Khái Niệm Ngôn Ngữ Học Ứng Dụng

--- Bài mới hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Soạn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Ngôn Ngữ Máy Là Gì? Những Bạn Cần Biết Về Ngôn Ngữ Này
  • Bài 5. Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Thuật ngữ “ngôn ngữ học ứng dụng” không có nghĩa biểu thị một sự ứng dụng đơn giản các thành tựu của khoa học về ngôn ngữ vào một lĩnh vực nào đó trong thực tiễn. Ngôn ngữ học ứng dụng là một hoạt động khoa học-thực tiễn đặc biệt có mục đích hoàn thiện các tiếp xúc ngôn ngữ trong xã hội.

    Việc ứng dụng ngôn ngữ học có thể mang tính lí thuyết và thực tiễn. Chẳng hạn, trong nhận thức luận và logic học, trong quá trình hình thành lí thuyết dân tộc, trong tâm lí học, sinh vật học và y học, trong sử học và tư liệu học lịch sử v.v… những thành tựu của ngôn ngữ học được sử dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể. Trong đó, các kết quả của ngôn ngữ học hoặc là những cứ liệu bổ sung hoặc là những phương tiện chứng minh để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn thuộc về trách nhiệm của một lĩnh vực khoa học hoặc thực tế (y học, luật học, sư phạm, lịch sử, kĩ thuật truyền thông v.v…).

    Ngôn ngữ học ứng dụng, khác với việc ứng dụng ngôn ngữ học, có lí thuyết riêng và lĩnh vực ứng dụng riêng của mình. Ngôn ngữ học ứng dụng, để giải quyết nhiệm vụ của mình, sử dụng phương pháp của những ngành khoa học khác nhau: vật lí học (trong lĩnh vực âm học, lí thuyết dao động điện từ, quang học), tin học, xã hội học, y học, luật học v.v… Là một ngành khoa học ứng dụng, ngôn ngữ học ứng dụng phải giải quyết các nhiệm vụ có tính xây dựng và đưa chúng vào thực tế xã hội. Các kết quả trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng được đánh giá không giống như trong các khoa học cơ bản (sự phù hợp giữa lí thuyết và đối tượng), mà giống như trong kĩ thuật, nghĩa là thông qua sự hiểu biết các tiền lệ và thông qua sự sáng tạo các sản phẩm mới trong lĩnh vực văn hoá (vật chất, vật lí, tinh thần). Ngôn ngữ học cơ bản phục vụ cho việc hình thành chuẩn ngôn ngữ trên cơ sở lí thuyết; ngôn ngữ học ứng dụng dùng chuẩn như cái có sẵn, không bàn luận về nó, và đưa chuẩn ngôn ngữ vào thực tế xã hội ngôn ngữ.

    Sự hoàn thiện giao tiếp ngôn ngữ – nhiệm vụ của ngôn ngữ học ứng dụng – có thể được hiện thực hoá trong ba lĩnh vực:

    1. Hoàn thiện hình thức và kĩ thuật sản xuất các kí hiệu ngôn ngữ, các phương tiện kĩ thuật để truyền, lưu giữ và thay đổi các kí hiệu ngôn ngữ, các phương tiện thu các tín hiệu ngôn ngữ. Lĩnh vực này của ngôn ngữ học ứng dụng được gọi là kí hiệu học ngôn ngữ.

    2. Hoàn thiện giao tiếp bằng ngôn ngữ bằng cách dạy mọi người nắm vững ngôn ngữ được chuẩn hoá, dạy xây dựng các hình thức và kĩ năng chuẩn trong lời nói. Tất cả các phương tiện vật chất-kĩ thuật của ngôn ngữ trong kí hiệu học ngôn ngữ có thể hành chức được, chỉ khi mọi người đều có khả năng sử dụng chúng. Do vậy, việc dạy mọi người hoàn thiện giao tiếp bằng ngôn ngữ được gọi là dạy học ngôn ngữ (hoặc giáo dục ngôn ngữ).

    3. Để có thể dạy mọi người về những phương tiện kĩ thuật mới của kí hiệu học ngôn ngữ, cần thiết phải tiến hành việc chức năng hoá các văn bản về mặt xã hội. Muốn làm được việc này cần phải có những quy tắc, theo đó mà sản sinh, truyền bá và lưu giữ văn bản; cần có những cơ quan truyền thông tương ứng kiểm tra hoạt động của các quy tắc. Các cơ quan truyền thông đảm bảo sự phân bổ, lưu giữ, sửa chữa và truyền đạt các văn bản tới những người quan tâm. Hoạt động của các cơ quan truyền thông được gọi là phục vụ thông tin.

    Kí hiệu học ngôn ngữ, dạy học ngôn ngữ và phục vụ thông tin làm thành ba khía cạnh của một quá trình thống nhất trong hoàn thiện giao tiếp bằng ngôn ngữ của xã hội. Quá trình này thường bắt đầu bằng những phát minh về kĩ thuật và những khám phá trong kí hiệu học ngôn ngữ. Sự hoàn thiện trong lĩnh vực kí hiệu học kéo theo sự chuyên môn hoá các chức năng xã hội của ngôn ngữ và sự khái quát hoá trong các quy tắc ngôn ngữ.

    Bất kì một phát minh kĩ thuật nào cũng làm nảy sinh phương thức sử dụng nó một cách phù hợp. Đó, thứ nhất, là sự xác định ranh giới mà phát minh này có thể phát huy tác dụng có hiệu quả, và, thứ hai, là nhận thức về hệ thống các cơ quan, tổ chức tham gia đảm bảo cho hoạt động đó.

    Các lĩnh vực kể trên của kí hiệu học, dạy học và phục vụ thông tin là các lĩnh vực thực tiễn của ngôn ngữ. Các lĩnh vực này của thực tiễn là mục tiêu đáp ứng của các khoa học ứng dụng (với tên gọi như vậy). Sự trùng nhau về tên gọi giữa ngành khoa học ứng dụng với các lĩnh vực ứng dụng nó không nên bị hiểu nhầm là sự đánh đồng giữa khoa học với hoạt động thực tiễn. Hoạt động khoa học là hoạt động nhận thức, còn hoạt động thực tiễn là hoạt động tạo ra những đối tượng mới, hoàn thiện những cái đang có, và không ít khi kèm theo sự loại bỏ những cái đã lỗi thời. Hoạt động nhận thức, về nguyên tắc, có mối quan hệ với những lĩnh vực khoa học giáp ranh khác với hoạt động thực tiễn – một hoạt động sản sinh. Bên cạnh đó, nó không phải là ngẫu nhiên, bởi lẽ mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này rất chặt chẽ.

    Ngôn ngữ học ứng dụng là cơ sở, để từ đó phát triển ra các lĩnh vực khác của ngôn ngữ học. Phát minh ra chữ viết, sáng tạo văn học và văn bản dẫn đến sự ra đời của trường học. Các nhà ghi sử của Ai Cập cổ được đào tạo như các nhà ngôn ngữ học ứng dụng. Họ biết viết trên các chất liệu khác nhau, bằng những phương tiện khác nhau, làm nhiều công việc hành chính khác nhau, giảng dạy trong nhà trường, tham gia hoạt động quản lí và phục vụ cho khoa học, tư tưởng của Ai Cập cổ. Các nhà ngôn ngữ học ứng dụng hiện đại, về thực chất, cũng hoạt động trong những lĩnh vực như vậy, nhưng họ giải quyết những vấn đề phức tạp hơn.

    * Yu.V. Rozhdestvenskij. Những bài giảng ngôn ngữ học đại cương. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 319-322.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Và Ngôn Ngữ Học
  • Định Nghĩa Tiếng Nói & Ngôn Ngữ
  • Tuần 9. Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Ngôn Ngữ Học Và Văn Chương

    --- Bài mới hơn ---

  • Language Variations – Biến Thể Trong Tiếng Anh
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Lập Trình
  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận
  • Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt
  • Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non
  • Roland Barthes

              Điều ngày nay dường như là tự nhiên (ít ra người ta hy vọng như thế) thì trong quá khứ nó từng phải đấu tranh mới giành được. Từ lâu (và có lẽ cho đến ngày nay) đã có những chống đối đối với việc kết hợp ngôn ngữ học và văn chương. Những chống đối này là do cái cương vị của ngành học này hay ngành học khác trong xã hội hiện đại của chúng ta. Một mặt, tác phẩm văn chương, từ lâu và ít ra ở nước Pháp, chủ yếu được giữ lại nhờ nội dung của nó; nếu đòi hỏi (để rút ra những hậu quả của nó) rằng tác phẩm văn chương chủ yếu là ngôn ngữ – điều này xét về chất liệu là điều hiển nhiên – thì đòi hỏi đó được xem như là sự gây ra chủ nghĩa hình thức và sẽ rơi vào sự mất tín nhiệm mà kể từ cái chết của Tu từ học cổ điển, gắn liền với mọi xem xét hơi đậm nét đối với hình thức: định nghĩa văn chương như “thuộc về ngôn ngữ”, chính là xúc phạm giá trị con người (và nhân văn chủ nghĩa), phủ định hay giảm trừ vừa quyền năng hiện thực của nó (được bảo vệ bởi cái lý do (ablili) xã hội, và trong một số trường hợp là lý do xã hội chủ nghĩa), vừa quyền năng thi pháp học của nó (được xem như phụ thuộc vào sự giao tiếp “trực giác”, “cảm tính”). Vì thế từ lâu, người ta đã nhận thấy việc nghiên cứu văn chương (ở Pháp) đã nhường một phần thứ yếu của văn bản, tức “phong cách” hay “ngôn ngữ của nhà văn” cho lĩnh vực bên lề của khoa học về các ngôn ngữ, tức là ngữ văn học. Quả thực, trong cùng thời kỳ đó, bản thân ngôn ngữ học, đặc biệt là ngôn ngữ học lịch sử, so sánh, không hề nghĩ rằng “nội dung” có thể thuộc về ngôn ngữ và rằng khoa học về các dạng thức phát ngôn sẽ có quyền lực nào đó đối với “tư tưởng”, “tình cảm” và “thể loại”. Mặt khác, trên thực tế, bản thân ngôn ngữ học dính chặt hoàn toàn vào hình ảnh ly khai mà văn chương muốn gán cho nó; do lệ thuộc vào cái siêu ngã khoa học rất mạnh, ngôn ngữ học không nhận ra cái quyền xử lý văn chương của mình, bời vì đối với nó, văn chương phần lớn nằm ở bên ngoài ngôn ngữ (mà ở trong cái xã hội, cái lịch sử, cái thẩm mỹ).

              Như vậy, muốn gặp nhau, hai ngành học này phải chiến thắng chính mình, đặc biệt là ở Pháp là nơi mà chắc chắn chúng cách biệt nhiều nhất. Sự gần gũi này có lịch sử của nó. Trước hết, chúng ta chỉ chú ý những nét nhấn chính của nó (nhưng không hoàn toàn là những giai đoạn chính).

              Trong nhiều thế kỉ, ở phương Tây, từng có một ngành học rộng lớn chịu trách nhiệm xử lý những mối quan hệ giữa tác phẩm và ngôn ngữ: đó là Tu từ học. Nhưng Tu từ học, dù phát triển thế nào đi nữa vẫn không hề có cái đích ngắm khoa học phân tích tính, mang tính phê bình. Trước hết (ở Hy Lạp) nó là một kỹ thuật hùng biện, và tiếp đến, vào thời Trung cổ, nó là yếu tố thuộc ý niệm về thế giới và thuộc lời nói, cuối cùng, vào thời đại cổ điển, trong trạng thái hấp hối, nó là một mã, một tập hợp những quy định kiểm soát sự sáng tạo ra các tác phẩm, chứ không lý giải cấu trúc của chúng. Vì thế, Tu từ học bao giờ cũng là một kết cấu rộng lớn bao gồm những quan hệ của “cái thực tế” và lời nói. Tính chất lâu đời của nó, hơn hai thiên niên kỷ, có cái làm cho sử gia phải kinh ngạc và với cái danh nghĩa kép ấy, nó có quyền được chúng ta quan tâm đến. Và rồi, trên đường đi, Tu từ học đã cập nhật hoá những khái niệm, những cách phân loại, những vấn đề mà thời hiện đại có thể đã và đang lợi dụng. So với khoa học ngôn ngữ học về văn chương, những trực giác của Tu từ học thường rất sâu sắc: nó nhận ra tác phẩm như là đối tượng ngôn ngữ thực sự và bằng cách chế tác ra kỹ thuật sáng tác, nó tất yếu báo trước khoa học về diễn ngôn. Ngày nay nhìn lại, cái gây cản trở nó, đó chính là cái vị trí chuẩn mực của nó: nó là một mã bao gồm các quy tắc dùng đề quan sát hơn là các khái niệm dùng để phân tích.

