yếu tố khởi nguyên của mọi sự vật là: ỉửa, không khí, nước và đất. Bổn yếu tố khởi nguyên này tồn tại độc lập, bất biến. Từ sự kết hợp và phân giải bốn yếu tố khởi nguyên trên theo tỷ ỉệ khác nhau mà sinh ra mọi sự vật trên thế gian này. Ngay cả các bộ phận của cơ thể con người cũng là sự kết hợp theo một tỷ lệ nhất định các yếu tố khởi nguyên ban đầu nêu trên.

    Đêmôcrit (khoảng 460-370 tr.CN), cho rằng khởi nguyên thế giới không phải là một sự vật cụ thể nào đó như nhiều nhà triết học trước đó quan niệm mà là các nguyên tử (tức tồn tại) và khoảng không (tức cái không – tồn tại). Nguyên tử và khoảng không đều là các nguyên nhân vật chất (theo nhận xét của Arixtốt). Nguyên tử và khoảng không có nhiều đặc tính khác nhau: Nguyên tử thì đậm đặc, vững chắc không thể phân chia, khoảng không thì trống rỗng; nguyên tử thì đa dạng, khoảng không thì thuần nhất; nguyên tử thì có kích thước hình dạng nhất định, còn khoảng không thì vô tận và không có hình dạng nhất định nào cả.

    Theo Đêmôcrít, nguyên tử có nhiều hình dạng khác nhau như hình cầu, hình tam giác, hình lõm v.v. Các nguyên tử còn khác nhau về thể trạng và tư thế. Các nguyên tử không thể biến hoá từ nguyên tử này sang nguyên tử kia mà tồn tại vĩnh viễn. Chính sự đa dạng về hình thức của các nguyên tử và sự kết hợp các nguyên tử trong khoảng không tạo nên sự đa dạng của các sự vật trong thế giới. Quan niệm của Đêmôcrit về nguyên tử là sự kết họp quan niệm của Hêraclít và Parmanít về tồn tại, vừa cho rằng tồn tại là bất biến (nguyên tử là bất biến) vừa cho rằng thế giới luôn luôn biến đổi (Sự kết họp các nguyên tử tạo nên các vật thường xuyên thay đổi). Quan niệm của Đêmôcrít về nguyên tử đã giải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên, là đỉnh cao của quan niệm triết học duy vật.thời kỳ cổ đại về phạm trù vật chất. Quan niệm đó đã khẳng định nguyên nhân vật chất của thế giới, đồng thời cho rằng có vật chất ban đầu là nguyên tử. Nguyên tử là giới hạn cuối cùng của vật chất, không thể có yếu tố vật chất nào là bộ phận của nguyên tử nữa.

    Tóm lại ở thời kỳ cổ đại các nhà triết học chưa nêu ra được định nghĩa khái quát về phạm trù vật chất (hay chưa có khái niệm trừu tượng về vật chất), mà thường đồng nhất vật chất nói chung với một dạng, hoặc một vài dạng cụ thể của vật chất mà họ gọi là khởi nguyên của thế giới. Họ nhận thấy thế giới bao gồm vô vàn các sự vật khác nhau, biến đổi không ngừng, nhưng vẫn thống nhất với nhau, và họ tìm cách giải thích thế giới các sự vật đa dạng đó ở cơ sở đầu tiên (yếu tố khởi nguyên). Do sự hiểu biết thế giới xung quanh còn ít, những tài liệu về thế giới chủ yếu dựa vào những quan sát trực tiếp, nên những yếu tố khởi nguyên mà các nhà tư tưởng nêu ra đều là các giả định, còn mang tính chất cảm tính, chưa được chứng minh về mặt khoa học, thường chỉ được cảm nhận của chúng ta xác nhận phần nào. Tính chất cảm tính trong quan niệm về vật chất của thời kỳ cổ đại thế hiện ở chỗ mỗi nhà triết học lại đưa ra quan niệm khác nhau về yếu tố khởi nguyên của thế giới do ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống khác nhau. Chẳng hạn, Talét cho yếu tố khởi nguyên của các vật là nước vì ông nhận thấy nước cần thiết cho con người và mọi sinh vật; Hêraclit cho yếu tố khởi nguyên của các vật là lửa vì ông sống trong thời kỷ chiến tranh thường xuyên xảy ra. Trong chiến tranh, lửa là vũ khí mạnh mẽ nhất v.v. Đây là đặc điểm lớn nhất của quan niệm về vật chất ở thời kỳ cổ đại. Điều này cũng cho thấy những quan niệm của triết học về thế giới chịu ảnh hưởng của điều kiện sống của con người như thế nào.

    1.1.2. Quan niệm về vật chất trong triết học phương Tây thế kỷ XVII – XVIII.

    Từ cuối thế kỷ XVI, do nhu cầu của sản xuất, khoa học tự nhiên thực nghiệm bắt đầu được phát triển. Đen thế kỷ XVII – XVIII khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ nhờ ứng dụng được các thành tựu của toán học và cơ học. Nhiều môn khoa học mới ra đời và đạt được những kết quả mới trong việc nghiên cứu tự nhiên, như quang học, điện và từ, thiên văn học, hoá học, động vật học và thực vật học. Những thành tựu của khoa học tự nhiên trên các lĩnh vực khác nhau đã tạo điều kiện cho sự khái quát triết học về phạm trù vật chất tiến lên một bước mới, không dừng lại ở các giả định mà là những khái quát dựa trên những tài liệu thực tế của khoa học. Tuy nhiên, khoa học thế kỷ XVII – XVIII mới là những khoa học nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của thế giới, những tài liệu về mối liên hệ giữa các lĩnh vực khác nhau còn chưa có. Phương pháp nghiên cứu khoa học thời kỳ này chủ yếu là phương pháp phân tích, tiến từ cái toàn thể đến cái bộ phận, sự phân chia thế giới thống nhất ra thành các bộ phận để tìm hiểu. Chính do ảnh hưởng của phương pháp nghiên cứu khoa học thời kỳ này nên quan niệm về vật chất trong thời kỳ này mang tính chất siêu hình, máy móc.

    Các nhà triết học tiêu biểu thời kỳ này đã nêu ra một số quan niệm khác nhau về phạm trù vật chất như Brunô (1554-1600), Phran xi Bêcơn (1561-162ỒỊ, Tômát Hôpxơ (1588-1679), Rêne Đềcác (1596-1650), Bêkênít Xpinôza (1632-1677), Đêni Điđrô (1713-1784), Gialenơphơ Lametri (1709-1751) v.v.

    Brunô (1554 – 1600) là một nhà triết học và nhà khoa học tự nhiên của Italia thời kỳ Phục hưng, là người bảo vệ thuyết nhật tâm của Côpécních, một nhà tự nhiên thần luận nghiêng về lập trường duy vật hơn, do vậy ông đã bị Giáo hội thiêu sống.

    Do thế lực tôn giáo còn lớn, chi phối đời sống tinh thần của xã hội, nên quan niệm về vật chất của Brunô phải bọc trong cái vỏ thần học. Ông nêu ra phạm trù cái duy nhất (Uno) đó là Thượng đế tồn tại dưới dạng tự nhiên, như là một thế giới độc lập, không phải được sinh ra từ một cái khác nào đó. Theo Brunô, Uno là tự nhiên – Thượng đế. Mọi sự vật chỉ là những dạng biểu hiện cụ thể của Uno. Sự vật thì biến đổi không ngừng, nhưng bản thân Uno thì bất biến giống như quan niệm của Parcmênít về tồn tại. Ở đây Thượng đế không phải là lực lượng siêu tự nhiên, sinh ra tự nhiên, mà là chính tự nhiên, chính cái duy nhất Uno ấy. Có thể nói Uno trong quan niệm của Brunô là một cách gọi khác về cơ sở đầu tiên có tính vật chất của các sự vật trong thế giới. Chữ “Thượng đế” ở đây chỉ là một từ trống rỗng, không có ý nghĩa là thực thể tinh thần tạo nên các sự vật vật chất như quan niệm về ý niệm của Platon, mà chỉ là cái vỏ bọc cho tư tưởng về cơ sở vật chất của thế giới.

    Chịu ảnh hưởng quan niệm của Arixtốt nhưng Brunô cũng chống lại quan niệm của Arixtốt. Arixtốt cho rằng có cái vật chất ban đầu tồn tại bên ngoài cái hình dạng thuần túy, vật chất chỉ là cái thụ động, tiêu cực phụ thuộc vào hình dạng thuần túy. Brunô cho không có cái vật chất ban đầu bên ngoài cái hình dạng thuần túy, vật chất và hình dạng thống nhất trong Uno. Vật chất phải là cái tích cực, nó vừa là cơ chất, vừa là thực thể của mọi vật. Mọi hình dạng chẳng qua là hình dạng của vật chất mà thôi. Để giải thích cơ cấu hình thành các vật và sự vận động của chúng, ông nêu ra thuyết đơn tử (Monad – đơn vị theo tiếng Hy Lạp), theo đó mọi sự vật và cả vũ trụ nói chung được cấu thành từ các đơn tử như những phần tử nhỏ nhất của vật chất có chứa đựng khả năng tinh thần, ông thừa nhận vận động là đặc tính của vật chất, do vậy trong nội tâm của các đơn tử đều có vận động làm cho nó có sinh khí, rất linh hoạt. Tuy nhiên ông lại dao động trong việc giải thích nguồn gốc của vận động và hình dạng của vật chất, ông cho rằng nguồn gốc của vận động và hình dạng của các vật là do linh hồn và hình dạng phổ biến của thế giới quyết định. Điều này đưa ông đến chủ nghĩa vật hoạt luận, tức là cho rằng mọi vật có đặc tính tinh thần như con người, sự tồn tại và biến đổi của các vật là có mục đích nhất định.