              Như vậy, không phải là nhờ vào Tu từ học xưa cũ (bị tinh thần “hiện đại” kết án từ thế kỉ XVI) mà khoa học về diễn ngôn (thông thường, chúng ta gọi đó là sự kết hợp ngôn ngữ học và văn chương) có thể ra đời – hay, nói một cách cẩn trọng hơn, có thể đòi hỏi được tồn tại. Khoảng trống giữa ngôn ngữ học và văn bản văn chương dường như được tạo nên nhờ vào việc phân tích thông điệp thơ mà xét theo bề ngoài, là cái ngôn ngữ hình thức nhất trong tất cả ngôn ngữ được tạo ra (ít ra, trong nền văn minh của chúng ta, là nơi mà hình thức dạng ngạn ngữ, cách ngôn ít phổ biến). Người ta biết đến vai trò của Roman Jakobson trong cuộc tấn công đó (đừng quên mối liên hệ trước đây của ông với nhóm Hình thức chủ nghĩa Nga, trong đó, mối quan tâm sáng tạo, nói cho đúng, chứ không phải là mối quan tâm khoa học, là rất mạnh – và điều này không phải là vô nghĩa). Từ quan điểm Pháp, cần phải thêm vào đó tác động của những nhà ngữ học khác đã mang lại những khái niệm được nghiên cứu diễn ngôn lợi dụng một cách tự nhiên: đặc biệt Hjemslev với hình thức của nội dung và nghĩa hàm chỉ (connotation), Benveniste với những phản tư về hành động phát ngôn (nhất là của cá nhân) cho thấy rất gần gũi với những tìm tòi của chính các nhà văn. Bởi lẽ, nếu theo tường thuật ban đầu của một cuộc gặp gỡ – và đây không phải là nhận xét nhỏ nhất – tác động của một số nhà văn mà sự phản tư và thực hành của họ đã tạo thành một công việc ngôn ngữ học thực sự: kể từ Mallarmé mà tính chất tinh vi trong cách nhìn của ông đối với ngôn ngữ văn chương ngày nay dường như vẫn còn cần thiết, các nhà văn khác như Valéry, Lautréamont hay Roussel từng đã, hoặc nhấn mạnh bản chất ngôn từ của tác phẩm, hoặc khuynh đảo những điều kiện cho tính khả độc của tác phẩm, một khái niệm ký hiệu học điển hình. Trong những phong cách rất khác nhau và nhờ vào những ý thức hệ đôi khi đối lập nhau, những nhà văn ấy đều đặt ở bình diện thứ nhất, không phải sự sáng tác (như ở thời kỳ của Tu từ học) mà triệt để hơn là quá trình sản sinh văn bản văn chương. Hiện nay, các nhà văn nhóm Tel Quel dẫn đầu hoạt động thực tiễn (viết ra những văn bản) và lý luận (thông báo những sự phát triển của ngôn ngữ học) đáp lại những nỗ lực của các nhà ngữ hoc hướng văn chương và của các nhà phê bình văn chương hướng ngôn ngữ.

    *

              Những nghiên cứu được trình bày ở đây có thể có một sự thống nhất nào đó về mặt dân tộc. Một số nhà nghiên cứu nước ngoài rất muốn liên kết với chúng ta, đó là không kể đến những nhà khởi xướng vĩ đại như Roman Jakobson và Mikhail Bakhtine mà sự có mặt của họ là điều đặc biệt quý giá đối với chúng ta; nhưng cái chủ yếu vẫn là một công trình Pháp. Chúng ta biết rõ rằng trên thế giới có nhiều nhà nghiên cứu quay về hướng phân tích ngôn ngữ hay lô-gic đối với văn bản văn chương và chúng ta hy vọng sẽ phát triển mối quan hệ công việc với họ ngày càng thường xuyên hơn và ngày càng được tổ chức tốt hơn (đặc biệt theo chiều hướng của các hội nghị và hội thảo mà một số đã được dự kiến). Tuy vậy, tình hình ở Pháp, như người ta đã chỉ ra, có tính chất đặc thù của nó; đó là trái với những gì đã diễn ra ở các nước anglo-saxon và ở Đông Âu, không có chủ nghĩa hình thức dù thuộc bất cứ loại nào có thể phát triển trong các nghiên cứu văn chương; vì truyền thống phê bình Pháp hoàn toàn chỉ hướng đến nội dung, hay nói chính xác hơn, hướng đến thể loại được quan niệm như là những đối tượng lịch sử cần phải tìm hiểu nguồn cội của chúng, chứ không phải như là những đối tượng hình thức cần phải nghiên cứu cấu trúc của chúng. Như vậy, cuộc gặp gỡ với ngôn ngữ học đối với các nhà nghiên cứu Pháp có cái gì đó như là sự giải phóng, và thực ra, đó chính là điều liên kết họ một cách tốt nhất. Cho nên vấn đề là cần phải có một nhóm nghiên cứu trẻ tuổi chủ yếu xuất thân từ Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia (Centre national de la Recherche Scientifique) và Trường thực hành nghiên cứu cao cấp (École Pratique des Hautes Études), liên kết lại trong Trung tâm nghiên cứu các hệ thống giao tiếp đại chúng (Centre d’Étude des Communications de Masse) và Ban ký hiệu-ngôn ngữ học của Phòng Thí nghiệm Nhân chủng học xã hội thuộc Đại học Pháp dưới sự hướng dẫn của A.-J Greimas. Họ sẽ họp thành một ê-kíp chứ không phải thành một trường phái; những đóng góp của họ chủ yếu là những “giấy phép” (working papers), những thời cơ của một nghiên cứu đang được thực hiện và trong trạng thái hiện tại của sự vật, vẫn còn mang nhiều tính cá nhân, do đó, về bản chất là rất đa dạng.

              Chủ đề thứ nhất là bản thân khuôn mẫu ngôn ngữ học. Mặc dù mỗi nghiên cứu phải sinh ra từ cái khuôn mẫu ấy (cho dù chỉ vay mượn một phần từ vựng của nó), không ai đòi hỏi nó phải trung thành vô điều kiện. Mỗi nghiên cứu có những khoảng cách ít nhiều to lớn của nó. Nhà ký hiệu học phải tôn trọng một đòi hỏi kép về mặt lý thuyết là: một mặt, ông ta phải khẳng định rằng có những hình thức tổng quát chung cho mọi hệ thống nghĩa và do đó, cái mà ngôn ngữ học cập nhật phải được phát hiện, với điều kiện có sự thay đổi cần thiết, ở một cấp độ khác, cấp độ tác phẩm chẳng hạn, bởi vì bản thân tác phẩm là sản phẩm của một quá trình tạo nghĩa; nhưng mặt khác, ông ta phải biết rõ rằng một tổ hợp câu (một diễn ngôn) không phải là phép cộng đơn giản các câu, và do đó, có cái gì đó mới mẻ, độc đáo mặc dù thuộc về ký hiệu học một cách không thể phủ nhận được, đang được thực hiện ngay từ lúc người ta đi từ câu đến diễn ngôn. Như vậy, hạn chế sự chuyên chế (hay uy tín) của khuôn mẫu ngôn ngữ học không phải là một điều khoản bảo vệ đơn giản mà phải là chỉ ra vị trí trung tâm của việc nghiên cứu, là hạn chế phạm vi của một cái gì đó chưa biết và cần phải được phát hiện, là khẳng định rằng cái gì đó đó vừa phụ thuộc lại vừa không phụ thuộc vào ngôn ngữ học, là đòi hỏi một vấn đề có tính biện chứng thực sự đối với di sản khoa học của quá khứ.

              Chủ đề tranh cãi thứ ba là do ký hiệu học diễn ngôn đặt ra, đó là Văn bản. Do sự đột khởi của một số nhà văn, như đã nhắc ngay từ đầu, những tác phẩm nổi tiếng “bất khả độc” (Lautréamont, Rousset) dù muốn hay không cũng được đưa vào văn chương; không thể xếp loại theo chuẩn mực truyền thống nhưng lại làm đảo lộn ngay cả những khái niệm thi ca và truyện kể, những tác phẩm ấy hoàn toàn là những văn bản, những sự kiện diễn ngôn đầy đủ mà không thể quy chiếu đến nội dung (tâm lý học, hiện thực chủ nghĩa) hay đến hình thức (trữ tình, thẩm mỹ). Bằng sự tồn tại duy nhất của chúng, trong dòng chảy hàng trăm năm của các tác phẩm văn chương, những văn bản này đã thiết lập một khoảng trống, một sự khác biệt  giữa cái hoàn toàn khả độc và cái bất khả độc. Như vậy, tính khả độc của tác phẩm văn chương đã trở thành – hoặc đang trở thành – một phạm trù của hoạt động sản sinh viết, chắc chắn là rất rộng lớn, dựa vào đa số, nhưng về mặt lý thuyết thì lại mang tính tương đối, lịch sử, có thể bị tranh cãi. Như vậy, không còn có thể buộc diễn ngôn văn chương quay trở lại với logic đơn trị, với cú pháp tuyến tính; sự viết (từ nay đối lập với văn chương) bao hàm những logic mới thích hơp cho việc lý giải những đứt gãy và không gian của nó, bởi vì, trong một số trường hợp, nó không còn là “sự xâu chuỗi”, không còn là “hình tuyến” nữa, và do đó, các khuôn mẫu ngôn ngữ học bị xa lánh, phải kêu gọi thay thế bằng các khuôn mẫu mang tính toán học hơn.

    *

              Một vài chấn động nói trên, tuy còn phôi thai trong bản tường trình các công trình cụ thể, bề ngoài có tính chất dương cực, có thể nói vẫn nằm ở những mức độ khuynh loát rất đa dạng mà sự khác biệt của chúng có thể xem như là những bất đồng thực sự giữa những nhà nghiên cứu gắn kết với nhau qua một ngôn ngữ chung: người thì tìm cách suy xét cẩn thận hình ảnh tâm lý của văn chương, người thì làm suy mòn sự phân loại quen thuộc các tác phẩm, người thì công khai cáo giác những khái niệm quan trọng nổi tiếng của văn chương. Lợi ích sâu xa và cho dù là sau cùng của ký hiệu học văn chương thật ra, theo ý tôi, không phải là làm phong phú khoa học ngôn ngữ hay phê bình văn chương bằng một lĩnh vực mới, cũng không phải là làm thoả mãn cái huyền thoại hiện tại về “sự liên ngành”: vấn đề không phải là làm cho các ngành học liên thông với nhau, vấn đề là biến đổi chúng, là chuyển di hình ảnh mà ta có về ngôn ngữ học và văn chương, nếu cần, hạ cấp cả hai xuống hàng những hệ thống lỗi thời về mặt lịch sử, mà sự chuyển hoá của chúng dường như chỉ mới bắt đầu. Thật vậy, rất có thể ngôn ngữ học, chói sáng ngay từ lúc nó được vinh danh như là khuôn mẫu đầu tiên trong các khuôn mẫu, dường như dần dần biến thành một khoa học gắn bó về mặt lịch sử với một đối tượng nào đó cũng có tính lịch sử: đó là lời nói. Nhưng kể từ khi người ta nhận thấy rằng sự viết không thể chỉ là sự “ghi lại” đơn giản lời nói (cần phải chuyển dẫn đến những công trình của Jacques Derrida), ngôn ngữ học không bao giờ tạo nên sự khác biệt nên có nguy cơ bị chiếm đóng ở một khoa học thuần tuý về giao tiếp lời nói, chứ không phải về những bản ghi lại. Mặt khác, rất có thể văn chương, bất chấp tàn tích của nó trong nền văn hoá đại chúng, dần dần sẽ bị lao động của các nhà văn tước đi cái cương vị truyền thống của nghệ thuật hiện thực hay biểu cảm, nó thực hiện sự huỷ diệt riêng của nó để tái sinh dưới những loại khác nhau của sự viết, không còn gắn chặt vào ấn phẩm mà sẽ được hình thành bằng mọi công trình, mọi thực tiễn ghi lại. Văn bản sẽ làm cho ngôn ngữ học lạc hậu, cũng giống như ngôn ngữ học đang làm tác phẩm lạc hâu. Nghĩa là những công trình được trình bày ở đây, mà mỗi công trình là một thời cơ trong tương quan với công trình bên cạnh của nó, đến lượt mình và trong tổng thể của chúng, chỉ hình thành điểm xuất phát của sự biến đổi mà phần cốt yếu của nền văn hoá chúng ta được đưa vào trong đó.

    Lý Thơ Phúc dịch

    Nguyên văn: clause de distance. Từ này cũng thuộc lĩnh vực pháp lý, tương đương với “clause de mobilité” có nghĩa là điều khoản quy định sự thay đổi địa điểm làm việc của người lao động.

    Nguồn: Linguistique et littérature của Roland Barthes in trong Langages, 3e année, n°12, 1968. pp. 3-8 (Trong Tạp chí Langages, năm thứ 3, số 12, 1968, từ trang 3-8).

    Nguồn: http://phebinhvanhoc.com.vn/ngon-ngu-hoc-va-van-chuong/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí (Tiếp Theo)
  • Ngôn Ngữ Báo Chí Có Gì Khác So Với Ngôn Ngữ Văn Học?
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì, Các Loại Ngôn Ngữ Lập Trình Hiện Nay
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì? Phân Loại Các Ngôn Ngữ Lập Trình Cơ Bản
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì? 10 Ngôn Ngữ Phổ Biến Và 5 Công Dụng
  • Sách Mới: Từ Điển Khái Niệm Ngôn Ngữ Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Cơ Thể
  • Nghĩa Của Từ Là Gì, Cho Ví Dụ Lớp 6
  • Nghĩa Của Từ Là Gì ?
  • Nhà Nước Pháp Quyền Là Gì? Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền
  • Khái Niệm Nhà Nước Pháp Quyền
  • Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành ngôn ngữ học Việt Nam và là một công cụ không thể thiếu đối với những người nghiên cứu ngôn ngữ.

    Thực vậy, so với công trình năm 2010, Từ điển đã bổ sung nhiều nội dung mới, đề cập đến hầu hết các khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học hiện đại, từ những khái niệm của ngôn ngữ học đại cương như phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, ngữ âm-âm vị học, hình thái-cú pháp học, từ vựng-ngữ nghĩa học, phong cách học… đến những khái niệm của ngôn ngữ học liên ngành như ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ học tâm lý… và cả những khái niệm của ngôn ngữ học ứng dụng như giáo dục ngôn ngữ, phiên dịch học, ngôn ngữ và lập pháp… tất cả những khái niệm đó đều được phân tích, giải thích rõ ràng, mạch lạc chứng tỏ sự làm chủ hoàn toàn của tác giả, như nhà văn Pháp Nicolas Boileau (1636-1711) đã nói “những gì tư duy thấu đáo thì sẽ diễn đạt trong sáng”.

    Hai cuốn sách gần đây về Ngôn ngữ học của GS. Nguyễn Thiện Giáp

    Mặt khác, nhiều khái niệm thuộc các phân ngành ngôn ngữ học mới chưa được đề cập trong “777 khái niệm” như ngôn ngữ học nhân chủng, ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ học sinh học, ngôn ngữ học thần kinh, ngôn ngữ học tính toán, ngôn ngữ học logic, ngôn ngữ học kho ngữ liệu cũng được giới thiệu.

    Tổng cộng, tác giả đã định nghĩa và giải thích khoảng 1.700 khái niệm thuộc tất cả các lĩnh vực của ngôn ngữ học hiện đại. Điều đáng chú ý là công trình này còn đề cập đến những khái niệm chưa từng được giới thiệu ở Việt Nam, ví dụ, các khái niệm “tác ngữ học” (praxématique), “tác vị” (praxème), (tr.461-462) của trường phái Montpellier (Pháp) hay “hiện thực hóa” (actualisation) (tr.196) do nhà ngôn ngữ học Pháp G. Guillaume đề xuất.

    Điều này một lần nữa cho thấy nhà Việt ngữ học uy tín này luôn không ngừng tìm hiểu, khám phá những lĩnh vực mới bổ sung cho trí thức vốn đã giàu có của mình: cho đến nay ông đã công bố 62 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học chuyên ngành ở trong và ngoài nước và đã xuất bản 20 đầu sách thuộc các loại chuyên luận, giáo trình, từ điển trong lĩnh vực ngôn ngữ học.

    Những con số biết nói này khiến cho những người khó tính nhất cũng phải khâm phục sức lao động phi thường, không mệt mỏi của một nhà giáo tâm huyết. Chỉ kể riêng công trình từ điển mới nhất này, tác giả đã dành nhiều năm nghiên cứu suy ngẫm để cống hiến cho ngành ngôn ngữ học một công trình vừa có chất hàn lâm vừa mang tính ứng dụng thực tiễn cao.

    Thực vậy, từ những người đã là chuyên gia đến những người mới vào nghề đều sẽ thừa nhận tính hữu dụng của công trình bởi lẽ trong từ điển này hầu hết những khái niệm ngôn ngữ học quan trọng đều được định nghĩa tường minh cùng với những ví dụ minh họa thích đáng, giúp cho độc giả dễ dàng nắm bắt và vận dụng.

    Điều gì đã tạo nên sức hút khoa học của Từ điển khái niệm ngôn ngữ học?

    Thứ hai là phương pháp tiếp cận vấn đề mà tác giả đã áp dụng. Có thể nói, đây là một đóng góp lớn của GS Nguyễn Thiện Giáp trên bình diện phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. Thực vậy, thay vì lấy hệ thống thuật ngữ làm cơ sở biên soạn từ điển, tác giả đã dựa vào hệ thống khái niệm ngôn ngữ học làm điểm xuất phát. Đây là một điểm mới rất đáng chú ý so với các từ điển đối chiếu thuật ngữ ngôn ngữ học Anh-Pháp-Nga-Việt đã công bố trước nghiên cứu của ông.

    Thực tế cho thấy rất ít trường hợp một khái niệm tương ứng với một thuật ngữ mà ngược lại trong nhiều trường hợp một khái niệm được biểu đạt bằng nhiều thuật ngữ khác nhau. Hiện tượng này là do tính đặc thù và tính không đồng nhất giữa các hệ thống thuật ngữ của mỗi nước, như tác giả đã phân tích (tr.13).

    Ví dụ, hệ thống thuật ngữ tiếng Pháp phân biệt giữa “signification và sens: signification” biểu thị nội dung khái niệm của đơn vị từ ngữ trong hệ thống ngôn ngữ, còn “sens” tương ứng với nghĩa của đơn vị từ ngữ đã được hiện thực hóa trong một phát ngôn cụ thể, vì thế chúng tôi đã đề xuất dịch hai thuật ngữ này sang tiếng Việt là nghĩa ngôn ngữ và nghĩa lời nói.

    Như vậy, nếu xuất phát từ hệ thống khái niệm, từ điển tường giải sẽ đưa vào mục từ chính là nghĩa cùng với những khái niệm phái sinh từ khái niệm này như “nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm, nghĩa hàm chỉ”…

    Thứ ba, khi xuất phát từ hệ thống khái niệm ngôn ngữ học, tác giả Từ điển cũng đã chỉ rõ những khái niệm do một trường phái nghiên cứu hay một tác giả cụ thể đề xuất. Trong bức tranh khái niệm ngôn ngữ học đa màu sắc, việc chỉ rõ những khái niệm đặc thù, độc đáo do một trường phái, hay một tác giả phát biểu sẽ giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và dễ dàng tiếp cận được những khái niệm độc đáo đó.

    Chẳng hạn, khi trình bày khái niệm “nguyên vị” (monème) do nhà ngôn ngữ học Pháp Martinet đề xuất năm 1960, tác giả đã giải thích rất rõ là khái niệm này chỉ đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có cả nội dung và hình thức ngữ âm, không thể tách thành các đơn vị có nghĩa nhỏ hơn nữa và nếu so sánh với hệ thuật ngữ của trường phái cấu trúc luận Mỹ thì “monème” tương ứng với “morphème”.

    Với lời giải thích rõ ràng như thế, người đọc đã có kiến thức về cấu trúc luận Mỹ sẽ không gặp khó khăn khi tiếp xúc với lí thuyết ngôn ngữ học chức năng của Martinet. Ví dụ khác, giải thích khái niệm “tác vị”, Từ điển cho người đọc biết đây là khái niệm do các nhà ngôn ngữ học Pháp thuộc trường phái Montpellier đề xuất, và “tác vị” được định nghĩa là đơn vị thực hành sản sinh nghĩa mà “tác ngữ họ” dùng thay cho ký hiệu ngôn ngữ.

    “Từ điển” đã nhấn mạnh nét độc đáo của lý thuyết “tác ngữ học” là nó đã xem xét lại lí thuyết ngôn ngữ học trước đó cho rằng kí hiệu ngôn ngữ là sự kết hợp của hình ảnh âm học (hình thức ngữ âm) và khái niệm (nghĩa). Khác với lý thuyết này, “tác ngữ học” coi trọng vai trò của “sở chỉ” (référent) vốn gắn liền với đơn vị ngôn ngữ, cụ thể là, “sở chỉ” không phải là yếu tố ngoài ngôn ngữ như lí thuyết kí hiệu ngôn ngữ quan niệm mà là một thành tố của quá trình hành chức của ngôn ngữ.

    Đơn vị cơ bản của “tác ngữ học” là “tác vị” có chức năng thiết lập sự tương ứng giữa một dạng thức của hiện thực với một dạng thức ngôn ngữ. Với “tác ngữ học”, hoạt động ngôn ngữ không còn ở dạng nhận thức đơn thuần mà luôn gắn với thực tế khách quan và chính cái thực tế đó tác động đến quá trình sản sinh nghĩa của phát ngôn.

    Đóng góp quan trọng khác của tác giả “Từ điển” thể hiện qua sự lựa chọn những thuật ngữ ngôn ngữ học thích hợp biểu đạt những khái niệm sẽ đề cập và giải thích. Có thể nói những thuật ngữ sử dụng trong từ điển này đã đạt đến sự chính xác cao và sự Việt hóa hoàn toàn.

    Thực vậy, ngoài một số thuật ngữ của riêng Việt ngữ học như “tiếng, hình tiết, tình thái ngữ”…, đa số các thuật ngữ khác đều bắt nguồn từ các ngôn ngữ Anh, Nga, Pháp và việc dịch sang tiếng Việt một số thuật ngữ chuyên ngành hẹp – chẳng hạn thuộc lĩnh vực dụng học, chưa đạt được sự đồng thuận giữa các nhà ngôn ngữ học: vẫn là khái niệm speech act nhưng được chuyển sang tiếng Việt là “hành động ngôn từ, hành vi ngôn ngữ”; (locutionary act) được ba nhà Việt ngữ học dịch theo ba cách khác nhau là “hành động phát ngôn, hành động tạo ngôn, hành vi tạo lời”.