    Phranxis Bêcơn (1561 – 1626) là một nhà triết học vĩ đại, ông tổ của chủ nghĩa duy vật cận đại Anh.

    Quan niệm về vật chất của Bêcơn thể hiện trong quan niệm về thể giới của ông. Theo Bêcơn, để giải thích thế giới chỉ cần có vật chất là đủ, không cần phải tìm đến thế giới thần thánh, hay thế giới tinh thần siêu tự nhiên. Như vậy ông phủ nhận ý thức là nguyên nhân sinh ra vật chất. Ông cho mọi cái trên thế gian được tạo thành là do 3 nguyên nhân: “hình dạng”, “vật chất”, “vận động”, đó thực chất đều là bản tính của vật chất. Vì vậy vật chất có bản tính là tích cực, có sinh khí chứ không phải thụ động. Quan niệm trên của Bêcơn về vật chất có sự phát triển hơn so với quan niệm của Arixtốt thời kỳ cổ đại. Ông đã thấy được sự thống nhất của vật chất với hình dạng và vận động, tức là ông đã có quan niệm sâu sắc hơn về sự thống nhất của thế giới vật chất và tính chất phong phú trong hình thức tồn tại của nó. Tuy nhiên do hạn chế của điều kiện lịch sử và còn chịu ảnh hưởng nặng nề cái quan niệm siêu hình máy móc về thể giới nên đôi khi Ph. Bêcơn còn hiểu hình dạng như một khái niệm chung thuộc về lĩnh vực tinh thần chứ không phải là bản chất của chính bản thân sự vật vật chất. Hơn nữa Bêcơn vẫn chỉ thấy vận động của vật chất là vận động cơ học (gồm 19 dạng vận động như: “1) vận động xung đối; 2) vận động móc nối, kết hợp; 3) vận động giải phóng đưa tới thoát khỏi áp lực; 4) vận động đưa sự vật tới kích thước và khối lượng mới; 5) vận động liên tục; 6) vận động có lợi; 7) vận động tự hợp lại với quy mô lớn; 8) vận động tự họp lại với quy mô nhỏ; 9) vận động từ tính; 10) vận động sản sinh ra; 11) vận động chạy trốn; 12) vận động thức tỉnh; 13) vận động mô tả; 14) vận động ngoại tuyến; 15) vận động theo xu hướng; 16) vận động hùng tráng; 17) vận động tự quay; 18) vận động rung động; 19) đứng yên”.

    Những vận động nêu trên dường như vẫn chỉ là những dạng vận động cơ học mà Ph. Bêcơn phân chia theo cảm nhận của mình, chưa theo cấp độ khác nhau về cấu trúc vật chất.

    Tômát Hốpxơ (1588 – 1679) cũng là một đại biểu nổi tiếng của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII. ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất. Thế giới vật chất có trước con người và không phải do chúa trời tạo ra. Nhưng Hốpxơ lại ngả theo lập trường duy danh cho rằng thế giới của chúng ta chỉ tồn tại các sự vật đon lẻ, những khái niệm như “thực thể”, “vật chất” chỉ là những tên gọi. Theo ông không tồn tại khách quan cái bản chất chung của các sự vật, cho nên ông không có được quan niệm biện chứng về mối liên hệ giữa các sự vật trong thế giới. Điều đó làm cho quan điểm duy vật của ông trở nên không triệt để.

    Rêne Đềcáctơ (1596 – 1650) – một nhà triết học lỗi lạc của Pháp, một nhà duy lý rất đề cao lý tính, trí tuệ của con người. Ông nêu lên luận điểm nổi tiếng: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” với ý nghĩa đề cao vai trò chủ thể tư duy, ý thức của con người.

    Quan niệm về vật chất của Đồcáctơ có tính chất nhị nguyên, ông cho rằng Thượng đế sáng tạo ra 2 loại thực thể khác nhau: thực thể vật chất có quảng tính, tạo nên các sự vật vật chất và thực thể tinh thần tạo nên các hiện tượng tinh thần không có kích thước, hình dáng xác định, không cảm nhận được bằng các cảm giác. Thực thể vật chất và thực thể tinh thần song song tồn tại, không phụ thuộc vào nhau, không sản sinh ra nhau, mà chỉ phụ thuộc vào Thượng đế.

    Bêkênít Xpinôza (ỉ632 – 1677) ỉà một nhà triết học lỗi lạc của Hà Lan. Quan niệm về vật chất của Xpinôza thể hiện qua quan niệm về giới tự nhiên như một thực thể với những thuộc tính và dạng thức của nó. Ông cho rằng giới tự nhiên như một thực thể duy nhất, tồn tại hoàn toàn độc lập do nguyên nhân tự nó. Khác với Đềcáctơ, Xpinôza cho thực thể chính là thực thể giới tự nhiên chứ không phải ở ngoài hay ở trên giới tự nhiên như một lực lượng siêu nhiên thần bí nào đó.

    Theo xpinôza giới tự nhiên ixiiU’ một thực thể có các đặc tính như:

    Một là: Nó đang tồn tại trọn vẹn và đầy đủ, không phải thêm cái gì vào nữa. Điều này khẳng định tính khách quan của giới tự nhiên.

    Hai là: Thực thể tồn tại hoàn toàn độc lập. Ngoài toàn bộ giới tự nhiên như một thực thể duy nhất ra thì không còn cái gì khác. Thực thể là nguồn gốc chung, là nền tảng, đồng thời là bản chất chung của mọi vật, cả vật chất lẫn tinh thần. Điều này khẳng định thể giới có nguyên nhân tự nó, có sự thống nhất giữa tính chất chung và tính chất nhiều vẻ của nó.

    Ba là: Thực thể là vô cùng tận về không gian và vĩnh hằng về thời gian. Thực thể không đồng nhất với các vật mà tách rời với các vật, là một cái siêu không gian và siêu thời gian, và không thể phân chia được.

    Quan niệm về thực thể với các đặc tính nêu trên thể hiện Xpinôza giải thích thế giới vật chất theo lập trường duy vật, cố gắng đưa ra một quan niệm khái quát hơn về vật chất, đưa ra phạm trù thực thể không đồng nhất với một dạng cụ thể của vật chất để giải thích các sự vật trong thế giới. Tuy nhiên việc tách rời thực thể với các vật, thực thể là cơ sở chung của các vật, tồn tại trước các vật làm cho quan niệm về yật chất của Xpinôza vẫn không vượt khỏi đặc điểm chung của quan niệm về vật chất của các nhà triết học đương thời với ông, vẫn đồng nhất vật chất với một bản nguyên ban đầu nào đó, mà ở đây là thực thể.

    Đêni Điđrô (1713 – 1784) – một nhà triết học điển hình của Pháp thời kỳ Khai sáng. Quan niệm về vật chất của ông có nhiều yếu tố biện chứng. Ồng cho rằng vật chất là nguyên nhân duy nhất của mọi cảm giác của chúng ta. “Trên thực tế vũ trụ chỉ có một thực thể, cả trong con người lẫn động vật, cũng như các sự vật khác, đó là vật chất. Bản tính cố hữu của nó là vận động. Chính vận động là năng lực sống động của vật chất. Sự dịch chuyển của vật thể từ vị trí này sang vị trí khác, không phải là vận động mà chỉ là sự di động. Còn vận động có cả ở vật đang vận động lẫn vật đang đứng yên” (trích theo cuốn Lịch sử triết học của Nguyễn Hữu Vui, tr.362-363). Trong quan niệm này của Điđrô cho thấy ông đã kế thừa các quan điểm về vật chất của các nhà triết học trong lịch sử, kết họp với những tài liệu mới của khoa học để đưa ra một quan niệm có cơ sở khoa học hơn về sự tồn tại độc lập của vật chất, về sự tự tồn tại và luôn vận động của vật chất, ông coi vật chất là thực thể chung, phổ biến của mọi vật, thực thể vật chất có bản tính vận động. Vận động không phải chỉ là sự dịch chuyên từ vị trí này sang vị trí khác, mà còn có các hình thức vận động khác nữa. Tuy nhiên ông chưa phân biệt rõ các hình thức vận động khác nhau của vật chất.