    Ngoài đề xuất cách dịch của mình, tác giả từ điển cũng đã rất thận trọng giới thiệu cách dịch của những nhà Việt ngữ học uy tín khác để độc giả tham khảo. Sự đa dạng về thuật ngữ tiếng Việt tương đương với thuật ngữ nước ngoài nói trên một lần nữa khẳng định việc tác giả xuất phát từ hệ thống khái niệm để xây dựng nên cuốn từ điển của mình là hoàn toàn xác đáng.

    Chúng tôi được vinh dự là một trong những độc giả đầu tiên của “Từ điển khái niệm ngôn ngữ học”. Ngay từ những trang đầu, chúng tôi đã cảm nhận rõ sự cuốn hút của nó. Không chút do dự chúng tôi đã nghĩ rằng phải có sự hiểu biết sâu rộng và tâm huyết cống hiến cho khoa học đến mức nào tác giả mới có thể chế tác ra một sản phẩm đáng quý như thế. Ý nghĩ này đã thôi thúc tôi phải viết ra những cảm nhận của mình để chia sẻ với đông đảo bạn đọc và tin rằng độc giả cũng sẽ có cùng nhận xét như chúng tôi.

    (*) chúng tôi Nguyễn Thiện Giáp nguyên Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Việt ngữ học (Khoa Ngôn ngữ học – Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN); Uỷ viên Hội đồng chức danh giáo sư ngành Ngôn ngữ học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngôn Ngữ Là Một Hệ Thống Tín Hiệu Đặc Biệt
  • Khái Niệm Chung Về Ngôn Ngữ
  • Định Nghĩa Máy Biến Áp? Công Suất Máy Biến Áp?
  • Khái Niệm Chung Của Máy Biến Áp 3 Pha
  • Máy Biến Áp Là Gì? Những Định Nghĩa Chính Xác Nhất Về Máy Biến Áp
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Ngôn Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Của Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Tuần 5. Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học 14 Doc
  • Để lý giải cho mình câu hỏi ấy, xin hãy tự đặt ra một nhiệm vụ tầm thường thế này. Chúng ta hãy lựa chọn các văn bản sau đây: nhóm I: tranh của Delacroix, trường ca của Byron, giao hưởng của Berlioz; nhóm II: trường ca của Mickiewicz, kịch dương cầm của Chopin; nhóm III: các văn bản thơ của Derzavin, quần thể kiến trúc của Bazenov. Bây giờ thử đặt ra mục đích hệt như nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về lịch sử văn hoá vẫn thường làm: quy các văn bản về những biến thể của một loại hình bất biến nào đó để trình bầy chúng theo nội bộ mỗi nhóm như một văn bản. Loại hình bất biến với nhóm thứ nhất sẽ là “chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu”, với nhóm thứ hai: “chủ nghĩa lãng mạn Ba Lan”, với nhóm thứ ba: “tiền lãng mạn chủ nghĩa Nga”. Tất nhiên, cũng có thể đặt ra nhiệm vụ miêu tả cả 3 nhóm như một văn bản duy nhất bằng cách vận dụng mô hình trừu tượng của cái bất biến ở cấp độ thứ hai.

    Nếu đặt cho mình nhiệm vụ như vậy, thì dĩ nhiên chúng ta buộc phải lựa chọn một hệ thống giao tiếp nào đó, tức là chọn một “ngôn ngữ”, trước tiên là dành cho từng hệ thống, và sau đó là đồng thời dành cho cả ba hệ thống nói trên. Chúng ta giả định việc miêu tả các hệ thống ấy được tiến hành bằng tiếng Nga. Hiển nhiên là trong trường hợp này, tiếng Nga sẽ có chức năng như một siêu ngữ được sử dụng để miêu tả (tạm gác sang một bên sự sai lệch của việc miêu tả như vậy, bởi vì dưới sự tác động của siêu ngôn ngữ, đối tượng tất yếu sẽ bị mô hình hoá), nhưng bản thân cái “ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa” được miêu tả (hay bất kỳ một loại ngôn ngữ chuyên ngành nào đó tương ứng với ba nhóm đã nói ở trên) không thể đồng nhất với một loại ngôn ngữ tự nhiên nào, vì nó sẽ được dùng để miêu tả các văn bản phi lời. Tuy nhiên, mô hình ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa mà ta có được bằng cách trên sẽ được ứng dụng vào các tác phẩm văn học và ở một cấp độ nào đó, nó có thể mô tả hệ thống cấu trúc của chúng (ở cấp độ chung cho cả các văn bản ngôn từ và văn bản phi ngôn từ).

    Nhưng cần phải xét xem những cấu trúc được tạo ra bên trong các tổ chức nghệ thuật ngôn từ và không thể mã hoá bằng ngôn ngữ của các nghệ thuật phi lời có quan hệ thế nào với ngôn ngữ tự nhiên?

    Văn học nghệ thuật nói bằng một ngôn ngữ đặc biệt, loại ngôn ngữ được kiến tạo chồng lên bên trên ngôn ngữ tự nhiên như một hệ thống thứ sinh. Vì thế, người ta xem nó là hệ thống mô hình hoá thứ cấp. Dĩ nhiên, văn học không phải là hệ thống mô hình hoá thứ cấp duy nhất, và nếu dừng lại để nghiên cứu nó theo hướng này, chúng ta sẽ đi trệch ra ngoài nhiệm vụ trực tiếp của mình.

    Nói văn học có ngôn ngữ riêng, không trùng với ngôn ngữ tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ ấy, tức là nói văn học có một hệ thống ký hiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc tổ chức các ký hiệu ấy để chuyển tải những thông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng các phương tiện khác. Xin thử chứng minh.

    Có thể dễ dàng chia tách các ký hiệu, tức là dễ dàng chia tách những đơn vị văn bản ổn định, bất biến, và các quy tắc tổ chức ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên. Ký hiệu được chia tách rõ rệt thành các bình diện nội dung và biểu hiện, quan hệ giữa chúng là quan hệ tự do, không ràng buộc lẫn nhau, là quan hệ chịu sự ước định của lịch sử. Trong văn bản nghệ thuật ngôn từ, các ký hiệu không chỉ có ranh giới khác, mà bản thân khái niệm ký hiệu cũng rất khác.

    Chúng tôi đã từng viết, rằng ký hiệu trong nghệ thuật có đặc tính hình tượng, tạo hình, chứ không mang tính ước lệ giống như trong ngôn ngữ. Luận điểm hoàn toàn hiển nhiên với các nghệ thuật tạo hình này khi vận vào nghệ thuật ngôn từ sẽ kéo theo hàng loạt kết luận quan trọng. Các ký hiệu tạo hình được kiến tạo theo nguyên tắc ràng buộc lẫn nhau giữa biểu hiện và nội dung. Do đó rất khó phân định các bình diện nội dung và biểu hiện theo ý nghĩa thông thường của ngôn ngữ học cấu trúc. Ký hiệu mô hình hoá nội dung của nó. Thay vì phân định ngữ nghĩa rạch ròi, ở đây chỉ có sự bện kết phức tạp: yếu tố ngữ đoạn ở cấp độ này trong trình tự thứ bậc của văn bản hoá ra lại là yếu tố ngữ nghĩa ở cấp độ khác.

    Nhưng ở đây cũng cần nhớ, rằng chính những yếu tố ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên luôn vạch ra ranh giới của các ký hiệu và chia tách văn bản thành các đơn vị ngữ nghĩa. Xoá bỏ cặp đối lập “ngữ nghĩa – cú pháp” sẽ làm mờ ranh giới của ký hiệu. Nói: tất cả các yếu tố của văn bản thực chất đều là các yếu tố ngữ nghĩa – cũng tức là nói: trong trường hợp này, khái niệm văn bản đồng nhất với khái niệm ký hiệu.

    Ở một phương diện nào đó, vấn đề đúng là như vậy: văn bản là một ký hiệu toàn vẹn, và trong đó, tất cả các ký hiệu riêng lẻ của văn bản bằng ngôn ngữ chung đều quy về cấp độ các yếu tố của ký hiệu. Bởi vậy, mỗi một văn bản nghệ thuật là một ký hiệu cấu trúc độc nhất vô nhị, ad hoc[1] của một nội dung đặc biệt. Thoạt nghe, điều này có vẻ như mâu thuẫn với luận điểm ai cũng biết, theo đó, chỉ những yếu tố thường xuyên lặp lại tạo thành một tập hợp khép kín nào đó mới có khả năng truyền đạt thông tin. Nhưng mâu thuẫn ở đây chỉ mang tính bề ngoài. Thứ nhất, như chúng tôi đã chỉ ra, cấu trúc ngẫu nhiên của mô hình do nhà văn sáng tạo ra được áp đặt cho người đọc như ngôn ngữ nhận thức của anh ta. Tính ngẫu nhiên được thay thế bằng tính phổ quát. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Ký hiệu “độc nhất vô nhị” hoá ra là ký hiệu được “tập hợp” từ những yếu tố mang tính loại hình và ở một cấp độ nào đó nó vẫn được đọc theo những quy tắc truyền thống, quen thuộc. Mọi tác phẩm cách tân đều được xây dựng bằng chất liệu truyền thống. Nếu văn bản không lưu giữ cho ký ức những cấu trúc truyền thống, thí sự cách tân của nó sẽ không được tiếp nhận.

    Văn bản tạo ra một ký hiệu cũng chính là một văn bản (trình tự các ký hiệu) được viết bằng một ngôn ngữ tự nhiên nào đó và nhờ thế mà nó vẫn duy trì được sự phân bố thành các từ – ký hiệu của hệ thống ngôn ngữ chung. Cho nên mới nẩy sinh hiện tượng mang tính đặc thù của riêng nghệ thuật, theo đó, cùng một văn bản, nếu áp vào những bộ mã khác nhau, nó sẽ rã ra thành những ký hiệu theo một cách khác nhau.

    Có một quá trình đầy mâu thuẫn diễn ra đồng thời với sự chuyển hoá của các ký hiệu ngôn ngữ chung thành các yếu tố của một ký hiệu nghệ thuật. Được đặt vào cùng dẫy với một số lặp lại theo sự điều chỉnh, các yếu tố ký hiệu trong hệ thống ngôn ngữ tự nhiên – các âm vị, hình vị – được ngữ nghĩa hoá và trở thành các ký hiệu. Bởi vậy, cùng một văn bản, người ta vừa có thể đọc như một chuỗi ký hiệu được tổ chức theo quy tắc của ngôn ngữ tự nhiên, vừa có thể đọc như một trình tự các ký hiệu tương đối lớn hơn so với sự chia tách văn bản thành các từ, cho tới tận biến văn bản thành một ký hiệu duy nhất, lại cũng vừa có thể đọc như một chuỗi các ký hiệu được tổ chức theo kiểu đặc biệt, tương đối nhỏ hơn so với từ, cho tới tận âm vị.

    Sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng, sự hợp nhất các ranh giới của ký hiệu với ranh giới của văn bản sẽ xoá bỏ vấn đề cấu trúc ngữ đoạn. Văn bản được khảo sát theo cách ấy có thể tách ra thành các ký hiệu và được tổ chức phù hợp về mặt ngữ đoạn. Nhưng cái đó sẽ không phải là tổ chức ngữ đoạn của chuỗi dây chuyền, mà là tổ chức ngữ đoạn của thứ bậc: các ký hiệu sẽ gắn kết với nhau giống như những con búp bê – Matryoshka, con này được đặt trong lòng con kia.

    Kiểu tổ chức ngữ đoạn như vậy hoàn toàn mang tính thực tế đối với việc tổ chức văn bản nghệ thuật, và nếu nó tỏ ra xa lạ với nhà ngôn ngữ học thì nhà lịch sử học lại dễ dàng tìm thấy sự lặp lại của nó ví như trong cấu trúc thế giới được nhìn bằng đôi mắt của thời trung đại.