    Không những thế ông còn khẳng định rằng trong quá trình vận động và phát triển, giới tự nhiên sẽ chọn lọc những gì phù hợp với nó, giúp cho nó ngày càng hoàn thiện, đồng thời đào thải, loại bỏ những vật nào không thích hợp hoặc không tuân theo quy luật của nó. Do vậy cấu trúc của giới tự nhiên (chẳng hạn, cẩu trúc và trạng thái của các sinh vật) là kết quả của quá trình vận động chọn lọc và thích nghi lâu dài của giới tự nhiên. Có thể nói, với quan điểm này, Điđrô là người đầu tiên nêu ra giả thiết về quá trình tiến hoá của giới sinh vật, là bậc tiền bối của thuyết chọn lọc tự nhiên của Đácuyn. Tất nhiên đây mới chỉ là giả thiết trừu tượng, chưa được chứng minh bằng các tài liệu nghiên cứu khoa học thực tế.

    Điđrô còn cho rằng con người được cấu thành từ linh hồn và thể xác. Trong con người linh hồn và thể xác thống nhất hữu cơ với nhau. Linh hồn là một tổng thể các hiện tượng tâm lý của con người. Bản thân linh hồn cũng là đặc tính của vật chất. Không có linh hồn thuần tuý tồn tại bên ngoài thể xác, hay không có thể xác thì không thể tồn tại linh hồn. Ở đây Điđrô đã nhận thấy ý thức là thuộc tính của con người, tồn tại trong con người, gắn với quá trình tâm lý của con người. Ông cũng cho rằng nhân cách của con người là kết quả của sự tác động của hoàn cảnh môi trường xung quanh đến con người. Tuy nhiên ông chưa hiểu được môi trường xung qunh cũng là kết quả của hoạt động của con người, nó có tính lịch sử. Như vậy có thể nói, ông chưa hiểu được vai trò của thực tiễn xã hội, của hoạt động vật chất cải tạo tự nhiên của con người trong sự hình thành nhân cách, ý thức của con người, nghĩa là ông chưa phân biệt được vật chất trong xã hội với vật chất trong tự nhiên.

    Gialen Ơphrơ Lamétri (1709 – 1751) cũng là một đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy vật Pháp thời kỳ Khai sáng. Tiếp thu tư tưởng duy vật của các nhà triết học tiền bối, ông cũng nêu ra quan điếm về vật chất của mình, ông cho rằng, chỉ tồn tại một thực thể duy nhất là vật chất. Thực thể này tồn tại vĩnh viễn, không phụ thuộc vào mọi nguyên nhân thần thánh tối cao nào, mà tồn tại tự thân và tất yếu. Theo ông, vật chất không chỉ là một thuộc tính cơ bản của thực thế mà chính bản thân thực thể là nguồn gốc duy nhất của mọi cái trên thế gian kể cả con người. Vật chất không phải là cái gì đó thụ động, mà luôn có khả năng tự vận động, biến đổi không ngừng. Bản thân vật chất chứa đựng một lực lượng làm nó sống động và là nguyên nhân trực tiếp của mọi quy luật vận động. Trong thế giới của chúng ta không có cái gì khác ngoài thế giới vật chất đang vận động vĩnh viễn.

    1.2. Quan niệm về vật chất trong triết học Mác – Lênin

    Triết học Mác – Lênin ra đời trong điều kiện lịch sử ở Tây Âu và nước Đức vào những năm 40 của thế kỷ XIX, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đó ra đời và phát triển trở thành phương thức sản xuất thống trị trong xã hội. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đó làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trở nên sâu sắc. Cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp tư sản phát triển, đặt ra nhiều vấn đề, đòi hỏi phải có lý luận cách mạng soi đường! Các lý luận về triết học, kinh tế – chính trị học, lý luận về chủ nghĩa xã hội trong xã hội tư bản khi đó, mặc dù có sự phát triển vượt bậc so với thời kỳ cổ đại và trung cổ, đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng vẫn không thể đáp ứng được yêu cầu của cuộc đẩu tranh của giai cấp vô sản nhằm giải phóng mình và giải phóng xã hội. Cùng với điều đó, khoa học tự nhiên thời kỳ này cũng có bước phát triển mới Khoa học tự nhiên không chỉ nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt mà đó bắt đầu đi vào nghiên cứu các quá trình, sự liên hệ giữa các lĩnh vực khác nhau của thế giới vật chất. Nhiều phát minh mới của khoa học tự nhiên ra đời đó bác bỏ quan điểm siêu hình về thế giới trước đây và tạo cơ sở cho quan điểm biện chứng duy vật ra đời. Ke thừa có phê phán những quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học, khái quát thực tiễn xã hội và những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên hiện đại trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, triết học Mác – Lênin đó đưa ra quan niệm về vật chất khác căn bản với các quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước đây. Quản niệm về vật chất của triết học Mác – Lênin từ thời kỳ Mác, Ăngghen đến thời kỳ Lênin, cũng có sự phát triển. Điều đó là do hoàn cảnh lịch sử cụ thể và sự phát triến khoa học tự nhiên trong hai thời kỳ này quyết định. Nhiệm vụ trọng tâm của Mác và Ảngghen là xây dựng hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, do vậy các ông chỉ nêu những tư tưởng cơ bản về phạm trù vật chất, không đi sâu hoàn chỉnh định nghĩa phạm trù này. Thời kỳ Lênin do nhiệm vụ đấu tranh chổng chủ nghĩa duy tâm chủ quan đầu thế kỷ XX, muốn lợi dụng những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên hiện đại để phủ nhận chủ nghĩa duy vật nói chung, nên Lênin đó phát triển tư tưởng của Mác và Ăngghen, đi đến hoàn chỉnh định nghĩa phạm trù vật chất. Vì vậy, việc nghiên cứu quan niệm về vật chất trong triết học Mác – Lênin cũng được chia ra ‘lai thời kỳ: thời kỳ Mác, Ăngghen và thời kỳ Lênin.

    1.2.1. Tư tưởng của Mác và Ăngghen về phạm trù vật chất

    Trong các tác phẩm của mình, Mác và Ăngghen đã trình bày quan niệm về phạm trù vật chất trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khác căn bản với các nhà triết học duy vật siêu hình trước đây. Các ông đều khẳng định rằng vật chất tồn tại độc lập với ý thức, ý thức chỉ là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người. Ý thức là hình ảnh tinh thần của thế giới vật chất, là thế giới vật chất (hiện thực khách quan) được di chuyển vào trong óc của con người và được cải biến đi thành hình ảnh chủ quan ở trong đó. Như vậy sự tồn tại của vật chất không bị quyết định bởi ý thức mà là vật chất tự tồn tại. Con người và ý thức của con người cũng chỉ là một sản phẩm của thế giới vật chất. Vật chất tồn tại thông qua vận động, gắn liền với vận động. Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất. Không có không gian và thời gian thuần tuý. Con người và xã hội loài người cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt được sinh ra từ quá trình vận động, phát triển không ngừng của vật chất.

    Ngay trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Lời nói đầu Mác đã nêu ra luận điểm thể hiện một quan niệm mới của ông về vật chất, ông viết: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”

    Thứ nhất, sự biến đổi của vật chất là do bản thân vật chất quyết định, tinh thần, tư tưởng (hay lý luận) không thể thay thế vật chất được, điều đó khẳng định tính thứ nhất của vật chất và tính thứ hai của ý thức.

    Thứ hai, ý thức, tư tưởng (hay lý luận) có thể trở thành lực lượng vật chất khi thâm nhập vào quần chúng, ở đây, lý luận thâm nhập vào quần chúng có thể hiểu là được quần chúng nhận thức và vận dụng, biến thành niềm tin, ý chí, và các quy tắc hướng dẫn hoạt động thực tiễn của đông đảo quần chúng nhân dân, thông qila đó ý thức, lý luận phát huy vai trò tích cực của mình.

    Thứ ba, Mác đã mở rộng quan niệm về vật chất vào lĩnh vực đời sống xã hội, nhận dạng sự tồn tại vật chất trong lĩnh vực xã hội, đó chính là hoạt động thực tiễn của con người. Sau này Mác và Ăngghen còn đi sâu nghiên cứu những dạng vật chất trong lĩnh vực xã hội, khẳng định vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội như: tồn tại xã hội, là toàn bộ đời sống vật chất cùng những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, là cái quyết định ý thức xã hội; các quan hệ sản xuất là các quan hệ vật chất hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất, đó là dạng tồn tại của vật chất trong xã hội, quyết định các quan hệ xã hội khác như các quan hệ chính trị, đạo đức, tư tưởng v.v. Tuy nhiên Mác và Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa khái quát về phạm trù vật chất.

    Trong tác phẩm Chống Đuyrinh và tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ăngghen đã trình bày khá chi tiết quan niệm của mình về phạm trù vật chất. Ông đã chỉ ra sai lầm của các nhà khoa học tự nhiên, do bị ảnh hưởng bởi quan điểm siêu hình về thế giới vật chất, nên đã cho rằng thế giới vật chất có điểm khởi đầu, hay còn gọi là “bản nguyên đầu tiên”, “thực thể vật chất đầu tiên”. Thực thể vật chất đầu tiên hoàn toàn thuần nhất, tồn tại vĩnh viễn, không được sinh ra và không mất , đi. Mọi dạng vật chất cụ thể đều bắt nguồn từ thực thể vật chất đầu tiên đó, đều do sự kết họp thực thể đầu tiên đó theo một cách thức nhất định nào đó mà tạo thành; cái thực thể đầu tiên đó có thể tồn tại bên ngoài các dạng vật chất cụ thể. Các dạng vật chất cụ thể chỉ khác nhau ở hình thức kết hợp cái bản nguyên đầu tiên đó thôi. Do vậy các dạng vật chất đều có thể quy về sự khác nhau về lượng. Điều này sẽ dẫn đến việc phủ nhận sự phong phú về chất của các sự vật trong thế giới vật chất. Khi phê phán quan điểm siêu hình về vật chất và quan hệ giữa vật chất với vận động, để phân biệt quan điểm biện chứng với quan điểm siêu hình về thế giới vật chất Ăngghen đã viết: “Thực thể, vật chất không phải cái gì khác hơn là tông sô những vật íliê từ đó người ía rút ra khái niệm ấy bằng con đường trừu tượng hoá; vận động với tính cách là vận động không phải là cái gì khác hơn là tổng số những hình thức vận động có thể cảm biết được bằng các giác quan; nhũng từ như “vật chất” và “vận động” chỉ là những sự tóm tắt trong đó chúng ta tập họp theo những thuộc tính chung của chúng, rất nhiều sự vật khác nhau có thể cảm biết được bằng các giác quan. Vì thế chỉ có thể nhận thức được vật chất và vận động bằng cách nghiên cứu những vật thể riêng biệt và những hình thức riêng lẻ của vận động, và khi chúng ta nhận thức được những cái ấy thì chúng ta cũng nhận thức được cả vật chất và vận động với tính cách là vật chất và vận động”. Trong đoạn trích dẫn này Ảngghen giải thích rất rõ: Vật chất là khái niệm chung, được rút ra bằng con đường trừu tượng hoá. Đối tượng mà khái niệm vật chất phản ánh đó là tổng số những vật thể. Như vậy Ăngghen không đồng nhất vật chất nói chung với một dạng vật chất cụ thể, không coi có một vật chất ban đầu tồn tại bên ngoài các vật thể cụ thể và là cơ sở của các vật thể cụ thể. Vật chất và vận động chỉ là sự tóm tắt trong đó chúng ta tập họp theo những thuộc tính chung của các vật thể cụ thể, các hình thức vận động cụ thể vào khái niệm vật chất và vận động.

    Ở chỗ khác cũng tinh thần đó, Ăngghen viết: “Vật chất, với tính cách là vật chất, là một sáng tạo thuần tuý của tư duy và là một sự trừu tượng. Chúng ta bỏ qua những sự khác nhau về chất của những sự vật, khi chúng ta gộp chúng, với tính cách là những vật tồn tại hữu hình, vào khái niệm vật chất. Do đó, khác với những vật chất xác định và đang tồn tại, vật chất, với tính cách là vật chất, không có sự tồn tại cảm tính. Khi khoa học tự nhiên hy vọng tìm ra vật chất có hình dạng đồng nhất, và muốn quy tất cả những sự khác nhau về chất lượng thành những sự khác nhau thuần tuý về số lượng do sự kết họp của những hạt nhỏ đồng nhất tạo ra thì như thế là nó cũng hành động giống như khi nó muốn coi trái cây với tính cách là trái cây chứ không phải là trái anh đào, trái lê, trái táo; coi loài có vú với tính cách là loài có vú, chứ không phải là con mèo, con chó, con cừu v.v.”

    Các đoạn trích trên của Ăngghen thể hiện rõ nhũng nội dung sau đây về phạm trù vật chất:

    Một là không được đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể của vật chất; không coi vật chất nói chung là một thực thể vật chất đầu tiên (hay bản nguyên đầu tiên) nào đó làm cơ sở cho mọi vật như các nhà khoa học tự nhiên cận đại, hoặc các nhà triết học thời kỳ cổ đại quan niệm. Điều đó nghĩa là Ăngghen không coi thế giới có điểm khởi đầu, hay có giới hạn.

    Hai là, phạm trù vật chất với tính cách là phạm trù triết học, một phạm trù trừu tượng và có tính khái quát rất cao. Phạm trù vật chất phải bao quát được đặc tính chung của tất cả các sự vật tồn tại trong thế giới. Đặc tính chung đó chính là sự tồn tại độc lập, bên ngoài ý thức, tức là khẳng định vật chất tự tồn tại, không phụ thuộc vào ý thức.

    Ba là, vật chất với tính cách là vật chất (nghĩa là khái niệm triết học về vật chất) không tồn tại như một sự vật cảm tính, hữu hình, cũng không phải là một cái gì trừu tượng chung chung tồn tại bên ngoài các sự vật cụ thể như quan niệm về Thượng đế của tôn giáo, hoặc như quan niệm về cáỉ chung của phái Duy thực trong triết học Tây Âu trung cổ. Vật chất tồn tại thông qua các dạng cụ thể. Các dạng cụ thể chính là một phần vật chất, Nhận thức các dạng cụ thể chính là nhận thức những bộ phận của vật chất. Vì thế mà con người có thể đi từ nhận thức các dạng cụ thể của vật chất đến chỗ nhận thức được thế giới vật chất.

    Bốn là, vật chất tồn tại thông qua vận động, không gian, thời gian. Vận động, không gian, thời gian là phưcmg thức và hình thức tồn tại của vật chất. Không có vật chất không vận động và tồn tại bên ngoài không gian, thời gian. Vật chất là vô cùng vô tận, tồn tại vĩnh viễn; vận động, không gian và thời gian gắn liền với vật chất, cũng vô cùng vô tận và vĩnh viễn tồn tại, không do ai sáng tạo ra.

    Tóm lại, tuy Mác và Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa khái quát về phạm trù vật chất, nhưng quan niệm của Mác và Ăngghen về vật chất rõ ràng là có tính chất duy vật biện chứng sâu sắc. Các ông đó mở rộng quan niệm về vật chất trong lĩnh vực xã hội, khắc phục được tính chất siêu hình máy móc của các nhà triết học duy vật trước đây, tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp phạm trù vật chất mà Lênin thực hiện trong điều kiện khoa học tự nhiên có bước phát triển mới vào đầu thế kỷ XX.

    1.2.2. Quan niệm của Lênin về phạm trù vật chất

    Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khoa học tự nhiên, nhất là vật lý học có bước phát triển mới, đã đi sâu vào nghiên cứu thế giới vi mô và đã phát hiện ra nhiều đặc tính mới của thế giới vật chất. Những đặc tính mới đó mâu thuẫn với quan điểm duy vật siêu hình về thế giới vật chất. Những nhà triết học duy tâm chủ quan, tiêu biểu là Ma-khơ và A-vê-na-ri-út đã lợi dụng sự mâu thuẫn giữa những thành tựu mới của vật lý học hiện đại với quan điểm duy vật siêu hình về thế giới để phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy vật nói chung, trong đó bao gồm cả chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Ma-khơ và A-vê-na-ri-út, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, Lênin đã kế thừa và phát triển hơn những quan điểm của Mác và Ăngghen về vật chất. Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán, khi phê phán quan điểm duy tâm chủ quan của Ma-khơ và phái Ma-khơ ở Nga, lợi dụng những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại để phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất, Lênin đã nêu lên định nghĩa về phạm trù vật chất như sau: “Vật,chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”;. Cũng trong tác phẩm này, ở một chỗ khác Lênin còn viết: “Các khoa học tự nhiên khẳng định một cách tích cực rằng, trái đất đã từng tồn tại trong một trạng thái chưa có và cũng không thể có loài người hay bất cứ một sinh vật nào nói chung cả. Vật chất hữu cơ là một hiện tượng về sau mới có, là kết quả của một sự phát triển lâu dài. Như vậy tức là hồi bấy giờ, không có vật chất có năng lực cảm giác, không có cái Tôi nào. Vật chất là cái có trước; tư duy, ý thức, cảm giác đều là sản phẩm của một sự phát triển rất cao (của vật chất – DVT)” y. “Vật chất là cái tác động vào giác quan của chúng ta, thì gây ra cảm giác, vật chất là một thực tại khách quan được đem lại cho chúng ta trong cảm giác”. Lênin nhắc lại luận điểm của Ăngghen: “Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần, nhưng tinh thần chỉ là sản phẩm cao cấp của vật chất mà thôi”.

    Một là, định nghĩa chỉ rõ vật chất với tư cách là phạm trù ưiết học, là phạm trù rộng nhất, khái quát đặc tính chung của toàn bộ những sự vật, những quá trình diễn ra trong hiện thực khách quan; ở đây Lênin không đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể của vật chất, hoặc với một thực thể, một bản nguyên đầu tiên nào đó là đối tượng nghiên cứu của các khoa học cụ thể, dù đó là những đối tượng vô cùng bé hoặc vô cùng lớn. Đối tượng vật chất cụ thể thì có giới hạn, có ra đời và mất đi, nhưng vật chất nói chung thì vô hạn và vĩnh viễn tồn tại, không do ai sinh ra và không mất đi.