    Với nhà tư tưởng thời trung đại, thế giới không phải là tổng thể các bản chất, mà là bản chất, không phải là câu văn, mà là một từ. Nhưng từ ấy được cấu tạo bằng những từ riêng lẻ theo trật tự đẳng cấp, tựa như từ này đặt trong từ kia. Chân lý không nằm ở sự tích luỹ số lượng, mà ở sự đào sâu (không cần đọc nhiều sách, tức là nhiều từ, mà chỉ cần chăm chú vào một từ, không tích luỹ tri thức mới, mà chỉ luận bàn tri thức cũ).

    Từ những gì đã nói có thể rút ra, dù có cơ sở ở ngôn ngữ tự nhiên, nhưng nghệ thuật ngôn từ chỉ dựa vào đó để cải tạo nó thành ngôn ngữ của mình, ngôn ngữ thứ sinh, ngôn ngữ nghệ thuật. Mà bản thân ngôn ngữ nghệ thuật là một trật tự đẳng cấp phức tạp của nhiều ngôn ngữ có quan hệ tương tác với nhau, nhưng không giống nhau. Đây là lý do giải thích vì sao với một văn bản nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại rất nhiều cách đọc. Đó cũng chính là cơ sở tạo nên sự bão hoà ý nghĩa nghệ thuật mà không một một thứ ngôn ngữ phi nghệ thuật nào khác có thể đạt được. Nghệ thuật là phương thức lưu trữ và chuyển tải thông tin được nén chặt và tiết kiệm nhất. Nhưng nghệ thuật cũng sở đắc những phương tiện khác rất đáng được các chuyên gia – điều khiển học, và sau đó, các kỹ sư – thiết kế quan tâm.

    Có khả năng cô đặc một lượng thông tin khổng lồ trên một “mặt bằng” văn bản không lớn (thử so sánh một truyện ngắn của Sekhov với một cuốn sách giáo khoa tâm lý học), văn bản nghệ thuật còn có thêm một đặc điểm: nó cung cấp cho người đọc khác nhau những thông tin khác nhau tuỷ theo mức độ hiểu biết của từng người, nó còn trao cho người đọc cái ngôn ngữ để khi sử dụng có thể lĩnh hội được phần tri thức tiếp theo ở những lần đọc lại. Nó hành xử như một cơ thể sống động nào đó tồn tại trong quan hệ đối thoại với người đọc, huấn luyện cho người đọc ấy.

    Có thể đạt được điều trên bằng những phương tiện gì? Câu hỏi ấy không chỉ khiến nhà nhân văn học phải ngẫm nghĩ. Chỉ cần hình dung có một cơ cấu nào đó được kiến tạo theo kiểu tương tự như thế để chuyển tải thông tin khoa học cũng đủ để hiểu rằng, việc khám phá bản chất của nghệ thuật như một hệ thống giao tiếp có thể tạo ra bước ngoặt trong phương pháp lưu trữ và chuyển tải thông tin./

    Người dịch: Lã Nguyên

    Nguồn:Лотман Ю.М. Cтруктура художественного текста // Ю.М. Лотман.- Об искусстве. СПб., 1998. С. 31- 34.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật
  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Văn Học
  • Bài 1: Đặc Trưng Chung Và Hình Thức Ngôn Ngữ Biểu Hiện Khái Niệm
  • Phân Loại Các Loại Hình Ngôn Ngữ
  • Phần I : Mỹ Thuật Là Gì ? Ngôn Ngữ Riêng Của Hội Họa Mỹ Thuật
  • Ngôn Ngữ Báo Chí Có Gì Khác So Với Ngôn Ngữ Văn Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí (Tiếp Theo)
  • Ngôn Ngữ Học Và Văn Chương
  • Language Variations – Biến Thể Trong Tiếng Anh
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Lập Trình
  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận
  • 1. Khái niệm ngôn ngữ báo chí

    Ngôn ngữ báo chí hiểu đơn giản là việc sử dụng từ ngữ để đưa thông tin các sự kiện tới người đọc. Trong nguyên tắc của ngôn ngữ trong báo chí, người viết (người đưa tin) phải viết một cách trung tính (không để cảm xúc cá nhân lấn át), nhằm đưa đúng, đủ và trung thực về thông tin .

    Để xác định đâu là ngôn ngữ báo chí được thể hiện, người ta dựa vào cách viết của người đưa tin: cách dùng từ ngữ, cách đưa thông tin có chính xác hay không? Cụ thể, một bài báo chuẩn phải sử dụng từ ngữ đúng chính tả, câu cú rõ ràng, đúng và đủ ý. Bên cạnh đó, yêu cầu của ngôn ngữ trong báo chí phải gãy gọn, súc tích, không lan man, văn vẻ…

    Ngôn ngữ báo chí hiểu đơn giản là việc sử dụng từ ngữ để đưa thông tin các sự kiện tới người đọc. Ảnh Internet

    2. Ngôn ngữ báo chí có gì khác với các thể loại khác?

    Khi so sánh ngôn ngữ báo chí với ngôn ngữ văn học chúng ta sẽ thấy sự khác biệt cơ bản như sau.

    Ngôn ngữ báo chí viết chỉ có một nghĩa đen duy nhất: Vì báo chí là đưa tin, nên ngôn ngữ phải dễ hiểu, đúng nghĩa nhất để người đọc biết thông tin như “nó vốn có”. Trong khi đó, với ngôn ngữ văn học, thì một câu văn có thể có nhiều nghĩa (nghĩa đen, nghĩa bóng), tùy vào trí tưởng tượng của độc giả. Trong báo chí, việc viết “nhiều tầng nghĩa” là điều cấm kỵ tuyệt đối.

    Ngôn ngữ báo chí ngắn gọn, không vòng vo: Khác với các thể loại ngôn ngữ khác, ngôn ngữ trong báo chí yêu cầu ngắn gọn, đầy đủ ý chính, thời gian, địa điểm… để cung cấp thông tin nhanh nhất cho bạn đọc. Một số tin tức báo chí loại tin vắn chỉ vài chục chữ, nên nhà báo phải viết càng ngắn càng tốt. Ngôn ngữ viết báo vì thế tránh vòng vo, chuyện này xọ chuyện kia, lan man…

    Ngôn ngữ báo chí chỉ có một nghĩa đen duy nhất. Ảnh Internet

    3. Các yêu cầu của một bài viết đạt chuẩn ngôn ngữ báo chí

    Mặc dù có rất nhiều yêu cầu trong việc sử dụng ngôn ngữ báo chí, nhưng tựu trung có thể đề cập 3 yêu cầu sau đây.

    3.1. Không sai lỗi chính tả

    Nghề viết không được sai lỗi chính tả là điều đương nhiên. Nhưng trong ngôn ngữ báo chí, lỗi chính tả trở thành yêu cầu cao nhất, bởi sai một chữ có thể dẫn đến sai thông tin, và hậu quả khôn lường. 

    Hiện nay, các tòa soạn báo đều có bộ phận “đọc bản bông” trước khi đem đi in. Công việc này chính xác là kiểm tra lỗi chính tả, xem sai sót ở đâu thì phải sửa ngay. Bởi một bài báo sau khi in mà sai lỗi chính tả sẽ không còn cách sửa nào khác, bị bạn đọc đánh giá thấp. Chưa kể đến những hậu quả khác như bị kiện, bị đình bản…

    Người viết báo bên cạnh học nghiệp vụ lấy tin, khai thác đề tài thì luôn được yêu cầu viết đúng chính tả. Ở các tòa soạn, đội ngũ biên tập viên rất “kỵ” phóng viên viết sai chỉnh tả, xem đó là việc “không thể chấp nhận”. Bởi nghề báo phụng sự sự thật, viết sai chính tả có thể dẫn đến sự thật bị méo méo, rất nguy hiểm.

    Ngôn ngữ báo chí phải chính xác về mặt chính tả. Ảnh Internet

    3.2. Ngôn ngữ đi thẳng vào vấn đề

    Người đọc báo chỉ quan tâm đến nội dung chính, vì thế người viết báo phải đi thẳng vào vấn đề ngay từ phần tiêu đề. Đây thực chất là nhiệm vụ của nghề báo: cung cấp thông tin nhanh và đúng với bạn đọc. Riêng ở thể loại tin tức, độ dài bài viết đôi khi chỉ tầm 200 chữ kèm ảnh, nên càng không “đủ đất” để người viết “cà kê rau muống”. 

    Ví dụ cụ thể, trong tin tức về một vụ nổ súng xảy ra. Người viết đến hiện trường thực hiện bài viết cần đủ các thông tin chính như: Ai nổ súng? Nổ súng vào ai? Nổ súng ở đâu, thời gian nào? Tình hình thương vong hiện tại như thế nào? Thiệt hại khác ra sao? Đó là những thông tin mà người đọc cần biết nhất, phải đáp ứng ngay và luôn.

    Ngôn ngữ báo chí đi thẳng vào vấn đề. Ảnh Internet

    3.3. Viết báo tránh kể lể

    Để tránh việc lan man, yêu cầu của ngôn ngữ trong việc viết báo phải đặt thông tin chính ngay từ đầu tiêu đề. Bạn đọc chỉ cần đọc tiêu đề và phần giới thiệu sau đó là đủ nắm được thông tin cần biết nhất. Hiện nay, điều này chỉ thấy trên báo in, trong khi đó báo điện tử có nhiều cách “giật tít” gây khó hiểu, và cố tình “giấu thông tin” để bạn đọc “nhấp chuột”, câu view. Điều này sẽ chúng tôi sẽ đề cập ở bài viết sau.

    Ngôn ngữ báo chí không kể lể vòng vo. Ảnh Internet

    Một cách tóm gọn, ngôn ngữ trong báo chí phải thực sự chuẩn thì mới được nhiều người đọc đón nhận, quan tâm. Tuy nhiên, trong thời đại mới, ngôn ngữ trong báo chí (đặc biệt là báo điện tử) cũng có những đổi thay nhất định. Một số kênh thông tin đang “chệch” ra khỏi xu hướng ngôn ngữ báo chí chuẩn, viết theo lối lan man, kể lể, gây sốc nhằm câu view. Tuy nhiên, nói đúng đủ và cơ bản nhất, viết báo phải chuẩn, phải riêng biệt, không được trộn lẫn với các thể loại ngôn ngữ khác. Thế mới biết, viết báo khó, và không phải mọi bài viết đăng trên báo chí đều xứng đáng gọi là đúng ngôn ngữ của báo chí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì, Các Loại Ngôn Ngữ Lập Trình Hiện Nay
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì? Phân Loại Các Ngôn Ngữ Lập Trình Cơ Bản
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Là Gì? 10 Ngôn Ngữ Phổ Biến Và 5 Công Dụng
  • Máy Biến Áp Là Gì ? Nguyến Lý Hoạt Động Và Các Kiến Thức Liên Quan Khác
  • Máy Biến Áp Tăng Áp
  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Của Nghệ Thuật Ngôn Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Tuần 5. Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học 14 Doc
  • Hướng Dẫn Phân Tích : Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học
  • Để lý giải cho mình câu hỏi ấy, xin hãy tự đặt ra một nhiệm vụ tầm thường thế này. Chúng ta hãy lựa chọn các văn bản sau đây: nhóm I: tranh của Delacroix, trường ca của Byron, giao hưởng của Berlioz; nhóm II: trường ca của Mickiewicz, kịch dương cầm của Chopin; nhóm III: các văn bản thơ của Derzavin, quần thể kiến trúc của Bazenov. Bây giờ thử đặt ra mục đích hệt như nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về lịch sử văn hoá vẫn thường làm: quy các văn bản về những biến thể của một loại hình bất biến nào đó để trình bầy chúng theo nội bộ mỗi nhóm như một văn bản. Loại hình bất biến với nhóm thứ nhất sẽ là “chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu”, với nhóm thứ hai: “chủ nghĩa lãng mạn Ba Lan”, với nhóm thứ ba: “tiền lãng mạn chủ nghĩa Nga”. Tất nhiên, cũng có thể đặt ra nhiệm vụ miêu tả cả 3 nhóm như một văn bản duy nhất bằng cách vận dụng mô hình trừu tượng của cái bất biến ở cấp độ thứ hai.