    Hai là, vật chất có đặc tính chung là tồn tại khách quan, độc lập với ý thức, không lệ thuộc vào ý thức. Đây là đặc tính chung, căn bản của vật chất để xác định đâu là vật chất, phân biệt vật chất với ý thức. Ý thức, cảm giác, tinh thần, tư duy chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là não người, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người. Sự tồn tại của ý thức phải dựa trên cơ sở vật chất. Không có ý thức tồn tại thuần túy ngoài vật chất, độc lập với vật chất.

    Ba là, vật chất tồn tại thông qua các dạng cụ thể của vật chất, không có “vật chất nói chung” tồn tại bên ngoài các dạng cụ thể của vật chất như một “thực thể” độc lập làm cơ sở cho mọi vật, hoặc là điểm khởi đầu của thế giới vật chất. Các vật trong thế giới không phải là sự kết hợp theo một cách thức nào đó “cái vật chất nói chung” “ban đầu” như các nhà duy vật trước Mác quan niệm, mà các vật chính là dạng cụ thể của vật chất. Con người nhận thức các dạng vật chất cụ thể chính là nhận thức các bộ phận của vật chất, từ đó con người sẽ có khả năng nhận thức được thế giới vật chất vô cùng vô tận một cách đầy đủ. Điều này khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người.

    Bốn là, vật chất tồn tại thông qua vận động và tồn tại trong không gian và thời gian. Không có vật chất tồn tại mà không vận động, không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian, cũng không có vận động, không gian, thời gian thuần tuý ngoài vật chất. Vận động, không gian, thời gian là thuộc tính và hình thức tồn tại cố hữu của vật chất gắn liền với vật chất.

    Năm là, vật chất là vô cùng vô tận, vĩnh viễn tồn tại, không do ai sinh ra và cũng không mất đi. Ý thức, tư tưởng và tư duy của con người chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là não của con người, là sự phản ánh ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn những thuộc tính của các dạng vật chất vào bộ não con người. Ý thức, tư duy của con người tự bản thân nó kiiông làm thay đổi vật chất. Ý thức, tư duy của con người có thể tác động đến vật chất, làm biển đổi vật chất thông qua hoạt động thực tiễn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Chất, Lượng, Độ, Điểm Nút, Bước Nhảy? Chất Và Lượng Của Sự Vật Có Mối Quan Hệ Biện Chứng Nào? Có Thể Rút Ra Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Gì Từ Việc Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Đó? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Bài 7: Vai Trò, Ý Nghĩa Của Từ Hán Việt
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Cuộc Sống Hàng Ngày
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Tiếng Hán
  • Từ Hán Việt Và Sự Sáng Tạo Của Người Việt
  • Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học L.feuerbach

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoa Học Về Vi Sinh Vật Đang Định Nghĩa Lại Triết Học: Con Người Là Gì?
  • Phẩm Giá Con Người Trong Triết Học Kant
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Mác
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ Và Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân
  • Triết Học Về Chính Trị: 6
  • Quan niệm về con người đã phát sinh và tồn tại từ khi triết học mới hình thành, nhưng phải đợi đến cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện hệ thống triết học phê phán của nhà triết học cổ điển Đức chúng tôi (1724- 1804) thì các quan niệm đó mới được hệ thống hoá và trình bày dưới dạng một học thuyết triết học với tên gọi là chủ nghĩa nhân bản. Tiếp thu những giá trị tư tưởng trong nhân bản học của Kant, đồng thời dựa trên những thành tựu mới của khoa học tự nhiên đương thời, L. Feuerbach (1804-1872) có tham vọng vươn tới việc thiết lập một nền triết học mới – triết học tương lai, lấy con người và đời sống tâm – sinh lý của nó làm đối tượng nghiên cứu cơ bản. Triết học mới – Feuerbach viết: “Biến con người, kể cả giới tự nhiên với tư cách là nền tảng của con người, thành đối tượng duy nhất, phổ biến, cao nhất của triết học, do đó cũng biến nhân bản học, kể cả sinh lý học thành khoa học phổ quát”.

    Vậy nền triết học mới mà Feuerbach đề cập đến ở đây là gì? Đó là triết học phản ánh chân lý của thời đại, nó đặt ra và lý giải những vấn đề xã hội đương thời mà chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm trước ông đều bất lực: “Chân lý không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm, không phải là sinh lý học hay tâm lý học. Chân lý là nhân bản học”. Theo Feuerbach, triết học mới hay triết học tương lai sẽ khắc phục được sự khác biệt của mình đối với tôn giáo, sẽ không còn là thứ triết học nhận thức tư biện, mà trở thành nhân bản học – một học thuyết toàn diện về con người, về mối quan hệ của nó với thế giới. Trong triết học mới (triết học nhân bản), hình ảnh con người sẽ được trình bày cả trên cơ sở của các dữ liệu khoa họe cũng như trên cơ sở của học thuyết về Chúa. Con người trong nhân bản học không chỉ được hiểu như là một bộ phận của giới tự nhiên mà còn là một sinh thể tự nhiên toàn năng. Triết học môi có sức mạnh truy tìm lời giải đáp hiện thực để giải quyết mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Triết học cũ là hệ thống triết học gắn liền với thần học, chứng minh cho sự tồn tại hợp lý của chúa trời, còn triết học mới kết hợp chặt chẽ với khoa học tự nhiên, thực hiện sứ mệnh cao cả của mình là giúp con người: 1) nhận diện chính mình như một bộ phận, như là cọn đẻ của giới tự nhiên, 2) nhận ra chân giá trị của cuộc sống, 3)nhằm nỗ lực phấn đấu cho hạnh phúc ngay trong thế giới trần gian. Và để thực hiện được sứ mệnh lịch sử thiêng liêng đó thì “triết học cần thiết phải liên hệ chặt chẽ với khoa học tự nhiên, còn khoa học tự nhiên phải liên hệ chặt chẽ với triết học”.

    Toàn bộ mối quan hệ giữa giới tự nhiên và con người phản ánh mối quan hệ giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ, phản ánh tiến trình tiến hoá của sự sống, theo nghĩa thế giới vô cơ là tiền đề, là cơ sở nền tảng của mọi sự sống nói chung, của đời sống con người nói riêng. Con người chỉ có thể tồn tại trong giới tự nhiên, trong sự tiếp xúc với thế giới khách quan bên ngoài nó, và cũng chính thế giới này quy định sự tồn tại và phát triển của các giác quan con người chứ không phải ngược lại như chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định. Ánh sáng tồn tại không phải để cho con mắt nhìn, mà con mắt tồn tại bởi vì có ánh sáng, tương tự như vậy, không khí tồn tại không phải để cho con người hít thở mà con người hít thở bởi vì có không khí, bởi vì, nếu không có không khí thì sẽ không có sự sống. Tồn tại một mối quan hệ tất yếu giữa thế giới vô cơ và thế giới hữu cơ. Mối quan hệ qua lại này chính là cơ sở, là bản chất của sự sống. Bởi vậy, chúng ta không có căn cứ nào để giả định rằng, nếu như con người có nhiều cảm giác hay nhiều cơ quan thì nó sẽ hiểu biết được nhiều thuộc tính hay nhiều sự vật của tự nhiên hơn… con người có vừa đủ những giác quan cần thiết để cảm nhận thế giới trong tính toàn vẹn và tính tổng thể của nó.

    Từ việc quan sát hình thể bên ngoài của con người,.cho đến mọi hoạt động lao động sản xuất cũng như hoạt động tinh thần của nó, Feuerbach cho rằng, con người là một sinh vật có hình thể vật lý -sinh lý ở trong không gian và thời gian, nhờ vậy nó có năng lực quan sát và suy nghĩ vượt trội so với các loài sinh vật khác.Bản chất con người là một cái gì đó thống nhất toàn vẹn giữa hai phương diện thể xác (tồn tại) và tinh thần (tư duy). Sự thống nhất toàn vẹn này đảm bảo cho con người có thể tồn tại và phát triển như một sinh vật cao nhất, hoàn thiện nhất trong mọi sinh vật hiện có.Và sai lầm của chủ óc, nghĩa duy tầm là sự toan tính thủ tiêu sự thống nhất toàn vẹn đó của con người, tách rời tư duy con người khỏi tồn tại của nó, biến tư duy thành một thực thể siêu tự nhiên có khả năng sáng tạo nên thế giới vật chất. Còn sai lầm của chủ nghĩa nhị nguyên là đánh đồng tư duy và tồn tại, coi chúng như những thực thể tồn tại độc lập bên cạnh nhau đó là một sụ khẳng định vòng vo, là lối nói nửa vời, tách đôi trái ngược.

    Phê phán những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tầm và chủ nghĩa nhị nguyên trong việc tách đôi thể xác và tinh thần, tồn tại và tư duy, Feuerbach đã thừa nhận một cách dứt khoát rằng quan hệ thực sự của tồn tại đối với tư duy là tồn tại – chủ thể, tư duy – thuộc tính. Tư duy xuất phát từ tồn tại, chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy… cơ sở của tồn tại nằm ngay trong tồn tại chính là cảm tính, là nguyên lý trí tuệ là sự tất yếu và chân lý… bản chất của tồn tại với tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên. Tại sao tồn tại là chủ thể, còn tư duy là thuộc tính (của chính chủ thể đó)? Để trả lời câu hỏi này, theo Feuerbach, chúng ta cần đến từ đâu đến, bộ óc từ đâu đến, cơ quan cơ thể từ đâu đến, thì tinh thần cũng đến từ đấy ngay cả hoạt động tinh thần cũng là việc làm của cơ thể, của đầu óc con người, hoạt động đó khác với các hoạt động khác ở chỗ, nó là hoạt động của đầu óc.

    Không phải là người nghiên cứu sâu về sinh lý học, song Feuerbach cũng nhận thấy rằng, mỗi con người cụ thể bằng xương bằng thịt đang sống và hoạt động là những bằng chứng sinh động về sự thống nhất giữa thể xác và tinh thần, giữa phương diện vật lý và phương diện tâm lý. Sự thống nhất này phản ánh sự thống nhất giữa cấu trúc và chức năng, giữa giải phẫu học và sinh lý học. Và cũng từ đó ông dễ dàng rút ra một kết luận triết học duy vật rằng, tư duy, ý thức của con người không là cái gì khác như là thuộc tính vốn có của một dạng vật chất có tổ chức cao – bộ óc con người. Chính ở đây, ông đã phần nào phỏng đoán được nội dung vấn đề cơ bản của triết học, điều mà sau này Ăngghen đã phát biểu một cách rõ ràng hơn trong tác phẩm và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức.

    Sau khi công nhận một cách dứt khoát rằng, tồn tại là chủ thể, tư duy là thuộc tính, ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, Feuerbach đi đến việc tìm hiểu sâu hơn bản chất tự nhiên – sinh học của con người. “Bản chất chung của con người là gì? Những nhân tính cơ bản trong con người là gì? Đó là lý tính, ý chí và trái tim. Con người hoàn thiện có năng lực tư duy, sức mạnh ý chí và nguồn lực tình cảm. Năng lực tư duy chính là ánh sáng của nhận thức, sức mạnh của ý chí chính là năng lượng của tính cách, nguồn lực tình cảm chính là tình yêu… Trong ý chí, tư duy và tình cảm luôn chứa đựng bản chất tối cao, tuyệt đối của con người và mục đích tồn tại của nó… con người tồn tại để nhận thức, yêu thương và mong muốn. Nhưng mục đích của lý tính, của ý chí, của tình yêu là gì? là để làm cho con người trở thành người tự do”. Đoạn trích này là một văn bản điển hình thuộc Chương I với nhan đề Bản chất chung của con người trong tác phẩm Bản chất Kitô giáo, do Feuerbach viết vào năm 1841. Qua những lời lẽ đó, nhà triết học cổ điển Đức muốn chứng minh rằng, bản chất chung của con người là tổng hoà mọi khát vọng chính trị, mọi năng lực nhận thức và nhu cầu tự nhiên – sinh học đã trầm tích trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của nó.

    Mọi mong muốn, khát vọng tự nhiên của con người theo quan điểm của Feuerbach không phải xuất phát từ tư tưởng thuần tuý mà chúng phản ánh đời sống hiện thực của con người và do đời sống đó quy định. Nói cách khác, trong con người, cái sinh lý quy định cái tâm lý, cái tự nhiên – sinh học quy định cái xã hội, nhu cầu vật chất quy định hành động xã hội. ” Điều ác xuất hiện không phải trong đầu óc, trong trái tim – Feuerbach viết – mà xuất hiện chính trong dạ dày con người”. Quan điểm này của Feuerbach đã làm cho Ăngghen rất chú ý. Trong tác phẩm Lútvich phơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Ăngghen đánh giá cao luận điểm của Feuerbach: “Trong một cung điện, người ta suy nghĩ khác trong một túp lều tranh”, “Nếu như vì đói, vì nghèo, mà trong cơ thể không có chất dinh dưỡng, thì trong đầu óc anh, trong tình cảm và trong trái tim anh cũng không có chất nuôi đạo đức”. Đây là luận điểm hoàn toàn mới so với đương thời, vì theo quan điểm này thì điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quy định suy nghĩ và tư tưởng của nó. Tuy nhiên, Feuerbach chưa có khả năng nhìn nhận con người với tư cách là một cá thể của loài, với tư cách là một thành viên xã hội, mà ông chỉ mới dừng lại ở con người cụ thể. “Tôi chỉ đưa ra một luận điểm, nhưng đây là luận điểm cốt yếu mà mọi luận điểm khác phải xoay quanh nó. Đó là khái niệm cá thể. Sự khác biệt cơ bản giữa quan điểm của tôi với quan điểm của người phê phán tôi (mà cụ thể là giáo sư triết học người Đức- Schalier (1810 -1868) – LCS) là trong con người tồn tại cả tính cá thể và tính loài, trong khi đó, theo ý kiến tôi thì tính cá thể đã bao quát toàn bộ bản chất con người, bản chất con người chỉ có một – đó là bản chất cá thể” .

    Tuy nhấn mạnh tính cá thể của con người, song Feuerbach cũng hé mở một ý tưởng cho rằng, trong quá trình sống, con người có thể giao tiếp với những người khác, vôi cộng đồng xã hội. Do tiếp xúc với xã hội mà “từ một tồn tại thuần tuý vật lý, con người trở thành một tồn tại chính trị, nói chung trở thành một cái gì đó khác với tự nhiên, tồn tại đó chỉ quan tâm đến bản thân mình”. Quan niệm cho rằng, con người là một tồn tại xã hội đã có trong triết học của aristote, nhưng Feuerbach đã vượt lên trên quan niệm này khi đưa vào đời sống của con người những phạm trù xã hội phản ánh đời sống đa dạng sinh động của con người như: tự do, nhân cách, luật pháp. Feuerbach viết: “Con người là một tồn tại của tự do, tồn tại có nhân cách, tồn tại của luật pháp. Chỉ có trong con người thì “cái tôi” của Phichte, “cái đơn tử” của Leibniz, “cái tuyệt đối” của Hêgen mới được bén rễ”. Ở đây, nhà triết học duy vật cổ điển Đức đã nhìn thấy rằng,”cái tôi”, “cái đơn tử”, “cái tuyệt đối” được miêu tả trong triết học của các bậc tiền bối mới chỉ là xuất phát điểm, là nền tảng vật lý – sinh lý của con người. Vấn đề quan trọng hơn là bản chất đích thực của con người, tức là những yếu tố quy định sự tồn tại của nó với tư cách là một sinh thể có tính loài hay nói theo cách của Mác là tính xã hội của con người. Bởi vì” khi con người sinh ra từ giới tự nhiên, nó mới chỉ là một sinh vật tự nhiên đơn thuần chứ không phải là người…con người là sản phẩm của văn hoá và của lịch sử”. Như vậy, theo Feuerbach, khi nói về con người, nhất thiết phải giả định rằng, có những người khác và chỉ có trong mối quan hệ đó thì con người mới là con người với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Từ việc công nhận con người như là sản phẩm của văn hoá, của lịch sử, Feuerbach đi đến quan điểm cho rằng, tính ích kỷ không chỉ mang tính cá nhân như các nhà tư tưởng, các nhà đạo đức học trước ông (đặc biệt là những người theo eudaimonism – chủ nghĩa duy hạnh) tuyên bố, mà nó còn mang tính xã hội. “Không chỉ có một tính ích kỷ đơn độc hay là tính ích kỷ cá nhân – Feuerbach viết – mà còn có một tính ích kỷ xã hội, một tính ích kỷ của gia đình, của tập thể, của cộng đồng, một tính ích kỷ yêu nước. Tất nhiên, tính ích kỷ là nguyên nhân của mọi điều ác, nhưng cũng là nguyên nhân của mọi điều thiện, bởi vì không cái gì khác ngoài tính ích kỷ đã tạo nên sự chiếm hữu ruộng đất, nên thương nghiệp, cũng vì tính ích kỷ mà có nghệ thuật, có khoa học… tính ích kỷ ngăn cấm sự trộm cướp, dối trá, làm hạn chế sự ngoại tình”. Đây là một quan điểm hoàn toàn mới so với lịch sử đương thời, khi đọc những lời này của Feuerbach, Lênin cho rằng, đây là “phôi thai của chủ nghĩa duy vật lịch sử”. Tiến xa hơn bước nữa, nhà triết học mang nặng tinh thần nhân đạo coi tính ích kỷ của con người như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội. “Trong lịch sử, một thời đại mới bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ chỗ, đông đảo quần chúng bị áp bức đưa ra tính ích kỷ chính đáng của mình chống lại tính ích kỷ cực đoan của thiểu số người khác… tính ích kỷ của đa số nhân loại đang bị áp bức phải và sẽ thực hiện quyền của mình và mở ra một thời đại lịch sử mới… không thể để cho thiểu số người là cao thượng, có tài sản, còn số khác là thấp hèn, là chẳng có gì. Tài sản phải có ở tất cả mọi người”. Những lời lời lẽ có tính tuyên chiến với xã hội tư bản này được Feuerbach nói ra vào thời điểm lịch sử khi Tuyên ngôn Đảng cộng sản của Mác và Ăngghen mới ra đời đã phần nào phản ánh tư tưởng chủ nghĩa xã hội của Feuerbach và được Lênin đánh giá cao trong Bút ký triết học”.