    Nếu đặt cho mình nhiệm vụ như vậy, thì dĩ nhiên chúng ta buộc phải lựa chọn một hệ thống giao tiếp nào đó, tức là chọn một “ngôn ngữ”, trước tiên là dành cho từng hệ thống, và sau đó là đồng thời dành cho cả ba hệ thống nói trên. Chúng ta giả định việc miêu tả các hệ thống ấy được tiến hành bằng tiếng Nga. Hiển nhiên là trong trường hợp này, tiếng Nga sẽ có chức năng như một siêu ngữ được sử dụng để miêu tả (tạm gác sang một bên sự sai lệch của việc miêu tả như vậy, bởi vì dưới sự tác động của siêu ngôn ngữ, đối tượng tất yếu sẽ bị mô hình hoá), nhưng bản thân cái “ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa” được miêu tả (hay bất kỳ một loại ngôn ngữ chuyên ngành nào đó tương ứng với ba nhóm đã nói ở trên) không thể đồng nhất với một loại ngôn ngữ tự nhiên nào, vì nó sẽ được dùng để miêu tả các văn bản không phải phi lời. Tuy nhiên, mô hình ngôn ngữ lãng mạn chủ nghĩa mà ta có được bằng cách trên sẽ được ứng dụng vào các tác phẩm văn học và ở một cấp độ nào đó, nó có thể mô tả hệ thống cấu trúc của chúng (ở cấp độ chung cho cả các văn bản ngôn từ và văn bản phi ngôn từ).

    Nhưng cần phải xét xem những cấu trúc được tạo ra bên trong các tổ chức nghệ thuật ngôn từ và không thể mã hoá bằng ngôn ngữ của các nghệ thuật phi lời có quan hệ thế nào với ngôn ngữ tự nhiên?

    Văn học nghệ thuật nói bằng một ngôn ngữ đặc biệt, loại ngôn ngữ được kiến tạo chồng lên bên trên ngôn ngữ tự nhiên như một hệ thống thứ sinh. Vì thế, người ta xem nó là hệ thống mô hình hoá thứ cấp. Dĩ nhiên, văn học không phải là hệ thống mô hình hoá thứ cấp duy nhất, và nếu dừng lại để nghiên cứu nó theo hướng này, chúng ta sẽ đi trệch ra ngoài nhiệm vụ trực tiếp của mình.

    Nói văn học có ngôn ngữ riêng, không trùng với ngôn ngữ tự nhiên, dẫu được kiến tạo trên ngôn ngữ ấy, tức là nói văn học có một hệ thống ký hiệu riêng, chỉ thuộc về nó và những quy tắc tổ chức các ký hiệu ấy để chuyển tải những thông tin đặc biệt, những thông tin không thể chuyển tải bằng các phương tiện khác. Xin thử chứng minh.

    Có thể dễ dàng chia tách các ký hiệu, tức là dễ dàng chia tách những đơn vị văn bản ổn định, bất biến, và các quy tắc tổ chức ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên. Ký hiệu được chia tách rõ rệt thành các bình diện nội dung và biểu hiện, quan hệ giữa chúng là quan hệ tự do, không ràng buộc lẫn nhau, là quan hệ chịu sự ước định của lịch sử. Trong văn bản nghệ thuật ngôn từ, các ký hiệu không chỉ có ranh giới khác, mà bản thân khái niệm ký hiệu cũng rất khác.

    Chúng tôi đã từng viết, rằng ký hiệu trong nghệ thuật có đặc tính hình tượng, tạo hình, chứ không mang tính ước lệ giống như trong ngôn ngữ. Luận điểm hoàn toàn hiển nhiên với các nghệ thuật tạo hình này khi vận vào nghệ thuật ngôn từ sẽ kéo theo hàng loạt kết luận quan trọng. Các ký hiệu tạo hình được kiến tạo theo nguyên tắc ràng buộc lẫn nhau giữa biểu hiện và nội dung. Do đó rất khó phân định các bình diện nội dung và biểu hiện theo ý nghĩa thông thường của ngôn ngữ học cấu trúc. Ký hiệu mô hình hoá nội dung của nó. Thay vì phân định ngữ nghĩa rạch ròi, ở đây chỉ có sự bện kết phức tạp: yếu tố ngữ đoạn ở cấp độ này trong trình tự thứ bậc của văn bản hoá ra lại là yếu tố ngữ nghĩa ở cấp độ khác.

    Nhưng ở đây cũng cần nhớ, rằng chính những yếu tố ngữ đoạn trong ngôn ngữ tự nhiên luôn vạch ra ranh giới của các ký hiệu và chia tách văn bản thành các đơn vị ngữ nghĩa. Xoá bỏ cặp đối lập “ngữ nghĩa – cú pháp” sẽ làm mờ ranh giới của ký hiệu. Nói: tất cả các yếu tố của văn bản thực chất đều là các yếu tố ngữ nghĩa – cũng tức là nói: trong trường hợp này, khái niệm văn bản đồng nhất với khái niệm ký hiệu.

    Ở một phương diện nào đó, vấn đề đúng là như vậy: văn bản là một ký hiệu toàn vẹn, và trong đó, tất cả các ký hiệu riêng lẻ của văn bản bằng ngôn ngữ chung đều quy về cấp độ các yếu tố của ký hiệu. Bởi vậy, mỗi văn bản nghệ thuật là một ký hiệu cấu trúc độc nhất vô nhị, ad hoc[1] của một nội dung đặc biệt. Thoạt nghe, điều này có vẻ như mâu thuẫn với luận điểm ai cũng biết, theo đó, chỉ những yếu tố thường xuyên lặp lại tạo thành một tập hợp khép kín nào đó mới có khả năng truyền đạt thông tin. Nhưng mâu thuẫn ở đây chỉ mang tính bề ngoài. Thứ nhất, như chúng tôi đã chỉ ra, cấu trúc ngẫu nhiên của mô hình do nhà văn sáng tạo ra được áp đặt cho người đọc như ngôn ngữ nhận thức của anh ta. Tính ngẫu nhiên được thay thế bằng tính phổ quát. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Ký hiệu “độc nhất vô nhị” hoá ra là ký hiệu được “tập hợp” từ những yếu tố mang tính loại hình và ở một cấp độ nào đó nó vẫn được đọc theo những quy tắc truyền thống, quen thuộc. Mọi tác phẩm cách tân đều được xây dựng bằng chất liệu truyền thống. Nếu văn bản không lưu giữ cho ký ức những cấu trúc truyền thống, thí sự cách tân của nó sẽ không được tiếp nhận.

    Văn bản tạo ra một ký hiệu cũng chính là một văn bản (trình tự các ký hiệu) được viết bằng một ngôn ngữ tự nhiên nào đó và nhờ thế mà nó vẫn duy trì được sự phân bố thành các từ – ký hiệu của hệ thống ngôn ngữ chung. Cho nên mới nảy sinh hiện tượng mang tính đặc thù của riêng nghệ thuật, theo đó, cùng một văn bản, nếu áp vào những bộ mã khác nhau, nó sẽ rã ra thành những ký hiệu theo một cách khác nhau.

    Có một quá trình đầy mâu thuẫn diễn ra đồng thời với sự chuyển hoá của các ký hiệu ngôn ngữ chung thành các yếu tố của một ký hiệu nghệ thuật. Được đặt vào cùng dẫy với một số lặp lại theo sự điều chỉnh, các yếu tố ký hiệu trong hệ thống ngôn ngữ tự nhiên – các âm vị, hình vị – được ngữ nghĩa hoá và trở thành các ký hiệu. Bởi vậy, cùng một văn bản, người ta vừa có thể đọc như một chuỗi ký hiệu được tổ chức theo quy tắc của ngôn ngữ tự nhiên, vừa có thể đọc như một trình tự các ký hiệu tương đối lớn hơn so với sự chia tách văn bản thành các từ, cho tới tận biến văn bản thành một ký hiệu duy nhất, lại cũng vừa có thể đọc như một chuỗi các ký hiệu được tổ chức theo kiểu đặc biệt, tương đối nhỏ hơn so với từ, cho tới tận âm vị.

    Sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng, sự hợp nhất các ranh giới của ký hiệu với ranh giới của văn bản sẽ xoá bỏ vấn đề cấu trúc ngữ đoạn. Văn bản được khảo sát theo cách ấy có thể tách ra thành các ký hiệu và được tổ chức phù hợp về mặt ngữ đoạn. Nhưng cái đó sẽ không phải là tổ chức ngữ đoạn của chuỗi dây chuyền, mà là tổ chức ngữ đoạn của thứ bậc: các ký hiệu sẽ gắn kết với nhau giống như những con búp bê – Matryoshka, con này được đặt trong lòng con kia.

    Kiểu tổ chức ngữ đoạn như vậy hoàn toàn mang tính thực tế đối với việc tổ chức văn bản nghệ thuật, và nếu nó tỏ ra xa lạ với nhà ngôn ngữ học thì nhà lịch sử học lại dễ dàng tìm thấy sự lặp lại của nó ví như trong cấu trúc thế giới được nhìn bằng đôi mắt của thời trung đại.

    Với nhà tư tưởng thời trung đại, thế giới không phải là tổng thể các bản chất, mà là bản chất, không phải là câu văn, mà là một từ. Nhưng từ ấy được cấu tạo bằng những từ riêng lẻ theo trật tự đẳng cấp, tựa như từ này đặt trong từ kia. Chân lý không nằm ở sự tích luỹ số lượng, mà ở sự đào sâu (không cần đọc nhiều sách, tức là nhiều từ, mà chỉ cần chăm chú vào một từ, không tích luỹ tri thức mới, mà chỉ luận bàn tri thức cũ).

    Từ những gì đã nói có thể rút ra, dù có cơ sở ở ngôn ngữ tự nhiên, nhưng nghệ thuật ngôn từ chỉ dựa vào đó để cải tạo nó thành ngôn ngữ của mình, ngôn ngữ thứ sinh, ngôn ngữ nghệ thuật. Mà bản thân ngôn ngữ nghệ thuật là một trật tự đẳng cấp phức tạp của nhiều ngôn ngữ có quan hệ tương tác với nhau, nhưng không giống nhau. Đây là lý do giải thích vì sao với một văn bản nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại rất nhiều cách đọc. Đó cũng chính là cơ sở tạo nên sự bão hoà ý nghĩa nghệ thuật mà không một một thứ ngôn ngữ phi nghệ thuật nào khác có thể đạt được. Nghệ thuật là phương thức lưu trữ và chuyển tải thông tin được nén chặt và tiết kiệm nhất. Nhưng nghệ thuật cũng sở đắc những phương tiện khác rất đáng được các chuyên gia – điều khiển học, và sau đó, các kỹ sư – thiết kế quan tâm.

    Có khả năng cô đặc một lượng thông tin khổng lồ trên một “mặt bằng” văn bản không lớn (thử so sánh một truyện ngắn của Sekhov với một cuốn sách giáo khoa tâm lý học), văn bản nghệ thuật còn có thêm một đặc điểm: nó cung cấp cho người đọc khác nhau những thông tin khác nhau tuỷ theo mức độ hiểu biết của từng người, nó còn trao cho người đọc cái ngôn ngữ để khi sử dụng có thể lĩnh hội được phần tri thức tiếp theo ở những lần đọc lại. Nó hành xử như một cơ thể sống động nào đó tồn tại trong quan hệ đối thoại với người đọc, huấn luyện cho người đọc ấy.