    Nhìn nhận con người vừa như là một cá thể chứa đầy tham vọng cá nhân, vừa như là sản phẩm của con người, sản phẩm của văn hoá và lịch sử chính là cơ sở lý luận để Feuerbach xem xét mối quan hệ giữa người và thần. Feuerbach cho rằng, viện nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của tôn giáo phải xuất phát từ việc nghiên cứu bản chất của con người và đời sống hiện thực của nó.

    Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa nhân bản, Feuerbach cho rằng yếu tố quan trọng hàng đầu tạo tiền đề cho sự xuất hiện tôn giáo đó là trạng thái tâm lý của con người. “Thượng Đế không phải là thực thể sinh lý hay thực thể vũ trụ- Feuerbach viết- mà là thực thể tâm lý”. Chính sự xúc cảm mạnh, sự chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ của con người là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo. Nhưng sự chiêm nghiệm hay trạng thái đau khổ, trạng thái xúc cảm không phải là hiện tượng có tính chủ quan như chủ nghĩa duy tâm chủ quan quan niệm , mà chúng có tính khách quan, nghĩa là gắn liền với các hiện tượng tự nhiên và đời sống xã hội. Feuerbach viết “Tôn giáo là giấc mơ của tinh thần con người nhưng trong giấc mơ đó chúng ta không phải ở trên bầu trời mà ở trên mặt đất trong vương quốc của hiện thực, chúng ta nhìn thấy các đối tượng của hiện thực không phải trong thế giới thực tế của tính tất yếu mà là trong thế giới say mê của trí tưởng tượng và sự kỳ quặc. Nhiệm vụ của tôi là bóc trần bản chất đích thực của tôn giáo và triết học tư biện hay thần học, chuyển thế giới nội tâm ra thế giới bên ngoài, nghĩa là biến đối tượng tưởng tượng thành đối tượng hiện thực”. Trên tinh thần như vậy, ông phê phán các quan điểm cho rằng, tôn giáo là hiện tượng có tính ngẫu nhiên hoặc có tính bẩm sinh.

    , tình cảm tôn giáo cũng như các ý niệm và biểu tượng của nó luôn thay đổi theo sự thay đổi của lịch sử xã hội loài người. Tử lập trường của chủ nghĩa nhân bản, Feuerbach cho rằng, trong con người luôn có những ham muốn, nhu cầu, khát vọng và thái độ ích kỷ. Những nhu cầu sinh học và trạng thái tâm sinh lý này có thể được đáp ứng hoặc có thể không được đáp ứng, từ đó gây nên trong con người hai xu hướng trạng thái tâm lý: hoặc sợ hãi, bất lực, nỗi buồn chán, đau khổ (nếu con người gặp những điều bất hạnh) hoặc sự ngưỡng mộ, kính phục, lòng biết ơn (nếu con người gặp những thuận lợi). Feuerbach viết “Tôn giáo là sự phản ánh thời thơ ấu của nhân loại hay trong tôn giáo con người là đứa trẻ. Đứa trẻ không thể thực hiện ý muốn của mình bằng sức mạnh của nó, phải nhờ đến một tồn tại mà nó cảm thấy lệ thuộc… tôn giáo có nguồn gốc xuất hiện, có chỗ đứng chân chính, có ý nghĩa trong thời thơ ấu của nhân loại”.

    Ở đây, khi nghiên cứu vấn đề tôn giáo Feuerbach phải nhờ vào những tư liệu của lịch sử và khảo cổ học, theo đó thì con người nguyên thuỷ là con người cảm tính chứ không phải con người lý tính. Đời sống của người nguyên thuỷ hàng ngày bắt phải tiếp xúc với muôn vàn sự vật, hiện thể tượng đa dạng của giới tự nhiên như mặt trăng, mặt trời, sấm sét, bão lụt, giông tố, sông sâu, biển rộng, núi non hiểm trở, rừng rậm, cây cao… và lẽ đó nhiên là con người phải lệ thuộc vào chúng để tồn tại. Từ đó làm phát sinh tâm lý hay tình cảm trong con người đối với giới tự nhiên: “Điều mục đầu tiên của tôi trong Bản chất của tôn giáo có thể nói một cách vắn tắt là: cơ sở của tôn giáo là tình cảm về sự lệ thuộc của con người. Trong ý nghĩa đầu tiên, giới tự nhiên chính là đối tượng của tình cảm lệ thuộc này. Vì vậy, giới tự nhiên nói chung là khách thể đầu tiên của tôn giáo”. Từ trước tới giờ đối tượng của các bài giảng của tôi chính là ở chỗ, tình cảm về sự lệ thuộc chính là cơ sở và nguồn gốc của tôn giáo… còn đối tượng của sự lệ thuộc đó chính là giới tự nhiên”. Vậy tại sao giới tự nhiên lại trở thành đối tượng đầu tiên bắt buộc con người phải lệ thuộc Feuerbach giải thích như sau:

    Thứ nhất, bởi giới tự nhiên là đối tượng cảm giác trực tiếp của con người, là cái tác động hàng ngày, hàng giờ lên các giác quan nhận biết của con người: “cái bắt con người, lệ thuộc, cái mà con người cảm thấy lệ thuộc, cái mà từ đó con người biết được sự lệ thuộc của mình chính là giới tự nhiên, là đối tượng của cảm giác, tất cả những ấn tượng mà giới tự nhiên tạo ra cho con người thông qua các cảm giác đều có thể trở thành lý do của sự sùng bái tôn giáo”.

    Thứ hai, sự sùng bái giới tự nhiên còn bắt nguồn từ việc trong quá trình sống, do thể chất yếu ớt của mình, con người thường có tâm lý sợ hãi các hiện tượng của giới tự nhiên, dẫn đến tình trạng bất lực trước các hiện tượng đó: “Quan niệm về sức mạnh vô biên như là đặc tính cơ bản của thần thánh xuất hiện và phát triển trong con người đặc biệt khi con người so sánh hành động của mình với hành động của tự nhiên. Con người không thể tạo nên cây cỏ, không làm nên bão tố và thời tiết, không thể làm sáng loé như chớp, gào thét như sấm… tất cả những hiện tượng tự nhiên này vượt trội sức mạnh của con người, làm cho con người cảm thấy bất lực. Chính vì vậy, thực thể tạo nên các hiện tượng đó đối với con người là một thực thể siêu nhân – thực thể có tính thần thánh”.

    Thứ ba, như một hiện tượng tâm lý, tình cảm lệ thuộc vào giới tự nhiên của con người gắn liền với quan niệm về đời sống tâm linh của nó, hay nói cụ thể hơn là gắn liền với quan niệm về cái chết. Theo quan điểm hiện đại, con người là một thực thể tự nhiên – sinh học, nên nó cũng phải tuân theo quy luật sinh – lão, bệnh – tử. Nhưng người nguyên thuỷ thì chưa thể hiểu được điều đó, họ cho rằng sự đau ốm, chết chóc chính là sự trừng phạt của Thánh thần, bởi vậy, “tình cảm về sự lệ thuộc và tình cảm về sự hữu hạn của đời người là đồng nhất với nhau. Con người luôn có ý thức rằng vào một lúc nào đó nó sẽ chết. Giá như con người không chết, giá như nó sống vĩnh viễn, nói tóm lại nếu như không có cái chết thì sẽ không có tôn giá”. Luận điểm này của Feuerbach thực ra không có gì mới, bởi cái chết là đề tài muôn thuở của tôn giáo cái chết gây nên một sự sợ hãi trong con người cả về phương diện vật lý lẫn phương diện tâm lý, trong đó phương diện tâm lý là cơ bản, bởi con người sợ hãi cái chết khi nó hoàn toàn khoẻ mạnh, bởi “con người luôn mong muốn được tồn tại vĩnh cửu. Sự mong muốn đó cũng là mong muốn được bảo toàn tính mạng. Mọi người ai cũng muốn sống chứ không ai muốn chết”. Điều đáng nói ở đây là, Feuerbach đã coi sự sợ hãi cái chết của con người như một hình thức tâm lý phổ biến và vận dụng hiện tượng này vào việc giải thích nguồn gốc tâm lý của tôn giáo coi hiện tượng này như một dạng tình cảm lệ thuộc của con người đối với giới tự nhiên và thần thánh. Trong các hình thức tín ngưỡng tôn giáo, nhà triết học cổ điển Đức rất quan tâm đến vấn đề cầu nguyện, bởi đây là một hiện tượng tâm lý đặc biệt phản ánh thế giới nội tâm của con người một cách sâu sắc nhất, toàn diện nhất, phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa con người và thần thánh. Feuerbach viết: “Người tín ngưởng hướng tới Thượng đế cùng với lời cầu nguyện sùng kính, anh ta tin rằng Thượng đế sẽ tham dự vào những đau khổ, những lòng mong muốn của anh ta… tin rằng Thượng đế sẽ nghe thấy tiếng nói của anh ta trong lúc cầu nguyện”. Bản chất thầm kín của tôn giáo được bộc lộ trong lời cầu nguyện… trong cầu nguyện, con người hướng một cách trực tiếp tới Thượng đế, cho nên Thượng đế đối với con người là nguyên nhân trực tiếp thực hiện lời cầu nguyện”. Theo cách nhìn hiện đại thì sự cầu nguyện thể hiện chức năng an ủi đền bù hư ảo của tôn giáo, trong sự cầu nguyện đó hoặc phần nào làm dịu bớt đi mọi nỗi đau khổ, mất mát của con người mà nó đã gánh chịu trước đó trong cuộc sống, hoặc thể hiện những lời cảm ơn của con người đối với thần thánh, hoặc xin thân thánh xá tội cho, bởi vậy cầu nguyện là hình thức phổ biến của mọi tôn giáo và cũng nhờ hình thức tín ngưỡng này mà tôn giáo thu hút được đa số công chúng.