    Có thể đạt được điều trên bằng những phương tiện gì? Câu hỏi ấy không chỉ khiến nhà nhân văn học phải ngẫm nghĩ. Chỉ cần hình dung có một cơ cấu nào đó được kiến tạo theo kiểu tương tự như thế để chuyển tải thông tin khoa học cũng đủ để hiểu rằng, việc khám phá bản chất của nghệ thuật như một hệ thống giao tiếp có thể tạo ra bước ngoặt trong phương pháp lưu trữ và chuyển tải thông tin./

    Người dịch: Lã Nguyên

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Ngôn Ngữ Nghệ Thuật Ngôn Từ
  • Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật
  • Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Văn Học
  • Bài 1: Đặc Trưng Chung Và Hình Thức Ngôn Ngữ Biểu Hiện Khái Niệm
  • Phân Loại Các Loại Hình Ngôn Ngữ
  • Khái Niệm Chung Về Ngôn Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngôn Ngữ Là Một Hệ Thống Tín Hiệu Đặc Biệt
  • Sách Mới: Từ Điển Khái Niệm Ngôn Ngữ Học
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Cơ Thể
  • Nghĩa Của Từ Là Gì, Cho Ví Dụ Lớp 6
  • Nghĩa Của Từ Là Gì ?
  • 1. Khái niệm chung về ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là hiện tượng lịch sử – xã hội nảy sinh trong hoạt động thực tiễn của con người. Trong quá trình cùng nhau lao động, loài người cổ xưa có nhu cầu trao đổi ý nghĩ, dự định, nguyện vọng, tâm tư tình cảm… Nhờ đó đến một giai đoạn phát triển nhất định đã xuất hiện những dấu hiệu quy ước chung để giao tiếp, trong đó có những dấu hiệu âm thanh, từ những tín hiệu này dần dần tạo thành từ ngữ và một hệ thống quy tắc ngữ pháp, đó chính là ngôn ngữ.

    Vậy ngôn ngữ là gì? Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ đặc biệt dùng làm phương tiện giao tiếp và làm công cụ tư duy.

    Kí hiệu từ ngữ là một hiện tượng tồn tại khách quan trong đời sống tinh thần của con người, là một hiện tượng của nền văn hoá tinh thần của loài người,

    Kí hiệu từ ngữ là một hệ thống, trong đó mỗi kí hiệu chỉ có ý nghĩa và thực hiện một chức năng nhất định ở trong hệ thống của mình.

    Ngôn ngữ gồm ba bộ phận: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, ngữ đoạn, văn bản…. Bất cứ ngôn ngữ của dân tộc nào cũng chứa đựng phạm trù ngữ pháp và phạm trù lôgic. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống các quy định việc thành lập từ và câu, quy định sự phát âm. Phạm trù ngữ pháp ở các ngôn ngữ khác nhau là khác nhau. Phạm trù lôgic là quy luật, phương pháp tư duy đúng đắn của con người, vì vậy tuy dùng các ngôn ngữ (tiếng nói) khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau.

    Ngôn ngữ có tác động thay đổi hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ, hoạt động bên trong của con người. Nó hướng vào và làm trung gian hoá cho các hoạt động tâm lý cấp cao của con người như tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng…

    Ngôn ngữ do cá nhân tiến hành có thể có những xu hướng, mục đích khác nhau nhằm truyền đạt một thông báo mới, những tri thức mới, giải quyết một nhiệm vụ tư duy mới…

    Ngôn ngữ của mỗi cá nhân phát triển cùng với năng lực nhận thức của cá nhân đó và bao giờ cũng mang dấu ấn của những đặc điểm tâm lý riêng. Song ngôn ngữ của mỗi cá nhân không chỉ phản ánh nghĩa của các từ mà còn phản ánh cả thái độ của bản thân đối với đối tượng của ngôn ngữ và đối với người đang giao tiếp. Việc nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ trong quá trình phát triển cá thể là nhiệm vụ của Tâm lý học. Vì thế ngôn ngữ là một hoạt động tâm lý, là đối tượng của tâm lý học. Ngôn ngữ đặc trưng cho từng người. Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ thể hiện ở cách phát âm, ở giọng điệu, cách dùng từ, cách biểu đạt nội dung tư tưởng, tình cảm.

    1.2. Các chức năng cơ bản của ngôn ngữ

      Chức năng chỉ nghĩa: Chỉ nghĩa là quá trình dùng một từ, một câu đều chỉ một nghĩa nào đó, tức là quá trình gắn từ đó, câu đó với một sự vật, hiện tượng (ví dụ từ “cái bút” chỉ một vật dùng để viết, vẽ…).
      Chức năng thông báo: Mỗi quá trình ngôn ngữ đều chứa đựng một nội dung thông tin, sự biểu cảm dùng để truyền đạt từ người này tới người kia, hay tự mình nói với bản thân mình bằng ngôn ngữ thầm.
      Chức năng điều khiển, điều chỉnh: Con người trong quá trình giao tiếp nhận được thông tin từ người khác và cũng phát ra thông tin cho người khác. Nhận được thông tin ấy con người thường kịp thời điều chỉnh hành vi, hoạt động của mình cho phù hợp với nội dung thông tin đó và hoạt động của bản thân. Đồng thời ngôn ngữ có chức năng thiết lập và giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động (trong đó có hoạt động trí tuệ). Nó bao gồm việc kế hoạch hóa hoạt động, thực hiện hoạt động và đối chiếu kết quả hoạt động với mục đích đã đề ra.

    Trong ba chức năng của ngôn ngữ nêu trên, chức năng thông báo là chức năng cơ bản nhất. Chỉ trong quá trình giao tiếp con người mới thu nhận được các tri thức, do đó một điều chỉnh được hành vi của mình cho thích hợp với hoàn cảnh sống. Còn chức năng chỉ nghĩa là điều kiện để thực hiện hai chức năng trên.

    Tác phẩm, tác giả, nguồn

    • Tác phẩm: Giáo trình Tâm lý học đại cương
    • Tác giả: Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên) – Nguyễn Quang Uẩn – Nguyễn Văn Thạc – Trần Quốc Thành – Hoàng Anh – Lê Thị Bừng – Vũ Kim Thanh – Nguyễn Kim Quý – Nguyễn Thị Huệ – Nguyễn Đức Sơn
    • Nguồn: Nhà Xuất bản Đại học Sư Phạm, 2007

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Máy Biến Áp? Công Suất Máy Biến Áp?
  • Khái Niệm Chung Của Máy Biến Áp 3 Pha
  • Máy Biến Áp Là Gì? Những Định Nghĩa Chính Xác Nhất Về Máy Biến Áp
  • Những Khái Niệm Cơ Bản Về Máy Biến Áp
  • Khái Niệm Chung Của Máy Biến Áp
  • Văn Phân Tích: Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chọn Ngôn Ngữ Lập Trình Phù Hợp
  • Bàn Về Giảng Dạy Các Kỹ Năng Ngôn Ngữ Trong Mối Quan Hệ Với Đào Tạo Kỹ Năng Mềm Cho Học Viên Trường Đại Học An Ninh Nhân Dân
  • Kỹ Năng Học Ngôn Ngữ
  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Nghệ Thuật
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Pascal Là Gì? Định Nghĩa, Khái Niệm
  • Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, như màu sắc đối với hội họa, âm thanh đối với âm nhạc, hình khôi đối với kiến trúc. Nói cho cùng, văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ. Những nhà văn lớn đều là những nhà ngôn ngữ trác tuyệt. Trong sự sáng tạo của nhà văn, sự sáng tạo về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng. Trong lao động nghệ thuật của nhà vãn có một sự lao tâm khố’ tứ về ngôn ngữ.

    Nhà văn đã sử dụng ngôn ngữ toàn dân để sáng tác tác phẩm văn học, đế sáng tạo ra ngôn ngữ văn học. Giữa ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ vãn học có sự khác biệt. Theo Go-rơ-ki, ngôn ngữ nhân dân là tiếng nói “nguyên liệu”, còn ngôn ngữ văn học là tiếng nói đã được những người thợ tinh xảo nhào luyện.

    Ngôn ngữ văn học có những đặc điểm riêng:

    Ngôn ngữ văn học chính xác, tinh luyện. Thường thì một khái niệm có nhiều từ để diễn tả, nhưng chỉ một từ là đúng, là chính xác với điều nhà văn muốn nói. Trong khi viết văn, nhà văn phải lựa chọn từ nào là chính xác nhát. Các nhà văn cổ điển đã giác ngộ về ngôn ngữ sâu sắc, vì vậy, tác phẩm của họ có giá trị bền lâu.

    Nguyễn Du tả Thúy Vân:

    “… Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

    và tả Thúy Kiều:

    “… Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém:xanh”

    “Thua” và “nhường”, “ghen” và “hờn” là những từ “định mệnh” của hai nhân vật, chính xác một cách tuyệt đối.

    Tản Đà đã cân nhắc từ “tuôn” và “khô” cho câu thơ:

    “Suối tuôn dòng lệ chà mong tháng ngày”

    và: “ Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”

    Cuối cùng, tác giả đã chọn từ “khô” vì nó sâu hơn, chính xác hơn, tinh luyện hơn.

    Nói đến đặc điểm này, chúng ta cũng nên nhớ đến một ý kiến của Vích- to Huy-Go. Ông nói: “Trong tiếng Pháp không có từ nào hay, từ nào dở, từ nào đặt đúng chỗ là từ đó hay”.

    Thật vậy, chúng ta hãy thưởng thức cái hay của sự “đặt đúng chỗ” đó:

    “Lúa níu anh trật dép”

    (Trần Hữu Thung)

    Từ “níu” rất quen thuộc, được đặt vào văn cảnh này ý nghĩa trở nên mênh mông.

    “Mình đi mình có nhớ mình”

    (Việt Bắc – Tố Hữu)

    Từ “mình” rất cũ, Tố Hữu đã dùng với ý nghĩa mới để diễn đạt nội dung tư tưởng cách mạng.

    Đúng như Mai-a-cốp-xki nói “làm thơ là cân từ 1/1000 mg quặng chữ”.

    Đặc điểm thứ hai của ngôn ngữ văn học là tính hỉnh tượng. Ngôn ngữ văn học không trừu tượng như ngôn ngữ triết học, chính trị, cũng không phải ngôn ngữ kí hiệu hóa như một số môn khoa học.

    Ngôn ngữ văn học trực tiếp xây dựng hình tượng trong tác phẩm nên nó không trừu tượng mà mang tính chất cảm tính cụ thể.

    Ngôn ngữ gợi màu sắc:

    Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc.”

    (Hàn Mặc Tử)

    “Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh”

    (Xuân Diệu)

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

    (Nguyễn Du)

    Ngôn ngữ gợi đường nét:

    “Lơ thơ tơ liễu buông mành”

    Ba âm “ơ” (lơ, thơ, tơ) gợi đường nét thưa thớt của những chiếc lá liễu buông mành.

    “Súng bên súng đầu sát bèn đầu”

    (Chính Hữu)

    Hình ảnh của tình đồng chí: nét thẳng (súng) của ý chí hòa hạp với nét cong (đầu) của tình cảm.

    Ngôn ngữ gợi hình khối:

    “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

    (Hồ Chí Minh)

    “Cổ thụ” là một khối to đậm tiêu biểu cho sự hùng vĩ của núi rừng. “Hoa” là một nét nhỏ, nhẹ tiêu biểu cho vẻ thơ mộng của núi rừng. Tất cả đều nhuốm ánh trăng thật là huyền ảo.

    “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

    Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.”

    Từ “đùn” miêu tả sự vận động của những khôi mây như núi bạc. Bên cạnh khôi mây khổng lồ đó, cánh chim đã nhỏ lại càng nhỏ hơn. Huy Cận đã diễn tả tài tình tâm trạng cô liêu trong tâm hồn thi nhân.