    Dựa trên những khảo cứu lịch sử hiện thực của nhân loại, Feuerbach thấy rằng trong thực tế thường diễn ra sự thù địch giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, sự thù địch giữa người theo đạo và kẻ dị giáo. Hơn nữa có những người có chức sắc tôn giáo cao trong giáo hội, song họ vẫn có nhũng hành vi phi đạo đức. Từ đó ông lên tiếng phản đối quan điểm của các nhà thần học cho rằng dường như phủ định thương đế là một bước dẫn tới sự tiêu diệt quan hệ đạo đức. , để có một xã hội tất đẹp thì phải tiến hành cải cách tôn giáo: “Nếu như bản chất con người là bản chất cao quý của con người, thì tình yêu hiện thực đối với con người cần phải là quy luật đầu tiên cao quý của con người. Con người đối với con người là thượng đế – đó chính là nền tảng thực tiễn cao nhất, là xuất phát điểm của lịch sử toàn cầu. Quan hệ của đứa bé đối với cha mẹ mình, của chồng đối với vợ, của anh đối với em, của bạn bè đối với nhau, nói chung là quan hệ của con người đối với con người, nói tóm lại, các quan hệ đạo đức thuần tuý chính là các quan hệ tôn giáo.

    Quan điểm về cải cách tôn giáo được Feuerbach trình bày khá rõ trong đoạn kết của Tập bài giảng về bản chất của tôn giáo: “Thưa các bạn, bằng những lời này, tôi kết thúc các bài giảng của mình, tôi mong muốn rằng sẽ đạt được nhiệm vụ đã đặt ra trong các bài giảng này, mà chính là: Từ bạn của thượng đế, trở thành bạn của con người, từ những tín đồ trở thành người duy lý, từ những người luôn cầu nguyện thượng đế rủ lòng thương trở thành người lao động, từ những nghiên cứu sinh ở thế giới bên kia trở thành những người nghiên cứu viên ở thế giới trần gian, từ những tín đồ Kitô giáo theo sự thừa nhận, theo ý thức của chính họ, “là nửa súc vật, nửa thiên thần” trở thành những con người hoàn thiện. Những lời trên cũng có thể được coi như bức thông điệp hoà bình của ông gửi đến các thế hệ mai sau với ngụ ý rằng, con người trước hết phải thương yêu nhau thực sự ở chốn trần gian, bởi đây mới là những tình yêu chân chính theo đúng nghĩa của từ này.

    Quan niệm về con người trong triết học Feuerbach như đã trình bày ở trên theo đánh giá của A.G.Spirkin “chính là điểm xuất phát cho những lập luận của Mác về con người và bản chất con người”. Bởi vì, bằng những quan niệm đó, người khai mở con đường cho chủ nghĩa duy vật nhân bản đã giáng một đòn phá tan mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chỉ nghĩa duy tâm khách quan của Hêgen, “đưa một cách không úp mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua”, ông đã khẳng định một cách dứt khoát rằng “tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học. Nó là cơ sở trên đó con người chúng ta bản thân chúng ta cũng là một sản phẩm của tự nhiên đã sinh trưởng”. Mác và Ăngghen luôn đánh giá cao triết học của Feuerbach nói chung, chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông nói riêng, họ tự thừa nhận mình là môn đồ của ông, chào đón quan điểm mới đó một cách nhiệt liệt, tin và đi theo Feuerbach với một tinh thần hào hứng, phấn khởi.

    Tuy đánh giá cao Feuerbach như vậy, nhưng hai ông cũng nhận thấy rằng hạn chế cơ bản xuyên suốt toàn bộ triết học nhân bản của Feuerbach là chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng và chủ nghĩa duy tâm về lịch sử. “Lấy con người làm xuất phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống. Vì vậy con người mà ông nói luôn là con người trừu tượng… con người đó không ra đời từ trong bụng mẹ, mà lại sinh ra từ ông thần của các tôn giáo độc thần… con người đó cũng không sống trong thế giới hiệan thực”.

    Luận cương về Feuerbach được coi như là bản tổng kết toàn bộ những khiếm khuyết trong triết học Feuerbach, trong đó khi phê phán quan điểm về con người trừu tượng của nhà triết học này, Mác viết: ” Feuerbach hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”.

    Trong Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ăngghen đã dành hẳn một chương bàn về triết học Feuerbach, theo các ông, thì “so với các nhà duy vật “thuần tuý”, Feuerbach có ưu điểm lớn là ông thấy rằng, con người cũng là một “đối tượng của cảm giác”, …nhưng ông vẫn còn bám vào lý luận và không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt… làm cho họ trở thành những con người đúng như họ đang tồn tại trong thực tế… nên ông vẫn cứ dừng lại ở một sự trừu tượng.

    Trung tâm thế giới quan mới do Mác và Ăngghen đặt nền móng là chủ nghĩa duy vật về lịch sử. Theo ý kiến của họ, con người không phải bước ra từ sâu thẳm của giới tự nhiên thành một sinh thể tự nhiên phổ quát như Feuerbach nhận định, mà nó trở thành như vậy trong tiến trình lịch sử. Con người khác vôi động vật trước hết không phải bởi nó có ý thức như Feuerbach nói, mà bởi sự bắt buộc phải lao động sản xuất nhằm tạo ra cho mình các phương tiện sống. Trong quá trình sản xuất đó, con người khám phá ra sức mạnh tự nhiên, chuyển nó thành lực lượng lao động xã hội, tạo nên nội dung của lịch sử thế giới. Sự khám phá đó được tiến hành bởi các cá nhân có những nhu cầu tự nhiên – xã hội xác định và những năng lực hoạt động của họ trong phạm vi những hình thái kinh tế – xã hội được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác.Với nghĩa như vậy, Mác và Ăngghen viết: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi, không phải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ… tiền để đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống. Vì vậy, điều cụ thể dầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên”. Những năm cuối đời, Ph.Ăngghen đã dành phần lớn thời gian cho việc nghiên cứu triết học. Feuerbach, kết quả cụ thể của việc nghiên cứu đó là tác phẩm Ludvig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức. Trong tác phẩm nổi danh này, người kế tục sự nghiệp của Mác phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử của Feuerbach: “Chủ nghĩa duy tâm thực sự của Feuerbach – Ăngghen viết là ở chỗ ông xét các mối quan hệ giữa người và người dựa trên cảm tình đối với nhau, như tình yêu nam nữ, tình bạn, lòng thương xót, tinh thần tự hy sinh… Feuerbach cho rằng, những quan hệ ấy chỉ có giá trị đầy đủ, khi người ta đem lại cho chúng một sự tôn phong tối cao bằng cái tên là tôn giáo”. Do dựa trên một quan niệm duy tâm sai lầm như vậy, nên “học thuyết của Feuerbach về đạo đức thì cũng giống như tất cả những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng được ở đâu cả. Và đối với thế giới hiện thực, nó cũng bất lực như cái mệnh lệnh tuyệt đối của Kant vậy”. Sự bất lực đó của nhà triết học trước thực trạng xã hội Đức đương thời đã làm cho ông “không tìm thấy con đường thoát khỏi vương quốc của sự trừu tượng, mà bản thân ông ghét cay ghét đắng để đi tới hiện thực sinh động. Ông bám hết sức chặt lấy giới tự nhiên và con người, song đối với ông, tất cả tự nhiên lẫn con người vẫn chỉ là những danh từ mà thôi. Ông không biết nói với chúng ta một cái gì chính xác về tự nhiên hiện thực, cũng nhu về con người hiện thực”. Nhưng lịch sử phát triển của nhận thức loài người có tính logic của nó, những gì mà Feuerbach chưa thực hiện đã được Mác triển khai và hoàn thiện trong các tác phẩm của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Vật Chất Và Ý Thức Cho Ví Dụ
  • Nội Dung, Ý Nghĩa Phương Pháp Luật Của Định Nghĩa Vật Chất
  • Quan Niệm Về Chân Lý Trong Triết Học Phương Tây
  • Trí Thức Và Một Vài Đặc Điểm Của Trí Thức
  • Luận Bàn Về Tri Thức (1)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100