    Nhà thơ Tố Hữu đã diễn tả tâm trạng của ông khi trở về thăm người mẹ nuôi xưa với ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh và nhạc tính:

    Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa

    Một buổi trưa nắng dài bãi cát

    Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa

    Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát

    Nhà thơ Tố Hữu nói: “Nhịp điệu của hai câu thơ là nhịp điệu của sóng gió và cũng là nhịp điệu của náo nức xôn xao và biết bao sung sướng êm ái trong lòng người trở về quê cũ, nơi đã nuôi mình”.

    Đặc điểm thứ ba của ngôn ngữ văn học là tính biểu cảm. Ngôn ngữ vãn học chẳng những phải chính xác, phải có tính hình tượng mà còn có giá trị biểu cảm. Văn học trực tiếp bộc lộ cảm xúc của nhà văn qua ngôn ngữ văn học. Nhà nghệ sĩ giàu cảm xúc nên ngôn ngữ văn học giàu tính biểu cảm. Tất nhiên, tính biểu cảm có thể bộc lộ dưới nhiều dạng thức: trực tiếp, gián tiếp, có hình ảnh hoặc là ngôn từ thuần túy.

    Khi Nguyễn Trãi viết: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn” thì từ “nướng” đã chứa chất cả tinh thần phẫn nộ của ông đối với giặc Minh.

    Khi Tú Xương viết: “Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông” thì từ “lèn” vừa diễn tả chính xác hành vi của kẻ cướp, lại vừa bộc lộ thái độ châm biếm, chế giễu tên quan tuần phủ.

    Khi Xuân Diệu viết: “Con cò trên ruộng cánh phân vân” thì cánh cò ấy là cánh cò đầy tâm trạng của trái tim đang yêu của thi sĩ.

    Khi Chế Lan Viên viết: “Ta là ta mà vẫn cứ mê ta” là ông quá say mê với cuộc sống, quá tự hào về thời đại và dân tộc mà ông đã diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ trần trụi như thế.

    Nói đến ngôn ngữ văn học, không thể quên được lời nhận xét tinh tường của Pau-tốp-xki (Nga): “Thi ca có một đặc tính kì lạ. Nó trả lại cho chữ cái tươi mát, trinh bạch ban đầu. Những chữ tả tơi nhất mà chúng ta đã nói cạn đến cùng, mất sạch tính chất hình tượng, đối với chúng còn lại chẳng khác gì một cái vỏ chữ. Những chữ ấy trong thi ca lại sáng lấp lánh, lại kêu giòn và tỏa hương”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Giáo Dục Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non
  • Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ Mầm Non
  • Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt
  • Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Lập Trình
  • Khái Niệm Về Ngôn Ngữ Lập Trình

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Chữ Viết
  • Giáo Án Ngữ Văn 10: Đặc Điểm Của Ngôn Ngữ Nói Và Ngôn Ngữ Viết
  • Ngôn Ngữ Báo Chí Là Gì Và Cách Sử Dụng Ngôn Ngữ Báo Chí Chuẩn
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí
  • Việc Làm It Phần Mềm Và Tin Công Nghệ
  • Như chúng ta đã biết, máy tính bao gồm phần cứng là các thiết bị điện tử trong đó thông tin được biểu diễn dưới dạng số nhị phân và phần mềm bao gồm các chương trình được tạo ra bằng cách sử dụng các ngôn ngữ lập trình.

    Như vậy ngôn ngữ lập trình (NNLT) là ngôn ngữ dùng để viết các chương trình cho máy tính. Cũng như các ngôn ngữ thông thường, NNLT cũng có từ vựng, cú pháp và ngữ nghĩa.

    Theo tiến trình lịch sử phát triển, ngôn ngữ lập trình có thể được chia ra làm ba loại chủ yếu như sau:

    Ngôn ngữ máy (machine language) l à các chỉ thị dưới dạng nhị phân, can thiệp trực tiếp vào trong các mạch điện tử. Chương trình được viết bằng ngôn ngữ máy thì có thể được thực hiện ngay không cần qua bước trung gian nào. Tuy nhiên chương trình viết bằng ngôn ngữ máy dễ sai sót, cồng kềnh và khó đọc, khó hiểu vì toàn những con số 0 và 1.

    Hợp ngữ là một bước tiến vượt bậc đưa ngôn ngữ lập trình thoát ra khỏi ngôn ngữ máy khó hiểu. Ngôn ngữ này xuất hiện vào những năm 1950, nó được thiết kế để máy tính trở nên thân thiện hơn với người sử dụng. Hợp ngữ đưa ra khái niệm biến (variable), nhờ đó mà ta có thể gán một ký hiệu cho một vị trí nào đó trong bộ nhớ mà không phải viết lại địa chỉ này dưới dạng nhị phân mỗi lần sử dụng. Hợp ngữ cũng chứa vài “phép toán giả”, tức là ta có thể biểu biễn mã phép toán dưới dạng phát biểu (hay còn gọi là câu lệnh) thay vì dưới dạng nhị phân. Các câu lệnh bao gồm hai phần: phần mã lệnh (viết tựa tiếng Anh) chỉ phép toán cần thực hiện và phần tên biến chỉ địa chỉ chứa toán hạng của phép toán đó.

    Ðể máy thực hiện được một chương trình viết bằng hợp ngữ thì chương trình đó phải được dịch sang ngôn ngữ máy. Công cụ thực hiện việc dịch đó được gọi là Assembler

    Ngôn ngữ cấp cao (High level language): là ngôn ngữ được tạo ra và phát triển nhằm phản ánh cách thức người lập trình nghĩ và làm. Ngôn ngữ cấp cao rất gần với ngôn ngữ con người (Anh ngữ) nhưng chính xác như ngôn ngữ toán học. Nhờ ngôn ngữ cấp cao mà lĩnh vực lập trình trở nên phổ biến, rất nhiều người có thể viết được chương trình, và nhờ thế mà các phần mềm phát triển như vũ bão, phục vụ nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Cùng với sự phát triển của các thế hệ máy tính, ngôn ngữ lập trình cấp cao cũng được phát triển rất đa dạng và phong phú, việc lập trình cho máy tính vì thế mà cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau: lập trình cấu trúc, lập trình hướng đối tượng, lập trình logic, lập trình hàm… Một chương trình viết bằng ngôn ngữ cấp cao được gọi là chương trình nguồn (source programs). Ðể máy tính “hiểu” và thực hiện được các lệnh trong chương trình nguồn thì phải có một chương trình dịch để dịch chương trình nguồn (viết bằng ngôn ngữ cấp cao) thành chương trình đích.

    A programming language that is once removed from a computer’s machine language. Machine languages consist entirely of numbers and are almost impossible for humans to read and write. Assembly languages have the same structure and set of commands as machine languages, but they enable a programmer to use names instead of numbers.

    Each type of CPU has its own machine language and assembly language, so an assembly language program written for one type of CPU won’t run on another. In the early days of programming, all programs were written in assembly language. Now, most programs are written in a high-level language such as FORTRAN or C. Programmers still use assembly language when speed is essential or when they need to perform an operation that isn’t possible in a high-level language.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 5: Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Bài 5. Ngôn Ngữ Lập Trình
  • Ngôn Ngữ Máy Là Gì? Những Bạn Cần Biết Về Ngôn Ngữ Này
  • Soạn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Sinh Hoạt
  • Văn Bản Trong Ngôn Ngữ Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vcl: Biến Thể Cấu Hình Ngôn Ngữ
  • Biến Thể Ngôn Ngữ Là Gì?
  • Định Nghĩa Và Ví Dụ Về Biến Thể Ngôn Ngữ
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Lập Trình C
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Ngôn Ngữ Lập Trình C Session 01 Ppt
  • Theo truyền thống, một được hiểu là một phần của tài liệu viết hoặc nói ở dạng chính của nó (trái ngược với cách diễn giải hoặc tóm tắt). Văn bản là bất kỳ khoảng ngôn ngữ nào có thể hiểu được trong ngữ cảnh. Nó có thể đơn giản như 1-2 từ (chẳng hạn như dấu hiệu dừng) hoặc phức tạp như một cuốn tiểu thuyết. Bất kỳ chuỗi câu nào thuộc cùng nhau đều có thể được coi là một văn bản.

    Ý tưởng về những gì tạo nên một văn bản đã phát triển theo thời gian. Trong những năm gần đây, sự năng động của công nghệ – đặc biệt là phương tiện truyền thông xã hội – đã mở rộng khái niệm văn bản để bao gồm các biểu tượng như biểu tượng cảm xúc và biểu tượng cảm xúc. Ví dụ, một nhà xã hội học nghiên cứu về giao tiếp của thanh thiếu niên có thể đề cập đến các văn bản kết hợp ngôn ngữ truyền thống và các ký hiệu đồ họa.

    không phải là một khái niệm ổn định. Nó luôn thay đổi khi công nghệ xuất bản và phổ biến văn bản phát triển. Trước đây, các văn bản thường được trình bày dưới dạng tài liệu in trong các tập đóng gáy như tờ rơi hoặc sách. Tuy nhiên, ngày nay, mọi người có nhiều khả năng gặp các văn bản trong không gian kỹ thuật số, nơi mà các tài liệu đang trở nên “linh hoạt hơn”, theo các nhà ngôn ngữ học David Barton và Carmen Lee:

    không còn có thể được coi là tương đối cố định và ổn định. Chúng linh hoạt hơn với sự thay đổi của các phương tiện mới. Ngoài ra, chúng ngày càng trở nên đa phương thức và tương tác. Liên kết giữa các văn bản trực tuyến phức tạp và là phổ biến trong trực tuyến văn bản khi mọi người vẽ và chơi với các văn bản khác có sẵn trên web. “

    Một ví dụ về tính liên văn bản như vậy có thể được tìm thấy trong bất kỳ câu chuyện tin tức phổ biến nào. Ví dụ: một bài báo trên có thể chứa các tweet được nhúng từ Twitter, liên kết đến các bài báo bên ngoài hoặc liên kết đến các nguồn chính như thông cáo báo chí hoặc các tài liệu khác. Với một văn bản như thế này, đôi khi rất khó để mô tả chính xác đâu là một phần của văn bản và đâu là không. Ví dụ, một tweet được nhúng có thể rất cần thiết để hiểu văn bản xung quanh nó – và do đó là một phần của chính văn bản – nhưng nó cũng là văn bản độc lập của chính nó. Trên các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, cũng như các blog và Wikipedia, người ta thường tìm thấy các mối quan hệ như vậy giữa các văn bản.

    Ngôn ngữ học văn bản là một lĩnh vực nghiên cứu nơi văn bản được coi như hệ thống giao tiếp. Phân tích đề cập đến các khoảng ngôn ngữ ngoài câu đơn và đặc biệt tập trung vào ngữ cảnh, tức là thông tin đi kèm với những gì được nói và viết. Ngữ cảnh bao gồm những thứ như mối quan hệ xã hội giữa hai người nói hoặc người trao đổi, nơi diễn ra giao tiếp và thông tin phi ngôn ngữ như ngôn ngữ cơ thể. Các nhà ngôn ngữ học sử dụng thông tin ngữ cảnh này để mô tả “môi trường văn hóa xã hội” trong đó một văn bản tồn tại.

    • Barton, David và Carmen Lee. “Ngôn ngữ Trực tuyến: Điều tra Văn bản và Thực tiễn Kỹ thuật số.” Routledge, 2013.
    • Carter, Ronald và Michael McCarthy. “Cambridge Grammar of English.” Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2006.
    • Ching, Marvin KL, et al. “Quan điểm ngôn ngữ về văn học.” Routledge, 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Tập Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí (Có Đáp Án).
  • Ngôn Ngữ Biểu Cảm Và Triết Lý Sáng Tạo Trong Kiến Trúc
  • Ngôn Ngữ Bậc Cao Và Ngôn Ngữ Bậc Thấp
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Bậc Cao: Khái Niệm, Ưu Nhược Điểm Của Chúng
  • Bài 1: Khái Niệm Lập Trình Và Ngôn Ngữ Lập Trình Bậc Cao
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100